Feeds:
Bài viết
Bình luận

Chào các bạn

Là dân gốc Nẫu, và cũng là con của Trung Học Cường Để, rất vui mừng khi được dịp đến với trang nhà.

Chúc các bạn “Quản Gia” có nhiều sức, để “đóng thuế thân” cho Ông/Bà Xã mà lại còn dành sức để tiếp đón anh chị em xa gần nữa.

Trong dịp về thăm “NHÀ” lần đầu, tôi có mang theo một món quà gởi đến các bạn. Nếu không thích khẩu vị thì mong được “thứ lẫu” cho.

Cám ơn các bạn hung lắm

Thân mến

Người gốc Nẫu


Mãi cho đến bây giờ ông vẫn chưa biết rõ, tại sao thân sinh ông lại đặt cho mình cái tên như vậy!?

Nhưng mà ông không còn có một cơ hội nào để hỏi cho ra lẽ cái lý do đó nữa, bởi vì cha mẹ ông đã qua đời từ lâu, lúc mà ông chỉ là một đứa bé chưa đầy tám tuổi. Ông được nuôi lớn bởi một người chú duy nhất mà bà thím dâu thì lúc nào cũng quá khắc khe, với đứa cháu chồng. Chính vì thế mà ông đã sống và lớn lên trong một gia đình luôn có sự kềm chế. Ông chỉ biết làm theo mệnh lệnh và không được thắc mắc gì cả!

 

Thật ra, từ lâu ông cũng đã không có để ý gì đến cái tên gọi của mình, cái tên mà ba mẹ đã đặt cho ông khi vừa mới chào đời, đó là Chiêm Trường Mạnh.  

Ông biết chắc có một điều là cha ông mang họ Chiêm cho nên họ của ông cũng phải như vậy. Nhưng ông không rõ cái tên và chữ lót thì từ đâu mà ba mẹ đã lấy ra để đặt cho mình.

Ông nghĩ, giống như bao đứa trẻ khác ai cũng có một cái tên riêng để gọi, đơn giản thế thôi. Rồi ông cũng chẳng có cơ hội để thắc mắc điều ấy.

 

Mãi cho đến cái ngày ông sắp thành hôn, đã khiến cho ông có một chút suy tư về cái nghĩa của tên gọi riêng mình.

Ông không thể nào quên được cái hôm mà ông nhận rõ là cô vợ sắp cưới của mình đang vui như gặp hội.

Bỗng dưng ông cũng vui lây và chợt hỏi:

– Ở tui có cái gì mà đằng ấy lại thích và dám lấy làm chồng dzậy?

 

Cha mẹ vợ của ông là dân Bắc kỳ chính gốc, nhưng cô ta thì được sinh ra và lớn lên tại vùng Đồng Tháp cho nên cách nói chuyện của cô cũng rập khuôn như những người miền Nam cởi mở.

 

Cô nhìn ông với cái vẻ mặt hơi bẽn lẽn rồi cười cười trả lời thật khẽ, như sợ ai đó nghe được:

–    Đằng nầy thích cái tên của đằng ấy nhất, mới nghe qua là đã muốn lấy làm chồng liền hà!

 

Như còn mơ hồ, ông hỏi lại:

– Tui họ Chiêm, tên là Trường Mạnh thì có gì đâu mà khiến đằng ấy thích nhiều đến như dzậy?

Cô ta nhoẻn miệng cười duyên rồi xuống giọng:

         –  Người ta thường nói: “thấy mặt thì đặt tên” í mà, chắc là đằng nầy không đoán sai đâu!?

 

Rồi tỏ vẻ tinh nghịch một chút, cô liếc nhìn anh bằng ánh mắt thật tình tứ, hỏi rằng:

–    Còn đằng ấy thích cái gì ở nơi tui dzậy?

 

Quả thực ông rất bối rối với cái câu hỏi quá đột ngột nầy. May mà ông cũng đã nhanh trí, nhìn thấy cái miệng chúm chím cười cười như có vẻ mời mọc của cô. Ông ta nói bừa:

–    Tui thích nhứt là cái miệng của đằng ấy.

–    Sao dzậy, cái miệng của tui nó ra làm sao? Ra vẻ ngây thơ, cô hỏi lại.

 

Bỗng dưng hai bên gò má của ông hừng đỏ.

Bởi lẽ ông đang nhớ lại cái câu nói của người chú, hôm mà cả hai đang ngồi trên bờ mương nghỉ mệt sau khi vừa cày xong cái thửa ruộng lớn, chuẩn bị cho mùa lúa tới. Cô con gái của bà Bảy, bán quán đầu làng đi cất hàng về, băng ngang qua chỗ chú cháu ông đang ngồi.

Cô nầy không đẹp gái cho lắm nhưng nhìn kỹ thì không mấy tệ. Ấy vậy mà tuổi cô đã ngoài 40 nhưng vẫn chưa có được một tấm chồng như thiên hạ. Thấy chú cháu ông, cô vội mở miệng cười chào:

–          Chào Bác, chào cậu. Sao lâu rồi không thấy hai người ghé quán của má tui uống rượu. Chắc là bận rộn cho kỳ lúa sắp tới chớ gì. Hôm nào xong việc xin mời Bác cùng cậu ghé quán ủng hộ dùm cho.

Nói xong cô không quên nở thêm một nụ cười, chào tạm biệt rồi hai chân bước nhanh như sợ trễ giờ về.

Ông quay lại nói với người chú:

–          Chị ấy có cái miệng rộng quá, chắc vì vậy mà ế chồng, phải không chú?

 

Người chú không trả lời ông, nhìn bâng quơ một lúc rồi nói:

–  “Miệng sao thì ngao dzậy”.

 

Lúc đó quả thật ông không hiểu nổi chú mình muốn nói cái gì. Người chú phải mất một hồi lâu để giải thích cái ý của câu nói ấy cho ông hiểu. Cả hai cùng cười một cách thoải mái, như quên hết mệt nhọc.

Rõ ràng hai chú cháu của ông chỉ tìm được những giây phút như vậy mỗi khi thiếu vắng sự hiện diện của bà thím dâu khắc nghiệt.

 

Cô vợ sắp cưới của ông chợt lên tiếng, khiến cho ông quay về với thực tại.

–          Tui biết là đằng ấy nói xạo rồi đó, tui không thích như dzậy đâu!

 

Câu chuyện bỗng dưng bị gián đoạn khi bà thím dâu vừa xuất hiện. Cả hai đành nín thinh và làm như không có gì để nói với nhau thêm nữa.

 

Đêm hôm ấy ông không tài nào chớp mắt cho được. Có lẽ ông quá lo lắng cho cái ngày cưới hôm sau, hay là ông quá băn khoăn cho cái tương lai sắp tới của đời mình nên giấc ngủ không thể nào đến được, mặc dù ông biết rằng ông cần phải giữ sức cho ngày mai.

 

Ngủ không được cho nên cái đầu của ông nó cứ bắt ông nghĩ ngợi lung tung.

Ông chợt nhớ những gì mà cô vợ sắp cưới đã đề cập với ông chiều nay. Ông lẩm bẩm gọi lại tên mình nhiều lần mà ông vẫn không thể hiểu được là cô ta muốn nói cái gì. Ông chỉ đoán, tên mình là Mạnh, có lẽ cô ta mong mình sẽ mãi mãi như vậy, để bảo vệ đời cô. Ông nghe nói, người con gái nào cũng ước muốn có được một người đàn ông khoẻ mạnh để trao gởi cái tấm thân liễu yếu của mình.

Rồi ông lại nhớ đến cái câu nói là lạ của người chú, ông nhắm mắt cố hình dung một cách trừu tượng. Ông mỉm cười và nhắc với chính mình:

–   Để xem lời nói của ông chú quả thật có đúng như vậy hay không. Lòng ông bỗng dưng nôn nao khó tả khiến cho giấc ngủ lại càng không dễ đến !

                                           

 

Rồi tháng ngày cứ trôi nhanh cùng với dòng đời nổi trôi của hai vợ chồng ông. May mắn thay, ông bà  đã dẫn được hai đứa con cùng nhau đến Úc, theo diện thuyền nhân tỵ nạn. Cũng giống như hầu hết những người mới định cư, ông bà đã dành trọn thì giờ để lo cho việc kiếm tiền xây dựng lại gia đình và chăm sóc con cái.

 

Nhiều lần ông cũng đã cảm nhận được rằng, bà vợ của mình dường như không mấy gì vui. Sở dĩ ông cảm nhận như thế là do ông thường nghe được những tiếng thở dài, dù rất khẽ, theo sau những lần gắn bó vợ chồng.

Ông lại đoán, có lẽ vợ mình quá lo lắng vì món nợ nhà còn nhiều. Nghĩ thế, ông đã phải hạ quyết tâm làm việc nhiều hơn nữa. Không lúc nào ông dám bỏ qua những giờ phụ trội ở cái hãng mà ông đã làm hàng chục năm liền.

Nhưng rồi ông cũng vẫn không thấy ở bà vợ mình một chút gì vui thêm, trên cái gương mặt gần như không còn nét tươi mát của những ngày xa xưa kia nữa.

Ông căm hờn oán hận và âm thầm nguyền rủa, vì cho rằng mụ vợ già của mình quả thật quá tham lam!

 

Bây giờ ở cái tuổi ngũ tuần, gánh nặng gia đình có phần vơi đi khá nhiều. Thằng con trai thì đã trưởng thành và có việc làm ổn định, đứa con gái thì đã theo chồng về tiểu bang khác. Cho nên ông bà cũng đang dự tính cái chuyện hưởng phước ở tuổi cuối đời. Ông chỉ cầu mong cho mình được bình yên trong khoảng thời gian còn lại.

 

Mấy lúc gần đây, báo chí và nhiều người đang xôn xao bàn tán  về những mẫu tin liên quan đến cái viên thuốc có màu xanh nước biển, mà được xem như là thần dược cho cánh đàn ông. Cũng chính vì cái viên thuốc này mà nó đã làm đổi đời nhiều cặp vợ chồng, trở nên tốt cũng có mà biến thành xấu cũng nhiều.

 

Cũng từ những ngày ấy, chuyện phòng the dường như được bàn tán nhiều hơn, ở nhiều nơi cũng như với nhiều người kể cả phái nữ. Bà vợ ông cũng tham dự các buổi bàn thảo khá thường xuyên cùng các bà bạn vào những dịp họp mặt của những gia đình quen biết tại trại tỵ nạn. Nhưng mấy ông chẳng cần để ý tới vì đang bận nhậu.

