Feeds:
Bài viết
Bình luận

Thơ Võ Chân Cửu

Tranh:Đinh Cường

Mười Năm
.
Mười năm nàng nhớ hay quên
Vầng trăng với lúm đồng tiền nghiêng chao
Ta đi mãi tận nơi nào
Tưởng khi bóng nắng buồn sao giếng trời
Mười năm nàng đã quên rồi
Đẩy đưa chót lưỡi đầu môi lặng nhìn

Cây cao còn bóng ai in
Mùa thu còn tới để nhìn ra hoa.
Mười năm nàng đã quên ta
Thì thôi áo khóac thêm tà sương bay.

 

Gió Lay

 

Gió lay ngọn lá thành cây kiểng
Em nói gì cùng ta hay không
Nơi góc bếp đôi giày cao gót
Trái tim nàng ai so vẫn hư không.

 

Vầng trán

 

Cho anh hôn vầng trán em đau
Và nghe ra tiếng hát địa cầu
Vì sao nọ ở nơi xa khuất
Sẽ hát cùng em phút nhiệm màu

Dạo núi

 

Thơ NGUYỄN NHƯ TUẤN

 

Ta bận bận rong chơi cùng hoang dã

Cõng tuổi già lên núi hấp hơi sương

Nghe trời đất vô thường luân lưu chảy

Máu trong người cũng rần rật âm ba

 

Chom chóc gọi bạn tình. Xuân hối hả

Trút nỗi buồn xuống đáy nước hồ sâu

Niềm vui lịm trên cành cây sáng nắng

Nằm lơ mơ dưới tán lá xanh mầu

 

Ta cứ đi, và một ngày thong thả

Dạo quanh hồ xanh như lá rừng xanh

Bầy chim lợn trú đông từ phương bắc

Tiếng kêu rơi xao dộng cả mặt hồ

 

Cùng người bạn đã một thời xao xác

Quên áo cơm tất bật chuyện đời thường

Và, có lẽ bây giờ ta hạnh phúc

Dù một ngày – và chỉ một ngày thôi!

 

NNT

 

 

 

Hình như trời đang mưa


Nguyên Minh


 

Tranh Trịnh Công Sơn

Tặng Vô Thường

 

Đài loan tin cơn bão sẽ đổ vào thành phố trong vài ngày tới. Vợ tôi cũng như những người dân khác đều lo mua gạo, thức ăn khô, nước uống và rất nhiều dầu lửa, đèn cầy để dự trữ, phòng thân. Thời tiết thay đổi hẳn. Trời âm u suốt ngày. Lại có mưa lâm râm. Không khí lành lạnh. Tôi không thể ngồi yên ở nhà trong những bức tường ngột ngạt. Tôi cảm thấy cần phải đi, đi đâu cũng được. Tôi thay quần áo, khoác thêm chiếc áo gió. Vợ tôi khuyên tôi không nên đi xa, khi thấy có triệu chứng cơn bão sắp đến, về nhà liền, tránh nguy hiểm giữa đường. Tôi gật đầu cho vợ tôi yên tâm. Tôi gọi điện hẹn Phan đến một quán ăn sân vườn, nơi thỉnh thoảng chúng tôi ngồi lai rai vài chai bia, đủ ngà ngà say.

Phan đã ngồi đợi tôi từ lâu. Tôi đến kéo ghế ngồi đối diện với Phan. Quán vắng hoe, không đông như mọi hôm. Hai chúng tôi ngồi dưới gốc cây bàng, tàn lá sum suê. Mưa bay lất phất. Cô chiêu đãi như biết ý, đem đến đặt trên bàn bốn chai bia tiger ướp lạnh, một cái đồ khui, cùng một dĩa khoai tây chiên rồi bỏ đi, để mặc chúng tôi.

Trong những lần họp mặt anh em bạn bè tôi rất bực mình khi phải ngồi nghe Phan kể những thông tin về đời thường chẳng ăn nhập vào không khí văn nghệ của chúng tôi. Bao nhiêu ước mơ, ấp ủ để thực hiện về một tờ báo văn học mà thời tuổi trẻ chúng tôi đã đình chỉ. Rồi vì thời cuộc chúng tôi đã ngừng bút. Đời sống khắc nghiệt đã làm tôi vắng đi những nụ cười. Tìm đến bạn bè, một chút men say trong không khí thân tình êm ái, cùng nhớ lại một thời đã qua, thì nói làm gì những chuyện vô vị của cuộc sống. Chỉ có những lúc hai đứa tôi ngồi riêng với nhau Phan mới nhắc lại những kỷ niệm về một thời làm báo văn nghệ hăng say với lòng nhiệt thành của tuổi ba mươi. Cùng tiếng tặc lưỡi luyến tiếc. Sao ta không khởi đầu lại những gì đã từng ấp ủ, say mê của thời tuổi trẻ. Giờ tóc đã bạc trắng. Một đời hoang phế! Uống tiếp những cốc bia đầy. Hồn lâng lâng đi về đâu? Những lúc như vầy, Phan ngồi bên tôi, không nói gì cả. Va, tôi cũng thế. Chỉ vài ngày sau là Phan ra đi. Bên kia nửa quả địa cầu. Sao mà xa vời vợi. Tôi sắp mất đi một người bạn. Cuối đời Phan lại phiêu bạt nơi xứ người. Lại một lần nữa thay đổi đời sống. Một cơn bão lịch sử đã làm thay đổi đời ta. Giờ Phan lại đón một cơn bão khác.

Trời vẫn còn mưa, nhưng chúng tôi vẫn còn ngồi ngoài sân vườn, dưới mái dù che bằng tấm nhựa, những giọt nước thi nhau rơi tí tách xoay chung quanh chỗ ngồi hai đứa tôi. Trời vẫn lặng gió. Chưa thấy hiện tượng gì cơn bão sắp qua thành phố. Chỉ còn tôi và Phan là những người khách còn ngồi lại ngoài sân vườn, những người khác đều chuyển chỗ vào trong nhà. Tôi ra dấu gọi cô tiếp viên cho thêm vài chai bia. Cô gái che dù mang bia đến. Phan cười bảo:

– Hôm nay ông uống hơi nhiều, phá lệ à. Ngồi đợi bão đến hả ?

– Có lẽ vậy.

– Không đợi nó cũng đến mà đợi chắc gì nó sẽ đến.

Tôi gật gù uống tiếp một hơi dài. Rồi cười khan. Phan ngạc nhiên hỏi:

– Có gì thích thú mà ông cười?

– Nhớ lại cảnh mưa bão ngày ở quê, ngày nào..

Tôi không kể lại cho Phan nghe, nhưng trong tôi đang gợn lên hình ảnh vợ chồng con cái co ro, run rẩy ở một góc nhà trên chiếc giường tre. Mưa như thác đổ. Gió thổi mạnh như bão. Nóc nhà đã tróc bay nơi đâu. Nước xối xả theo khoảng trống ào xuống sàn nhà lênh láng. Vợ tôi chỉ kịp khiêng lu gạo để lên giường, chỗ khô ráo duy nhất trong nhà. Còn tôi chỉ khư khư ôm lấy cái cassette vào lòng rồi lấy bao ni lông bọc lại, sợ nước mưa nhỏ vào hư máy. Khi tạnh cơn mưa, trời đã về khuya. Các con tôi đã ngủ say, chỉ còn vợ chồng tôi còn thức. Nằm cạnh bên nhau nhìn lên, một đường trống trơn chạy dài, như cắt mái nhà ra làm hai mảnh riêng biệt, đủ để ánh trăng lấp vào thả ánh sáng lên hai thân hình của đôi vợ chồng trẻ đang ôm nhau khắng khít. Vợ tôi ngủ say. Còn tôi vẫn thức, nghe nhạc một mình. Tiếng nhạc du dương hòa tấu khúc Hồ thiên nga của Tchaikovski, đưa tôi vào một cõi mộng mơ xa xôi. Nơi đó vắng bóng người đàn bà trẻ đẹp, mảnh mai, phải còng lưng gánh lúa cho Hợp tác xã nông nghiệp. Nơi đó không có nắng chang chang để làm làn da vốn trắng trẻo trở thành nám cháy, khi suốt ngày phải ở ngoài đồng cấy mạ gặt lúa, làm bàn tay năm ngón thon thả trở thành cục mịch và lòng bàn tay ngày nào hồng hào thành dầy cợm, chai lì. Cuộc sống lam lũ vẫn không làm chúng tôi bi quan. Vui vẻ mà sống. Sau những giờ lao động chân tay chúng tôi còn một đời sống khác. Buổi sáng dậy sớm, tôi nghe nhạc không lời, cùng uống cà phê sữa nóng, cùng hút một điếu thuốc, nhớ lại một vài kỷ niệm đẹp của những ngày đã qua trong một đời sống khá giả trước đây, và tuyệt đối vợ chồng tôi tránh nhắc đến những cơ cực của cuộc sống hiện tại. Sau đó mỗi người tản ra đi làm. Vợ tôi ra đồng. Tôi đến văn phòng hợp tác xã với những con số về công điểm ăn chia, về số lúa thu hoạch, về phân bón nhập kho. Một kế toán trưởng hợp tác xã nông nghiệp mà tôi không hề phân biệt được đâu là cỏ cú đâu là lúa non. Về đến nhà, tối thắp đèn dầu, đọc sách văn học. Khuya nghe nhạc cổ điển tây phương. Nhưng hằng ngày phải ăn cơm độn. Bo bo. Khoai mì. Khoai lang. Những năm 79-80, bao nhiêu người thân, bạn bè bỏ quê hương, lén lút trốn tránh nhau để vượt biển ra đi. Những năm 90 họ ung dung trở về rạng rỡ nụ cười với những người thân ra đón mừng. Bao nhiêu sai lầm tôi đã trải qua. Mười lăm năm sau tôi mới mang gia đình vào sống ở Sài Gòn. Bạn bè tôi từ từ cũng tụ về một mối.

