Feeds:
Bài viết
Bình luận

Thăng hoa

.Mai Văn Hoan

.

Tình yêu có giây phút

Thăng hoa đến không ngờ

Nó đến như tia chớp

Khiến hồn ta ngẩn ngơ

.

Ta cứ tưởng nằm mơ

Dù đó là sự thật

Cái phút giây trời đất

Bỗng giao hòa vào nhau

.

“Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu?”

Nếu Xuân Quỳnh sống lại

Vẫn không hiểu vì sao

.

Vì sao muối lại mặn?

Vì sao gừng lại cay?

Nụ hôn đâu phải rượu

Vì sao làm ta say?

Gởi người yêu lớp đệ Tam

.Từ Hoài Tấn

.

Có ai yêu một màu hoa phượng ấy

Của ngày hè lớp đệ Tam

Khi tà áo trắng một trời quá khứ

Hồi ức buồn không chỉ của riêng ai

.

Ta đi bạc màu xanh ô líu

Em tháng năm dài tình giấu kín

Bờ giậu hoàng hoa bao nhiêu chiều

Là bao nhiêu thương nhớ của mùa yêu

.

Em ơi tình như loài mây xa

Bay mãi khoảng trời võ định

Em ơi tình chỉ là phút giây

Đã trở thành thiên trường địa cừu

.

Khi mùa hè đến tôi nhớ em

Trong lớp chỉ còn hai mươi mấy đứa

Em ngồi bàn đầu mắt ngoái lui nhìn

Nhìn ai không biết là ai không biết nữa

.

Hàng phượng ngoài sân màu đỏ rực

Em mười sáu tuổi đẹp thiên thần

Không còn chỗ cho lời ca ngợi

Là em xinh như mộng thiên đường

.

Tôi yêu chỉ một màu hoa ấy

Xa rồi phút chốc mấy mươi năm

Em có còn nhớ một tình thơ dại

Tả viễn phương hề không vơi sầu bâng khuâng

Sáng nay gặp một mùa đông

.Mộc Miên

.

Sáng nay gặp một mùa đông

Trên tàng cây đầy lá nhớ

Sáng nay gặp một dòng sông

Chảy đi qua lòng phố nọ

.

Ly cà phê buồn không ai

Khói thuốc bay vào muôn thuở

Hoa rụng phía nào chẳng rõ

Dưới bàn chân người trăn trở

.

Ta ngồi nghe ngày mù sương

Thấy lòng rơi ngoài phố chợ

Ban mai không có loài chim

Chỉ tiếng ồn ào xe cộ

.

Sáng nay gặp một mùa đông

Gió về ru cây lá nhớ…

Phân vân đôi ngả

Đặng Phú Phong

.

Nhớ người tìm mãi trong túi áo

Ngộ sót cánh hoa hái trộm nhà

Chợt mảnh ngọc lan khô quắt héo

Hương thoảng buồn riêng một kiếp xa

.

Soi rọi nỗi niềm tìm khoảng trống

Chỗ nào còn đó một niềm tin

Chơi vơi tầng cổ pha chút nắng

Nắng có vàng không trên tóc xinh

.

Có lúc đem tình phơi bờ dậu

Gió như giông nhưng áo chẳng bay

Tình vẫn pha men ngày mới lớn

Vẫn đau thương. ngọt lịm từng ngày

.

Tình hào phóng sẻ chia nhiều bận

Để đêm đêm thao thức với cô đơn

Từng cuộc tình, từng xước dòng máu đỏ

Diễu cợt chơi nên cứ cười dòn

.

Lỡ mất niềm tin nhưng không bỏ cuộc

Vì cuộc đời đâu thể dễ bình yên

Nắng tháng tám làm sao rơi tháng chạp

Ta nhập chơi cùng thế sự đảo điên

.

Nắng hạ cũng liêu xiêu bóng đổ

Gả cuồng say không biết nơi về

Trăng độ lượng ôm sâu người ngồi khóc

Tìm đâu tôi. người đã mất linh hồn

.

Tôi nén thời gian thành viên lóng lánh

Dành tặng ai nhan sắc sắp tàn phai

Tôi nén không gian thành viên kẹo ngọt

Tặng cho ai đã quên mất hình hài

.

Tôi nén cơn mưa thành giọt giọt

Khóc cho người tri kỷ chết ngày qua

Tình ngó đàng sau tình mới trọn

Thời gian đi tất cả sẽ nhạt nhòa

.

Gối mãi tâm linh đầu cũng choáng

Úp mặt lên tay nghe tủi hờn

Phân vân đôi ngả yên và động

Động cả sơn hà. yên vắt vai

Ghi chép đầu đông 184

Lê Anh Hoài 

.

công lý và khí hậu đi ra từ chốn âm phần

thời tiết có đạo lý không?

dòng nước dâng lên giết chóc lạnh lùng

như tên cướp tàn bạo có vẻ mặt hiền triết

rao giảng đức tin tăng trưởng phi mã

.

trong ngày mưa gió bất thường

diên hồng đỏ đèn sàn diễn

số cơn bão mùa nổi nênh

theo sát số má hội nghị triều đình

.

anh chán chuyện vợ con nhảy ra biển bão

biển bão tha anh rồi, con vợ mãi không tha

.

lập công ty vũ trụ

sao bằng tư thục trường quy

học giả thành đạt hơn học thật

học thật thành học giả

đệ tử thi ca lập lý thăng hoa

tràn ngập thi đàn mê sảng vần vè

đệ tử phật học

mặt mày hung hăng

vẫn thiết tha buông bỏ

.

ta thỉnh phật một cọng lông

thỉnh em cả một cánh đồng chiêm khê

.

giáp hạt

giáp ranh

giáp lá cà

tan tành manh giáp

.

phóng lợn

phóng xạ

phóng tinh

dùng triệu bộ xương làm bệ phóng

.

tổ hưu phát hiện một băng nhóm lừa đảo đóng vai nhà thơ

cõi mạng mải cãi nhau để cô gái hồ gươm chết đuối bên lề nghị quyết

.

giao việc trí óc cho chân tay

giao việc chân tay cho miệng lưỡi

giao việc miệng lưỡi cho hậu môn

giao việc con tim cho chim chóc

.

em bỗng nhiên muốn khóc

thần bỗng hết muốn thiêng

.

em tốc váy rực rỡ thành công cuộc tổng kết đổi mới bốn mùa

ta hóa vàng toàn bộ giấy tờ chứng minh bốn mươi năm lảm nhảm

l.a.h 14.10 – 11.11 hanoi

Giấc mơ thu ngọt ngào.