 

Và cũng từ những ngày ấy, vợ ông đã không ngần ngại thường xuyên nhắc nhở ông rằng, nên đến gặp bác sĩ gia đình để kiểm tra sức khoẻ.

Ông cảm thấy mình không có bệnh gì cả, kết quả thử máu tổng quát tháng rồi cũng được cho biết là rất tốt. Ông không hiểu tại sao mấy lúc gần đây bà vợ cứ mãi lo lắng về mình.

 

Mấy lần đến gặp bác sĩ gia đình, ông cũng được cho biết là sức khoẻ của ông không có gì đáng ngại. Bác sĩ có đề cập đến chuyện quan hệ vợ chồng nhưng ông đã trả lời rằng, chuyện ấy cũng vẫn bình thường.

Bình thường theo nghĩa của ông là không mấy gì thường xuyên. Chuyện đó dường như vợ chồng ông đã lơ là từ lâu.

Bác sĩ có khuyên ông hãy nên để ý đến điều ấy nhưng ông chẳng cần quan tâm vì cho rằng tuổi mình thì đã lớn.

 

Cho tới một hôm, cái hôm mà vợ ông bắt ông phải ăn hết cái tô súp gà đen, hầm với thuốc bắc. Ông không hiểu gì cả, nhưng tánh ông thì đã quen làm theo mệnh lệnh, từ khi còn nhỏ. Thấy vợ mình có vẻ hồ hởi sau khi nhìn ông ăn hết tô súp, ông cũng cảm thấy vui lây. Cái niềm vui trong sự chăm sóc của vợ mình. 

Nhưng cái niềm vui vừa mới khởi phát ấy bỗng dưng tắt lịm, ngay giữa đêm hôm đó, từ lúc ông nghe rõ tiếng thở dài của bà vợ theo sau câu nói khe khẻ:

–          Dở ẹt, quả thật con người không giống với cái tên, rõ chán!

 

Nỗi buồn đã thúc đẩy ông đến gặp bác sĩ gia đình một lần nữa, để trình bày cái nỗi sầu khó nói của riêng ông.

Vị bác sĩ đã phân tích tình hình sức khoẻ và khuyên ông những gì nên làm cũng như những gì nên tránh hầu đạt được cái điều mong ước ấy. Thêm vào đó, ông đã ghi một cái toa thuốc 4 viên, sau khi căn dặn thật kỹ cách dùng cũng như cho biết vài phản ứng phụ của nó có thể xảy ra, ở một vài người.

 

Ông rất tin vào những gì mà bác sĩ của mình đã nói. Nhưng ông muốn biết thêm cho chắc chắn nên ông hỏi lại, người mà ông đã nhận làm bác sĩ gia đình từ những ngày đầu đến định cư tại Úc. Ông bác sĩ này, đoán chừng hơn 10 năm tuổi.

        Thưa bác sĩ, cho em được hỏi:

–   có bao giờ bác sĩ dùng thử cái viên thuốc nầy chưa, liệu có hiệu quả như đã nói hay chăng?

 

Ông bác sĩ vội cúi xuống như muốn viết thêm gì đó vào hồ sơ bệnh lý, rồi trả lời với một vẻ mặt như đang suy tư:

–          Tôi cũng chưa cần phải dùng đến nó bây giờ.

 

Thoáng nghĩ, chắc ông ta là bác sĩ cho nên đã biết cách để giữ gìn sức khoẻ, vì vậy mà chưa rơi vào cái trường hợp “khó nói “như ông.

 

Nhưng ông đâu có biết rằng, ông đang hiểu sai cái nghĩa mà ông bác sĩ đã muốn nói ra.

Sở dĩ ông bác sĩ bảo chưa cần dùng đến nó bỡi vì, sự thực là bà vợ đã không cho ông một cơ hội nào để được dùng đến. Tuổi của bà thì đã xế chiều mà lại không muốn chồng mình nghĩ tới chuỵện ấy, sợ làm mất đi cái danh dự của một người thầy thuốc!

Nhiều đêm trằn trọc không ngon giấc, ông bác sĩ cũng đã thầm trách là tại sao người ta không chịu khám phá ra cái viên thần dược nầy sớm hơn.

Rồi ông lại lẩm bẩm một mình:

–         bây giờ thì đã quá muộn với tôi!!!

 

Rời khỏi phòng mạch bác sĩ với cái toa thuốc trên tay, ông đang phân vân là nên mua nó ở tiệm thuốc nào. Ông không muốn trở lại cái tiệm thuốc mà vợ chồng ông thường mua, vì thấy hơi kỳ kỳ. Ông đi một vòng Cabramatta thử xem tiệm nào có nam dược sĩ thì ông sẽ ghé vào. Tìm mãi không được như ý mong. Ông quyết định, hãy tìm đến vùng phụ cận may ra sẽ không gặp được người quen.

 

Bước vào cái tiệm thuốc tây có máy lạnh, cảm thấy khoẻ hẳn người ra vì ông đã mất khá nhiều thì giờ để đi tìm, trong một ngày nắng gắt. Ông thấy một hàng người đang đứng chờ trước quầy. Nhưng không thấy ông tỏ vẻ gì lo lắng, vì nếu ông có phải chờ lâu thì cũng chẳng sao, ông đang cảm thấy thật thoải mái trong cái phòng có máy lạnh nầy.

Điều đang làm cho ông lo sợ chính là cô bán thuốc, mà ông chẳng biết có phải là dược sĩ hay không. Ông hơi ngần ngại vì cũng không thấy một người nam nào trong tiệm. Chính sự ngần ngại ấy càng khiến cho ông do dự và quyết định nhường chỗ cho vài người đến sau.

Thật sự thì không chỉ vì cái ngần ngại có sẵn riêng ông, ông đã lần lựa cũng vì  ông trông thấy cô bán thuốc sao mà tươi mát quá. Ông muốn có nhiều thì giờ để được chiêm ngưỡng.

Ông lẩm bẩm, như chỉ đủ cho một mình ông nghe:

–          Vùng nầy lại có cô bán thuốc hấp dẫn quá, mấy cô dược sĩ ở Cabramatta không thể nào sánh được!

Ông mãi liếc nhìn cô, như muốn nuốt trọn vẻ đẹp trong cái bộ áo mùa hè rộng cổ.

 

Cô bán thuốc nhìn thấy ông có dáng vẻ hơi lạ, nhưng vì quá bận rộn cho nên cô cũng chưa kịp nghĩ gì. Mãi đến lúc cô ta chợt thấy ông vụt quay nhanh ra cửa, lưng ông quằn xuống với hai cánh tay ôm vòng qua bụng.

Như một phản ứng nghề nghịêp, cô sợ ông ta sắp đột quỵ vì căn bệnh đau tim hay có thể là ông ta đang lên cơn đau bụng nặng.

Bước nhanh ra khỏi quầy và chạy tới đứng đối diện với ông. Cô cúi thấp hơn nữa để có thể nhìn được mặt ông, rồi hỏi:

–          Ông có sao không, ông cần mua thuốc gì nào. Cho tôi xem cái toa, tôi sẽ giải quyết ưu tiên cho ông. Thành thật xin lỗi, vì tôi đang bận rộn nên không phục vụ cho ông sớm được.

Cô ta nói một hơi dài, nhưng ông thì không nghe gì cả.

Dường như ông đang chú ý đến cái mặt dây chuyền của cô, mà nó được treo lủng lẳng trước ngực bằng một sợi dài quanh cổ.

 

Ông lại càng gập người thấp hơn và bước nhanh ra cửa, như muốn chạy trốn một điều gì.

 

Một lần nữa, cô bán thuốc lấy làm lạ với cái người khách khá kỳ dị nầy. Nhưng có nhiều khách hàng đang đợi nên cô không có thì giờ để nghĩ gì thêm.

 

Một lúc sau, khi mà chỉ còn có một bà khách quen, đang chọn mua mấy lọ thuốc bổ xương. Cô mới định thần nghĩ lại cái chuyện vừa mới xảy ra.

Một thoáng rất nhanh, cô nhớ lại hình như có một vật gì lộm cộm nằm dọc theo túi quần của ông ta. Cô ráng hình dung trở lại liệu xem có món hàng nào mà mình đã bị ông lấy trộm. Lạ thật, cô không thể nghĩ ra một cái gì đó đã bị mất cắp.

 

Rồi không biết cô nghĩ gì mà hai má của cô bỗng dưng hừng đỏ và đôi mắt thì lại nhắm nghiền, người như bị chao đảo muốn ngã. Bà khách hàng thấy vậy liền gọi lớn, từ phía đằng xa:

–          Cô ơi, cô có làm sao không. Coi chừng cô trúng gió, cô ráng vịn cái bàn đừng để ngã, tôi sẽ tới ngay.

 Bà vừa chạy nhanh tới gần vừa lẩm bẩm- Trúng gió mà nhập thổ thì khó cứu!

Cô mở mắt ra, đầu lắc nhè nhẹ và nói:
– Cám ơn bác, cháu không sao chỉ hơi choáng váng một chút.
Bà khách bảo:
– Coi chừng cơ thể cô nó thiếu chất gì đó. Năm xưa bác cũng bị như vậy một thời gian. Bác sĩ khuyên nên tẩm bổ đầy đủ, quả thật đúng như lời ông đã nói. Bây giờ chuyện ấy không còn xảy ra nữa.
Cô gật đầu như đồng ý với bà, nói nhỏ:
– Chắc là cơ thể của cháu đang thiếu một chất gì, như lời bác nói!

Bà khách trả tiền và bước ra gần cửa, không quên quay lại nhắc cô là cần phải cẩn thận.

Riêng ông, ra khỏi tiệm thuốc một lúc ông mới dám đứng thẳng lên được, xé cái toa thuốc thật nhỏ rồi ném nó vào sọt rác của council, đặt dọc theo hai con đường phố.
Ông nói với chính mình:
– Cái mà tôi cần tới quả thật không phải là mấy viên thuốc nầy!

Rồi lại nghe ông buông thêm một tiếng thở dài.


