Feeds:
Bài viết
Bình luận

Rùng mình…

Đỗ Hồng Ngọc

Tranh Picasso

Tùng địa dũng xuất
(Pháp Hoa kinh)

Người rùng mình hỏi vì sao động đất sóng thần cứ triền miên
hết ngày này sang ngày khác?
Vì sao núi lửa cứ phun trào?
Vì sao băng tan vì sao bão táp…?
Vì sao trẻ con người già bị cuốn trôi bị thiêu đốt
thành phố tan hoang cửa nhà đổ nát như món đồ chơi
của một đứa trẻ đang giận dữ
Vì sao và vì sao?…

.

Nhưng hãy lắng nghe
Dù trong giây lát

.

Trái đất cũng đang rùng mình tự hỏi vì sao
những ngọn núi cứ triền miên đổ sập?
vì sao những dòng sông nghẽn tắt?
vì sao những mủi đao cứ ngày đêm xoáy sâu vào lòng đất?
Vì sao chim rừng cá biển không chốn nương thân
Vì sao cổ thụ mầm xanh bị tận diệt
Vì sao lúa bắp phải cấy ghép gen người?…
Vì sao và vì sao?

.

Ta nương tựa vào nhau.
Nay có vẻ đã không còn cần nhau nữa!
Đất rùng mình phận đất…
Người rùng mình phận người…


(2011)

Tạp Bút

Trần Minh Nguyệt

 

 

            NHÀ THƠ LỚN XUÂN DIỆU – người con thân yêu của xứ Vạn Gò Bồi, Tùng Giàn –  Phước Hòa, Tuy Phước đã vĩnh biệt chùng ta thấm thoát đã 26 năm ! 26 lần tôi được dịp về đây – nơi căn nhà lưu dấu kỷ niệm cuộc đời và sự nghiêp thơ ca của Ông – để dâng nén tâm hương tưởng nhớ Ông trong nỗi thương tiếc, ngậm ngùi!

           Gần 70 năm có mặt với đời, và hơn nửa thế kỷ hiến dâng sự sống cho thơ ca – nhà thơ Xuân Diệu đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp nghệ thuật to lớn,  và một niềm tự hào sống mãi với Quê Hương. Với 6 tác phẩm được xuất bản, hơn 470 bài thơ đã được giới thiệu- nhà thơ Xuân Diệu đã quặn lòng qua bao nỗi xúc động, đã thở vào thơ bao nhịp đập của trái tim Yêu Thương hồn nhiên và cuồng nhiệt, và đã nhỏ xuống trang thơ bao dòng nước mắt vì Quê Nhà và Dân Tộc…

           Nhà thơ Hàn MặcTử lúc sinh thời đã gởi tặng cho nhà thơ Xuân Diệu tập thơ đầu tay của ông, với lời ghi tặng như sau: “ Tôi gởi tặng Anh tập thơ của tôi, vì đọc thơ Anh tôi thấy nỗi đau của tôi được xoa dịu nhiều lắm! “. Nhà văn – nhà nghiên cưu văn học Hoài Thanh cũng đã viết về Xuân Diệu gần nửa thế kỷ trước trong tác phẩm “ Thi Nhân Việt Nam “ : “  Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới; nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất của thời đại “ . Gần đây, học giả người Nga – ông Marian Tcasep cũng đã nhận định: “ Xuân Diệu khác với các nhà thơ khác ở chỗ thơ Anh thực tế, duyên dáng và nhạc điệu du dương, thánh thót. Trong thơ Xuân Diệu là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trữ tình và tính công dân cao cả! “.  Nhà thơ Xuân Diệu đã rất xứng đáng được các viện sĩ viện hàn lâm nước cộng hòa dân chủ Đức bầu là “ Viện sĩ thông tấn viện hàn lâm nghệ thuât nước CHDC Đức “ vào năm 1983, và vinh dự nhận lãnh danh hiệu cao qúy nhất của văn học nghệ thuật năm 1996 :  “Huân Chương Hồ Chí Minh”

            Suốt cuộc đời gắn bó với Thơ với bao đổi thay của vận nước – nhà thơ Xuân Diệu vẫn luôn trài lòng hiến dâng cho Tình Yêu, ca ngợi cuộc sống, niềm vui và đam mê sống. Viết về Tình Yêu –  là nhà thơ đã ca ngợi tuổi trẻ, ca ngợi mùa Xuân, ca ngợi thiên nhiên – bởi chính đó là tổ ấm, là cái nôi của Tình Yêu dành cho đời người:

          “… Anh xin làm sóng biếc

                  Hôn mãi cát vàng em

                  Hôn thật khẻ, thật êm

                  Hôn êm đềm – mãi mãi

 

              …Anh không xứng là biễn xanh

                  Nhưng cũng xin làm bể biếc

                   Để hát mãi bên gành

                   Một tình chung không hết “

                                 ( Biển )

 

             Trong bài thơ “Tình Thứ Nhất “, nhà thơ Xuân Diệu đã từng khẳng định:

           “ Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất

              Anh cho em, kèm với một lá thư

               Em không lấy – và tình ta đã mắt

               Tình đã cho không lấy lại bao giờ “

             Và chúng ta hãy lắng lòng nghe nhà thơ tâm sự như lời trần tình thẳm sâu tận đáy lòng mình qua bài “ Vì Sao “ :

            “ …Rồi một ngày mai tôi sẽ đi

                Vì sao? Ai nỡ hỏi làm chi

                Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ qúa

                Chỉ biết yêu thôi – chẳng hiểu gì “

             Nhà thơ Xuân Diệu đã rất hồn nhiên với “ tình đã cho không lấy lại bao giờ “ và quá đổi chân thành trước cuộc sống “ Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì “ . Qua 3 biến đổi trong đời thơ của Xuân Diệu –  nhưng chúng ta vẫn luôn nhìn thấy dòng thơ Ông mãi mãi là nổi khát khao mảnh liệt đến với cuộc sống, luôn hòa nhịp giao cảm với đời – làm nên những trang thơ bất tuyệt sống mãi với Quê Nhà và Tình Người!

            Tấm lòng thiết tha cao khiết ấy đã thể hiện rõ nét trong bài thơ Ông viết sau 30 năm được trở lại Quê Ngoại :

              “  …Ôi biển Qui Nhơn, biển đậm đà

                      Thuyền đi rẽ sóng, sóng viền hoa

                      Cám ơn quê má muôn yêu dấu

                      Vẫn ấp yêu hoài tuổi nhỏ ta “

           Và quê Mẹ Gò Bồi, Tùng Giản, Tuy Phước đã sống mãi trong thơ Ông với tuổi thơ dong ruổi đó đây, với bao kỷ niệm đằm thắm ngọt ngào bên Mẹ không bao giờ quên:

              “ …Buổi chiều trong bếp nấu cơm

                     Má đang lặt rau, lửa nhè nhẹ cháy

                     Một buổi chiều trong vườn sạch lá

                     Đất còn mang dấu chổi quét ban mai “

          Bài thơ “ Đêm Ở Tuy Phước “ là một trong những bài thơ viết về Quê Nhà hay nhất của Ông : Tuổi thơ, kỷ niệm, hòai vọng, ước mơ đã ùa về trong Trái Tim nồng nhiệt thương yêu của Ông như bao đợt sóng thân thương của xứ Van Gò Bồi thuở nào ngày đêm vẫn rì rào mời gọi :

