Feeds:
Bài viết
Bình luận

Những mảnh rời

Nguyễn Hoàng Anh Thư

1. Tư duy

Tư duy im lặng

nó thích bóng tối vì không nhìn thấy được những ngôi sao

mực tung vào nước lấp lánh thân tròn phóng đi, thoát khỏi ngàm cá dữ

2. Hơi nóng

Nắm chặt tay nhau để tận hưởng

hơi nóng đang nguội dần đi

chúng luồn vào những thớ thịt ở trái tim

3. Cánh đồng

Cánh đồng kể cho tôi nghe, mọi người đi đâu và làm gì

kể cả cái áo tơi đang dần rớt giữa cơn mưa nặng hạt

chúng không còn che được tiếng hò

4. Cầu nguyện

Buổi sáng thứ bảy, tiếng cầu nguyện đang trượt trên đường link, kịp về phía bên kia

đã là 8h32 phút tối

chúng vội vã đến nơi để dỗ giấc ngủ ngon

vẫn còn nghe hơi thở gấp

5. Thẩm phán

Khi tiếng khóc trẻ sơ sinh là một thẩm phán

con người im lặng lắng nghe

và sửa chữa tội lỗi trong đoạn đời còn lại

6. Mắt gỗ

Tiếng thở dài khoáy cửa se mòn sợi gió

khép kín nhìn nhau trong một cái mắt gỗ

vừa lìa đứt khỏi cội thông già

7. Điều vô vị

Vòng vòng, những vòng khoác lác, sống chết, chết sống

phồng lên phồng lên, rỗng tận ngõ trời

nổ tung cả lời thiên thạch

 8. Lữ khách

Lữ khách liệm mùa đông trong cái giá mùa hè

bần bật chạm bước chân đã cũ

hơn nửa mái đầu tìm vại nước ở sân sau

9. Cuộc đời

Bạn tôi khản tiếng

ru cuộc đời

còn lại nửa tấm thân ở trên nôi

10. Giọt mồ hôi

Nhốt mảnh đồng đang trôi giữa mùa nước xoáy

thò tay nhặt lại những giọt mồ hôi

thơm mùi lúa sữa

11. Thời gian

Thời gian triển lãm những nụ cười

sự lười biếng ghen tỵ

nó nằm xấu xí và hư hỏng như một cái nêm gỗ

12. Phố xương thủy tinh

Những con phố mắc chứng xương thủy tinh

chúng bị rút rỗng

những bước chân trầm tư và hiền lành

13. Lục bát

Vần lục bát khấp khểnh

khi chiếc lưỡi bị hụt vào trong

cất đi sự nuối tiếc trên đĩa mật

14. Dấu triện cầu cứu

Trong trang bìa quyển sách

dấu triện đỏ nhìn chúng tôi

cầu cứu

được gắn thẻ giá nơi chữ cuối cùng

15. Những cái tên

Phụ âm nguyên âm đánh vần lắp ghép

những cái tên không có hình dạng con người

như những gương mặt chảy mù bên giờ cuối

 16. Cuộc mất tích

Câu chuyện buổi sáng

ẩn dụ trong một miếng bánh

ném bạn qua cửa sổ và chạy

muộn giờ làm và nghẹn ứ trên đường

ly cà phê bắt đầu điều tra một cuộc mất tích

17. Trên bàn cờ

Bệnh tật đang đánh cờ với thần chết

nó uống rượu

và nhìn những xilanh nó vừa thắng được từ phía bên kia

đang di chuyển trên hai ngón tay của của người khác

18. Vị sương mù

Tháng tám

những đứa trẻ ngửi vào chiếc mũi của mình

chỉ có vị sương mù

19. Những chiếc bánh Trung Thu

Trung Thu

thằng Cuội ngồi hấp bánh lá đa

mùi ca dao thơm ngát

những chiếc bánh rướm máu trăng vàng

20. Trò lắp ghép

Đứa trẻ ngồi tách số phận và ghép lại

như hình thù một chiếc giày

ước vô định như mây

21. Bài học của im lặng

Sự im lặng dạy tôi về mặt trăng và

sao, đám mây và sương mù

những bước chân vô trùng

và chiếc họng gió mồ côi

22. Sự chờ đợi

Bàn tay dài hơn, đôi mắt dài hơn, những bước chân dài hơn

trên nỗi ngóng chờ chiếc lá

đợi mùa thu vàng hứa hôn

23. Trên bàn tiệc

Bài thơ rơi giữa bàn tiệc

nghị luận về các hương vị của món ăn

kết luận: tất cả đều có vị ái tình

24. Sự hy sinh

Bài thơ khảo luận về sự hy sinh

về sự hành hình đàn kiến

những con mối ngấu nghiến những cái xác trắng phau

25. Điều mặc định

Bài thơ đang thuyết giảng về sự bất tử của linh hồn

trên chiếc hồ của ếch

có thanh củi làm vua*

26. Cầu khấn

Những con số thích chơi trò trốn tìm

chúng bật ngửa tấm bảng

núp và cầu khấn: lạy trời đừng xoay

27. Trò kéo co

Những con đường thích chơi trò kéo co

với bắp thịt của mưa nắng

song,

đừng bắt chúng chơi trò đấu trí với sự quanh co

28. Sự đơn giản

Cuộc đời nằm ngoài lời trích dẫn

trách cứ danh ngôn

rằng, suy nghĩ gai góc làm đau cái dạ dày

29. Cạnh huyền

Bạn muốn đi đường tắt?

cứ nhân đôi cạnh huyền

và xếp gập góc vuông chưa trải thành góc tù chật hẹp

30. Nuốt sương

Thử im lặng để nuốt những hạt sương

lắng nghe tuổi

gập hằn điều tiếc nuối về phía đuôi mắt

31. Thua cuộc

Buổi sáng, mớ lý thuyết đưa ra lời khuyên

đừng để con đường đi quá xa

nhưng sự thật là chỉ còn đôi chân mệt mỏi đã bị đánh bại

32. Ký ức

Muốn chơi trò đánh đố kí ức

trên những thanh củi lạnh ngắt

trên trời không còn một đốm sao để nhóm lửa những nỗi buồn

33. Đích cuối

Con đường thở hổn hển dưới đôi chân của vận động viên

không phải là đường chạy một trăm mét

những đám mây trôi về đích rã mòn

34. Niềm vui

Xoay tròn và lướt nghiêng như trò ném thia lia

những mảnh vỡ không chịu đâm sầm xuống nước

từng vòng sóng sánh trong mắt trước niềm vui vừa chực tan

35. Bịt mắt

Nếu bạn bịt mắt, sẽ thấy bài thơ ở vầng trăng

bạn sẽ hát, đến khi nhìn thấy vị sương mù trên chiếc mũi

bài thơ sẽ khóc

36. Mọt chữ

Những sinh vật lạ bu quanh một bài thơ

liếm láp vị ngọt trên đầu ngọn chữ

chảy ra từ chiếc lưỡi của mình

37. Niềm kiêu hãnh

Rất nhiều loài khỉ lạ, mặt đỏ bừng như gấc

chúng tự hào vì đã sở hữu cái đầu hói của mình

khi đã hái lượm thật nhiều quả chín từ cây

38. Bài học tiến hoá

Những con đường mùa mưa nói với chúng tôi rằng

hãy biết tiến hóa như loài cá lưỡng cư

những chiếc cầu treo thì nói: hãy biết điều kì diệu của loài thằn lằn bay

39. Tự do

Những con trai than khóc

chẳng phải vì tiếc ngọc

mà chúng đồng cảm với sự tự do của hạt cát

40. Thân sứa

Muốn thân là loài sứa

để tự do tan dưới nắng mặt trời

trong suốt với bình minh của nước

41. Khiếu nại

Chiếc lá vàng khiếu nại

dưới gót chân Achilles

chẳng nghe thấy tiếng mùa thu

42. Sự thất bại

Khi người đàn ông Việt thất bại

thường đổ lỗi cho rượu

nhưng không nếm được mùi của rượu vang

43. Tranh luận

Những trái chín phản đối sự chờ đợi

nhưng những trái non nói rằng

sự chờ đợi có thể lớn hơn khi bạn biết chọn lựa

44. Quy luật

Những trái táo bệnh tật

ép mình chết non

trên nỗi tiếc nuối của vị ngọt

45. Ánh sáng

Sự im lặng đang tỏa sáng trong ngọn nến vừa thắp lên những nỗi buồn

chúng đang mặc cả về sự im lặng của chuyến đi

46. Khiêu vũ dưới mưa

Muốn khiêu vũ chân trần trong vũng nước của mưa

bật ô lên, mưa sẽ khóc

mắt ngọc trôi giữa rêu xanh

47. Điều nuối tiếc

Về phía bên kia, sau lời ghi chú của hoàng hôn

có con thạch sùng chợt thức giấc

nuối tiếc giấc mơ về loài rồng lửa

48. Sự khởi hành

Nỗi buồn né tránh

nó im lặng

để khởi hành như mặt trăng [đôi lúc đỏ lên như mặt trăng máu]

49. Phơi ảnh

Một lần trời đẹp

tôi đem tấm ảnh ra phơi

và tha thứ cho sự hối tiếc

50. Password của con đường

Khi khớp gối rã sợi dây chằng

con đường đã quá xa

bạn sẽ nhớ những lần chần chừ thay đổi password

51. Tivi

Chủ nhật, màn hình quảng cáo, nhảy múa với các ngôi sao, thần tượng

con người bị bó trong những điều tào lao

tôi trượt trên TV và bỏ đi với quyển sách

52

Cây thông ngất ngưởng

cây thông hò reo

gió ghé qua nói rằng:

ngày mai có nhiều người muốn mua bộ tràng kỉ

53. Quyển sách

Nỗi nhớ biến thành sợi chỉ khâu từng trang sách

từng chương, từng chương

có những tờ xếp ngược

54. Đêm

Có những lối ra cho những tĩnh mạch bị tắc nghẽn

đêm

đặt ý nghĩ lên cái móc nhọn của chữ S

55. Bát cơm nghiêng

Chẳng thấy màu vàng trên xác lá mùa thu ấu tuổi

đôi mắt đục mù bên bờ suối

vun tròn những bát cơm nghiêng

56. Pháo hoa

Những khoảnh khắc phá vỡ mặt đất

từng chùm pháo hoa

rớt lặng giữa mắt đêm

57. Buổi sáng hoài nghi

Chúng tôi đi trên con đường của sự hoài nghi vào buổi sáng

có những giọt nước mắt chảy vào miệng của đám đông

và những hình ảnh quá sắc nét minh họa cho lời trích dẫn

58. Nỗi sợ

Hôm nay nỗi sợ hãi đã can đảm đứng dậy

viết lời cuối

cho những nốt nhạc bị mất tích sau cánh rừng thông

59. Trò phù thuỷ

Có những trò phù thủy trong những bức tường trống rỗng

màu vàng ngoài ô cửa sổ

đã dày đặc những bụi hoa mưa

60. Trái tim

Nó đã đau đớn cùng với tôi

trái tim nói với tôi khi đi bộ

trên con đường ngày xưa đầy bụi cỏ gai

 61. Chiếc cối xay

Quay vòng trong cái cối xay

chữ nghĩa rụng

còn lại trong khoang bụng lổn nhổn Tấm và Cám

62. Cá ngựa

Không phải thằn lằn

mà là cá ngựa vằn

đang tái tạo da trên gương mặt và những cái đuôi quẫy nhanh với nước

63. Đọc một bài thơ

Truy cập vào chiếc ô

mưa

nhỏ giọt điều hiển thị

64. Sự kiên định

Chiêm ngưỡng hoàng hôn

nứt trong hạt gai đỏ

cố gắng chống lại những thay đổi trên đường đi

65. Phía ngoài màu xám

Xa hơn, về phía đường chân trời

không có màu xám

cho điều thất bại hay chiến thắng

66. Lý do của tầm gửi

Khi cây tầm gửi tìm được lý do để sống

nó dính chặt

ngay cả khi nó đốt thanh củi đến khô

67. Sự bắt đầu

Không có lý do để bắt đầu mùa thu

từ chiếc lá vàng

bởi cuộc sống đã được viết trên gương mặt

68. Ngọn đèn đá

Ngọn đèn đá đã tắt

những bồ hóng, những rêu phong

những giọt hoàng hôn nhỏ ròng trong mắt

69. Sa lầy

Có gì đó nhầm lẫn ngoài kia

chiếc bóng đang đánh chìm dưới đầm lầy

vì mưa

70. Cú ngã

Đêm, người đàn ông chạy ra khỏi nước mắt

té ngã

số phận quay về hướng tốt hơn

71. Đường phố

Một ngày đường phố vỡ tan trong gương

nằm trong muôn mảnh

như một máy nhân bản

từng lằn nứt trong chiếc lá mùa thu

73. Điều hoài nghi

Khi sự hoài nghi lãng quên

cũng là lúc mùa thu bị đánh chìm

trước sự ngập ngừng nơi khung cửa

74. Thạch nhũ

Nếu di chuyển Phong Nha

thạch nhũ ngừng khóc

bởi không thể kết thúc thời gian của mình

75. Điều phiền muộn

Đặt một ít phiền muộn lên nụ cười, nó chạy

bỏ giỏ trong những đường mòn

ở mí mắt

 76. Sơn xanh chiếc lá

Người ta sơn chiếc lá

màu xanh

để từ chối mùa thu đi ngang qua cửa sổ

77. Đừng nghe đá khóc

Chạy, chạy đi

đừng nghe lệ rơi của đá

đào trong mặt đất nụ cười thỏa nguyện trên mi

78. Thêm một chút

Thêm chút nụ cười, thêm một chút hoa trên ngôi mộ

thêm một chút của tôi

chút điều tham lam trên đường đến

79. Đèn vàng

Chờ đợi thôi

lần lượt đi qua những ngọn đèn vàng

mưa chẳng kịp thong dong

80. Kinh cầu an

Bắt đầu lời giảng từ trăm năm

bức tranh trầm tư

chẳng chịu nhàu nỗi nhớ

81. Ngôn ngữ

Ngôn ngữ di chuyển vào lưỡi khi bạn nói

dừng lại suy nghĩ bên trong cuộc đua

rồi đóng băng trong vòm miệng

82. Những trái bí ngô

tiếng chân trẻ chạy, tiếng khóc bị trói

chiếc mặt nạ im bặt

vàng trong ngọn lửa bí ngô

83. Quyền lực

Halloween, màu gió đen

khỏa gương mặt cũ

lấp hằn quyền lực dưới những chiếc mặt nạ

84. Con bù nhìn

giữa cánh đồng nửa đêm, con bù nhìn bật lên tiếng nói

đó là những quả bí ngô, không phải là đầu lâu

và reo lên cười

85. Thần Kali

thế kỷ 21, thần KaLi vẫn không mặt quần áo

ăn bí ngô

có lẽ thần thiếu vitamin A và thử nếm vị bột mì thật lạ

86. Những chú lính chì

Một bản sao mới của sự sống

khi người ta muốn nhân bản

những chú lính chì biết đánh trận khi còn ở nhau thai

87. Sai lệch

Sự thật không đi thẳng

nó nghiêng một góc rất nhỏ

đủ để tất cả những đường song song

không bao giờ gặp nhau

88. Thử nghiệm

Người ta đem niềm tin

thả vào ống nghiệm

và ngạc nhiên khi thấy

nó sôi lên

89. Mặt phẳng

Lịch sử thích được viết trên mặt phẳng để che giấu

những vết lún

của máu đã khô

90. Chiếc dạ dày của những con lạc đà

Chiếc dạ dày của những con lạc đà

tiêu hóa cơn khát của cát

và những bước chân biến mất trong mắt gió

91. Ngôn ngữ trên khán đài

Những từ ngữ được lặp đi lặp lại

và nhổ ra

trên khán đài những dòng chữ chạy và biểu diễn

bên dưới những lời ngợi ca cửa miệng

 92. Sự lười biếng

Ở một nơi nào đó mưa

con ốc sên lười biếng

 bò ra khỏi cành cúc họa mi

93. Mùa đông và chiếc tất

Mùa đông chui vào chiếc tất

phát hiện

đêm ấm áp chỉ một bàn chân

94. Sự tưởng tượng

Tôi nhìn làn sóng cánh

nó bơi ếch trong không khí

khi chiếc cầu thang bị đánh cắp

95. Phóng thích

Có gì đó mắc kẹt khi nỗi ăn năn được phóng thích

chúng mọc dằm trong mắt

của lũ quạ đen

96. Nỗi buồn

Một loại nỗi buồn

như thể chào mừng khai sanh của tôi

như thể bóng tối đi theo từng bước chân mòn

97. Tập tin bất hạnh

Nơi tập tin đính kèm vào bất hạnh

đó là đôi khi bạn bỏ lỡ cái đánh lửa nhỏ

để nhìn piston quay

98. Tập quán

Chúng ta quen với việc

cúi xuống nhặt như xin lỗi đồ vật, sau khi làm rơi

nhưng hiếm khi cúi đầu trước con người

99. Lỗ thủng

Đạo đức có một lỗ thủng nhỏ

đủ cho quyền lực chui qua

và đủ hẹp để lương tâm không theo kịp

100. Đèn đỏ

Đèn đỏ đứng canh

những ý nghĩ vượt rào

con người thì luôn tin mình có lý do chính đáng

Tôi Còn Lại Bầu Trời

Trần Vấn Lệ

.

Những con chim bay về / trong ngày con nhớ Mẹ / chúng ở cho tới xế, chúng đã bay đâu rồi?

Tôi còn lại bầu tròi / tròn như là bầu rượu / bạn bè ở tứ xứ / biết cách nào hỏi thăm?

Mà đừng hỏi đừng han /  đừng nhớ nhung gì nữa / rượu rót ra để đó / nắng sẽ bốc hơi thôi!

Tất cả đều xa xôi / đầu trời và góc biển!  Tại mình hay lưu luyến / chẳng ai luyến lưu mình…

May ra thì thình lình / gặp nhau trên phố thị / chào cái như người Mỹ / bye bye và nice day…

Không ấm được bàn tay…chỉ chớp buồn con mắt!  Giọt mưa trên đỉnh tháp…Tháp Chàm của tôi ơi!

Bà Phù Thủy bật cười / một tràng đi, khanh khách / rồi níu tay cho chặt / rồi buông ra.  Buông ra…

*

Trời mênh mông bao la…Rượu tôi phà thơm ngát…Cái hôn dù phơn phớt…một chút đã ngày xưa!

Ngày xưa ôi giấc mơ…tỉnh ra ngờ với ngại…nghĩ gì cũng sai trái, nói gì cũng ở tù!

Biết bao nhiêu lá thư, chỉ dặn lòng cẩn thận, bà con mình khổ lắm / thư không dám cầm khoe…

Nỡ nào cầm xé đi / tình xa xôi mờ ảo…thời ca dao đổi áo…qua cầu gió đã bay!

Tối cắm mốc một ngày / bằng tiếng chim ríu rít.  Nhớ ai lắm khít rịt, hàm răng nhớ hoài thương…

Tại sao chim bay luôn, để vườn tôi cô quạnh?  Tại sao chiều là lạnh…cái lạnh lùng của mưa!

Phải chi nhớ vừa vừa / gió lặng lờ tà áo…Tình yêu nào cũng ảo…là tình em tình anh?

Không uổng công má!

Truyện ngắn Trần Bảo Định

.

Nắng quái thường xảy ra vào lúc chiều hôm. Chiều hôm trên cục đất “Khổng tước nguyên” thì lạ lắm! Cái lạ đó trải dọc theo bờ sông Tiền từ Đông sang Tây. Má cậu Hai Thoại(1) ngồi mạng lại tấm áo cho con trong bóng nắng sắp sụp mí chiều.

– Má ơi! Ngừng tay đi má, kẻo mờ mắt!

Tiếng nhắc má của cậu Hai mang trọn cả cái tình mẫu tử được nuôi dưỡng từ những lời ru của mẹ. Lúc theo chồng về mần dâu họ Đỗ, má Năm vừa bước qua tuổi mười lăm. Dòng họ Đỗ đâm chồi nhảy ba nhánh: Đỗ Trình, Đỗ Tường, Đỗ Kiến… đã chịu đời không thấu bọn cường hào ở quê nhà, nên đành gạt nước mắt bỏ xứ Quảng Ngãi dong buồm vô Nam. Nhánh Đỗ Tường, Đỗ Kiến men theo sông Vàm Cỏ Tây tới đất Thanh Phú thì trụ lại(2); còn nhánh Đỗ Trình rẽ ngả sông Rạch Tra bám đất Hòa Bình. Má cậu Hai dồn hết sức mình mưu sinh để nuôi dưỡng tương lai cho con. Cậu Hai trì chí “sôi kinh nấu sử”, tất cả cho kỳ thi khoa Quý Mão (1843) trường Hương Gia Định. Má Năm thuộc lớp người con nhà nho, được cha khai tâm từ nhỏ. Dẫu không “‘trên thông thiên văn, dưới tường địa lý” thì cũng là người hiểu biết chút chữ “thánh hiền”.

Nhà văn Trần Bảo Định

Má Năm thường nói:

“Trong cõi trời đất, chẳng có chi tự nhiên nẩy sinh, Khổng tước nguyên cũng vậy. Đâu tự nhiên mà có con công, mà có cái gò để thiên hạ gọi Gò Công! Biết bao máu mắt, xương tàn cốt rụi của người đi trước khai hoang, lập điền mở cõi…”.

Cậu Hai học ở má Năm những điều đã chắc gì nơi “cửa Khổng sân Trình” giảng dạy.

Những buổi chiều tàn, lúc rảnh rỗi, má con hay quét lá vàng khô un chiều bằng những sợi khói. Nhìn những sợi khói bay về phương vô định, má nghĩ đời người đừng như sợi khói bay; phải định cái phương mình đang sống để đủ độ yêu thương mà sống chết với nó.

– Đất nổi mặt đất thì gọi gò, đất nổi mặt nước sông thì gọi cồn (cù lao). Trấn Định Tường có gò, có cồn… tất có đủ điều kiện và tư cách gìn giữ nguyên khí đất Nam Kỳ.