Elena Pucillo Truong

( Nguyên tác : Un dolce sogno d’autunno)

  Bản dịch của Trương Văn Dân

.

Tất cả trắng toát và lạnh lẽo xung quanh tôi. 

Những bức tường  trắng và ngay cả thành giường bằng thép để tôi khỏi ngã.

            Có lẽ vì thế mà tôi rất thích cái cây phong nằm bên ngoài cửa sổ, vật duy nhất cho tôi hay là thời gian vẫn đang trôi. Bên ngoài mọi thứ đang đổi mới và đổi thay.

Có một điều gì đó cũng đang thay đổi trong tôi, nhưng từ từ…chậm rãi, không đau đớn.

Tôi nhớ là khi mình vừa mới đến, căn phòng liền ngập đầy bác sĩ và y tá; tất cả đều rộn ràng chuẩn bị để tấn công căn bệnh một cách quyết liệt, không khoan nhượng.

Nhưng thực ra là cuộc chiến không khoan nhượng đó đang nhắm vào tôi… Không ai hỏi tôi muốn gì. Họ đến vào buổi sáng, viết lên bệnh án cái gì đó, bảo y tá truyền nước biển cho tôi, rồi đi.

Ngày hôm sau cũng thế. Mà thực ra tôi có gì khác nữa đâu để mà chọn lựa.

Từ mấy hôm nay có một người nào đó đến vào buổi sáng… sau đó thì tôi ngủ. Tôi ngủ càng lúc càng nhiều và tôi không thích điều đó.

Không thích vì tôi muốn tưởng tượng hay nhớ về một điều gì, nhưng tôi lại nằm mơ.

Tôi mơ thấy mình bơi lội trong làn nước biển xanh trong mát mẻ, có những tia nắng vàng phản chiếu với những giọt nước mặn trên làn da sạm nắng. Tôi mơ thấy mình đi xe đạp ở miền quê, giữa những cánh đồng lúa xanh rì.

Tôi mơ nhiều thứ, mà rồi khi thức giấc, đôi mắt chỉ nhìn thấy bức tường trắng trước mặt.

Thế là tôi xoay người hướng về phía cửa sổ và nhìn thấy bạn tôi. Đó là người duy nhất có thể hiểu những gì mà tôi cảm nhận. Tôi quan sát đôi bướm đang bay lượn như hai kẻ yêu nhau đang nhảy điệu luân vũ xung quanh bạn ấy. Đúng rồi, tôi muốn mơ thấy mình nhảy múa. Tôi muốn mơ thấy mình ôm hôn một ai đó, say đắm chứ không phải phớt qua như các bạn ở trường. Tôi muốn yêu, dù cũng chẳng biết thế nào là tình yêu. Tôi đã không có thời gian và chắc cũng sẽ không bao giờ có.

Những bác sĩ bước vào phòng tôi, càng ngày họ càng dừng lại ít thời gian, gần như là tôi có thể làm họ bị nhiễm hoặc có khi họ nghĩ, nếu không nhìn thấy tôi  thì cũng giống như chẳng gặp phải vấn đề.

Tôi là một vấn đề! Điều mà không ai có thể chấp nhận. Nếu chết già là một niềm hy vọng thì cái chết của tôi khi chưa tròn 16 tuổi là một sự thật tàn nhẫn, không thể nào chấp nhận.

Nhưng có lẽ nhiều người không hiểu rằng tôi không hề sợ sệt. Người ta có thể dễ dàng chấp nhận khi biết mình sẽ chết. Chỉ khi nào còn hy vọng sống mới làm người ta hoảng sợ. Vì để sống, cần phải phấn đấu, một cách tuyệt vọng và liên tục. Còn tôi thì không muốn phấn đấu nữa rồi.

Tình cảm duy nhất có trong tôi chỉ là  sự cay đắng, bởi vì đối với tôi đáng lý phải là mùa xuân, mùa của hoa hồng, của tình yêu đầu đời, của những điều vô tư và hồn nhiên nhưng thay vào đó chỉ là một cuộc tăng tốc để sớm vào đông. Tôi đã nhìn thấy những chiếc lá nhiều màu trên cành của bạn tôi. Hằng ngày tôi nhìn những chiếc lá thay đổi màu sắc dưới ánh nắng mặt trời càng ngày càng nhạt, hay có khi sáng bóng sau cơn mưa hoặc khẽ lay động vì những cơn gió càng lúc càng lạnh dần.

Lạnh lẽo và băng giá như căn phòng mà họ đang bỏ mặc tôi, một mình.

Bây giờ thì tôi mệt lắm, chỉ muốn ngủ, và mơ.

Mơ thấy mình đang ôm và siết chặt trong vòng tay một đứa bé, rồi đong đưa nó. Mơ thấy mình cẩn thận nắm tay bé, dạy bé chập chững bước đi, từng bước, từng bước hướng về phía cuộc sống.

Mơ thấy mình nằm, ngước mặt lên, nhìn thấy một bầy chim én bay lượn giữa bầu trời ấm áp, xoay tròn trên đỉnh đầu, miệng kêu ríu rít như thể muốn mời tôi nhập bọn, bay theo chúng  trong cuộc hành trình.

Mơ thấy mình nằm dài trên một đống lá khô giòn, những chiếc lá phong của ông bạn ngoài kia, đủ màu sắc từ vàng, đỏ tươi, chuyển sang tím… rồi cuốn người lăn tròn cho đến khi mỏi mệt và nằm dài dưới bóng cây có những cành trơ trọi nhưng luôn sống động.

Nếu có ai đó hỏi thì tôi sẽ trả lời rằng mình chỉ muốn nằm nghỉ dưới bóng của bạn mà thôi. Người duy nhất hiểu được những nỗi sợ hãi của mình. Người duy nhất đã không bỏ rơi tôi.

Có lẽ đấy là cái cách mà tôi sống lại.

            Như thế tôi mơ là mình không thể chết.

Ngày giỗ mẹ tôi

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Chỉ còn ba hôm nữa là đến ngày giỗ mẹ tôi..

Ngày giỗ luôn tính theo ngày Âm lịch, vì thế tôi không còn nhớ là ngày nào trong tháng Tám âm lịch của mỗi năm, năm nay lại nhuần một tháng …???

Mỗi năm cứ gần đến ngày giỗ mẹ thì tôi gởi về cho chị tôi một chút tiền để chị mua sắm mâm cỗ và mời bà con xa gần về dự.

