Hiếu Tân dịch
Trong thành phố Vladimir có chàng thương nhân trẻ tuổi tên là Ivan Dmitrich Aksionov. Chàng có hai cửa hiệu và một ngôi nhà. Aksionov là một chàng đẹp trai, có mái tóc quăn tít vàng hoe, lúc nào cũng vui vẻ, và rất thích hát. Hồi trước, khi còn quá trẻ, chàng có thói quen uống rượu, và hễ quá chén là hay gây ồn ào náo loạn; nhưng sau khi lấy vợ chàng đã bỏ rượu, chỉ họa hoằn mới uống.
Vào một ngày hè chàng muốn đi hội chợ Nizni, nhưng khi nói lời tạm biệt vợ con thì vợ chàng bảo: “Anh ơi, đừng đi hôm nay, em vừa mơ thấy một điềm xấu về anh”.
Aksionov cười và bảo: “Em lại sợ anh ăn chơi tốn kém chứ gì”.
Vợ chàng bảo: “Em không biết em sợ cái gì, chỉ biết rằng em có một giấc chiêm bao rất xấu. Em mơ thấy khi anh từ hội chợ trở về, và khi anh bỏ mũ ra thì tóc anh bạc trắng”.
Aksionov cười. “Đó là điềm tốt đấy em ạ”, chàng bảo. “Em cứ chờ đấy nếu anh bán hết hàng, em sẽ mua quà hội chợ về cho em”.
Chàng chào tạm biệt vợ con rồi lên đường.
Đi được nửa đường, chàng gặp một thương nhân quen biết, và hai người cùng vào một quán trọ nghỉ qua đêm. Hai người cùng uống trà, rồi vào ngủ ở hai buồng cạnh nhau.
Aksionov có thói quen dậy sớm, và, muốn đi sớm cho mát, chàng đánh thức xà ích trước rạng đông, bảo anh ta chuẩn bị ngựa xe. Rồi chàng đến gặp chủ quán (sống ở ngôi nhà nhỏ phía sau) trả tiền trọ rồi tiếp tục lên đường.
Khi đi được khoảng hai mươi lăm dặm, chàng dừng lại để cho ngựa ăn. Aksionov nghỉ một lát ở hành lang quán trọ, rồi chàng đi vào trong sảnh, gọi một ấm xamôva, rồi lấy ghi ta ra bắt đầu chơi.
Bỗng có một chiếc xe tam mã chuông reo leng keng chạy thẳng vào, từ trên xe một sĩ quan bước xuống, theo sau là hai người lính. Ông ta bước đến chỗ Aksionov và bắt đầu hỏi chàng, rằng chàng là ai và từ đâu đến. Aksionov trả lời đầy đủ và nói “Mời ông dùng chén trà với tôi”. Nhưng viên sĩ quan tiếp tục chất vấn chàng, rằng “Đêm qua anh ngủ ở đâu? Anh ở một mình, hay có người thương nhân nào cùng đi? Sáng nay anh có trông thấy người thương nhân ấy không? Tại sao anh rời khỏi nhà trọ trước khi trời sáng?”.
Aksionov tự hỏi tại sao người ta lại hỏi anh thế, nhưng chàng vẫn kể lại toàn bộ những gì đã xảy ra, rồi thêm: “Tại sao ông lại thẩm vấn tôi như thể tôi là quân trộm cướp ấy? Tôi đi công việc buôn bán của tôi, và không cần thiết phải căn vặn tôi như thế”
Lúc đó viên sĩ quan gọi hai người lính đến, nói: “Tôi là sĩ quan cảnh sát của huyện này, và tôi thẩm vấn anh bởi vì người lái buôn cùng nghỉ trọ với anh đêm qua, sáng nay người ta thấy anh ta bị cắt đứt cổ họng. Chúng tôi phải khám xét đồ đạc của anh”.
Họ đi vào nhà. Những người lính và viên sĩ quan mở tung hành lý của Aksionov để khám. Bỗng người sĩ quan rút ra một con dao từ một chiếc xắc, kêu lên: “Con dao này của ai?”.
Aksionov nhìn, và khi thấy một con dao đẫm máu được lấy ra từ túi của chàng, thì chàng rụng rời.
“Tại sao trên con dao này có máu?”.
Aksionov cố gắng trả lời, nhưng khó khăn lắm mới thốt ra một lời, mà chỉ lắp bắp: “Tôi không biết, không phải của tôi”. Người sĩ quan cảnh sát nói: “Sáng nay người ta thấy người lái buôn kia nằm trên giường, cổ họng bị cắt. Anh là người duy nhất có thể làm việc này. Ngôi nhà đó khóa cửa bên trong, không có ai vào đó nữa. Đây là con dao vấy máu trong túi của anh, và bản mặt của anh với bộ dạng anh đã tố cáo anh! Hãy kể lại anh đã giết anh ta như thế nào, và lấy cắp bao nhiêu tiền?”.
Alsionov thề rằng chàng không làm việc ấy, rằng chàng không nhìn thấy người lái buôn kia từ lúc hai người uống trà xong, rằng chàng không có tiền nào khác ngoài khoản tám ngàn rúp tiền riêng của chàng, và rằng con dao ấy không phải của chàng. Nhưng giọng chàng nghẹn, mặt chàng tái, người chàng run như người có tội vậy.
Viên sĩ quan cảnh sát thét những người lính trói Aksionov lại và quẳng chàng lên xe. Khi họ trói chân chàng và ném chàng lên xe, Aksionov làm dấu thánh giá và khóc. Chàng bị tước hết tiền nong đồ đạc và bị đưa đến một thị trấn gần nhất và bị giam ở đó. Cuộc điều ra về nhân thân của chàng được tiến hành ở Vladimir. Những thương nhân và các cư dân khác của thành phố nói rằng trước kia chàng có uống rượu và chơi bời, nhưng chàng là một người tốt. Rồi phiên toà được mở, chàng bị kết tội giết người lái buôn từ Riazan đến, và cướp của anh ta hai mươi ngàn rúp.
Vợ chàng tuyệt vọng, và không biết phải tin vào cái gì nữa. Các con chàng đều còn nhỏ, đứa bé nhất chưa rời vú mẹ. Nàng đưa cả mấy đứa con cùng đi, đến thị trấn nơi chồng nàng bị giam giữ. Lúc đầu nàng không được phép gặp chàng, nhưng sau bao nhiên van xin, cuối cùng nàng cũng được các quan cho phép, và được dẫn tới gặp chàng. Khi trông thấy chồng mặc áo tù và bị xiềng xích, nàng ngã lăn ra bất tỉnh hồi lâu. Rồi nàng kéo mấy đứa con vào lòng, ngồi sát gần chàng. Nàng kể cho chàng mọi chuyện ở nhà, và hỏi chuyện xảy ra với chàng như thế nào. Chàng kể lại tất cả, và nàng hỏi: “Bây giờ ta phải làm gì?”.
“Chúng ta phải thỉnh cầu Sa hoàng không để người vô tội phải chết”.
Vợ chàng bảo rằng nàng đã gửi đơn thỉnh nguyện lên Sa hoàng, nhưng không được chấp nhận.
Aksionov không trả lời, trông chàng vô cùng chán nản thất vọng.
Rồi vợ chàng nói: “Việc em mơ thấy tóc anh bạc trắng không phải là không có ý nghĩa gì. Anh còn nhớ không? Lẽ ra hôm ấy anh không nên đi”. Nàng luồn những ngón tay vào mớ tóc chàng, nàng hỏi: “Vanya yêu dấu, anh nói thật với vợ anh đi, không phải là anh đã làm chuyện đó chứ?”.
“Cả đến em nữa, cũng nghi ngờ anh ư?”, Aksionov nói, và úp mặt vào lòng bàn tay, chàng khóc. Lúc đó một người lính đến nói vợ con chàng phải ra, và chàng nói lời vĩnh biệt vợ con chàng.
Khi họ đi rồi, Aksionov nhớ lại những lời đã nói, và khi chàng nhớ rằng chính vợ chàng cũng nghi ngờ chàng, thì chàng tự nhủ: “Dường như chỉ có Thượng đế mới biết sự thật, mình phải kêu cầu Người, mình chỉ trông chờ lòng thương xót duy nhất từ Người nữa mà thôi”.
Và Aksionov không viết thêm một lời thỉnh cầu nào nữa, từ bỏ mọi hy vọng, và chỉ cầu nguyện Chúa.
Aksionov bị kết án phạt đánh bằng roi và đày đến các hầm mỏ. Chàng bị đánh bằng gậy có mấu, và khi các vết thương kín miệng, chàng bị đày đi Siberia cùng với những tội phạm khác.
Hai mươi sáu năm trời Aksionov sống như một tội phạm ở Siberia. Tóc ông bây giờ bạc trắng như tuyết, râu dài, thưa và đốm bạc. Mọi vui vẻ cười đùa biến mất, lưng ông còng xuống, ông đi chậm, nói khẽ, không bao giờ cười, nhưng thường xuyên cầu nguyện.
Trong tù Aksionov học khâu giày, kiếm được một ít tiền, ông dùng tiền đó mua quyển Đời các Thánh. Ông đọc quyển sách này khi còn đủ ánh sáng trong tù, và chủ nhật ông đi nhà thờ, ông đọc kinh và hát thánh ca, vì giọng ông vẫn còn tốt.
Những người giám quản trại tù thích Aksionov vì ông hiền lành ngoan ngoãn dễ bảo, các bạn tù tôn trọng ông, họ gọi ông là “Bố già” là “ông Thánh”. Khi họ muốn thỉnh cầu giám quản điều gì, họ đều nhờ Aksionov làm người phát ngôn, và khi trong đám tù nhân có cãi cọ, họ tìm đến ông nhờ phân xử.
Aksionov không bao giờ nhận được tin nhà, thậm chí ông không biết vợ con ông còn sống hay không.
Một hôm có một đoàn tù nhân mới đến trại. Buổi tối đám tù cũ tụ tập quanh tù mới và hỏi họ đến từ thành phố hay làng xã nào, và họ bị tội gì. Giống như những người tù cũ khác, Aksionov ngồi gần đám tù mới và buồn bã nghe những điều họ nói.
Một trong những tù phạm mới, một người đàn ông khoảng sáu mươi cao to khỏe mạnh, râu hoa râm cạo sát, đang kể cho mọi người nghe tại sao ông ta bị bắt.
“Ồ các bạn ạ”, ông ta nói. “Tôi chỉ lấy một con ngựa đóng vào xe trượt tuyết, thế mà tôi bị bắt và bị kết tội ăn trộm. Tôi nói tôi chỉ lấy để về nhà nhanh hơn, và sau đó đã thả nó ra, ngoài ra, người đánh xe là bạn của tôi, và tôi nói như thế không có gì sai. Nhưng họ bảo: “Không, anh đã ăn trộm nó”. Nhưng tôi đã ăn trộm như thế nào và ở đâu thì họ không nói được. Tôi đã có lần thực sự làm một chuyện sai quấy, và lẽ ra tôi phải đến đây lâu rồi, nhưng lần đó tôi lại không bị phát hiện. Còn bây giờ chẳng làm sao tôi lại phải đến đây. Ừa, nhưng tôi vừa nói dối các bạn đấy, trước đây tôi đã bị bắt đưa đến Siberia, nhưng tôi không ở lâu”.
“Ông từ đâu đến?”, một người hỏi.
“Từ Vladimir. Gia đình tôi ở thành phố ấy. Tên tôi là Makar, người ta thường gọi là Semyonich”.
Aksionov ngẩng đầu lên hỏi: “Semyonich, ông cho tôi biết, ông có biết tin gì về gia đình nhà buôn Aksionov ở Vladimir không? Họ còn sống cả không?”.
“Có biết không à? Tất nhiên tôi biết chứ. Nhà Aksionov giàu, mặc dầu cha của họ đang ở Siberi. Hình như một tội phạm như chúng ta! Còn ông, Bố già, vì sao ông phải đến đây?”.
Aksionov không muốn nói nỗi khổ của mình ra làm gì. Ông chỉ thở dài, và nói: “Vì tội của tôi, tôi đã phải ở tù hai mươi sáu năm nay”.
“Tội gì?”, Makar Semyonich hỏi.