             “ Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ

                Những con dế cùng tôi thức suốt năm canh

                Thức những ngôi sao, thức những bóng cành

                Đêm quê hương thương cái hương của đất

            …Ngủ không được bởi gió nồm từ biển lên cứ nhắc

                  “ Trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi

                      Khi má anh sinh ra

                      Anh dã thở hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi    

                      Nên thơ anh tới giờ vẫn còn đậm đã thấm thía “

              … Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ

                   Thức với quê hương như vậy đã vừa đâu

                    Xin thơ ta được thức mãi về sau

                    Với Tuy Phước, ngày nào còn đất nước “

             Sau những năm tháng đất nước được hoàn toàn thống nhất – dường như nhà thơ Xuân Diệu đã dành trọn thời gian viết về quê nhà, viết về Miền Nam, để khơi dậy những tình cảm, những kỷ niệm sâu sắc đã từng được ấp ủ, thao thức của mình. Đó là những hình ảnh đã được Ông chắt lọc qua nhiều năm tháng, để chỉ còn lại những gì thực sự là máu thịt, là rung động cho thơ.

            Ông đã tâm sự:

             “  Hãy để cho tôi được giả từ

                 Vẫy chào cõi thực để vào hư

                 Trong hơi thở chót dâng trời đất

                 Cũng vẫn si tình đến ngất ngư “

             Nhà thơ Xuân Diệu của chúng ta đã “ si tình “ đến “ hơi thở chót “ – theo nghĩa, đây là một “ khối tình lớn “ mà suốt đời Ông đã tận tụy hy sinh cho Quê Hương và Dân Tộc!

            Khái quát về cuộc đời và thơ của Xuân Diệu – nhà thơ Thanh Thảo đã viết rất chân tình:

               “ Anh quen sống như người nghèo đi chợ

                   Tính chi li từng phút từng giây

                   Khoèo câu thơ như thuở nhỏ khoèo me

                   Dọc phố hè Quinhơn lắm bui!(…) “

            Sau 26 năm ngày Xuân Diệu đi xa – hôm nay, ngày 18 tháng 12 năm 2011 – Tôi, người may mắn được sinh ra cùng quê hươngTuy Phước – kẻ hậu sinh yêu quý thơ Ông – thành kính tưởng nhớ Ông với đôi vần thơ góp nhặt trong sự nghiệp thi ca đồ sộ của Ông – để tỏ lòng ngưỡng mộ và tri ân, là những thế hệ tiếp bước Ông trên cùng quê hương Tuy Phước thân yêu. để cùng góp phần nhỏ dựng xây cho Quê Nhà ngày càng thêm khởi sắc, và giàu đẹp.

                  Xin kính dâng lên Người chút lòng của người em nhỏ đồng hương nhưng rất nặng tình nhân ngày giỗ thứ 26 của Người :

                   “ Bóng Người dù đã khuất xa

                      Nhưng tình còn mãi, đậm đà ngàn năm

                      Thơ Người là ánh Trăng Rằm

                      Sáng soi khắp nẽo tối tăm cuộc trần

                      Thơ Người “ thức mãi về sau “

                      Tháng năm hồ dễ thay mầu Trái Tim! “

 

 

Tưởng nhớ nhà thơ Xuân Diệu

Nhân ngày giỗ thứ 26

Phước hòa, ngày 18 tháng 12 năm 2011

 

Đôi tình nhân đêm Giáng Sinh

Ngô Đình Hải

Hãy cứ thử làm đôi tình nhân

Tôi và em trong đêm Giáng Sinh

Em sẽ tìm thấy lại được mình

Trong đám đông xa lạ vô tình
 .
.
Hãy nhích lại với nhau thật gần
Trên băng ghế đá dựng sát tường
Đèn đường sáng tôi em đều tối
Tối mặt người tối luôn trong tôi
 .
Em cứ mơ về nơi xa xôi
Có con đò sông nước nỗi trôi
Có mái nhà , vườn rau , giếng nước
Có bờ đê , ruộng lúa và tôi
 .
Cũng lâu lắm tôi chưa được ngồi
Hưởng bình yên bên người con gái
Không phải tính lọc lừa gian dối
Giành giật hơn thua ở chợ đời
 .
Hãy cứ thử là đôi chồng vợ
Nằm bên nhau sau giờ thánh lễ
Gã giang hồ và gái ăn sương
Lần đầu không tính chuyện bất lương !

Những mảnh lụa

Lê Xuân Tiến

Hỏi thăm người đưa cơm, Bùi Thị Xuân biết từ ngày bị bắt đến nay đã sáu tháng song Nguyễn Ánh vẫn chưa cho biết ngày kết thúc. Giống như con mèo vồ chuột. Đã bắt được chuột rồi, nhưng mèo vẫn chưa ăn vội, nó còn muốn đùa giỡn cho đến ngày còn chuột tơi tả. Nghĩ trò đời cũng buồn cười. Trước đây Nguyễn Ánh trốn chui, trốn nhủi chẳng khác nào thân con chuột hèn mọn chỉ tiếc là Tây Sơn chẳng truy đuổi đến tận cùng. Để rồi giờ đây con chuột đã biến thành con mèo. Bắt được vợ chồng Bùi Thị Xuân – Trần Quang Diệu rồi về quê bắt cả ba đứa con nhỏ, chúng không muốn cho họ chết vội. Nếu chết được, đã là hạnh phúc cho họ, chúng vẫn muốn cho họ sống để vần lên vần xuống, đẩy họ vào đau đớn tận cùng. Chúng muốn bù lại những ngày cơ cực chúng trải qua mới hả dạ.

Trại giam Bùi Thị Xuân ở rất xa khu dân cư, nên ít được nghe tiếng người trừ mấy tên quân canh ngục. Ngày đêm cô đô đốc Tây Sơn chỉ nghe tiếng gió rượt đuổi nhau trên mái tranh, trên tàn cây xà cừ ngoài sân. Đôi ba tiếng chim hót rời rạc, tiếng lá rơi rụng rất khẽ.

Phòng giam chỉ là bốn bức tường đá lạnh lẽo hôi mùi ẩm mốc. Một đống rơm góc phòng làm nơi ngủ, một cái thùng gỗ đầy tro để tiểu tiện. Chấm hết. Bùi Thị Xuân không ngại cực khổ, chỉ buồn khi xa chồng, xa ba đứa con thân yêu. Cô biết gia đình cô không đi lại được vì bị xiếng xích nhưng tâm hồn của họ luôn hướng về với nhau qua suy nghĩ. Bùi Thị Xuân thèm da diết tiếng cười, tiếng khóc của lũ trẻ, nhất là đứa con gái út mới lên bảy tuổi. Ngày mới bị bắt, vừa trông thấy mẹ, nó đã la lên “Mẹ ôi cứu con với”. Dù nước mắt chảy ròng vì thương con nhưng cô vẫn nghiêm sắc mặt quát lớn “con nhà tướng không được khiếp nhược”. Mặc dầu con đẻ ra chưa đầy năm, Bùi Thị Xuân đã giao cho họ hàng trông coi để tiếp tục đi chinh chiến song các con rất thương mẹ. Vì vậy nghe tiếng mẹ, con bé vội nín thinh, mặc dù gương mặt đầy nước mắt. Rồi, cô cảm thấy yên tâm, gia đình cô sẽ thực hiện nghĩa vụ cuối cùng với Tây Sơn là tìm đến một cái chết trong danh dự.