Lời má Năm nói chắc cứng, cậu Hai liên tưởng:

“Đầu nước Việt ở phía Bắc, với đôi mắt là hai rặng núi Đông Triều và Hoàng Liên Sơn nhìn xương sống Trường Sơn xòe như nan quạt chồm ra biển Đông, đuôi gối lên những móng chưn núi Chứa Chan, núi Mây Tầu(3) ở phía Đông; núi Bà Rá, núi Đồng Long, núi Bà Đen(4) ở phía Tây, trước khi đuôi bất thình lình dựng đứng tạo Thất Sơn… biểu tượng Rồng Việt!?”.

Rồi, cậu Hai hình dung cái nơi cậu sinh ra và lớn lên: “Sông Vàm Cỏ Tây phía Bắc, sông Tiền phía Nam, sông Bảo Định phía Tây, biển Đông phía Đông; thiệt đúng là chốn nguyên khí tụ. Mai nầy đất nước hữu sự, nơi nầy chắc là nơi khởi sự cứu nguy!”. Đôi lần thấy con chểnh mảng việc học, má rầy cậu Hai: – Má nuôi con ăn học không vì muốn con kiếm đôi ba chữ thánh hiền để làm người. Nếu phải học làm người, thì con học trường đời hà tất học trường Hương Gia Định!

Má dằn từng tiếng:

– Đã học, thì phải đỗ đạt! Năm rồi, Phú Kiết đã có cử nhơn(5). Năm nay, Yên Luông trông cậy vào con, đừng để bà con quê mình thất vọng!

Cậu chưa kịp thưa lời, má nói nhẹ nhàng:

– Vì việc học của con, má cực nhưng không khổ. Má chỉ khổ, khi con lười biếng việc học hành!

Qua mùa trăng thu năm sau, bà con thôn Yên Luông dù nghèo khó hay khá giả thảy đều ngưng việc đồng áng, cùng nhau ăn mừng cậu Hai vừa đỗ đạt(6) và hôm đó, ngay cả tổng Khởi, tổng Hòa Bình cũng có mặt từ sáng sớm để nghinh đón tân khoa!

Mười sáu năm sau! Cậu Hai thôn Yên Luông ngày xưa, giờ đã là tri huyện Tân Hòa, xứ sở nơi ông cất tiếng khóc chào đời.

– Lạy má! Con trẻ không giữ tròn đạo trung với vua…

Huyện Thoại quỳ lạy mẹ.

Gió Gò Công thổi rạp thân dừa nước, xé lá tưa cành.

– Con là tri huyện, khác gì “phụ mẫu dân”. Cướp vô nhà, há lẽ phụ mẫu bó gối ngồi nhìn bọn cướp? Huống hồ, lũ giặc Tây dương xâm lấn bờ cõi Nam Kỳ, đánh chiếm thành Gia Định; quan quân án binh bất động chờ lịnh triều đình?

Má ngưng nói, ngắt thêm thuốc xỉa.

Ngoài bìa rừng dừa, gió mỗi lúc một mạnh và hình như, trời sắp nổi cơn thịnh nộ bão giông.

– Đánh là nghịch ý chỉ vua. Thà nghịch ý chỉ vua, vẫn hơn “thúc thủ quy hàng” để lũ giặc ngông cuồng sát hại dân, tàn phá làng mạc!

Tiếng Sáu Sanh(7) rõ mồn một ngoài hàng ba hiên nhà.

Từ lúc chồng vắn số, người quen Sáu Sanh chuyển cách xưng hô: gọi cô thay gọi bà.

– Chết! Chết! Cô Sáu quá bước ghé chơi, má con tôi không kịp đón tiếp chu đáo. Thiệt thất lễ… thất lễ!

– Người nhà cả, thím Năm nói quá!

Cô Sáu nói gần như muốn giải tỏa cái đạo trung quân của Nho gia đang chế ngự đầu óc kẻ sĩ:

– Trước đây, “trung quân ái quốc” nhưng tình thế bây giờ “ái quốc thương dân”. Nếu mất nước, mất dân thì vua còn đâu “sơn hà xã tắc” để mần vua?

Má con Huyện Thoại chưa kịp rót nước mời khách. Cô Sáu nói luôn:

– Việc vua bãi chức tri huyện của cậu Hai đã thể hiện sự bất lực của vua, cái lúng túng như gà mắc tóc trước kẻ thù xâm lược của triều đình. Quản Định (8) nói: “Huyện Thoại là trang tuấn kiệt thời loạn đất Tân Hòa. Dám làm và làm đúng theo tiếng gọi của lương tri “cứu dân, cứu nước trước khi trung với vua!”. Tui tới đây là để trao thơ của Trương Quản cơ gởi cậu Hai.

Huyện Thoại tiếp thơ, lật đật mở:

“… Đã hèn thì phải hạ mình, đã nhát thì cái gan hư hỏng. Người xưa nói hèn nhát là vậy! Ta hoàn toàn tin huyện quan là đấng trượng phu, bậc anh hùng sẵn sàng cứu dân cứu nước. Hẹn nhau ở đất Gia Thuận…”.

Hình như, ngoài bến nước sông Tra có tiếng quốc kêu gọi bạn!

Hai.

– Ông bà gọi thảo điền, là có ý chỉ vùng đất trũng nhiều bàng sậy, ngập bùn sình nằm giữa các giồng đất. Tháng nắng, đất khô nứt nẻ; tháng mưa, đất lầy lội. Nếu không là nông dân bổn địa thì không thể có kinh nghiệm cày trâu vỡ đất…

Cô Sáu bàn bạc việc quân với Huyện Thoại mà nghe như chừng chẳng hề đá động gì tới việc quân.

Lúc nầy, Trung tá Desvaux chỉ huy quân thủy bộ vào thành Mỹ Tho và cùng lúc đó, liên quân Pháp – Y Pha Nho (Tây Ban Nha) cũng đã đánh chiếm xong Gò Công(9) và chúng gấp rút lập đồn Gò Công.

Huyện Thoại trầm ngâm.

Cô Sáu nói tiếp:

– Đất lầy bã hèm, người ta dùng trâu đực cày đất vì trâu đực móng chưn cao khó mắc lầy. Trâu cái, móng chưn thấp ngắn dùng vào việc kéo rơm rạ sau ngày mùa… Người Gò Công có câu: “Đực trực đồng, cái trực dạ”. Hỏi ra, mới biết đó là câu thành ngữ của người đàng cựu dặn người đời sau, rằng: “Trai phá lũy đạp thành, gái lo hậu cần nuôi chí cả!”.

Cô Sáu ra về khá lâu, nhưng lời cô nói khiến đầu óc Huyện Thoại còn suy nghĩ lung lắm. Bên tách trà sen đậm đặc hương quê nhà, chuyện cũ hiện ra chầm chậm trong tâm trí của ông: Trần Thiện Chánh đậu cử nhơn trước ông một khoa(10) đã không màng tới chức tước và cũng không chờ lịnh triều đình, ông cùng Lê Huy mộ dân binh đánh phủ đầu quân xâm lược Pháp, ngay khi chúng vừa đặt chưn lên đất Gia Định…

Thấy sắc mặt con dàu dàu, má Năm biết tâm tư của con đang trong cơn chấn động. Má nói nhẹ nhàng:

– Con là người có học, là kẻ sĩ mà lại là kẻ sĩ khoa bảng; giống như cây mọc trong vườn thượng uyển. Chả lẽ, con của má, chẳng bằng loài cây mọc nơi bờ ruộng mương vườn?

Nghiêm sắc mặt, má nói tiếp:

– Người xưa thường khuyên: “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật”, có nghĩa buông dao đồ tể thì lập tức thành Phật. Buông hay không buông dao đồ tể là quyền tự do lựa chọn của con, chớ không ai có quyền bắt con phải lựa chọn.

Rồi, má nhấn mạnh:

– Thương nước, thương dân thì đánh bọn xâm lược. Quay lưng với xứ sở, với đồng bào thì hàng quân xâm lược. Cái đó, tùy con!

Dường như thấy lời mình mạnh mẽ, má Năm khẽ nhắc:

– Lúc nầy, tại đây, nếu con chần chờ không dám hành động là có lỗi với bà con làng xóm, là có tội với liệt tổ liệt tông kiến họ Đỗ nhà ta!

Những lời khuyên nhủ của má, những việc đã và đang làm của cô Sáu, khiến Huyện Thoại thôi nản lòng vì bị vua bãi quan và thôi nản chí vì Đại đồn Chí Hòa thất thủ(11). Ông chủ động bắt mối liên lạc với các nghĩa sĩ trong vùng, nhứt là với ngài Phó Quản cơ Trương Định.

Trống cầm canh rớt sang canh khuya buồn sương phụ!

Sáu Sanh thao thức ngó lên bàn thờ chồng, rồi ngó xuống giường bên, ngắm nghía đứa con gái có khuôn mặt giống cha như đúc. Mắt Sáu ngân ngấn và có lẽ, lòng thầm trách chồng: “Sao mình nỡ đi vội để tui thui thủi một mình giữa cảnh nhà tan, nước mất”.

Từ hôm nhận được mật thơ của chị Hai(12) ngoài Huế gởi về, dặn rằng: “Phải… Phải… như vầy… như vầy… Việc nước là hệ trọng, tùy thời mà thủ tiết… Và, tập trung tiền của góp sức vào việc đánh đuổi kẻ thù chung!”, cô Sáu mất ăn mất ngủ, đứng ngồi không yên. Nhiều đêm, cô bồi hồi nhớ lại: Năm mười chín tuổi đi lấy chồng, hai mươi mốt năm sau chịu đời góa bụa. Vợ chồng duyên thắm tình nồng được chín mặt con, thì chỉ còn một đứa gái(13)… Giờ đây, “Trai vì nước quên thân, gái vì nước quên thủ tiết”, nhứt thời làm sao cô tránh khỏi băn khoăn nghĩ ngợi. Má cô thương chị Hai mồ côi mẹ nên dắt chị về nuôi từ nhỏ. Má cô dạy chị công, dung, ngôn, hạnh. Cha cô dạy chị chữ thánh hiền. Năm cô lên bốn, chị đã là mười bốn và rồi chị em xa nhau bởi chị theo cha ra Huế. Sau đó, chị được tiến cung và trở thành Gia phi Từ Dụ của vua Thiệu Trị. Bây giờ, chị là Thái hậu Từ Dụ…

Sáu Sanh xin chị Hai cho thời gian huỡn đãi, thủng thẳng sẽ thực thi chuyện bước đi bước nữa với Trương tướng quân. Còn giờ đây, việc cần kíp là hỗ trợ tiền bạc nuôi quân, khí tài chiến đấu cho Huyện Thoại đánh giặc ngay trên quê hương mình. Cô Sáu là người đàn bà giàu nứt vách đổ tường không những ở Gò Công mà kể cả toàn xứ Nam Kỳ Lục tỉnh. Nhưng, giàu nứt vách đổ tường mần chi, khi xứ sở đang sinh linh đồ thán! Cô Sáu thường trút nỗi lòng mình với Huyện Thoại như vậy!