Nhưng Aksionov chỉ nói: “Thôi được rồi, chắc là tôi đáng thế”. Ông không nói gì hơn, những các bạn tù kể cho các tù mới đến tại sao Aksionov phải đến Siberia, một người nào đó đã giết người lái buôn, và đã đặt con dao vào trong đồ đạc của Aksionov, và Aksionov đã bị kết án oan.
Khi Makar Semyonich nghe thấy thế, ông ta nhìn Aksionov, đập tay lên đầu gối mình, và kêu lên. “Ôi thật là kỳ lạ! Kỳ lạ quá đi mất! Nhưng sao trông ông già đến thế, Bố già?”.
Những người khác hỏi ông ta tại sao ông ta lại ngạc nhiên như thế, và ông ta đã gặp Aksionov ở đâu, nhưng Makar Semyonich không trả lời. Ông ta chỉ nói: “Thật kỳ lạ là chúng ta lại gặp nhau ở đây”.
Những lời lẽ này khiến Aksionov nghĩ ngợi liệu người này có biết ai đã giết người lái buôn kia không, nên ông nói: “Hình như, Semyonich, ông đã có nghe về vụ đó, hay có lẽ ông đã gặp tôi trước đây chăng?”.
“Làm sao mà tôi lại không nghe? Thiên hạ đồn rầm cả lên. Nhưng đã lâu lắm rồi, tôi đã quên những gì tôi nghe được”.
“Có lẽ ông có nghe ai là người đã giết người lái buôn ấy?”, Aksionov hỏi.
Makar Semyonich cười đáp: “Đó chắc là cái người mà người ta tìm thấy con dao trong túi xắc! Nếu người khác giấu con dao ở đó, “Chưa bắt được tay thì chưa phải là ăn cắp” như người ta thường nói. Làm sao người ta giấu con dao vào túi của ông được trong khi nó nằm dưới đầu ông? Như thế chắc chắn sẽ làm ông thức dậy”.
Khi Aksionov nghe những lời đó, ông cảm thấy chắc chắn kẻ này đã giết người lái buôn. Ông đứng lên và đi chỗ khác. Suốt đêm đó Aksionov thức chong chong. Ông cảm thấy tột cùng đau khổ, mọi hình ảnh lại hiện lên trong trí ông. Có hình ảnh của vợ ông khi ông tạm biệt nàng để đi hội chợ. Ông thấy như nàng đang có mặt ở đây, khuôn mặt nàng, đôi mắt nàng hiện lên trước ông, ông nghe tiếng nàng nói cười. Rồi ông thấy đàn con, còn nhỏ xíu, như hồi đó, một đứa mặc chiếc áo choàng bé tí, đứa kia còn ôm vú mẹ. Rồi ông nhớ lại bản thân mình, khi ấy còn trẻ trung và vui vẻ. Ông nhớ cái lúc ông ngồi chơi ghi ta trong sảnh của nhà trọ nơi ông bị bắt, lúc ấy sao ông thanh thản vô tư thế. Ông nhìn thấy rõ ràng trong tâm trí, nơi ông bị đánh đòn, những kẻ tra tấn ông, và những người đứng xem xung quanh, những xiềng xích, những tội đồ, và hai mươi sáu năm đời ông trong lao tù, và ông già sụm trước tuổi. Nghĩ về tất cả những điều đó khiến ông đau đớn đến mức chỉ muốn tự tử.
“Và tất cả những cái đó đều do thằng khốn kiếp kia gây ra!”, Aksionov nghĩ. Cơn điên giận Makar Semyonich lớn đến mức ông khao khát trả thù, dù cho bản thân ông có thể tiêu mạng về chuyện đó. Ông cầu nguyện suốt đêm, nhưng không tìm thấy yên lành. Ban ngày ông không đến gần Makar Semyonich, thậm chí không nhìn hắn.
Nửa tháng trời trôi qua như thế. Ban đêm Aksionov không thể chợp mắt, đau đớn cùng cực đến mức không biết làm gì nữa.
Một hôm khi đang bước đi trong nhà giam ông nhận thấy có những hòn đất lăn ra từ trong một ngăn tù nằm. Ông nhìn lại để xem chuyện gì. Bỗng nhiên Makar Semyonov trườn ra từ ngăn tù và ngước nhìn lên Aksionov với bộ mặt sợ hãi. Aksionov định bước qua không nhìn hắn, nhưng Makar nắm tay ông giữ lại, và bảo ông rằng hắn đang đào một lỗ dưới chân tường, đất thì bỏ vào ủng để mỗi ngày đổ ra đường khi tù nhân được dẫn đi lao động.
“Cụ giữ im lặng, cụ nhé, rồi cụ cũng được ra. Nếu cụ tiết lộ, họ sẽ đánh tôi đến chết, nhưng tôi sẽ giết cụ trước”.
Aksionov run lên giận dữ khi nhìn xuống kẻ thù của mình. Ông giật tay ra và nói: “Tôi không muốn trốn, và anh không cần giết tôi, anh đã giết tôi từ lâu rồi. Còn việc anh bảo tôi có làm thế hay không, đã có Chúa chỉ cho tôi”.
Hôm sau khi đoàn tù được dẫn đi lao động, những người lính coi tù nhận thấy có người tù nào đã dốc một ít đất trong ủng ra. Nhà giam bị khám xét và người ta tìm thấy đường hầm. Trại trưởng đến và tra hỏi tất cả tù nhân để tìm ra kẻ đã đào hố. Nhưng tất cả đều chối, không ai biết gì hết. Người nào biết cũng không tố cáo Makar Semyonich, vì biết rằng hắn sẽ bị đánh đòn đến chết. Cuối cùng ông trưởng trại quay sang Aksionov vì biết ông là người trung thực, ông ta nói:
“Anh là người thật thà, hãy nói cho tôi biết: ai đã đào hố này?”.
Makar Semyonich đứng như thể hắn không liên can gì, nhìn Trại trưởng không nhiều bằng liếc nhìn Aksionov. Môi và tay Aksionov run run, một lúc lâu ông không thốt ra lời nào. Ông nghĩ: “Sao ta lại phải che chở cho hắn là kẻ đã tàn hại đời ta? Phải để hắn trả cho những gì ta đã phải chịu. Nhưng nếu ta nói ra, họ có thể đánh hắn đến chết, và cũng có thể ta đã ngờ sai hắn. Và, nói cho cùng, làm thế có gì tốt cho ta?”.
“Nào, anh già”, Trại trưởng nhắc lại, “Nói cho tôi biết sự thật: ai đã đào dưới chân tường này?”.
Aksionov liếc nhìn Makar Semyonich, và nói: “Tôi không thể nói, thưa ông. Không phải ý Chúa là tôi nên nói. Ông có thể làm gì tôi cũng được, tôi đang ở trong tay ông”.
Dù Trại trưởng có cố thế nào, Aksionov vẫn không nói gì thêm, nên việc đó phải cho qua.
Đêm hôm đó, khi Aksionov đang nằm trên giường và mới chỉ bắt đầu lơ mơ, thì có kẻ khẽ khàng ngồi xuống giường ông. Ông nhìn kỹ trong đêm tối và nhận ra Makar.
“Anh muốn gì ở tôi?”, Aksionov hỏi. “Tại sao anh đến đây?”.
Makar Semyonich im lặng. Vì vậy Aksionov ngồi dậy và nói: “Mày muốn gì? Cút ngay, không tao gọi lính gác”.
Makar Semyonich cúi xuống người Aksionov và thì thầm: “Ivan Dmitrich, xin ông tha tội cho tôi”
“Về chuyện gì?”.
“Tôi là kẻ đã giết người lái buôn và giấu con dao vào đồ của ông. Lúc ấy tôi muốn giết cả ông nữa, nhưng tôi nghe có tiếng động bên ngoài, nên đã giấu con dao vào trong xắc của ông rồi chuồn ra cửa sổ”.
Aksionov im lặng, và không biết nói gì. Makar Semyonich tụt xuống khỏi giường và quỳ trên mặt đất. “Ông Ivan Dmitrich, xin ông tha tội cho tôi!”, hắn nói. “Tha tội cho tôi! Vì tình yêu Chúa, xin tha tội cho tôi! Tôi sẽ thú tội đã giết người lái buôn, và ông sẽ được thả, và có thể về nhà”.
“Mày nói thì dễ lắm”, Aksionov nói, “nhưng tao đã chịu tội thay cho mày hai mươi sáu năm trời. Bây giờ tao có thể về đâu? Vợ tao đã chết, các con tao đã quên tao rồi. Tao không có chỗ nào mà về”.
Makar không đứng dậy, mà dập đầu xuống đất. “Ông Ivan Dmitrich, xin tha tội cho tôi”, hắn khóc. “Khi họ đánh tôi bằng gậy có mấu cũng không khó chịu đựng hơn thấy ông thế này, thế mà ông còn thương tôi, mà không nói ra. Vì Chúa, xin tha cho tôi, tôi đau lòng lắm”. Và hắn nức nở.
Khi Aksionov nghe thấy hắn nức nở, ông cũng bắt đầu khóc. “Chúa sẽ tha tội cho anh”, ông nói. “Có thể tôi còn xấu gấp trăm lần anh”. Và với những lời đó, ông thấy lòng mình nhẹ bỗng, và nỗi khao khát nhớ nhà rời khỏi ông. Ông không còn thấy mong muốn ra khỏi tù chút nào nữa, mà chỉ mong chờ giờ phút cuối của mình sớm đến.
Mặc dù Aksionov đã nói như thế, nhưng Makar Semyonich vẫn thú tội của hắn. Nhưng khi lệnh thả ông được mang đến, thì Aksionov đã chết.
Đăng trong Văn xuôi | Thẻ Hiếu Tân, L. N. Tolstoy | Leave a Comment »
Nguyễn Văn Thắng
.
(Cảm tác qua tản văn của chị Nguyên Hạ – Lê Nguyễn)
.
Cơn gió thu về trong lặng lẽ,
Chạm vào khe cửa vẽ heo may,
Lá vàng lạc giữa chân mây,
Chập chờn tóc rối vờn bay, mơ hồ.
.
Cúi đầu ngăn một tiếng ho,
Chạm tay cửa sổ lạnh co thân này
Giọt sương còn đọng chưa phai,
Ấp vào làn gió vương vai thu về.
.
Ngoài trời lá đổ ê chề,
Nhớ quê năm tháng lê thê dặm trường
Bao năm sống kiếp tha hương,
Trái ngọt trái đắng đều vương nợ trần.
.
Bức tranh của Mẹ tảo tần,
Một đời lận đận vì đàn con thơ,
Ban mai đông vắng trơ vơ,
Mẹ nấu xôi nếp, bên bờ hương quê.
.
Ký ức hương ổi tràn về,
Mùi xôi mới nấu gợi nghe ngậm ngùi,
Ngày xưa tay bé cầm xôi,
Chia nhau nắm nhỏ ấm đôi tuổi hồng.
.
Hai bờ tre lá xưa cong,
Nắng vàng rực rỡ tuổi hồng thơ ngây,
Cài hoa mướp trên tóc bay,
Chơi trò đám cưới ngất ngây tuổi vàng.
.
Tháng năm xa lắc lỡ làng,
Còn đâu hình bóng hai hàng tre xanh,
Nay qua biển lớn mong manh,
Gặp nhau vội vã, lòng thành lặng thinh.
.
Chiều thu vàng đổ nghiêng mình,
Chim tìm tổ ấm gọi tình quê hương,
Giọt sương theo gió vấn vương,
Nhẹ tay lau mặt mà thương gió lùa.
.
Nhớ về ngày tháng xa xưa,
Tiếng gà gáy sáng, tiếng mưa giữa trời,
Mâm cỗ nhỏ ngọt lịm môi,
Những đám cưới tiễn, vui cười rộn vang.
.
Những giọt sương buồn miên man,
Như bao ký ức chứa chan trong lòng,
Sương rơi giữa cánh đồng hoang,
Như là nước mắt hoài mong tháng ngày.
.
Giọt sương giờ cũng rơi đầy,
Chạm vào kí ức chốn này xa xôi,
Câu chuyện quê cũ chẳng vơi,
Giọt sương lấp lánh, buồn rơi theo mùa…
v ă n t h ắ n g
Đăng trong Thơ ca | Thẻ Nguyên Hạ - Lê Nguyễn, Nguyễn Văn Thắng, Vọng cố hương | Leave a Comment »
Ái Duy
.
