Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Đọc sách

Đào Thị Thanh Tuyền

.

Thú thật, bây giờ với tôi việc đọc sách khó như gặm… gỗ! Đếm số sách đã đọc trong khoảng thời gian mười năm đổ lại nhiều khi thấy xấu hổ và đâm tiếc nuối cái thời ham đọc sách hơn ham… ăn.

Nhớ một thời, sách là giải trí duy nhất, vớ cuốn nào đọc cuốn đó. Say sưa, quên thời gian. Ngốn cả những quyển rất khó… nhằn, vượt quá tầm của mình. Đọc mà không hiểu đọc gì chỉ vì không còn thú vui giải trí nào khác.

Lại nhớ một thời những cuốn sách (in lậu) bán lưu động ở bến xe Sài Gòn. Đi học xa nhà, mỗi lần về đều dành một khoản tiền để mua sách, lên xe có cái mà nhâm nhi cho quên đường dài. Thời mới ra trường, chờ phân công nhiệm sở làm bạn thường xuyên với tiệm sách cho thuê, cày hết cuốn này đến cuốn khác, vơi dần tiền cược sách, phải đóng thêm tiền mới.

Đọc ngốn vậy nhưng giờ hỏi lại nhiều lúc tôi chỉ nhớ tựa sách của tác giả nào, xuất bản khoảng thời gian nào, có gì nổi trội bên lề cuốn sách khi ấy… còn nội dung có khi không nhớ chút gì; giở lại một cuốn sách cũ đã đọc hồi xưa, ngỡ ngàng như… mới. Mãi thật lâu sau đó mới loáng thoáng “à, hình như đã đọc rồi”!

Nghĩ cho cùng là quy luật tự nhiên mà tạo hóa buộc con người phải quên. Nhiều chuyện xảy ra trong đời sống thực hằng ngày, câu mình nói, lời mình viết, hành động mình làm còn không nhớ thì làm sao nhớ hết nội dung những cuốn sách đã đọc; nhất là những cuốn đọc từ thời còn quá bé, vượt quá suy nghĩ của lớp tuổi, những cuốn quá khó đọc phải “cố mà ngốn”, hay những cuốn đọc lướt vì nội dung không thấy thích…

***

Không như ngày xưa, ở cái thời bao cấp những cuốn sách chữ in lem luốc, giấy xấu, bìa mỏng, tranh vẽ sơ sài, sách bây giờ in đẹp, giấy tốt, trình bày công phu, bìa bắt mắt… Tuy nhiên, có lẽ do ít còn ham sách nên mỗi lần mua sách tôi phải chọn lựa rất kỹ, ưu tiên sách phục vụ cho công việc, tra cứu.

Mỗi lần ra nhà sách, đường sách… tôi chỉ ước mình trở lại cái thời ham sách, ước cảm hứng trở về, khơi gợi cái đam mê ngày bé, cầm cuốn sách mới tinh đưa lên mũi hít hà thấy cả một thiên đường.

Nhìn những bạn trẻ say mê chọn lựa sách mà cảm thấy thèm. Nhưng nghĩ lại, gì cũng có một thời, đừng trách mình vì đam mê không còn, thay đổi là quy luật tự nhiên của cuộc sống. Và, thật ngưỡng mộ những ai qua bao nhiêu năm tháng cuộc đời vẫn còn nguyên thú ham đọc sách.

***

Vậy nên, tháng Chạp vừa rồi, thời tiết khá lạnh, ngoài đường gió bụi, tôi đóng cửa nằm nhà ôm hai quyển sách mặc cho tiếng đời xôn xao thúc giục tết gần kề. Và sung sướng làm sao khi đã đọc hết hai cuốn chỉ trong vòng một tuần. Một cuốn du ký, tương đối dễ đọc, nhiều chi tiết thú vị cuốn người đọc đi theo, chỉ bỏ sách xuống khi mỏi mắt hay cần nghỉ ngơi một chút. Một cuốn, nói khó đọc thì hơi quá, nhưng không hiểu do người chuyển ngữ bám sát nguyên bản không “biến hóa” theo cảm nhận “thuần Việt” nên có nhiều đoạn phải đọc đi đọc lại mới hiểu và tìm ra được vẻ đẹp của ngôn từ. Nhưng, nói chung là thích.

Cái cảm hứng đọc sách còn khiến tôi mở máy tính viết một lèo cái truyện ngắn. Gõ dấu chấm kết thúc, tôi không nghĩ mình viết nhanh vậy. Tất nhiên là khâu “chỉnh tinh” còn phải dụng công nhiều. Nhưng như thế là đã thắng lợi rồi, theo ý nghĩa, chữ truyền cảm hứng cho chữ.

***

Nói sách dịch lại nhớ cái thời tuổi trẻ khi mà “ổ cứng” còn chưa ghi nhiều dữ liệu, tôi cũng mày mò đọc vài cuốn nguyên tác, tất nhiên loại dễ đọc, chẳng hạn như Love Story của Erich Segal. Với tôi, đọc nguyên tác thích ở chỗ cảm nhận cái hay, thích thú của câu văn mà không tài nào dịch sang tiếng Việt được.

Với những tiện ích của công nghệ ngày nay, việc đọc nguyên tác khá thuận lợi, nhất là đọc trên điện thoại có cài ứng dụng từ điển Dict Box. Gặp từ nào không biết chỉ cần chép và cửa sổ từ điển tự động hiện lên, rất dễ tra cứu. Thế nhưng, như đã nói ở trên, cầm cuốn sách tôi còn lười huống chi là đọc ebook, khi giờ đây có quá nhiều thứ cho mình giải trí với đa phương tiện nghe, nhìn thú vị, lôi cuốn.

Chính vì vậy, phải nói rằng tôi cảm thấy khâm phục những người làm công việc biên tập sách hay báo chí. Chỉ có mấy chục chữ cái mà hết ngày này tháng nọ chìm đắm trong đó. Không chỉ việc mưu sinh mà phải có đam mê yêu nghề, yêu chữ mới trụ được công việc thầm lặng, đứng sau những buổi ra mắt sách ồn ào, đông đúc, hay lặng lẽ nhìn tác giả nhận vinh quang. “Đứa con” tuy không sinh ra nhưng có công “bà mụ” đưa đến tay độc giả.

Đọc một cuốn sách cũng giống như gặp một con người. Có người hay, người không hay, người khó, người dễ. Có người ở lại lâu, có người lướt qua mau. Có người nhiều năm sau gặp lại vẫn thấy thú vị, lại có người hoàn toàn không nhớ mình đã gặp khi nào… Đọc một cuốn sách hay, học trong đó những triết lý cho cuộc sống. Đọc một cuốn sách có nội dung không lành mạnh, ít nhiều tư tưởng cũng bị “lăn tăn” vẩn đục…

Mỗi lần đọc tin một nhà sách khai trương, một thành phố sách mới mở, tôi luôn có chút háo hức của thời tuổi hai mươi, dứt khoát phải đến một lần cho biết.

Có những bạn trẻ chăm chú đọc sách và bên cạnh cũng có không ít người coi sách như một công cụ đánh bóng cho tâm hồn – selfie tấm hình đang ở nhà sách rồi khoe lên mạng xã hội. Thật ra, theo ý tôi cũng là cách tốt để quảng cáo cho sách, cho mọi người nhớ đến sách và nhớ sách là phần không thể thiếu trong cuộc sống.

Tự đặt ra mục tiêu năm này đọc mười cuốn sách. Không nhiều với thời tuổi trẻ, nhưng quá nhiều cho cái thời phải đấu tranh giữa sách và bao nhiêu món giải trí hay ho khác.

Phải hết năm mới biết mình có đạt hay không…

Read Full Post »

Trương Văn Dân

.

Elon Musk và 1000 chuyên gia : Hãy dừng nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo hoặc mọi thứ vượt khỏi tầm tay!

Các đại đệ tử của các phù thủy về trí tuệ nhân tạo hiện đang lo lắng!

Trong tháng 3 -2023, Elon Musk và 1000 chuyên gia Trí tuệ nhân tạo đang phát đi Lời kêu gọi: “Hãy dừng lại trong 6 tháng hoặc mọi thứ có thể vượt khỏi tầm tay”.

Có nghĩa là chúng ta đang tạo ra những quái vật (nhân tạo) và khi mất kiểm soát nó sẽ gay ra tác hại khôn lường!

Khi đọc lời cảnh báo này tôi liền nhớ lại chuyện các phù thủy ngày xưa tạo âm binh để sai khiến, nhưng về sau chúng nổi lên làm phản và giết chủ! Tương tự, nếu máy tính có khả năng đánh bại nhà vô địch cờ tướng thì nó cũng có thể tự tạo ra phương cách để vượt qua những giới hạn đặt sẵn để chống lại con người.

Đã từng xảy ra trường hợp là có một robot đã bắt đầu suy nghĩ độc lập và tạo ra một thứ ngôn ngữ mới nên các nhà bác học đã sợ hãi và cúp điện.

Mời các bạn đọc lại chương 33 – Của riêng còn lại chút gì? Trích từ tiểu thuyết TRÒ CHUYỆN VỚI THIÊN THẦN viết về đề tài Trí tuệ nhân tạo từ năm 2014, nghĩa là trước 9 năm khi cảnh báo này được đưa ra khi Thần đèn sắp thoát ra và có nguy cơ mất kiểm soát.