Minh Mạng lấy vợ họ Hồ ở Thủ Đức, Thiệu Trị lấy vợ họ Phạm ở Gò Công(14). Cả hai đầu Nam-Bắc Gia Định đã cột ràng triều Nguyễn. Tự Đức nhớ quê ngoại cho đắp “con đường sứ”, nối giồng Sơn Quy lên Gia Định(15). Huyện Thoại âm thầm đi thực địa “con đường sứ” nhằm tính kế nghi binh. Đồng thời, cử Đội Lực dò ngả lộ me qua Cầu Huyện để tập kết quân. Ông cũng không quên cảnh giác tàu Pháp có thể từ Mỹ Tho xuống tiếp viện Gò Công, một khi đồn Gò Công bị nghĩa binh tấn công. Và, nếu vậy, tàu chiến của chúng chỉ có một thủy trình duy nhứt là theo sông Cửa Tiểu vô Vàm Giồng, đến vàm Vểnh Lợi rồi tiếp tới rạch Gò Công… Nghĩa binh của ông đủ sức ngăn chặn chúng!

Ba.

Lẽ thường, người phụ nữ sẽ mất họ tên, thứ bậc của riêng mình sau khi đi lấy chồng. Đằng nầy, cô Sáu không hẳn như vậy. Người quen biết cũ ở xứ Gò Công vẫn kêu Sáu Sanh là cô Sáu, chớ không kêu bà Bá hộ Bổn dù đã hai mươi năm sống cùng chồng. Cô Sáu ưa nói với người thân:

“Cái mạng còn chưa chắc đã giữ được, thì tiền của chắc gì mà giữ được. Nếu phải vì việc nghĩa, ta chẳng tiếc chi cái mạng”. Huyện Thoại hoàn toàn tin ở cô Sáu, người tạo mọi điều kiện cho nghĩa binh chuẩn bị tập kích quân Pháp vừa đặt chưn lên đất Gò Công. Tin mật báo cho hay, quân viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha sẽ chọn một trong ba ngả đường sông: Rạch Chanh, Kinh Trạm tức sông Bảo Định và sông Cửa Tiểu từ biển thọc vào để đánh chiếm Định Tường. Huyện Thoại cùng bộ tham mưu đánh giá tình hình: “Giặc không thể sử dụng Rạch Chanh vì rạch cạn, hoang vu sẽ cản trở tàu chiến. Chắc chắn giặc tập kết quân tại vàm Vũng Gù (Tân An), dùng pháo hạm phá vỡ các đập cản trên sông Bảo Định dù chúng phải trả giá thiệt đắt…”. Tuy vậy, Huyện Thoại vẫn quả quyết: “Giặc sẽ chơi trò ‘thanh Đông kích Tây’ trong tam thập lục kế của Tôn Tử”.

Rồi, ông liên tưởng tới chuyện Khổng Minh ra lịnh cho quân nổi lửa hẻm Hoa Dung, vốn tính đa nghi nên Tào Tháo cho rằng Lưu Bị dùng kế dương Đông kích Tây bèn chọn chính hẻm Hoa Dung đành sụp bẫy của quân Quan Vũ… Là người Nho học, lại là một cử nhơn đất Gia Định, thì cái bọn giặc Tây dương kia làm sao che nổi được mắt ông! Huyện Thoại mỉm cười… Ông tiên liệu và định việc:

– Đường tiến quân của giặc ở sông Bảo Định chỉ là diện, đường tiến quân của giặc từ hướng biển vô sông Cửa Tiểu mới là chính điểm. Thành Mỹ Tho sẽ hoảng loạn và thất thủ nhanh chóng bởi đường tiến quân nầy. Có khi, giặc chưa đánh mà tướng giữ thành đã bỏ chạy.

Hồi lâu, Huyện Thoại càu nhàu, cau có một mình: “Dẫu rằng biết vậy, nhưng với võ khí thô sơ làm sao đánh pháo hạm, tàu chiến giặc ngay “chính điểm Cửa Tiểu” để cứu thành Mỹ Tho?”. Đúng như dự đoán của Huyện Thoại, cả ba pháo hạm1 từ biển tiến vào Cửa Tiểu phá đập ngăn sông tại vàm Cửa Tiểu (Gò Công), vàm Kỳ Hôn (Chợ Gạo) và đồng thời, chúng đánh tan hai đồn binh giữ đập ngay trong buổi sáng, đến xế trưa cùng ngày, mũi quân đi đường biển vô Cửa Tiểu chiếm thành Mỹ Tho theo kiểu “bất chiến tự nhiên thành”. Ba pháo hạm Fussées, Lily, Sham Rock do Chuẩn Đề đốc Page chỉ huy. Ngày 12.4.1861, khoảng 13 giờ 30 phút trưa, Chuẩn Đề đốc Page cùng đoàn quân vào thành Mỹ Tho không gặp phải một sự kháng cự nào từ phía quân triều đình. Trong lúc đó, mũi quân đi đường sông Bảo Định phải chịu tổn thất nặng và hai hôm sau, mới tới thành Mỹ Tho mang theo xác Trung tá Bourdais.

***

Gò Công thất thủ!

Dân tình nhốn nháo nhưng không bất ngờ, bởi họ hiểu “cái gì đến tất sẽ đến” sau khi Đại đồn Chí Hòa vỡ trận. Cô Sáu tìm gặp Huyện Thoại ngay trong đêm đầu tiên bọn xâm lược liên quân Pháp – Tây Ban Nha ngả lưng lên mặt đất Gò Công.

– Chậm gì thì chậm, nhưng không thể chậm hơn hai tháng nữa, khoảng Tết Đoan Ngọ… Thoại nầy sẽ ra tay!

Tiếng côn trùng kêu rả rích từng chập từng hồi ngoài ruộng, sau cơn mưa chiều ngập nước trắng đồng. Đêm vắng lặng và hy vọng. Thỉnh thoảng có tiếng súng nổ vu vơ của bọn lính viễn chinh, có lẽ nhớ nhà hoặc giả sợ ma nơi đất lạ!

– Cô Sáu yên tâm! Cô Sáu giúp ta và nghĩa quân theo đúng kế hoạch vừa vạch ra… Chỉ cần nhiêu đó là đủ!

Mặt trời đỏ ối buổi rạng đông!

Trung úy Paulin Vial, Trưởng đồn kiêm Giám đốc bổn xứ sự vụ Gò Công, đứng trên bờ thành đất, một tay chống nạnh, một tay chỉ trỏ đôn đốc dân phu cắm cọc, dựng rào cặp theo mé hào sâu bảo vệ đồn.

Tháng nay, từ ngày bọn Tây chiếm đất, Tư Nhạn người em kết nghĩa ruột rà với cô Sáu, cầm đầu nhóm con gái xứ Tân Hòa lân la bọn Tây, phục vụ chúng những món ăn đặc sản của miền quê ngoại vua Tự Đức. Riết rồi quen dần và thân thiện. Vả lại, “gái nào đẹp cho bằng gái Gò Công” thì bọn lính viễn chinh làm sao “bình chưn như vại”!?

– Mời quan hai(16) ngưng tay, uống nước dừa xiêm, ăn mộng dừa của em, nè!

Viên Trung úy nghe “của em, nè!” kèm hai tiếng “mộng dừa” của Tư, đôi mắt sáng rỡ. Bởi, cả tháng nay, hắn quen ăn mộng dừa, một món ăn dân dã nơi vùng đất hắn chiếm đóng mà ở trời Âu, nơi quê nhà của hắn chưa từng nghe, nói chi thấy. Hắn đút tay vô túi quần, rút khăn mu-soa (mouchoir) lau mồ hôi lấm tấm trên cái bản mặt dài sọc, thoạt ngó giống như mặt ngựa. Dân phu xây đồn gọi hắn là “quan hai mặt ngựa” hoặc để kêu cho gọn, dân phu gọi “Tây mặt ngựa”. Hắn nhai ngấu nghiến một hơi hết sạch ba cái mộng dừa. Hình như, hắn “khoái chí tử” rằng, mộng dừa là mộng đẹp gì đó, thì phải!

Nhiều lần qua tên thông ngôn, Tư giải thích cho hắn hiểu cái mộng dừa mà hắn thèm ăn chết mê chết mệt!

– Trái dừa khô lên mầm, trổ cây. Thường do để ở kẹt nhà hoặc chỗ mấy cái lu nước ẩm ướt, sau thời gian ngắn, nó lên mộng nứt da. Mộng dừa chính là cái phần mầm nở bự trắng nõn nà phía trong trái dừa. Mộng dừa thoang thoảng hương thơm đồng quê, khi nhai nghe sực sực, xốp xốp… kích thích miệng và đỡ khát cổ họng.

Mọi diễn biến tiếp cận và vẽ họa đồ đồn Gò Công, Tư làm rất tốt.

Tháng Năm, theo con trăng, trời thường nắng sớm mưa chiều và đêm chưa nằm đã sáng. Huyện Thoại tính toán kỹ về thời gian, thích hợp với thiên văn để đánh vỗ mặt quân thù và nhổ đồn Gò Công.

Cô Sáu dặn dò Tư Nhạn kín đáo và khéo léo rắc bột thuốc tiêu chảy lên từng cái mộng dừa theo đúng dự kiến của kế hoạch Huyện Thoại.

Huyện Thoại không sử dụng lực lượng mấy trăm nghĩa binh đang tập kết, ém quân ở Lộ Me vì không thể đánh cường tập vào đồn Gò Công bằng võ khí thô sơ giáo mác, búa chày… chống võ khí tối tân súng đạn. Chờ thuốc tiêu chảy kích hoạt bụng dạ bọn Tây ăn mộng dừa, Huyện Thoại trực tiếp dẫn hai mươi dũng sĩ đất Gò Công xông thẳng vô đồn đánh cận chiến, giải quyết chiến trường nhanh, gọn trước lúc bình minh ló dạng.

Cơn mưa chiều tạnh từ rất lâu.

Trời trở đêm sang khuya, sương mù dày đặc!

Trung úy Trưởng đồn và đám lính chột bụng đi đại tiện liên tục khiến thân thể phờ phạc, mất sức. Thình lình, phía “con đường sứ” lửa cháy xé toạc màn đêm. Huyện Thoại cùng hai mươi dũng sĩ đạp chướng ngại vật, mở toang cửa đồn tràn vào như cơn lốc sóng thần. Bọn lính Tây trở tay không kịp, thất kinh hồn vía chạy tán loạn.

Đêm tối mịt(17), chỉ thấy nhau qua ánh chớp ngoằn ngoèo của sấm sét nổ um trời. Huyện Thoại túm tóc Trung úy đâm mạnh một phát về hướng cổ họng, nó vùng mạnh, lưỡi mác xượt xéo bả vai. Nó rống lên tiếng rống như heo bị thọc huyết! Thế trận bắt đầu giằng co, tụi Tây lần hồi hoàn hồn và mỗi lúc sự bất lợi nghiêng hẳn về phía nghĩa binh. Huyện Thoại bị dính đạn trọng thương.

Bầu trời tỏ dần, từng cụm mây trắng tản ra, nhùng nhằng kéo dài như những dải khăn sô viền quanh mặt trời từ từ nhô lên khỏi mặt nước biển tụ màu đỏ ối, đỏ hơn máu!

