Feeds:
Bài viết
Bình luận

Tường Rêu

NAM THI

 

Cuối cùng, ông Minh cũng phải đi đến quyết định cho đập bỏ bức tường Đông rêu phủ để xây lại. Ngay từ khi bàn chuyện đại tu căn nhà cổ, con trai ông cũng đã thưa với ông ý định đó. Cảnh, con trai ông, trình bày: “ Nhà mình xây đã hơn bảy mươi năm rồi, tuy đã sửa chữa nhiều lần, nhưng chỉ làm phần mái và dặm vá tường, nền. Theo con, lần nầy chủ yếu gia cố nền móng và xây tường, vì nhiều chỗ bị sụt lún và nứt bể. Phần nhà trên không thay đổi gì, giữ nguyên hai gian ba chái, bây giờ người ta quý nhà cổ như nhà mình. Nhưng con xin xây lại nhà dưới, đưa bếp lên phía Tây, chỗ nhà bếp hiện nay xây một phòng ngủ mới để có chỗ cho con cháu về thăm dịp giỗ, Tết…”. Nghe con trình bày ông thấy hợp lý nhưng còn đắn đo: “ Ba đồng ý phương án sửa chữa của con đối với nhà trên, nhưng phần nhà dưới để ba nghĩ thêm…Dời bếp là chuyện hệ trọng về phong thủy, hơn nữa không nên tốn kém nhiều…”.

Căn nhà của ông trải qua nhiều đời cha truyền con nối, tính từ thời ông cao đến ông đã bốn đời, trước nữa thì ông không rõ. Nay đã đến lúc bàn giao cho con trai ông tức thế hệ thứ năm. Tre già măng mọc. Vả lại con trai ông đã gần bốn mươi, cũng làm giáo chức như ông, là hiệu trưởng một trường trung học ở một huyện khác trong tỉnh. Lẽ ra ông có thể giao cho con lo liệu mọi việc nhưng ông muốn giữ nguyên trạng căn bếp với bức tường Đông. Căn bếp do cha mẹ ông xây, còn lưu năm tháng chạm trên đầu tường: Juillet, 1937. Tường được xây bằng gạch thẻ, tô bằng loại hồ truyền thống là hỗn hợp vôi tôi trộn với chất nhờn của lá bông bụt quết nhuyễn và mật đường mía. Lớp hồ nay bị bóc từng mảng lớn và nhiều viên gạch bị thối rữa vì ngấm nước mưa trong hàng mấy thập kỷ. Khoảng năm 1967, chiến trận lan tới làng nầy, ông Minh đưa cha mẹ, vợ con lên sống ở quận lỵ, nơi ông đang dạy học. Mái nhà bị sạt một góc vì trúng đạn cối, riêng bức tường Đông của căn bếp thì lỗ chỗ vết đạn tiểu liên. Chính những vết thương ban đầu ấy làm bức tường ngày càng lở lói trầm trọng, đến nay thì không còn cứu vãn được. Khi hồi cư, sửa laị nhà ông Minh đã không dặm vá bức tường một phần vì muốn lưu lại dấu vết chiến tranh nhưng lý do chính là ông không muốn dùng ciment hiện đại. Ông có ý định mua vôi tôi, mật mía làm hồ để bức tường không bị “lai” nhưng lần lữa chưa kịp làm thì không còn tìm đâu ra mật mía vì sau nầy người ta trồng mía dọc hai bờ sông Côn chỉ để bán cây cho nhà máy đường, không còn nấu đường truyền thống nữa. Ông viện ra chuyện phong thủy và tốn kém chỉ để hoãn binh thôi. Thật lòng, ông muốn giữ lại bức tường. Còn nước còn tát.

Trên một mảng tường lở cách mặt đất gần một mét, có mọc một cây bồ đề gần hai mươi năm tuổi rồi, nếu lâu lâu ông không tỉa bớt cành chắc nó đã sum sê lắm. Lúc đầu ông Minh định chặt bỏ nhưng ông nghĩ nó vô hại, chỉ sống ké phần ngoài của tường. Kể từ đó ông cắt tỉa, tạo dáng cho cây như đối với hàng chục cây bonsai đủ loại của ông. Gốc cây bồ đề ngày càng lớn, bộ rễ tua tủa, có cái to bằng ngón chân cái. Cây bồ đề đó có đủ ba yếu tố của nghệ thuật cây kiểng là “cổ, kỳ và Mỹ”. Nó đã được hơn hai mươi năm tuổi nên cũng khá “cổ”. Nó mọc trên tường, từ vết thương chiến tranh thì hẳn là “kỳ” rồi, còn “mỹ” tức cái đẹp là do bàn tay ông chăm sóc, cắt tỉa, tạo dáng.