Elon Musk và 1000 nhà nghiên cứu và quản lý, bao gồm cả người bảo trợ của Tesla và Twitter Elon Musk, yêu cầu “nghỉ ngơi” sáu tháng trong việc phát triển các hệ thống trí tuệ nhân tạo tiên tiến như ChatGPT.

Liệu 6 tháng có phải là thời gian cần thiết để ngăn chặn cái mà họ gọi là một cuộc chạy đua vũ trang “nguy hiểm”? và có thể gây nên chiến tranh thế giới và con người sẽ bị tiêu diệt bởi phóng xạ nguyên tử như nhân vật thiên thần trong tiểu thuyết?

Lời kêu gọi này được đưa ra trong một bức thư ngỏ được xuất bản bởi Viện Tương lai Cuộc sống (Future of Life Institute) và được tờ Financial Times đưa tin. Các chuyên gia nhận định “trong những tháng gần đây, đã có một cuộc đua ngoài tầm kiểm soát của các phòng thí nghiệm AI để phát triển và triển khai những bộ óc kỹ thuật số mạnh mẽ mà không ai, kể cả người sáng tạo, có thể hiểu, dự đoán và kiểm soát. Chúng có thể gây ra những rủi ro nghiêm trọng cho xã hội và nhân loại”.

Do đó, họ yêu cầu “tất cả các phòng thí nghiệm AI dừng ngay lập tức trong ít nhất sáu tháng để đào tạo các hệ thống AI rất mạnh như GPT-4. Việc tạm dừng phải được công khai, có thể kiểm chứng và bao gồm tất cả mọi người.

Nếu điều này không được thực hiện nhanh chóng, các chính phủ cần phải can thiệp và đưa ra lệnh cấm”.

Hiện tại, Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ là ba quốc gia dẫn đầu trong cuộc đua trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng các nước khác sẽ bắt kịp bằng mọi giá.

Trong số những người ký tên vào bức thư còn có hai trong số các chuyên gia hàng đầu về các công nghệ này là Stuart Russell và Yoshua Bengio, những người sáng lập Stability AI và Character.ai, một số người đồng sáng lập Apple bao gồm Steve Wozniak, Pinterest và Skype cũng như Max Tegmark, của Viện Công nghệ Massachusetts cũng như nhiều kỹ sư từ Microsoft, Google, Amazon, Meta và DeepMind. Một tuần trước, Alphabet (Google) đã giới thiệu phiên bản Trí tuệ nhân tạo, được phát triển để thách thức ChatGPT, trong đó họ đầu tư vào đối thủ Microsoft.

Liên minh châu Âu đang chuẩn bị một quy định cho việc sử dụng trí tuệ nhân tạo với các hình phạt đối với các công ty vi phạm các quy tắc.

Trước đây Musk cũng đã từng lo sợ là nếu AI bị buông lỏng quản lý và mặc sức tung hoành thì “hiểm họa tiềm tàng lớn nhất mà nền văn minh của chúng ta phải đối diện” nên đã từng có cuộc khẩu chiến với ông chủ Facebook là Mark Zuckerberg:

Zuckerberg cho rằng quan điểm tiêu cực của Musk về trí tuệ nhân tạo là “khá vô trách nhiệm” và Musk phản bác rằng hiểu biết của Zuckerberg về vấn đề này “còn hạn chế”.

&

Nhưng có một chuyên gia không ký tên vào thư thỉnh nguyện nói trên vì cho rằng nó quá mềm mỏng, thậm chí còn kêu gọi hãy đánh bom các trung tâm dữ liệu.

Người đó là ai? Eliezer Yudkowsky.

Eliezer Yudkowsky là người đã dành hơn hai thập kỷ nghiên cứu Trí tuệ tổng hợp nhân tạo (AGI) và cảnh báo về những hậu quả tai hại có thể xảy ra. Vì lý do này, ông còn vượt xa hơn báo động vừa được đưa ra bởi những người như Elon Musk, Steve Wozniak và Andrew Yang…

Yudkowsky lập luận rằng điều đó là không đủ.

Đây là đề xuất gây sốc. Nhưng trong bài xã luận trên tạp chí Time magazine ông cho rằng sự tăng trưởng theo cấp số nhân của các hệ thống trí tuệ nhân tạo đang nhanh chóng đạt đến mức kịch phát, vô cùng nguy hiểm.

Chuyên gia này nói rằng cách duy nhất để tránh thảm họa là chặn hoàn toàn AI. Ý tưởng của ông? “Tắt tất cả các cụm (cluster) GPU lớn (các trang trại máy tính nơi phát triển trí tuệ nhân tạo mạnh nhất) và áp đặt giới hạn về sức mạnh tính toán có thể được sử dụng cho đào tạo AI, giảm nó theo thời gian. Không có ngoại lệ, ngay cả đối với các chính phủ và các cơ quan quân sự”.

Điều gì sẽ xảy ra nếu ai đó không tuân thủ các quy tắc? Yudkowsky không nghi ngờ gì: “Hãy phá hủy các trung tâm dữ liệu này bằng một cuộc không kích.”

Nỗi sợ hãi hay rối loạn tâm thần có cơ sở?

Giọng điệu của chuyên gia Yudkowsky đã làm nhiều người hoảng loạn. Ông

còn nói rằng đang lo sợ là con gái Nina của mình sẽ không sống sót đến tuổi trưởng thành nếu AI ngày càng thông minh tiếp tục phát triển. “nói trắng ra là tất cả mọi người trên Trái đất sẽ chết.”

Chúng ta có thể cho Yudkowsky là một kẻ cường điệu về thảm họa, tuy nhiên nếu ai đó đã dành cả cuộc đời để nghiên cứu về sự nguy hiểm của AI chắc chắn là cảnh báo của người đó rất đáng để lắng nghe.

Có phải vậy không?

.

Bây giờ thì xin mời các bạn đọc lại Của riêng còn lại chút gì?

…Thời của ba mẹ tuy không phải hoàn toàn nhưng cuộc sống khá thanh bình. Mọi người sống hòa thuận với thiên nhiên, sự nương tựa của con người vào nhau đã làm nên nét đẹp hiền hòa của miền quê yên tĩnh. Còn bây giờ… mảnh đất quê hương khó giữ được sự yên ổn, mọi tác động của xã hội đều thường trực quấy nhiễu…

Xã hội ngày xưa khá đơn giản. Mỗi đời người một lối sống, truyền từ đời này qua đời khác và cứ thế mà theo. Nó tựa như chiếc xe lửa lăn

167

bánh trên đường ray. Giao lưu quốc tế còn ít, nước nào, dân tộc nào sống trong lãnh thổ riêng biệt của mình. Phong tục, tập quán nhiều năm liền không thay đổi.

Còn xã hội hiện đại thì đang chuyển động quá nhanh đến mức không thể tưởng tượng được tương lai có thể sẽ xoay chuyển như thế nào. Vào những thế kỷ trước, người ta có thể suy đoán một cách tương đối về thế giới của thế kỷ sau và hình dung về cách sống trong xã hội đó. Khi đó, có rất nhiều chuỗi sự kiện mà con người còn đóng vai trò chủ đạo. Nhưng thế giới vào ngày con chào đời trong thế kỷ 21 thì ba thấy gần như không thể. Ba không biết rồi mình sẽ ở đâu, nếu lúc ấy ba còn tồn tại. Có thể là loài người đang xây dựng một thế giới không có chỗ cho chính mình: Vì khi chúng ta nói về tương lai thì tương lai đã thay đổi rồi. Cái tương lai mà chúng ta nói về chỉ là tương lai của quá khứ!

Thỉnh thoảng nói chuyện với con ba hay nhắc về xã hội thời ba từng sống. Điều đó cũng là thường tình khi một người lớn nói chuyện với người trẻ hơn mình. Nhưng điều này không hẳn chỉ có ba mới tiêc nuối quá khứ mà là cả xã hội đang nhìn lại mình. Sài Gòn đang rộ lên những quán café mang phong cách cũ, đèn vàng, nhạc Trịnh, những mái ngói rêu được thiết kế sao cho nó có hơi hướm xưa. Đương nhiên bên cạnh đó vẫn có vô vàn quán mang phong cách trẻ, hiện đại, rất Tây. Nhưng cứ mỗi khoảng thời gian, quán café mang phong cách cũ lại tiếp nối nhau mọc lên.

Cuộc sống chỉ có thể tiến lên, bước tới, có ai nghĩ đến chuyện thụt lùi lại quá khứ làm chi. Nhất là một quá khứ toàn chiến tranh, bom đạn, mất mát. Vậy thì theo con, điều gì khiến nhiều người tiếc nuối? Phải chăng cái gì thuộc về kỉ niệm, cái gì đẹp thì người ta khó có thể quên, cái gì đã được khẳng định là giá trị thì nó sẽ phải tồn tại?

Thời ba sống, dù chiến tranh lan rộng, nhưng là một thời đại không lên cơn sốt. Cũng không điên cuồng vội vã. Máy móc, xe hơi, điện thoại, máy bay… chưa áp đặt cho con người một nhịp sống siêu tốc. Thời gian và tuổi tác có một thước đo khác. Người ta sống êm

168

đềm hơn. Thời còn bé ba chưa bao giờ thấy ông nội chạy nhảy hay làm một điều gì đó vội vàng. Sự hấp tấp thời đó được xem là thiếu tao nhã và thậm chí vô ích vì trong thời ấy hiếm khi có điều gì thật bất ngờ xảy ra.