Bốn.

Huyện Thoại cùng hai mươi dũng sĩ đất Gò Công, không một ai còn sống sót để quay về!

Hôm đưa xác con về chôn cất ở đất nhà (18), má Năm cầm nắm đất buông xuống huyệt:

– Thoại ơi! Không uổng công má nuôi con ăn học thành người!

TRẦN BẢO ĐỊNH

_______________

  1. Đỗ Trình Thoại (1815(?)-22.6.1861) người thôn Yên Luông, tổng Hòa Bình, huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, trấn Định Tường (nay là ấp Kim Liên, xã Long Hòa, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang).
  2. Nay là xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An (xưa thuộc huyện Cửu An, phủ Tân An, tỉnh Phiên An và sau đó là tỉnh Gia Định).
  3. Núi Chứa Chan (Long Khánh), núi Mây Tầu (Phước Tuy, nay là Hàm Tân).
  4. Núi Bà Rá (Phước Long), núi Đồng Long (Bình Long), núi Bà Đen (Tây Ninh).
  5. Âu Dương Xuân (thân phụ Âu Dương Lân) người thôn Phú Kiết (Định Tường), đỗ cử nhơn thứ 9 khoa Nhâm Dần, 1842.
  6. Đỗ Trình Thoại đỗ cử nhơn khoa Quý Mão (1843).
  7. Trần Thị Sanh (1820-1882) vợ thứ của Trương Định. Bà là con thứ sáu của ông Trần Văn Đồ và bà Phạm Thị Phụng (bà Phụng là em gái ông Phạm Đăng Hưng, cô ruột bà Phạm Thị Hằng tức Thái hậu Từ Dụ, mẹ của vua Tự Đức). Như vậy, Thái hậu Từ Dụ với bà Trần Thị Sanh là chị em cô cậu ruột.
  8. Trương Định (1852) làm Phó Quản cơ đồn điền, và từ năm 1862, bà Trần Thị Sanh là nguồn hậu cần của nghĩa binh Trương Định cho tới ngày 20.8.1864, Trương Định hy sinh.
  9. Ngày 14.4.1961.
  10. Trần Thiện Chánh (1822-1874), người thôn Tân Thới Tây, tổng Long Tuy Thượng, huyện Bình Long, tỉnh Gia Định (nay là ấp Thới Tây 1, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Tp.HCM). Ông đậu cử nhơn thứ tư, khoa Nhâm Dần (1842), đồng khoa với Âu Dương Xuân (thân phụ Âu Dương Lân).
  11. Ngày 25.2.1861.
  12. Bà Phạm Thị Hằng, vợ vua Thiệu Trị, tức Thái hậu Từ Dụ, mẹ vua Tự Đức (15).
  13. Bà Trần Thị Sanh có đời chồng trước là Bá hộ Dương Tấn Bổn (mất năm 1860), sinh được chín người con (mất 8 còn 1 là gái tên Dương Thị Hương). Sau nầy, bà Hương lấy chồng là ông Huỳnh Đình Ngươn, cha của chí sĩ Huỳnh Đình Điển (người đã giao Nam Kỳ lữ điếm cho ông Trần Chánh Chiếu làm trụ sở phong trào Minh Tân ở Mỹ Tho; đồng thời, cũng là người góp phần lo hậu sự khi cụ Phan Châu Trinh mãn phần lúc 21 giờ 30 phút ngày 24.3.1926) và tang lễ được cử hành tại Bá Huê lầu, 54 đường Pellerin, Sài Gòn (cơ sở của Huỳnh Đình Điển).
  14. Phạm Thị Hằng là con dâu bà Hồ Thị Hoa.
  15. Năm 1848, vua Tự Đức cho khởi công đắp “con đường sứ”, còn gọi “con đường Trạm” (sau nầy gọi đường cây dương hoặc lộ dương). Nay là Quốc lộ 50 (Tp.HCM đi thị xã Gò Công).
  16. Cách gọi theo số thứ tự cấp bực sĩ quan Pháp của dân gian (thiếu úy là quan một, trung úy là quan hai… tới đại tá là quan sáu).
  17. Tức đêm 21 rạng 22 tháng 6 năm 1861 (Tân Dậu).
  18. Mộ Đỗ Trình Thoại, hiện nay ở ấp Kim Liên, xã Long Hòa, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Giữ chút hương thầm

Đặng Phú Phong

.

Đói bạn. ba năm hoa vẫn đợi

Tách trà hâm nóng nghĩa hoa ngâu

Vắng bạn cafe sao nhàn nhạt

Vô thường nghĩ cũng một niềm đau

.

Phố vẫn đông mà ta đi vội

Tránh ánh nhìn quen một buổi nào

Không phải người kia thôi đứng đợi

Chỉ vì ta đã bước qua mau

.

Có lúc soi mình trong gương nước

Thấy tay buông sớm một nhành xuân

Chưa kịp gọi tên thành ly biệt

Đã nghe hiu hắt giữa phân vân

.

Thôi thì giữ lại phần chưa nói

Như giữ hương thầm đã nhạt phai

Không trách một ai, không tự hỏi

Chỉ buồn vừa đủ để còn ai

Quy Nhơn Ngày Trở Lại

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

( Viết tặng các bạn bè ngày xưa và các học trò cũ dấu yêu của tôi)

Quy nhơn ơi –

Tôi trở về lần nữa.

Đã bao năm …Hay chỉ mới hôm qua

Bước chân run- Lữ khách trở về nhà

Mưa trên lá- hay hồn ai đẫm lệ.

Quy nhơn ơi –

Bao con đường óng ả….

Ánh điện chói ngời…. nhớ bóng đèn xưa

Những đường ổ gà- ướt đẫm cơn mưa

Áo sũng nước-bàn tay run vuốt vội

Quy nhơn ơi-

Biển mang cơn sóng vội

Những thông xưa…E ấp bóng ngang mày

Nay trở về- bóng nắng đổ trên tay

Hàng thông cũ vươn cao…reo với gió

Quy nhơn ơi –

Nắng hôm nay đùa gió

Cháy bỏng thịt da- Không dịu mát như xưa

Tôi trở về…đi hoang giữa nắng trưa

Bao kỷ niệm ùa về…xôn xao niềm vui óng ả

Quy nhơn ơi –

Trời không mây …sao chở hạt mưa sa

Hay nước mắt nhạt nhòa …hòa nỗi nhớ

Chân bước vội những con đường bỡ ngỡ

Kỷ niệm còn … chân bước mỏi ruổi rong

Quy nhơn ơi

Luôn nhớ mãi trong lòng….

Những gió, những mây, trời cao xanh thẳm

Những lối ngày xưa nay bỗng như lạ lẫm

Những đường nào …nay đã bị thay tên???

Quy nhơn ơi-

Những bạn bè của tôi nay gặp lại

Ôi tiếng bạn cười…rạn vỡ, thân thương

Nắm tay nhau đi hết mấy đoạn đường

Thành phố cũ- luyến lưu lòng lữ khách.

Quy nhơn ơi-

Tôi sẽ về ôn lại…

Đoản khúc tình yêu- Chép giữa hư không

Tôi sẽ trở về khi gió rét trời đông

Gom hết gió…gom nắng vàng…hong khô bàn tay cóng.

Quy nhơn ơi-

Tôi mong về gặp lại

Những học trò ngày cũ mãi luyến thương

Cô trò tôi …qua biết mấy đọan trường

Nay gặp lại… mái đầu cùng chớm bạc

Quy nhơn ơi-

Tôi sẽ về ở lại

Vùng đất thân yêu , ngắm biển từng chiều…

Gặp lại trò xưa, khi bóng đổ liêu xiêu

Nhắc chuyện cũ sau bao niên xa cách

Quy Nhơn ơi-

Mùa Xuân này hay còn bao xuân nữa…

Kẻ tha phương…còn trở lại mái nhà xưa…

Atlanta January 10th 2026

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

Nguyễn Ngọc Hưng

.

Rét cuối đông như cứa vào da thịt

Ba lớp mền vẫn thon thót ngực run

Ôi trời đất trụi trần cây cỏ khóc

Đã không thương còn thổi bấc phun phùn.

.

Phùn dọc bấc ngang gác lầu cũng lạnh

Huống gì rạ rơm chiếc tổ treo cành

Con khô mỏ chờ mẹ bay ướt cánh

Buốt lưng ngày chiu chíp chíp chiu xanh.

.

Chíp bổng chiu trầm bụng sôi dạ réo

Ôm vỉa hè nguôi đói lạnh không em

Mùi thịt nướng bánh xèo thơm dậy mũi

Hít gió khan khan có đỡ khát thèm?

.

Thèm ngược khát xuôi không ngoài bếp lửa

Bên mẹ cha giòn rụm trẻ thơ cười

Lục sục bánh chưng reo nồi tỏa khói

Nheo mắt vàng mai héo bỗng xòe tươi…

.

Đôi héo ba tươi năm mười hối hả

Muôn ngả người trực chỉ một bến quê

Rét cuối đông dần lui theo hơi ấm

Những bàn tay nâng đỡ bước xuân về!

Từ giã mù sương.

Đặng Phú Phong

.

Cường gặp Quyên trong một buổi chiều muộn ở Đà Lạt, khi thành phố chìm trong lớp sương mỏng như một nhúm khói ai quên dập. Quyên đang ngồi một mình bên cửa sổ quán cà phê Tùng, tay vuốt nhẹ trang giấy nơi nàng vừa viết dở một bài thơ.

Nàng đội chiếc nón len màu tro, gương mặt đẹp kiểu đàn bà từng trải nhưng vẫn giữ nét thanh khiết như sương đêm. Ánh mắt nàng biết lắng lại, nhưng không bao giờ dừng — luôn như đang đi tìm một câu thơ vừa chạy mất.

Cường bị hút lấy từ khoảnh khắc ấy.

Anh hỏi, giọng đàng hoàng, không chút bởn cợt:

– Hình như cô đang làm thơ?

— Thơ viết tôi thì đúng hơn. — Quyên mỉm cười, hơi ngả đầu, giọng nhẹ như một thánh ca đứt quãng. Sự tự tin hiện rõ trên khuôn mặt lạnh.

Họ nói với nhau suốt hai giờ, như thể quen nhau rất lâu rồi. Cường không ngạc nhiên khi nghe nàng kể về cuộc đời cũ ở Sài Gòn:

Chủ một công ty quảng cáo thành công, những buổi họp dồn dập, những chiến dịch triệu đô… rồi một cuộc ly dị khiến tất cả như hóa khói.

— Em lên Đà Lạt vì mệt quá. — Quyên nhìn ra trời sương — Và vì em cần một nơi mà hạnh phúc không phải chứng minh.

— Còn hôn nhân?

— Em kết hôn vì thích cái không khí tịch mịch gần như… siêu hình của giáo đường. Vì anh ta có đạo. Tiếc là siêu hình thì đẹp, còn đời sống thì không phải thế.

Cường nhìn nàng, thấy một người đàn bà vừa mềm vừa thép — đẹp như ánh nến, nhưng cháy bằng thứ dầu của cô độc.