Đời của Bùi Đô Đốc đã nhiều lần phải quyết định song đến nay, cô không hối hận với quyết định nào.

Trước hết là đến với Tây Sơn. Là con gái, học võ từ thuở nhỏ, lại sinh ra lớn lên trên đất Tây Sơn, không còn lựa chọn nào khác là về dưới trướng Nguyễn Nhạc. Trong hàng ngũ lãnh đạo quân Tây Sơn, người mà Bùi đô đốc kính phục nhất là Nguyễn Huệ. Một con người vượt lên tất cả mọi người ở tài nghệ và nhân cách. Quả thực còn Nguyễn Huệ là Tây Sơn còn, mất Nguyễn Huệ là Tây Sơn như con thuyền bị lủng đáy, chìm dần. Khi Nguyễn Huệ mất rồi, con thuyền Tây Sơn như mất vị thuyền trưởng, không ai chỉ huy nên nội bộ cứ rối ren và rồi đi đến chỗ suy tàn. Có bao nhiêu tướng tài cũng không ngăn cơ đồ bị hủy diệt.

Quyết định thứ hai của Bùi Thị Xuân là ở lại cùng chồng khi được Võ Văn Dũng tháo cũi ở Nghệ An. Lúc đó Trần Quang Diệu thương tích đầy mình, hai chân sưng vù, chẳng cách nào đi được. Bùi Thị Xuân không thể nào dứt tình ra đi, cô đành phải ở lại để bị bắt chung cùng với chồng. Bùi Thị Xuân và Trần Quang Diệu đến với nhau như là có duyên trời định. Hôm đi săn ở rừng núi Kim Sơn, Bùi Thị Xuân bỗng nhìn thấy một người đánh cọp bằng hai tay không. Con cọp to gần bằng con trâu nhảy ngang nhảy dọc, giơ vuốt  cấu xé. Chàng trai vừa lui tới né tránh vừa vung quyền đấm vào đầu, vào mình cọp. Con cọp bị cú đấm đôi lúc loạng choạng nhưng chàng trai cũng bị vết cọp quào rướm máu. Xưa nay mấy ai tay không đánh cọp nên Bùi Thị Xuân rất kính phục. Cô vội vung song kiếm lên hỗ trợ cùng chàng đánh cọp. Chả mấy chốc con cọp bị nhiều vết chém, mất sức lịm xuống đất. Chàng trai đã bồi cú đấm cuối cùng làm nó hộc máu, chết tươi. Trần Quang Diệu vòng tay tạ ơn Bùi Thị Xuân vì đã cứu mạng sống. Cô đã vội gạt tay. Sau đó, cả hai ra mắt Nguyễn Nhạc được thu dụng. Từ sự kính phục lẫn nhau, tình yêu dần đến. Đó là mối tình keo sơn gắn bó, khiến Bùi Thị Xuân không thể xa rời Trần Quang Diệu. Sống cùng sống, chết cùng chết. Đó là tâm nguyện của tình yêu nhà võ.

Dù sống trong nhà ngục u tối nhưng Bùi Thị Xuân vẫn tin vào niềm hy vọng cuối cùng. Đó là lời hứa của Võ Văn Dũng. Sau khi phá cũi nhưng không thể đưa Bùi Thị Xuân đi vì cô muốn ở lại với chồng, Võ Văn Dũng đã gạt lệ, vòng tay lên trời vái ba vái rồi hứa với cô: “Tôi sẽ về Tây Sơn Thượng để khôi phục lại lực lượng theo gương của ngài Thái Đức lúc khởi binh, vài tháng nếu có biến ở Tây Sơn, cô biết rằng cơ đồ của Tây Sơn đang phục nghiệp”. Nhìn thái độ cương quyết của Võ đô đốc, Bùi Thị Xuân tin rằng cơ đồ không mất. Vậy là ngày tháng trong tù, cô vẫn mỏi mòn đợi chờ. Nhưng đã sáu tháng rồi, không có dấu hiệu nổi loạn ở vùng Tây Sơn Thượng. Niềm tin của Bùi Thị Xuân đã hao mòn.

Dòng suy nghĩ của Bùi Thị Xuân đã ngưng lại khi cô nghe tiếng khóa mở lắc cắc. Khuôn mặt của tên cai tù bụng phệ, râu cá chốt hiện ra. Hắn hô to, rồi đứng nghiêm

– Quan thị lang tới

Chẳng mấy chốc hiện ra gương mặt hình vuông râu ba chòm của thị lang bộ hình Trần Trung Tín. Quả là cái tên có ý nghĩa mỉa mai. Tín cùng quê với Bùi Thị Xuân, ban đầu theo Tây Sơn rồi sau theo chúa Nguyễn. Hắn chẳng có tài nhưng theo Tây Sơn cứ muốn được lên chức. Không thỏa nguyện, hắn chạy vào Nam theo Nguyễn Ánh. Nhờ siêng năng, nịnh hót giờ này hắn đương chức thị lang. Vừa thấy Bùi Thị Xuân hắn vội hỏi han

– Chẳng hay bà khoẻ không? – Tuy hỏi nhưng mắt hắn không dám nhìn thẳng vào mắt Bùi Đô Đốc.

Bùi Thị Xuân cười mỉa mai

– Cảm ơn ông, tôi vẫn khỏe như voi

Trông thần sắc của Bùi Thị Xuân chẳng mấy sa sút. Nguyên có một cai ngục có gương mặt gầy guộc đưa cơm cho cô ngày hai buổi đã giúp bữa ăn có thêm chất. Chế độ cơm nước của ngục tù nhà Nguyễn rất hà khắc. Cơm chỉ có cơm hẩm, cá là cá mục, nhiều khi có giòi, rau rác không hề có. Nhưng bữa đầu tiên, dưới lớp cơm hẩm che đậy là lớp cơm trắng tinh thơm ngát. Còn dưới lớp cá mục có vài miếng thịt vùi trong cơm.Vì thế Bùi Thị Xuân vẫn ăn ngon miệng, bảo toàn được sức khỏe. Một hôm vắng lính canh, Bùi Thị Xuân hỏi nhỏ người đưa cơm “Tại sao nhà ngươi tốt với ta”, tên lính đưa cơm nhìn quanh nhìn quất rồi kề sát tai Bùi Thị Xuân “Không giấu gì nữ kiệt, anh tôi bị nữ kiệt bắt trong trận Tây Sơn tái chiếm thành Qui Nhơn. Nữ kiệt đã nhân đức tha tội chết cho anh tôi. Ơn này gia đình tôi nhớ mãi, nay có cơ hội tôi xin đền đáp bằng bữa cơm. Chuyện nhỏ thôi mà nữ kiệt”. Bùi Thị Xuân biết rằng chuyện không nhỏ, Gia Long biết được có thể tên lính bị bay đầu. Té ra, bên này bên kia cũng có kẻ tốt kẻ xấu. Chả bù cho tên lính mập, nó luôn luôn hách dịch, ra oai để cho Bùi Thị Xuân khốn khổ chừng nào, nó vui mừng chừng ấy.