Tôi hỏi Phan:

– Ra giêng, ông cưới vợ cho con trai đầu rồi mới đi chứ.

Phan không trả lời, chỉ gật đầu.

Bắt đầu lại một cuộc sống mới với tuổi gần sáu mươi kể cũng buồn thật. Tôi đưa ly bia định uống một hơi, bỗng ngừng tay lại, đôi mắt nhìn quanh đâu đó, tai nghểnh lên. Tôi nhận ra trong tiếng mưa rơi, văng vẳng tiếng đàn ghi-ta từ xa vọng lại. Lúc đầu, từng tiếng khoan thai, sau dồn dập. Những ca khúc của một thời đã làm tôi say mê. Hoài cảm. Đêm đông. Buồn tàn thu. Tôi sững sờ, bàng hoàng, nhận ra tiếng đàn này rất quen thuộc với tôi, từ thời niên thiếu. Vẫn những tiếng láy rung rung mang âm hưởng của đàn mandoline. Đúng rồi, tiếng đàn của bạn tôi. Của bốn mươi năm về trước. Một khoảng thời gian dài bỗng rút ngắn lại trong tích tắc, trong từng âm thanh dồn dập xô đẩy tôi vào một không gian khác, một thời gian khác. Tôi nở nụ cười héo hắt. Bậm môi mình thật chặt để chận lại nỗi uất nghẹn sắp trào ra thành tiếng khóc. Nhưng nước mắt tôi đã chảy thành từng giọt, rơi xuống mặt nước vàng sủi bọt của ly bia tôi đang uống dở. Phan sững sốt nhìn tôi, hỏi rất khẽ:

–  Cậu sao vậy?

Tôi lẩm bẩm:

– Đúng là hắn.

Rồi, tôi gọi cô chiêu đãi hỏi tác giả đàn ghi-ta là ai. Cô chiêu đãi đáp gọn:

– Vô Thường.

Tôi gật đầu nói nhỏ nhưng cũng đủ cho Phan nghe:

– Đúng hắn. Võ văn Thường. Bảy Rìu.

l

Tuổi thơ của chúng tôi, tên trong giấy khai sanh ít được gọi tới, chỉ kêu nhau bằng biệt danh, không hiểu xuất xứ từ đâu, hồi nào. Bạn nối khố gọi tôi: Minh Bui, Vô Thường là Bảy Rìu. Nhà chúng tôi ở hai con đường khác nhau. Nguyễn Thái Học, Trần Hưng Đạo, nhưng nhà hai đứa kế hông nhau. Căn gác nhỏ của tôi, cửa sổ mở ra, nhìn qua căn gác của hắn. Chỉ cần tín hiệu huýt gió, chúng tôi xuống gác ra khỏi nhà gặp nhau chẳng ai biết. Thường vào những đêm có trăng, khi những ngọn đèn nhà trong phố tắt hẳn, lũ chúng tôi ba đứa, Minh Bui, Bảy Rìu và Tín Chả, rủ nhau ra ngồi ở sân quần vợt cùng đánh đàn ghi-ta, và ca hát. Suốt cả đêm, có khi thiếp ngủ luôn tại đó, giật mình thức giấc, tưởng rằng sương khuya sẽ ướt mất cây đàn, mới hay ai đó trong ba đứa đã lấy tấm chăn phủ kín cây đàn, đánh thức nhau dậy, chạy về nhà chui vào ghế bố đã để sẳn từ đầu hôm trước hiên, ngủ tiếp.

Những năm đầu thập kỷ 60, đất nước còn thanh bình. Không có giới nghiêm. Không có tiếng súng. Thị trấn nhỏ nhất miền Nam này sống hiền hòa, êm đềm. Cả ba cùng một tuổi Tỵ. Tân Tỵ Tín Chả và Bảy Rìu còn là anh em bạn dì. Cả ba chúng tôi cùng học một trường tiểu học, và khác trường khi lên trung học. Trong những đêm mùa hè nóng nực, chúng tôi thường kéo nhau ra ngồi dưới cột đèn đường hay ngoài bờ thành của một ngôi chùa nhỏ.

Thường chơi đàn ghi-ta bằng tay trái, Tín  bằng tay mặt. Hai đứa ngồi đâu lưng với nhau, hai cần đàn dài hướng về hai phía khác nhau. Đầu họ cúi xuống, tóc phủ trán lất phất bay theo gió. Những ngón tay phải bấm trên dây đàn, còn ngón cái và ngón trỏ bàn tay trái của Thường cầm lấy phím đàn bằng đồi mồi, gảy từng tiếng một rồi liên hồi, tạo thành những âm thanh giòn giã tựa như tiếng đàn mandoline. Tín thì ngược lại. Những ngón tay có móng  dài, thong thả, búng vào dây đàn tạo ra âm thanh đục trầm. Tôi ngồi trước mặt họ, hai người bạn từ lối chơi đến cách cầm đàn trái ngược hẳn nhau, đối kháng nhau. Tôi không biết đàn. Tôi chỉ là người thưởng thức, cảm nhận được sự hòa hợp của hai tiếng đàn đó. Tiếng đàn của Tín trầm và khoan thai, ngược lại giọng hát cao vút. Còn Vô Thường giọng trầm và khàn khàn trái ngược với tiếng đàn âm cao.

Tôi không biết hai người biết đàn ghi-ta từ lúc nào, nhưng chắc chắn cả hai chưa thông qua một trường lớp nào. Tôi thường mua sách Tự học đàn ghi-ta gởi tặng hai bạn, khi tôi rời khỏi thị trấn nhỏ đó ra học ở Huế. Tôi tưởng từ đó chúng tôi không gặp nhau nữa.

Năm năm sau tôi lại trở về thị xã này, làm nghề gõ đầu trẻ. Tín Chả bị động viên vào quân ngủ.  Thường đã có vợ và làm công chức ở tỉnh. Mỗi đứa đều có một đời sống riêng, tưởng rằng không còn liên quan gì với nhau. Nhưng tôi đã lầm.

Nhớ lại ngày chúng tôi quen nhau lúc còn bé, ngồi vây quanh anh Đề, một thanh niên trong xóm tôi, gảy đàn mandoline. Anh Đề là bạn của anh Hai tôi, từ thuở nhỏ,   lớn lên theo Việt Minh. Tôi không hiểu sao anh Đề lại bỏ chiến khu về thành. Nhìn nước da của anh xanh mét, và người gầy đét, khô cằn, rõ ràng anh mang bệnh sốt rét. Tôi chỉ nhớ có một buổi tối trời có trăng, lần theo tiếng đàn, tôi mới gặp được anh. Anh đang ngồi trên thành lan can, dựa lưng vào vách, tay ôm cây mandoline và đàn liên tục, từ bài này sang bài khác. Những âm thanh dòn dã, hùng hồn, nhưng có lúc như tỉ tê, phiền muộn. Toàn những bản nhạc lúc bấy giờ tôi chưa nghe. Có hỏi, anh Đề chỉ cười và nói nhỏ: “Lớn lên chú mày sẽ biết”. Sau này tôi khám phá ra đó là những bản nhạc kháng chiến: An Phú Đông. Nhớ chiến khu. Bà Mẹ Gio Linh. Anh chỉ đàn mà không hát. Lần sau tôi tìm đến anh, nhà anh chỉ cách nhà tôi mấy căn, năn nỉ anh đàn cho tôi nghe. Hai anh em dắt nhau ra ngoài hiên, người đàn người nghe. Khi anh Đề ngừng tay, hút thuốc, tôi mới nhận ra hai chú bé tuổi bằng tôi, ngồi cạnh mình từ lúc nào.

Anh Đề chợt đến chợt đi như một bóng ma, nhưng tiếng đàn của anh đã để lại cho tuổi thơ chúng tôi một dấu ấn tuyệt vời về âm nhạc. Một đêm trăng, ba đứa không ai rủ ai tìm đến anh Đề, mới hay anh đã bỏ nhà ra đi từ đêm qua. Sau này tôi mới hiểu vì sao một đêm trước đó anh đàn cho chúng tôi bài Cây đàn bỏ quên và tặng cho Bảy Rìu cái phím đàn bằng đồi mồi. Nghe anh Đề đàn, tôi chỉ nhìn trời bâng quơ. Còn Bảy Rìu, chăm bẳm nhìn bàn tay anh Đề cầm phím đàn liên tục gảy nhạc. Từ đó Bảy Rìu tập tành đàn. Tín Chả tập hát. Còn tôi tập viết văn.