Dưa mắm vườn nhà

Trần Qui Nhơn

Bạn thân trong nhóm nhà nông Houston , hôm qua  gởi khoe tấm hình tô dưa mắm cô mới làm tháng trước , giờ đã ăn được . ..
Trời ui , với QN thịt cá còn có thể bỏ qua , chứ rau hay mắm thì không thể nào , thấy là thèm .
Nhìn tô dưa mắm với ớt tỏi lênh đênh , trông ngon lành quá
Đúng là số khổ , cao lương mỹ vị gì cho cam , chỉ là dưa mắm , món này ở VN bình dân biết chừng nào …
Vậy mà , hình ảnh tô mắm khêu gợi  tâm hồn ăn uống của QN ngay tức khắc , ngoài  vườn , giờ này , dưa leo , dưa gan rộ quá chừng , món dưa mắm coi bộ hợp thời trang lắm bởi  cây nhà lá vườn . Muối , đường  nhà cũng đang có sẳn .
Vậy là a lê hấp ,  cắt .. hái .. .Đem vô nhà một trái dưa leo dài cả thước , một trái dưa gan còn xanh , nhưng vỏ đả mỏng  … QN  ra tay trổ tài đưa lũ chúng nó vào …. tô mắm ..
Dưa leo và dưa gan vườn nhà
gọt vỏ , bỏ ruột , cắt khúc  , ngâm nước muuối 1 ngày
ngâm nước đường một tháng .
Theo công thức của sis Mỹ lệ (forum .CN)như sau :
SUSU- DƯA LEO – DƯA GANG RỬA SẠCH BỔ ĐÔI NGÂM NƯỚC MUỐI KO CẦN NẤU PHA TỈ LỆ 10 NƯỚC THÌ 1 MUỐI .
NGÂM 24 H ĐỔ SUSU MUỐI RA CÁI RỖ CHO RÁO. NẤU NƯỚC ĐƯỜNG ( MYLE LƯỜI NÊN MYLE CHO GOLDEN SYRUP CŨNG NGON NHƯ THƯỜNG HIHIHI ) , CHO SUSU MUỐI VÔ KEO CHẾ NƯỚC ĐƯỜNG VÔ NGẬP SUSU NHỚ CHÈN CHẶT ĐẬY NẮP LẠI ĐỂ Ở NGOÀI .
MỘT THÁNG SAU ĐỔ BỎ NƯỚC ĐƯỜNG ĐỂ RA RỔ CHO RÁO ,CẮT MIẾNG VỪA ĂN XONG CHẾ THÊM 1 LẦN NƯỚC ĐƯỜNG CẤT TỦ LẠNH MẤY NĂM CŨNG KO BỊ GÌ HẾT , MÀ MYLE THẤY CÀNG ĐỂ LÂU MIẾNG DƯA MẮM CÀNG TRONG VÀ VÀNG ÓNG TRÔNG HẤP DẪN HƠN ĐÓ .
KHI NÀO ĂN GIÃ ỚT -TỎI- NƯỚC MẮM -TÍ CHANH LÀ NGON TUYỆT VỜI LUÔN ( CÓ THỂ MẤY SIS ĂN CHAY CŨNG DÙNG ĐƯỢC LUÔN )
NGÂM NƯỚC MUỐI
thắng nước đường .
VÀ ĐÂY LÀ LÚC MYLE LÀM BIẾNG NÊN CHO SYRUP LUÔN HIHIHI
THÀNH QUẢ  SAU KHI NGÂM NƯỚC ĐƯỜNG MỘT THÁNG
CẮT MIẾNG NHỎ VỪA ĂN
MYLE CHO NỨƠC ĐƯỜNG 1 LẦN NỮA VÀ LÚC NÀY DƯA MẮM SUSU ĐÃ CÓ THỂ ĂN ĐƯỢC NẾU CHƯA ĂN THÌ CẤT TỦ LẠNH ĂN DẦN

VÀ ĐÂY LÀ DƯA MẮM DƯA LEO làm từ mấy tháng trước

dưa mắm tròn một tuổi , ngon chưa ?
Tip : khi nấu nước đường cho vô một chút nước màu để có màu đẹp .
Chúc các bạn làm được một thố dưa mắm ngon như thế này , thêm  ớt , tỏi ,chanh , là ăn hết cơm luôn .
Quinhơn11

Năm 1953, cậu thanh niên Trần Thanh Vân 16 tuổi rời quê hương Quảng Bình đi Pháp du học. Trong kỳ thi vấn đáp năm 1957, cậu đã gặp giáo sư Maurice Lévy, một trong những cha đẻ của vật lý nguyên tử Pháp và Thanh Vân quyết định theo ngành vật lý. Để giờ đây, giáo sư Trần Thanh Vân được xem là một bậc thầy trong lĩnh vực lý thuyết vật lý nguyên tử.

Giáo sư Trần Thanh Vân- Minh họa: Hoàng Tường
Giáo sư Trần Thanh Vân- Minh họa: Hoàng Tường

Ở tuổi thất thập, ông vẫn dồn hết tâm huyết cho những dự án mang tên “Việt Nam”. Ông nói: “Khoa học và quê hương là lẽ sống của tôi!”

Nói đến GS.TS Trần Thanh Vân là nói đến những ngôi làng SOS tại Việt Nam mà ông cùng vợ là GS.TS Lê Kim Ngọc và nhiều kiều bào ở Pháp kiên trì góp sức dựng xây…

Những năm đầu 1970, chiến tranh Việt Nam rất ác liệt, từ làng quê đến thành phố trong cả nước, trẻ mồ côi gia tăng từng ngày… Tại Pháp, để có thể làm được việc gì đó có ích cho quê nhà mà không bị coi là “làm chính trị”, chúng tôi đã thành lập hội Giúp đỡ trẻ em Việt Nam. Trong xa xôi, cách trở, nhờ sự đồng tình, ủng hộ của nhiều kiều bào và sinh viên ta bên đó, dự định thành lập làng SOS cho trẻ em tại Việt Nam đầu tiên tại Lâm Đồng đã có kết quả. Sau này, cũng với cách thức đó, chúng tôi tiếp tục có thêm một số làng SOS khác tại Việt Nam…

Đến nay nhiều người còn nhắc mãi câu chuyện hai vợ chồng giáo sư phải dầm chân trong tuyết lạnh để bán từng tờ thiệp mừng Noel ngày đó…

Khi ý định đã rõ ràng, kế hoạch đã thống nhất, việc cần thiết là phải tìm ra tiền. Mà lại không muốn có tiền bằng cách xin xỏ. Phải khẳng định với người Pháp và thế giới rằng, người Việt Nam có thể giúp người Việt Nam bằng chính sức lực, tiền bạc của mình. Chúng tôi rất kiên quyết trong chuyện này, không quản ngại khó khăn. Sau khi nhờ các anh em sinh viên trẻ giúp in thiệp Noel, mọi người, trong đó có vợ chồng tôi, đến các nhà thờ, chờ người đi lễ ra để bán thiệp cho họ…

Có lần nhắc tới tuổi thơ, giáo sư nói rằng do đã từng nghèo khó, nên “rất hiểu về sự nghèo khó của người khác”…

Tôi mồ côi cha mẹ từ sớm, nhờ anh chị em ruột làm nghề bán tạp hoá, chắt chiu vất vả nuôi ăn học. Dù vậy, tôi còn may mắn có anh chị em, trong khi nhiều đứa trẻ khác sống vất vưởng, thiếu thốn đủ thứ vì không có người thân… Những ấn tượng đó rất khó phai mờ.

Du học, ông nổi tiếng vì thành tích học tập: đứng đầu môn toán trong kỳ thi tú tài tại Pháp, đỗ cử nhân đại học Sorbonne năm 22 tuổi, đỗ tiến sĩ quốc gia – học vị tiến sĩ cao nhất – năm 27 tuổi… Tự học có phải là nguyên tắc số một của ông thời trẻ?

Tôi thường nghĩ, mình phải tự học, tự trau dồi kiến thức, luôn luôn sẵn sàng tất cả, để khi có cơ hội thì không để nó tuột khỏi tay mình!

Tiền bạc chỉ cần vừa phải, đủ để sống và để làm những việc mình muốn, chết đâu có mang theo được.

Điều gì đã khiến ông thuyết phục được GS.TS Odon Vallet dành 1/10 quỹ học bổng của mình để giúp các sinh viên giỏi Việt Nam?

Vấn đề là mình hãy bắt đầu từ những việc nhỏ. Từ đó sẽ có sự tin cậy.

Dành cả cuộc đời làm khoa học, sao giáo sư không chọn cách an hưởng tuổi già mà lại chọn con đường vất vả là làm cầu nối cho các nhà khoa học trên thế giới, đặc biệt là các nhà khoa học Việt Nam?

Do tích luỹ được chút kinh nghiệm sau 45 năm tổ chức các hội nghị khoa học quốc tế, có sẵn mạng lưới các nhà khoa học quốc tế, nên tôi nghĩ mình chưa thể dừng lại nghỉ ngơi lúc này… Thâm tâm tôi luôn muốn được đóng góp lâu dài, hiệu quả nhất cho quê hương.

Tên ông đã trở thành một bảo chứng cho thành công của nhiều hội nghị khoa học quốc tế, điều gì giúp ông có được sự tín nhiệm đó?

Ban đầu, khi tổ chức hội nghị ở châu Âu, tôi muốn giữa các đại biểu tham dự sẽ tạo được sự liên lạc mật thiết, do đó, rất chú ý đến sự có mặt của các nghiên cứu sinh trẻ. Làm sao để thế hệ tương lai có điều kiện gặp gỡ, trò chuyện với các nhà khoa học đi trước một cách thoải mái và hiệu quả nhất khi mà ở các hội nghị lớn, các vị giáo sư tên tuổi thường bị vây kín bởi những người hâm mộ, anh em trẻ rất khó tiếp cận. Nếu bố trí họ ở chung khách sạn và dùng cơm chung, thậm chí đi trượt tuyết cùng nhau… sẽ tăng được tối đa thời gian tiếp xúc giữa các thế hệ. Cách đó tuy bị một số chỉ trích là “như quân ngũ” nhưng người ủng hộ lại cho đó là “sự chuẩn bị điều kiện hợp tác trong tương lai” rất cần thiết trong nghiên cứu khoa học… Về sau, nhiều hội nghị khác của châu Âu, Mỹ cũng làm theo cách này.

Tới đây, tôi muốn Việt Nam tổ chức được những hội nghị tầm cỡ như vậy với điều kiện có một trung tâm Khoa học và giáo dục quốc tế mà chúng tôi dự kiến khởi công tháng 12 tới tại Quy Nhơn. Trong tương lai, đó là một điểm sáng trong khu vực, với các đối tác lớn là các trung tâm nghiên cứu vật lý hàng đầu thế giới, từ đó sớm có đóng góp cho nền khoa học nước nhà, nâng cao vị thế và hình ảnh đất nước Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế…

Với việc triển khai một dự án lớn, hẳn giáo sư có điều kiện để “biết” nhiều hơn về phong cách làm việc trong nước?