Bùi Thị Xuân nhìn thẳng vào mặt Trần thị lang:

– Nhà ngươi đâu có rảnh rỗi để tới đây chơi. Vậy có việc gì nhà ngươi hãy nói ra cho đỡ mất thời giờ.

Trần thị lang lúng túng:

– Lấy tình đồng hương, tôi xin khuyên bà…

Bùi Thị Xuân trợn mắt:

– Ta rất xấu hổ khi có người đồng hương như ngươi. Ngươi đã bỏ Tây Sơn – quê hương ruột thịt để chạy theo nhà Nguyễn, còn mặt mũi nào nhìn người đồng hương.

– Thôi chuyện đã qua, đường ai nấy đi… tôi chỉ bàn chuyện sắp tới. Chiều nay bà sẽ được gặp đức vua. Sinh mệnh của bà nằm trong cuộc gặp này. Bà liệu mà nói cho thuận tình, thuận lý. Hoàng thượng đã nói với tôi nếu bà quì xuống xin tha tội, bà sẽ cứu được mạng chồng con. Bằng không, bà sẽ chẳng những chết mà chết trong đau đớn. Vậy tội gì mà không nói được một lời để được sống.

Bùi Thị Xuân trợn mắt:

– Nghe lời mầy nói, tao muốn nhổ trong mặt. Vào tới đây gia đình tao chỉ có một con đường là chết. Không thể sống nhục như mầy, đừng nhiều lời!

Nhiều đêm Bùi Thị Xuân suy nghĩ, rồi Nguyễn Ánh cũng đi đến con đường chiêu dụ. Nhưng cô đã đi đến kết luận: sống ô nhục còn đáng sợ hơn cái chết. Tây Sơn còn hơn là cuộc sống của gia đình cô, nó là máu thịt, tình yêu và cả những gì linh thiêng nhất. Tây Sơn suy sụp, đời cô và chồng con cô cũng tự tan rã. Sống nữa để làm gì.

Trần thị lang cứ đứng đó lải nhải để chiêu dụ song hắn nói lời nào, Bùi Thị Xuân đều trả lời “không”. Mặc dù đã điên tiết nhưng khi ra đi hắn vẫn vớt vát:

– Xin bà suy nghĩ thêm trước khi gặp hoàng thượng vào khoảng hai canh giờ nữa

Khi thị lang họ Trần bước đi, đột nhiên Bùi Thị Xuân kêu to:

– Lính mập đâu lại đây ta bảo

Khuôn mặt của hắn xuất hiện. Bùi Thị Xuân biết rằng thằng này ham của đút lót nhưng với Bùi Thị Xuân thì đừng hòng. Nhưng cô biết cách để điều khiển hắn

– Mang gấp cho tao chậu nước, gương, lược

Thằng lính ngạc nhiên, trọ trẹ

– Làm chi rứa?

– Để gương mặt sạch sẽ, đầu tóc gọn gàng mà gặp hoàng thượng của mi

– Không có. Mặt mi thảm hại chừng nào, công tao càng lớn

Bùi Thị Xuân cười lớn:

– Tao chết rồi, sẽ hiện lên bám theo ngươi mà báo thù. Mi sẽ điên loạn rồi thác theo ta thôi

Thằng lính chợt xanh mặt. Hắn vốn sợ ma nên không nói gì lẳng lặng làm theo ý muốn của Bùi Thị Xuân

*

Nguyễn Ánh ngồi chễm chệ trên ngôi cao khi lính giải Bùi Thị Xuân vào điện rồng. Chung quanh chẳng có bóng vị quan lớn nào ngoài viên thị lang bộ hình. Chắc hẳn hắn không để lọt tai các vị quan, những lời chửi bới có thể của Bùi Thị Xuân. Cô đô đốc Tây Sơn vẫn còn bị gông vào cổ, hai chân bị xích. Nguyễn Ánh nhìn cô gái nhỏ bé phía dưới vuốt râu cười thỏa mãn. Phải cho Bùi Thị Xuân biết lúc này ai có quyền. Đâu có còn là sự chạy trốn chui lủi hèn hạ trước kia. Nay đất nước nằm trong tay, hắn muốn gì được nấy. Thật khác xa với thái độ của Nguyễn Huệ trước đây khi gặp kẻ thù là những bậc trượng phu. Huệ tự tay bước xuống cởi trói rồi mời ngồi. Ánh vẫn giữ thái độ ngạo mạn. Nhưng Bùi Thị Xuân cũng không vừa, cô nhìn trừng vào hắn không chớp mắt.

Hắn tự mãn hỏi:

– Ngươi có biết là triều Nguyễn với Tây Sơn ai là chính ai là tà không? Tại sao ngươi phò tá Ngụy Tây.

Bùi Thị Xuân cười mỉa:

– Tây Sơn là chính, nhà Nguyễn là tà. Đất của nhà Lê ngươi cướp lấy rồi xưng vương xưng bá. Tây Sơn là nguyện vọng của nhân dân, một lần đuổi Trịnh rồi trả đất cho nhà Lê, rất tiếc nhà Lê không giữ được đất mà còn cầu viện ngoại bang “cõng rắn cắn gà nhà” nên chủ tướng ta phải tiêu diệt. Nhà Nguyễn là đại thần của nhà Lê tại sao không làm việc đó mà cũng đi cầu viện lung tung. Không có hoàng thượng ta, đất mất, dân làm nô lệ, còn chỗ đâu ngươi xưng hùng, xưng bá. Ta hỏi lại: ai chính, ai tà?

Nguyễn Ánh có vẻ sượng sùng nhưng chuyển sang câu hỏi khác:

– Ta và Nguyễn Huệ ai tài hơn?

Bùi Thị Xuân ung dung đáp:

– Nói về tài ba thì tiên đế ta trắng tay dựng cơ đồ bách chiến bách thắng. Còn nhà ngươi trốn chui, trốn nhủi phải cầu viện ngoại bang. Chỗ hơn kém rõ ràng, như nước giếng so nước sông. Còn nói về đức độ, tiên đế ta lấy nhân nghĩa đối xử với trung thần thất thế, ai được tha cũng cảm phục. Còn nhà ngươi lấy hình phạt khốc liệt đối xử với bậc nghĩa liệt sa cơ, chỗ hơn kém cũng rõ ràng như ban ngày với ban đêm. Nếu tiên đế ta không thừa long sớm thì làm gì có ngươi ngồi đây.

– Ngươi có tài sao không giữ được ngai vàng của Cảnh Thịnh?

– Có thêm một nữ kiệt như ta, dễ gì nhà ngươi đặt được chân lên đất Bắc

Nguyễn Ánh thấy không thể đối đáp với Bùi Thị Xuân bèn dịu giọng:

– Nhà ngươi có muốn xin ân xá không?