Dưới chân tường là một hang chuột, có từ ngày gia đình ông hồi cư vào cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Bao nhiêu cố gắng xóa bỏ cái hang chuột nầy đều bất thành vì nó được lũ chuột láu lỉnh đào âm dưới đất chân tường, luồn vào trong nhà, thông ra ngoài bằng nhiều ngách, lấp cửa hang nầy thì hôm sau chúng trổ cửa khác, đổ hàng thùng nước cũng không ăn thua. Cuộc chiến giữa chuột và người kéo dài hàng chục năm, lũ chuột chịu nhiều tổn thất nhưng chúng vẫn bám trụ ở đó qua nhiều thế hệ. Cho đến nay, ông Minh đành chấp nhận sống chung với chúng. Hằng ngày ông vẫn thấy hai con chuột cống ra vào kiếm ăn ngay cả khi ông ngồi uống trà hay nằm tòn teng đọc sách, báo trên võng mắc dưới gốc cây xoài quỳ cạnh nhà. Quen dần, chúng giống như con chó, con mèo ông nuôi trong nhà, như cặp cu đất trưa nào cũng gáy trên đọt xoài, có khi ông còn vất ít cơm thừa cho chúng ngay trước miệng hang.

Từ khi về hưu, trừ những khi mưa dầm, lụt lội hằng ngày ông Minh quanh quẩn dưới bóng cây xoài quỳ, cành che phủ một góc bức tường Đông. Một bộ bàn ghế đá rửa để ông thù tạc với bạn bè. Một cái võng trân đã cũ móc giữa gốc xoài và trụ bê-tông hàng rào B40 để ông nghỉ lưng sau khi tưới vườn rau, cắt tỉa cây kiểng…Ông ngắm bức tường thay đổi theo mùa mưa nắng. Mùa khô hạn, thảm rêu biến mất, để lại những mảng, vệt màu xanh xám đậm nhạt khác nhau, nhìn kỹ sẽ lộ ra những bức tranh thủy mặc. Chỗ nầy là dòng sông chảy, núi xa mờ trên nền trời lớp lớp mây vần vũ. Chỗ kia là biển khơi dậy sóng, chỗ nọ là hình một đạo sỹ với tà áo bay bay… Bắt đầu cuối thu, khi có những trận mưa đầu mùa là thảm rêu hiện ra mịn màng như nhung, bắt đầu từ chân tường lan rộng lên, nối kết nhiều mảng nhỏ, rồi màu xanh biên biếc phủ gần nửa bức tường… Lá cây bồ đề hình trái tim cũng chuyển từ màu vàng nhạt sang xanh ngắt. Những sợi rễ đâm dài xuống tận mặt đất để hút no nước và chất dinh dưỡng dự trữ cho mùa khô hạn năm sau. Bầy chuột đông hơn, chiều tối kéo ra vườn kiếm ăn. Nếu chúng không tách bầy, hoặc bị dịch bệnh hay săn bắt có lẽ dân số đã tăng cả đàn cả đống.

Hồi còn học trung học ở Quy Nhơn, hễ đến nghỉ hè là ông tụ tập lũ trẻ lối xóm để kèm ôn tập bài vở và chơi với nhau đủ trò từ sáng đến chiều. Chỗ cây xoài quỳ bây giờ hồi đó là gốc vú sữa tán rộng sum sê bị bão làm trốc gốc. Đó là sân chơi của ông và lũ trẻ: đánh vụ, đánh đáo, chơi ô, đánh nẻ…Vợ ông sau nầy là một trong những đứa trẻ đó. Khi ông đã ra trường đi dạy mấy năm thì bà cũng vào trường Sư phạm Quy Nhơn, nơi ông từng theo học. Bà ra trường thì lấy ông. Dường như họ chưa từng nói một lời yêu đương vì tình yêu của họ đã có tự bao giờ, có bức tường làm chứng. Họ cưới nhau mà chẳng cần một lời tuyên bố hay đính ước. Bức ảnh đầu tiên của họ sau ngày cưới chụp trước bức tường xanh rêu ấy. Sau nầy, bức ảnh chụp với dâu, rể, cháu nội ngoại cũng lấy bức tường làm phông. Bức ảnh cuối cùng ông chụp chung với vợ trước ngày bà mất sáu tháng mười hai ngày. Bà được giải phẫu ung thư vú hơn sáu năm trước, sống thêm được gần hai năm thì mất. Hai vợ chồng đứng cạnh nhau trước bức tường rêu như hồi mới cưới, nhưng lần nầy có cây bồ đề làm cảnh. Ngay cả bây giờ, mỗi khi nằm trên võng ngắm bức tường rêu ông còn thấy hình ảnh vợ như mới hôm qua: bà chơi ô khi còn bé ở góc kia , bà mặc đồ bộ điểm hoa cà tim tím đi ra sau giếng khi mới về làm dâu …

Vợ mất, các con ở xa, ông sống một mình nhưng không cảm thấy cô đơn. Đối diện với bức tường , ông tìm thấy lại những gì đã trải qua trong gần bảy mươi năm cuộc đời của mình. Những đêm trăng sáng, ông thường ngồi trên ghế đá chơi đàn, tiếng đàn guitar của ông  dội vào bức tường loang loáng ánh trăng, rồi vang vọng mãi tận dòng sông trước nhà. Bức tường dường như lúc nào cũng lắng nghe và thấu hiểu như vợ ông thuở nào.