Ngày giỗ năm nay rơi vào ngày thứ Bảy của tuần lễ này.

Trong ngôi nhà mới dọn về thành phố này, sau gần hai tháng chưa quen mấy với cảnh vật mới mẻ giữa trung tâm thành phố.

Chợ búa và những tiện nghi vật chất gần nhà hơn, các con cháu vẫn lui tới thường xuyên hơn nên cũng đỡ hiu quạnh…

Thời gian trôi nhanh quá…. mới ngày nào mỗi khi đi chợ tôi vẫn thường dẫn theo hai đứa con trai nhỏ đi theo cho chúng ngắm nhìn và lựa chon cho chúng vài món ăn mà chúng thích, hay chở con đi loanh quanh những con đường quen thuộc gần khu đang ở,

Thành phố nhỏ thân quen với tôi qua chặng đường dài hơn ba thập kỷ…các con tôi lớn dần theo năm tháng và lìa xa mái nhà thân quen cũ…chỉ còn lại tôi trong ngôi nhà cũ rộng thênh thang.

Đã từ lâu tôi không còn được thả mình trong cái cảm giác gần gũi bên những đứa bé con mình quẩn quanh trong những khu mua sắm rẻ tiền…đã xa rồi …các con tôi đều đã trưởng thành và đã lìa xa vòng tay mẹ.

Các con tôi lớn khôn theo năm tháng…. dần dà chúng không còn có cái hứng thú theo mẹ quẩn quanh các nơi quá quen thuộc và cuối cùng mẹ cũng dẫn vào Chợ Một đồng, hay những chợ đồ cũ quanh khu phố nghèo ngày cũ, chúng lựa chọn những món đồ chơi rẻ tiền, những sách vở giấy bút đồng hạng..

Bây giờ các con tôi đã là những chàng trai chững chạc, sao còn theo chân mẹ nữa.

Mỗi đứa đã có một gia đình riêng và những đứa cháu nhỏ không được theo bà làm kẻ chợ.

Bây giờ tôi chỉ còn là một bà già tụt hậu, cô đơn giữa lòng thành phố xa lạ với bao nhiêu người xa lạ khác .

Hôm nay một mình vào chợ gần nhà ( Một chợ của người Hoa) với ý định mua một vài món ăn về nấu mâm cơm cho ngày thứ Bảy sắp tới, là ngày giỗ mẹ tôi …

Hôm nay mới là ngày thứ Tư, tôi cũng mua đủ thứ hoa quả, và nhiều thứ khác như ngày xưa mẹ tôi vẫn chuẩn bị cho những lần nhà có giỗ.

Tôi muốn nấu những món ăn mà ngày xưa mẹ vẫn thường làm vào những lần ngày xưa mẹ vẫn thường làm khi nhà có giỗ: nồi canh ổ qua nhồi tôm thịt, ram mấy miếng thịt heo, thịt gà để chật miếng sắp chung một dĩa chả đủ thứ …

Một đĩa lớn gồm một lát chả lụa cắt tròn để chính giữa, các thứ khác xếp vòng quanh, công việc mà ngày xưa tôi thích được làm khi ở tuổi mới lớn, mẹ thường tập cho chị em tôi để mai sau có gia đình riêng biết cách mà làm… và mẹ luôn dành lại một phần thịt chưa chặt cất riêng cho em tôi…sau bữa giỗ đem về nhà chồng làm quà biếu…( mẹ tôi luôn chu đáo trong cách cư xử)

Đĩa mì xào với tôm thịt, vài món nữa nếu là đám giỗ lớn, có đông người…soạn hết những món đã mua về…đặt những trái cây và bình bông lên bàn thờ…

Nỗi buồn bỗng òa vỡ trong tôi như ngọn gió đổi mùa chợt ập về cuốn phăng đi những lá chớm vàng trên bờ cỏ ngoài sân…

Bóng tối chập choạng bên ngoài cánh cửa… với tay mở chiếc ti vi trong phòng khách cho có âm thanh, cho nỗi buồn pha trộn với những âm thanh vô hình…

Hình ảnh Mẹ chập chùng trong kí ức…ngày xưa Mẹ đã từng thích ăn món gì ??? tôi sẽ chỉ làm một món đó…

Thời gian của những ngày tuổi thơ hiện về, thỉnh thoảng vào các buổi chợ Phiên, thời gian của những ngày xưa xa lắm,

Mẹ thường đi bán Chợ Phiên Gò Chàm, cứ năm ngày một lần phiên chợ, Mẹ gom những hàng hóa trong gian hàng của mẹ vào hai cái khăn gói lớn và ra đi từ lúc trời còn tối mịt, chiếc xe lam đã được quen biết cũ đến đón tận nhà và đưa về tận cửa vào lúc xế chiều…

Thường vào những ngày mùa Hè không đi học, tôi thường được theo giúp mẹ trông chừng hàng hóa cho mẹ

Các kẻ ăn cắp vặt hay trà trộn vào người mua hàng lấy đi hàng hóa của người bán, hàng hóa của hai mẹ con tôi :cũng chỉ là những món hàng phục vụ cho những người dân lao động nghèo, những chiếc quần đùi, áo cánh, những bộ quần áo trẻ em rẻ tiền, mấy cái áo gối chắp vá bằng những mảnh vải rẻo chắp lại theo những hình thù không nhất định do bàn tay của Mẹ vào những lúc rỗi việc, sau này tôi cũng thường làm những công việc này giúp mẹ…

Mẹ ngồi một góc tấm nylon trải trên đám đất trống, tôi ngồi một góc, chờ sẵn miếng giấy báo xé sẵn để gói hàng và đếm tiền.

, Hàng hóa dọn xong là trời vừa hừng sáng, Mẹ thường dạo mua bữa điểm tâm cho hai mẹ con, thường mẹ mua cho tôi tô cháo lòng hay tô mì gánh , có khi mấy cái bánh xèo, phần của mẹ chỉ là cái bánh đúc chấm mắm tôm hay vài củ khoai…

Lúc ấy tôi chỉ biết nhận phần ăn của mình mà không hề nghĩ đến chuyện sẻ chia cho mẹ, thỉnh thoảng lại hỏi mẹ

– Sao mẹ không thích ăn giống như con ????