Chỉ một tháng sau, anh và nàng dọn về căn biệt thự nhỏ trên đường Hùng Vương — một ngôi nhà ngập thông, tường đá rêu phong, cửa sổ gỗ mở ra thung lũng.

Ban ngày, họ lang thang qua những quán cà phê có nhạc jazz cũ:

Tùng, Boho, Escape…

Quyên hay ngồi xoay muỗng cà phê và hỏi những câu tưởng đơn giản nhưng đâm rất sâu:

— Anh yêu phụ nữ hay yêu cái cảm giác được ở trong một cuộc tình?

— Cả hai. Em thì sao?

— Em yêu người nào chịu được bóng tối của em.

Cường cười, nhưng trong lòng hơi gai gai. Anh nhủ thầm – Bóng tối của em đặc quánh như hắc ín làm sao anh bước vào được.

Những tối Đà Lạt lạnh cắt, họ trở về biệt thự, đốt lò sưởi, đốt nến thơm mùi tuyết thông, nghe nhạc và uống rượu.

Họ nói chuyện văn học nghệ thuật

Anh lắng nghe nàng, đôi khi không hiểu hết, nhưng say mê chất lãng mạn lãng đãng của nàng.

— Hai đứa mình giống nhau ở điểm nguy hiểm nhất, — Quyên nói — ai cũng nghĩ mình hiểu đời và hiểu tình yêu hơn người còn lại.

Cường cười, không phản đối

Khoảng một năm sau, sự mâu thuẫn giống như những trận sương dày của thành phố này, không phải đến vì bão, mà đến âm thầm và mãnh liệt.

Một tối, trong lúc chỉnh lại giá vẽ, Quyên nói:

— Anh lúc nào cũng muốn em theo nhịp của anh.

— Còn em?

— Em cũng muốn anh theo nhịp của em.

Họ nhìn nhau, cả hai cùng bật cười. Nhưng đó là nụ cười của người nhận ra trước mặt là vực sâu mà không biết làm sao lùi lại.

Những cuộc trò chuyện vốn đầy thi ca bắt đầu có những đường nứt không nhỏ:

— Tại sao anh hay lơ đãng?

— Em quá để tâm vào cảm xúc của mình mà quên mất anh đang hiện diện bên em.

— Còn anh thì trôi như mây, không chịu ở lâu với điều gì.

— Ở lâu thì dễ buồn.

— Buồn mới là chỗ thật của con người, Cường!

Đêm nọ, Quyên ném quyển sổ tay xuống bàn.

— Tình yêu với anh giống như một bản nhạc chỉ có đoạn mở đầu. Lúc nào cũng đẹp nhất ở những nốt đầu tiên.

Cường im lặng trước sự thông minh của nàng. Và anh chợt nhận ra những cá tính đặc biệt cũng như sự thông minh ấy như một cái thòng lọng ngày càng siết cổ anh.

Nàng tiếp, giọng run nhẹ:

— Em với anh giống nhau quá. Ai cũng nghĩ mình yêu nhiều hơn, hiểu hơn, nên không ai chịu buông cái tôi xuống. Hai người như tụi mình yêu nhau… là một giấc mơ vừa đẹp vừa sai.

Cường muốn ôm nàng, nhưng Quyên lùi một bước.

Giáng sinh năm đó, trời Đà Lạt lạnh bất thường. Những dải đèn vàng treo trước Nhà thờ Con Gà hắt xuống sương như những ngôi sao rơi bị kẹt nửa chừng.

Cường và Quyên đứng cạnh nhau, nhưng khoảng cách giữa họ dày hơn cả hơi lạnh.

Tiếng chuông nhà thờ vang lên. Quyên kéo chiếc khăn choàng lại, mắt không rời tháp chuông.

— Cường… mình dừng lại đi.

— Em nói chơi?

— Không. Chúng ta yêu nhau bằng cùng một sự kiêu hãnh. Và chính điều đó giết tình yêu.

Sương bay qua, làm tóc nàng ướt nhẹ.

Cường muốn nói “Anh yêu em”, nhưng cổ họng như bị gió siết lại.

— Anh sẽ nhớ em. — anh thì thầm.

— Em biết. Nhưng anh sẽ không nhớ nếu ở gần em. Chỉ khi xa, em mới là thơ trong mắt anh.

Một câu nói đẹp. Và tàn nhẫn.

Quyên quay đi.

Trước khi bước xuống bậc thềm nhà thờ, nàng ngoái lại:

— Em mong một ngày anh học được cách yêu mà không đứng soi mình trong tình yêu đó.

Nàng bước vào màn sương trắng mỏng. Ánh đèn đường nuốt lấy bóng nàng rất nhanh, như thể Đà Lạt biết che giấu những cuộc chia ly đẹp nhất.

Cường đứng lại rất lâu. Gió lạnh quất vào mặt anh. Chuông nhà thờ vẫn vang lên mà lòng anh thì rỗng toang như ngôi giáo đường đã gỡ hết tượng thánh.

Đêm đó, anh biết,

đây không phải là cuộc chia tay của hai người. Mà là cuộc chia tay giữa anh và cái ảo tưởng rằng anh biết yêu.

Chợ thiệp

Không tính tới lúc Terry Jacks hát “Season in the sun” (1974). Trước đó, Sài Gòn đã có rất nhiều bài hát, Tây Ta có đủ, về “mùa nắng đẹp” Giáng Sinh. Cái mùa mà Sài Gòn hơi se lạnh vào những buổi sớm mai. Những chàng trai, cô gái Sài Gòn cũng điệu đàng hơn một chút, với chiếc áo khoác mỏng nhiều màu sắc bên ngoài chiếc áo chemise, hay áo dài, khi ra phố buổi tối.

Nhạc “Giáng sinh” thì tuỳ, bạn có thể thích thì nghe, không thì thôi! Nhưng có những chỗ bạn phải ghé ít nhất một vài lần trong năm. Nó thuộc về thói quen, về lối sống và văn hóa của người Sài Gòn cũ.

Nó nằm rải rác trong nhà sách, trên hè phố, hay trước dãy tường bên hông những Nhà thờ. Nhiều nhất và cũng đông vui nhất là những con đường nằm cạnh Bưu điện Sàigòn.

Nơi đó bán duy nhất một thứ quen thuộc, quen tới mức không cần tìm hiểu nó có từ đâu và từ hồi nào. Những tấm thiệp. Thiệp Giáng sinh, thiệp Năm mới. Một tờ giấy cứng gấp đôi, bên ngoài in hay vẽ những hình ảnh tuyệt đẹp, nhiều màu sắc, tượng trưng cho một mùa. Phần giấy trắng bên trong là để ghi những lời chúc lành cho nhau.

Người Sài Gòn có thói quen gửi thiệp Giáng sinh, thiệp Năm mới cho bạn bè, người thân. Gần thì trao tay, xa thì nhờ Bưu điện. Cánh thiệp là cách biểu hiện tình thân, là cách kết nối và quan tâm lẫn nhau. Nó như một nhắc nhở, một cách gián tiếp nói rằng tôi vẫn bình an và tôi đang nhớ tới bạn. Những lời cầu chúc tốt đẹp tôi viết gửi trong tấm thiệp là tấm lòng của tôi gửi cho bạn. Nó đáng quý biết chừng nào.

Những tấm thiệp sẽ được cất kỷ trong ngăn kéo, hoặc sẽ được treo lên cây thông Noel, hay cây mai cây đào ngày Tết. Nó vừa để trang trí, vừa để nói lên rằng bạn đang có mặt ở đây, đang cùng với gia đình chúng tôi đón một mùa Giáng Sinh, một Năm mới an lành và hạnh phúc.

Những năm tháng còn đi học, lang thang đi lựa mua thiệp là một cái thú. Người nhận khác nhau, những tấm thiệp và lời chúc bên trong cũng khác nhau. Nhất là gửi thiệp cho người con gái mình yêu thích. Với tôi là thứ khó khăn vô cùng. Phải cân nhắc, phải thận trọng khi viết từng câu, từng chữ. Tới lúc đưa, lúc gửi thiệp cũng hồi hộp. Và rồi nhận lại cũng…hồi hộp!

Cũng không chỉ có thiệp, thân tình hơn, người ta tặng cho nhau những món quà nhỏ. Những món quà mang ý nghĩa riêng tư của người cho và nhận. Sài Gòn không có mùa Đông, mùa Đông ở trong lòng người! Những món quà làm xích lại gần nhau hơn, làm ấm lại cái tình trong chút gió lạnh đầu Đông!…

Giờ thì nhanh gọn hơn nhiều. Có nhớ tới nhau, người ta chỉ cần mở máy vi tính, tìm một cái tên, tìm một tấm hình với lời chúc có sẵn rồi bấm gửi, thế là xong!

Quá tiện lợi và dễ dàng. Dễ tới mức như trả nợ. Người gửi cho có, người nhận thờ ơ.

Chẳng ai quan tâm tới cái đẹp vô hồn của tấm thiệp và những lời chúc sáo ngữ trong đó. Tất cả chỉ còn mang tính hình thức.

Để rồi, nếu như tình cờ nghe được mấy câu hát:

“Mong ước ngày sau như là ngày trước

Tay trong tay nhớ lúc trao thiệp đầu Xuân”*, mới thấy nhớ, thấy tiếc!…

Cái tiện dụng làm mất đi sự rung động, làm tê liệt những cảm xúc. Làm giết chết một thói quen đẹp. Làm mất đi một thứ văn hóa đáng yêu và đầy thi vị…

Chỗ bán thiệp cũng không còn nhiều. Không sao! Tôi sẽ tự đãi mình một bữa tiệc Giáng Sinh, bằng cách xuống phố, tìm mua vài tấm thiệp. Một cái để tặng mình và những cái còn lại dành tặng cho…kỷ niệm!

Vài cái thiệp hình cây thông hay ông già Noel “Merry Christmas And Happy New Year”. Vài cái thiệp tràn ngập những cánh mai vàng rực rỡ, hay hình ảnh: “Có cô con gái nhà ai – Mẹ cho mặc chiếc áo dài đón Xuân…”!

Cũng đáng để làm trong một ngày nắng đẹp, trong đầy rẫy những bất trắc và âu lo thường nhật…

Và nếu như tình cờ, bạn nhận được một tấm thiệp vào dịp Giáng Sinh, Tết… Có nghĩa là ở một nơi nào đó, có người luôn nhớ tới bạn và những câu chữ trong đó là những yêu quý rất thực!…Hãy ôm giữ và trân trọng cái hạnh phúc đó, bạn nhé!

Đêm thành phố

Hồ Thi Ca

.

Đêm thành phố không có ánh trăng

Em kín đáo tựa vai anh nhỏ nhẹ

Bập bùng ở đâu một ngôi sao rất khẽ

Chiếc lá rơi nghiêng cả ghế công viên

.

Đêm thành phố chỉ thấp thoáng ánh đèn

Trong âm thanh em không tiếng ồn xe cộ

Hai đôi mắt không còn vương bụi khói

Nhạc chạm vào lòng từ một khoảng cách xa

.