Ngày bức tường bị hạ, từ sáng sớm ông Minh bỏ đi thăm bạn ở làng bên. Trước khi đi ông dặn Cảnh cố cạy mảng vôi tường có khắc chìm năm tháng cha ông xây dựng nhà, Juillet 1937, để gắn lại khi tô tường mới. Cảnh biết cha mình cố tình lánh mặt để anh tự do xử lý công việc. Tuy anh không biết hết những nỗi niềm sâu kín của cha mình nhưng anh hiểu ông gắn bó với những kỷ niệm về căn nhà nầy mà bức tường rêu là gần gũi với ông nhất. Chính anh, ở tuổi bốn mươi, đã bắt đầu biết tha thiết với căn nhà tổ tiên nên đã chắc chiu mấy năm nay để về giúp cha tu sửa nó. Nhiều lần anh đã nghĩ một ngày nào đó anh sẽ trở về đây và không bao giờ muốn lìa xa nữa…

Chiều tối ông Minh đạp xe về nhà. Căn bếp đã được tháo dỡ. Bức tường Đông đã bị đập quá nửa, gạch vôi ngổn ngang trên mặt đất.

–  Sao không đập hết bức tường, làm không kịp à? Ông Minh hỏi con.

–  Không, ba. Con chừa lại đó… Cảnh đáp. Con sẽ cho thợ dùng máy cắt phần tường cũ cho thẳng , giữ lại khoảng 1,5m, cắt bớt  cho thấp xuống, rồi gia cố phần móng và xây trụ ốp hai bên cho chắc để làm kỷ niệm. Tường mới sẽ xây tụt vô trong 1,2m để làm hành lang, phần tường cũ sẽ làm bức bình phong. Con đã cho cắt cẩn thận phần tường có khắc năm ông nội xây nhà, tuy vậy nó cũng bể ra mấy mảnh nhưng có thể sắp lại như cũ khi gắn phía ngoài bình phong.

–  Thế à …Lòng ông Minh thoáng vui nhưng ông cố giữ không để lộ ra. Ông hỏi tiếp- Còn cây bồ đề?

–  À, cái nầy thì dễ mà. Con bứng nguyên gốc, rễ để ba làm cây bonsai. Thứ nầy dễ sống…

–  Còn lũ chuột? Vừa hỏi con xong, ông Minh tự thấy mình lẩm cẩm nhưng dẫu sao Cảnh cũng đã nghe. Anh cũng thoáng ngạc nhiên nhưng cố lấy giọng bình thường tường thuật lại:

–  Bức tường đổ làm động ổ, hai con chuột cống tung ra chạy, một con bị anh thợ đập chết tại chỗ, còn con kia chạy thoát. Anh giấu việc mấy chú thợ trẻ đã nướng con chuột để nhậu lúc nghỉ trưa.

–  Thế à…

Ông Minh lẩm bẩm: “ Thật tội nghiệp…”, nhưng tiếng ông nhỏ đến nỗi con trai ông đứng bên cạnh cũng không nghe được ông nói gì*

* NAM THI

06-10-2011

Trước khi đi, người thanh niên nhắn với bà lão: “Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến chiều con về qua con lấy!”.Không ai ngờ, vì chờ đợi người thanh niên đến lấy rau, bà lão đứng dầm mưa suốt buổi chiều, bị cảm rồi mất.  Câu chuyện về bà lão bán rau đang gây xôn xao trên mạng xã hội Facebook.

– Ăn rau không chú ơi?

Một giọng khàn khàn, run run làm gã giật mình. Trước mắt gã, một bà cụ già yếu, lưng còng cố ngước lên nhìn gã, bên cạnh là mẹt rau chỉ có vài mớ rau muống xấu mà có lẽ có cho cũng không ai thèm lấy.

– Ăn hộ tôi mớ rau…!

Giọng bà cụ vẫn khẩn khoản. Bà cụ nhìn gã ánh mắt gần như van lơn. Gã cụp mắt, rồi liếc xuống nhìn lại bộ đồ công sở đang khoác trên người, vừa mới buổi sáng sớm. Bần thần một lát rồi gã chợt quay đi, đáp nhanh: Dạ cháu không bà ạ! Gã nhấn ga phóng nhanh như kẻ chạy trốn. Gã chợt cảm thấy có lỗi, nhưng rồi cái cảm giác ấy gã quên rất nhanh. “Mình thương người thì ai thương mình” cái suy nghĩ ích kỷ ấy lại nhen lên trong đầu gã.

– Ăn hộ tôi mớ rau cô ơi! Tiếng bà cụ yếu ớt.

– Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về mà cho lợn!

Tiếng chan chát của một cô gái đáp lại lời bà cụ.

Gã ngoái lại, một cô gái cũng tầm tuổi gã. Cau mày đợi cô gái đi khuất, gã đi đến nói với bà:

– Rau này bà bán bao nhiêu?

– Hai nghìn một mớ. Bà cụ mừng rỡ.

Gã rút tờ mười nghìn đưa cho bà cụ.
– Sao chú mua nhiều thế?