Hiếm căn bếp gia đình hiện nay mà thiếu bếp gas, bếp từ, bếp hồng ngoại, viba, nướng điện hầm chiên áp suất các kiểu chỉ nhằm phục vụ mục đích nấu nướng chế biến thực phẩm. Giờ sắp nhỏ không còn nghe sai đi nhen bếp lửa lên, hoặc chẻ củi đập than nhồi mạt cưa, thậm chí là xách cái kẹp gắp và vỉ sắt đi qua hàng xóm xin chút lửa nếu chẳng may hộp quẹt diêm cũng cạn. Đứa nhỏ 10 tuổi mà biết nhen bếp lửa hừng lên kể như giỏi rồi, đâu phải như bây giờ chỉ cần cắm điện, bấm nút, mở công tắc…
Ngày còn bé, sáng nào dậy sớm được tôi đều thích ra sân ngồi bên bếp lửa củi cháy tí tách ấm áp của bà ngoại. Bà bán bánh canh đầu ngõ nên 4 giờ đã dậy nổi lửa. Do nồi nước to và nặng nên phải đặt trên cái kiềng ba chân để ngoài trời nấu bằng củi. Ngọn lửa hồng rực giữa màn đêm, có gió tàn bay lách tách lên cao như đom đóm. Gặp củi tươi là nghi ngút khói, nhựa cây màu cánh gián chảy ra xèo xèo, lơ đễnh đẩy củi vô lò là bị dây vô tay vừa phỏng vừa ám mùi. Sợ nhất là khi để mùi khói chui vào thức ăn nước uống đang nấu, mùi hôi hăng hắc rất khó chịu. Khi đó, thập niên 60, căn bếp của mẹ tôi ở xóm nghèo nội thành Nha Trang đã được trang bị một cái bếp dầu lửa và vài cái lò than bằng đất nung lớn nhỏ đủ kích cỡ. Nhen bếp than thì cần có dăm bào củi vụn làm mồi, sang hơn thì có ngo chẻ nhỏ xếp ở dưới rồi chất than lên. Chất không khéo thì ngo lẫn vụn củi cháy hết mà than cứ lì trơ ra. Ngo là gì chắc gen Z bây giờ chịu chết, hồi đó ai đi từ Đà Lạt xuống mà cho khúc ngo chừng 1kg thì mới đúng là sành điệu. Lõi cây thông già làm ngo, chẻ nhỏ ra tươm tướp thơm mùi nhựa, vừa bắt lửa vừa cháy đượm đủ cho than bén lửa. Xong còn phải vớ cái quạt cắm mặt quạt lấy quạt để, gặp than nổ văng tung tóe thế nào cũng bị la. Tôi nhớ căn bếp ngày xưa ấy còn có phụ kiện là cái kẹp gắp than và đôi đũa sắt dài, vài cái rá to nhỏ có hình dạng như cái chảo khoét đáy dùng để đặt nồi ở trên rồi mới đưa lên bếp củi cho đỡ bị đen vành, mấy cái quạt sóng lá cùn mòn cháy sém, cái thau mẻ đựng tro cời ra, cái thùng sắt có nắp kín để “nhốt” than đang cháy…
Thời gạo châu củi quế tiếp theo thì than bỗng dưng thành xa xỉ phẩm, nhà nhà đổ đi kiếm củi. Củi cũng được bán phân phối theo tem phiếu nhưng ra cửa hàng chen chúc mua thì toàn nhận phải củi gộc hoặc củi còn tươi xanh, có ráng cũng chỉ dùng được mấy bữa. Khắp các ngả đường là các gánh củi của những tiều phu bất đắc dĩ. Những cánh rừng ven thành phố mới ngày nào là cấm địa, giờ mở toang đón từng đoàn người tay cuốc tay rựa vào buổi sáng và trưa chiều là các gánh củi từ đó tỏa ra. Tới giờ nấu ăn nghe tiếng chẻ củi bôm bốp vang lừng, những căn bếp đầy khói và lọ nghẹ. Bên cạnh củi thì dăm bào và mạt cưa xin hoặc mua rẻ từ các xưởng mộc cũng được ưa chuộng không kém. Dăm bào thì cháy phừng phừng chắc chỉ dùng để nhen lửa. Như lá khô vậy, tôi đã từng khóc ròng vì khói mù mịt và vì bất lực trước một cái bếp nấu chỉ bằng lá dương liễu phơi khô, phải hốt từng nắm nhồi vô cho kịp kẻo lửa tàn rụi. Dùng mạt cưa mới là sáng kiến tuyệt vời, lò được làm bằng tôn kẽm gò lại thành hình ống tròn cao chừng 3 tấc, dưới có đáy và một lỗ đủ đưa thanh củi nhỏ vào làm mồi, trên là 3 chấu để đỡ nồi niêu. Đặt một cái vỏ chai vô chính giữa lò và nhồi thật chặt mạt cưa. Sau đó mới rút cái chai ra và mồi lửa từ phía dưới. Nhồi mạt cưa cũng phải biết ý, chặt quá thì khó cháy, lỏng tay chút thì đang nấu nửa chừng là bị sập lò. Lò mạt cưa tỏa nhiệt cực tốt, nấu nguyên bữa ăn và thêm ấm nước sôi đầy vẫn chưa tàn hết.
Như một vòng tuần hoàn, sau cái thời dùng lò mạt cưa dăm bào thì kinh tế khá dần lên, các căn bếp lại quay về dùng củi, rồi than, rồi dầu lửa. Chỉ tính tới giai đoạn này là căn bếp gia đình nhỏ của tôi cũng đi đủ một vòng, mất không dưới hai mươi năm.
Từ than củi dầu lửa chuyển qua bếp gas, bếp điện có lẽ cũng không ít nhà ngần ngại, sợ không an toàn, sợ tốn kém, sợ nấu nướng không ngon… Cuối cùng ai cũng dùng, vậy là phải để dành cái lò than cũ để nướng một số thứ mới chịu ngon hơn và phòng khi hết gas hoặc cúp điện. Rồi sau thêm nồi chiên không dầu, lò nướng đủ loại đánh bạt hết. Lâu lâu dọn nhà bắt gặp cái lò cũ nhét trong xó, bịch than đen thui mục nát dưới gầm bếp, cái kẹp gắp rỉ sét… mà như thấy lại cả đoạn đời gian khó trôi qua nhanh như phim.
Đăng trong Văn xuôi | Thẻ Ái Duy | Leave a Comment »
Truyện ngắn Hoàng Thanh Hương (Gia Lai)

Tôi là đàn bà xấu. Người ta bảo đàn bà xấu không được nhận quà. Từ bé tôi đã buồn não ruột về chuyện dung nhan thua kém đàn bà trong thiên hạ. Giấc mơ tuổi thơ của tôi chỉ hoài mơ một điều, nhắm mắt lại mở mắt ra từ một con bé còi cọc, đen nhẻm biến thành một tiểu thư múp míp trắng trẻo xinh đẹp. Nhưng mơ chỉ là mơ thôi. Tôi đem theo giấc mơ tuổi thơ vào đời với bao hẫng hụt, thất vọng khi dung nhan thua kém đàn bà trong thiên hạ. Khi đẹp đàn bà có nhiều đặc quyền, đẹp và khéo léo duyên dáng nữa thì có quá nhiều đặc quyền. Tôi thèm muốn mình xinh đẹp đến phát điên. Đời tôi gắn với con số 4 như định mệnh. Tôi mạng Hỏa, chả phải hỏa bình thường mà hỏa trên trời, hỏa sấm sét gì gỉ gì gi đó như mấy ông thầy tử vi phán, chỉ kết luận lại là cao số, rất cao số, khó lấy chồng, tay làm hàm nhai, cả đời chả mấy khi được thong thả, nghĩa là số khổ.
Số 4 đầu tiên là ngày tôi sinh, mẹ kể trời rét căm căm, mẹ vật vã 4 ngày đêm tôi mới rời khỏi bụng bà, ra đời trong tình trạng sắp chết ngạt, bà đỡ đẻ dốc ngược đít lên vỗ mông đen đét tôi mới thở ọ ẹ và khóc ré lên, tiếng khóc nghe kinh khủng đến nỗi mẹ tôi còn sợ đến bây giờ. 4 tháng đầu đời, đêm nào tôi cũng khóc e é như bị ma bóp, bà ngoại làm đủ mẹo kim cổ các dân tộc Mán, Mường, Kinh, Hoa… tôi vẫn khóc e é, chẳng biết ma làm hay người làm nhưng tôi tròn 4 tháng mẹ tôi ngủ đứng, ngủ ngồi ôm tôi ru vỗ 4 tháng. Tôi mập quay vì sữa tốt của mẹ còn bà gầy 4 cân. Bà ngoại kể lúc ấy mẹ tôi mắc chứng hậu sản, suy nhược trầm trọng, da tái, môi thâm, mắt hốc, cả ngày không nói với ai một lời, ăn không hết chén cháo hầm thịt nạc, người như dải khoai môn phơi nắng già. 4 tuổi tôi rơi xuống hố nước gần nhà khi chạy theo bầy anh chị chơi trốn tìm, anh cả vớt tôi lên bế chạy tồng tộc, hét gọi mẹ cứu. Ộc hết nước trong bụng, tôi khóc ẹ ẹ, sau cú chết hụt tôi chậm chạp sống, gầy gò, bủng beo, suy dinh dưỡng, da xanh nhăn nheo như ma đói. 14 tuổi con gái cùng xóm, cùng lớp dậy thì ầm ầm, tôi như cây tre đực. Khi chúng nó dậy thì hoàn thành tôi bắt đầu nhú ngực. 24 tuổi tôi vẫn còm nhom, khô đét như cây tre đực. 24 tuổi anh cùng công ty chạm môi vào môi tôi, đụng tay vào eo tôi, hỏi yêu anh không? Hóa ra tình yêu chả ngọt ngào viên như kẹo nhỏ hay lung linh màu hồng như sách vở kể lể. Tình yêu 4 tháng, môi chạm môi gượng gượng, tay ôm eo hờ hững, anh chuyển công ty to, lấy vợ giàu, bố vợ là sếp to, thăng chức vù vù, quên phắt từng hôn và sờ eo tôi 4 tháng trước. Tôi khóc xong 4 tuần, thề không thèm để ý đến đàn ông trong thiên hạ. Đàn bà xấu không nên mơ mộng nhiều, chỉ tổ rước khổ vào thân, một mình cho sướng thây. Tôi chuyển công tác về một công ty du lịch làm, tôi xấu nhưng tôi chăm làm, không có tôi công việc không trôi nhanh, không gọn gàng, không kết quả cao. Sếp trưởng, sếp phó cong ty thương tôi. Sếp phòng thương tôi nhưng 4 đồng nghiệp đàn ông, đàn bà trong phòng thì ngoài mặt thơn thớt nói cười, trong bụng chỉ mong tôi biến đi đâu càng xa càng tốt. Việc gì tôi cũng chịu đựng được, xấu gái cũng là một tội! Khi tôi vắng mặt, cái tóc, hàm răng, khuôn mặt, mông, vú, dáng, da của tôi được họ đem ra khai thác rôm rả, mô tả cường điệu hết cỡ, đám đồng nghiệp cùng phòng, cùng công ty mới đem vẻ xấu xí hình thức của tôi ra cười cợt, mua vui làm lòng tôi đau đớn. Đàn bà xấu khổ tâm trăm bề. Thiên hạ không mấy khi khen não đàn bà nếp nhăn nhiều/ít, đa số chỉ chăm chắm khen/chê dáng da, mông, ngực xấu/đẹp, hấp dẫn/nhạt nhẽo. Ngày đó có phim “Cô gái xấu xí”, tôi bị xì xào còn xấu hơn cô ta. Tôi về soi gương tự thấy mình không đến nỗi thế. Tôi nung nấu ý định cải tạo nhan sắc bằng thẩm mỹ. Tôi đúc tiền vào heo đất, làm thẻ tiết kiệm trừ thẳng lương hàng tháng. Tôi có đứa em làm bác sĩ thẩm mỹ bên Sài Gòn, nó bảo: Chị đi sửa mấy nét chưa đẹp trên mặt đi, bây giờ xấu người ta chê, đẹp người ta ghen, giỏi người ta ghét, nghèo người khinh… chị đẹp sẽ thấy rất vui. Đàn bà mình sống nơi cõi đời này chỉ cần vui vẻ thôi chị à! Con nhỏ tí tuổi mà cũng nghĩ ngợi gớm ghê. Trong một lần họp phòng bình xét thi đua cuối năm, tôi giơ tay phát biểu: Các vị khi mở miệng nhắc tên tôi hãy nghĩ thử nếu tôi là: vợ, con gái, chị/em gái của các vị xem cảm giác thế nào. Cả đám người cúi mặt im như thóc úng. Từ đận đó, chuyện bình phẩm tôi xấu xí tạm lắng xuống. 34 tuổi tôi lấy bằng tiến sĩ ngành du lịch. 34 tuổi tôi không còn là đàn bà xấu xí khi phù thủy Jonny Hảo chỉnh sửa khuôn mặt tôi hoàn hảo. Tôi soi gương và vô cùng yêu thích khuôn mặt mình. Giờ đây tôi đã là đàn bà đẹp. 44 tháng tập gym cùng 4 huyến luyện viên body tôi từ tre đực biến thành nuột căng, lồi lõm rõ ràng, quy củ. Sau 44 hũ kem dưỡng ẩm kích trắng của các hãng sang xịn, hàng Việt Nam chất lượng cao, da tôi từ mốc meo khô mốc biến thành mịn mướt sáng bóng. Tôi đã đẹp lên kỳ lạ bằng chính tiền và ý thức mạnh mẽ của tôi, bằng cả sức mạnh tiềm thức.