– Ta đâu có sợ chết mà chịu hạ mình trước một kẻ tiểu nhân đắc thế?

Nguyễn Ánh nổi giận, gằn từng tiếng:

– Không chịu nhục, ta sẽ làm cho ngươi biết nhục

Nguyễn Ánh thét truyền lệnh mang Bùi Thị Xuân trở về ngục.

*

Lại thêm mười ngày chờ đợi. Dù tha thiết muốn được gặp chồng con trước khi chết nhưng Bùi Thị Xuân không muốn xin một ân huệ nào trước kẻ thù.

Trần Trung Tín lại đến. Lần này khuôn mặt y giả bộ thương tâm:

– Tại sao tôi đã hết lời căn dặn mà bà vẫn cương lên làm cho hoàng thượng nổi giận?

Bùi Thị Xuân cười to:

– Ta muốn cho đức vua nhà ngươi phải run sợ khi đối mặt với một phụ nữ. Hoàng thượng nhà ngươi đã tái mặt, tái mày rồi. Ha ha

Trần thị lang vẫn lải nhải:

– Bà biết hoàng thượng cho bà biết nhục cách nào không?

– Ta chẳng cần biết

– Bà sẽ bị lột truồng đem về quê bà để bêu riếu cho thiên hạ xem, để người phụ nữ nào muốn làm loạn thì lấy bà làm gương

– Cơ thể này do cha mẹ sinh ra, việc gì phải giấu. Đức vua nhà ngươi sẽ hối tiếc khi làm công việc hèn hạ này. Nó chỉ làm cho nhân dân phẫn uất.

Bùi Thị Xuân nói hùng hồn như thế nhưng cô lại nhớ đến Võ Văn Dũng. Chẳng có tin tức gì từ ấy đến nay. Võ Văn Dũng đã chết ở xó rừng nào hay nhân dân không tin ở Tây Sơn nữa. Một khi niềm tin đã mất đi là mất tất cả.

– Bà cũng cần biết là sau cuộc bêu riếu này, cái chết dành cho bà rất thảm khốc. Bà sẽ bị voi dữ dày xéo hoặc bị “điểm thiên đăng” tức là người bà bị quấn lấy vải nhúng sáp nóng rồi cột vào cột sắt giữa trời châm lửa đốt. Da bà sẽ bị lột ra từng mảng, đau thấu tim gan. Rất đau đớn, bà ạ.

– Ta chẳng sợ, cuối cùng cũng chỉ là chết

– Nhưng bà vẫn còn cơ hội cuối cùng là quì xin ân xá

– Ta đã nói rồi, không bao giờ chịu nhục, đừng nhiều lời vô ích – Bùi Thị Xuân thét lên

Trần thị lang vừa đi vừa lẩm bẩm “dại quá, dại quá”

Nguyễn Ánh cứ tưởng Bùi Thị Xuân bị lột truồng cho xe chở về Tuy Viễn, người dân sẽ lũ lượt rủ nhau ra xem như xem hội. Nhưng hoàn toàn ngược lại, nhân dân Tuy Viễn đã bảo nhau vào nhà đóng kín cửa. Người đi đường, kẻ nhóm chợ đều ngoảnh mặt, tránh xa xa. Chiếc xe chở tù nhân Bùi Thị Xuân đi qua, đường phố vắng lặng, hiu hắt, chỉ còn tiếng gió và tiếng lá rơi.

Ngang qua Đập Đá, nơi có làng dệt nổi tiếng. Các cô gái dệt lụa đang chờ sẵn.

Những vuông lụa được tung ra, bay vào xe. Các tên lính ra sức dùng đao để chém. Nhưng các mảnh lụa bị đứt theo gió vẫn bay tấp vào châu thân Bùi Thị Xuân. Phút chốc lụa đã đắp kín thân thể trần truồng.

Những mảnh lụa vẫn tiếp tục bay lên xe. Những mảnh lụa lấp lánh dưới ánh mặt trời.

Làng Phương

Lê Mộng Thắng

Ngày xưa có những con đò
Về neo bến Biện bên bờ sông Phương.

Ra đi , nụ chửa tròn hương
Xế chiều,dậu đổ bìm vương trở về
Người quê ,giọng nói còn quê
Trẻ con cười hỏi ông về từ đâu.

Chạnh lòng xa xứ đã lâu
Nhớ canh rau hẹ ,tiếc câu bài chòi
Lòng ai muối nấy mặn mòi
Dám đâu sánh kẻ cày voi thuở nào

Nằm lòng như khúc ca dao
Ngọn tùng…sóng bủa lao xao ngọn tùng
Dập dồn trống thúc cờ rung
Gian nan là nợ anh hùng phải vay

À ơi… muối mặn gừng cay
Chao nghiêng cánh võng những ngày xa xăm
Sợi thương mũi nhặc mũi đằm
Áo ai lữ thứ sương dầm đường khuya

Sông Côn mấy nhánh chưa lìa
Mà sao Thạch Yển vội chia dặm dài
Tháng giêng , trời lạnh hoa xoài
Ai về Đập Đá xóm Đoài…làng Phương.

Mùa sang, giục khách ly hương
Đoái nhìn bến Biện… chìm sương con đò.

Quy Nhơn, thành phố đẹp và thơ

Bút ký của HUỲNH KIM BỬU

Tháng 5 / 1955, từ một làng quê xa ở dưới chân thành Hoàng Đế, có một cậu bé lên 10 theo người lớn đến Quy Nhơn để tiễn Cậu ruột xuống tàu thủy đi tập kết. Năm năm sau, cậu bé ấy là học sinh một trường Trung học công lập trong thành phố Quy Nhơn. Cậu ta nay đã là một người cao niên hay ngồi lại với bạn cũ để nhắc lại những “chuyện ngày xưa”, trong đó thường không thiếu chuyện ngày xưa của một thành phố một thời cậu ta đến theo đuổi việc học và đã sớm nhận ra, đó là một thành phố đẹp và thơ.

Đọc tiếp »

Eo Gió

 Bạch Xuân Lộc

Nhân đọc bài Eo Gió trên Xứ Nẫu tôi vội vàng gởi bài này và bài hát đã hoàn chỉnh

.

Em ở đó bao năm,
Bao mùa quen sương gía,
Em đứng đó bao năm,
Ta hờn ghen vì gío.

Đông em nhìn biển rộng,
Hơi thở vọng ngàn khơi,
Tây vi vút cát bồi,
Dệt thêu lời tình hứa.

Ra đi từ độ đó,
Vui sống kiếp sông hồ,
Tình như tưởng đã xa,
Quên người em Eo gíó.

Chia xa từ độ đó,
Ta sống đời lãng du,
Lòng khép kín mấy thu,
Như quên rồi Eo gío.


                       ( ..Phổ nhạc Kiều Tấn Minh, Ca sĩ Huấn Vinh )

Tâm tình nào gợi nhớ,
Vời vợi ánh trăng khuya,
Bao kỷ niệm vui đùa,
Ta bên em và gío.