Tôi rất cảm động vì sự nhiệt tình của anh em ở Quy Nhơn. Trước tôi có nghe nói ở Việt Nam đưa ra một dự án phải mất khoảng mười năm để được phê duyệt vì mắc mớ nhiều thủ tục, giấy tờ; nhưng dự án của tôi mới trình… ba năm đã được duyệt (ở Pháp ba năm là dài nhưng ở Việt Nam thế là rất nhanh!) Hiện đã có thiết kế sơ bộ do KTS Milou giúp (tác giả công trình viện Bảo tàng quốc gia Singapore nổi tiếng). Mong sao hai năm nữa nơi đây có thể tổ chức được các hội nghị khoa học quốc tế quan trọng…

Giáo sư sẽ làm gì để có tiền xây trung tâm Khoa học và giáo dục quốc tế với quy mô lớn như thế?

Rất mừng là thời gian đi qua, dần dần tôi cũng đã thuyết phục được nhiều nhà khoa học trên thế giới, các viện nghiên cứu… ủng hộ việc triển khai dự án. Lúc đầu, quả thật chỉ định xây đơn giản, nhưng sau khi gặp KTS Milou trở về, chúng tôi thấy rằng “có cơ hội thì phải nắm lấy”, nên đã quyết định đầu tư toàn bộ số tiền 2 triệu USD mồ hôi nước mắt tích luỹ được từ việc tổ chức các hội nghị khoa học quốc tế hơn 40 năm qua vào thực hiện dự án. Nhưng 2 triệu đô đó chỉ vừa đủ để hoàn thiện giai đoạn một bao gồm nhà hội nghị và khu vực xung quanh, vẫn rất cần sự tham gia của các nhà đầu tư khác trong và ngoài nước…

Nghiên cứu khoa học hay làm nhà tổ chức, nhà giáo dục, với giáo sư trước sau vẫn chỉ là một con đường?

Nếu những 70 thế kỷ trước, tôi muốn thế giới biết đến Việt Nam qua những làng SOS do chính người Việt Nam chung tay dựng lên; những năm 90 tôi muốn các nhà khoa học trên thế giới tham gia các hội nghị khoa học mang tên Gặp gỡ Việt Nam để biết về Việt Nam nhiều hơn, thì với việc xây dựng trung tâm khoa học Quy Nhơn, đó là cơ hội quý báu để quảng bá một hình ảnh thực sự tốt đẹp về Việt Nam hôm nay.

Làm khoa học thì phải hết sức nghiêm túc. Nghiêm túc để tránh được mọi sai sót, lỗ hổng. Nghiêm túc để có kết quả đúng. Và còn một điều nữa mà hai chúng tôi đều tự rút ra: hãy làm nhiều, nói ít.

Trên mọi nẻo đường cuộc sống, khoa học, hoạt động xã hội, bên cạnh ông luôn có sự tham gia của GS.TS Lê Kim Ngọc. Ông bà đã cùng “nhìn về một hướng” như thế nào?

Chúng tôi đều là những thanh niên Việt Nam nghèo, sang Pháp với hai bàn tay trắng, không cha mẹ họ hàng. Khi kết hôn, chúng tôi đã định hướng con đường tương lai cho cả hai, là nghiên cứu khoa học. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng tôi sống như mọi người, không có gì khác, hầu như không bao giờ băn khoăn, đặt vấn đề tốt, xấu. Đó là một cuộc sống đơn sơ, không có gì phức tạp, ngoài khoa học thì chăm lo nuôi dạy con cái. Hai con gái của chúng tôi đều học hành tử tế, có sự nghiệp riêng (nhưng không làm khoa học vì thấy cha mẹ vất vả và ít thì giờ cho bản thân và gia đình quá). Đó là gia tài, là nguồn vui lớn nhất của vợ chồng tôi.

Làm khoa học, quan điểm khác nhau là chuyện bình thường. Với vợ chồng giáo sư?

Giáo sư Trần Thanh Vân và vợ, giáo sư Lê Kim Ngọc
Giáo sư Trần Thanh Vân và vợ, giáo sư Lê Kim Ngọc

Quan trọng là mỗi người đều có lĩnh vực riêng của mình. Tôi đi sâu về lý thuyết vật lý nguyên tử, còn Ngọc thiên về khoa học thực nghiệm trong sinh học. Năm 1970, Ngọc có một khám phá mới về lát mỏng tế bào, được giới khoa học đánh giá cao và rất có giá trị ứng dụng. Chúng tôi đều thấy làm khoa học thì phải hết sức nghiêm túc. Nghiêm túc để tránh được mọi sai sót, lỗ hổng. Nghiêm túc để có kết quả đúng. Và còn một điều nữa mà hai chúng tôi đều tự rút ra: hãy làm nhiều, nói ít.

Khi quyết định dành thời gian nghỉ hưu cho các dự án ở Việt Nam, giáo sư đã có được sự đồng thuận trong ngôi nhà của mình ra sao?

Mười năm nay, chúng tôi về hưu, 100% thời gian và sức lực mà chúng tôi có, đều dành cho các công việc liên quan đến Việt Nam. Chuyện gì làm được thì cả hai đều gắng làm. Như khi thấy trẻ em bất hạnh, nhớ mình hồi nhỏ (Ngọc cũng mồ côi mẹ từ năm hai tuổi, lớn lên là nhờ các anh chị nuôi), tôi và Ngọc đều tự nguyện đi bán thiệp, ở Pháp và ở Mỹ…

Có lúc nào, giáo sư chạnh lòng vì thời trẻ đã lãng mạn dành hết thời gian cho nghiên cứu mà quên mất mục tiêu… kiếm tiền?

Không. Trên thực tế, tôi cũng đã có nhiều cơ hội để kiếm tiền, để làm giàu, nhưng đã không chọn. Ví dụ, có thời điểm Chính phủ cho vay tiền, có thể mua những biệt thự cổ thế kỷ 15 – 16, sửa sang lại bán hoặc cho thuê rất được giá, và có người làm cách đó mà tậu được 10 – 15 ngôi nhà… Vợ chồng tôi đều biết nhưng không làm, vì thấy việc khác hợp với mình hơn. Tiền bạc chỉ cần vừa phải, đủ để sống và để làm những việc mình muốn, chết đâu có mang theo được.

Ngôi nhà hiện vợ chồng giáo sư đang ở – tài sản đáng giá nhất của hai nhà khoa học, nơi 40 năm trước đặt máy in thiệp Noel, bây giờ vẫn là nơi hướng về nguồn cội?

Đó là một ngôi nhà bình thường, có tầng trệt một nửa là hầm thấp dưới đất. Khi hội Giúp đỡ trẻ em Việt Nam thành lập, đây chính là địa chỉ hội họp, in thiệp đem đi các nơi bán… Ngôi nhà đó rất đặc biệt, vì không có nó, khó thực hiện được các việc từ thiện suốt bao năm qua. Đặc biệt hơn nữa, vì nó gắn với một sự kiện lịch sử của dân tộc Việt Nam: hội nghị Paris năm 1972. Thời kỳ đó, vợ chồng tôi vừa qua Mỹ làm việc về, lập hội Giúp đỡ trẻ em Việt Nam bên đó để xúc tiến xây làng SOS đầu tiên. Một sáng ngủ dậy, thấy trước cửa rất nhiều cảnh sát Pháp. Thì ra nhà hàng xóm là của đảng Cộng sản Pháp cho mượn để tổ chức cuộc gặp gỡ giữa ông Lê Đức Thọ và ông Kissinger. Quả là một sự tình cờ đầy duyên nợ đối với hai người Việt Nam đang xa quê như chúng tôi!

Một sự tình cờ khác, là cuộc gặp với “giáo sư cộng sản” Nguyễn Văn Hiệu, tiếp đó là một tình bạn đặc biệt, một giai đoạn mới trong cuộc đời ông?

Năm 1963, khi tôi vừa làm xong luận án tiến sĩ ở Paris, anh Hiệu cũng vừa xong tiến sĩ ở Moskva. Tại một hội nghị ở Ý, chúng tôi gặp nhau. Ngoài sự quý trọng về mặt khoa học, là một tình bạn thân thiết đến bây giờ… Thời kỳ đầu sau đổi mới, tôi có về Việt Nam, anh Hiệu nhờ tôi giúp tổ chức một hội nghị quốc tế vì biết tôi quan hệ rộng rãi với nhiều nhà khoa học trên thế giới, tôi đã từ chối bởi lúc đó, việc đi lại rất phức tạp. Từ Sài Gòn lên Đà Lạt, hay đi bất cứ một địa phương nào khác, đều phải có giấy phép. Khi tình hình được cải thiện, tôi nói với anh Hiệu có thể tổ chức được, và tháng 12.1993, Gặp gỡ Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức. Lúc đó Mỹ còn cấm vận Việt Nam, một giáo sư Mỹ đoạt giải Nobel đến dự hội nghị, rất cảm kích vì sự đón tiếp trân trọng, cởi mở của phía chủ nhà, đã nói “sẽ viết thư đề nghị Tổng thống Bill Clinton bỏ cấm vận!”

Có trong tay 300 công trình khảo luận và là tác giả của 115 đầu sách đã xuất bản, là giáo sư đại học Paris, được Nhà nước Pháp tặng huân chương Bắc đẩu bội tinh, được viện Hàn lâm khoa học Nga bầu là viện sĩ… còn ước mơ nào giáo sư chưa thực hiện được?

“Ngôi nhà” Quy Nhơn mở cửa đón các nhà khoa học! Có lẽ đó chính là giấc mơ cuối cùng của đời tôi…

GS Mikhai Danilov, viện trưởng viện Vật lý lý thuyết và thực nghiệm Moskva – Nga:“Các nhà vật lý Nga rất quý trọng GS Trần Thanh Vân. Trần Thanh Vân là bạn thân tình của hầu hết các nhà vật lý nổi tiếng, cũng như các nhà vật lý trẻ trên thế giới. Tất cả chúng ta đều hãnh diện về ông. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự hào về ông. Ông là một gương mặt lớn…”GS Trịnh Xuân Thuận, nhà vật lý thiên văn – Hoa Kỳ:“Trong giới khoa học quốc tế, GS.TS Trần Thanh Vân là người có sức hấp dẫn lớn, có tài tổ chức. Ngay ở châu Âu, cũng khó tìm được người khéo tổ chức các cuộc gặp gỡ vật lý đầy hứng thú như anh ấy, khó tìm được người thay thế anh”.

Kim Hoa (Theo Sài Gòn Tiếp Thị)

Lặng lẽ

         Nguyễn Quy  


                      (Tặng…em đó, Nẫu à!)

 

Anh thích ngồi,

Lặng lẽ-ngắm nhìn em.

Lặng lẽ-nghe em nói.

Lặng lẽ-nhìn em cười.