Từ ngày Phan qua Mỹ, nhiều lần tôi tìm băng cassette hoặc dĩa CD về đàn ghi-ta của Vô Thường ở hải ngoại để thưởng thức tài nghệ của anh, cũng như xem lại tôi có xúc động đến rơi nước mắt, như vài năm trước khi ngồi với Phan. Tôi có tìm đến  quán sân vườn ngồi uống bia và yêu cầu họ cho tôi nghe lại băng đàn guitar nhưng họ trả lời đã bị hư nát rồi. Tôi có hỏi những nơi thu băng nhưng họ lắc đầu, chưa thấy. Vài năm sau trong một chuyến đi lên Đà Lạt nghỉ mát, vào nhà sách, nơi quầy bán băng cassette tôi thấy có tên Vô Thường, mừng như vừa gặp lại người bạn cũ. Tôi mua về. Chiều đó tôi không ngồi ở nhà Thủy tạ cùng Trọng, lấy cớ đang có hứng để viết một truyện ngắn. Trong không khí lạnh lẽo của vùng Cao nguyên, ngồi trong căn nhà gỗ, trước mắt là màu xanh lục của rừng thông bên kia ngọn đồi vương vấn những áng mây trắng lờ đờ trôi qua. Tiếng đàn Vô Thường trỗi dậy. Âm thanh đó kéo tôi đi vào một cõi khác, xa lìa với cuộc đời này. Và tôi lại bật tiếng khóc. Sá gì một tiếng đàn của người bạn cũ làm tôi xúc động như thế. Tôi ngồi suy ngẫm cố tìm xem từ trong đáy lòng mình một dấu vết đau thương nào trong cõi u minh.

Thì ra, ngày ấy…

Ba tôi, trong những ngày cuối đời thành một ông già gầy nhom, mặc quần áo lụa trắng, tay chống gậy, mỏi mệt lần bước chân đi. Tuổi tác ba tôi bấy giờ cũng bằng tôi lúc này. Sáu mươi, nhưng cơn bệnh lao phá nát hai buồng phổi, những cơn ho dữ dội làm tuôn máu đỏ tươi. Trông ba tôi như một cụ già tám mươi.

Muốn lên gác, tôi phải đi ngang qua ba tôi. Ban ngày ông nằm trên chiếc ghế xích đu bằng vải bố, trước bàn thờ leo lét một ngọn đèn dầu, một lư hương luôn luôn có cây nhang được đốt lẻ loi, phảng phất mùi thơm, phía sau là tấm hình đã hoen ố của mẹ tôi. Ba tôi như người giữ mồ. Ban đêm ông cũng không cho bật đèn điện, ông không chịu được ánh sáng. Chỉ vài bước chân ngang qua, mới thoát ra cõi tối tăm, ma quái. Chỉ cần bước nhanh qua nơi ba tôi nằm như xác chết, để lên được căn gác tôi cũng đủ làm T. run sợ khôn xiết.

Trước ngày giỗ mẹ tôi, ba tôi qua đời. Khi ba tôi chết tôi mới khám phá ra ba tôi tự tử bằng thuốc ngủ. Bác sĩ bảo cơn bệnh sẽ còn hành hạ và keo dài cuộc sống ba tôi một hai tháng nữa. Trước đó, Ba tôi đã từng nói: Sao con cái không giỗ mẹ, giỗ cha cùng một ngày. Cùng lúc nơi chín suối cả hai ông bà dắt nhau về nhìn con cái sum họp cúng vái cha mẹ. Trước ngày  ba tôi mất, ông buộc anh Quế phải đem trầu cau cưới chị Muội, cũng như Định ngoài Huế cưới Ngân. Đám cưới chạy tang. Còn tôi, ba tôi dặn dò tôi và T. phải giữ vững tình yêu để thuyết phục ba mẹ T. vài năm sau đổi ý, chấp nhận, cũng không muộn màn gì.

Đám tang của ba tôi, mọi người thân từ xa đến phúng điếu trước giờ đi chôn. Thắp cho ba tôi một nén nhang Thường khấn thầm: “Như vậy con đã đàn tiễn đưa bác đi rồi nhé.” Tôi giật mình nhớ lại những ngày trước đó. Thường báo cho tôi anh mới khám phá việc khuếch đại âm thanh đưa tiếng đàn ghi-ta thùng, thánh thót như ghi-ta điện của ban nhạc Shadow thịnh hành thời đó. Anh gắn micro sát vào mặt gỗ thùng đàn, đầu kia phích cắm vào sau chấu điện của cái đài Philippe 6 đèn.  Anh cầm phím đàn của anh Đề cho thuở nào gảy lên dây đàn ghi-ta như gảy lên  đàn mandoline. Âm thanh vang dội qua nhà tôi. Không còn phải ngồi bên cạnh nhau và phải lắng tai tôi mới nghe hết âm thanh của tiếng đàn. Tôi tắt ngọn đèn trên căn gác, định ngủ, ánh trăng chiếu qua khung cửa sổ dọi vào một góc phòng, và tiếng đàn guitar réo rắt và liên tục từ Hoài cảm, Đêm đông, Buồn tàn thu, Bến xuân. Không biết còn đến ca khúc nào nữa đã đưa tôi vào những giấc mơ thần tiên rồi. Những đêm sau đó, lúc trăng lên ngay đỉnh đầu, Thường ôm đàn với âm thanh khuếch đại, không cần biết đến những người ở nhà bên cạnh đang cần sự yên tĩnh. Ba tôi là người phản ứng đầu tiên. Ông hỏi tôi: “Nhà ai mới mua máy hát mà để dĩa nhạc to vậy.” Tôi trả lời ngay: “Thằng Bảy Rìu chơi đàn đó ba.” Ba tôi thắc mắc hỏi tiếp: “Đàn gì vậy?”“Dạ, ghi-ta.”“Như cây đàn của thằng Tín hả. Sao lạ tai vậy?” –“Ghi-ta điện tự chế. Mà hay không ba?” Ông gật đầu: “Da diết quá. Buồn quá.” Bấy giờ tôi mới nhận ra vẻ mặt quá bơ phờ của ba tôi. Hai mắt ông lõm sâu và có quầng thâm, chứng tỏ những đêm giấc ngủ chập chờn cùng những cơn ho dữ dội, tàn phá thân xác ông. Gặp Thường tôi kể lại. Và gợi ý: “Mày đàn ban ngày to mấy cũng được, ban đêm giảm âm thanh lại.” Thường phản ứng với vẻ mặt buồn xo: “Ban đêm trăng thanh gió mát và tâm mình lắng dịu, chơi đàn mới sướng, âm thanh thật mạnh mới đã.” Những đêm sau đó, trời vẫn còn trăng, gió vẫn mát nhưng lại vắng tiếng đàn của Thường. Ba tôi mới hỏi: “Bộ thằng Thường bệnh hả?” – “Sao ba lại nghĩ vậy?” – “Thế sao tao không nghe nó đàn?” – “Sợ ba ngủ không được con bảo nó đừng đàn giữa đêm khuya. Nó nghe lời nhưng con biết nó rất buồn” – “ Nghe nó đàn tao buồn nhưng vắng tiếng đàn của nó tao lại đau khổ hơn. Tao chờ đợi. Tao lắng tai. Tao thao thức. Tao thấy trong tâm hồn tao thiếu vắng cái gì đó. Té ra tiếng đàn.  Nó dẫn dắt tao tìm thấy mẹ mày trong một cõi xa vời khác.” Ba tôi ngừng tiếng một lúc rồi năn nỉ “ Tội ba, con nói nó đàn cho ba được gặp mẹ con với”. Đêm đó Thường đàn cho ba tôi nghe bài Dạ lai hương. Âm thanh ma quái, liêu trai. Sáng mai thân xác ba tôi đã cứng lạnh. Dưới gối có một ống thuốc ngủ trống trơn. Chắc giờ này ba tôi đã gặp được mẹ tôi rồi.

l

Mấy mươi năm qua rồi. Tối nay, trên căn gác, tôi không bật đèn, dưới bóng tối lờ mờ, tôi ngồi gác cằm lên song cửa sổ, mắt đăm đăm nhìn bãi đáp máy bay của phi trường Tân Sơn Nhất. Trời tối đen như mực. Sao lấp lánh. Một dãy đèn xanh đỏ chằng chịt cắt ngang như phân chia ranh giới giữa biển cả và trời mây. Ánh đèn pha chớp chớp như những tia sấm, báo hiệu cho máy bay đáp xuống. Âm thanh réo rắt của tiếng đàn guitar của Vô Thường từ dàn máy CD vang lên. Tôi tự hỏi: “Tại sao hai lần trước tôi nghe tiếng đàn này tôi đều chảy nước mắt, rồi sau đó một vài kỷ niệm giữa tôi và Vô Thường cùng những hình ảnh xa vời của cha tôi, của anh Đề, của Tín Chả mới hiện lên sống lại trong tim tôi. Tôi chưa tìm ra lý do nhưng tôi biết có một cái gì sâu xa hơn nữa nằm tận đáy lòng tôi đang bị một khối đá nặng nề đè nặng lên. Nó muốn vùng dậy và thoát ra”. Tôi một mình muốn chìm đắm trong tiếng đàn đó xem nó dẫn tôi tới đâu, có làm tôi xúc động trước khi nhận ra một khuôn mặt ai đó đã qua trong đời mình những ngày xa xưa tưởng chừng như đã chết.