– Con mua cho cả bạn con. Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến chiều con về qua con lấy!

 
Bức ảnh được đăng tải cùng câu chuyện trên Facebook gây xôn xao

Rồi gã cũng nhấn ga lao vút đi như sợ sệt ai nhìn thấy hành động vừa rồi của gã. Nhưng lần này có khác, gã cảm thấy vui vui.

Chiều hôm ấy mưa to, mưa xối xả. Gã đứng trong phòng làm việc ngắm nhìn những hạt mưa lăn qua ô cửa kính và theo đuổi nhưng suy nghĩ mông lung. Gã thích ngắm mưa, gã thích ngắm những tia chớp xé ngang trời, gã thích thả trí tưởng tượng theo những hình thù kỳ quái ấy. Chợt gã nhìn xuống hàng cây đang oằn mình trong gió, gã nghĩ đến những phận người, gã nghĩ đến bà cụ…

– Nghỉ thế đủ rồi đấy!

Giọng người trưởng phòng làm gián đoạn dòng suy tưởng của gã. Gã ngồi xuống, dán mắt vào màn hình máy tính, gã bắt đầu di chuột và quên hẳn bà cụ.

Mấy tuần liền gã không thấy bà cụ, gã cũng không để ý lắm. Gã đang bận với những bản thiết kế chưa hoàn thiện, gã đang cuống cuồng lo công trình của gã chậm tiến độ. Gã quên hẳn bà cụ.

Chiều chủ nhật gã xách xe máy chạy loanh quanh, gã vẫn thường làm như vậy và có lẽ gã cũng thích thế.

Gã ghé qua quán trà đá ven đường, nơi có mấy bà rỗi việc đang buôn chuyện.

Chưa kịp châm điếu thuốc, gã chợt giật mình bởi giọng oang oang của một bà béo:

– Bà bán rau chết rồi.

– Bà cụ hay đi qua đây hả chị? Chị bán nước khẽ hỏi.

– Tội nghiệp bà cụ! một giọng người đàn bà khác.

– Cách đây mấy tuần bà cụ giở chứng cứ ngồi dưới mưa bên mấy mớ rau. Có người thấy thương hỏi mua giúp nhưng nhất quyết không bán, rồi nghe đâu bà cụ bị cảm lạnh.

Nghe đến đây mắt gã chợt nhòa đi, điếu thuốc chợt rơi khỏi môi.

Bên tai gã vẫn ù ù giọng người đàn bà béo kia…

Gã không ngờ……..

Khất thực

Từ Sâm

Trên  con  đường

đốm nón tròn như chùm electron nhiều màu

bắn

từng vệt đường tốc độ

như mũi tên lao về nơi  không  đích

vỉa hè cài bẫy

hố tử thần không đáy

một nhà sư  khất thực 

áo nặng trĩu nắng chiều

đầu tròn  đá cuội

chầm chậm  trôi

như dấu lặng trên bản giao hưởng

đồng tiền không nơi trả giá

sự hào nhoáng không chiêm ngưỡng

mùi đời  vẩn vơ quanh bình bát

sự lặng yên độc diễn

nhà sư  khất thực

chân hôn vào đất

tôi

nương bóng cà sa

khất thực nhà sư 

.

nha trang 12/2010


Trăng trên tháp Bánh Ít

Võ Xuân Phương
I
Em là cô gái Chàm
Dáng đi như đang múa chàm rông
Có ngực và mông nở nang như cô gái múa apsara
Thoắt ẩn, thoắt hiện dưới trăng mười bốn
Trăng buông trùm màu vàng vạn thọ lên khắp đồi, tháp, tu viện Nguyên Thiều
Em bay lên tháp, ta chạy theo em
Em từ đâu ra?
Gò Chàm
Thành Đồ Bàn đổ nát
Em dừng lại bâng khuâng nhìn tháp
Ta ngẩn ngơ, chết xác nhìn em
Sương đêm lạnh
Sương đêm lạnh
Trăng lạnh vàng hoa vạn thọ
Bên kia sông Côn, gió chảy theo dòng
Vài con Vạc bay chậm về lùm tre xơ xác
Con Cú trên tháp kêu độc tiếng
Em không rùng mình nghe tiếng Cú kêu
Sao lại rùng mình khi nhìn cảnh tháp tiêu điều
Có gì đâu một hoang tàn đổ vỡ
Được xây trên bao nỗi lầm than của dân cùng khổ
Hãy gìn giữ cảnh thiên nhiên có sẵn
Núi, rừng, sông, biển, vách đá, cù lao
Những đảo xa xăm, những thác nước trên cao
Gìn giữ nó của Tổ Tiên truyền lại
Như cơ thể em có đâu còn mãi
Chỉ còn hơi thở chàm rông và làn gió apsara
Em trăm năm trước về bằng bóng ma
Ta trăm năm sau nhập hồn cây cỏ
Cung điện Lý, Trần, Lê và bài thơ “Nam quốc”
Chưa ngàn năm, đã cái mất cái còn
Trên đỉnh tháp cổ chon von
Trăng tròn vẫn vàng lạnh
Sương rơi vẫn lành lạnh
Gió thổi vẫn ù ù lạnh
Có gì xót xa hơn!
Em có buồn tủi không?
Đất của muôn dân, đâu phải của riêng mình
Sao đổi lấy một cô gái xinh đẹp!
Em có căm hờn không?
Giang sơn sao để mất!
Dù một tất
Cũng có tội với Tổ Tiên vô cùng
Sao em khóc?
 Sao em quì hôn đất!
Ôi! Em gái Chàm, trăm năm trước về đây
Nhìn em, ta chỉ xúc động một giây
Đã mừng rồi, cứ ngỡ mình vô cảm
Em có nhìn thấy vết trát xi măng ngô nghê thô thiển
Sao lại sửa cổ tích người ơi!
Em thật tuyệt vời,
Ta cũng tuyệt vời
Em khóc than cho cái đã mất
Ta xót đau cho những bông hồng!
Trời mênh mông, đất mênh mông
Bỗng dưng ta thấy một bông thọ vàng!