Những nụ cười tâm trạng :

Buồn; Vui; Âu lo; Phấn khích…

 

Anh thích ngồi,

Lặng lẽ-yêu thương em.

Lặng lẽ-quan tâm em.

Lặng lẽ-suy đóan điều em đang nghĩ ?

Những gương mặt của thời gian :

Sáng; Trưa; Chiều; Tối …

 

Anh thích ngồi,

Lặng lẽ-quan sát sắc màu cuộc sống :

Đi qua; Luân chuyển; Biến đổi; Đi qua-

Khung cửa hẹp !

 

Để rồi,

Lặng lẽ hờn – ghen.

Lặng lẽ yêu – ghét.

Lặng lẽ buồn – vui.

Lặng lẽ đi – về.

Lặng lẽ gọi thầm

              hai tiếng : Nẫu quơi !

 

              Sài gòn, cuối tháng tám 2011

               

                             

Sợi tóc mong manh

NAM THI

 

Con tàu gỗ tiếp tục chạy về hướng Nam, giữ khoảng cách vài kilomet dọc theo bờ biển. Trời cuối Thu âm u, nhưng biển lặng sóng. Khi tàu mới rời bến Quy Nhơn, nhiều hành khách còn ngồi trên boong nhưng đến lúc nầy hầu hết đã chui vào hầm tàu tìm chỗ nằm, nhiều người bắt đầu nôn mửa, chỉ còn lại bác tài công trong ca-bin và ba người ngồi lại ngoài buồng lái có mái che: Minh, một anh lính nhảy dù và một cô gái.

 

Tàu chạy được nửa giờ, có lẽ bắt đầu vào địa phận Phú Yên. Trên bầu trời hướng Tây, phía bờ biển hai chiếc máy bay khu trục Sky raiders đang quần đảo phía trên những cột khói đen lan tỏa vào những đám mây xám. Anh lính dù quay lại nói với bác tài công:  “Chắc đang hành quân giải tỏa đoạn gần đèo Cù Mông, đúng không?”. Bác tài công miệng phì phèo điếu thuốc, nói đùa : “ Chắc vậy. Đứt đường như cơm bữa mà, có vậy mới có khách đi tàu. Bình thường thiên hạ leo hết lên xe đời mới của Phi Mã, Phi Long, Tiến Lực, ghe tàu bọn tôi đói meo…”. Anh lính dù cười: “ Vậy là bác ủng hộ VC cắt đường ha…?”. Bác tài ném điếu thuốc xuống biển dãy nảy: “ Nói thế chết tui…”. Cả ba người đàn ông cùng cười và giới thiệu tên với nhau. Thuấn, tên anh lính dù, châm một điếu Bastos xanh bằng chiếc hộp quẹt Zippo, nối một điếu khác cho bác tài và quay sang Minh: “ Cậu hút thuốc chứ?” Thấy Minh cười, anh gõ gõ bao thuốc, lấy ra một điếu trao cho Minh cùng chiếc hộp quẹt: “ Thuốc Bastos nặng đấy, …”. Minh rít một hơi dài  để chứng tỏ mình biết hút, rồi gợi chuyện: “ Tôi là dân miền trên mà. Từ nhỏ đi chăn bò đã phì phèo điếu thuốc to bằng ngón tay cái, quấn bằng lá thuốc núi, hút không quen say mửa tới mật xanh. Bastos ăn thua gì, anh”. “ Vậy cậu quê ở Bình Khê, hay An Túc?”. “Dạ, Bình Khê”. “ Tôi ở Tuy Phước, dân biển. Cậu đi Nha Trang chơi à?”. “ Dạ không. Tôi chỉ ghé Nha Trang thăm ông anh đóng quân ở đó, vài hôm sẽ đi Sài Gòn…”. “ Học ở Sài Gòn à? Sinh viên trường nào?”.  “Dạ, tôi học Văn Khoa, …”. “ Tôi cũng nghĩ vậy. Trông dáng của cậu là biết ngay. Ông sinh viên văn khoa nào cũng có dáng triết gia hay nghệ sỹ…”. Minh hơi ngạc nhiên vì sự rành rọt giới sinh viên của anh lính dù. “ Vậy, chắc trước đây anh cũng học trong đó…?”. Thuấn ném mẫu thuốc xuống biển, khẽ khàng: “ Ừ. Tôi học Khoa học, không qua nổi chứng chỉ Toán Đại cương, nên đi lính. Một năm làm sinh viên cũng vui. Có lẽ đó là khoảng thời gian đáng nhớ nhất, tuy chưa hẳn là đẹp nhất vì gặm bánh my mòn răng… ha ha”. Anh lính dù ngã lưng vào thành ca-bin như muốn cắt đứt cuộc đàm thoại. Minh cũng nghĩ không nên đào sâu thêm chuyện riêng tư của người mới gặp tình cờ.

 

Cô gái mãi nhìn về phía khơi xa đang dần tím sẫm, dường như không để ý đến câu chuyện của hai người đàn ông. Minh chỉ nhìn được nửa khuôn mặt cô. Sống mũi thẳng, mắt có đuôi và lông mày xanh dài hao hao giống Tâm nhưng cô có vẻ gầy hơn Tâm. Cô lgợi cho Minh nhớ đến Tâm, người yêu của anh. Anh đang mỗi lúc mỗi xa Tâm hơn, chẳng biết có còn gặp lại nhau không. Giờ nầy chắc Tâm đang giúp mẹ nấu cơm chiều trong căn bếp nhỏ lợp tôn. Căn nhà đơn sơ trên bãi biển Khu 2, xóm dân chài và dân tản cư từ khắp vùng nông thôn trong tỉnh đổ về. Mẹ của Tâm nấu cơm tháng cho học sinh các trường trung học và giáo sinh của trường sư phạm Quy Nhơn nơi Tâm theo học năm thứ hai. Anh đã từng ăn cơm tháng ở đó cho đến khi vào Sài gòn. Minh và Tâm yêu nhau và mẹ Tâm xem anh như con rể tương lai. Cho đến lúc nầy, chắc bà vẫn tin rằng sau khi Minh tốt nghiệp và Tâm ra trường họ sẽ cưới nhau.

 

Anh lấy ve dầu Nhị Thiên Đường mà Tâm mua cho. Anh không thích mùi dầu nhưng vẫn thấm vào đầu ngón trỏ thoa lên mũi. Mùi dầu xua đi mùi tanh tanh của con tàu làm anh dễ chịu. Ít ra cũng còn chút gì đó của Tâm theo anh. Anh chợt có ý nghĩ mình sẽ giữ chai dầu ngay cả khi không còn dầu. Và biết đâu ngày nào đó gặp lại nhau anh sẽ cho Tâm xem chai dầu đó…

 

Cô gái bỗng quay lại, nói với Minh: “ Anh cho em xin chút dầu nhé. Em quên không mang theo. Em vốn ghiền dầu, do vội vàng em quên mất”. Minh đưa ngay chai dầu cho cô ta, ân cần: “ Mời cô. Sao cô không xuống dưới kia nằm cho yên, trên nầy mưa gió và dễ say sóng…”. Cô gái vừa xoa dầu vừa đáp:  “ Em không sợ say sóng mà sợ ngợp. Ở dưới kia nhiều người nằm như cá hộp, nôn mửa tùm lum. Anh đừng lo, em dạy học ở ngoài Cù lao Xanh, đi tàu thuyền như cơm bữa nên quen rồi…Sợ anh Minh là dân thư sinh chịu sóng gió không quen thôi. Em tên Xuân. Em vào Nha Trang thăm ông anh nằm ở quân y viện”. Té ra, nãy giờ Xuân đã theo dõi câu chuyện giữa hai người đàn ông. Là cô giáo ngoài đảo xa, Xuân hẳn đã trải đời và bạo dạn hơn Tâm của anh. Anh Lính chen vào: “ Tôi quên tự giới thiệu với cô em, tôi là Thuấn, còn ông sinh viên hào hoa nầy là Minh. Tôi đề nghị thế nầy: nếu vào đến Nha Trang ai nôn mửa sẽ đãi người khỏe một chầu ăn sáng. Đồng ý không quý vị?” Xuân nhanh nhẩu: “ Em nghe lén tên của hai anh rồi.Em đồng ý hai tay. Chỉ sợ anh Minh thư sinh thôi. Còn anh Thuấn là thiên thần mũ đỏ, đi tàu bay không say, chưa biết đi biển thế nào. Em chắc thắng một trăm phần trăm.” . Minh hơi chột dạ vì đây là lần đầu tiên anh đi biển nhưng không còn đường rút lui, nên phải nói cứng:  “OK. Ông vua cũng thua thằng liều mạng. Chơi luôn”. Thuấn tiếu lâm:   “Biết trước có chuyến đi nầy, tôi đã xin qua Thủy Quân Lục Chiến. Tôi vốn dân biển mà…”. Cả ba ngoéo tay nhau, cười rôm rả, khiến bác lái tàu cũng cười theo và xin làm trọng tài.

 

Càng về chiều gió càng mạnh và mưa nặng hạt dần. Thuấn và Minh bảo Xuân đổi chỗ vào ngồi giữa họ để tránh gió. Thuấn lấy từ trong ba lô con cóc ra một tấm poncho che mưa tạt vào chỗ họ ngồi. Anh cởi áo jacket khoác cho Xuân. Lúc ấy Minh mới nhận ra hai cặp hoa mai đen thêu trên cổ áo rằn ri của anh. Xuân bảo: “ Em cảm ơn anh. Trung úy Thuấn, vậy mà nãy giờ anh giấu…”. Minh chen vào: “ Tại cô Xuân không để ý anh Thuấn đã từng học đại học, nên đi lính là sỹ quan chắc rồi. Hẳn anh từ Trường Võ Bị Đà Lạt, phải không anh Thuấn?”. Thuấn cười: “ Đúng rồi. Tôi tưởng vào Võ Bị học xong mấy năm là hòa bình, ai dè đến nay vẫn đánh nhau ỳ xèo, chưa biết bao giờ mới dứt.  Ra trường người ta điều động về binh chủng Dù… Cũng thế thôi.”. Lúc gần tối, có hai chiếc ca-nô tuần duyên của hải quân chận tàu của họ kiểm tra., một chiếc cập mạn, còn chiếc còn lại cảnh giới từ xa một trăm mét. Dường như lính hải quân quen mặt chiếc tàu chợ nầy nên họ chỉ kiểm soát qua loa. Mấy chú lính hải quân trẻ măn đưa tay chào Thuấn thật nghiêm chỉnh. Thuấn chào lại. Minh có cảm giác Thuấn trở thành một người khác, lạnh như thép.