– Ừ mẹ thích gì ăn nấy, con cứ ăn rồi coi hàng giúp mẹ…

Sau khi tan buổi chợ , hai mẹ con hay ra ngồi chờ xe ở một góc chợ cạnh một gánh mì, bà chủ gánh mì đã quen mặt bạn hàng của mình, lúc nào thấy mẹ con tôi đến là đon đả mời chào và tự động múc hai tô mì…

Đặc biệt là một tô có những miếng thịt nửa nạt nửa mỡ nhuộm vàng cam xắt mỏng, trải đều trên mặt tô và mấy cọng hẹ xanh , chút tóp mỡ vàng óng…còn một tô chỉ phủ trên mặt tô mấy cọng hẹ và chút rau sà lách…

Mẹ tôi luôn đẩy tô mì có thịt sang phía tôi còn người luôn lấy phần mình là tô mì không thịt thà gì cả như một tô mì chay …. Trong suốt tuổi thơ tôi đã chứng kiến nhiều lần như vậy, những bữa ăn hàng ngày Khi vào mâm cơm, mẹ tôi chỉ chọn phần cơm nguội ăn trước, rau mắm qua loa, những miến ăn đầy đặn mẹ thường nhường hết cho ba chị em tôi.

Ngày ấy sao chúng tôi mãi vô tình với những cử chỉ này và cũng chỉ biết rằng : Mẹ thích vậy chứ không nghĩ là vì sao…

Thói quen nhường hết cho các con, những tô mì không có thịt , những tô phở không thịt bò, những đĩa cơm khi vào quán chỉ ăn với đồ xào luôn là phần mẹ.

Những miếng sườn nướng ngon lành ngày ấy cũng chỉ các con là được ăn ….còn m ẹ…

Lớn lên một chút, một đôi lần tôi bảo mẹ rằng :

– Con muốn mẹ phải ăn giống con

– Các con cứ ăn phần mình để còn lớn, mẹ đã ăn nhiều rồi, không cần nữa….

Bây giờ hàng năm cứ gần đến ngày giỗ mẹ …

Sau khi sắm sửa các thứ , ngồi nhìn mớ đồ ăn chưa nấu, những giọt nước mắt đã ứa tràn trên má trên môi tự bao giờ…

Cuộc sống với những bộn bề đôi khi như quên mất những đi những khắc khoải , những ý nghĩ riêng mang mà chưa một lần thốt lên thành ngôn từ khi còn nhìn thấy nhau, ngày đó tôi chỉ biết vậy mà chưa lần nào tỏ cho mẹ tôi biết là tôi hiểu thấu tấm lòng của mẹ,

Những người Mẹ Việt Nam suốt cả đời tận tụy hy sinh cho đàn con…mẹ tôi đó người đàn bà quê mùa chất phác, suốt một đời tận tuỵ hy sinh cho các con, không một lần nghĩ đến thân mình.

Tôi soạn ra mấy món đã mua để nấu hai tô mì…hai tô mì không thịt , không gia vị đậm màu, ra vườn ngắt mấy cọng hẹ, đặt hai tô mì chay bốc khói trước bàn thờ Mẹ.

– Mẹ ơi, bây giờ con mới hiểu thấu tấm lòng của mẹ…thì mẹ đã không còn…

– Lẽ ra cái việc làm hôm nay con phải làm lúc mẹ còn.bên cạnh chúng con

_ Con phải nói với mẹ là con cũng thích ăn những tô phở, những tô mì không cần thịt thà chi cả, con cũng thích ăn những món mà mẹ thích,

_ Mẹ ơi bây giờ một mình con nơi này…ăn hết hai tô mì mà ngày xưa mẹ vẫn thường ăn…Và còn những món mà mẹ vẫn thường làm cho chúng con..

_ .Bây giờ con có lập lại với chỉ mình con …thì có ích chi đâu…

_ Bây giờ con có dọn sẵn bao cao lương mỹ vị đầy bàn… gọi các con cháu về chứng kiến thì cũng nào có nghĩa gì đâu…

_ Hôm nay con quì trước bàn thờ mẹ nơi đất khách quê người: thắp nén hương lòng gởi mẹ với niềm thương và và sự thống hối một đời con.

Cơm ghé độn …. Mẹ nhường con phần trắng

Bát cơm tươi ….. con chia sẻ cùng ai.

Mẹ mất rồi …….Biết cùng ai nói với …..

.

Một mình con…….đất khách…. ngậm ngùi than.

Atlanta Kỷ niệm ngày giỗ mẹ 2025

Bão số 13

Trần Minh Nguyệt

.

Đêm.

Gió nổi.

Những mái nhà cũ bật tung như ký ức lâu ngày bị giam trong ngực.

Cột điện nghiêng,

bóng tối phủ xuống miền quê đang hấp hối.

.

Người ta chạy trong mưa,

ôm theo chút hơi ấm còn sót,

tiếng khóc tan vào tiếng sấm.

.

Cây gãy.

Tường sập.

Mùi bùn đất trộn lẫn mùi sợ hãi,

lẫn mùi hy vọng vừa tắt.

.

Nhưng rồi,

giữa bãi hoang của im lặng,

một bàn tay nhỏ nhặt lại viên gạch,

một ngọn nến được thắp lên từ tro tàn.

.

Cơn bão đã đi,

nhưng còn lại trong tim người

một khoảng trời khác,

đậm hơn, sâu hơn,

nơi họ học cách đứng dậy

từ chính những gì từng sụp đổ

Nguyễn Đông A

  • .

Chiều Sài Gòn, mưa vẫn rơi. Rơi đều, lặng lẽ, dai dẳng như một nỗi buồn biết thở. Mưa phủ mờ khắp phố, len vô từng mái tôn, từng hiên nhà, từng nhịp tim người đang nghe tin: Nguyễn Quang Tấn – Hoàng tử bé của thi ca – đi rồi.

Ừ, ông đi rồi.
Đi trong lặng lẽ.
Như thể chỉ đổi một căn phòng khác để tiếp tục viết.

Con đường Nguyễn Thông chiều nay nước đọng loang loáng, xe cộ bơi qua chậm chạp. Tiếng máy nổ lẫn tiếng mưa đan vào nhau, nghe như một bản nhạc buồn của trời đất đang tiễn người thi sĩ cuối cùng của một thời viết bằng tim. Mưa lây lất, dai dẳng, như muốn níu một linh hồn còn vướng lại đâu đó giữa cõi người.

Nguyễn Quang Tấn, người sinh giữa hai miền chia cắt, lớn lên bên dòng sông Sài Gòn và cánh đồng La Ngà đầy gió. Một người nghệ sĩ không phô trương. Thơ, nhạc, tất cả trong ông chỉ là những cách để nói chuyện với đời, với lòng. Ông không tìm danh, cũng chẳng tìm tiếng. Ông chỉ mượn chữ nghĩa để giữ lại nhịp thở của một tâm hồn đã sống quá sâu, quá thật.