Vào những năm cuối đời, cha đẻ của phân tâm học Freud cũng tự đặt cho mình câu hỏi, là liệu những thành tựu mà con người tự hào có phải là dấu hiệu của tiến bộ? Mở đầu một tiểu luận ông ca tụng những thành tựu kỹ thuật, thí dụ niềm vui được nghe giọng nói của con mình khi cách xa hàng ngàn cây số. Nhưng sau đó ông liền viết, là nếu không phát minh ra xe lửa để mang con mình đi xa thì ông đâu có nhu cầu dùng điện thoại để nghe giọng nói của nó. Nếu không có phát minh và chế tạo những con tàu thì con người cần gì phải phát minh ra điện tín để có thể biết tin một người bạn đang đi xa, ở một lục địa nào khác…

&

Khi ba viết cho con những dòng này thì những cột khói của nhà máy điện đang bay lên cao và làm ba nghĩ đến những con người hiện đại đang ngày đêm cặm cụi làm việc để kéo cỗ máy thế giới đi theo tiến bộ và có trộn bệnh ung thư của thời đại. Dĩ nhiên người Mỹ là chuyên gia trị ung thư giỏi nhất thế giới. Họ giỏi bởi vì, với những kỹ nghệ thức ăn, phân bón, thuốc trừ sâu, diệt côn trùng, thuốc khai quang, chăn nuôi và lối sống của họ… chính là những thứ tạo ra căn bệnh này.

Thời gian con sinh ra thì thế giới đang bắt đầu một cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư. Nó hình thành trên căn bản của những công nghệ mới như công nghệ Robot, công nghệ Nano, trí tuệ nhân tạo…

Đây là xu hướng kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực tế với thế giới sinh vật. Trong tương lai rất gần các nhà máy thông minh kết nối với Internet và liên kết với nhau qua hệ thống tự hình dung toàn bộ quy trình sản xuất.

169

Những công nghệ mới này sẽ ảnh hưởng đến mọi luật lệ, mọi nền kinh tế, mọi ngành công nghiệp, đồng thời thách thức ý niệm của chúng ta về vai trò thực sự của con người.

Ảnh hưởng của nó trong thời gian đầu là hàng triệu người thất nghiệp, đặc biệt là các công nhân trong ngành vận tải, kế toán, bảo hiểm… Nhiều công việc ở các nước tân tiến sẽ biến mất vì tự động hóa. Cuộc cách mạng này sẽ có lợi cho tầng lớp giàu hơn là cho những người lao động trình độ thấp, và cũng như từng xảy ra trong lịch sử, các cuộc cách mạng công nghiệp đều mang theo sự bất công và kéo theo hàng loạt những chuyển dịch lớn về chính trị cũng như về thể chế. Chắc chắn trong thời gian tới sẽ có những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu xã hội mà ba không thể nào lường nổi.

&

Thời của con là thời đại kết nối. Sự xuất hiện của Internet và World Wide Web trong những năm của thập niên 1990 đã được chào đón như một thời khắc của giải phóng và mang lợi ích cho nền dân chủ toàn thế giới. Thông tin tạo ra một hình thức của quyền lực, và tới một phạm vi mà thông tin đã trở nên rẻ hơn và tiếp cận được nhiều hơn, các công luận dân chủ sẽ có thể tham gia trong các lĩnh vực mà cho đến nay họ đã bị loại trừ. Trong những năm đầu của thập niên 2000, sự phát triển của các phương tiện truyền thông xã hội dường như đã thúc đẩy khuynh hướng này, nó cho phép việc huy động quần chúng châm dầu cho “các cuộc cách mạng màu sắc” dân chủ khác nhau quanh thế giới, từ Ukraina đến Miến Điện đến Ai Cập…

Thông tin hiện nay rất đa dạng. Người ta có thể online để học cách làm giấy của người Ai Cập, làm sữa chua như người Mông Cổ, hay chế tạo bom xăng, cách phun thuốc tăng trưởng độc hại cho cây trái…

Cuộc cách mạng Internet đã giúp lớp người trẻ như con có được những kho tàng kiến thức vô giá, một thư viện thông tin khổng lồ, mở cửa 24/7, lợi ích và tai hại trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Con có thể tiếp thu thông tin hay liên lạc với nhau bằng tốc độ của ánh sáng. Nhưng những gì để lại qua hình ảnh và chữ viết của mình trên internet, email, Facebook… sẽ bị lưu giữ. Và chắc chắn sẽ có người lợi dụng để khai thác thông tin. Tính riêng tư vì thế sẽ không còn. Điều quý giá nhất của con người đã bị mất. Credit card, mua sắm thứ gì, ở đâu đều bị Big Brother(1) quan sát, lưu giữ ghi chép. Điện thoại di động sẽ kiểm soát con mọi lúc mọi nơi. Ti vi dù tắt, nhưng những gì con làm, gặp gỡ ai trong phòng khách vẫn bị bí mật chụp hình quay phim, tất tật.

Loài người hiện nay đang bị các tập đoàn như Apple, Facebook, Microsoft và Google “bán như rau”: Đằng sau những dịch vụ miễn phí: Email miễn phí, hệ điều hành miễn phí, kết nối miễn phí với bạn bè, tìm kiếm miễn phí là kho dữ liệu khổng lồ mà các nhà cung cấp dịch vụ khai thác từ khách hàng. Từ đó họ có thể bán chúng ta cho các dịch vụ quảng cáo để thu lợi gấp nhiều lần. Trên Facebook mọi “hành tung” của tất cả những ai sử dụng đều được ghi lại đầy đủ trong Nhật ký hoạt động của nhà điều hành. Bất cứ điều gì ta làm trên mạng đều lưu lại dấu vết. Dĩ nhiên ai cũng cố giữ sự riêng tư nhất có thể, nhưng sự riêng tư ấy đều đã thuộc về gã khổng lồ mang tên mạng xã hội.

Và không cần là Sherlock Holmes, người khác cũng có thể đoán được một người thông qua hành vi trên mạng của họ. Ta mua bằng thẻ nào, tìm gì trên Google, like những trang nào, bạn bè ta là ai. Tất cả những dữ liệu ấy đều được lưu lại trong một bộ nhớ khổng lồ.

Hình như không có ai có thể thoát khỏi tầm mắt của “người anh cả”. Một hệ thống camera giám sát phủ rộng tại các thành phố khắp nơi trên thế giới đã biến xã hội thành một cơn ác mộng đi ngược lại nguyên tắc về thừa hưởng phúc lợi từ sự tự do và công bằng mà Tây phương đã tranh đấu từ nhiều thế kỷ trước.

1. Big Brother hay Người anh cả là chương trình truyền hình thực tế do Đài CBS sản xuất, được xây dựng với ý tưởng tập hợp một nhóm khách mời, đưa họ vào sống trong một ngôi nhà tách biệt với thế giới bên ngoài và các phương tiện giải trí như tivi, điện thoại, Internet, thậm chí cả báo chí, sách vở. Tại ngôi nhà chung, hàng loạt camera sẽ ghi hình mọi hoạt động trong ngày của các thí sinh. Ở Việt Nam chương trình này được gọi là Người giấu mặt.

171

Một khái niệm mới bắt đầu ra đời: quyền lực thứ sáu.(1)

Ở các nước như Mỹ, Đức, Trung Quốc đều có các loại camera được gắn trên những cột đèn giao thông và cột điện. Chúng sẽ giám sát các khu vực có mật độ giao thông đông đúc như chợ, trung tâm mua sắm, công viên và các trạm xe buýt. Đó là skynet nhằm kiểm soát hành vi của người dân trên đường phố.

Khi trao đổi với mẹ con về chuyện này, mẹ con có kể lại cho ba câu chuyện mà trước đây đã tạo nhiều dư luận ở một thị trấn ở tiểu bang New York, nhưng nay là chuyện thật bình thường ở nhiều quốc gia: Người ta gắn camera trong nhà trẻ để các bà mẹ ngồi trước máy vi tính trong văn phòng có thể theo dõi các con mình đang làm gì và do đó yên tâm làm việc.

Nhưng cách giải quyết tốt nhất không phải là để các bà mẹ được sống bên cạnh con mình sao? Chúng ta đang tạo một thế giới “hiện đại” có lẽ hơi… quái gở: Người ta đưa trẻ em vào nhà trẻ, bỏ người già

1. Từ thời trung cổ đã hình thành ba loại quyền lực gồm Lập Pháp, Tư Pháp và Hành Pháp, cả ba nhóm này đều thuộc lĩnh vực trị quốc tức dưới quyền năng của chính quyền cai trị cai quản quốc gia hay lãnh thổ. Đến thế kỷ XX báo chí và truyền thông trở thành quan trọng nên được gọi là quyền lực thứ tư. Thế kỷ XXI với sự vươn lên quá mạnh mẽ của internet, các blog, mạng xã hội vượt khỏi tầm khống chế của cả báo chí – truyền thông lẫn tập đoàn trị quốc, khiến cả 4 thế lực này vào giai đoạn đầu của thế kỷ XXI chưa có biện pháp khống chế hữu hiệu, nên trở thành “quyền lực thứ năm”.