Tiếng mõ gió

Trần Huiền Ân

Tôi lại trở về xóm Đá như lời tự hứa vào mỗi mùa hè. Cái âm thanh đầu tiên mà tôi bắt gặp khi còn cách xóm không xa, đi qua một giồng đế rộng, là tiếng mõ gió lốc cốc, lốc cốc… đều đều.

Ở đây ruộng nằm dưới chân đồi, quanh co theo chân đồi, chiều rộng chỉ là một đám, chiều dài nhìn trên bản đồ giống như một cây bàn chải, hết chĩa bên này lại chĩa sang bên nọ. Bởi ruộng hẹp và kéo dài nên không gọi là cánh đồng mà gọi là dây ruộng.

Ngày trước, sau khi gieo sạ hoặc đồng thời với lúc cấy mạ người ta dùng những tàu lá chuối khô giăng thành đường rào ba tầng dộc theo bờ ruộng, chân đồi, gọi là dây bẹo để ngăn cản thú rừng vào phá hại hoa màu. Giữa ruộng dựng những con bù nhìn tay chân bằng bẹ chuối tươi trắng sáng, thân hình mặc áo rách, trên đầu đội nón mê. Sau đó, từ khi lúa xanh đến khi lúa chín phải làm chòi, ban đêm có người đến canh giữ. Người ta còn làm những chiếc mõ gió, dùng mõ tre buộc thêm chiếc dùi, gắn vào chong chóng trên ngọn cây tre cao cắm rải rác. Khi trời nổi gió, chong chóng quay, dùi đánh vào mõ vang lên lốc cốc những tràng dài.

Tôi thật sự nghi ngờ tác dụng của mõ gió. Chẳng biết nó có làm cho thú rừng sợ hay không, chứ đối với lũ chim trời hình như là vô hiệu. Khi lúa chín chim dồng dộc về lót ổ từng hàng dài dọc theo ruộng. Và nhiều loại chim nữa bay từng đàn thật đông sà xuống ruộng rồi bay lên. Lúc này đám trẻ con được đưa hết ra ruộng, một số trên chòi cao, một số dọc bờ, gõ mõ, giật bò cạp, la hét “hoại huơ”… hoa tay múa chân, làm đủ trò mà lũ chim trời lì lợm vẫn cứ lì lợm, từng đàn sà xuống, bay lên , ríu rít vui đùa thưởng thức những hạt lúa vừa chín ngọt ngào hương thơm, phớt lờ việc có mặt canh giữ của con người.

Sự bất lực của lũ trẻ được xác nhận qua câu đồng dao:

Đuổi chim thì đuổi hoại huơ

            Chim ăn hết lúa còn xơ đem về

Đối với tôi, tiếng mõ gió trong cái nắng bớt phần gay gắt nhờ những cơn gió nghe thật dịu dàng, cũng lên bổng xuống trầm, khi khoan khi nhặt, khi mạnh khi yếu… như muốn ru ta vào giấc ngủ khi ta cần phải thức. Còn giấc ngủ nào êm đềm hơn những giấc ngủ buổi trưa trên chòi cao? Những giồng đế ngút xa tầm mắt, những khóm rừng xanh đậm màu lá, gió lồng lộng ngược xuôi và tiếng mõ gió từng hồi nối nhau, lớn rồi nhỏ, nhỏ rồi lớn.

Bây giờ lũ chim trời có còn từng đàn đông như lá rụng ngày dông bão, ríu rít reo ca? Người nông dân có còn phải bận tâm với hàng dây bẹo, với những loại mõ sử dụng tay người và sức nước, sức gió? Nơi gốc đa, gò cỏ… lũ trẻ con có còn u quạ, đá bò, đánh trổng, cờ gánh, cờ chém, bàn cờ vẽ bằng nét than trên mặt đá? Khi phải bỏ đi những trò chơi giản dị cũ, các em có được những trò chơi nào mới nhằm giúp trí tuệ được nâng cao, cơ thể thêm rắn rỏi?