 

Đêm xuống. Biển đen như mực. Sóng vỗ mũi tàu ánh lên màu lân tinh.  Chỉ còn chút ánh sáng vàng vọt của bóng đèn điện nhỏ xíu từ ca-bin rọi ra và đóm lửa từ đầu điếu thuốc của Thuấn. Tiếng máy tàu đều đều, lẻ loi giữa rào rào sóng biển vỗ mạn tàu. Trên con tàu nhỏ bé nầy, mấy chục mạng người nằm bên nhau, giao sinh mệnh cho người lái tàu. Ở đây, họ có lẽ bình yên hơn những người trong đất liền cách họ vài cây số đang sống dưới làn bom, hòn đạn. Sóng biển dữ dằn nhưng không thù oán ai. Nếu tàu đắm, nhiều người có thể chết đuối nhưng không ai chết vì hận thù.

 

Xuân có vẻ mỏi, cô duỗi người nằm trên sàn gỗ. Minh trải chiếc khăn tắm trên túi xách của mình cho cô gối đầu. Ba người đắp chung tấm poncho của Thuấn, không những che mưa mà còn góp hơi ấm cho nhau trong suốt cuộc hải hành.

 

Gần sáng, tàu cập bến gần cầu Hà Ra. Ba người không ai bị nôn mửa. Thuấn chúc mừng chiến thắng chung của họ và làm bộ dõng dạt theo phong cách nhà binh: “ Ba anh em mình không ai thua cuộc. Tôi đề nghị thế nầy: Tôi, trung úy Nguyễn Văn Thuấn, số quân 65/24367, sỹ quan thuộc tiểu đoàn 9 Lữ đoàn dù, là người lớn tuổi nhất, nên quyết định tôi sẽ bao hai bạn Xuân và Minh một chầu ăn sáng. Đây là mệnh lệnh. Rõ chưa”. Xuân và Minh bụm miệng cười, cũng làm bộ đứng nghiêm, nói : “Rõ, xin tuân lệnh”. Bác tài công vỗ tay cười tán thưởng nhưng xin lỗi không đi theo họ được vì bận bốc hàng lên tàu cho kịpchuyến trở về Quy Nhơn ngay sau đó.

 

Trước khi chia tay, họ trao địa chỉ cho nhau.

 

Minh đi dạo dọc bờ biển Nha Trang. Biển động, sóng to, bãi biển vắng người. Anh thầm hát một khúc nhạc xưa:” Chiều này mưa thu Nha Trang im vắng, không bóng người qua…” mà anh đã được nghe nhiều năm về trước. Thành phố biển thật thanh bình, dường như chiến tranh không hề xảy ra ở đây.

 

Vài ngày nữa anh sẽ về Sài Gòn, chiến trường của anh. Ở đó, tuy không bom đạn, cuộc chiến đấu thầm lặng nhưng ác liệt. Khi ngồi trên bờ cát, anh nhớ lại chuyến đi biển đêm qua, nhớ đến Xuân và Thuấn. Dường như không có chiến tuyến nào ngăn cách họ và anh. Mặc dầu anh biết, nếu gặp nhau trên chiến trường, có thể anh và Thuấn phải bắn nhau. Biết bao giờ được gặp lại họ, tay bắt mặt mừng, nhắc lại những kỷ niệm trên biển đêm qua.

 

Anh nhớ đến bức thư Tâm trao cho anh khi chia tay mà anh chưa kịp đọc. Anh mở ví lấy bao bì màu xanh có lá thư bằng giấy pelure với nét chữ quen thuộc của Tâm. Khi mở lá thư, dường như có vật gì đó rất nhỏ rơi ra, nhỏ đến nỗi anh không kịp nhìn. Trong thư Tâm viết:

 

 Anh yêu dấu.

 

Anh về quê lần nầy là để nói lời chia tay với em. Vì thương em anh không muốn em khổ vì anh. Em cảm ơn anh đã nói cho em biết việc anh đang làm. Đối với em, lúc nào anh cũng là người em yêu. Anh cứ làm những gì anh cho là đúng. Em luôn ủng hộ anh.

 

Em không hứa là em sẽ chờ anh, nhưng đến ngày hòa bình, nếu anh còn sống, hãy về với em. Cầu mong anh được khỏe mạnh và bình yên.

 

Tâm.

 

Tái bút: Em gửi kèm một sợi tóc của em để anh giữ làm kỷ niệm vì em biết anh vẫn thích mái tóc của em. Đó là một trong những sợi tóc rụng khi em chải đầu, chứ không phải em nhổ đâu nhé. Đừng rầy oan em nhe.

 

Đọc xong bức thư, anh mới vỡ lẽ vật nhỏ rơi ra từ lá thư vừa rồi là sợi tóc của Tâm. Làm sao anh có thể tìm lại một sợi tóc mong manh đã bay theo gió biển đang thổi lồng lộng thế kia. Cũng may, vẫn còn chai dầu Nhị Thiên Đường *

 

* Nam Thi

(26-8-2011)

 

Theo Bảo Mai thì ” Tổ chức Guiness thế giới gần đây liên tục nhận được đơn đăng ký xác nhận kỷ lục từ Việt Nam. Theo một vị đại diện của tổ chức này cho hay, không phải chỉ là gần đây mà theo dòng lịch sử từ xa xưa nước Việt đã xác nhận những kỷ lục khiến nhân loại phải ngưỡng mộ….”  Mình nghĩ đây chỉ là  lời nói đùa vui vẻ, giúp cho thư giãn cuối tuần. Những guiness như thế mình đã nghe nói từ lâu lắm rồi , có thứ mình nghe từ thuở lên năm. Mình cóp lại những kỉ lục Việt vui vui  từ blog Bảo Mai cũng chỉ để thư giãn cuối tuần, không có ý gì khác.
 1. Bà mẹ sinh con nhiều nhất thế giới từ xưa đến nay là bà Âu Cơ: 100 con.
2. Người đầu tiên bay vào vũ trụ: Thánh Gióng.
3. Nhà du hành vũ trụ đầu tiên trên thế giới đặt chân lên mặt trăng và hiện còn ở trên đó chưa thèm về: Phạm Văn Cuội (nick name là Chú Cuội).
4. Vị nữ Tổng Tư Lệnh kiêm “Tổng Thống” đầu tiên trên thế giới: Bà Trưng Trắc.
5. Vị hoàng hậu bình dân nhất: Cô Tấm, cô là vợ vua mà về thăm nhà mà còn leo hái cau giỗ cha.
6. Chiếc máy bay đầu tiên trên thế giới: Chiếc máy bay có hình con ngựa sắt của Thánh Gióng.
7. Người làm marketing đầu tiên trên thế giới: Mai An Tiêm (khắc quảng
cáo lên vỏ dưa hấu).
8. Người đầu tiên đưa hàng giả nhập lậu vào Việt Nam: Trọng Thủy.
9. Người nghèo nhất ở Việt Nam: Chử Ðồng Tử (2 cha con có mỗi một chiếc khố mặc chung).
10. Tiên Dung là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên dám bỏ nhà… theo trai.
11. Người đàn ông duy nhất có sữa cho trẻ em bú: Ông Thọ
 Le Lan sưu tầm
Nguồn cuongdequynhon news

Dòng đời

Xuân Phong

Đôi khi tôi lặng lẽ

Bên ngọn đèn hắt hiu

Kìa bạn bè tôi đó

Đang say sưa men đời

Đứa bôn ba cuộc sống

Đứa mê mãi rong chơi

Ôi, đời như bến sông

Chúng ta là lữ khách

Đi chung một chuyến đò

“Khổ-đau-và-hạnh-phúc”

Qua dòng sông mênh mông

Ngọn gió đời đang mát

Bỗng hoá thành bão giông

Dòng sông đời phẳng lặng

Bỗng dậy sóng ầm ầm

Giữ cho ta em nhé !

Trong tim ngọn lửa nồng

Sưởi ấm lòng hiu quạnh

Đi qua đời mênh mông

Giữ cho ta em nhé !

Trên môi những nụ cười

Làm vì sao thắp sáng

Đi qua đời xanh tươi

Sau được-thua-còn-mất

Xin giữ trái tim hồng

Bên kia bờ mộng ảo

Nghe trái tim thì thầm


 Ngày 04/09 vừa rồi kỷ niệm 90 năm thành lập trường TH Cường Đễ, tôi có mặt ở Quy Nhơn nhưng không dự được vì bận lễ kỷ niệm 20 năm thành lập trường THPT Trần Cao Vân, vì tôi từng công tác ở đây. Trong Kỷ Yếu 20 năm thành lập trường có một bài viết đọc nghe chác chác. Tôi muốn mời anh em xem qua để thấy loại hình trường ngoài công lập của xứ Nẫu ta ra đời như thế nào.

KỶ NIỆM MỞ TRƯỜNG PT BÁN CÔNG QUY NHƠN

(Tựa trong Kỷ Yếu là “Kỳ Tích 20 Năm”, nhưng theo tác giả đó là tựa do biên tập đặt, không đúng ý tác giả – phieuthachba)

Trưa thứ 7, 20 tháng 5 năm 1991, sau buổi lễ bế giảng năm học thứ 2 của trường PT DL cấp 2, 3 Tuy Phước, tôi tiễn thầy Nguyễn Hữu Phiên, P. giám đốc Sở Giáo Dục Bình Định, ra về. Trên đường ra cổng, Thầy Phiên hỏi tôi:

–            Nếu Sở gọi anh về Quy Nhơn mở trường bán công thì anh về không?

Hơi bất ngờ nên tôi ngần ngừ:

–            Cho em suy nghĩ đã Thầy, còn ngôi trường này, phải giải quyết như thế nào?

Chúng tôi hẹn nhau sẽ trả lời chính thức vào đầu tháng sau.

* * *

Tối chủ nhật, vầng trăng trễ 17 vừa lên là lúc tôi và Phan Thanh đã sang tuần rượu thứ 5. Đã đến lúc, rượu vừa đủ ấm lòng và mềm suy nghĩ, tôi nói:

–            Thầy Phiên mời mình về mở trường Bán Công, Thanh cùng đi nhé

–            Thế trường trên này thì sao?

–            Mình sẽ đi với điều kiện được làm việc ở 2 nơi. Được không?

–            Có ai nữa không?

–     Ở Quy Nhơn mình không quen nhiều. Nhìn quanh ta, có lẽ anh Ba là tốt nhất: GV dạy giỏi, có uy tín và quen biết nhiều.

–     Được, cứ làm một cái gì mới đi. Em theo anh.