Gần đây, trong quyển sách Liquid Surveillance. A conversation của nhà tư tưởng và xã hội học Bauman về cuộc đối thoại với David Lyon, giám đốc trung tâm nghiên cứu về giám sát (Surveillance Studies Centre) có nói về nhu cầu của “quyền lực” như chính khách, nhóm lợi ích, về sự xóa bỏ quyền riêng tư của công dân. Nói cách khác, những gì riêng tư sẽ biến thành công cộng. Do đó, tất cả mọi người đều bị kiểm soát, phân loại, đánh giá, phán xét từ những điều nhỏ nhặt hàng ngày. Trớ trêu là chính chúng ta – kẻ bị kiểm soát – đã cung cấp tất cả các thông tin cá nhân, qua giao tiếp trên mạng xã hội, dùng thẻ tín dụng, mua sắm hay tìm kiếm điều gì trên mạng. Sự giám sát này được xem như quyền lực thứ sáu, nó như con quái vật có nhiều đầu, và hiện nay các định nghĩa đều còn mơ hồ.

Hiện nay cũng có vài nước đã và đang thiết lập một hệ thống khổng lồ để giám sát hành vi của người dân và xếp hạng từng người theo điểm “tín nhiệm xã hội” (social credit) để từ đó nhà nước có chính sách đối xử phù hợp (Cấm bay hoặc cấm đi tàu hỏa. Không có cơ hội tìm việc làm tốt. Bị nêu tên như một công dân xấu. Con em bị cấm học v.v..). Tất nhiên cũng có những hành vi bị trừ điểm như lái xe ẩu, hút thuốc ở nơi cấm, cướp giật hay đăng tin tức giả mạo trên mạng.

172 Tr ò c h u y ệ n v ớ i t h i ê n t h ầ n

vào viện dưỡng lão và nuôi một con chó để làm bạn.

Nhưng chưa hết!

Một ngày nào đó, để kiểm soát, người ta sẽ gắn con “chip” (microchip) vào cơ thể của mọi người.

Thế hệ của ba mẹ có thể sẽ thoát… nhưng con thì chắc không tránh khỏi.

Điều này đã được làm cho thú vật. Cho các tù nhân nguy hiểm. Giới quân sự đã sử dụng cho các tài sản. Và sắp tới sẽ làm như thế cho các con, thế hệ con người – robot sắp tới.

Một con chip computer, nhỏ bằng hạt gạo sẽ được đặt vào cơ thể của trẻ thơ để chính quyền có thể tìm được trẻ khi chúng bị thất lạc hay bị bắt cóc.

Dĩ nhiên, việc tiêm đặt con chip (microchipping) vào cơ thể người dân sẽ bắt đầu với sự tự nguyện, nhưng sau đó sẽ trở thành điều bắt buộc.

Con hãy thử hình dung một thế giới mới mà tiền giấy trở nên lỗi thời, con sẽ không thể mua, bán hay có một chương mục ngân hàng nếu không có một thẻ chứng minh bằng con “chip” do nhà nước cấp cho.

Nếu mình không đồng ý thì làm sao sống sót?

Còn nếu cho phép họ đặt con chip vào cơ thể thì họ sẽ điều khiển cha con mình theo ý của họ. Khi ấy, chúng ta chỉ là một người – robot!

Nhiều công ty ở nước ngoài đã cấy chip vào người để kiểm soát thời gian nhân viên ở đâu và làm gì. Các con chip chứa dữ liệu cá nhân của người sử dụng cùng với chìa khóa để truy cập vào hệ thống và máy tính của công ty. Con người sẽ trở thành người máy và người máy sẽ trở thành phiên bản của con người!

Những chọn lựa đau lòng rồi cũng sẽ xẩy ra.

Và chúng ta có thể làm gì? Khi các tập đoàn kinh tế cấu kết hay lũng đoạn chính quyền để kiểm soát thì cá nhân không còn một đời sống riêng tư nào nữa.

( trích tt TRÒ CHUYỆN VỚI THIÊN THẦN từ trang 167 đến 173 )

Read Full Post »

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Năm tháng nào đã đi qua trong cuộc đời của mỗi con người cũng bằng nhau với từng ấy phút giây quay tròn trên mặt kim đồng hồ, bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông rõ rệt.

Mới ngày hôm qua, con đường tôi đi qua mỗi ngày còn sướt mướt những giọt mưa, Sáng hôm nay nắng vàng chói chan trên bờ cây trơ trụi lá…

Sáng nay những nụ hoa trắng tinh tuyền màu trắng tinh khôi từng chùm và hồng thắm đã rộn ràng trên những con đường quen thuộc theo bước chân tôi;

Hoa Dogwood lại về trong nắng ấm rộn ràng khắp lối

Mùa Đông giá sắp qua nắng Xuân tràn khắp nhà Theo ý nghĩa huyền thoại của loài hoa này… khi hoa Dogwood trở về phố phường :” biểu thị cho mùa Phục sinh sắp đến. “

Ôi những cánh hoa lung linh nở rộ, bốn cánh chụm vào nhau rung rinh trong nắng mới như một đàn bướm đáp nhẹ nhàng trên những cành cây trơ trụi.

Nhắc cho mọi người biết rằng mùa Đông giá sắp qua mau… Hoa tan tác từng cánh rơi xuống nhường cho màu xanh mơn mởn của lá non…Cảnh đẹp như trong thần thoại..

Cũng thời khắc nầy trên đất nước tôi, Những rộn ràng của ngày Tết, mùa Xuân cũng đang giã từ, những cánh mai vàng cũng đang từ từ rơi vãi xuống cội nhường chỗ cho chồi non của lá xanh màu. Cứ mỗi lần mùa Xuân trở lại…lòng tôi cứ quay quắt nhớ nhà cho dù đã xa mái nhà xưa gần hơn ba thập kỷ…

Tuổi già sầm sập đến, mỗi lần đưa tiễn một người quen ra đi…Những lần đối diện với “Cuộc sống và sự chết”, từ lúc nào ta chợt bảo mình biết rằng : cần phải dọn dẹp cho mình một con đường đi thanh thản đến cõi bình yên của tâm hồn… Tất cả những chuyện xưa xa lơ xa lắc bỗng hồn nhiên trở về và bỗng dưng ta muốn nhìn lại những nơi chốn cũ, dấu tích xưa.

Bao năm lưu lạc xứ người ta,

Thêm một Xuân sang lại nhớ nhà

Nhớ cánh mai vàng, bông cúc nở

Quê nhà Tết đến rộn ràng vui.

Năm nào cũng vậy, cứ mỗi lần Tết đến những kỷ niệm thật xa xưa, từ những ngày bé dại hay những ngày mới lớn của tuổi trăng tròn hay hơn một chút nữa…Luôn hiện ra trong tâm trí tôi như mới xảy ra hôm qua, hôm kia hay tháng trước, năm trước…nhưng thực tế cũng đã hơn bốn , năm thập kỷ đã qua trong cuộc đời. sự trăn trở khi một mình đối diện với nỗi buồn lòng canh cánh nhớ quê hương da diết.. Biết bao kẻ tha phương đều muốn trở lại chốn xưa, ai cũng muốn trở về nơi chốn cũ, thành phố cũ đã nuôi nấng tôi qua bao năm tuổi thơ, nhìn thấy tôi lớn lên và giã biệt tôi khi tôi đành đoạn ra đi…tôi trở lại thăm Qui nhơn khi xác thân còn nguyên vẹn và hứa sẽ trở về nằm bên quê hương khi nhắm mắt xuôi tay. Và tôi đã trở về với quê tôi, gặp lại những người thân , những bạn bè, những con đường, những góc phố, những cát biển, những thông xanh….tất cả những dấu yêu xưa mà tưởng chừng như tôi sẽ không bao giờ gặp lại, tôi đã nói lời cám ơn tất cả, cám ơn chỗ ngồi bây giờ vẫn còn nguyên vẹn cho tôi ngồi viết lại những hồi ức này trong hạnh phúc và niềm thương cùng hai tiếng “tạ ơn”.

Quãng vắng, tường soi tóc đổi màu

Cuộc đời, quán trọ khó gặp nhau

Chẳng có tương phùng, đà ly biệt

Nhốt ưu tư, giấu nếp cắt buồn đau

**** Cuộc sống đã đi qua với từng ấy những vui buồn, hối hả , những bương ba khổ hận, những bất chợt bâng quơ…vẫn luôn sống lại trong tâm trí tôi vào những lúc trà dư tửu hậu, và sau những cơn đau thể xác thập tử nhất sanh,

Hôm nay bên ly cà phê nóng một mình trong chút không gian trầm mặc và tĩnh lặng của riêng tôi, nó gần gũi và giàn trãi trong tâm trí như một khúc phim quay chậm…triệu chứng của tuổi già đang hiện hữu vì rằng :

” người già hay lui về quá khứ”…

Ai đã từng đối diện với phút từ ly mới biết quí phút giây hội ngộ. Ở đó là quê hương dấu yêu của riêng tôi……

Trở về thành phố cũ đã một thời ghi dấu chân tôi.nơi đã in bao dấu chân tôi. Qui nhơn của tôi đó: Thành phố mà tôi lớn lên với cát khô, gió biển, thành phố có bãi biển chạy dài bao bọc xung quanh, ở đó biển và cát đã nhìn thấy tôi lớn lên qua biết bao hai mùa mưa nắng, thành phố đã cho tôi những ngày đầu tiên biết buồn khi mùa thu đến, thành phố đã có trong tôi những xao động buổi yêu đầu, những mối tình học trò, những mắt liếc môi cười của một thời con gái.Ở đó có ngôi trường Trinh Vương đã nhận mặt ra tôi từ lúc tôi bước chân vào trường trung học và ở đó đã cho tôi nhiều bạn bè dấu yêu xinh đẹp và bây giờ các bạn bè tôi cũng đã là những người con gái tài ba bay xa khắp bầu trời sánh vai cùng nhân loại. Ở đó tôi đã từng có những lần nhận thư tình của các chàng trao thư hò hẹn, những lần đón đưa với nỗi thập thò ngượng nghịu làm duyên, và những vụng dại đầu đời thật ngây thơ vô tội., thương yêu lắm, tôi đã cố sức qua mấy chục giờ bay để trở lại chốn xưa, cũng mong gặp lại một người ” Mà tôi muốn gặp và chỉ để nói lời cám ơn anh”…Nhưng khi gặp lại tất cả không như tôi mộng tưởng…Tôi thầm trách mình bội bạc và vô tâm …lãng quên và từ bỏ cảm xúc khi đối diện người xưa….