Luôn mơ về nơi đó,
Nỗi thương nhớ không cùng,
Ta với niềm thủy chung,
Về bên em Eo gío.

Mai ta về nơi đó,
Nhìn lại dáng em xưa,
Đã bao đời nắng mưa,
Vẫn là em Eo gíó.

Thơ Cao Quảng Văn

Cao Quảng Văn

Tranh Nguyen Thanh Binh

Trang tặng những người ngoại tuổi năm mươi

vẫn còn biết bao niềm đau đáu

Khát vọng

.

Và đâu đó

Trong lòng ta rạng rỡ

nửa nụ cười

Còn ngọt vị đôi mươi?

Chiều lấm tấm

Tự bao giờ buông lưới

Vẫn không nguôi

Khát vọng những chân trời

.

Hương Mùa

.

Ngẩn ngơ theo

dăm câu hát trong chiều

Liêu xiêu phố

Phất phơ màu nắng cũ

Loáng thoáng

hương mùa vương gió

Mơ hồ đôi cánh chim qua

Em có nghe

Mùa đang trở lại

Mai với cúc vàng

nở hoa?

.

Cánh chuồn xanh

.

Cánh chuồn xanh

Năm tháng cũ về đâu

Tuổi ngọc ngà xưa

Hóa vầng trăng hoài niệm

Có nếp nhăn mờ

Đăm chiêu vầng trán

Hỡi chuồn xanh

Và mây trắng về đâu?

Năm tháng cứ bay đi

Những đôi cánh

Không màu…

Bàn tay trong một bàn tay

Elena Pucillo Truong ( Italia)

Nguyên tác : Sempre mano nella mano

( Bản dịch của Trương Văn Dân)

 

Tiến sĩ ngữ văn Elena Pucillo Truong là một cô dâu Việt quốc tịch Ý. Vì cây dây leo, có thời chị đã theo chồng sang TPHCM dạy tiếng Ý tại nhạc viện TPHCM. Chồng chị là dược sĩ Trương Văn Dân, dịch giả văn học Ý sang tiếng Việt. Tự nhận mình là “người yêu Việt Nam” ( L’amoureuse du Viet Nam) – đúng vậy, không yêu sao lấy chồng Việt lại cả gan làm dâu trưởng nữa?- chị và chồng quyết định sống đời hưu trí ở TPHCM để phụng dưỡng mẹ già và viết văn. Từng cộng tác với một số tờ báo văn học Ý, Elena còn viết truyện ngắn nữa. Truyện Bàn Tay Trong Một Bàn Tay vừa viết ở Sài Gòn của chị do anh Dân dịch sang tiếng Việt, là tiếng nấc cho kiếp người, Ý hay VN thì cũng thế. Một tiếng nấc bất khả kháng nhưng không buồn mà nồng ấm, không thảm mà nhen nhóm hy vọng, dù mơ ước da diết nhất của hai nhân vật yêu nhau đến phút cuối đời chỉ là được chết bên nhau. Truyện rất ngắn, chỉ là vài nhát cắt, nhưng có bề dày và sức nặng của hai cuộc đời biết sống, đáng sống, ai bảo truyện ngắn là ngắn?

Nguyễn Quang Thân  

Lớp trẻ, tuổi ba mươi, bốn mươi…lúc nào cũng vội vàng, hấp tấp, đi và đến trên các phương tiện tân thời, xe hơi, bus, taxi…họ chìm giữa tiếng ồn ào của cuộc sống bon chen đô thị, giữa những cao ốc nguy nga, hàng dãy bảng hiệu với ánh đèn chiếu sáng, biểu tượng của một thế giới hiện đại và lý tưởng đang phát triển, mang vẻ ngoài đẹp đẽ và trẻ trung…

Có hai người già lạc lõng, rải bước đến chiếc băng gỗ quen thuộc đặt ở góc công viên. Tay trong tay, nụ cười như in trên hai khuôn mặt đã có nhiều nếp nhăn theo năm tháng. Ông lão nắm tay bà, cẩn trọng đỡ người bạn đời của mình, nhẹ nhàng giúp bà ngồi xuống một cách thoải mái. Mỗi cử chỉ của ông đều lịch sự, chậm rãi và cẩn thận, cùng những lời yêu thương ngọt ngào, như ông đang che chở và ve vuốt một chú chim non.

Ngày nào cũng thế… tôi chẳng biết bắt đầu từ lúc nào, nhưng có lẽ từ lâu lắm. Mỗi ngày mỗi khác và nhìn qua cũng dễ nhận ra tình cảm giữa hai người vẫn thiết tha, mạnh mẽ. Nó tương phản hoàn toàn với thế giới ồn ào xung quanh như một nghịch lý.

Cái vũ trụ thu hẹp của họ, có những vụn bánh cho vài chú chim sẻ, có những cái vuốt ve cô mèo con bị lạc hay tiếng cười rạng rỡ của một em bé đang tập đi đang ngã vào vòng tay người mẹ nào đó. Hai người luôn mang theo chiếc dù, để che nắng hay phòng ngừa sự chòng ghẹo trái nết từ những cụm mây. Riêng bà thì không bao giờ quên chiếc khăn quàng khổ rộng, sau khi ngồi vững, bà liền âu yếm quấn quanh cổ ông, những cơn gió lạnh đang thổi về.

Tôi tưởng đó là một bức tranh đang đặt trước mắt mình; cảnh thực đó đang nằm ngoài thế giới này. Chẳng biết gì về họ nhưng lâu nay tôi không thể làm gì khác là nhìn ngắm và quan sát họ cho đến khi, sau chừng một giờ, bằng những cử động ban đầu yếu ớt, về sau mạnh mẽ hơn, họ chống tay đứng dậy rồi tay nắm tay bước đi cho đến lúc mất hút giữa dòng người vô cảm.

Rồi sau đó thì sao? Họ sẽ làm gì quãng thời gian còn lại trong ngày? Tôi tưởng tượng  mình đang tò mò theo dõi, bị cuốn hút bởi thứ hào quang hạnh phúc bao quanh họ. Một cuộc đời đơn giản. Chỉ có những cử chỉ quen thuộc nhưng ngọt ngào và trìu mến dành cho người thân. Dĩ nhiên tôi khó mà tưởng tượng ra họ thường có những cơn ác mộng hoặc trong lòng họ đang chất ngất bao điều ưu tư. Đương nhiên, hằng ngày họ có thể vẫn lo lắng và đau khổ, có thể một nỗi đau khủng khiếp sẽ cướp mất hơi thở tối cần cho cuộc sống của người già.

*

Trong bóng tối buổi chiều tàn, bà vợ mắt nhắm nghiền, nằm bất động trên chiếc giường đôi. Hai bàn tay bà đặt trên ngực, những ngón tay nắm chặt chuỗi tràng hạt. Trên chiếc ghế đẩu đặt cạnh giường, ông chồng ngồi gục đầu, kiệt sức sau một cơn khóc tuyệt vọng. Ông liên tục lau mặt bằng chiếc khăn giấy đã ướt rã nước mắt. Rồi, bất thình lình, trong tay ông loé lên ánh thép lạnh lẽo của một khẩu súng. Ông đăm đăm nhìn họng súng, những giọt nước mắt vẫn tiếp tục rơi, làm ướt nòng súng lạnh giá. Ông thì thầm vài lời gì đó, rồi bằng một cử chỉ thật nhanh đưa họng súng chỉa vào màng tang mình. Chỉ trong tích tắc.