Tôi làm việc ở tầng 4, tôi giúp việc ban giám đốc công ty trong mảng du lịch địa phương và du lịch Châu Á. Tầng 4 đàn ông nhiều hơn đàn bà. Tầng 4 đàn bà, đàn ông cắm cúi vào máy vi tính, điện thoại thông minh, lạch cạch suốt ngày, đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên. Tầng 4 và những khuôn mặt bên ngoài tươi tươi nhưng bên trong chịu không đoán được đang ấp ủ nghĩ ngợi điều chi. Chuông reng mỗi cuối giờ, người về, người ở lại. Cuộc sống cứ trôi đi. Đàn bà đẹp cuộc sống hanh thông hơn, tôi thấy những đàn bà đẹp ở công ty được ưu ái trong phân công nhiệm vụ chuyên môn, được nâng đỡ trong công việc hàng tháng, hàng năm… hàng nhiều năm. Họ càng ngày càng đẹp, càng giỏi giang và tỏa sáng. Tôi ngưỡng mộ họ, thích được làm bạn với họ, thích được làm việc với họ. Được cùng đi, cùng làm, cùng chơi với họ, tôi cảm thấy tự tin và yêu đời. Đi với 4 người thành công, bạn sẽ là người thành công thứ 5. Tôi luôn chúc mừng thành công của họ và phấn đấu để thành công như họ. Những đàn bà khác, đẹp vừa vừa hoặc không đẹp lắm, hoặc xấu xí như tôi ngày trước tùy tâm tính, nỗ lực làm việc mà được trọng đãi hay coi nhẹ hay bị lợi dụng để làm lợi cho ai đó có nhiều mưu tính nơi chốn này. Ở đâu chẳng có những đàn bà, đàn ông nhỏ bụng làm thì ít mà hay dòm ngó, giở trò chọc phá người khác, tranh cướp công người khác. Sếp từng cho thôi việc vài người xấu nết để làm gương rồi lại đâu vào đấy. Ở các công ty cổ phần hay tư nhân mới dám làm mạnh trong quản lý sử dụng người làm chứ ở các cơ quan Nhà nước giỏi/dở gì, tốt/xấu gì cũng khó có quyết định cho nghỉ việc một ai đấy. Mắc mớ đủ đàng. Vài vị sáng cắp cặp đi, chiều cắp cặp về, vài vị ngồi lê la đâm bị thóc, chọc bị gạo, vài vị làm không hết việc. Cuộc sống cứ thế trôi đi, trôi đi. Bè phái, phe cánh nịnh nọt, nâng đỡ, chia chác chút vật chất, quyền tước… Người ta già đi, nhàu nhĩ đi theo những toan tính tham vọng không giới hạn. Có nhiều điều mắt thấy tai nghe, chướng tai gai mắt nhưng có nói ra thẳng thắn, góp ý chân thành thì cũng chẳng giải quyết được là bao vì ở đời người ta quen thích nghe khen ngợi, tung hô hơn là nghe điều ngay thẳng, vả lại còn bao quan hệ trên dưới, trong ngoài, trước sau, còn bao giúp đỡ vật chất, tinh thần ngang dọc, quá khứ, hiện tại, tương lai… thế nên cuộc sống cứ thế trôi đi, trôi đi, trôi đi. Công việc tầm tầm, quan hệ chừng chừng, con người dần dần vô tình, vô tâm, vô cảm và thực dụng đến đáng sợ.
Ngày tôi ôm bọc tiền bay đến Sài Gòn phẫu thuật, Jonny Hảo ôm tôi động viên: Em sẽ biến chị của em thành một mỹ nhân phố biển thơ mộng biển xanh cát trắng nắng vàng. Tôi lắc đầu nguây nguẩy: Chị muốn em biến chị thành một mỹ nhân tổ dân phố 4 là đạt mục tiêu của chị đề ra. Gây đủ tê, mê, cắt, gọt, nâng, niềng, bơm, hút… sau hai tháng tôi bay về, cả công ty ồ lên, kẻ bĩu môi mỉa mai đẹp vậy ai chả đẹp được, kẻ khen ngợi tôi như hoa như bông, quá tuyệt vời, kẻ im im liếc liếc cười cười khó hiểu, kẻ chê tôi nhìn đẹp cứng đơ… Tôi vẫn cứ sáng/chiều làm việc. Tôi được sếp to, sếp nhỏ thương hơn một chút. Tôi không còn phải ngồi một chỗ ôm máy vi tính lóc cóc gõ dự án, kế hoạch, chương trình, dự toán kinh phí cho các món abcd… tôi đã được ôm vi tính tháp tùng sếp đi ngoại giao, ký kết hợp đồng thiết kế dẫn dắt các sự kiện to/nhỏ abcd. Làm ăn kinh doanh, chính trị thời nào đều liên quan đến tiệc tùng. Tôi uống bia, rượu khá dần theo thời gian, công việc tôi làm khá dần mỗi tháng, quý, năm, nhiều năm. Sếp to, sếp nhỏ cần tôi, mến tôi hơn. Đàn bà đẹp thật hanh thông. Mẹ nhắc tôi lấy chồng. 34 tuổi còn trẻ chán. Tôi cắm đầu làm việc để mua nhà, mua xe hơi, xây hồ bơi, mở quán ca phe chill cho bọn tuổi teen – những khách hàng tiêu tiền của phụ huynh không biết tiếc. Tôi đã nhắm trúng đối tượng khách cho loại hình kinh doanh không mới thời con người cô đơn giữa công nghệ, thiết bị số hóa, thời con người sống nhanh, thời con người thích tìm đến những giây phút ảo diệu của công nghệ, của những view mới đẹp – độc – lạ để tự thỏa mãn cảm xúc bản thân, tự chữa lành… Tôi học luật hấp dẫn trên mạng, mua sách của các doanh nhân nổi tiếng thế giới đọc và đọc. Tôi học để yêu bằng tiềm thức, hòa hợp với mọi người bằng tiềm thức, làm việc bằng tiềm thức, kinh doanh bằng tiềm thức, chữa lành bằng tiềm thức… con bạn thân bảo tôi mày bị hâm dở! Bỗng dưng học zoom tối ngày với mấy cái câu lạc bộ doanh nhân ưu tú, doanh nhân lỗi lạc gì đó. Toàn cái bọn bán hàng trên mạng, đa cấp xuyên quốc gia, cẩn thận kẻo bị chúng nó lừa cho một vố bây giờ. Tôi kệ. Tôi ôm máy học zoom khi rảnh rỗi để rèn luyện thân – tâm – trí, cũng có nội dung tôi cần, tôi thích, cũng có nội dung vớ vẩn, vô vị. Thà tin, học mà vui mà giàu còn hơn chả có gì vui và thiếu thốn.
Tầng 4, phòng kinh doanh có anh trưởng phòng hiền lành đẹp trai, bố làm to ngày trước, anh là con một, dân kinh tế xịn, tôi ngưỡng mộ anh lắm. Thấy anh giỏi và tốt tôi làm thân, chơi với anh thấy vui, an tâm, não sáng thêm ra. Anh kể hồi mới ra trường bố anh gửi gắm anh vô một cơ quan của nhà nước, làm hoài làm mãi đến 15 năm, cũng lên đến trưởng phòng, cũng có quy hoạch lên lãnh đạo chủ chốt cơ quan nọ, cơ quan kia nhưng vì vài lý do bé nhỏ anh không đến phần. Hồi đó, có người mách nước anh bán miếng đất rẫy bố cho, chịu khó đi quà cáp chỗ abcd cho nhanh chóng, thuận lợi nhưng anh kiên quyết không làm. Anh bảo chẳng phải tiếc miếng đất mà thấy xấu hổ làm sao đấy với lương tâm, với gia đình, bố anh bảo không nên “mua quan bán chức”, cứ “đúng vai thuộc bài” mà làm việc cho Nhà nước, cho Nhân dân. Vợ anh bảo không lên chức thì có sao, anh vui, anh khỏe và yêu thương mẹ con em là tốt quá đi rồi. Làm quan có số, chả việc gì mua bán đổi chác. Nhục lắm! Anh làm thêm 1 năm, rồi 2 năm rồi nghỉ việc đã từng tâm huyết làm 17 năm nơi ấy, chia tay lưu luyến với vài người thân thiết chân thành, anh về hùn vốn mở trang trại và homstay trên 2 ha đất đồi lộng gió. Nhân duyên trời sắp đặt, anh gặp sếp tổng cổng ty trong 1 hội thảo khu vực về kết nối du lịch biển – rừng, thế là mến mộ cảm phục nhau. Anh nhận lời về làm trưởng phòng kinh doanh cho sếp tổng. 5 năm trôi qua anh đem lại nhiều giá trị cho công ty và luôn là người được sếp tin tưởng giao những nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển của công ty, trong tuyển dụng và bố trí nhân sự. Cuối năm sếp tổng thăng chức cho anh lên Phó tổng giám đốc, cho anh góp cổ phần 10% vào công ty. 10 năm bươn chải kinh doanh giờ anh đã là một tỷ phú triệu đô. Tỷ phú lúc nào cũng giản dị, hiền hiền, trầm lặng. Đến một ngưỡng tuổi đời người đủ cay đắng thăng trầm người ta tử tế và thẳm sâu đến lạ.
Tầng 4, phòng tổ chức – thiết kế tour có một trưởng phòng cao to đẹp trai, tuổi 49, lanh lẹ, mau mồm miệng, gã có 12 nhân viên dưới quyền, 3 phó phòng 1 nữ 2 nam. Phòng gã lúc nào cũng rôm rả vì gã thích nhậu, hát, nhảy múa. Căng tin công ty tuần nào cũng có người phòng gã và khách và bạn bè đến nhậu, hát hò cuối giờ. Cuối năm trước, sếp tổng có ý chuyển gã qua phòng nghiên cứu thị trường làm trưởng phòng, đưa chị Mỹ 51 tuổi làm phó phòng cho gã đã chục năm lên trưởng phòng. Gã không muốn đi qua phòng kia, lý do vì phòng đấy chán, công việc ít màu mè, thu nhập không bằng phòng này, không được đi nước ngoài nhiều bằng phòng này… Thế là gã tìm đủ mọi cách hãm hại chị Mỹ, gã dùng mấy nhân viên nữ không ưa chị lâu nay dựng vài chuyện thị phi, dàn dựng vài cuộc họp đấu tố nhau công việc chung/riêng. Trước sự náo nhiệt của phòng gã, sếp tổng dừng lại việc thay đổi nhân sự. Tôi và 300 người trong công ty, đến cả bác bảo vệ, chị tạp vụ, chị nấu ăn đều ngại gã. Thấy gã là né. Chẳng phải sợ, vì đâu liên quan đến công việc của gã mỗi ngày, mỗi tháng mà khinh nhân cách một kẻ tiểu nhân. Còn nhớ ngày tôi mới về công ty, gã gọi tôi vịt ơi mỗi lần gặp, bây giờ lâu lâu gặp nhau trong các cuộc họp chung gã sán lại gọi tôi baby ơi. Tôi nghe cứ nhờn nhợn trong cổ. Đàn ông miệng lưỡi quá đều chả đáng tin! Gã càng là thứ đàn ông không thể tin trong công ty.