Những con đường ngày xưa đếm bước chân nhau, nhiều ngã đến trường…bây giờ đã thay đổi mọi cảnh cũ và khi trở về gặp lại ” cố nhân”…Cảm xúc nào không còn lại một chút nào rung động xôn xao như khi mỗi lần ” hồi tưởng ” …Giây phút trùng phùng trôi tuột theo những kẽ tay rớt xuống bàn chân tôi tê cóng…

Tôi trở về ” chỗ của mình” trong nỗi bàng hoàng và tâm tư luôn trĩu nặng một niềm riêng không rõ nét…

+++Còn một tuần nữa là đến ngày lễ Phục Sinh, một ngày lễ lớn trong năm nơi xứ người…

Bên ngoài cánh cửa đã xôn xao những bông hoa trắng tinh tuyền và màu hồng thắm của những cánh hoa báo hiệu cho mùa Phục Sinh….màu hồng thắm của những bông hoa bốn cánh chụm vào nhau hệt những cánh bướm hồng nơi đất lạ …

Tôi mỉm cười xua đi những vấn vương xưa l…Chân bước ra vườn bên những bông hoa còn tắm chút hơi sương sớm

Atlanta ( Ngày đầu của Tháng Tư 2023 )

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

Read Full Post »

Nguyễn Đông Nhật

.

Dường như trong cuộc đời của không ít người, hiếm khi có được khoảng thời gian yên tĩnh kéo dài, dẫu chỉ vài tháng, thậm chí vài tuần chẳng hạn. Hẳn nhiên, khái niệm ” yên tĩnh ” là để chỉ một trạng thái bình an của tâm thức ở cấp độ cao hơn những diễn biến tâm lý bình thừong hằng ngày nhưng cũng rõ ràng, chưa phải đã vươn tới tầng nấc sâu xa trong khái niệm về sự tịch tĩnh , hiểu như một kết quả trong quá trình tu tập. Lan man như thế, để nói rằng, thoi gian sống của đa số người trong chúng ta thường bị tiêu phí đi khá vô ích , và cũng để nói rằng dường như tôi đã may mắn thọ nhận được niềm hạnh phúc ấy trong những ngày mùa đông năm vừa qua, dưới mái chùa Quán Thế Am, bên ngọn Kim Sơn thuộc khu vực Non Nước ( Đà Nẵng ). Trong đời, có nhiều điều đã quên đi, có những khuôn mặt lờ mờ hiện lên trong bóng tối của ký ức, có những kỷ niệm cay đắng hay ngọt ngào lướt qua trong ánh chớp của chiếc đèn kéo quân hoài niệm; nhưng hơi thở tàn đông trên rặng cây nắng chiều trước sân chùa, vầng trăng sáng ấm bên thềm núi, những trận gió đẫm mùi vị biển khơi giận dữ rung mình trên mái tôn những đêm mùa đông Trung bộ. . ., tôi biết, sẽ còn đẫm nét cho đến dài lâu, nếu như không muốn nói rằng mãi mãi, trong tôi.

Hạnh, vợ một người bạn và xem tôi như anh trai chở tôi đến chùa, hôm sau mang đến cho tôi bồ đoàn, tọa cụ và vài thứ cần dùng hằng ngày. Chưa hề quen biết ai ở ngôi chùa này, tôi đến và đã được sự đồng ý của vị tu sĩ trụ trì cho phép lưu trú hai tháng để cầu nguyện cho cha tôi , vừa mới qua đời. Như một người khách được Lòng Thương Yêu chào đón , tôi được nhận như là một người quen biết từ lâu. Tôi được tự do sắp xếp giờ giấc và công việc của mình. Suốt trong thời gian gần hai tháng ở đây, chỉ có mỗi một lần tôi cùng tham gia việc dọn dẹp phòng lụt, sau khi đến chùa mấy hôm. Đêm ấy nước lớn nhanh, dâng lên quá bậc thềm trước sân chùa. Cùng với các thầy và các chú, chúng tôi chuyển những chậu hoa kiểng và cây giống len vị trí cao hơn, đên một giờ khuya. Lại thêm một lần hiểu cái tình cảm giữa những người mới gặp nhau lần đầu nhưng dường như đã quen thân từ lâu, cái tình cảm vừa tự nhiên vừa sâu xa mà với những người đã biết nhau có khi cả vài mươi năm, vẫn không có ” điểm chung ” nào cả !

Những ngày mùa đông Kim sơn, tôi có được sự yên tĩnh để nhìn lại đời mình. Bao nhiêu năm nổi trôi theo nợ áo cơm, tôi đã đánh mất nhiều thứ. Tâm hồn bị vẩn đục dần đi, dù tôi vẫn thường xuyên chống chọi sự mài giũa vô danh của những hệ lụy đời thường. Lòng Yêu trước cuộc đời có lúc tưởng như khô cạn trước bao nhẫn tâm vẫn ngày ngày bày ra trước mắt. Trong ánh sáng héo hắt của hồi ức, những khuôn mặt bạn bè và người thân hiện về, gần và xa trong nỗi ngậm ngùi của sự đành lòng trước nỗi chia ly. Cả những người một thời từng sẻ chia bao say mê hay những người tôi dã gửi gắm thương yêu, giờ đã bước đi trên những đường khác mà tiếng gọi thầm của trái tim tôi không đủ sức kêu gọi quay về. Những giấc mơ thời trẻ tuổi đầy ảo vọng nhưng tràn trề quyến rũ đã tan biến. Những giấc mơ khác xuất hiện, dẫn tôi đi xa dần cõi quê chung mà những năm về sau này, tôi càng thấm thía hơn khi nhớ lại lời của =ức Trần Thái Tông : Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách / Nhật viễn gia hương vạn lý trình ( Khoá hư lục ). Và tôi tự dặn lòng, có lẽ công việc quan trọng nhất từ đây cho đến cuối đời, là phải thường xuyên cố gắng để trở lại, để hoà nhập từng bước sâu hơn vào cái không – thời – gian ấy. Cầu xin Đức Quán Thế Am từ bi gia hộ cho kẻ vẫn còn tràn đầy phiền não tội lỗi này.

Những ngày mùa đông Kim sơn, hồi ức chiến tranh trở lại, vừa mất hút dần đi vừa sắc nét hơn, như sự sinh nở của kỷ niệm. Đôi mắt người đồng đội trước khi khép lại vĩnh viễn van còn in bóng màu hoa lim vàng trên cao, nơi một cánh rừng Trường sơn khuất lối. Những mảnh áo quần sậm màu máu bầm đen của những nữ du kích vô danh vương vãi trong những gốc tầm vông trên vùng đất khét bom đạn Củ Chi. Những đêm mùa rét của đại ngàn Trị Thiên, nằm dưới bóng rừng thâm u, hoài công tìm giọt sao rơi qua kẽ lá. . . Tấ`t cả đớn đau và rực rỡ của những năm tháng gian khó ấy, giờ đây hiện lên đẫm nét. Ký ức không hề đào thoát và cũng chẳng là rào chắn, cứ bồi đắp dày lên mãi, cho tôi hiểu rằng, tôi không thể hủy diệt nó cho niềm an vui của riêng tôi.

Những ngày mùa đông Kim sơn, tôi thường hướng về cha tôi và những anh chị tôi đã không còn trên cõi này. Tôi biết rằng họ vẫn còn ở đâu đó và tâm thức họ vẫn hướng đến một cõi khác tốt đẹp hơn, trong vận động của một dòng sống không ngừng nghỉ. Tôi có thể làm gì đây cho họ, ngoài chút nỗ lực nhỏ nhoi trong mong cầu đem đến sự vượt thoát cho những người thân yêu của mình. Nhưng tôi hiểu rằng, cố gắng của tôi chỉ là chút tha lực yếu ớt, rằng Lòng Yêu Thương của tôi chưa đủ rộng để có thể tạo nên một chuyển dổi nào đó trong cõi u huyền kia.