Tiếng đàn Vô Thường có lúc tỉ tê như đang muốn tâm sự với tôi. Âm thanh trầm trầm, rời rạc, bỗng lên như cánh diều bay vút theo gió lên trời cao, rồi bị đứt dây, lảo đảo giữa khoảng không gian bát ngát. Có lúc tiếng đàn dồn dập như xô tôi vào một cõi mênh mông nào đó. Có tiếng gào thét, vẫy vùng. Và uất nghẹn. Giận hờn. Và thương nhớ. Sau bao nhiêu năm từ thời tuổi thanh niên đến lúc này đầu đã bạc mà một câu hỏi đã làm tôi cũng như Vô Thường bứt rứt không có câu trả lời thích đáng. Tại sao hắn chết. Tín Chả. Tín không chết ngoài trận mạc mà hắn chết vì tự tử. Một viên đạn súng lục hắn tự bắn vào đầu. Tín chết để lại cho Bảy Rìu cây ghi-ta mới mua, các dây đàn bằng sợi cước. Thường treo lên tường cạnh giường ngủ, cứ nhìn thấy chứ không cầm lên nổi để bấm đàn. Anh bị cái chết bí ẩn của Tín ám ảnh. Cũng như tôi, không đọc nổi vài trang tiểu thuyết, không nghe nổi vài đoạn nhạc cổ điển Tây phương hoặc những ca khúc tiền chiến. Những buổi chiều tối xẩm tôi hay ngồi hút thuốc liên miên, không muốn suy nghĩ về cái chết của Tín. Tôi trách mình vô tâm. Tôi trách bạn vô tình. Giật mình nhớ những đêm Tín rủ tôi và Thường cùng nhau vào Sài Gòn đi khiêu vũ. Tín nhảy những bản tango rất tuyệt vời. Người vũ nữ trẻ đẹp thướt tha theo từng bước dìu của Tín. Cả vũ trường đều nhìn say mê. Một người bạn cùng quê, cùng mê vũ trường như chúng tôi báo tin về sự bỏ nhà ra đi theo người tình của vợ Thường. Thường không tỏ một thái độ gì cả. Mặt vẫn lạnh lùng, nhưng nửa đêm, tôi nằm bên cạnh mới nghe tiếng khóc rấm rứt của Thường.

hai

Cũng như về T., tôi ước mơ cuối đời mình sẽ được gặp lại nàng, dù chỉ một lần. Trong giấc mộng, T. tránh mặt tôi, lúc tỉnh giậy tôi buồn vô hạn. Gặp nhau để làm gì, khi hai chúng tôi mỗi đứa đã an bề gia thất. Và tuổi già đã đến trên đầu mỗi đứa. Tôi nghĩ đến lúc mình nhắm mắt xuôi tay không bao giờ tôi được gặp lại T., người tình xưa. Trong tâm tưởng chỉ còn mơ hồ một hình ảnh người con gái hai mươi tuổi, ngây thơ và trong trắng.

Nào ngờ, chúng tôi gặp lại nhau thật, sau ba mươi năm cách biệt. Người đang ngồi đối diện với tôi là T., người đàn bà đã từng trải, chịu bao đắng cay sau năm 1975, chồng chết một năm sau đó. T. dắt mấy đứa con thơ dại vào sống ở Sài Gòn. Bon chen. Rồi vượt biên. Bị bắt. Thả ra lại tiếp tục vượt biên. Thọ bạn tôi cũng là anh rể của T. chỉ cho tôi biết tin chừng đó. Ngày tôi dắt cả gia đình từ bỏ thị trấn nhỏ vào sống Sài Gòn cũng chính là những ngày cuối cùng T. còn ở Việt Nam. Thọ cho tôi biết hình như T. buôn bán giày dép ở đường Lê Thánh Tôn. Tôi lang thang mãi suốt con đường đó mong có tiếng ai rất quen thuộc, rất thân ái gọi khẽ tên mình để ngừng bước quay lại nhìn khuôn mặt người tình năm xưa, xem lòng mình còn bàng hoàng đến mức độ nào. Bây giờ, T. cười và lắc đầu:

– Anh Thọ cho sai tin về T. hay anh nghe lầm. Tuyên có sạp vải ở chợ Tân Định, sau những lần thất bại ê chề, bị bắt tù vì tội buôn thuốc tây lậu. Vài lần gặp lại người quen T. có hỏi về anh, họ nói anh đi kinh tế mới.

Nói chung, sau năm 1975 chúng tôi không nhận được tin tức đích xác của nhau. Sau này tình cờ gặp lại Minh, em ruột của T., mới cho tôi hay T. và các con hiện nay ở Mỹ. Đời sống đã ổn định.

– Anh nghĩ khoảng đời còn lại tụi mình không còn gặp được nhau. Tại quê nhà, cùng một thành phố mà chúng ta còn không có cơ hội, huống gì khi hai đứa ở cách nhau nửa quả địa cầu. Phải không T.

T. khẽ lắc đầu. Đôi mắt nhìn thẳng vào mặt tôi, nàng nói:

– Không. Nếu vậy em không về lại Việt Nam, sau khi Minh cho em biết tin tức đích xác về anh.

– Giờ, tóc anh đã bạc trắng đầu. Em cũng không còn trẻ. Chúng ta đang ngồi lại với nhau, nhìn lại nhau, đánh giá lại tình yêu đã dành cho nhau cùng những lầm lỡ của thời tuổi trẻ. Lúc đó tụi mình không biết để cho nó trôi qua. Mất mát. Ân hận. Ray rứt. Hối tiếc.

Người phục vụ đem đến thực đơn, lịch sự hỏi:

– Thưa hai bác dùng gì?

Lúc ấy tôi mới nhận ra tôi và T. đang ngồi tại nhà hàng Tib. Nhìn xung quanh mình, còn nhiều bàn vắng khách, hai đứa tôi là khách đến sớm nhất. Bàn tôi ngồi sát vách bằng kính trắng ngăn cách với cái sân trống để mấy hàng chậu kiểng bonsai, hòn non bộ. Tiếng hát Khánh Ly thầm thì quanh đây. “Người ngỡ đã xa nhau nhưng người bỗng lại về… Tình ngỡ đã quên đi nhưng tình quá bao la…” Lời bài ca giống như tâm trạng của chúng tôi. Tôi hỏi T.:

– Những ngày rằm ở Mỹ em có ăn chay không? Như ngày nào khi còn con gái, ở trọ trong chùa ?

– Có. Dù chỉ một mình.

– Giờ có anh. Tại quê nhà. Em gọi món gì đi, thứ ở Mỹ hiếm thấy. Nhà hàng này đặc biệt chỉ bán quanh năm suốt tháng các món ăn chay xứ Huế và nghe nhạc Trịnh Công Sơn.

Những giọng ca quen thuộc của Khánh Ly, Lệ Thu diễn tả lời thơ, âm điệu nhạc buồn của Trịnh Công Sơn từ từ đưa chúng tôi lùi về quá khứ. Thời gian đi thụt lùi. Không gian đảo ngược, quăng chúng tôi về thị trấn nhỏ đầy kỷ niệm của một mối tình thơ ngây. Bặt đi tiếng hát. Vọng lại tiếng đàn ghi-ta độc tấu những ca khúc Trịnh Công Sơn thành một liên khúc. T. ngẩn ngơ rồi buột miệng:

– Tiếng đàn ghi-ta của Vô Thường.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– Sao em biết.

– Ở Mỹ, Vô Thường nổi tiếng cả mười năm nay. Ở nhà em cũng có vài dĩa CD Vô Thường. Mỗi lần nghe, lòng em nôn nao, như xa lìa đời sống quá bon chen, như con lật đật, để trở về vùng im vắng của quê nhà. Nơi ấy có những người thân yêu của một thời xa vắng. Cứ vương vấn bên lòng. Dù thời gian có trôi qua.

– Em thử nhớ xem, tiếng đàn này em đã nghe một lần nào trong cái dĩ vãng xa xưa, thời còn con gái. Riêng anh, nó cứ ám ảnh anh vì cả một khoảng đời trai trẻ các anh dính liền với nhau. Hắn đó: Vô Thường, bạn anh, Tín Chả mà ngày nào mới quen nhau anh đã kể cho em nghe về cái chết của một thanh niên đẹp trai, tài hoa.

– Ngày ấy em là cô gái tuổi 18, nghe anh kể cảnh anh Tín tự tử, suốt mấy đêm liền mất ngủ, miệng phải lâm râm đọc kinh Phật, để xô đuổi hình ảnh máu đổ trộn lẫn với não tủy từ màng tang tuôn ra. Ghê quá. Anh Vô Thường em chưa nghe anh nhắc tới.

– Giờ cũng chưa muộn dù đã 30 năm bọn anh chưa gặp nhau lại, anh kể cho T. về hắn. Hắn xấu trai, mắt lồi răng hô, nói chuyện thô lỗ, vô duyên. Có tật là mọi vật đều cầm tay trái, kể cả cây đàn. Không có mối tình nào đẹp. Có vợ sớm để vợ ngoại tình bỏ đi. Cưới vợ khác có vài đứa con rồi cũng bỏ họ lại quê nhà, di tản sang Mỹ những năm 75. Hồi nhỏ đi học, lớn lên thành lính kiểng. Niềm say mê nhất đời hắn là đàn ghi-ta. Cái duyên, cái đẹp tâm hồn của hắn đều nằm trong tiếng đàn. Như Trương Chi còn có Mỵ Nương. Còn Vô Thường thì có ai? Sau này vài người quen từ Mỹ về anh có hỏi thăm về Vô Thường, họ cho biết vẫn ở một mình sau bao nhiêu đời vợ, bao nhiêu cuộc ly dị. Bao nhiêu cuộc chia đôi tài sản. Chàng chỉ còn lại chiếc nhà xe di động có trang bị dàn máy ghi âm để thu tiếng đàn của mình vào dĩa CD.