Bàn tay rớt xuống! Chẳng có tiếng nổ nào xảy ra.

Hình như trong phút chót sự can đảm đã biến mất…

Cuối cùng ông dợm đứng lên, lấy lại tự chủ, rồi đặt khẩu súng trong ngăn kéo chiếc bàn đêm đầu giường.

*

Bây giờ tới phiên ông.

Ông nằm bất động trên chiếc giường đôi, mắt nhắm nghiền và cũng với chuỗi tràng hạt trên tay. Bà vợ, thận trọng và run rẩy đặt một bàn tay lên trên quyển sách nằm trên ngực chồng. Đó là quyển sách mà ông đã viết và nó sẽ theo ông làm bạn trong thế giới bên kia. Một vài giọt nước mắt ứa ra, rớt xuống trang bìa và làm ướt những ngón tay khẳng khiu, gầy yếu… Rồi bà lão như kiệt sức, ngã gục xuống chiếc ghế đặt cạnh giường. Những ngón tay bà cố gượng vuốt ve, lướt nhẹ lên thân thể thân thương. Bà vuốt đôi mắt, vành môi, khi vuốt đến ngực, bà ngập ngừng dừng lại, như muốn vuốt ve cả trái tim ông… Cuối cùng bà áp tay mình lên bàn tay ông, bàn tay đã từng nâng đỡ và che chở bà suốt một cuộc đời. Nước mắt bà vẫn tiếp tục lăn xuống nhưng bà chẳng có chiếc khăn nào để ngăn chúng lại. Sau những tiếng rên rỉ, bà thì thầm bên tai ông những lời ngọt ngào như đã làm thế trong suốt một đời. Rồi gượng đứng lên, bà áp môi mình lên môi ông, thêm một lần nữa, nụ hôn cuối cùng.

Run run, bà với tay lấy khẩu súng đặt trên chiếc bàn đêm. Một tay nắm chặt tay chồng, còn tay kia, rất tự tin, bà đưa họng súng chỉa vào màng tang mình. Cũng chỉ một tích tắc. Rồi bà ngã xuống trên xác chồng, muốn ôm lấy ông một lần cuối.

Cứ thế, từ hai tháng nay mỗi buổi tối cảnh đó luôn được lập lại như đang diễn trong rạp hát.

Mọi chuyện bắt đầu từ sau hôm đi khám bác sĩ. Trước đó bà thường thấy mệt, nhiều lúc thở rất khó khăn, như bị ngạt, như có một khối đá đè lên lồng ngực trong những chuyến cùng chồng đi dạo. Tay trong tay, trong nước mắt, họ lắng nghe phán quyết của thầy thuốc.

“Tôi rất lấy làm tiếc nhưng trái tim của bà nhà rất yếu…giải phẩu là điều không thể thực hiện nữa… Rất tiếc là tôi không biết phải làm gì để có thể giúp bà, nguy cấp lắm rồi, bà yếu quá…”. Trả lời câu hỏi thầm lặng từ đôi mắt đau đớn và khẩn cầu của họ, ông bác sĩ ngập ngừng nhưng xúc động thành thật:

“Rất tiếc…điều đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào….”

Sau đó thì hai người già vẫn tiếp tục sống như đã từng sống, nhưng ý nghĩ là bà sẽ đột ngột ra đi, bỏ ông lại một mình vẫn ám ảnh ông mỗi ngày. Bà, người chưa bao giờ rời xa, chưa bao giờ phản bội ông.

Bởi, suốt một đời họ đã luôn sống bên nhau. Trong một thoáng bà hồi tưởng thời hai người còn trẻ, những cử chỉ ngập ngừng và vụng về trong mối tình đầu, trái tim bà chỉ đập khi chờ đợi ông, chỉ vì ông, người đàn ông duy nhất có thể lấp đầy cái khoảng trống trong tâm hồn bà; cũng như chỉ cái nhìn nhân ái của ông mới có thể xoa dịu đi nỗi đau hay mang lại cho bà niềm hạnh phúc. Cứ thế, họ đã sát cánh bên nhau đi qua cuộc đời này. Rồi họ cùng nhau nổi tiếng với các nhà hát kịch trên thế giới. Trên tường nhà họ hiện vẫn còn treo đầy các biểu ngữ giới thiệu các vở kịch Shakespeare, Mann, Eliot, Racine, Molière, Pinter…. có tấm in khuôn mặt, miệng mỉm cười của họ, có tấm chụp họ đang mặc đồ diễn trên sân khấu, đứng giữa những bạn diễn thân thiết mà đến nay tên tuổi vẫn còn sáng chói. Hình như hào quang hạnh phúc đã bao quanh họ từng ngày. Và họ luôn ở bên nhau.

Có lẽ trong cuộc sống hạnh phúc và bình an đó, chỉ có một nỗi đau trong trái tim bà, đó là họ không thể có một đứa con… điều duy nhất của riêng họ, chỉ của họ mà thôi. Nhưng mỗi lần bà vật vã, chỉ cần những lời ngọt ngào của chồng “ Em yêu ơi, xin em đừng tuyệt vọng, không có con chúng ta sẽ yêu nhau nhiều hơn…” là có thể làm dịu đớn đau, xua nó đi, dù chưa hoàn toàn xoá mất.

Rồi cuộc sống đổi thay. Thăng trầm. Chìm nổi. Có lần họ cũng rơi vào cảnh nghèo túng vì từ chối các vai diễn không phù hợp hay không chịu ký hợp đồng với những công ty ca kịch không hoạt động vì nghệ thuật… và cuối cùng, với tuổi tác, họ bình thản từ giã ánh đèn sân khấu, chấp nhận cuộc sống giản đơn, bùi ngùi nhìn lại những kỷ niệm sáng ngời trong quá khứ. Nhưng họ luôn ở bên nhau, luôn luôn hạnh phúc vì người này chỉ sống cho người kia. Và ngược lại.

*

Là những diễn viên tài hoa nên mỗi buổi tối họ đều tự chuẩn bị vai diễn của mình, cố thể hiện thật xuất sắc vai được giao cho họ trong kịch bản cuối cùng.

“ Cái chết. Sự chia lìa sẽ bất ngờ là điều không thể tránh khỏi. Nhưng người nào đi trước sẽ không phải hứng chịu nỗi cô đơn ở thế giới bên kia”.

Ông thường đi lập lại rất nhiều lần:“ Ước muốn lớn nhất là chúng ta có thể chết cùng một lúc, nhưng dễ gì Chúa ban cho ta ân sủng này!”

*

Nhưng, ông đã lầm…

Vài tháng trôi qua. Và chỉ có vài hàng trên một tờ báo.