Những ngày mùa đông Kim sơn, tôi có dịp để cảm nhận máu thịt hơn về cái mà tôi gọi là Niềm Yêu Rộng. Từ những tu sĩ gặp hằng ngày, từ sự chơn phác của những tiểu những điệu tuổi còn nhỏ hơn người con út của tôi. Và từ một người bạn mà tôi quen biết chưa lâu nhưng lạ thay, đã thân thiết như từng là tri kỷ. Nơi người bạn ấy, tôi học được sự dịu dàng của trái tim người và Tình Thương Rộng Lớn, vượt qua những xét đoán dung tục của thói thường. Những năm gần dây, tôi hướng sinh hoạt tinh thần của mình theo một hướng khác, rời bỏ dần những tiếng động của đời sống thường nhật. Nhưng đồng thời với việc quay tìm tiếng nói bên trong, tôi cũng buồn rầu nhận ra đấy là một hành trình gian khó ngàn lần mà dường như trên con dường ngui ngút ấy, tôi đã không còn đủ sức lực và thời gian để bước đi, bởi những sức nặng ám ảnh vẫn đè lên trái tim mình yếu ot. Bạn đã đến và nâng tôi dậy. Tấm lòng bạn đã chứa đựng tôi và dẫn tôi đi tiếp trên cung đường mới. Cho phép tôi gọi bạn là ngôi – nhà – của – những – đám – mây – tôi, đang buồn bã lang thang trong cuộc truy tìm câu trả lời cuối cùng. Nhiều đêm, người bạn tôi hiện lên trong giấc mơ với đôi mắt màu nâu sáng êm dịu, trong bóng mây trắng bồng bềnh đang chậm rãi dâng lên bầu trời xanh cao. Mây trắng, trong biểu tượng Phật giáo, là hình ảnh của giải thoát. Tôi không biết mình sẽ trôi về đâu trong mười phương vô tận ấy nhưng dường như tôi đã mơ hồ nghe được tiếng vọng của lời đáp tối hậu. Nhiều năm trước, trong một bài thơ dài viết từ một người bạn khác, tôi cũng đã nghe những âm vang ấy. Khi đó, cảm thức thi ca chiếm phần lớn trong trạng thái tâm thức ấy. Nhưng lần này thì rõ hơn, có cảm giác dường như tôi chạm được vào sự yên tĩnh kia. Lòng tôi có chút an ủi, vì chân thực hiểu rằng, mình cũng chưa đến nổi chôn chân một chỗ trong khi thời gian vật lý của xác thân này vẫn không ngừng tiến về huyệt mộ đã chờ sẵn phía trước. Và trong tôi thầm lặng dâng lên lòng biết ơn sâu xa gửi về bạn, để thêm một lần nữa hiểu rằng, chỉ với Lòng Yêu rộng lớn, con người mới có thể vượt qua sự chi phối của những cái Không Thường,

Những ngày mùa đông Kim sơn, tôi có dịp quay lại một tứ thơ đã viết cách nay mười mấy năm. Trong bài thơ ấy, ở một đọan trước, tôi cho rằng ở tuổi năm mươi, cuộc đời đẹp hơn và buồn hơn. Trong phần sau, sự thật được hóan vị đảo ngược : cuộc đời buồn hơn và cũng đẹp hơn. Tiến trình nhận thức về ý nghĩa cuộc sống lấy bệ phóng từ chỗ nhận ra sự bất định và mong manh của vạn hữu nhưng không dừng lại trong sự bế tắt của chủ nghĩa hư vô mà sự thức tỉnh đầu tiên ấy chỉ có ý nghĩa khi nó tiếp tục dẫn con người bước đi tiếp trong cuộc tồn sinh, không ohải để nói lời chia biệt với cuộc sống này mà ngược lại, quay tìm những giá trị lâu bền vốn vẫn tồn tại giữa đời này. Đến đây, tôi lại chợt nhớ câu nói của một nhà văn nước ngòai mà tôi đã đọc gần bốn mưới năm trước nhưng ngày ấy, ở độ tuổi thiếu niên, làm sao tôi co thể hiểu một cách trọn vẹn: “Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha tha thiết yêu thương trần gian điên dại này”. Giờ đây, tôi chia sẻ sâu xa hơn câu nói ấy và nếu được phép “triển khai” ý nghĩa, tôi sẽ thêm vào cái ý tưởng rằng, cuộc đời “buồn hơn và cũng đẹp hơn” vừa nói ở trên. Đẹp hơn, vì dù trái tim người có bị những ma chiết vò xé đớm đau thì nó đã được bảo bọc bằng Niềm Yêu Rộng. Như thế, cuộc đời lại hiện ra trước mắt con người trong một bình diện trí tuệ hơn, khi nó phát lộ cho chúng ta hiểu ngộ rằng, cái khái niệm ( đành phải dùng từ khái niệm này vậy ) THƯỜNG và VÔ THƯỜNG không gì khác hơn là TÂM SOI CHIẾU của con người trước vạn hữu. Cũng như thế, Hạnh Phúc chính là Khổ Đau và ngược lại. Từ bệ phóng thứ hai này ( tạm gọi như thế ), thêm một cái mốc – kêu – gọi nữa xuất hiện : ấy là cái mà kinh sách gọi là “KHÔNG DÍNH MẮC “. Tôi xin dừng lại ở đây, vì không dám rơi vào chỗ “phiếm bàn” những gì mà mình chưa trải nghiệm. Và thầm dặn lòng hãy thường xuyên nhớ đến lời chỉ dạy của bậc đạo sư vĩ đại : Đứng lại thì chìm xuống, bước tới thì dễ lầm lạc, chỉ có vượt qua, vượt qua không ngừng. Gió không ngừng thổi qua ngọn Kim sơn. Gió vẫn không ngừng thổi qua mọi niềm thịnh suy, hưng phế. Phải chăng, gió là sự vượt qua ? Để đến chốn nào. Đến với Lòng Yêu Thương ? Đến với cuộc đời này ? Đến chỗ của cái CÓ và cái KHÔNG ?, trong một hòa điệu vắng bóng mà có thực .

Để dọn mình cho sự yên tĩnh, tôi đã cho phép mình không đọc, không viết gì trong suốt thời gian ngụ ở Quán Thế Am tự. Vậy mà hôm 25/11/2004, một ngày mưa bão gào thét, đứng nhìn lá cây bay rào rạt, nhìn tượng Quán Thế Am bằng sa thạch đứng trầm mặc dưới trời u ám, tôi viết theo lối tẩu bút mấy bài đỏan cú. Sao có chép tay và gửi vào tòa sọan báo Giác Ngộ . Bên lề sổ tay chép bài thơ, không hiểu sao tôi lại mù mờ ghi thêm dòng chữ :” Loại này khó in báo Giác Ngộ; nếu in, phải chăng có cơ duyên quay lại với Ngũ Hành sơn ?”. khoảng nửa tháng sau, anh Miên Long vào tìm tôi và hỏi, anh có thơ in trên GN phải không? Ay là do anh ML “lọai suy” mà nói thế. Bởi vì cái tên Nguyễn Thiên Trung ghi trên bài thơ, giờ đây chỉ còn vài người làm công tác nghiên cứu văn học tại các đô thị miền Nam trước năm 1975 và dăm người bạn biết mà thôi. Sau đó thầy Sĩ đưa cho tôi xem tờ báo ngày 9/12/2004, có in hai bài thơ ngắn ấy.. Tôi không nghĩ là lời ghi bất chợt trong sổ tay là điều “vận” vào bản thân, bởi tôi vẫn chưa biết có dịp nào quay lại ngôi chùa đã để lại ấn tượng tốt đẹp rong tôi hay không ? Tôi vẫn còn “lênh đênh” biết bao : tôi vẫn chưa biết mình sẽ như thế nào, sẽ làm gì, đôi khi, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi ! Nhưng tôi lại ngoan cố tự an ủi rằng, có quay lại ngôi chùa này hay không, không phải là chuyện của một sự chuyển dịch cơ học bình thường. Bởi tôi hiểu rằng, dù xa xôi đến mấy, có một lúc nào đó, những gì tôi đã thọ nhận trong mùa đông Kim sơn sẽ hiện ra trong tôi như một cơ thể sống, không cần biết đến những giới hạn của thời gian hay sự ngăn cách của không gian. Bởi vì những rào cản này là không có thực, như câu thơ tôi đã viết trong ngày mưa bão vừa nói ở đọan trên : Bão đông quét vào Nam bộ / Nước giội vách Ngũ hành sơn. Mười sáu năm trước, trong một buổi chiều về lại cái thịc xã buồn thiu của những năm tháng thiếu thời, nhớ đến một người bạn gái thân mến, tôi rơi vào ước muốn vượt thóat khỏi những trói buộc dường như mỗi ngày mỗi nhấn chìm tôi, đồng thời lại hiểu rằng, mình chỉ có thể tìm thấy chút an ủi khi nhận ra tất cả sức mạnh của những rào cản : Muốn sống bên ngoài các giới hạn/ mà thời gian giăng khắp mọi miền / Bước đi giữa một hoàng hôn gió / Tiếng ghế khua bên nhánh tay mềm .” Mười sáu năm chỉ để đi được một bước ngắn ngủi như thế, cho tôi hiểu rằng, mấy mươi năm sống trên đời chỉ là một khoảnh khắc trong dòng sống miên viễn. Và thêm điều này nữa, con người vẫn còn cất lên tiếng kêu cứu không biết đến bao giờ mới chấm dứt. Nhưng đồng thời tôi lại tin rằng, lẩn trong tiếng kêu cứu nạn ấy, vẫn luôn luôn âm vang tiếng trả lời đâu đó trong hư không, trong chính từ đáy sâu lòng người, miễn là con người còn biết thức tỉnh, còn biết cất lên tiếng kêu mong muốn vượt ra khỏi cái khổ não vốn ẩn sâu trong bao kiếp đời trôi giạt. Tiếng trả lời ấy, chính là tiếng Quán Am dịu dàng mà tôi đã may mắn thêm một lần thọ nhận trong những ngày mùa đông Kim sơn.