Đêm thành phố mỏng như một cành hoa

Khép lại ngủ, chỉ mùi hương đầy ứa

Mà chúng mình có phải là dòng nhựa?

Chảy trong cây mai hoa nở mặt trời

.

Đêm thành phố mềm khúc nhạc của đời

Những ngôi sao hoá thành dấu lặng

Bàn tay em mười nốt đen nốt trắng

Thức trong anh bản giao hưởng không đề

.

Đêm thành phố như người đi xa về

Thấy căn phòng mình cái gì cũng mới

Em không hỏi mà sao anh muốn nói

Gặp nhau luôn vẫn là mới lần đầu

.

Đêm thành phố nghìn năm làm chiếc cầu

Cho ngọn đèn hẹn ngôi sao nhấp nháy

Em đến với anh sau những giờ trông đợi

Ai là ngọn đèn? Ai là ngôi sao?

Không có em thì anh biết đi đâu

Khi thành phố lên đèn và ngôi sao nhấp nháy

.HTC

                                      

Truyện của Nguyễn Trí

.

             Nguyễn Sông là con thứ năm trong một gia đình gồm mười anh chị em. Thường gọi Năm Sông. Thực ra là Xông với nghĩa xông pha chứ không phải là dòng hay con sông. Nguyễn Ngạn – chồng và cha – của bầu đoàn thê tử dài thòng lòng bảo rằng lỗi tại thằng làm khai sanh. Nó đánh máy nhầm xông pha ra sông hồ. Nhưng mà sông hay xông cũng chẳng chết ông chết cha chi với nghèo túng và đông con. Thực ra cái tên quan trọng lắm với đời một con người. Ông cha có câu “xem mặt đặt tên”. Lịch sử văn học Việt Nam viết rằng, thi rớt nên Trần Tế Xương đổi chứ lót là Tế thành Cao. Vẫn rớt nên ông than rằng: “ Tế đổi thanh Cao nên sự thế. Kiện trông ra Tiệp hỡi giời ôi”. Đó là mới chữ lót, đằng nầy cả cái tên là hệ lắm chứ chẳng chơi. Bằng chứng là đời của Năm Sông đúng là ba chìm bảy nỗi mười một cái linh đinh chứ chín chả bì được.

         Học hành được một dúm chữ, lại dỡ ẹc. Ông Ngạn nói với Sông rằng mày có học bao nhiêu cũng chặt củi đốt than chứ, chả khá được khi cha mày là lính đánh thuê. Nghe vậy Sông lao ra sân ga bến tàu sống đời chợ búa. Theo chúng bạn vượt biên vượt biển chi đó bị lao cải hết hai mươi bốn tháng. Về đời được ba tháng lại bị thộp về tội phá đoản nhập nha. Đúng là ngựa quen đường cũ không tù là không được. Sau bảy năm cả tù cả lao cải Sông làm lại đời bằng cách lấy vợ. Vợ của Sông cũng đầu bờ cuối bãi có cái kém nhưng cũng có cái hơn Sông. Sông vượt biển bị thộp chứ cô thì thành công mỹ mãn. Cô có chồng, lúc bầu bì thằng khốn kiếp bỏ cô chạy theo con khác. Cha má cô nghèo chết ông bà cố tổ nhưng sĩ diện lắm. Họ không chấp nhận con gái bỏ cha bỏ mẹ đi theo tiếng gọi tình yêu. Cô vượt biển một mình, nuôi con một mình. Giang hồ tên Sông một ngày nọ gặp sương phụ bèn nói rằng thương ai cũng vậy thương anh anh cám ơn.

      Vậy là ra một cặp.

      Họ sống với nhau cho đến ngày Sông chầu trời vì bứt mạch máu não. Có với nhau ba đứa con chưa kể thằng con mà cô vợ vượt biển một mình. Đi qua tám tỉnh thành, mỗi lần đi là mỗi lần mua bán một căn nhà. Lưu lạc vậy nên nói Năm Sông chín linh đinh là phải quá. Lần cuối cùng nhà của Sông cao tốc chạy qua trụm lùm lụm. Vậy là được đền bù một mớ kha khá và một lô thổ trên tái định cư. Những tưởng thoát được cảnh “Cuối năm rót rượu ngay hẻm cụt. Nhà của ai chắn cuối đường đi…” ngờ đâu định mệnh của – những dòng sông – là muốn ra được biển xanh bát ngát phải qua thác qua ghềnh qua cheo leo khấp khểnh.

       Định mệnh của Năm Sông là của những dòng sông.

       Năm hai mươi tám tuổi thằng Bon – con riêng của Huệ – bà xã Sông, đem lòng đắm say một ngọc nữ. Dùng chữ ngọc nữ là bởi cô đẹp ơi là đẹp. Mặt đẹp và duyên thì chớ thể hình của cô cũng trên cả tuyệt vời. Trai theo cô gái tên Hạnh Thảo nầy cả một sư đoàn nhưng cô chỉ thích một anh Bon. Cặp kè được với người mình yêu là hạnh phúc. Đúng không? Chưa chắc đâu. Yêu và được yêu là môt chuyện còn hạnh phúc là chuyện khác. Để có được hạnh phúc phải hội tụ nhiều yếu tố. Hai yêu tố quan trọng vào bậc nhất là tiền và tình. Chả có hạnh phúc nào trong lều tranh với hai quả tim vàng đâu mà ham. Tình ở đây thì yêu là nhỏ. Giường chiếu mới lớn. Thằng đàn ông mà chưa tới chợ đã hết tiền thì hạnh phúc là cái con có tên “thôi rồi”.

        Bon là thằng người như vậy.

        Trước đó giang hồ lão luyện Năm Sông đã cảnh báo với Bon rằng con bé Hạnh Thảo có đôi mắt bén như dao cau, cặp giò mà “tướng mạo khảo lục” của Vũ Tài Lục bảo rằng “Trường túc bất tri lao” chân mày như thế thì “đa mi tắc đa mao” cái eo của nó dạng “tiểu yêu âm hộ đại” thì mày ba bảy hai mươi chứ không được hai mốt ngày đâu con.

        Y như rằng.

        Ở với Bon được ba tháng Hạnh Thảo tếch một hơi theo bồ cũ. Cô để lại cho Bon một lá thư tuyệt tình rằng “duyên trăm năm chẳng đặng, vương vấn làm chi cho mệt… quên em đi anh”. Bon ôm lá thư vào lòng khóc sướt mướt như Chúc Anh Đài nghe tin Lương Sơn Bá bị hộc máu. Khóc xong Bon ngồi ôn kỷ niệm bên chai ba xị. Nhìn thằng đàn ông sức có hạn, vai hẹp té đứng trước giai nhân chỉ ngắm chứ rán không nổi uống rượu ngâm thơ thấy mà tội. Bon thơ rằng: “Vòng tay hụt hẫng vòng tay. Rã rời đôi cánh, mỏi ngày, tháng, năm. Bóng và bóng, bóng âm thầm. Chờ người từ cõi trăm năm trở về… “ Mẹ cha ơi… chắc thằng nầy chết vì thất tình quá.

        Vùi đầu trong rượu và thơ được hai tháng Bon tỉnh hồn khi nghe tin Hạnh Thảo trở về. Ra là thằng bồ cũ sau khi, lăn lóc đá mê mẫn đời cái sự chơi, nó phủi một cái không thương tiếc. Bon ta đúng là thiên hạ đệ nhứt si tình, nó ba chưn bốn cẳng chạy xuống nhà vợ. Sau đó ba chưn bốn cẳng về nhỏ to với má. Bà Huệ lại nhỏ to với chồng. Năm Sông bảo rằng cho nó về lại cái nhà nầy hả? Còn khuya. Nó đi được một lần thì sẽ có lần thứ hai. Tin tao đi.

      Nhưng rồi Năm Sông buộc phải chấp nhận cho Bon đưa vợ về nhà bởi, sáu tháng sau thằng con nói ba ơi vợ con bầu được ba tháng rồi. Trên lô đất một sào tây Sông thượng lên một cái chòi lợp lá dừa nước cho đôi trẻ. Trong cái chòi ấy cô con dâu tên Hạnh Thảo cho ra đời một thằng cu giống… Năm Sông y tạc. Cũng đầu mình tứ chi trên đầu có tóc và trong đầu chắc chắn có não không giống mà được sao? Hai vợ chồng trẻ gửi con cho ông bà nội để làm ăn. Cô vợ xinh đẹp thuê nhà mở một quán cà phê sân vườn có võng. Năm thằng cháu nội được ba tuổi thì cao tốc chạy qua lô đất một sào. Năm Sông lại đùm túm lên tái định cư.

       Cũng năm ấy Bon quả tang vợ cùng một trẻ trai trong nhà nghỉ Nhị Kiều.

       Buồn tình buồn đời Năm Sông lăn ra chết vì cao máu.

                                                                  ***

       Ca dao rằng “ Trèo lên cây trắc, ngắt ngọn Đinh Lăng. Nhớ trong sách xưa có chữ rằng: bần cư náo thị vô nhân vấn…” sao mà đúng quá, ít nhất là trong trong trường hợp của Năm Sông. Sau giải tỏa đền bù. Khố rách áo ôm kiếm ăn bằng sức chỉ duy nhất một hộ Nguyễn Sông là cư dân của tái định cư, những hộ khác bán thổ cư của mình từ trước khi bốc thăm nhận đất. Tái định cư kiểu mẫu ai cho phép anh cất nhà tranh vách lá, chí ít cũng cấp bốn tường tô kiểu cọ hoa lá cành. Bán mẹ nó cho rồi, kiếm chút đĩnh mua chỗ re rẻ làm cái nhà xoàng xoàng dư chút vốn làm ăn. Nghèo thì phải biết liệu cơm gắp mắm chớ. Đúng không?

      Sông khác. Lô thổ ba trăm mét vuông Sông bán một nửa. Vậy là đủ tiền lên lầu một căn khá ngon cơm. Đằng trước nhà bà xã Sông làm một quán cà phê cóc kiếm ngày lon gạo và con khô đù một nắng. Hai vợ chồng ăn sáng một gói mì tôm chứ không hơn. Con cái đã lớn nên mạnh ai nấy lo. Cháu nội thì có cha má, vợ chồng Sông có phận thương và giữ giúp là tốt rồi. Cà phê cóc của Sông kiếm ngày con khô và lon gạo là chính xác trăm phần trăm. Vì sao. Vì cư dân của tái định cư toàn đại gia. Nhà của họ ngoài tường cao là hào sâu và cửa cổng trừ camêra còn có chuông oe oe báo trộm. Sang cả ai lại quan hệ giao lưu với cóc ổi mía ghim. May mà đại gia trừ nhà cao cửa rộng còn có cả trọ triệc cho công nhân thuê mướn nên, Sông mới có cơ hội mà kiếm con khô một nắng.