Cho nên, tôi không khỏi lấy làm lạ khi trở về xóm Đá. Nơi dây ruộng ấy gốc rạ đã khô, có tiếng mõ gió lốc cốc nhẹ nhàng. Ai đã dựng một cột tre, chỉ có một mà thôi, chắc là để vui chơi chứ không phải để xua đuổi thú rừng. Vậy thì chiếc mõ gió này chỉ đơn thuần là một nhạc cụ.

Vâng, có lẽ vậy, là nhạc cụ của một nghệ sĩ dân gian tạo ra. Dù đuôi chong chóng bằng rơm đã xác xơ, cùi cụt, sức gió không còn mạnh, nhưng lóng tre thêm khô dưới nắng làm cho tiếng mõ càng trầm, càng giòn, không kêu lớn nhưng vang xa và thấm sâu. Vang xa ra khắp giồng đế đồi tranh. Thấm sâu vào lòng tôi, đánh thức dậy những kỉ niệm ấu thời như ngọn đèn con chong đợi được vặn lên bừng sáng…

Tuy Hoà

Lãng mạn phố biển Quy Nhơn

 Nếu như du khách đã quá quen thuộc với các tour du lịch Vũng Tàu, Nha Trang, Bình Thuận thì Quy Nhơn sẽ là điểm đến hấp dẫn cho những người yêu thích biển và sự bình yên.

Nằm ở phía Đông Nam tỉnh Bình Định, một bên là biển Đông vỗ về, 1 bên là núi biếc trùng điệp, thành phố Quy Nhơn mang một vẻ đẹp hoang sơ mà rực rỡ say lòng người.
Quy Nhơn trải dài theo hình cánh cung, ôm lấy bờ biển cát vàng óng ánh như tình nhân. 1 bên là biển rộng sóng vỗ rì rào, 1 bên là các dãy khách sạn, khu resort cao cấp hướng mình đón gió biển. Từ đây, có thể nhìn thấy những hàng dừa xanh đu đưa theo gió, phóng tầm nhìn ra xa 1 chút sẽ thấy một màu xanh đại dương tươi mát hòa với màu trời trong vắt như ngọc.
Sau khi chọn cho mình một chỗ dừng chân bên bờ biển, du khách có thể bắt đầu chuyến du lịch với bãi tắm Hoàng Hậu nên thơ dưới chân đồi Thi Nhân.
Cách trung tâm thành phố Quy Nhơn tầm 2 đến 3 Km, nằm trong khu du lịch Ghành Ráng, bãi tắm Hoàng Hậu đẹp một cách kiêu sa, đài cát.  Bãi tắm Hoàng Hậu hay còn gọi là bãi Trứng là một bãi biển rộng lớn với những viên đá xanh hình tròn, mặt nhẵn như quả trứng với đủ mọi kích cỡ xếp lên nhau trên bãi biển. Phía trước bãi là những tượng đá thiên nhiên chắn sóng, tạo nên 1 vùng nước lặng. Quý khách có thể tắm biển, xây lâu đài cát hoặc nhặt những viên đá lạ mắt về làm quà cho người thận.
Cao cao phía trên bãi tắm Hoàng hậu là đồi thi nhân, nơi đặt mộ nhà thơ Hàn Mặc Tử. Đồi thi nhân tĩnh lặng, đắm mình trong không gian thơ mộng và chan chứa tình. Hàng năm, vào ngày tết nguyên tiêu(ngày 15 tháng 1), đồi thi nhân lại tổ chức lễ hội thơ để vừa tưởng nhớ nhà thơ Hàn Mạc Tử, Yến Lan vừa vinh danh những tài năng thơ phú của tỉnh nhà.
Dưới chân đồi Thi nhân là làng phong Quy Hòa. Ở đây có hàng trăm ngôi nhà của các bệnh nhân phong được xây dựng từ hơn 80 năm trước. Mỗi ngôi nhà có 1 kiến trúc riêng, nhưng tất thảy đều toát lên vẻ mộc mạc, giản dị và yên bình đến nao lòng người. Có thể nói, khu điều trị phong Quy Hòa là một trong những bệnh viện đẹp và độc đáo nhất thế giới.
Trong làng phong Quy Hòa còn có khu vườn tượng độc đáo. Những bức tượng bán thân của các danh y lỗi lạc được đặt cạnh nhau dưới bóng phi lao rì rào vừa toát lên vẻ uyên bác, vừa lại thanh bình quá đỗi.
Đến Quy Nhơn mà không 1 lần đặt chân lên cầu Thị Nại là 1 điều vô cùng thiếu sót. Đây là cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam, nằm trong hệ thống cầu đường Nhơn Hội dài gần 7 Km nối liền thành phố Quy Nhơn với bán đảo Phương Mai.
Người Quy Nhơn mỗi khi muốn ngắm nhìn thành phố sẽ chạy xe lên con đường Quy Nhơn-Sông Cầu. Từ trên cao phóng tầm mắt xuống sẽ thu về toàn cảnh thành phố nhỏ bé yên bình như tranh vẽ, trong đáy mắt là một màu xanh của cây trái mượt mà, xanh của biển rộng, trong vắt màu trời.
Đêm Quy Nhơn không ồn ào, toàn thành phố chìm trong ánh đèn vàng dịu dàng ấm áp. Thành phố về đêm như đóa hoa quỳnh âm thầm nở bung, khoe ra vẻ đẹp kiều diễm cùng hương thơm ngọt ngào. Du khách có thể chọn cho mình 1 quán café bên bờ biển để ngắm nhìn biển đêm điểm xuyến ánh đèn đánh cá ngòai khơi lấp lánh.
Bãi biển cũng là 1 nơi thú vị về đêm với các trò chơi tập thể như đốt lửa trại, kéo co, hay đơn giản chỉ là những bữa tiệc barbecue bên bờ biển, cùng gia đình người thân quay quần nướng lên những món hải sản thơm lừng.
Những người yêu nhau lỡ ghé chân đến Quy Nhơn vào đêm trăng rằm sẽ không bỏ lỡ cơ hội nắm tay nhau bước đi trên bờ cát trắng mịn màng, dưới ánh trăng vàng tận hưởng dư vị ngọt ngào, lãng mạn của tình nhân.
Đã đến Quy Nhơn rồi nhất định phải đi cù lao xanh. Cù Lao Xanh còn gọi là đảo Vân Phi là một hải đảo nằm gần vịnh Xuân Đài, thuộc xã Nhơn Châu cách thành phố Quy Nhơn chừng 13 hải lý về phía Đông Nam.
Du khách có thể đến mũi Hàm Tử để đón thuyền ra Cù Lao Xanh, mất khoảng gần 2h đồng hồ là có thể đặt chân lên cù lao xanh mướt một màu này.
Không biết cái tên “Cù lao xanh” có tự bao giờ, chỉ biết rằng trên bản đồ địa chính quốc gia nó nhỏ hơn một hạt đậu xanh nổi trên mặt biển.
Bên cạnh một Quy Nhơn đô thị đang từng ngày thay da đổi thịt, vẫn luôn còn đó 1 Quy Nhơn dịu dàng đằm thắm, đẹp đến nao lòng người, luôn sẵn sang chào đón bước chân bạn ghé qua.
Khiếu Nguyệt
Nguồn: aFamily