Với riêng mình, cho tôi gọi những ngày tháng ấy và nơi ấy là, nơi không có thời gian.

Và tôi tự dặn lòng, có lẽ công việc quan trọng nhất của tôi từ đây cho đến cuối đời, là phải thường xuyên cố gắng để trở lại, để hòa nhập từng bước sâu hơn vào cái không – thời – gian ấy. Cầu xin Đức Quán Thế Am từ bi gia hộ cho kẻ vẫn còn tràn đầy phiền não tội lỗi này.

Read Full Post »

Đào Thị Thanh Tuyền

.

1. Một lần, bạn bè hai thứ tóc có dịp ngồi với nhau, chuyện lan man quay về ngày thơ ấu, trong đó chén đậu hũ và cục đường tán một thời là nỗi thèm thuồng của tuổi thơ, tuổi mới lớn, cơ thể cần chất ngọt và thường trực nỗi thèm ngọt.

Cái thời, cục đường tán là món quà quê nghèo chờ mẹ đi chợ về, lục giỏ, thấy có gói đường, mở ra, nhón một cục nhưng chỉ dám bẻ một góc bỏ vô miệng. Mẹ mua về với nhiều mục đích chứ đâu phải để… phung phí “ăn sống”. Có bạn kể, thức khuya học bài thèm ngọt, xuống bếp mở chạn lấy cục đường tán không dám cắn vì sợ ngoại biết mà chỉ… mút một chút cho qua cơn buồn ngủ. Mỗi đêm như thế, cục đường tiêu tán dần dần, tất nhiên ngoại biết nhưng chẳng bao giờ nói ra. Cục đường tán hồi đó dạng như hột xoài nhỏ, có hai màu đậm và nhạt hơn chút ngoài nhiệm vụ làm nguyên liệu kho cá, thắng màu, nấu chè… còn là cục kẹo của trẻ con.

Trong giỏ của mẹ, hôm còn có cái bánh tráng nướng. Lại thêm một món quà quê đặc biệt mà phải chờ thắp nhang ông Địa xong mới được ăn. Trước đó, trong nhà có ai làm mất món gì như: chìa khóa, những thứ vặt vãnh tìm mãi không ra, thế là mẹ cầu cứu ông Địa. Hay làm sao, món đồ tìm thấy được và cái bánh tráng kèm tán đường là món quà “trả ơn”. Đừng nói chuyện tâm linh nghe to tát, chỉ là một “luật chơi” bất thành văn, vui vui thôi mà!

Từ tán đường, câu chuyện chuyển sang chén đậu hũ, món ăn vặt giấc xế. Thật khó quên từ tiếng rao cho đến cảm xúc khi bưng chén đậu trên tay và hít hà mùi gừng trong nước đường, mùi đậu non, thơm nhẹ nhàng, ấm áp.

Một đầu gánh là cái khạp sành đựng đậu hũ, được bao một lớp vải dày, đặt trong cái giỏ tre; ngoài nắp đậy, còn một lớp vải cho mục đích giữ nóng. Một đầu gánh là cái “kệ gỗ”, bên trên úp chén, ngăn giữa có xoong đường, dưới cùng là thau nước và các thứ linh tinh khác… Theo thời gian, gánh đậu hũ nhẹ dần, khạp sành được thay bằng bình nhựa giữ ấm, đầu kia là cái rổ, thau nước, bên trên có cái mâm…

Trên đời này, thứ gì tượng trưng cho sống chậm chỉ có thể là ăn đậu hũ. Vừa thong thả mà lại thanh cảnh, chậm rãi từ người bán cho đến khách ăn.

Thả đòn gánh xuống đất, bà bán hàng không vội, lấy cái nón trên đầu xuống quạt vài cái cho mát, không chỉ thói quen mà còn là “để thở” chút xíu mới bắt tay múc chén đậu cho khách. Giở cái nắp, bà cũng chưa múc đậu nếu thấy có lớp nước phía trên. Lấy cái chén, bà gạt nước cho vào chén. Nước này sẽ bỏ đi, nhưng có thể ai đó thích dùng. Nước trong, không vị nhưng dậy mùi thơm của đậu non, lá dứa…

Vài ba gạt đậu hũ là đầy chén, cho dù sẽ múc tiếp chén nữa vì có nhiều khách đang chờ, thế nhưng quen tay bà bán hàng phủ tấm vải lại. Một muỗng đường thắng, màu vàng sậm, trong, huyền phù những sợi gừng giã nhỏ thành một chén đậu hũ thơm nồng. Sống chậm là đây, không phải vì đậu nóng mà còn bởi nó mỏng mảnh, thanh tao, “cảnh vẻ” quá, khiến cho khách phải nhẹ nhàng, chậm rãi tận hưởng cho bằng hết vị ngon.

 2. Hồi mới vào Sài Gòn, ăn chén đậu hũ, có nước cốt dừa và hỗn hợp nước đường có gừng, lợn cợn những hạt bột lọc, tôi không quen, thấy nó nhàn nhạt, beo béo không như chén đậu hũ quê mùa ngày còn bé.

Buổi sáng, đi bộ ra công viên Gia Định, lúc quay về, tôi thường ngần ngừ, bước đi hay dừng lại bên xe đậu hũ, kéo cái ghế, ngồi chờ chén đậu hũ đưa đến tận tay. Nếu không thích cốt dừa và bột lọc, tôi có thể yêu cầu bà hàng gạn cho tôi phần nước đường với gừng thôi, nhưng cái ngần ngừ còn bởi, thứ nhất, ngày nào cũng ăn một chén đậu hũ có đường chưa chắc đã tốt với tuổi của tôi. Mà không đường hay ít đường thì còn gì hương vị chén đậu hũ!

Thứ nữa, tôi cảm giác nước đường có bột lọc đã khiến giảm đi ít nhiều vị ngon và không thanh như nước đường chỉ có gừng. Nhưng, tôi đâu còn chọn lựa nào khác khi bà bán hàng nói: “Ở đây khách thích ăn kiểu vậy, chén đậu hũ quê người ta chê”. Một người khách tiếp lời: “Đậu hũ có nước dừa, bột lọc mới ngon”. Đất lề, quê thói. Tôi không thể phản biện được gì khi cái gu nhà quê của tôi hoàn toàn không phù hợp với người thành phố.

Cũng như, đậu hũ mang vô thành phố không còn gánh mà bày hết trên chiếc xe đẩy hai tầng. Khạp đậu hũ thay bằng cái xoong nhôm lớn, may ra chút xưa còn lại là mớ chén sành, kiểu cũ.

Tôi kêu một chén đậu hũ có đầy đủ “lệ bộ” nước dừa và đường vừa có gừng, có cả bột lọc. Vị béo của nước dừa, “ăn hiếp” vị béo và lấy luôn mùi thơm của đậu non. Những hạt bột lọc nhỏ dai dai, sựt sựt lấn át hết trạng thái mềm, tan nhanh của đậu hũ khiến tôi càng nhớ chén đậu hũ ngày xưa.

Có lần bà bán hàng nói: “Làm bột lọc rất mất công, nhưng không có thì khách lại hỏi. Ráng chìu khách mà nuôi con. Mười năm xa quê, xe đậu hũ đưa lần lượt ba con vào đại học, ra trường. Giờ không còn nuôi ai nữa thì mình tích lũy”.

Một ông khách vui tính hỏi cắc cớ: “Đi xa vầy bỏ ổng cho ai?”. Bà bán hàng cười lỏn lẻn: “Vợ chồng già rồi mà!”.

Tôi đứng lên, trả tiền chén đậu hũ năm ngàn đồng rồi bước đi. Bà bán hàng vói theo, mai ra ăn nữa, cô nghe. Giọng miền Trung lạc lõng giữa phố người. Tôi không biết khi bán chén đậu hũ chìu khách như vậy, chén đậu hũ nhớ thương ngày xưa của bà còn hay mất theo năm tháng dài mưu sinh xa xứ!

Read Full Post »

Con heo đất

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Hai mẹ con Nhi lầm lũi co ro trong cái lạnh se da của gió đông vào mỗi sáng tinh mơ, khi mọi người còn yên giấc, sáng nào cũng vậy cứ đúng bốn giờ sáng là hai mẹ con rời nhà đi về hướng chợ lớn, ở đó có sạp hàng của mẹ, nguồn sống hàng ngày của mấy mẹ con, cho dù mưa bão giá rét tới cỡ nào bà Năm cũng không hề bỏ bữa chợ

Thỉnh thoảng vài con chó ngái ngủ trong các nhà dọc theo con đường hai mẹ con đi qua đi qua chạy ra sủa vang, hậm hực …rồi khi bước chân hai mẹ con đi xa …chúng lại chui vào nhà trốn mất.

Con đường đến chợ khoảng hai cây số nhưng để cho quãng đường ngắn lại, theo thói quen mỗi ngày …bà Năm luôn kể cho con gái nghe bao mẫu chuyện về cuộc đời bà, những chuyện xa lơ xa lắc đã xảy ra trong cuộc đời gian khổ đã qua, những người thân quen hay cả chuyện hàng xóm…có những câu chuyện mà bà Năm kể đi kể lại nhiều lần mà Nhi vẫn thích nghe, và những bước chân như không còn tê cóng vì gió lạnh , con đường trước mặt không còn dài ra dưới chân.