Tầng 4, có em Sam nhân viên đẹp mã, tuổi trẻ tài cao, là lính cưng của gã trưởng phòng tổ chức – thiết kế tour. Các sếp đi tiếp khách 10 bữa thì 6 bữa có em Sam. Em uống bia/rượu là đệ nhất. Uống say say Sam sẵn sàng chiều khách của sếp vài ngón nghề điêu luyện sấp xỉ các kỹ nữ Trung Hoa. Khách của sếp 10 anh thì 6 anh thích mê. Ở công ty, đám chị em gọi nó là “bông hoa này là của chung” “cave tour”. Tôi đi tiếp khách với sếp một vài lần có chung cuộc với Sam. Nó thân thiện lăn xả vào tôi bắt chuyện. Làm chung công ty nhưng hơn 300 con người hơn 15 bộ phận chuyên môn và phục vụ, 5 cơ sở làm việc. Cả năm chả gặp mặt hết nhau đừng nói đến chuyện nhớ nổi tên nhau. Vì chung tầng 4, nên thỉnh thoảng chúng tôi vẫn gặp nhau nơi hành lang, trong nhà vệ sinh nữ, ban công, khu vực pha cà phê nhưng chẳng trao đổi vì tôi vốn ngại giao tiếp với các đồng nghiệp cùng nơi làm để né bớt những rắc rối vụn vặt. Tôi cứ bươn ra ngoài kết giao với đủ mọi thành phần, làm ăn, chơi vui đàn đúm. Tôi cảm thấy an tâm vì đa số họ cho tôi cơ hội công việc, tài chính, niềm thân ái, sự hỗ trợ tử tế. Ngày tôi xấu xí tôi đã nếm đủ mọi chê bai, khinh miệt. Ngày tôi đẹp xinh tôi nếm đủ ghen tị, xoi mói, thị phi. Làm ở đâu tôi cũng bơ đi mà làm, mà sống. Thế rồi mọi chuyện cũng dần êm đẹp. Mình không thay đổi được hoàn cảnh thì mình thay đổi bản thân. Hạnh phúc lớn nhất là làm chính mình, không vì miệng lưỡi thế gian mà đông – tây – nam – bắc ngả nghiêng tơi bời. Tầng 4 nổi tiếng như cồn sau khi em Sam uống thuốc ngủ tự vẫn ngay trong phòng làm việc. Em được anh em trong phòng đưa đi cấp cứu kịp nhưng cái thai 3 tháng trong bụng thì bị hư. Tầng 4 nhao nhao nguyên nhân em Sam tự vẫn, cả gần 100 nguyên nhân tôi nghe đầy tai. Hôm tôi ghé thăm, tôi bảo em trẻ thế sao phải chọn cách khùng thế! Nó cười khằng khặc nói em dọa chơi thôi, em chết thế nào được! Nó bảo em thích chị lắm, cả khi chị xấu gái cũng như bây giờ chị đẹp như tiên. Vì chị không lòng lang dạ sói như đám đàn bà, đàn ông trong công ty này. Mỗi lần họp em cứ nghe cái từ đồng chí, đồng nghiệp là em gai hết cả người chị ạ. Cái thai của em Sam trở thành đề tài của cả mớ mồm miệng của đàn ông, đàn bà cơ quan. Người đồn của lão A, kẻ nói của lão B, mụ nói của thằng X… một lần sẩy bằng bẩy lần đẻ, em Sam nhìn hao người, gầy gò, xanh rớt. Nó bảo em vừa dọa vài thằng vụ cái thai, bắt tụi nó phải chịu trách nhiệm chị ạ. Lão C vừa chuyển vào tài khoản em vài ngàn đô để em dưỡng thể sau sự cố. Tôi cau mày bảo em vừa vừa thôi. Của ai thì bắt người đó chịu, dọa tập thể làm gì người ta đánh giá em ra sao? Nó cười kha kha kha chê tôi cổ lỗ sĩ, quê mùa, ngốc ngếch, nó bảo tôi bây giờ chị đã xinh đẹp rồi hãy sống tỉnh táo lên, thực tế lên, cứ cắm đầu lụi cụi làm thật thà như chị chúng nó vừa cướp công, vừa cười chê chị ngu đấy. Tôi gõ đầu nó bảo em vừa vừa thôi, chị ngu ngốc cũng được chứ sống kiểu của em chị hãi quá. Nó lè lưỡi nguýt tôi thì thầm: Em vừa lừa lão kia 1 cái dự án gần 3 tỷ nhé, vợ lão ốm yếu bèo nhèo nên mê em lắm, em thả thính vài lần là cắn câu. Em nghe đồn cái dự án này lão định giao cho một mụ bạn cũ cùng lớp cao học giỏi giang lắm làm rồi đấy nhưng khi em có thông tin, em xông vô hớt luôn. Con mụ kia mà biết lý do mất mối chắc bà ấy tạt nước mắm vào mặt em quá chị ơi! Khiếp cái mồm em ăn nói chị nghe hãi lắm. Nó ôm tôi cười rắc rắc. Nhìn kỹ cái mặt nhọn hoắt của nó, đôi mắt hi hí vằn đỏ sợi ngang dọc mỗi khi nói liếc đảo như bi, bàn tay thô, ngón ngắn gân gồ ghề tôi mới nhớ câu bác bảo vệ nhắc riêng tôi khi thấy tôi dạo này hay đi cùng Sam, bác bảo: Con gái, qua lại với con đó ít thôi, bác nhìn mặt nó gian lắm, không thể tin cậy con nhé. Chớ gần con nhé! Người già có nhiều kinh nghiệm sống. Lời người già cũng ít khi sai. Tôi chẳng có thời gian để kịp kiểm định Sam tốt/xấu vì 4 tháng sau đấy nó nhảy từ tầng 4 xuống đất chết ngay tức khắc. Người đồn nó bị xô ngã, người đồn nó tự nhảy. Thời gian cứ trôi đi, 1 năm, 4 năm chẳng ai có thời gian để nhớ về nó. Chỉ có bố mẹ nó mỗi năm vào đúng ngày nó chết, đến ngay chỗ nó rơi xuống, ngồi khóc nấc không thành tiếng và miệng niệm tụng kinh chú đại bi.
Tầng 4 nổi tiếng như cồn vụ một nhân viên phòng công nghệ và marketing xin giám đốc cho nghỉ việc ngang chừng, thằng bé tuổi 29, kỹ sư IT, làm công ty 6 năm nay, lương 10 triệu. Tính nó hiền khô, nhậu 2 lon say cười một mình một góc, nghiện thuốc, mắt cận lòi, nhìn mắt nó lúc nào cũng đờ đẫn. Đùng cái đầu tháng 4 nó làm cái đơn dài 12 trang đánh máy kể mọi sự tình căn nguyên vì sao nó xin nghỉ, nó tố ra bao nhiêu chuyện gã trưởng phòng ức hiếp nó, bắt nó làm tùm lum chuyện ngoài chuyên môn, bắt nó hầu hạ tiệc tùng ăn chơi, ghê nhất là bắt nó làm giấy tờ quyết toán khống mua các thiết bị của phòng để lấy tiền đấy chi cho gã tiếp khách gần xa, đưa vợ con, em út bồ bịch đi chơi trong và ngoài nước, tố luôn cả chuyện gã cùng các em Sam, em D, em M, em T quan hệ bừa bãi tại phòng làm việc của gã, nhà vệ sinh công ty, trong xe hơi em Sam, em T… có cả clip nó quay làm chứng cứ dài 2 phút. Và bao chuyện xấu xí của một thằng vô lại đội lốt trí thức, ăn mặc bảnh bao, vị trí sếp nhỡ trong một công ty kinh doanh danh tiếng…
Tầng 4, một em chồng tai nạn xe hơi qua đời, con bé 28 tuổi, con đầu lòng 4 tuổi, nhân viên đóng gói hàng và giao hàng như nó lương thấp, việc nhiều, bị sai vặt chóng mặt. Tính nó hiền lành, nhẫn nhịn, ai nói gì cũng im. Nó hay cầm cà phê qua cho tôi mỗi khi thấy tôi 3 tiếng không ra khỏi phòng làm việc. Tôi huy động mấy anh chị em có lòng trong công ty giúp đỡ nó một khoản để nó lo tang cho chồng. Ai bảo ở hiền gặp lành, tôi thấy nó ăn ở hiền lành lắm mà đời như lá rách trong bão. Bây giờ mẹ góa con côi bơ vơ. Mồ chồng nó chưa xanh cỏ, mấy gã đàn ông công ty đã trêu chọc, ỡm ờ, bóng gió tán tỉnh. Nó bảo bọn đàn ông nghĩ gì chị nhỉ? Chúng cứ nghĩ đàn bà góa bụa như em cần chúng lắm, em đâu phải thứ dễ dãi thế. Càng không phải là thứ ăn tạp. Em hẩm hiu nhưng em không ôi thiu chị ạ. Nói rồi nó lu loa lên khóc. Tôi ôm nó vỗ về khóc đi, khóc cho đã đi. Nước mắt làm vơi nỗi sầu phần nào. Ít thôi nhưng có vơi còn hơn sầu đầy dâng tâm can. Có những việc, những chuyện cứ để thiên hạ nói, thiên hạ dèm pha, thiên hạ phán xét, thiên hạ bày trò… em đừng cần để tai, để mắt, để tâm đến, hãy sống im lặng và tỉnh thức, hãy hướng lòng mình đi vào chính niệm em sẽ bình an, con em bây giờ mới là mục tiêu để em sống cho ra hồn em ạ! Tôi nhớ lại ngày tôi xấu xí, nhem nhuốc, ngày tôi bị bóc lột sức lao động vì tin vào những lời hứa hẹn của người ta là chân thành, ngày tôi bị lừa tiền vì tin bạn, ngày tôi bị lừa tình vì tin vào tình yêu, ngày tôi bị phản bội vì tin vào tình thầy trò… Bây giờ tôi đẹp nhờ thẩm mĩ, thiên hạ khen/chê; người yêu tôi khen/chê; hàng xóm khen/chê… chỉ có cha mẹ tôi bảo: Con gái mẹ đẹp lên từng ngày! Thiên hạ ai cũng cần bạn, giúp bạn có điều kiện riêng cha mẹ bạn thì cần, giúp bạn, che chở bạn vô điều kiện.
Tầng 4 còn bao chuyện, có điều tôi cũng bận việc bù đầu, chẳng có thời gian xâu chuỗi tổng hợp và kể lại cho đủ đầy hầu độc giả. Mẹ tôi bảo con đập vỡ chén cơm của người khác chưa chắc con đã no; con ném bùn vào người khác, tay con chắc chắn bẩn trước; thổi tắt đèn của người khác, con đường phía trước của con chưa chắc đã sáng; chặn đường sống của người khác con chắc chắn sẽ không thể đi được xa. Thế nên làm điều thiện, phúc chưa tới nhưng họa đã tránh xa; làm điều ác họa chưa đến nhưng phúc đã tự rời xa. Tâm rộng là đường, tâm thiện là phúc. Tâm chứa thiện niệm trời đất sẽ che chở. Mẹ tôi nhắc đi nhắc lại với lũ chị em nhà tôi: Làm người nhất định phải nhớ một đạo lý chỉ khi cùng nhau xây dựng mọi thứ mới tốt đẹp còn nếu cùng nhau phá vỡ thì tất cả mọi thứ sẽ sụp đổ… Ước gì ở đời này ai ai cũng đối xử với nhau tử tế cho cuộc sống an hòa. Ước gì ai ai cũng chỉ cần làm tốt việc của mình, đừng can dự việc của khác và càng đừng can dự vào việc của trời đất để cho mọi thứ được an lành./.