*

Cuối buổi chiều hè oi bức, đường vào thung lũng Phú Tài vẫn còn hơi nóng bốc lên như hun vào mặt, nhưng hình như tôi và Phan Thanh không thấy khó chịu. Phan Thanh có lẽ còn đang tâm trạng háo hức, còn tôi đang sắp xếp lý lẽ trình bày với anh Ba. Khá là khó vì anh Ba đang là cánh tay phải của Hiệu Trưởng, và là đối tượng cơ cấu, của trường PTTH Quy Nhơn 3. Nhưng tôi tin vào độ thuyết phục của ý đồ về xây dựng mô hình mới của mình.

Dĩ nhiên là phải có rượu. Ba anh em ba hoa trên trời dưới đất mấy ly. Phan Thanh có vẻ nóng ruột nhưng tôi phớt lờ, tôi đang chọn thời điểm. Và khi không khí đã giãn ra, tôi mới vào đề. Quả khó thật. Anh Ba tỏ vẻ ngạc nhiên:

–      Sao lại mời tôi. Tôi đang làm việc ổn định gần nhà thế này, xuống Quy Nhơn làm gì.

Tôi không có khả năng thuyết phục người khác, nhưng khả năng diễn đạt cũng không đến nỗi tồi. Sự ngỡ ngàng của anh Ba mất dần, niềm tin và sự háo hức về những ý đồ giáo dục trong mô hình mới được khơi dậy. Tôi càng trình bày, anh ấy càng đồng tình. Khi thấy anh đã có thiên hướng đồng lòng, tôi ra đòn quyết định:

–      Không có anh thì tôi không thể mời các giáo viên danh tiếng về cộng tác, như thế thì không thể thực hiện được ý đồ gầy dựng mô hình mới trọn vẹn được. Nên không có anh chắc tôi không mở.

–     Ông gây khó cho tôi quá. Thôi, mai trả lời. Mời.

Tôi nâng ly thầm nghĩ: Mai mốt gì nữa, ông nội ơi!

Tiệc hôm đó cực vui.

*

Không có câu trả lời nào vào ngày mai cả.

Chiều Quy Nhơn, ba chúng tôi gặp 4 anh em giáo viên: Nguyễn Ngọc Minh, Hà Ngọc Giao, Nguyễn Ngọc Tiến, Hồ Ngọc Hải.

Một người nào đó đùa: Có Bao Công, Công Tôn Sách, Triển Chiêu; lại có cả Vương Triều, Mã Hán, Trương Long, Triệu Hổ thì đợi gì nữa mà không làm.

*

Sau đó là các cuộc trao đổi với lãnh đạo Sở Giáo Dục:

Lần 1, với Thầy Nguyễn Hữu Phiên: Hai bên đồng ý sẽ tiến hành mở trường. Việc “làm việc ở hai nơi” “chắc không có gì lớn”.

Lần 2, với ông Huỳnh Đăng Khanh, Giám Đốc: Nội dung như lần 1. Sở sẽ lo Cơ sở vật chất: Trường và trang thiết bị.

Lần 3, họp chính thức với Ban Giám Đốc: Trường có tên tạm: Trường PT Bán Công cấp 2, 3 Quy Nhơn. Việc “làm việc ở hai nơi” không được nhắc đến. Cơ sở có thể là trường BTVH (nay là Trường Nguyễn Thái Học) hoặc trường cán bộ quản lý (cơ sở hiện tại của trường). Cuối buổi, không biết vô tình hay theo kế hoạch, ông Mai Ái Trực, P. Chủ Tịch tỉnh đến. Ông Trực động viên tôi và hứa sẽ sẵn sàng hỗ trợ để kịp khai giảng năm học.

Lần 4, với Thầy Nguyễn Hữu Phiên: Sẽ thu xếp để sử dụng trường cán bộ quản lý. Sở cấp 2 ram giấy để in tờ rơi.

Lần 5, với Thầy Nguyễn Hữu Phiên: Lãnh đạo không đồng ý “làm việc 2 nơi”

Lần 6, với ông Huỳnh Đăng Khanh: Nhập với trường BTVH. Buổi làm việc không vui vẻ lắm. Lời lẽ hai bên thiếu thiện cảm. Tôi gằn giọng: Đã sắp tuyển sinh. Thầy phải quyết định nhanh chóng và có quan điểm, cứ rề rà thế này làm sao kịp khai giảng năm học? Hệ PT Bán công làm sao học chung cơ sở với hệ bổ túc được?

Lần 7, với Thầy Nguyễn Hữu Phiên: Mượn sảnh trường cán bộ quản lý để chiêu sinh.

Lần . . ., lần . . ., lần . . . làm việc với ông Đặng Hùng, trưởng phòng tổ chức về đội ngũ giáo viên. Kết quả: Không có ai. (Năm đầu tiên, nhà trường có hai biên chế là thầy Thái Trí Dũng và cô Phan Ly Giang, nhưng hai người này tự xin về gần ngày khai giảng).

Lần . . ., lần . . ., lần . . ., với Thầy Nguyễn Hữu Phiên: Mượn hai dãy phòng học của trường PTTH Trưng Vương, được tự tìm thuê cơ sở tạm thêm (sau đó chúng tôi thuê một dãy tầng 1 của trường Đảng tỉnh)

16 giờ chiều thứ 5 ngày 19 tháng 9 năm 1991, tôi đến P. Tổ Chức SGD gặp ông Đặng Hùng (hú hồn):

–     Ngày mai trường khai giảng, tôi đã báo cáo và gửi giấy mời lên Sở cách đây một tuần.

–            Tôi biết.

–             Nhưng nhà trường chưa có lãnh đạo chính thức.

Ông Hùng rút ra một tờ Quyết Định khống:

–            Ông họ gì nhỉ?

–            Võ Thanh.

–            Bậc lương bao nhiêu?

Tôi đọc tờ Quyết định thấy chức danh P. Hiệu Trưởng, tôi hỏi:

–            Ai là Hiệu Trưởng vậy?

–            Không có. Ông là P. Hiệu Trưởng phụ trách, lo toàn bộ công việc của trường.

–            Nghĩa là tôi có quyền của một Hiệu Trưởng?

–            Đúng vậy.

–            Sao không ghi chức danh Q. Hiệu Trưởng?

Ông Hùng vỗ vai tôi:

–            Thì có khác gì đâu? Ai vô đâu mà lo.

–            !!!?

*

Diễn biến này vừa gây khó vừa làm nguội lạnh nhiệt tình của anh em mở trường. May thay, còn có xã hội, còn có anh em giáo viên trong ngành. Mọi người đón nhận thông tin về ngôi trường mới của một loại hình mới rất nhiệt tình và đầy hy vọng. Hình như một không khí mới, một làn gió mới vừa đến với ngành Giáo Dục Trung Học ở thành phố Quy Nhơn. Chúng tôi đến từng nhà các giáo viên danh tiếng của thành phố để mời dạy, ai ai cũng ủng hộ nhiệt tình, sẵn sàng tham gia. Có thể nói tất cả các giáo viên danh tiếng thời bấy giờ đều tham gia thỉnh giảng tại trường:

Văn: Trương Tham, Nguyễn văn Ba, Đỗ Em, Nguyễn Đình Thọ, Tăng Thị Vân, Cao Minh Châu . . .

Toán: Huỳnh văn Lắm, Trần Như Mật, Hoàng Công Thạnh, Đặng Dư, Mai Thành Đông . . .

Lý: Thầy Vương Quốc Tấn, Nguyễn Tự Phú, Bùi Thế Phụng, Mai Anh Dũng . . .

Hóa: Lê Đức Ái, Nguyễn Đình Vinh, Cô Nguyễn Tịnh Tâm . . .

Sinh: Nguyễn Quá, Tôn nữ Diệu Thường, Cô Hoan, Cô Nhung . . .

Tiếng Anh: Thầy Phạm Xuân Ẩn . . .

Tính cả giáo viên “cơ hữu !!!” năm đó nhà trường có 84 giáo viên.

*

Thứ 6, ngày 20 tháng 9 năm 1991 lễ khai giảng được tổ chức trang trọng tại hội trường trường Đảng tỉnh Bình Định. Học sinh ngồi đầy hội trường như những khán giả lịch thiệp. Sự tham dự của đại diện tỉnh ủy; Chủ Tịch và P. Chủ Tịch tỉnh; Giám Đốc và các phòng ban Sở Giáo Dục; đại diện BGH các trường bạn; đông đủ giáo viên thỉnh giảng, là những Thầy Cô hàng đầu thành phố, đã làm buổi lễ hoành tráng như cần có của một ngôi trường đi đầu trong việc xây dựng loại hình mới của giáo dục tỉnh nhà.

Tiếc thay . . . Trong diễn văn khai giảng, sau hồi trống khai trường tôi phải phát biểu: “Từ nay, 758 tâm hồn non dại của học sinh cùng gần 100 giáo viên, nhân viên nhà trường mong chờ sự quan tâm của các cấp lãnh đạo hữu quan”

Tiếc thay . . . MC Nguyễn Văn Ba, khi tóm tắt quá trình hình thành và hiện trạng của nhà trường, đã không giấu được nét phiền trách lãnh đạo cấp trên. Tôi chưa từng thấy lời giới thiệu lễ khai giảng nào sâu sắc, mạnh mẽ và man mác buồn như thế. Càng tiếc hơn là . . . anh Ba chỉ chịu đựng đến hôm ấy, bỏ hết mọi tâm huyết và công lao đã dành cho trường, về “ổn định gần nhà” ở Quy Nhơn 3. Mấy lời này xem như là sự ghi nhận những đóng góp của anh cho buổi đầu thành lập trường.

*

Sau lễ khai giảng là tọa đàm. Ý định ban đầu của nhà trường là Ban Giám Hiệu (gồm 01 P. HT phụ trách) đàm thoại với giáo viên, đặc biệt là giáo viên thỉnh giảng, về quan điểm và phương pháp làm việc của trường. Nhưng lãnh đạo tỉnh đề nghị được tham dự, do đó buổi tọa đàm chuyển đề tài thành tọa đàm về xây dựng và phát triển trường. Dù vậy, câu hỏi “trường của chúng (học sinh) đâu?” vẫn chưa có lời giải đáp.

*

Thời gian. Thời gian có khi tàn phá nhưng cũng có khi làm nên nhiều kỳ tích.

Một năm khốn khó rồi cũng trôi qua trong nỗ lực của những người yêu nghề, yêu học trò; những tốt đẹp, dù chậm chạp, rồi cũng đến. Lãnh đạo Sở đã nỗ lực thu xếp được một cơ sở tươm tất, có vị trí thuận lợi cho trường – chính là cơ sở đã tồn tại và phát triển 19 năm qua. Những bất đồng rồi cũng được san lấp. Trường, Sở chung tay xây dựng nhà trường. Một hội đồng giáo viên đúng chuẩn được đưa về.