“Dạo khúc”, một trăm lẻ sáu bài thơ, như một cuốn kinh trầm lặng của đời ông. Mỗi bài là một nốt nhạc. Mỗi chữ là một hơi thở. Mỗi dấu ngắt là một nốt lặng của linh hồn. Thơ ông không cần ai khen, không cần ai chép. Chỉ cần người ta nghe, nghe được cái mảnh tịch liêu, cái chạm nhẹ của một trái tim từng cháy hết mình mà vẫn dịu dàng như khói hương sau lễ cầu siêu.

Ngày ông mất, trời đổ mưa khắp nơi. Mưa như thể đồng lõa, mưa như khóc. Những con đường ngập, ánh đèn vàng chập chờn trong nước, người Sài Gòn đi chậm lại, lặng. Tin về ông trôi qua mạng, qua miệng, qua những tiếng thở dài:
— “Ổng đi thiệt hả?”
Không ai nói thêm. Chỉ im.
Cái im nặng như một lời tiễn biệt.

Tôi còn nhớ lần đầu gặp ông cách nay mấy mươi năm, quán cà phê nhỏ, hẻm Nguyễn Thông, bàn gỗ, ly cà phê đen quánh. Ông ngồi viết trong yên lặng, tàn thuốc rơi mà không hay. Mắt nhìn xa, hiền mà buồn. Khi nói chuyện, giọng ông ấm, mộc, có chút hóm hỉnh của một đứa trẻ mãi không chịu lớn.


Người ta gọi ông là Hoàng tử bé. Ừ, đúng là vậy. Một hoàng tử lạc giữa trần gian, cầm bút thay gươm, lấy thơ mà chống chọi với nỗi cô độc của chính mình.

Ông từng nói: “Thơ không phải để nổi tiếng. Thơ là để còn lại.”
Câu nói tưởng nhẹ như khói mà nặng như đời.
Cái “còn lại” ấy, giờ đang thật. Nó còn trong lòng người đọc, trong trí nhớ bạn bè, trong từng buổi mưa như chiều nay. Ông đi, mà chữ vẫn ở lại, vẫn rưng rưng, vẫn hát trong im lặng.

Tôi ngồi nhớ.
Nhớ cái dáng ông ngồi co vai nghe mưa, mà như nghe tiếng đời.
Nhớ cái nụ cười hiền, ánh mắt lơ đãng mà sâu.
Nhớ cái cách ông sống – chậm, yên, nhẹ như hơi thở, mà sâu như một dòng nước ngầm.

Gia sản của ông, chỉ có mấy quyển sổ, cây đàn cũ, vài tấm hình, căn nhà nhỏ ở La Ngà. Vậy mà giàu. Giàu hơn cả những người sống giữa ánh đèn mà quên mất mình. Vì ông còn lại cái tâm hồn chưa bị tắt.

Bây giờ, trời vẫn lâm râm.
Sài Gòn còn đọng vũng.
Tiếng còi xe xa xa nghe như tiếng chuông đưa linh.


Tôi ngồi bên cửa sổ ở tận trời Tây, nhìn giọt nước nhỏ, lạnh đọng lại trên mép kính mà tưởng tượng bên kia La Ngà, có ai đang đốt nén nhang cho ông không? Có ai còn giữ những bản chép tay của “Dạo khúc”? Có ai còn nghe tiếng cười khẽ của ông, như một nốt nhạc còn sót lại sau bài ca nhân thế?

Chắc có.
Chắc nhiều lắm.
Vì người như ông, đi rồi mà vẫn ở.

Một đời, ông sống như thể không cần gì. Không giành giật. Không toan tính. Không phô trương. Chỉ âm thầm viết, âm thầm thương, âm thầm đau. Vậy mà người ta thương ông. Thương cái hiền, cái thật, cái lặng của một người chỉ muốn làm thơ mà không cần ai biết tên.

Nguyễn Quang Tấn, người thơ không cần hoa, không cần bảng hiệu.
Giờ ông yên nghỉ rồi.
Nhưng “Dạo khúc” của ông – vẫn còn.
Vẫn ngân nga trong lòng người.
Vẫn vang nhẹ giữa những buổi chiều mưa.
Vẫn sống, như chính ông từng tin:
“Ngày sau sống lại – sẽ tìm nhau.”

Rồi tôi mở lại “Dạo khúc 27”.
Đọc để tiễn biệt ông, một người anh, một người thi sĩ đã hóa vào hư không.
Tiếng thơ ông vẫn run rẩy trong từng câu chữ, như một làn khói mỏng chưa tan:

“Tiếng hồn ông như đang ngân,
Vẫn còn vọng ngân mãi…”

Ừ.
Ngân mãi.
Trong lòng người còn biết thương,
và trong những chiều mưa chưa dứt ở Sài Gòn kia.

Dạo khúc 27

Ở chỗ mà chúng ta buông tay rơi vỡ chiếc bình
long lanh giọt nước tình duyên
nơi đó sau này thành sông thành biển
ai đã chèo thuyền vào cõi vô biên

ở chỗ mà hương thơm của làn hơi thở
làm nở bừng tất cả những bông hoa
chiều nay là mây viễn xứ
một mai là gió giang hà


ở chỗ mà chiếc chìa khóa vàng
rơi từ đỉnh tháp xuống mù tăm
tôi một mình cúi xuống
từ vực sâu lời gọi âm thầm


ở chỗ mà chúng ta buông tay rơi vỡ chiếc bình
long lanh giọt nước tình duyên
nơi này thành sông thành biển…

nơi này anh đã yêu em.

( Nguyễn Quang Tấn )

Rồi tôi tiếp tục đọc:

Dạo Khúc 58

Những lời hai kẻ yêu nhau chưa kịp nói với nhau
Thì ngày đã tắt
Nắng đã phai mầu
Thời gian phơi thành muối trắng
Rơi xuống vũng sâu
Biển đã mặn lại càng thêm mặn
Bầy cá ngỡ ngàng chẳng hiểu vì đâu…


Những lời em nói bên anh trong lần gặp gỡ ban đầu
Bây giờ biêng biếc ánh sao
Đêm hè xanh ngắt
Muốn rơi như nước mắt em ngày nào
Lòng anh chẳng hiểu vì đâu

( Nguyễn Quang Tấn )

NGUYỄN QUANG TẤN – TIẾNG GỌI CỦA HAI BỜ LINH HỒN

Thơ đôi khi không còn là chữ, mà là hơi thở, một thứ nhịp tim kéo dài trong cõi khác. Đọc “Dạo khúc 27” và “Dạo khúc 58” của ông, tôi có cảm giác như nghe được hơi thở cuối cùng của một linh hồn vừa kịp nói điều chưa kịp nói. Mọi thứ đều lặng mà vang. Như thể ở đâu đó, ông vẫn đang mỉm cười nhìn lại những câu thơ của chính mình, để chúng tiếp tục sống, tiếp tục thở, trong tiếng gọi của hai bờ sinh – tử.