Gia Lai, tháng 8/2024
H.T.H
Đăng trong Văn xuôi | Thẻ Hoàng Thanh Hương | 1 Comment »
Nguyên Hạ Lê Nguyễn

(Viết tặng Minh Du )
- Những ngày đầu tiên đặt chân đến xứ Mỹ với những mộng tưởng ngút trời và với một mắt nhìn ngơ ngác, những mộng đẹp về một đất nước thiên đàng , cái gì cũng có, cái gì cũng sẵn đang chờ đón mọi người phải chăng đó chỉ là ảo tưởng mà đàng sau là những niềm đau, những cam chịu đắng đót.
Gia đình Kim gồm sáu người ra đi trong niềm hoan hỉ, trong sự tiễn đưa rất thâm tình của bà con bạn bè.
Đi Mỹ mà được đi bằng máy bay, đi cả nhà, lại được đưa tiễn chí tình, tiệc tùng đình đám có đủ….hỏi còn may mắn nào hơn.
Sau hơn bảy năm gian khổ trong các trại tù cải tạo ở miền Nam, không phải ra hưởng cái lạnh buốt xương, lại không nếm mùi tử khí qua các trại tù cải tạo đầy hiểm ác của xứ bắc, Ngữ chỉ ở loanh quanh các trại tù của vùng miền Trung rồi được thả về, tuy cũng gian khổ, cũng khổ nhọc triền miên hơn bảy năm nhưng Ngữ được vợ nhà lo bới xén theo định kỳ nên cũng tạm no đủ trong thời gian lao lý.
Ngày trở về, Ngữ cũng được đón tiếp chu đáo và cả nhà dắt díu nhau về Sai gòn …bương ba qua nhiều vùng gian khổ, kiếm ăn từng bữa qua những hè phố của “Hòn Ngọc Viễn Đông”, từ những việc rất nhỏ như bán chợ trời, sửa xe đạp, bán cà rem, may gia công, chạy xe ôm…
Và chức vụ cuối cùng khi từ giã đất nước ra đi là nghề “May hàng bỏ chợ”, những công việc kiếm sống chụp giựt trên đất Saigon của thời gian sau ngày trở về cũng đã cho vợ chồng Ngữ và Kim biết bao kỷ niệm, biết bao đắng cay cũng chỉ để kiếm sống qua ngày và no đủ cho đám con bốn đứa đủ ăn đủ mặc cũng là may mắn lắm rồi đâu dám mơ chi chuyện xa vời, mặc dù đôi lúc bạn bè cũng có rủ rê “tìm đường ra đi”, nghĩ đi nghĩ lại với số vốn ít ỏi của hai vợ chồng nếu bòn hết lại cũng chỉ đủ để đóng cho Ngữ ra đi…Kim sẽ làm gì với đàn con đang tuổi ăn tuổi lớn…
Thời gian từ năm 90 có tin đồn là những người đi cải tạo về được chính phủ Mỹ cho đi định cư theo diện Ho. với những “Lệnh Tha” từ ba năm trở lên. Hàng ngày chạy chợ về Ngữ hay ghé ngang chỗ phỏng vấn gần nhà thờ Đức bà nghe ngóng, săn tin từ những người trong diện, rỗi việc ra đó ngóng tin, chuyền cho nhau những tin nóng sốt, những kinh nghiệm biết được và có khi là những tin phóng đại tô màu.
Rồi ngày ra đi cũng tới, thu gom hết vốn liếng của cả nhà cũng chỉ đủ tiêu xài trong thời gian chờ đợi ngày lên máy bay và may sắm cho mọi thành viên trong gia đình mấy bộ quần áo tươm tất và còn lại mấy trăm đô dằn túi khi rời đất mẹ thân yêu.
Sau khi liên lạc được với một người bạn đi trước chọn dùm cho gia đình Ngữ một người “Bảo trợ”, Lâm bảo rằng đi “Mồ côi” thì được nhiều quyền lợi hơn, hội sẽ lo cho mình từ A-Z…
Bạn bảo sao thì nghe vậy, miễn là cứ lo mọi thủ tục ở Việt Nam: Phỏng vấn, chích ngừa, khám sức khỏe, lấy vé và lên máy bay…Xuống máy bay là có người đón đưa và chu toàn mọi việc.
Trong niềm hân hoan trước một thiên đường đang trải thảm hoa đón chào , nào là Ngữ sẽ được phục hồi lại chức vụ cũ, sẽ truy lãnh tất cả mọi tháng lương mà thời gian qua bị bế tắc nên chưa kịp lãnh, v.v…và v…v…Mơ mộng rồi cũng chán, vợ chồng Ngữ nhủ thầm : “Cứ tới đâu hay tới đó, thoát cải cảnh chạy ăn từng bữa là phúc đức lắm rồi…được sống trong một xã hội văn minh nhất thế giới là may mắn lắm rồi còn mơ mộng gì hơn nữa”.
Sau bao nhiêu thủ tục của các cửa khẩu, mệt nhoài vì chưa quen, nhưng cuối cùng gia đình Ngữ cũng được Lâm và một ông đại diện cho Hội USCC. đến đón gia đình Ngữ trên một chiếc xe Van kỹ, đưa về một căn hộ thuộc một chung cư rẻ tiền nhất trong thành phố, thuộc một tiểu bang của Lâm sinh sống, nhưng thuộc hướng Nam của thành phố, còn gia đình Lâm thì ở về hướng Bắc, cách chỗ Ngữ đến một giờ lái xe.
Về đến căn hộ hai phòng mà hội đã mướn sẵn với vài tấm nệm cũ, một ghế sô pha cũng cũ do các chủ trước bỏ lại, một vài vật dụng sơ sài, Lâm ra về và hẹn ngày mai sau giờ làm việc sẽ trở lại đưa cả nhà mua sắm thêm đồ đạc, có sẵn mì gói và một bao gạo để dùng cho buổi tối hôm ấy.
Người đàn ông đại diện của hội cũng rất ít lời, chỉ trả lời một số câu hỏi thật ngắn gọn, tuy rằng ông ta cũng là người Việt Nam.
Vợ chồng Ngữ cũng cố thu vén chỗ cho các con đi ngủ và lót bụng cho mỗi người bằng một gói mì ăn liền của Mỹ…hương vị khó nhá hơn những gói mì tôm của Việt Nam.
_ Ba ơi, sao mì của Mỹ không giống mì bên mình?
_Ba ơi, sao có ít người đi đón mình quá,. sao hổng ai mời mình đi ăn nhà hàng mà phải ăn mì gói????
_Ba ơi, sao chỗ ngủ không có mùng giăng như ở nhà mình?
_Ba ơi, sao nói ở Mỹ cái gì cũng tốt mà sao chỗ này không tốt dzậy Ba???
Giải đáp những thắc mắc của đám nhỏ xong và cũng là tự giải đáp cho mình xong cả nhà lăn ra ngủ vì quá mỏi mệt qua một chặng đường dài chưa quen.
***
Sau ba tháng làm quen với nếp sống mới với những thủ tục về di trú và đi học tiếng Anh theo sự sắp xếp của hội, các con Ngữ cũng đã vào trường học gần nơi cư trú, Kim thì đi làm việc tại hảng Rau cải, còn Ngữ thì chưa có việc làm nên đang học lái xe, mọi việc cũng tạm ổn cho một gia đình mới định cư, tuy không sang trọng như lời đồn thổi nhưng cũng tạm sống qua ngày với những món trợ cấp vừa phải nhưng có lúc cũng rất buồn vì những khác biệt về ngôn ngữ, nhất là những điều gì không biết phải hỏi cô “thư ký”, người trực tiếp giúp đỡ gia đình Ngữ và đưa đón lúc làm giấy tờ…
Đôi lúc Ngữ muốn tát cho cô ta mấy cái, cái thái độ của người đi trước, cái thái độ của kẻ học làm sang, câu nói nào của cô ta cũng “Có gang có thép” mổi lần gặp cô ta về Ngữ kể cho vợ nghe, Kim vẫn thường cười và bảo chồng:
_Miệng nhà sang có gang có thép, hơi đâu mà giận người dưng.
_Chỉ tức là nhiệm vụ của nó làm cho mình, nó lại khinh khỉnh với mình như mình đi ăn xin nó…
Lắm khi những bực bội trong chỗ làm Kim đem về kể cho chồng nghe rồi cùng nhau đi đến một kết luận:
_Người mình hay vậy, hơi đâu mà giận người dưng cho mệt, thôi bỏ đi.
***
Đúng sáu tháng thì Ngữ biết lái xe và hai vợ chồng mua được chiếc xe cũ để đi đó đây, Ngữ lại xin được một chân quét dọn trong một trường Tiểu học, công việc làm cũng giống như của Lâm, người bạn đã đi đón gia đình Ngữ và bây giờ đã chỉ vẽ cho Ngữ cách xin vào làm.
Công việc của Ngữ cũng chỉ bắt đầu sau bốn giờ chiều, sau khi các học sinh ra về, những người được phân công vào dọn bàn ghế, hút bụi, gom các bao rác lại và lau dọn dãy nhà vệ sinh, sau đó dọn các phòng của thầy cô giáo, và dãy hành lang…Đại khái là “Clean up”, sạch sẽ khắp mọi nơi được phân công.
Ngày còn chưa sang Mỹ, nghe các bạn đi trước biên thư về bảo là đi làm trường học…Ngữ và các bạn bên nhà cứ nghĩ là chắc là dạy học hay làm thư ký gì đây, khi sang đây và sát vào thực tế mới hay “làm trường học” là thế đấy.
_Ngày mai vợ chồng Lâm mời mừng Tân Gia nhà mới, chắc là mình phải đi
_Không biết mình phải mua gì cho xứng để đền ơn anh Lâm đã giúp mình xin việc.
_ Lâu nay ở nhà mướn không thấy mời đến nhà , hôm nay về nhà mới chắc tiệc lớn lắm mới mời mình đây.
_Mà lúc trước có mời anh cũng chưa rành đường sao dám chạy, bây giờ sẵn lên thăm cho biết nhà và vợ con ảnh để cám ơn luôn
Sau khi dò bản đồ kỹ càng và chuẩn bị quà cáp mừng nhà mới cho bạn, vợ chồng Ngữ đến trễ vào buổi chiều vì chờ vợ đi làm về và tránh cảnh đông đúc buổi sáng đông đúc những người không quen nên Ngữ cũng ngại.
Vợ chồng Lâm đon đả đón Ngữ tận sân nhà và dẫn đi vòng vo trên những lối vòng sau nhà, lei lên cầu thang trước ngôi nhà mới vào phòng khách trên lầu, với những tiện nghi mới tinh, mỗi món vợ Lâm đều cho biết giá cả.
_ Bộ sô pha này sáu ngàn, bộ bàn ăn cho khách này năm ngàn, mấy cái ghế chỗ bàn rượu hai ngàn…
_Còn những vật khác cũng toàn hàng xịn và đắt tiền chúng tôi mới mua….
Dắt vợ chồng Ngữ vào phòng ngủ, chỉ giường tủ, mền gối, thứ nào cũng trương những giá biểu điếc tai, thậm chí còn mở cả những tủ quần áo đã xếp sẵn gọn ghẽ và đầy ắp cho hai bạn coi…mà có lẽ từ sáng đến giờ hai vợ chồng đã làm công việc này với những người khác.
Có lẽ vì cũng đã quá mỏi mệt nên vợ Lâm rủ Kim vào buồng là công việc cuối cùng là mở hộp nữ trang cho Kim coi, Chị lấy ra một chiếc nhẫn sáng lóng lánh ra so với chiếc nhẫn đang đeo bảo là hai chiếc dùng thay đổi kiểu cho nhau
_Bà thấy chiếc nào đẹp? chấm dùm tôi coi
_ Em nào có biết gì về hột xoàng đâu chị, cái nào em thấy cũng đẹp cả
_Thôi mình ra ngoài ăn trái cây, chờ mấy ông ấy vào rồi ăn luôn, ổng còn chờ một người bạn nữa và mấy đứa nhỏ đi làm Nail về.
Lần đầu tiên đến Mỹ , đây là lần đầu tiên Kim được mời dự tiệc trong một căn nhà mới nguyện lại trang trí lộng lẫy toàn đồ mới, sang trọng…Kim nhủ thầm không biết anh chị Lâm làm gì mà có nhiều tiền quá, Chồng cũng chỉ làm trường học như Ngữ, vợ cũng đi làm hảng nước chấm, vài ba đứa con lớn đi làm Nail, cũng chỉ qua trước mình có vài năm…Sao họ mau giàu quá…
_Thôi mời cả nhà và các bạn vào dự tiệc…
Cũng có chụp hình quay phim, chúc mừng, rồi trao quà …mọi người quay quần ăn uống và trên chiếc Tivi lớn giữa nhà đang chiếu cảnh bạn bè đang chúc tụng nhau của buổi sáng nay.