Tình trong mưa lũ

   Lương Viết Khiêm

Nước dâng lên mà lòng ta chìm xuống

Thương những con đường ngụp lặn trong mưa

Ta cùng em lội bùn qua Thành Nội

Dìu cuộc tình bất chợt nhớ vu vơ

.

Tình trong vắt trôi trên vùng nước đục

Vớt tình lên soi bóng tuổi thơ mình

Và cảm nhận một chút gì rất Huế

Lụt bão liên miên Huế vẫn đa tình

.

Gió thổi lạnh tim em thì rực cháy

Môi nồng nàn thở khói trắng mùa thu

Mắt rạng rỡ hâm tình anh ấm lại

Cơ cực Huế mình rồi cũng đi qua

.

Ta chờ đợi ngày mai nắng hén

Được cùng em đi dạo phố mùa Đông

Tình cũng chỉ chập chờn như cánh én

Em một mình đâu làm nổi mùa xuân.

Thuộc xã Cát Hiệp, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km về phía Tây Bắc, Hội Vân là một suối khoáng nóng có giá trị đối với việc điều dưỡng chữa các bệnh như thấp khớp, tim mạch, các bệnh ngoài da. Suối này được phát nguyên từ vùng núi thấp phía Bắc, đến thôn Hội Vân, nước chảy vào hồ nhỏ rộng khoảng 400m², sâu hơn 1m.

Từ đây mạch nước nóng phun lên, nhiệt độ khoảng 70°C – 80°C, vô trùng, chứa khoảng 20 chất khoáng. Đáy hồ là những tảng đá lởm chởm xen kẽ nhau. Từ đó mạch nước nóng phun lên ùng ục, khói toả nghi ngút giống như một chảo nước nóng đang sôi. Hồ nằm lọt giữa một thung lũng cát mênh mông, xung quanh có núi non vây bọc.
Tương truyền đây là suối nước mà thần tiên đã ban cho một công nương trong hoàng tộc Chăm-pa để chữa bệnh., vì vậy mà con suối này còn có tên gọi là suối Tiên. Tại đây có viện điều dưỡng chữa bệnh được xây dựng từ năm 1976, với các phương pháp trị liệu cổ truyền được du khách đánh giá cao như tắm ngâm, tắm hương sen, phun hơi ở độ nóng 38ºC, để chữa bệnh ngoài da, tim mạch, tiêu hóa.
Chếch xa xa về phía Đông Bắc là dãy núi Bà hùng vĩ, vào những ngày lạnh trời, nhất là vào những lúc sớm mai, hơi nước bốc lên tụ lại thành những làn khói mây mờ mờ làm cho cảnh vật trở nên huyền ảo. Khi trời nắng nóng, sương mù tan biến trả lại cho mặt nước một khoảng không trong vắt, có thể nhìn thấu những vòi nước phun lên từ đáy, giống như những con rồng đang giỡn đùa giữa dòng nước. Quanh miệng hồ là những dải cát dài trắng mịn làm thành một bãi phơi nắng lý tưởng.
Là một danh thắng, du khách có thể đến chiêm ngưỡng, thưởng ngoạn cảnh đẹp, nghỉ ngơi giải trí. Hội Vân còn nổi tiếng và hấp dẫn khách đến từ mọi miền nhờ nguồn nước khoáng thiên nhiên giàu khả năng trị liệu đối với nhiều loại bệnh khác nhau.
PV
Nguồn: Du lịch Việt Nam