Những dòng thơ này không đi bằng con chữ, mà trôi theo mạch ngầm linh cảm. Chúng đến từ nỗi cô tịch, từ khoảng thở dài chưa kịp hóa lời. Thơ Nguyễn Quang Tấn, nhất là trong “Dạo khúc 27” và “Dạo khúc 58”, là nhịp sóng lặng mà sâu, là những cung ngân của tâm thức biết lắng nghe âm vang của hư vô, của mất mát, của tình yêu và cõi sau. Đọc hai bài thơ ấy, tôi như bước vào một “điệp khúc hồi sinh” của linh hồn, nơi từng giọt nước, từng hạt muối, từng làn gió đều hóa thân thành nhịp điệu của cái Đẹp thiêng liêng, siêu thực.

Trong “Dạo khúc 27”, ông mở đầu bằng hình ảnh giản dị mà lung linh tầng nghĩa:

“Ở chỗ mà chúng ta buông tay rơi vỡ chiếc bình
long lanh giọt nước tình duyên.”

Câu thơ nhẹ mà rơi sâu, như một tiếng “vỡ” không chỉ đến từ vật thể, mà đến từ chỗ rạn nứt vô hình của duyên kiếp. Từ láy “long lanh” đặt đúng vào điểm mong manh nhất, khiến “giọt nước tình duyên” không còn là nước mà là ánh sáng đang thở, là giọt linh hồn đang rung lên giữa thực và mộng. Cái tài của ông là để cho “ánh sáng” và “nước” tan vào nhau, khiến hình ảnh trở nên mờ ảo mà tinh khiết, lung linh mà cụ thể.

“Chiếc bình vỡ” ấy, ở tầng sâu hơn, là biểu tượng của đời người, của những cuộc tình không trọn vẹn. Nhưng điều kỳ diệu là, từ chỗ đổ vỡ ấy, ông lại nhìn ra được sự sinh sôi:

“Nơi đó sau này thành sông thành biển
Ai đã chèo thuyền vào cõi vô biên.”

Điệp âm “thành sông thành biển” cùng cụm từ gần âm vận “vô biên” làm câu thơ bung nở trong một trường cảm xúc mênh mông, thăm thẳm. Từ “chiếc bình vỡ” mà hóa “biển”, hóa “sông”, ấy là hành trình biến tan thành tồn tại, từ cái vỡ thành cái trọn. Nguyễn Quang Tấn không nói về cái mất, mà về cái còn, cái còn trong một dạng khác, tinh khôi và linh diệu hơn.

Bút pháp của ông trong bài này mang hơi hướng siêu thực nhưng đượm chất thiền học. Điệp cú “ở chỗ mà…” vang lên như một tiếng mõ, như một vòng thiền xoay chậm. “Hương, hoa, gió, mây, tháp, vực sâu”, tất cả hóa thành ẩn dụ cho những cõi tầng tâm linh. Khi “chiếc chìa khóa vàng rơi từ đỉnh tháp xuống mù tăm”, đó là lúc thi sĩ đánh rơi ánh sáng, đánh rơi niềm tin. Và ông, một mình, cúi xuống, nghe “lời gọi âm thầm” vang lên từ vực sâu của chính mình. Ở đó, con người không mộng mị, mà là kẻ chiêm nghiệm, đang lần mò tìm lại bản thể tình yêu trong cõi lặng.

Sang “Dạo khúc 58”, âm sắc thơ thay đổi. Trầm hơn. Mặn hơn. Già dặn như muối ướp vào năm tháng. Nếu “Dạo khúc 27” là bản giao hưởng của nước – tan, trôi, thì “Dạo khúc 58” là khúc độc tấu của muối – kết tinh, lưu giữ:

“Những lời hai kẻ yêu nhau chưa kịp nói với nhau
Thì ngày đã tắt
Nắng đã phai màu.”

Ba câu thơ mà như gói trọn một đời. Cái “chưa kịp nói” là một vết thương muôn đời, nơi thời gian không chịu dừng lại, để hai kẻ yêu nhau kịp thốt một lời. Cụm từ ngắn “phai màu” được đặt bên “nắng” làm hiện lên sự tàn phai của ký ức, của cảm xúc, của nhân duyên. Nhịp thơ ngắt quãng, hụt hơi, nghe như hơi thở dốc của một trái tim vừa đánh rơi chính mình.

“Thời gian phơi thành muối trắng
Rơi xuống vũng sâu.”

Một phát hiện lộng lẫy. “Muối trắng”, kết tinh của nước mắt, của biển, của nỗi đau. Khi “rơi xuống vũng sâu”, muối ấy hóa thành ký ức, nằm lại nơi lòng người. Nguyễn Quang Tấn làm được điều kỳ diệu: biến cảm xúc thành vật chất, rồi lại tan vật chất thành linh hồn. Một thứ thi ca siêu nghiệm, nơi tâm và vật hòa làm một.

Rồi khi “biển đã mặn lại càng thêm mặn”, ta nghe thấy trong câu chữ tiếng ngân của định mệnh, nơi tình yêu, dẫu đã hóa tro, vẫn còn vị mặn nơi đầu môi ký ức. Cái “ngỡ ngàng” của bầy cá cũng chính là cái ngỡ ngàng của thi sĩ trước sự vô lý tuyệt đẹp của tình yêu: càng xa càng nhớ, càng mất càng thương.

Giữa hai bài thơ là một mạch vô hình: từ “giọt nước tình duyên” đến “muối trắng của thời gian”. Nguyễn Quang Tấn đã đi từ “nước mềm” đến “muối cứng”, từ “trôi chảy” đến “kết tinh”. Đó là hành trình của tình yêu qua cõi trầm luân, từ tan để hóa bền, từ biến để hóa thật.