Trong lúc ngủ trái tim mệt mỏi của bà đã vĩnh viễn ngừng đập. Và ông, bất thình lình thức giấc, tin là còn có thể cứu bà, ông lao tới chụp ống điện thoại để gọi xe cấp cứu nhưng không kịp nữa. Trái tim của ông cũng ngừng đập vì đau đớn, nó chỉ cho ông một tích tắc để đưa cánh tay nắm lấy tay bà.

Đúng là sự việc chỉ xảy ra trong tích tắc.

Sai Gon tháng 8/2011

Elena Pucillo Truong

 

Eo Gió – bài hát của đá và gió

Đến Quy Nhơn bạn hãy một lần ghé thăm Eo Gió để nghe tiếng gió vi vu thổi vào vách đá, luồn qua những hang động và hòa quyện tiếp với sóng dạt dào ngày đêm xô vào bờ.

Để nhìn những phiến đá kỳ vĩ đầy hình thù đang cố dang tay ôm lấy đại dương ngút ngàn; thấp thoáng đàn chim én lượn chao nghiêng trông đẹp đến ngỡ ngàng.

Đường lên Eo Gió

Eo Gió là một eo biển đẹp hình vòng cung thuộc thôn Hưng Lương, xã bán đảo Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Sở dĩ gọi là Eo Gió hay Eo Cửa Gió vì đây là một cửa eo nhỏ mà đứng từ trên cao dễ dàng nhìn thấy hai dải núi đá cong hình vòng cung ôm lấy một góc biển khơi trông tựa như một cái phễu.

Hoang sơ – kỳ vĩ

Những năm trước, để đến với Eo Gió không phải là điều đơn giản, phải đi ghe máy từ bến Hàm Tử vượt biển, nếu không phải băng qua đầm Thị Nại mênh mông rồi lội qua những đồi cát trập trùng, không một bóng nhà mới tới được Eo Gió. Nhưng bây giờ, từ khi cầu vượt biển Thị Nại hoàn thành (năm 2006) thì từ thành phố Quy Nhơn chỉ cần chạy xe 20km băng qua cầu Thị Nại là đến trung tâm xã Nhơn Lý, nơi có thắng cảnh Eo Gió.

Đường đến Eo Gió cũng thật đẹp và hoang sơ. Bạn hào hứng khi mình đang chạy trên cầu vượt biển Thị Nại, cây cầu dài nhất Đông Nam Á (2.500m). Đứng ở đầu cầu, gần như không thể nhìn thấy bên kia cầu bởi sự bao la của đầm Thị Nại, niềm tự hào của miền đất võ đầy nắng và gió. Đứng ở trên cầu, nhìn ngược lại, thành phố Quy Nhơn trông thật yên bình bên biển xanh.

Tiếp tục chạy xe, một cảm giác bồng bềnh khó tả khi gió từ biển thổi mát rượi, ven đường là những đồi cát trắng xóa tràn ra cả mặt đường. Đường dài hun hút, không một mái nhà, chỉ màu trắng của cát hòa lẫn với màu xanh ngắt của mây trời và xanh đậm của những rặng phi lao ven đường. Khung cảnh hoang sơ đến huyền bí.

Tưởng như đã thưởng thức no nê vẻ đẹp đặc trưng vùng biển thì khi leo lên hết con đường mòn mấp mô, chênh vênh để tận mắt mục sở thị Eo Gió, bạn chỉ biết ngỡ ngàng trước cảnh sơn thủy hữu tình; cảm giác mệt mỏi tan biến, thay vào đó ta dần thấy mát lạnh khi những cơn gió biển lọt vào eo xâm chiếm cả khu này.

Eo Gió đẹp bởi những rặng núi đá cao chót vót với đủ hình thù kỳ quái chạy lan ra trùng dương. Núi ôm biển, biển vờn quanh núi, sóng xô vào bờ như đang hát lời ru dạt dào, xa xa thấp thoáng dáng con thuyền, chập chờn đàn chim tung cánh. Từ trên cao quần thể Eo Gió trông đầy gợi cảm mà cũng thật hoang sơ, kỳ vĩ.

Là một trong những thắng cảnh nổi bật nhất Bình Định nhưng Eo Gió hầu như vẫn chưa có bàn tay tác động của con người. Những dịch vụ du lịch không phát triển nên chỉ mất tiền gửi xe ở những hộ dân quanh đó rồi ta tha hồ tự do thưởng ngoạn vẻ đẹp của biển trời bao la và những đường cong tuyệt đẹp của núi đá vẫn còn trinh nguyên, hoang sơ.

Bài hát của đá và gió

Lên đến đỉnh, điều đầu tiên bạn cảm nhận được là những dải núi đá uốn cong như một cái phễu hút gió từ biển rồi chạm vào những vách đá thổi ngược lại lồng lộng cho cảm giác mát lạnh. Ta nghe rõ âm thanh của gió rít bên tai hòa với tiếng sóng vỗ dịu êm, thi vị hơn bạn ngửi thấy cả mùi chát mặn của biển cả.

Eo Gió tựa như một bài hát do đá và gió tạo nên. Những âm thanh du dương của gió rít vào những vách đá, tiếng sóng biển nhè nhẹ dạt dào ngày đêm mãi xô vào bờ, thi thoảng đâu đấy là tiếng xôn xao của đàn chim từ những hang động bay ra. Tất cả tạo thành một bài hát đầy chất thơ, nghe rất êm tai.

Chính đá mới là nhân tố làm nên vẻ đẹp quyến rũ, man dại của Eo Gió. Đá nơi đây lởm chởm từ đỉnh cao vút chạy đến bờ thoai thoải; đi dọc theo chân núi là đến bãi Đá đẻ với rất nhiều đá lớn nhỏ được sóng mài phẳng lì. Sở dĩ gọi là Đá đẻ vì cứ nhặt đi lại thấy đá như “mọc” ra nhiều hơn. Từ Đá đẻ nhìn ra biển là những cụm đá lớn nổi trên mặt nước, đủ hình thù kỳ quái cho bạn thỏa sức tưởng tượng.

Những cụm đá hình thành nên những hòn đảo nhỏ như hòn Mòng, hòn Cỏ, hòn Cân… Mỗi hòn mang một dáng dấp khác, chẳng hạn như hòn Mòng người dân nơi đây coi như con cá sấu vươn mình ra biển cả hay con trâu đang ngụp lặn tắm mát.

Dọc theo những vách núi, ta còn bắt gặp những hang động nhỏ mà thiên nhiên vô tình kiến tạo ra; nào là hình hàm ếch, hình vòm… với những nhũ đá đa dạng màu sắc, gợi cảm. Đứng nơi đây vãn cảnh và chụp vài bức hình quả là tuyệt vời. Thú vị hơn, ở đây còn có giếng tiên, là một con suối nhỏ như dải lụa vắt bên vách núi; nước suối mát ngọt và trong vắt. Còn gì tuyệt hơn hơn sau khi chơi với đá, tắm biển rồi ngâm mình trong giếng tiên thả hồn theo mây gió, hệt như chốn tiên cảnh.

Biển bao la mang theo gió, sóng vỗ vào đá, gió cuốn lấy đá tạo nên nét đẹp Eo Gió, tạo nên một bài hát du dương, êm dịu…

TheoTTO