Tôi ngừng nói khi thấy T. đang ngơ ngẩn như có ai đó đang dẫn dắt nàng đi vào một cõi nào. T. đang chập choạng, quờ quạng, lềnh bềnh như mây bay. Tôi cũng bước theo nàng, hụt hẫng, bồng bềnh trong trời mênh mông. Tiếng đàn tỉ tê. Khi chậm khi nhanh. Khi trầm khi bổng. Khi lưa thưa, khi dồn dập, dẫn dắt tôi và T. lang thang trong cõi mộng mơ. T. nói như còn trong cơn mộng du:

– Chẳng lẽ em đã nghe tiếng đàn ghi-ta này. Cũng bản Ướt Mi của Trịnh Công Sơn. Một buổi chiều mưa trên căn gác nhà anh. Từ đâu vọng lại. Em ngồi một mình.  Anh quên lời hẹn với em. Anh không về. Tiếng đàn lập đi lập lại cũng vẫn một bản Ướt Mi cho đến lúc em bước chân nhẹ nhàng xuống cầu thang và rón rén đi ngang qua chỗ ba anh nằm bệnh mới vững bước tự nhiên ra khỏi nhà anh.

Tín chết làm tôi lảo đảo, chênh vênh, như một kẻ say rượu bước chân lên cầu thang mà cứ tưởng bước xuống vực sâu, tôi lao mình rơi xuống, chới với trong miền hoang vu, bấy giờ khuôn mặt T., đôi mắt T. long lanh những giọt lệ và đôi bàn tay xinh xắn nắm chặt tay tôi kéo lên, dìu dắt tôi, vững chải bước tiếp tục trên cõi đời này. Từ giã những cơn say túy lúy, từ giã những đêm đi lang thang một mình giữa phố phường đã đóng cửa mà lòng tan hoang, cùng nỗi ám ảnh về cái chết của Tín, tôi đã bước vào thế giới tình yêu của T. mang lại cho tôi.

– Đúng là tiếng đàn Vô Thường sau một thời gian im tiếng vì cái chết của Tín. Em nhắc đến buổi chiều đó làm anh giật mình nhớ ra có lần Thường hỏi anh có biết vì sao hắn có hứng thú để đánh đàn ghi-ta, ngay chính trên cây đàn Tín để lại, âm thanh du dương, lanh lảnh, gây xúc động cho người nghe. Phải khuếch đại âm thanh. Chỉ một hình ảnh về khuôn mặt ngây thơ và trong trắng của một người con gái bên kia khung cửa sổ, lờ mờ qua màn mưa rơi lớt phớt ngoài trời tao cũng nhận ra được những giọt nước mắt của nàng đang nhỏ xuống, đã tạo ra những âm thanh tuyệt vời trong tâm hồn tao khiến những ngón tay tao gảy lên những dây đàn theo nỗi cảm xúc mà tao không cầm lòng được. Nó mạnh hơn cái ám ảnh của cái chết. Ai? Mày biết không. Anh lắc đầu và hắn chỉ thốt lên, dù sao tao cũng cám ơn cô bé ấy. Anh không thắc mắc tìm hiểu chỉ mừng là hắn đã đàn được mà càng lúc càng hay, những âm thanh điêu luyện làm rung động lòng người. Bây giờ, tình cờ anh mới biết cô bé ấy là ai roi. T.

Tôi ngừng nói, cầm ly nước uống một hớp nhẹ, rồi nhìn T. hiện tại sau 30 năm vẫn còn mang dáng dấp ngày xưa, đôi mắt trong sáng nhưng u hoài, và nụ cười héo hắt. Tôi nói tiếp:

– Mỗi lần anh nhớ về T. anh không thể quên được những giọt nước mắt của em. Lúc nào cũng khóc được. Đáng lý ra anh phải dỗ dành T., an ủi T. nhưng anh cứ ngồi trơ mà nhìn. Anh như con mồi mắc bẫy màng nhện, tay chân cứng đơ nhưng lòng lại xót xa.

T. không nhìn thẳng vào mắt tôi, nàng nhìn ra ngoài sân, nói rất khẽ như tự nhủ thầm với lòng mình:

– Tụi mình gặp nhau lúc nào trời cũng mưa.

Tôi cứ ray rứt mãi về buổi tối đã bỏ T. giữa đường đứng núp mưa. Một mình với thân con gái. Trời lạnh, rét run. Sài Gòn ban đêm đầy cạm bẫy. Cả tiếng đồng hồ sau Trọng mới đi đón hộ tôi. Bao nhiêu năm qua tôi cứ ân hận mãi. Ngay sáng hôm sau tôi kể lại cho chị Muội. Chị ấy chưởi tôi là kẻ vô tâm. Và tôi chuộc lỗi bằng cách tối đó mang đến cho T. những trái cam với sự ngạc nhiên của T.: Em đâu có bệnh. Tôi tự trách mình. Hết vô tâm lại ngớ ngẩn.

– Mỗi lần trời mưa lòng T. xốn xao. Bao nhiêu năm rồi cũng vậy, nhớ đến một cái gì đó không rõ ràng. Buồn về một điều gì đó không rõ nét. Rất mơ hồ. Rất xa xôi. Nó nằm rất sâu trong lòng em. Có dịp nó trổi dậy: Những cơn mưa cùng tiếng đàn ghi-ta của Vô Thường.

Tôi nói :

– Về mối tình đầu. Thuở ấy em chỉ biết yêu và chỉ biết khóc?

T. nói như một lời trách móc:

– Còn anh, anh chỉ biết nhìn, để nó trôi qua. Anh không biết giữ gìn, quí trọng.

Tôi gật đầu như thú nhận:

– Đến khi mất em rồi anh mới nhận ra, đã muộn.

Tôi rút trong túi áo ra tấm hình đã hoen ố vì thời gian đặt trước mặt T. Nàng cầm lên xem. Hai tay nàng run rẩy. Tấm ảnh đen trắng T. chụp thuở còn nữ sinh. Ngây thơ. Đôi mắt mở to. Buồn. Đôi môi mỏng nở nụ cười. Phía sau chữ của T. viết nghiêng: Trao về anh với nhiều thương nhớ. Tôi đọc cho T. nghe đoạn kết của một lá thư ba mươi lăm năm về trước của T. 18 tuổi: Em  lo sợ tình mình sẽ tan vỡ mất thôi. Không biết lúc ấy ai buồn hơn ai?

– Đã bao nhiêu năm rồi  anh vẫn giữ được. Lan không ghen sao?

– Đời anh chỉ có một mối tình duy nhất. Lan biết và quí trọng nó.

Trong bữa ăn, T. thường gắp bỏ vào chen tôi những thức ăn nhẹ, và dặn dò đủ thứ, anh không được ăn cay, cử chất béo, cấm hút thuốc, cà phê, và rượu, bao tử mới bớt hành anh. Tôi nhìn từng cử chỉ nhỏ nhặt, săn sóc tôi, lòng mình se thắt.

Tôi gọi người chiêu đãi ra dọn dẹp và mang lại hai ly nước cam tươi. Thì giờ ngồi lại để thưởng thức nhạc Trịnh Công Sơn. Cả tôi và T. đều im lặng trong tiếng đàn ghi-ta của Vô Thường không phải như những thính giả xa lạ, mà là hai người bạn thân đang nghe tiếng lòng anh đang thổn thức. Tiếng đàn dập dìu dẫn tôi và T. trở về căn gác xưa. Ngồi bên song cửa sổ hai đứa nhìn sang căn gác đối diện, Vô Thường đang cầm đàn ghi-ta và ngẫu hứng gảy đàn, những tình khúc của Trịnh Công Sơn thành một liên khúc. Mưa rơi lất phất làm thành bức rèm ngăn cách kẻ đàn người nghe. Trong cái ánh sáng lờ mờ của buổi xế chiều tôi nhận ra hình như có bóng dáng ai đó cầm chiếc đàn ghi-ta lẳng lặng ngồi bên Vô Thường. Đúng là Tín Chả thời trai trẻ. Hai người lưng dựa vào nhau. Một mái đầu tóc đen chạm vào một mái đầu tóc đã bạc. Như thân hình của con bướm. Hai cần đàn chĩa về hai phía khác nhau. Một bên cầm đàn bằng tay phải. Một bên cầm đàn bằng tay trái. Như đôi cánh bướm giang ra. Người trẻ đệm tiếng đàn trầm cho người già đánh lướt qua âm thanh cao vút và dòn tan, lanh lảnh. Tiếng basse như tiếng ai thở dài. Hai cánh bướm cứ chập chờn. Âm thanh của hai cây đàn hòa lẫn vào nhau. Hai cánh bướm đã nhập lại dính sát vào nhau. Tiếng đàn bỗng dưng u uất. Rồi thảng thốt. Rồi tức tưởi. Bóng dáng chàng thanh niên biến mất và hồn Tín Chả đã nhập vào Thường Bảy Rìu.

Có tiếng gậy gõ trên cầu thang, và bước chân ai rất nhẹ lên gác tôi, rồi im bặt. Tôi quay lại thấy cha tôi chống gậy dựa lưng vào vách tường, mắt nhắm nghiền, lắng tai nghe.