Những câu thơ của ông được dệt bằng âm thanh của khoảng lặng. “Ở chỗ mà…” trong “Dạo khúc 27” là tiếng ngân của chuông thiền; còn “Thì ngày đã tắt / Nắng đã phai màu” trong “Dạo khúc 58” lại là tiếng khép cửa của hoàng hôn. Giữa hai cung ấy là nhịp thở của thời gian – lúc lên, lúc xuống, lúc ngân, lúc tắt. Câu thơ không chỉ là chữ, mà là hơi thở. Mỗi ngôn ngữ láy, “long lanh”, “biêng biếc”, “mù tăm”, “ngỡ ngàng”, như hạt âm long lanh trong bản nhạc buồn của kiếp người.

Ông không viết thơ, mà chơi thơ. Không tạo hình, mà tạo hồn. Từ “chiếc bình vỡ” của “Dạo khúc 27” đến “hạt muối” của “Dạo khúc 58”, ngôn từ đã thành nhạc, âm thanh đã thành ánh sáng, nỗi buồn, cuối cùng đã thành thiền.

Và khi khép lại, người đọc bỗng lặng người, như đứng trước một khúc kinh của biển. Cái buồn trong thơ Nguyễn Quang Tấn không rũ rượi, không bi lụy. Nó là thứ buồn triết học, buồn vì hiểu, buồn vì thấu, buồn như gió thổi qua biển muối: trong veo, mặn mòi, lặng thẳm.

Chiếc bình ấy, dẫu vỡ, vẫn chứa cả đại dương. Hạt muối ấy, dẫu tan, vẫn lưu lại vị đời. Nguyễn Quang Tấn, người đã đi xa, để lại sau lưng mình không chỉ thơ, mà là tiếng vọng. Tiếng vọng của hai bờ linh hồn, nơi những “Dạo khúc” vẫn ngân, vẫn thở, vẫn tiếp tục gọi tên cái đẹp, cái buồn, và cái vĩnh hằng của tình yêu.

Tôi lại đọc

Dạo khúc 24

Từ cửa sổ nhìn ra nghĩa trang
Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại
Kể cả những người đàn bà quên trang điểm trước giờ hấp hối
Hay những thai nhi – chưa sinh ra – đã lìa đời.

Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại
Kể cả những tình nhân chết đêm vượt biển
Xác đàn ông nằm im dưới đáy
Xác đàn bà chẳng biết trôi đâu
Ngày sau sống lại – sẽ tìm nhau.

( Nguyễn Quang Tấn)

DẠO KHÚC CỦA NHỮNG LINH HỒN TRỞ VỀ — KHÚC NGUYỆN TRONG ÁNH MƯA CHIỀU

Cửa sổ hé mở, khung cảnh ngoài kia là nghĩa trang,  không gian tĩnh mịch, lặng yên nhưng lại như một vết dao cắt thẳng vào khoảng cách giữa hai thế giới: sống và chết. Cảnh tượng ấy không chỉ là hình ảnh, mà là sự hiện diện của ranh giới mỏng manh nhất, nơi thời gian ngừng trôi, và linh hồn bắt đầu cất tiếng gọi.

Trong Dạo khúc 24, ông không đơn thuần là một thi sĩ đối thoại với cái chết, mà là người kể chuyện giữa niềm tin và nghi hoặc, giữa thân xác mục rã và linh hồn bất diệt. Lời thơ ông nhẹ nhàng, âm vang trong cái tĩnh lặng như có hơi thở.

“Từ cửa sổ nhìn ra nghĩa trang”, câu mở đầu ngắn gọn, mộc mạc, như một tiếng gõ vào cánh cửa vô thức. Cửa sổ vốn là cánh cửa của ánh sáng, của sự sống, thế nhưng ông lại chọn nhìn về nghĩa trang, chốn của người khuất, một cái nhìn ngược dòng, nghịch hướng sinh tồn. Chính từ đó, bài thơ kéo ta vào một chiều không gian khác: chiều sâu của tâm linh.

“Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.”

Câu ấy như một lời kinh, trang nghiêm, chân thành. Sự lặp lại của cụm từ “Tôi tin” như tiếng tim đập xuyên suốt, vừa là nhịp điệu, vừa là trục xoay tâm hồn bài thơ. Niềm tin trong thơ ông không giáo điều, mà là trải nghiệm, là sự bền bỉ giữ lấy cái bất tử giữa đời phù du.

“Kể cả những người đàn bà quên trang điểm trước giờ hấp hối.”

Một chi tiết giản đơn nhưng thấm thía vô cùng. Cái chết không chỉ là kết thúc, mà là sự bỏ quên những điều mỏng manh cuối cùng của cuộc đời, cái phấn, cái son, dấu vết của nữ tính. Từ láy “hấp hối” vỡ ra như tiếng thở gấp, âm “hối” ngân dài, giục giã, vừa khép lại, vừa mở ra một cõi khác, nơi niềm tin được cứu chuộc.

“Hay những thai nhi – chưa sinh ra – đã lìa đời.”

Như một nhát dao cắt ánh sáng tắt lịm, cụm từ ngắn “lìa đời” nhẹ nhưng sắc, mang theo bi kịch lặng thầm của những sinh mệnh chưa kịp gọi tên. Nguyễn Quang Tấn không chỉ tin vào sự hồi sinh của người từng sống, mà còn với những sinh linh chưa từng hiện hữu. Một niềm tin bao dung, thiêng liêng vượt ra khỏi sinh học, chạm đến bản thể sự sống bất tử.

Khổ thơ thứ hai vang lên như một bài kinh được thầm niệm lại:

“Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại / Kể cả những tình nhân chết đêm vượt biển.”

Chỉ vỏn vẹn ba chữ “đêm vượt biển”, mà mang trọn bi kịch của lịch sử, ký ức dân tộc. Xác đàn ông “nằm im dưới đáy”, xác đàn bà “chẳng biết trôi đâu”, sự tương phản giữa “im” và “trôi” dựng lên hai hình thái mất mát khác biệt: chôn vùi và lưu lạc. Từ đơn “im” tưởng chừng đơn giản, nhưng là tiếng vọng thăm thẳm của biển sâu, của vô vọng, của vĩnh hằng.

Rồi lời thơ vang lên như tiếng chuông trong bóng tối:

“Ngày sau sống lại – sẽ tìm nhau.”

Câu thơ giản dị đến tận cùng mà sâu thẳm không bút nào tả xiết. Dấu gạch ngang trong câu tạo nên khoảng thở, như hơi dừng để linh hồn kịp quay về, kịp nhận ra nhau. “Ngày sau” không chỉ là thời gian, mà là không gian tâm linh, nơi cái chết không chấm dứt, mà chỉ là dấu phẩy tạm ngừng.