Gần tan tiệc bỗng vợ Lâm hớt hải chạy ra gọi Kim vào phòng ngủ của vợ chồng chị, nơi mà chiều nay chị đã lấy hộp nữ trang ra khoe với Kim….
-Từ lúc tôi đưa cho chị coi tới giờ không có ai vào phòng cả, tự nhiên sao cái hộp không cánh mà bay.
_Chị,…chị nghi tui?? ?
Kim như bị á khẩu vì giận và tức, khi vợ Lâm đem ra khoe các món nữ trang Kim chỉ nhìn vì lịch sự mà thôi, tuyệt nhiên không hề sờ vào món nào cả,sau đó cả hai ra ngoài và Kim không vào phòng này lần nào nữa, sao lại có chuyện này.
Sau đó vợ Lâm cứ càm ràm phân bua mãi và Kim phải thề thốt và đưa túi xách cho chị xét…Lòng Kim buồn tủi và đau đớn tột cùng…Bỗng Ngữ vào trong đi vệ sinh, vợ Lâm chạy theo phân bua mọi chuyện.
Ngữ vào trước mặt vợ và mặt đanh lại trong hơi men anh phán với vợ mấy câu phũ phàng:
_ Bà có lỡ lấy thì trả lại cho chị ấy ngay, ở đây chỉ có tui và chị ấy thôi, đừng để tôi phải xấu hổ.
_ Ông…ông nói tui vậy sao??? Trời ơi là trời.
Kim như rơi từ trên không xuống tận cùng của một hố thẳm, cảm giác hụt hẩng, đau đớn tột cùng, Kim bỏ chạy ra khỏi nhà Lâm như một người điên dại và không còn biết gì nữa, nỗi đau ngút trời không bút mực nào tả hết nỗi buồn trong Kim.
***
Nghe ồn ào bên trong nhà và thấy Kim chạy ra đường ,Lâm vào nhà thì mới hay mọi chuyện
_Trời ơi, tôi vào phòng thấy bà để cái hộp nhẫn trên bàn phấn nên cất vào dưới tấm nệm cho bà
_ Ai biết đâu nà, chiều nay chỉ có chĩ và tui trong phòng nên tui mới hỏi sơ thôi
Ngữ chạy theo vợ và tìm mọi lời năn nỉ, ăn năn ..và mọi chuyện lại đâu vào đó, nhưng từ lần xảy ra chuyện đau lòng ấy, Kim không bao giờ đến nhà ai, không muốn giao tiếp với bất kỳ ai nữa, nàng sống âm thầm như một cái bóng bên Ngữ, cặp mắt luôn u buồn và nhìn Ngữ bằng cái nhìn xa cách …cho dù Ngữ đã cố năn nỉ thuyết phục vợ,niềm đau vì người đầu ấp tay gối với mình suốt bao nhiêu năm mà còn có thể không hiểu vợ mình như vậy…
Cuộc sống đầy bương ba khổ lụy, nhưng cái liêm sỉ của con người mới đáng trân trọng, nhất là với những kẻ nghèo khó, còn kẻ giàu sang nhiều khi muốn giao tiếp với kẻ kém mình cũng chỉ để khoe khoang cho người khác thấy cái hạnh phúc phủ phê thừa mứa của mình mà tạo cho kẻ khác một niềm đau.
Mỗi lần nhìn vợ thở dài …Ngữ lại thấy hối hận và thương vợ dường bao
Atlanta Sept.17th 11
Nguyên Hạ_Lê Nguyễn
Đăng trong Văn xuôi | Thẻ Nguyên Hạ Lê Nguyễn | 1 Comment »
Mai Văn Hoan
.
Em hò hẹn mùa thu em trở lại
Hai mùa thu Huế khắc khoải mong chờ
Bờ sông vắng, cỏ trăng vàng mềm mại
Con thuyền trôi giữa sương khói hững hờ.
Hờ hững cả đêm trăng vàng Bến Ngự
Huế biết em đã quên Huế thiệt rồi
Chốn rồng bay ngày ngày em hoài vọng
Huế chỉ còn là hoài niệm xa xôi…
.
Em qua Huế mà răng đành bỏ Huế
Tàu rời ga, Huế lặng lẽ dõi theo
Em cười nói với Hà thành hoa lệ
Trăng Huế buồn từng giọt vàng gieo.
.
Trăng Huế buồn, “vàng gieo ngấn nước”
Cỏ thu xưa còn in dấu ta ngồi
Gió thu xưa còn nhắc lời hẹn ước
Cuối đường trăng một chiếc lá trăng rơi…
Đăng trong Thơ ca | Thẻ Mai Văn Hoan | Leave a Comment »
Vũ Thế Thành
.
Tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn. Tuổi thơ ở khu Tân Định. Dọn nhà một lần cũng lòng vòng đâu đó, gần cổng xe lửa số Sáu, bên bờ kênh Nhiêu Lộc và ở tới giờ. Ở riết nhàm, tôi thấy Sài Gòn vẫn vậy. Vẫn vậy là kiểu ăn, cách nói, cà phê, quán nhậu…, chứ đường xá, nhà cửa… thay đổi nhiều.
Trước 1975, đôi khi tôi cũng lêu lổng ở Đà Lạt, mê cảnh núi đồi, ao hồ, sông suối, nhịp sống chậm rãi của Đà Lạt, và cũng không loại trừ mê luôn người Đà Lạt hiền hòa, hiếu khách… Tôi nhủ, rồi ngày nào đó sẽ về đây dưỡng già (non).
Bây giờ tôi đã về Đà Lạt, cũng hơn sáu năm rồi. Nợ đời chưa dứt, nên khi Sài Gòn lúc Đà Lạt.
Sài Gòn và Đà Lạt đều là dân tứ xứ. Ở lâu thì thành người Sài Gòn hay dân Đà Lạt gốc. Mỗi nơi đều có con người và phong cách riêng. Rồi cuộc đời dâu bể, nơi còn nơi mất… Đà Lạt đang mất dần, gượng không nổi, nhưng Sài Gòn còn là Sài Gòn, dù có mất chút đỉnh.
Ai ở đâu tới mặc kệ, nhưng Sài Gòn không có đất sống cho “bún mắng cháo chửi”, không phân biệt khách Tây khách ta, không giẫm nát hoa hội chợ, phở Hà Nội không thể “tuyệt đối đúng” khi thiếu rau thơm giữa đất Sài Gòn… Trước như vậy, giờ vẫn thế.
Nhưng Đà Lạt thì khác, chụp giựt, níu kéo, chém chặt, phân biệt Tây ta… đang hình thành ở những ngày cuối tuần hay lễ hội. Đà Lạt tuổi đời trẻ quá, chưa kịp bén rễ thì bão đời đã làm tản mác con người Đà Lạt. Đà Lạt thiếu “con người Đà Lạt” đâu còn gì là hồn Đà Lạt. Đà Lạt chỉ còn thân xác như bức họa đắt giá của Picasso dưới con mắt của kẻ phàm phu.
Nói vậy thôi, Đà Lạt vẫn còn vài nơi yên tĩnh, hoa lá núi đồi để tôi còn đọc sách bên tách trà ly rượu. Rồi ngẫm lại mới thấy, sao mà quãng đời lớn lên ở Sài Gòn êm ả quá. Và rồi cũng nơi đó, những năm tháng cùng cực, cơm áo gạo tiền, cố giữ cho được cái nguyên tắc sống của riêng mình, thiệt vất vả.
Ở Sài Gòn tôi nhớ Đà Lạt, nhưng ở Đà Lạt tôi lại nhớ Sài Gòn. Hai cái nhớ khác nhau. Nhớ Đà Lạt vì lỡ thương. Còn nhớ Sài Gòn vì duyên vì nợ.
Hầu hết những bài trong sách “Sài Gòn một góc ký ức” này đều được viết ở Đà Lạt. Phải xa Sài Gòn mới ngứa tay viết được, mà viết tùy bút kiểu này cũng coi như một cách tính sổ với cuộc đời. Đà Lạt làm tôi biết nhớ Sài Gòn.
Chỉ mới ba trăm cây số Đà Lạt – Sài Gòn, lại còn đi đi về về mà đã thế, huống chi những người ở xa Sài Gòn nửa vòng trái đất, chục năm, hai ba chục năm, biền biệt thì sao? Có lẽ chỉ còn cách như người bạn tôi, nửa đêm không ngủ được, gọi phone về, thở dài: Tao nhớ Sài Gòn… chết mẹ!
Xa Sài Gòn mới thấm, mới cảm thấy thiếu thiếu cái gì đó, như từ bỏ một thói quen, bứt rứt khó chịu như cai thuốc.
Nhớ Sài Gòn chứ sao không! Nhớ con hẻm lầy lội, nhớ tiếng mưa rơi trên mái tôn, nhớ tuổi thơ, nhớ tiếng rao hàng giọng Sài Gòn, nhớ sầu riêng vú sữa, nhớ đủ thứ… Xa rồi mới biết thương biết nhớ…
Đăng trong Văn xuôi | Thẻ Vũ Thế Thành | Leave a Comment »
Trần Thoại Nguyên
.
Đời đẹp mong manh!
Dẫu vô thường!
Trái tim ta vỗ nhịp yêu thương!
Sống cảm ơn đời từng khoảnh khắc
.
Ta hòa cùng ánh sáng triêu dương!
Nầy gió nầy hoa nầy trăng sao
Và em yêu… Cát bụi chiêm bao!
.
Cảm ơn đời thoáng vui vĩnh cửu
Giây phút hiện tiền đẹp biết bao!
Hãy vui sống khi ta có thể
Hít thở nói cười hồn nhẹ phiêu
.
Dẫu khổ đau khiến ta nhỏ lệ
Cảm ơn đời cuộc sống đáng yêu!
Ôi phép lạ trần gian lấp lánh
Giọt sương mai, ánh trăng nhiệm mầu!
.
Trong cát bụi có điềm linh thánh
Cảm ơn đời ta-sống-trong-nhau!
Cuộc sống diệu kỳ bao mến thương!
Vô biên xanh mắt biếc môi hường!
.
Cảm ơn vạn hữu trong tia chớp
Hạnh Phúc vô ngần reo máu xương
Đăng trong Uncategorized | Leave a Comment »
Lê Thị Khánh Mai
.
1.
bóng đêm tranh chấp với ánh sáng
tiếng bước chân
xa dần
2.
cơn gió lạnh lùa sâu vào chăn gối
đòi yêu
3.
cài then căn phòng góa phụ
gió hoang về gượng mở
đêm đông
4.
đêm tự cắt mình ra nhiều mảnh nhỏ
gương mặt người sáng rõ
vẹn nguyên
5.
– câm nín đến hóa đá, sao còn kêu?
– ai đánh thức nỗi đau của đá?
6.
Sự im lặng của tình yêu
tro cốt trong bình
7.
trời khóc
những giọt nước mắt rơi xuống
ngân lên giai điệu đại dương
8.
bão tan, khoảng trời trong biếc
vang lên tiếng hót
chú chim non vừa hóa kiếp hôm qua
9.
viên đá vỡ từ đỉnh cao
rơi thầm xuống vực
kiêu hãnh quyên sinh
10
úp mặt vào bàn tay
khóc tiễn miền hoang tưởng
không nước mắt mà lòng uống cạn chén cay
11.
trở về hang tối
sau đam mê lạc lối cánh rừng
tự liếm vết thương
12.