Chuyển từ ca khúc này qua ca khúc khác bằng âm thanh của đàn mandoline, dòn tan, cao vút rồi chợt trầm xuống. Khi khoan thai, khi dồn dập. Không biết anh Đề còn sống hay đã chết. Anh có nhận ra âm hưởng của phím đàn mà ngày nào anh đã tặng Bảy Rìu. Anh sẽ mỉm cười. Cảm động. Tiếng đàn càng lúc càng tha thiết. Một cảm giác tê lạnh nơi bàn tay tôi, nhìn xuống mới hay giọt nước mắt nào ai nhỏ xuống. Đôi mắt ngây thơ đã ứa lệ. T. của tuổi 18. Của mối tình đầu. Biết yêu và chỉ biết sợ. Bỗng dưng trời mưa to. Những giọt mưa xuyên qua cửa sổ làm ướt người T. Không như ngày đó tôi chỉ biết đứng nhìn. Bấy giờ tôi ôm T. sát vào lòng như truyền hơi ấm cho nhau.

Không biết T. có cùng một cảm nghĩ như tôi không? Tôi định hỏi thì T. đã nói trước, giọng nhỏ lại:

– Anh Vô Thường độc tấu ghi-ta nhưng em nghe sao như có tiếng đàn thứ hai của ai đệm theo.

Ở Mỹ về Việt Nam, được ngồi với anh tại nhà hàng ở Sài Gòn, cùng anh nghe tiếng đàn Vô Thường, em cứ ngỡ tụi mình đang ngồi trên căn gác nhỏ nhà anh của 30 năm về trước.

Nước mắt T. bỗng chảy dài. Tiếng đàn đã dứt. Tôi nắm chặt lấy bàn tay T. Nàng thảng thốt hỏi tôi:

– Hình như trời đang mưa phải không anh./.

Nguyên Minh

Lối xưa xe ngựa…

TTCT – Đập Đá (Bình Định) được mệnh danh là đất kinh đô các vương triều cũ, nổi tiếng với thành Đồ Bàn, thành Hoàng Đế…

 

Xe ngựa chở khách đi chợ, mỗi người vài ngàn đồng. Quần quật chở thêm hàng hóa, mỗi ngày thu nhập trung bình 100.000 đồng

Như còn vương lại từ những rêu phong xưa cũ, không biết từ bao giờ, một ngã ba ở thị trấn Đập Đá “chết danh” với cái tên Bến Xe Ngựa. Sáng tinh mơ hay chiều tà, những chuyến xe ngựa chở hàng hóa, người đi chợ, trẻ đến trường gõ lộc cộc trên những con đường làng, trên lối mòn thành cũ. Tiếng nhạc leng keng rung lên giữa làn sương mai, trong màu nắng chiều hôm trên thành Hoàng Đế là âm thanh du khách khó thể nào quên.

Tham quan khu quần thể di tích, văn hóa xưa ở Đập Đá, ngồi trên xe ngựa leng keng không khỏi xốn xang niềm hoài cổ: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” (*).

Trước kia, mỗi ngày Bến Xe Ngựa có hơn cả trăm xe thường xuyên đứng bến, phân tổ chở khách, hàng hóa đi khắp nơi trong khu vực, nhất là người đi chợ tờ mờ sáng. Rồi bị những phương tiện thuận lợi hơn như xe ba gác, xe thồ, taxi thay thế, Bến Xe Ngựa dần vắng bóng xe. Chỉ còn một số xe vẫn gõ nhịp lốc cốc theo tình yêu của chủ nhân. Họ giữ nghề vừa để kiếm sống vừa giữ lại cho mình một niềm đam mê xe ngựa.

Mưu sinh trên xe ngựa bấp bênh, những ngày chợ phiên chạy được vài chuyến chở người dân đi chợ, chở hàng về làng và học sinh kiếm 100.000-200.000 đồng/ngày, ngày thường ít khách, một thời hoàng kim thổ mộ đã dần qua.

Ông Phạm Sáu, 70 tuổi, đã có hơn 50 năm chạy xe ngựa ở đây, trăn trở: “Vì mưu sinh nhiều người đã khóc khi bỏ xe ngựa chuyển sang nghề khác, họ đau buồn lắm. Xe ngựa khác với những xe chở hàng, nó biết yêu thương, gắn bó với chủ. Tôi và một số người bạn ở đây quyết giữ nghề cho đến hết thế hệ này. Chẳng lẽ bến xe ngựa lại không có ngựa?”…

Nguyễn Tiến Lợi, 17 tuổi, người trẻ nhất chạy xe ngựa ở bến này, tâm sự: “Không chỉ chở hàng, đi chợ, xe ngựa bây giờ còn làm được du lịch, quảng bá hình ảnh quê hương nên tôi nghĩ nếu mình biết khai thác thì nghề xe ngựa rất hấp dẫn và có thu nhập tốt”.

 

Xe ngựa “đổ xăng” bằng cỏ, chủ luôn chở theo dưới xe một thùng cỏ để khi nghỉ ngơi ngựa lót dạ. Chân ngựa bao giờ cũng được đóng đế bằng sắt để tạo độ bám khi di chuyển
Khách hàng thân thuộc nhất của xe ngựa là những người đi chợ phiên
Xen lẫn với phương tiện vận tải hiện đại, xe ngựa vẫn giữ một giá trị khó thay thế
Chủ rất yêu quý ngựa, xem ngựa như bạn bè. Để ngựa đẹp hơn, chủ phải tắm rửa, cắt tỉa lông, chăm sóc ngựa hằng ngày
Những chuyến xe ngựa đợi khách ở Bến Xe Ngựa. Xe ngựa cũng được quy định xuất bến theo thứ tự
Nam thanh nữ tú rất thích thú khi đi xe ngựa

TRƯỜNG ĐĂNG

__________

 

Độc thoại

Cao Văn Tam
Tuổi thơ ta một góc vườn Vĩnh Lộc
Bẹ chuối hiên nhà võng nhỏ đu đưa  
Bông bụt đỏ xôn xao con giồng giộc  
Cánh chuồn bay cao tít hội ban trưa 
.
Tuổi thơ ta trong khu rừng Cấm nhỏ 
Cánh phượng hồng khao khát tiếng ve ran  
Chú dế nhỏ ngủ yên trong bờ cỏ  
Gió nồm lên con sáo vội sang ngang
.
Ta lớn lên cũng đua đòi chữ nghĩa  
Đi làm Thầy dạy học ở Thuận Ninh 
Xa lắc xa lơ mái đình Nhơn Nghĩa 
Quê mẹ nghèo thao thức gọi bình minh
.
Đã có lúc không nghe lời tường tận  
Cũng thị thành ,cũng yêu ghét áo cơm… 
Rất này nọ và nhiều khi lỡ vận 
Mỏng cánh chuồn – ta mặc áo hình rơm
.
Ta có lúc muốn say mà chẳng được  
Bỡi em yêu không có ở nơi này  
Nâng cốc rượu ta là người say trước  
Đợi em về đâu chỉ một đêm nay…

Nhiều người thường hỏi: “Không biết bánh hỏi có từ lúc nào. Và tại sao người ta lại đặt tên là bánh hỏi ? ”. Theo người Bình Định, bánh hỏi có từ rất lâu đời. Cũng là thứ bánh làm từ bột gạo như nhiều loại bánh truyền thống khác, nhưng thứ bánh hỏi của “ Xứ Nẫu ” vẫn cứ là lạ. Lúc đầu mới làm ra loại bánh lạ nầy, ai thấy cũng… hỏi là thứ bánh gì? Cái tên bánh hỏi có lẽ đã được khai sinh từ đó?! Còn theo nhiều chuyên gia ẩm thực, bánh hỏi chính là “biến thể” của bún tươi, có ở nhiều vùng miền nước ta. Người dân Đất Võ thấy sợi bún lớn nên đã chế biến làm cho sợi bún nhỏ lại. Từ đó tạo ra món bánh hỏi.Nếu so sánh, bánh hỏi và bún có cách chế biến gần giống nhau, cùng chất liệu bột gạo, song làm bánh hỏi công phu và tỷ mỷ hơn. Đại thể, quy trình làm bánh của người Đất Võ , như sau: Gạo vo sạch, ngâm một đêm (khoảng 10-12 giờ). Xong, vớt ra đem xay nhuyễn bằng cối đá (sau này xay bằng máy xay bột). Cho nước bột gạo sền sệt vào chiếc bao vải sạch, để ráo nước. Đem hấp bột vừa đủ chín, nhồi và chia bột thành từng khối chừng nửa ký gọi là “giảo” bột – giống cách làm bánh canh. Tiếp theo, lại đưa vào khuôn, ép thành bánh. Khuôn bánh hỏi ở trên to, đáy khoan những lỗ li ti nhỏ. Bí quyết nghề làm bánh hỏi là nhờ chiếc khuôn. Lỗ khuôn quá nhỏ, bột không chạy qua. Lỗ quá lớn, sợi bánh sẽ lớn như sợi… bún.

Các khối bột đã nhào nặn sẵn, người ta bỏ vào khuôn, dùng một khối gỗ vừa lòng khuôn ép cho bột chảy ra. Bột khá đặc, lỗ lại nhỏ cần sức ép lớn nên người thợ phải dùng đến hệ thống đòn bẩy. Sức ép trên mặt khuôn rất lớn, một người ép một người bắt bánh. Mỗi lần ép đòn bẩy xuống là những vòi bột loăn xoắn tuôn ra ở đáy khuôn. Người thứ hai dùng tay ngắt ra từng đoạn nhỏ, đưa vào nồi hấp cách thủy một lần nữa mới đem ra thị trường tiêu thụ.