Bài thơ cấu thành từ hai khổ đối xứng, mỗi khổ bốn câu, mở đầu bằng câu niềm tin: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Ẩn sau đó là một phép chiếu nhân sinh quan đậm đà nhân bản – thi sĩ không rao giảng giáo lý, mà cứu chuộc chính mình, cứu chuộc những phận người ông yêu thương. Niềm tin trở thành hành động kháng cự trước sự lãng quên, như ngọn đèn le lói trong đêm đen.

Nhịp thơ thở, gấp, dãn. Câu dài ngắn đan xen, dấu gạch ngang nhấn nhá, kéo giãn cảm xúc, tạo nhạc điệu riêng biệt. “Ngày sau sống lại – sẽ tìm nhau” là một hơi thở dài, một nốt lặng cho tâm hồn. Người đọc không chỉ nhìn, mà phải nghe bằng tim. Mỗi khoảng trống là nơi để ta đặt vào hơi thở riêng mình.

Nguyễn Quang Tấn vốn là nghệ sĩ đa chiều, thơ, nhạc hòa quyện. Trong Dạo khúc 24, ta nghe được tiếng requiem lặng lẽ, gam trầm u uẩn của ngôn ngữ ngắn như “xác loài người”, “nghĩa trang”, “lìa đời” xen lẫn ánh sáng hy vọng của “sống lại”, “tìm nhau”. Ông không để những gam màu ấy triệt tiêu nhau, mà để chúng giao thoa, tạo ra ánh sáng mờ ảo như khói nhang trong buổi chiều cúng thất.

Từ láy và cụm từ ngắn gần âm vận trong bài, dù ít ỏi, nhưng trúng ý, đắt giá:

“Hấp hối” – âm đầu lặp lại, vang vọng như hơi thở cuối cùng run rẩy, dập dềnh.
“Lìa đời” – âm “l” trơn, lạnh, kéo dài cảm giác rời xa sự sống.

Chúng không chỉ mô tả trạng thái, mà còn là nốt nhạc trầm vang vọng mãi trong tâm khảm.

Ẩn sâu trong từng câu chữ là triết lý thi ca thuần phương Nam: không giáo điều, không triết luận suông, mà thấm thía, nhân hậu như lời người xưa thì thầm. Từ niềm tin tôn giáo, nhà thơ chuyển hóa thành niềm tin nhân thế, tin vào sự hồi sinh của yêu thương, của ký ức, của những linh hồn bị bỏ quên, bị lãng quên. Những phận nhỏ bé ấy được gọi tên, được phục sinh bằng chữ nghĩa, được tái sinh trong ánh sáng của lòng nhân.

Nơi nhiều thi nhân khác né tránh cái chết bằng sợ hãi, Nguyễn Quang Tấn nhìn nó bằng ánh mắt hiền từ, thấu triệt. “Từ cửa sổ nhìn ra nghĩa trang”, cái nhìn ấy không bi lụy, mà là sự hòa tan vào dòng chảy luân hồi. Thơ ông vừa mang sắc thái phật tính vừa đượm công giáo tính: vừa thiền, vừa lễ, vừa buông, vừa giữ.

Khi bài thơ khép lại, không là chấm hết. Bởi niềm tin là hành trình không điểm dừng. Dù thân xác ông đã nằm lại dưới đất Sài Gòn ẩm ướt, tiếng thơ ấy vẫn còn run rẩy, vẫn còn sống lại,  tìm nhau trong ký ức những ai còn nhớ.

Dạo khúc 24 – bài thơ ngắn như hơi thở, mà đủ sâu để ôm trọn một kiếp người. Nó không chỉ nói về sự phục sinh, mà chính nó là một cuộc phục sinh – của cái đẹp, của lòng tin, của thi ca. Một nốt nhạc ngân dài giữa khoảng trầm của nhân thế, một làn khói mong manh mà sáng, soi qua bao nhiêu u tối của phận người.

Nguyễn Quang Tấn, người Hoàng tử bé của thơ ca, đã biến nỗi chết thành khúc hát, biến im lặng thành âm vang. Cái chết đối với ông không phải là dấu chấm hết, mà chỉ là một khúc nghỉ giữa bản nhạc dài. Một nốt dừng để linh hồn kịp thở, kịp ngân, kịp đi tiếp vào cõi sáng.

DẠO KHÚC CUỐI TRỜI MƯA – VĨNH BIỆT HOÀNG TỬ BÉ NGUYỄN QUANG TẤN

Giờ này, Sài Gòn vẫn mưa lâm râm.
Mưa như thể không nỡ dứt, cứ nhỏ hạt hoài trên mái nhà, trên lối phố.
Huế, Hà Nội – những con đường vẫn còn ngập nước.


Ánh đèn vàng chao chát trên mặt đường, loang loáng trong nước đục, như ánh linh hồn vừa rời khỏi thân xác mà chưa kịp bay cao.

Ông đi tối 01 tháng 11.


Âm thầm. Nhẹ như gió.
Chẳng cần đưa tiễn, chẳng cần huyên náo.
Chỉ cần một cơn mưa làm nền,
một nén hương nhỏ,
một tiếng đọc thầm: “Ngày sau sống lại – sẽ tìm nhau.”

Vĩnh biệt ông – Nguyễn Quang Tấn,


người Hoàng tử bé của thi ca,
người đã chọn rời đời bằng tiếng thơ,
để cái đẹp vẫn còn ở lại.

Mưa vẫn rơi.
Rơi đều, dịu dàng, trầm mặc.
Như khúc tiễn đưa không lời,
như thơ ông – giản dị, mà sâu thẳm vô cùng.

Maryland, khuya 01.11.2025
Nguyễn Đông A

_____________

Nguồn Tạp chí Thế Kỷ Mới

Cuối thu nằm lạnh

.Phạm Văn Phương

.

CUỐI THU, NẰM LẠNH

.

cuối thu nằm lạnh thương mình

thương bao bè bạn ngày xanh cơ hàn

rạ rơm còn ở dưới làng

tôi nương theo ánh trăng vàng tìm em

.

NGẪU CẢM

.

hoa tàn nguyệt tận rồi em

tôi còn đây với nghìn đêm mong chờ

gió mưa từ bấy đến giờ

em đi để lại đôi bờ quạnh hiu

.

KHÔNG CÓ GÌ LÀ MÃI MÃI

.

không có gì là mãi mãi

tất thảy đều vô thường

người và tôi cũng vậy

chỉ còn trong nhớ thương