đường đời thăm thẳm
thơ dìu nỗi khổ đau
trong vô lượng thời gian
Đăng trong Thơ ca | Thẻ Lê Khánh Mai | Leave a Comment »
Trời đã vào thu, khí trời se lạnh, tôi cuộn mình trong chiếc chăn mỏng và cảm thấy thật dể chịu. Ánh trăng rằm tháng bảy chiếu qua khe cửa sáng vằng vặc. Mùi hương của cây hoa Nguyệt Quế thoảng đưa hòa cùng tiếng côn trùng râm ran đây đó trong vườn tạo nên một bản nhạc đồng quê tuyệt diệu. Dòng đời vẫn trôi một cách vô tình và lặng lẽ. Mới ngày nào tôi vẫn còn là một cô bé con ngơ ngác mà giờ đây đã hơn nửa cuộc đời rồi. Những kỉ niệm vui buồn ùa về trong tâm trí tôi- chúng dẫn dắt, lôi cuốn tôi vào những giấc mơ có lúc thật êm đềm, đôi khi khắc khoải buồn vương …
Mẹ sinh ra tôi cũng vào một đêm cuối thu- một đứa trẻ sơ sinh lẽ ra bú no là ngủ, nhưng không hiểu sao tôi lại rất ít ngủ mà khóc ngoằn ngoặc suốt ngày đêm. Bà mụ đỡ sốt ruột vì tiếng khóc của tôi làm cho những đứa trẻ khác giật mình khóc theo và không để cho ai được ngủ yên . Vì vậy, tôi khóc ròng rã hai ngày- đến ngày thứ 3- khi tắm cho tôi xong, bà lén cho tôi uống thuốc an thần nhẹ ( sau này có người phát hiện nên mẹ tôi mới biết). Và tôi “ bị ” cho uống thuốc an thần liên tục trong bảy ngày khi mẹ tôi còn nằm lại nhà hộ sinh.
Có lẽ trí não non nớt của tôi không chịu nổi sự tác động quá lớn của loại thuốc kích thích này nên tôi đã phát triển không bình thường như những đứa trẻ khác. Mọi người trong làng khi nhìn tôi,ai cũng xót xa cho cha, mẹ tôi .Họ không nói ra nhưng ai cũng nghĩ là tôi bị “ không bình thường”. Người lớn nhìn tôi thương hại, trẻ con thì không thèm chơi với tôi, và thậm chí chúng không dám để tôi đến gần. Hàng ngày tôi chỉ có một việc là đứng ngắm mình trước gương, lặng lẽ -bất động…
Tới tuổi đi học- tôi không học được chữ nào cả,dù mẹ tôi có kiên nhẫn cố gắng chỉ dạy cho tôi học như thế nào đi nữa. Không ai biết thuốc an thần trong đầu tôi dần dần giảm đi tác dụng như thế nào ( hay đã có tác dụng gì?) chỉ biết có một ngày bỗng dưng tôi đọc được sách, làm được toán. Tôi không học từng chữ-từng câu như bọn trẻ-nhưng tôi đọc được sách, báo. Tôi chỉ đứng nhìn thầy cô giáo dạy toán ( lớp 3) chơi thôi-nhưng sau đó, tôi làm được những bài toán lớp ba, thuộc loại khó. Vậy là tôi phải cắp sách đi học như bao đứa trẻ khác chứ không còn được đứng hằng giờ soi mình trước gương nữa. Trí óc tôi phát triển bất ngờ, nhưng tính tình tôi vẫn “quái dị “, vẫn thuộc dạng không bình thường, không giống ai cả. Tôi học rất giỏi –cả lớp không theo kịp – tôi chỉ nghe thầy cô giảng, hay chỉ đọc qua-là nhớ, là thuộc lòng, không cần về nhà học nữa -nhưng khi đi ra đường là bị những đứa trẻ khác lại ném đá vào tôi, trêu chọc tôi- vì có lẽ, lúc đó chúng trông tôi rất ngớ ngẩn, khác lạ?. Lâu dần, tôi có cảm giác, mình giống như một con thú hoang bị chạy lạc xuống đồng bằng xa lạ vậy!.
Ngày đầu tiên vào lớp 10- thầy giáo chủ nhiệm chọn lớp trưởng, thầy đọc tên tôi đầu tiên vì trong kỳ thi chuyển cấp tôi đạt điểm số khá cao. Nhưng khi tôi đứng dậy, ông nhìn tôi một lúc với ánh mắt nghi ngờ- ông trầm giọng- nói :” Em chắc không thích hợp để làm lớp trưởng đâu”. Ánh mắt của học sinh trong lớp đổ dồn về phía tôi- một cô bé lôi thôi, lếch thếch với vẻ mặt ngờ nghệch vậy mà sao có điểm đậu cao vậy?. Sau phút ngạc nhiên, họ phá lên cười như nắc nẻ làm thầy giáo chủ nhiệm cũng cười theo. Tôi cảm thấy xấu hổ không biết trốn vào đâu nữa. Và sau hôm đó tôi sống lặng lẽ, cô độc hơn. Tôi không tìm nổi được cho mình một người bạn nào cả. Tôi càng lặng lẽ bao nhiêu, thì bạn cùng lớp lại để ý đến tôi nhiều hơn. Có thời gian rảnh là họ lại tìm kiếm đủ mọi cách để chọc phá tôi, để lấy tôi làm trò tiêu khiển! Họ “cặp đôi” tôi với người này người khác, họ kéo tóc tôi và làm đủ mọi thứ mà họ thấy vui là được. Họ chỉ tha cho tôi khi giáo viên vào lớp hoặc tôi ôm mặt khóc. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ lại rất rõ những cành tượng đau lòng , tồi tệ đó của bọn họ.- có lúc tôi nghĩ, mọi chuyện ác tâm kia như chỉ vừa mới xảy ra hôm qua đây thôi.
Thầy Thanh dạy sử – hôm nào vào lớp cũng gọi tôi lên kiểm tra bài cũ, nhưng thầy không hỏi những gì liên quan đến bài học mà hỏi những câu hỏi lạ kì – chưa có một lớp học nào trên thế giới học sinh “ bị” hỏi như vậy. Thầy hỏi tôi :” Sao em biết mùa thu?”. Sau một lúc ngỡ ngàng tôi vẫn trả lời thầy” Thưa Thầy,! mùa thu có lá vàng rơi”. Hôm khác thầy lại hỏi ” Dấu hiệu nào báo hiệu mùa xuân?”. Tôi ngờ nghệch trả lời” Dạ! Mùa xuân có chim én bay”. Và sau những lần như vậy , cả thầy và học sinh trong lớp đều cười nghiêng ngã. Tôi thộn mặt ra không biết mình làm sai chuyện gì nữa? Chuyện này vẫn tiếp diễn cho đến khi bài kiểm tra một tiết và 15 phút được phát ra- tôi được một số điểm cao nhất nhì lớp. Lúc đó thầy Thanh không còn gọi tôi lên kiểm tra bài cũ theo kiểu quái ác như vậy nữa.
Một hôm, lớp tôi có buổi lao động tập trung, dọn vệ sinh sân trường. Đang làm việc thì trời đổ mưa. Tôi và các bạn nép vào hành lang để tránh cơn mưa lớn. Tôi mê mãi ngồi nhìn mưa rơi trên mái tole nhà để xe- tôi nhìn say sưa đến nỗi khi thầy Nam dạy Lý ngạc nhiên đập mạnh vào vai tôi- tôi mới giật mình tỉnh giấc – trở về với thực tại. Lúc đó trời đã sẩm tối , các bạn trong lớp đã ra về từ lâu rồi. Vậy là ngay hôm sau, ngoài biệt danh ” ngớ ngẫn” ra, tôi còn có thêm biệt danh mới là ” ma nhập” nữa! Một trò đùa tinh quái nữa đã làm tổn thương tôi, nhưng tôi chỉ biết im lặng!
Thời phổ thông- cái thời đẹp nhất của cuộc đời đi học của tôi đã trôi qua lặng lẽ và tẻ nhạt như vậy đó. Có nhiều chuyện không vui, lạ lùng-đau lòng khác mà tôi không dám bảy tỏ- đành chôn nó vào trong sâu thẳm trong tâm hồn mình. Gợi nhớ làm gi khi quá khứ chỉ là một chuỗi những bất hạnh không thể chia sẻ?
Năm năm đại học, tôi học xa nhà, bắt đầu cuộc sống mới thật lạ lẫm .Tôi ở tập thể, ở chung với tám người bạn gái khác từ nhiều miền của đất nước. Ai cũng vui, và đối xử với tôi thật dịu dàng. Nhưng bản tính “quái dị” lạnh lùng của tôi như một bức tường vô hình ngăn cách tôi với mọi người. Nỗi ám ảnh của tuổi thơ bị “phân biệt”, không được thấu hiểu-an ủi, đã làm tổn thương tâm hồn tôi quá nhiều chăng? Trang giấy trắng tâm hồn tôi đã bị bôi đen bởi bao vết bẩn của bạn bè và thầy giáo vô tâm chăng? Ngoài một buổi học ở giảng đường, tôi đắm chìm vào những quyển sách- đó là thế giới riêng, thế giới trong mơ của tôi. Rồi lần lượt những đứa bạn cùng phòng của tôi có đôi có cặp- vào ngày nghỉ lễ, vào ngày cuối tuần họ rủ rê nhau đi chơi- khu nhà trọ còn lại một mình tôi- tĩnh lặng lạ thường. . Tôi cũng đã tìm được cho mình một người để thương yêu- nhưng đó là một hình ảnh – một ảo ảnh-chỉ sống trong trí tưởng của tôi mà thôi!. Tôi thường mơ nghĩ đến hình ảnh thân yêu ấy: Anh ấy hiền từ, thánh thiện và yêu thương tôi thật nhiều. Và nhờ vậy- anh ấy đã giúp tôi bớt cô đơn trong cuộc sống.
Từ ngày ra trường đến nay, tôi xin được một nơi làm ổn định, một công việc tôi yêu thích. Ngày ngày tôi được gặp gỡ nhiều người, tính tình tôi bớt nhút nhát hơn. Bạn bè, đồng nghiệp vào ngày nghỉ rủ tôi đi uống cà phê, nói chuyện phiếm. Dần dần tôi vui vẻ và hòa nhập với cuộc sống hơn. Nhưng trời vốn vô tình, khi tôi vui và hạnh phúc lên một chút thì sức khỏe của tôi ngày càng sút kém đi. Máu ở mũi tôi tự dưng chảy nhiều, cơ thể tôi mỏi mệt, không ăn uống gì được Tôi phải uống thuốc giảm đau đều đặn mỗi ngày.và làm xong việc là tôi hầu như nằm bẹp dí trên giường. Người thân, bạn bè tôi, ai cũng xót xa cho tôi nhưng cũng chỉ an ủi tôi đôi câu…
Những lúc phải cam chịu những nối khổ đau thân xác ( và cả tâm hồn) – tôi chỉ muốn tự giải thoát lấy cuộc đời của mình. Tôi muốn chấm dứt mọi khổ đau, mọi nỗi vui buồn trong cuộc sống. Tôi không muốn bị những cơn đau đớn hành hạ nữa. Tôi không tìm được niềm an vui trong cuộc sống, thì đành phải rời bỏ nó đi vậy. Sống để làm gì khi không có một mục đích, một con đường nào tươi sáng để bước tới ? Đã có lúc tôi nghĩ và muốn làm như vậy …
Giờ đây-những áng mây mờ như dần tan đi -tôi sống vui hơn cho dù sức khỏe vẫn còn yếu lắm! Vẫn buồn vu vơ như trước- nhưng trong lòng tôi đang xanh mầm tin yêu- niềm tin yêu đến với tôi tình cờ như một cơn gió mát dìu dặt đêm trăng.. Tôi sẽ yêu cuộc sống của chính mình, sẽ mãi an vui với hiện tại là sẽ có ngày mai. Tôi luôn hi vọng-sau “ cơn mưa, trời sẽ sáng”- bởi vì không có ai mãi mãi phải chịu khổ đau khi họ luôn tin yêu cuộc sống và vươn tới bằng chính trí tuệ và tâm hồn trong sáng của mình! Tôi nhớ lại lời một người thân dặn tôi mỗi buổi sáng trước khi tôi đi làm:
– Phải yêu lấy bản thân mình, trước khi yêu những gì khác- đừng để ai cũng lo lắng cho mình.
– Phải sống vui ở hiện tai, thì tương lai sẽ tốt đẹp!
– Chạy xe nhớ cẩn thận giùm.
Tôi mỉm cười- lòng cứ mong sao cho trời mau sáng, để được nghe những lời yêu thương kia thì thầm. Một ngày mới lại bắt đầu trong tình thương yêu trời biển…./.
Đăng trong Văn xuôi | Thẻ Trần Minh Nguyệt | 1 Comment »