Tự tình một trái tim

Nguyễn Thị Phụng

TỰ TÌNH MỘT TRÁI TIM

Ô hay, sao vội yêu người!
Mà người…vẫn vậy nói lời gì đâu
Gió buồn trăn trở đêm thâu
Câu thơ rơi gãy nhịp cầu Ô xưa…

 

TIẾNG CƯỜI RƠI LẠI

Tiếng cười rơi lại đâu đây
Em xin nhặt hết đong đầy chiêm bao
Mùa đông giá rét thế nào
Tiếng cười ấm cả trời cao nữa là…

 

NGÁT HƯƠNG
Mùa về mùi rạ mùi rơm
Lúa vàng tròn mẩy hương cơm thơm ngần
Sớm chiều mưa tảo nắng tần
Bao nhiều hạt gạo bấy lần mồ hôi
Mùa hương quang gánh chung đôi
Rộn ràng rơm rạ một đời gió sương…

Đã tìm được thuốc chữa AIDS

Các nhà khoa học Ural (LB Nga) đã có một phát minh quan trọng. Họ đã tìm ra được thuốc chữa đại dịch của thế kỷ: bệnh AIDS.

 

Loại thuốc chữa AIDS này sẽ được kiểm tra và đưa vào sản xuất vào năm 2012
Loại thuốc chữa AIDS sẽ được kiểm tra và đưa vào sản xuất vào năm 2012.

Theo dự kiến, năm 2012 họ sẽ tiến hàng sản xuất quy mô lớn. Hiện nay, loại thuốc được cả loài người chờ đợi này, mang tên “Profital” đang ở giai đoạn cuối cùng là thử nghiệm lâm sàng trên người và tỏ ra vô cùng công hiệu. Các nhà khoa học khiêm tốn cho rằng, thuốc có khả năng giúp con người phòng tránh được nhiễm HIV kéo dài hàng tháng.

Trong quá trình thử nghiệm ban đầu, người ta đã xác định rằng khi dùng thuốc bệnh nhân sẽ tránh được nhiễm virus hàng tháng trời. Để kiểm nghiệm lại những dự đoán của mình, các nhà khoa học đã chọn một nhóm người đã bị nhiễm virus làm suy giảm khả năng miễn dịch và tiến hành điều trị. Dự doán của họ hoàn toàn được khẳng định.

Người ta không phát hiện thấy bất cứ một dấu hiệu nào về sự có mặt của virus sau khi điều trị. Giáo sư Serguei Rodionov, đứng đầu nhóm nghiên cứu tuyên bố: Nhóm của ông đã sẵn sàng triển khai việc sản xuất trên quy mô công nghiệp và bán ra trên thị trường dược phẩm quốc tế.

Chất chủ đạo của thuốc là “Protein anpha” mà các nhà khoa học đã biết từ lâu. Đó là protein do bào thai sản sinh ra. Nhờ tính chất của mình, nó phong toả các phản ứng tự miễn dịch của cơ thể, và tiêu diệt các virus nằm ở bên trong tế bào.

Từ những thành công trong nghiên cứu, các nhà khoa học hy vọng 42 triệu bệnh nhân AIDS trên thế giới sẽ thoát khỏi án tử hình của căn bệnh nan y số 1 của hành tinh, trở lại với cuộc sống bình thường.

Như vậy là, việc sản xuất dược phẩm mới này sẽ được tiến hành trong tháng tới tại Novouralsk. Phòng kiểm nghiệm thuốc đã khởi công xây dựng. Hiện nay, 40 chuyên gia nước ngoài đã đến làm việc tại khu vực giới hạn để triển khai việc lắp ráp thiết bị, tổ chức dây chuyền sản xuất.

Ngoài ra, giáo sư Rodionov cho biết sẽ tuyển lựa hàng chục sinh viên xuất sắc để đào tạo làm việc trong nhà máy. Quỹ tư nhân Skolkovo sẽ cấp học bổng để họ thực tập ở nước ngoài.

Cơ sở sản xuất có diện tích 5.000 mét vuông, áp dụng công nghệ vi mô hiện đại. Mỗi mẻ sản xuất chỉ là 10kg “Profital”. Mỗi gam thuốc sẽ bào chế thành 30.000 liều, nếu tính thành tiền là hơn 8 triệu đôla Mỹ.

 

Theo VTC

Đã tìm được thuốc chữa AIDS