         Vậy nên khi cái xác chết vì cao máu về nhà, lèo tèo dăm mạng đến chia buồn. May mà thời hội nhập phát triển nên, bọn chuyên ăn thịt người chết lo tất tần tật các cái từ, hàng họ đến tụng tiệc đưa hồn ngươi chết về nát bàn,  huyệt mộ đều có người lo miễn có tiền. Sông chết ở bệnh viện nên bọn bán hòm nghe nói dân tái định cư tưởng Sông giàu. Đến lúc đưa xác và hòm về nhà chủ trại hòm mới dài mặt hối hận. Chả là lúc lấy cái xác lạnh như nước đá ra khỏi nhà vĩnh biệt – Hùng – con trai út của Năm Sông ra cổng bịnh viện kêu xe đưa cha về nhà nhưng chẳng một bác tài nào dám. Em út của chủ trại hàng nói để chị hai lo, em lo chi cho mệt. Hùng nói nhà em nghèo lắm chị ơi. Em tính đưa ba về xin cái hòm của chữ thập đỏ… nói gì nói chị hai vẫn ngang nhiên ra tay. Thường trú ở tái định cư thì phúng điếu dư để tang ma. Ngờ đâu trong kiểu mẫu cũng có khố rách.

      Rầu nhứt là trong cái mớ lèo tèo đến uống rượu chia buồn có cả bọn đòi nợ thuê. Vợ chồng trưởng nam của người chết trong tang phục ra tiếp khách. Chúng nó bảo xong đám ma là trả nợ cho chị hai nghe. Không trả là tao xin tụi mày nhiều luôn chứ một tí huyết không đủ làm tiết canh. Bon và Hạnh Thảo dạ dạ dạ em biết rồi. Ổng chết nhà nầy em chủ chứ ai vô. Mấy anh yên tâm. Ra là cặp đôi nầy thuê nhà mở quán cà phê sân vườn có võng là vay mượn của xã hội đen. Thế có chết không?

         Nghe chuyện ba đứa em cùng mẹ khác cha ra miệng:

  • Ê… đợt trước ông lấy sổ đỏ đi cầm, ba chị em tui phải bỏ công bỏ của đi chuộc. Ông không còn cái khỉ mẹ gì trong cái nhà này đâu mà chủ với tớ…

  Thằng Hùng nói với bọn đòi nợ thuê:

  • Mấy ông có gì cứ níu áo hai ngươi nầy. Của cải trong căn nhà nầy họ không còn chi hết.

   Đó rồi nó vào phòng lấy cái cặp táp lôi ra một tờ giấy cam kết có công chứng với con dấu đỏ như máu. Tờ giấy xác nhận rằng cái nhà chia làm năm phần. Nguyễn Bon và vợ là Trần Thị Hạnh Thảo đã lấy cái phần của mình… Đọc xong bọn đòi nợ thuê vỗ bàn dằn mặt:

  • Chuyện nhà anh em mày bọn tao đẻo cần biết. Xong đám mà vợ chồng mày không trả tao rạch mặt mày nghe con đĩ chó…

    Hạnh Thảo lớn giọng:

  • Yên tâm đi. Cai nhà nầy hôm nay trị giá những năm tỷ. Hồi đo vợ chồng tui chỉ lấy một trăm triệu. Không chia lại là không ổn với tui…

     Ba đứa con của Sông và bà Huệ thì Hùng là du côn có số. Nó văng tục:

  • Bà vừa mới bị ông Bon quả tang trai trên gái dưới ở Nhị Kiều. Đĩ chó như bà còn có tư cách gì mà chia lại vơi chia đi.

     Bà Huệ bước ra:

  • Trời ơi… yên cho cha bây tĩnh chút được không. Mấy chú về đi… để tui đưa ông nhà ra nghĩa địa rồi tính.
  • Tính cái gì ? Bà chỉ cần hứa sau đám trả nợ cho con trai và con dâu bà là bọn tui về liền. Còn không bọn tui đòi cho đến khi mở cửa mả.

   Hùng lên tiếng:

  • Mắc mớ chi đến má tui. Oan có đầu nợ có chủ. Mấy ông không có quyền ép má tui trả nợ.
  • Mày ngu chết mẹ. Con dại cái mang chồng hoang vợ chịu. Biết chưa thằng ngu. Cà chớn tao đâm chết mẹ mày bây giờ. Với tao ba năm tù như một giấc ngủ trưa nghe mậy.

    Đúng lúc đó hai chiếc xe hơi loại bảy chỗ dừng trước nhà Năm Sông. Cửa xe mở và những mười hai người rất trang trọng lịch sự. Họ mơ cốp xe lây ra hay vòng hoa phúng điếu. Vòng hoa dựng lên. Thiên hạ ngỡ ngàng khi đọc dòng chữ trên một vòng hoa: Hội văn nhọc nghẹ thuật tỉnh… kính viếng nhà văn nhà thơ Nguyễn Sông. Dòng chữ trên vòng hoa còn lại là: Ủy ban nhân dân tỉnh… kính viếng nhà văn nhà thơ Nguyễn Sông.

     Ra Sông là nghệ sĩ cơ đấy.

     Ở tái định cư kiểu cọ nầy thiên hạ đi ăn sáng bằng xe hơi là nhỏ. Nhưng chuyện hai chiếc bảy chỗ chềnh ềnh trước đám táng nhà Sông là lạ. Hôm ấy nhằm chủ nhật nên bọn công nhân – khách cà phê của quán Sông – tụ lại coi chơi cho biết một đám ma có điếu văn. Mẹ cha ơi… thường, Sông quần đùi áo áo thun ba lỗ cóc cách trên chiếc xe đạp cà là mèng mỗi khi vợ sai vặt. Nay điếu rằng vô cùng thương tiếc nhà văn nhà thơ Nguyễn Sông đã một đời cống hiến cho văn học nghệ thuật tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung… Ra cái lão quần đùi áo cánh là hội viên cấp quốc gia mới ghê và giải này giải nọ nghe mà mắc mệt.

         Chuyện Sông là nghệ sĩ hóa khói bay khắp nơi trong tái định cư. Là dân làm ăn lớn, nghe nói có người của ủy ban cấp tỉnh dự đám ma, kính thưa các đại gia liền kéo đến. Đúng là “thớt có tanh tao ruồi đậu đến, gan không mật mở kiến bò chi”. Ông thông tin văn hóa huyện cũng có mặt thì ông xã là tất nhiên. Đám tang Sông bổng nhiên long trọng. Ông Nguyễn Huy Thiệp nói rằng “người ta xếp nhà văn cao trên ăn mày một bậc, nhà văn đứng đầu trong đám thảo dân, đứng cuối trong các phẩm trật triều đình. Giàu không ai viết văn cả (vì giàu thì hỗn, mà viết văn đòi hỏi khiêm tốn). Ở đây trừ vài “người điên thiên tài” thực sự như Tào Tuyết Cần, Bồ Tùng Linh, Lev Tolstoy… là những trường hợp đặc biệt từ người giầu có do viết văn họ lại hóa ra nghèo. Nghèo thì cũng không ai đi viết văn cả (vì nghèo thì hèn, mà viết văn lại cần dũng khí, khi cần thì họ nhảy vèo xuống nước giống như Khuất Nguyên, thế là cả một nền chính trị đương thời bị mang tiếng). Nhà văn là người biết sống trung dung, phong lưu, tri túc, “cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm”. Không dễ gì tổ chức được một cuộc đời như thế. Rất khó, khó nhất không phải chỉ là tiền bạc, cũng khó nhất không phải chỉ là tri thức – mà khó nhất lại là đạo đức! Các cụ ngày xưa nói “có đức không đủ sức mà ăn” là vô cùng sâu sắc, vô cùng tế nhị.

          Không có phẩm trật và chỉ cao hơn ăn mày một bậc mà đám táng có quan chức tham dự thì quá xá là ghê gớm.

          Và xưa nay nghĩa tử là nghĩ tận. Oán tận tủy mà khi kẻ thù chết người ta còn đến để vuốt mắt lọ là Sông lành như đất. Mà đám ma là phải phúng. Bọn ở trọ phong bì còn trăm ngàn thì đại gia dăm bảy trăm một triệu có đáng là bao. Ây da… cái thùng phúng điếu có ổ khóa phải hơn một lần rinh vô phòng bà quả phụ Huệ chứ không nhét vô được bởi cái sự đầy ặp. Chắc chắn cái công lớn lao nhất đời làm chồng làm cha của Nguyên Sông là lúc nầy. Ông đã để lại cho vợ con kếch sù một gia tài. Đúng là số giàu đem đến dưng dưng, lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.

      Tiếc là Sông chết mất rồi.

      Nhà chùa cũng có mặt theo lời mời của chủ tịch ủy ban nhân dân xã nơi Sông cư ngụ. Đại hòa thượng với mũ bình thiên và tràng hạt trên cổ, trên tay, sau lưng ngài trên hai mươi sư ông sư bà trong cà sa đi chung quanh cổ áo quan, và lời kinh tiếng kệ vang lên đảm bảo, linh hồn nghệ sĩ Sông – nếu có – chắc chắc lên cõi nát bàn ở cùng hằng hà sa số phật. Đại hòa thượng có vẻ tinh thông lẽ nhiệm mầu của trời đất. Trong thời gian nghỉ, ngài ngồi trên bồ đoàn, một tay lần tràng hạt, một tay dùng ngón cái đếm đốt ngón tay của bàn tay rồi phán:

  • Theo quẻ nầy thì không thể hỏa thiêu theo yêu cầu khi con sống của Nguyễn Sông. Sông cầm tinh con khỉ. Khỉ là vượn mà vượn thì “con vượn bồng con lên non hái trái. Anh cảm thương nàng phận gái mồ côi” Kẻ trên cao sống đời bay nhảy không thể đốt được. Phải chôn.

    Vậy là chôn. Nhân bảo còn như thần bảo lọ là đại hòa thượng khi đã phán.

    Một dàn nhạc đám ma kéo đến theo chỉ thị của chủ trại hàng. Thôi thì tân cổ nhạc tha hồ phát huy. Ca sĩ đám ma hát hò nhảy múa không thua lai sô của nghệ sĩ thời thượng một lai nào. Lúc nầy mơi là lúc ca kính thưa các đại gia củá định cư phát huy sở trường xài tiền. Họ gặp em xy và yêu cầu vừa hát vừa múa bài Tình Cha. Lòng mẹ cũng chơi luôn bởi anh bo sộp.

      Cứ thế và cứ thế đám ma của Nguyễn Sông vui cho đến ngày ra nghĩa địa.

     Thằng chủ xe hủ tíu gõ, sáng nào cũng bán cho Nguyễn Sông một tô nhiều nước lèo bởi Sông nói tao mua thêm ổ bánh mì để hai vợ chồng cùng ăn. Gã nói:

  • Móa nó… còn sống thì đẻo có ăn, đến khi chết xuống thì văn tế ruồi.

     Lại nói thêm:

  • Sống thì đẻo có thằng náo viếng. Chết thì cả một sư đoàn. Nhưng mà cha Sông chết không dễ chi mà yên được. Tiền phúng nhiều quá bầy con giả chia chác cũng khó.
  • Ừ… nhứt là con vợ thằng Bon. Tha hồ có tiền điều hành tiếp cà phê sân vườn có võng và… nuôi trai. Mẹ cha nó thằng yếu sinh lý Bon.
  • Còn cái nhà nữa mới mệt chớ…

   Yên nghỉ mà được sao hả Nguyễn Sông?

        Nguyễn Trí