Bánh hỏi thời nay

Người dân Đất Võ có câu:
‘’Mưa lâm râm ướt dầm lá hẹ ,
Em thương một người có mẹ không cha ,
Bánh xèo bánh đúc có hành hoa ,
Bánh hỏi thiếu hẹ như ma không kèn…’’.

Lá hẹ ăn với bánh hỏi rất ngon. Hẹ tuy cùng họ với hành, tỏi nhưng lá nhỏ và xanh hơn, hương lá hẹ lại không gắt như lá hành tươi nên rất hợp với bánh hỏi.

Ngoài việc dùng xì dầu làm nước chấm rất ngon, bánh hỏi cũng có thể chấm với nước mắm pha loãng với gia vị là ớt, tỏi, đường, chanh, bột ngọt …

Khi ăn bánh, người Bình Định thường cho thêm chút dầu phộng hoặc dầu dừa đã khử hành chín. Dầu ăn trộn với lá hẹ xắt nhỏ, tẩm lên từng miếng bánh làm cho hương vị bánh hỏi rất lạ, kích thích khẩu vị. Khi ăn chỉ cần một làm chén xì đầu với ớt, tỏi, đường giả nhuyễn, vắt thêm miếng chanh tươi là có ngay món điểm tâm sáng thật tuyệt.

Bánh hỏi đi đôi cháo lòng, đấy là món khoái khẩu của người đất võ. Cháo lòng nấu hơi loãng với huyết heo ninh nhừ, thịt nạc băm nhuyễn, thêm chút gia vị tiêu, hành, bột ngọt cho vừa ăn. Cũng vì cách ăn này mà thỉnh thỏang ở các vùng miền khác của cả nước, quán ăn nào có bán bánh hỏi, thường cũng phục vụ kèm thêm đĩa lòng heo, dạ trường, gan, dạ dày, dồi heo … rất tuyệt.

Người Bình Định khi cúng giổ, cưới hỏi, lễ lạt đều có món bánh hỏi. Các làng nghề làm bánh hỏi truyền thống, ngon nổi tiếng vùng này có ở Quy Nhơn, Tây Sơn, An Nhơn, Tuy Phước … Mỗi ngày, các lò bánh có thể bán ra thị trường hằng trăm kilôgam.

Ở Bình Định, bánh hỏi được bán rất phổ biến. Nhưng ngon nhất là ở khu vực ngã ba Phú Tài ( TP. Quy Nhơn). Có hàng chục quán ăn với món cháo lòng – bánh hỏi, món điểm tâm dễ ăn mà cũng rất hấo dẫn với nhiều du khách phương xa.

Thực đơn bánh hỏi ở Bình Định hiện có khoảng đến… 10 món ; như: bánh hỏi chả giò, bánh hỏi lòng heo, bánh hỏi thịt nướng, bánh hỏi chạo tôm, bánh hỏi tôm càng, bánh hỏi thịt bò nướng, bánh hỏi gà nướng…

Cùng với bánh tráng , bánh ít lá gai, bún song thằn…, món bánh hỏi từ lâu đã trở thành đặc sản riêng của vùng Đất Võ. Một món ăn tuy rất đỗi bình dân nhưng lại có sức quyến rũ lạ kỳ.

Du khách phương xa nếu có dịp đến vùng đất này, cũng nên thử qua một lần cho biết! Kinh nghiệm cho thấy, nhiều người đến đây, thưởng thức món đặc sản này xong thường cũng lại hay thắc mắc: “Bánh hỏi là bánh gì?”.

Hỏi xong rồi lại muốn ăn thêm…

Theo báo Du lịch

 

Chia Tay Hẹn Hò

     Yến Du

Chia tay anh – đâu phải là chia tay mãi mãi
Mà đường em về bỗng hun hút với đơn côi
Có tiếng lá rơi bâng khuâng trong chiều tà gió thổi
Như tiếng ta chào nhau buông thả rất khẽ khàng

.

Quay lưng rồi buồn chạm gót thở than
Em bước đi dọc theo chiều dài nỗi nhớ
Anh không bên em mà vẫn nghe đâu đây nồng nàn hơi thở
Khoảng trống trong em chợt cô quạnh đến nao lòng

.

Chiếc bóng một mình tan loãng giữa mênh mông
Lối em qua có nụ hôn vương trên môi theo về ray rứt
Có vòng tay yêu thương anh cho còn ấm nồng ngang ngực
Sao lại xa rồi – Sao ngăn cách thế anh ơi ….

.

Hạnh phúc mong manh nhưng hạnh phúc vẫn tuyệt vời
Chia tay anh – nắng chiều tan vùi mình trong cỏ
Hẹn hò như còn nguyên nên hẹn hò ngậm ngùi đứng ngó
Chỉ riêng em về- chao đảo đờii mình một dáng hình anh ….

Chị Tư Rô

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

Không biết tôi đã quen biết chị từ lúc nào ….Từ khi rời thành phố HONOLULU đến định cư,ở vùng đất mới này thì tôi đã thấy chị …Hàng ngày chị đon đả mời chào tất cả mọi người ,đi đâu tôi cũng gặp chị ,ngày ấy tôi biết rõ tên thật của chị là : Phạm Thị Tư …ngày gia đình tôi đi làm thẻ xanh,  tôi gặp chị cùng đến làm …Mấy năm sau gặp chị ở nhà thờ Việt nam, Chị tỏ ra rất ngoan đạo , ngày nào chị cũng đi… ,chị bảo là mới vào Quốc tịch  Mỹ và đã đổi tên Mỹ là “ROSE ” chị đưa cho mọi người xem những tấm hình lúc chị đang tuyên thệ, lúc ấy tôi mới biết là khi ấy cũng cần phải chụp hình … Con người từ một quốc gia nghèo nàn thấp kém, nay đột nhiên bước chân vào một thế giới văn minh giàu có nhất hành tinh : Chụp hình để đánh dấu kỷ niệm và khoe khoang với bạn bè là đúng rồi…
Tôi hân hoan chúc mừng chị và được chi hướng dẫn cách nộp đơn sao cho nhanh gọn …không có chị chắc là tôi quên mất ngày tháng nào tôi hiện diện trên đất nước này …
Cứ vài hôm tôi lại gặp chị , lúc nào cũng đon đả, thân mật với tất  cả mọi người …Mỗi lần gặp chị, tôi lại biết thêm một vài việc xảy ra trong cái cộng đồng nhỏ bé của người Việt Nam : nào là ,ngày mai bầu  Chủ tịch Cộng dồng …Ngày kia họp hội Đồng hương Bình Định, tháng sau họp Hội Đồng hương  Huế…lần nào cũng nhét vào tay tôi vài mảnh giấy mời có địa chỉ ,cùng mấy lời dặn dò : nhớ đi nhen, mình làm em xi với ông…nào nào đó, những tên tuổi mà tôi chưa hề quen biết .
…Rồi mau chân chạy đến người khác thông báo tiếp …Một lần đi chợ Việt Nam,tôi lại gặp chị ,Vẫn gọn gàng, nhanh nhẹn , chân sáo đến chỗ tôi đưa cho tôi một bì thư và nói là thứứ Bày tới sẽ đến tận nhà đón tôi đi dự cuộc thi hoa hậu và Dạ vũ, tổ chức tại CHAMBLEE, cách chỗ tôi ở 1 tiếng lái xe …Rồi chị lai chạy đến nói chuyện huyên thuyên với người khác …
Sau nhiều ngày qua sự kháo nhau của mấy người bạn, sau lưng chị họ nói về chị đủ mọi câu chuyện không mấy tốt lành, tôi thường điềm nhiên nghe mà không thêm ý kiến vì biết rằng chút nữa đây , khi vắng mặt tôi hay ai đó, thì họ cũng có những câu chyện làm quà cho nhau như vậy….
Không nhiều chuyện, không phải Việt Nam, trong những mẫu chuyện vô thưởng vô phạt, những người đem làm quà cho nhau, thường hay phóng đại nhưng đôi lúc cũng là một cơ quan tuyên truyền nhanh nhất ,tuy không chính xác nhưng lại nhanh lẹ và độc đáo …
Được biết chị đang sống với một Ông , với danh nghĩa vợ chồng …Quen nhau trên chuyến tàu xuyên Đại Dương…Khi ở trại tị nạn phải ghép thành một cặp vì ông nọ trước là sĩ quan của chế độ cũ …có vợ và hai con, nhưng trong chuyến ra đi vợ con đã lạc và phải kẹt lại ở quê nhà ….thời gian trước ngày đi ,chị ngồi bán thuốc Tây Chui ở một vỉa hè Sài Gòn, ngày ấy, bao nhiêu lớp người từ các vùng miền , đổ xô về thành phố kiếm sống, không có việc gì làm để có miếng ăn ngày ba bữa, họ thường tụ tập ở những đầu chợ, từng nhóm người …gặp ai đi qua thì hỏi nhỏ ” có gì bán hông ??, những cái chợ di động này thường bị giải tán khi nhác thấy người giữ trật tự từ xa, họ gom tấm giấy nylon và sạp hàng của họ dấu vào một xó xỉnh nào đó, thường là mấy hộp thuốc Tây ,vài cái quần áo cũ ,dăm ba cái dao kéo,muổng nỉa, những thứ gì mà người ta kiếm thấy được ở nhà, họ đem ra và có người mua ngay với giá cả thương lượng, dần dà công việc này thành chuyên nghiệp và biến những đường phố Saigon Hoa lệ ngày nào, thời gian ấy bỗng có nhiều cái chợ chồm hổm.
            Lúc bấy giờ nơi này cũng là để người ta có chỗ để liên lạc thông tin cho nhau những tin tức sốt dẻo nhất về những chuyến vượt biên bằng ghe tàu, môi giới và hẹn nhau giờ giấc…
Họ gồm nhiều thành phần, nhiều giai cấp trong chế độ cũ, họp nhau ở đó kể cho nhau nghe lại những dư âm của một thời dĩ vãng mới đó mà bay xa , bấy giờ chỉ còn cách phải đi xa ,thì may ra mới tìm lại những quá khứ vàng son của những ngày quá vãng …
Trong số đó có chị, một hôm chị đang trải miếng Nylon xuống lề đường chuẩn bị đặt vào đó mấy cái hộp thuốc tây không để chào hàng, thì có người đến rỉ tai là : có chỗ đi mà không cần trả tiền trước, qua bển trả ” nghe một tin quá ngon lành, chị vội vàng quăng vội miếng nylon trải bán ở lề đường quày quả ra đi theo người dẫn đường mà không cần suy nghĩ là phải giã từ ai trước khi lìa xa quê hương đất tổ.
Chị là một người  may mắn nhất trong nhũng người ra đimà không tốn đồng xu cắc bạc nào mà đã đến Trại tị nạn một cách suông sẻ ….
Qua những lời kháo với nhau sau lưng chị, thì chị không hề làm cái công việc: qua bển trả vì qua được rồi là nhờ ơn chúa . chứ nào phải do aichỉ cần mỗi ngày đến nhà thờ đọc mấy câu kinh Kính mừng ,mấy lời tạ ơn là sạch tội .