Sự trưởng thành của nhà trường được khẳng định ngay trong năm học này với 3 dấu ấn nổi bật: Giải Nhất Hội Khỏe Phù Đỗng; hoạt động chyên môn được thanh tra Sở đánh giá là tốt, nhiều sáng tạo và sự hoạt động ổn định của một mô hình trường mới. Năm học khép lại bằng chuyến du lịch Đầm Ô Loan của Hội Đồng Giáo Viên với nhiều kỷ niệm êm đềm.

Năm học sau, một loạt trường Bán Công được mở ra ở tỉnh nhà. Đó cũng là một khẳng định nữa cho sự thành công của nhà trường. Cũng trong năm học đó,  thêm một P. Hiệu Trưởng về trường –  Anh Đặng Công Thuận, một P. Hiệu Trưởng hiền hòa, chăm chỉ – làm cho nhà trường thêm vững chải từ cấu trúc đến nề nếp hoạt động. Hội đồng giáo viên cũng được hoàn thiện trong năm học này: Nhiều giáo viên được tuyển thêm vào biên chế.

*

Đầu năm học 1994 – 1995, để hoàn chỉnh cơ cấu nhà trường, Sở bổ nhiệm Hiệu Trưởng – Anh Lê Đình Tạo, một lãnh đạo tài năng, ngoại giao giỏi và có uy tín trong ngành.

Cơ cấu đã vững chắc.

Hoạt động đã ổn định.

Đó là lúc tôi tạm biệt nhà trường. Buổi chia tay có vài giọt lệ và một bài thơ – của anh Tạo tặng tôi -. Bàn tay Chủ Tịch Công Đoàn Viền đưa từng vật dụng của tôi lên xe mãi mãi là một bàn tay đẹp.

*

Mười bảy năm trôi qua, tôi không ngừng theo dõi từng bước trưởng thành của trường và

mười bảy năm . . . nơi xa xôi đã có nụ cười.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 02 tháng 07 năm 2011

Ths. VÕ THANH VÂN

Nụ hôn buồn

Nguyễn Hữu Duyên

Khi dẫn con vào Sài Gòn thi đại học năm 2001, tôi có dịp trở lại  thăm con đường Vạn Kiếp sau hai lăm năm – con đường có quá nhiều kỷ niệm của tôi về một thời trai trẻ, về tình yêu của tôi và Huỳnh.

Hầu như lớp bạn thân thiết  hồi ấy, tôi chỉ còn liên lạc được với Trần Lộc, đang làm giám đốc Trung tâm văn hóa  quận Bình Thạnh.Và, rất may, sau bao năm biệt tin nhau, qua Trần Lộc, tôi biết Huỳnh, hiện đang công tác tại một cơ quan trực thuộc Sở điện lực thành phố Hồ Chí Minh đóng trên đường Phan Đăng Lưu. Như có điều gì đó rất mãnh liệt, không thể cưỡng lại được, thúc giục tôi phải đến gặp Huỳnh, nó giống như cỏ cây không thể không hướng về phía mặt trời mọc, như biển cả vẫn muôn đời nổi sóng.Đó là một ngày đầu tháng bảy. Tôi đến cơ quan của Huỳnh trong trạng thái bồi hồi, phấn khích đến khó tả, bởi tôi cũng không tin là mình có dịp được gặp lại cô bé mười sáu tuổi học lớp chín ngày nào.

– Xin lỗi, anh có việc gì cần sự giúp đỡ? – Huỳnh thong thả ngước lên, hỏi một cách lịch sự.

Tôi lúng túng như gà mắc tóc :
– Xin hỏi, em có phải là…
– Trời ơi! Anh Duyên, anh vô hồi nào vậy?

Huỳnh đã kịp nhận ra tôi dù một phần tư thế kỷ không găp nhau. Thế là chiều hôm  đó sau khi tan tầm ở sở làm, hai đứa lên quán nước trên một con đường nhỏ thuộc quận Phú Nhuận. Công bằng mà nói, Huỳnh đẹp hơn nhiều so với thời con gái, đằm thắm và quý phái, mặc dù đã ở tuổi bốn mốt. Đặc biệt nhất vẫn là đôi mắt đen láy, lấp lánh, và càng quyến rũ hơn so với thuở em yêu tôi.

-Em đẹp hơn ngày xưa nhiều, và nhất là đôi mắt, anh không thể quên được.

Tôi nói và nắm tay Huỳnh đặt lên bàn tay tôi, như tìm lại cái cảm giác âu yếm, ngọt ngào và dịu êm của thời bên nhau thật xa ấy nghe lòng mình một chút nuối tiếc, một chút xót xa, nghe tim mình thổn thức với  nỗi niềm của một thời yêu đương cháy bỏng, đắm đuối, và mê say… Huỳnh kể cho tôi nghe về số phận bất hạnh của em. Có chồng năm mười chín tuổi, gần ba mươi tuổi thì ly hôn. Hai đứa con trai, một đứa nghiện ma túy được đưa vào trại cai nghiện, đứa nhỏ đang học lớp mười hai. Huỳnh vẫn sống một mình đã hơn mười năm rồi. Em phải lo tất cả chi phí cho đứa con ở trại cai nghiện cũng như thằng nhỏ còn đi học. Và chồng của Huỳnh đã có vợ khác.

– Số em nó cô đơn mà! Huỳnh xoa xoa bàn tay tôi, ánh  mắt buồn buồn, nói chầm chậm.

Nói thật lòng, là thằng đàn ông, cũng không phải là thần thánh, nên  sự ham muốn sắc dục là vô cùng, nhất là khi gặp lại người yêu cũ sau một thời gian dài không gặp nhau, đã ly hôn và đang cô đơn. Trong tôi lại bùng cháy dữ dội sự khát khao được cận kề bên nhau, được tay trong tay ôm ấp ái ân dù muộn màng, dù chắp vá, dù không bao nhiêu ngày, như không thể khác được. Thế nhưng số phận đớn đau của Huỳnh đã như tảng băng đè nặng lên người tôi, bóp nghẹt cái dục vọng bản năng của tôi đối với một người phụ nữ đã từng dâng hiến trọn trái tim mình ở tuổi mười sáu, cái tuổi của mộng mơ và thật đẹp của đời con gái.

Sài Gòn lên đèn, lung linh, rực rỡ sắc màu. Tôi và Huỳnh vẫn ngồi bên nhau, như không muốn đánh mất giây phút hoài niệm này. Nó như món quà quý giá mà tạo hóa ban tặng cho chúng tôi, như chữ duyên đã được định sẵn cho hai con người đã trót không trọn vẹn cùng nhau thời còn trẻ, được một chút bên nhau khi mái tóc đã bắt đầu có một vài sợi bạc.

–   Sao em không đi bước nữa?

Huỳnh cười buồn, không trả lời câu hỏi của tôi, mắt nhìn ra đường như đang nhớ về một thời rực rỡ của con “chim én vàng” tung tăng bay lượn mà tôi đặt cho em ngày ấy, cái ngày em mười sáu tuổi. Và, bỗng nhiên trong tôi –  bao nhiêu kỷ niệm tràn về…

Nhưng để ngăn chặn những xúc cảm đến bất chợt về những hạnh phúc, đớn đau từ khi Huỳnh có chồng, tôi kể cho em nghe về gia đình của mình, một vợ hai con, đứa con lớn vào Sài Gòn thi đại học, con gái nhỏ hết hè này vào lớp mười một, và vợ tôi thì buôn bán tảo tần nuôi hai con với một chồng.

Có lẽ chuyện tôi kể về bản thân cũng như gia đình của mình như một kết thúc có hậu của một cuộc gặp tâm tình, giải bày những sẻ chia của hai con người đã có một thời yêu nhau, luôn nhớ về nhau – làm tôi trở lại trạng thái tâm lý cân bằng, đẩy lùi những bồi hồi và dục vọng khó cưỡng nổi dù chỉ là một nụ hôn dịu ngọt êm đềm nhưng nóng bỏng khát khao của ngày xưa ấy, cái ngày xưa em viết trên tấm hình của em gửi tặng tôi :

Anh về Bình Định cho em nhớ,
Những đêm dài sánh bước bên anh!

Khi đến lúc phải ra về vì trời khuya lắm rồi, Huỳnh nhìn sâu vào mắt tôi- khẽ nói :

– Đêm nay anh không ở lại với em sao? Bao năm cách biệt, anh không…

Tôi thực sự bối rối. Ham muốn của thằng đàn ông và bổn phận của người cha- giằng xé lấy tôi. Tôi về, Huỳnh sẽ bị tổn thương, nhưng nếu ở lại thì con tôi sẽ rất lo lắng, bởi không biết chuyện gì xảy ra với tôi. Hơn nữa tôi không thể để con tôi ngủ một mình khi lần đầu tiên đến Sài Gòn.

–         Anh sẽ ở lại cùng em, nhưng anh chỉ ngại một điều, là con anh sẽ rất lo lắng và sợ nhiều điều.

Điều tôi nói đã chạm vào trái tim người mẹ vốn có nhiều vất vả, cực nhọc vì con sau khi ly hôn, đã giúp tôi giải được bài toán khó. Huỳnh cười :
–         Anh sợ thằng con về mét với bà xã chứ gì? Sài Gòn rộng lớn, có quá nhiều lý do mà anh! Như ngày xưa anh bỏ họp để đi chơi với em, anh báo với chi đoàn là đi đón người thân từ ngoài quê vào, có ai biết đâu!

Tôi bật cười vì chuyện ngày xưa ấy. Huỳnh lắc lắc tay tôi :
–         Em nói vui vậy thôi. Anh hãy về để thằng bé khỏi lo. Hơn nữa…
–         Hơn nữa sao em?
–         Anh già rồi! Anh không thấy như vậy sao?

Tim tôi chợt nhói đau. Tôi biết là Huỳnh vẫn còn yêu tôi rất mãnh liệt. Tôi không phải là gỗ đá, cũng không tránh khỏi cái cảm xúc bồi hồi như thuở mới yêu, nhưng cái gánh nặng  áo cơm, trách nhiệm gia đình đã làm trái tim tôi gần như xơ cứng.
–         Anh về đi kẻo khuya trời lạnh!- Huỳnh giục tôi.

Tôi ôm hôn Huỳnh, một nụ hôn tạm biệt, dịu ngọt, và tôi nghe những giọt mặn đớn đau như đang chảy vào trong tôi, nhớ mãi, nhớ mãi… Huỳnh ơi!