Mặc dù đã muốn quên đi quá khứ  ,lấy mốc từ lúc đổi  đổi quốc tịch  thành một cái tên MỸ đầy lãng mạn và sắc màu là “ROSE” ,nhưng không mấy người VIET NAM gọi chị bằng cái tên ấy ,tất cả đều gọi chị là bà “TƯ RÔ “…Nghe thật là mạnh mẽ và đượm chút hài hước và châm biếm  ….Ai muốn gọi sao cũng được ,chị vận hớn hở và tự tin , ,hết thời gian học ESL, vào làm cho một ngân hàng , mọi người không ai biết là chị làm cái công việc gì ở đó ….và điều chắc chắn là khi trở về quê nhà : Đương nhiên là sẽ biến thành ,Thư ký , Giám đốc ,  ,hay chủ ngân hàng cũng không chừng ..
Qua cách chưng diện và phong cách của một Việt kiều  mang tên Mỹ …Thời gian trôi nhanh …khi ở Hải ngoại  bắt đầu nổi lên phong trào “Nhà nhà làm thơ, ,người người làm thơ “..Những tờ báo Tuần, ,báo tháng của người VN . rải ở các chợ, mỗi khi  đi chợ tôi thường lấy về đọc cho đỡ buồn, tôi thường thấy những bài thơ tự do, vô thưởng vô phạt …ký tên Phạm Thị Hoa Hồng …
Sau này mới rõ , chính những tác phẩm này là của Chị Tư Rô….THời gian sau phong trào net đa dạng, khi buồn tôi tìm đọc ở các trang mạng khắp nơi .tôi đều thấy tên chị , đôi lúc tôi cũng thầm cảm phục chị ở sự cố gắng và sự cố gắng vượt bực này ,,,có lần chị nói với tôi ,ngày xưa chị chỉ mới học hết lớp Đệ Tứ …mà chị cũng làm được những bài thơ đọc cũng xuôi tai, những bài viết ,ý không có gì độc đáo nhưng cũng được với trình độ của chị .

Sau nhiều lần rủ tôi đến những nơi có tổ chức họp Đồng Hương hay Ra mắt các nhà thơ, tôi thường không đi vì lúc bấy giờ tôi bận đi làm 2 job . nên không có thời gian …sau khi các con tôi đã lớn khôn tôi đã có một chỗ ngồi ổn định …chị thưởng xuyên đến chỗ tôi và tôi coi chị như một người thân trong gia đình ,chị thường tâm sự về chị ,về gia đình ,một cách vô tư và tự tin  về đường tình ái, ,nhưng về sự nghiệp chị vẫn như xưa …Một ngày chủ nhật  đẹp trời , chị nhất định đến chở tôi đi dự buổi ra mắt tập Thơ  của chị …nể tình chị tôi đi với chị đến buổi ra mắt này : cũng có ban nhạc ,, vài  ca sĩ địa phương ,vài ca sĩ mời ở CA. dến , khoảng 50 người tham dự ,có người giới thiệu chương trình ,có phục vụ Ẩm Thực …Sau lời mở đầu …những bài thơ của chị được ngâm bỡi chị, được phổ nhạc và ca sĩ địa phương hát …cuối cùng là dạ vũ …các ca sĩ chuyên nghiệp hát liên tiếp nhiều bài …Tôi thấy chị lăng xăng đến mời hết người này ra Sàn nhảy ,đến rỉ tai kẻ khác …chị vào thay áo hai ba lần , giống hệt các cô dâu trong ngày cưới …Tôi lùng bùng hao tai vì tiếng nhạc quá to và ánh đèn chớp lóe …đến bài thứ 3 ,là một bản Slow mùi ,mới có vài  cặp  sàn  , tất cả toàn các nhân vật đều ngoài sáu bó …
Trong đó có chị và một ông chồng của một bà bạn chị , bà ta cũng đang ngồi cạnh tôi, bà ta cảm thông nỗi khổ của chị lúc bấy giờ nên đành hy sinh cho chồng bà  khai mạc với chị …sau dó cũng có nhiều người ra nhảy, những điệu nhảy chậm chạp, gượng gạo, gợi nhớ những ngày xưa xa lắc, tôi thấy cũng không có gì nổi trội …lòng tôi chùng xuống với những âm thanh chát chúa ..
.    Chị Tư Rô  vẫn vui vẻ, chạy tới chạy lui, rỉ tai người này, nói nhỏ với kẻ nọ ….Bỗng nghe tiếng chị nói khẽ bên tai tôi :”người sắp ra với tôi là một ông trung tá không quân  “…rồi chị và một ông già tuổi ngoài 7 bó, dáng thanh mảnh, hàm răng hơi  nổi cộm ,  .dìu nhau ra sàn với điệu Slow .dìu dặt …nụ cười chị thật hạnh phúc và mãn nguyện … .hai người sàng qua sàng lại trước mặt mọi người một cách vô cùng sảng khoái ..
Tôi nghe một tiếng cạch … khô khốc và mạnh mẽ, một vật gì rơi xuống từ bạn nhảy của chị Tư Rô... ….khi bản nhạc kết thúc. Tôi thấy Ngài Trung tá đang lồm cồm kiếm tìm trên sàn nhãy , vật lạ  vừa mới vuột ra khỏi hàm trên của người .. khi đèn bật sáng, tôi thấy ông trở thành một con nhười khác ….Sau này tôi mới nghiệm ra đó chính là hàm răng giả  …Trong lúc quá hưng phấn  ,đã vượt ra rào cản của răng  miệng  ,và lạc mất giữa chốn đông người ….sau này tôi có kể lại câu chuyện này cho một đứa bạn có con là nha sĩ  ,nó bảo rằng ngày nay có cách làm răng mới , cắm một cột móc sâu vào thịt  …không bao giờ xảy ra tình huống này …Bây giờ mỗi lần gặp lại chị Tư Rô .Tôi bỗng nhớ lại sự việc này và chỉ mỉm cười vu vơ …không biết ngày ấy:  thủ phạm là cái mũi giày ” …Nhưng là của ai??? Đố các bạn nào đọc qua trang này biết được ????[nhớ cho nhận xét ]

Nửa đêm đọc thơ Hàn Mặc Tử

Ngọc Hằng

Trăng nửa canh

Chong đèn đọc thơ thi sĩ

Hàn Mặc Tử

Tôi toát mồ hôi-Lặng ngưng hơi thở

Hóa cùng người bay giữa đêm thanh

Trăng xanh trăng xanh

Người là ai

Tôi kẻ hậu sinh

Xin chia cùng thống khổ

Trói cuộc đời trong giấc mơ điên

Thể phách tinh anh

Vũ trụ không-hình

Lấy cô đơn làm người tri kỷ

Những Bông Hoa Tím

Hồ Ngạc Ngữ

mỗi khi nhớ em
anh đi qua ngôi nhà có những bông hoa tím
buồn bã như nỗi đợi chờ một điều gì không thực
thấp thoáng đâu đó những bóng hình kỷ niệm
một làn hương tóc giấu trong nụ hôn nồng nàn
một bờ vai ngoan tựa vào lồng ngực
cơn gió lạnh tràn vào lưng anh một vòng tay ấm
lấp lánh ánh sao đêm
trong đôi mắt thắp lên  bao nỗi dịu dàng

mỗi khi nhớ em
anh vẫn biết tình yêu là điều có thực
đưa chúng ta về một hành tinh xa lạ
một thiên đàng không có mặt trời
không có nỗi khổ đau ngăn cách
nơi những hồi chuông bất tận thì thầm từ trái tim mình
ngợi ca và vinh danh tình yêu của con người
bằng ngôn ngữ loài hoa

lặng lẽ trong ánh nắng ấm nồng
những bông hoa tím
mang vẻ nhẫn nại của một tình yêu cuối cùng
trước khi chúng ta chia tay mặt đất