Đến chợ, hai mẹ con khiêng những thùng hàng gởi trong những lô hàng trong khuôn viên chợ, những lô hàng có cửa sắt kéo, mỗi chiểu khi tan buổi chợ hai mẹ con lại thu vén hàng hóa vào trong những chiếc thùng tôn và đem gởi lại, tiếp nối ngày qua ngày.

Sau khi bày biện đâu đó giúp mẹ và chuẩn bị rời chợ để đến lớp, bà Năm đã chuẩn bị cho con gái bữa ăn sáng mỗi ngày, có khi là tô bún cá nóng hổi, có khi là tô cháo lòng hay đĩa bánh ướt còn bốc khói.

Hôm nay trước mặt hàng của mẹ có người chạy chợ dọn một gian hàng bán những con heo đất và những tượng thờ cúng đúc bằng đất nung sơn đủ màu chói lọi.

Nhi mãi đứng nhìn một gian hàng bán những con heo đất sơn xanh đỏ rất ư là đẹp mắt, những ông thần tài bé xinh , những ông địa bụng bự được sơn vàng sơn đỏ, những bạn hàng chen vào lựa chọn vì thỉnh thoảng gia đình này tận miền Nam đem hàng hóa ra bán vài ngày ở đây rồi lại chạy chợ khác, có khi hàng năm họ chỉ đến đây một vài lần.

Mãi mê nhìn ngắm mấy con heo đất sơn đủ màu xanh đỏ, hai cái má núng nính, hai con mắt được vẽ những sợi mi dài và cái nơ trên cổ trông điệu đàng làm sao.

_Gần tới giờ vào học, con ăn mau lên kẻo trễ

_Mấy con heo đất đẹp quá, sao họ có thể làm đẹp như vậy?

_Con thích lắm sao? nhưng con heo đất là để dành tiền, con có muốn để dành tiền để sau mùa thi đi Huế hay SaiGon thi đại học không ?

_ Mẹ cũng nghĩ như con sao?

_Mẹ cũng đang lo không biết đào đâu ra tiền cho con đi thi các nơi khác khi con thi đậu.

_Thôi cứ tới đâu hay tới đó mẹ ạ, lo xa quá mệt lắm.

Trện đường đến lớp Nhi vẫn nghĩ mãi về con heo đất mũm mĩm với chiếc nơ bé xinh trên cổ…ôi sao mà nó xinh thế.

***

Ngồi trong lớp mà tâm trí Nhi cứ nghĩ mãi về con heo đất và những đồng tiền bé mọn mỗi ngày Nhi sẽ xin mẹ cho vô bụng nó mỗi ngày…Rồi sau mùa thi năm tới Nhi sẽ đập ra …Một món tiền lộ phí cho Nhi lên đường ứng thi vào trường đại học…

Trên đường từ trường đến chỗ mẹ, mấy lần suýt đâm vào những người xung quanh vì Nhi đi quá vội.

vừa đến trước gian hàng mẹ mà không còn nhìn thấy những món đồ xanh đỏ của người bán heo đất…

Lòng Nhi như chùng xuống…bà Năm nhìn con thương cảm .

_Mẹ đã mua cho con một con heo đất đẹp nhất kia rồi, màu đỏ con có thích không?

_ Cám ơn mẹ, màu nào con cũng thích.

_Từ nay mỗi buổi chiều khi ra dọn hàng con lấy chút tiền bỏ vào đó, để dành làm lộ phí cho con đi thi.

một lần bỏ ra một số tiền lớn mẹ chạy không ra.

_ Dạ, con biết rồi.

Tay mân mê hai chiếc má phinh phính của chú heo đỏ với chiếc nơ trắng xinh vẽ đơn sơ ở cồ và chiếc lỗ hình chữ nhật trên lưng mới xinh xắn làm sao…để mở hàng Nhi lựa một đồng bạc giấy còn mới , xếp vuông vức cho vào cái rãnh chữ nhật trên lưng của nàng heo con, Nhi thấy sung sướng lạ kỳ với bao niềm vui nhân rộng.

Rồi từng ngày …trước khi thu dọn hàng giúp mẹ Nhi lại cẩn thận xếp một đồng bạc thật khéo léo bỏ vào, nuôi cho heo chóng lớn nhưng cũng tùy buổi chợ, hôm nào nghe mẹ than là buổi chợ ế hay một ngày mưa dầm…ngày ấy coi như con heo nhịn đói chờ đến hôm sau.

Thường mỗi buổi sáng trước khi bước chân ra khỏi nhà , bà Năm dặn con phải đi sau, bà đi trước một quãng…

Hễ hôm nào gặp người đàn ông quét đường đi ngược chiều với bà là coi như một ngày tốt đẹp, mua may bán đắt.

Nhưng cũng có bữa gặp người đàn bà đi ngược lại với hai mẹ con …lòng bà Năm buồn lắm vì cho rằng hôm ấy sẽ không đắt hàng…

Ngày ấy Nhi cũng không tin về những điều này nhưng thấy mẹ tin tưởng như vậy nên cũng tin theo cho mẹ vui, nhưng vẫn không tin là gặp đàn bà, con gái là “Xui xẻo”.

Trong lúc đang chưng dọn hàng hóa mà có người trả mua thì giá nào cũng bán, nhiều khi chỉ huề vốn hay lời chút xíu cũng bán luôn….cốt là mở hàng cho mau mắn là cả ngày ấy sẽ đắt hàng và ngược lại.

Trong suốt những tháng năm đi bên mẹ Nhi đã được mẹ kể cho bao nhiêu câu chuyện, những thế thái nhân tình cũng có, những buồn vui trong cuộc đời mẹ đã đi qua, nhưng không mấy khi có chuyện gì vui, mà sao chỉ là những tai ương, đói nghèo cơ cực…Thỉnh thoảng Nhi phải nhắc mẹ.

_Mẹ ơi chuyện ấy buồn lắm và con đã nghe rồi.

_ Mẹ ơi, sao số mẹ cực khổ quá, không biết sau này đời con có cực như mẹ không ?

_Mẹ mà cực gì đâu con, có nhiều người còn khổ hơn mình nữa đó con, họ còn không có nhà ở, không con cái, không nơi nương tựa, không được học hành, mẹ con mình là được rồi đó con.các con là một gia tài lớn của mẹ.

_Dạ, con biết rồi, mai mốt con thi đậu…làm có nhiều tiền không cho mẹ đi buôn bán khổ cực nữa.

_Ừ , ráng học giỏi , sau này làm bàn giấy như người ta cho sung sướng tấm thân.

Trong tâm tư mộc mạc của mẹ Nhi ngày ấy là chỉ đi làm bàn giấy, tức là làm văn phòng là sung sướng no đủ, không chạy chợ , buôn bán ế ẩm là sung sướng hơn người và hy vọng sau này con của bà cũng được như vậy.

Nhưng thực tế chỉ vì vốn liếng ít ỏi nên bà Năm chỉ bán những món rẻ tiền, phục vụ cho những người nghèo nên không kiếm được những món tiền hời, nhưng nếu có nhiều vốn và buôn bán những thứ có giá trị hơn thì sẽ thu hoạch khá hơn…gánh hàng hóa thì bé xíu lại phải lo cơm gạo cho mấy đứa con ăn học, làm sao mà khá nổi với thời buổi khó khăn bấy giờ.

Nhiều lần kiểm lại số hàng hóa ít ỏi của mẹ mà sổ nợ của bạn hàng gần hết Nhi cứ thót ruột buồn lo nhưng không làm sao giúp mẹ chỉ biết ráng học và giúp mẹ trong mọi công việc.

***

Những ngày gần giáp Tết…Hai mẹ con lại ráng dậy sớm hơn để chuẩn bị bán Tết và kiếm thêm thu nhập chi tiêu trong dịp Tết…thời gian này bà Năm cho thêm những đồng tiền khá hơn cho con bỏ vào con heo để chuẩn bị cho mù hè năm tới…mỗi ngày Nhi lắc thử thấy đã nặng thêm với niềm vui …Ôi, đồng tiền góp nhặt bằng công sức của hai mẹ con.

_Chiều nay sau khi cúng tất niên xong con kiểm lại hàng còn lại cho gọn ghẽ để đem gởi nghen con.

Bao nhiêu tiền bán được mẹ mua lại số hàng tồn với giá rẻ để sang năm có bán.

_Dạ, mình nghỉ mấy ngày hở mẹ?

_Năm nào cũng tới mùng sáu là mẹ khai hàng

_Vậy con đem con heo đất của con về nhà nghen mẹ, nay nó cũng mập hung rồi.

_ Hay đem về kiểm coi được bao nhiêu rồi đổi tiền chẵn bỏ vào có chỗ bỏ tiền lẻ tiếp.

_Dạ con cũng nghĩ vậy, con cũng muốn biết hơn một năm ny con để dành được bao nhiêu?

Đêm giao thừa năm ấy Nhi đã đập con heo đất…

Những đồng bạc giấy còn mới được xếp gọn gàng chen chúc nhau trong bụng con heo đất, được mấy chị em Nhi trang trọng xếp lại và vuốt cho thẳng nếp và phân theo từng loại, đếm tới đếm lui qua tận đến giao thừa, đếm tiền mãi sang mồng một .

Không năm nào mà mấy mẹ con đón giao thừa vui nhộn như năm ấy chỉ vì những đồng tiền nhỏ nhoi góp nhặt hơn một năm với một hoài bão thật to lớn và một niềm hy vọng vô biên.

Niềm vui được nhân rộng hơn khi mấy chị em nhận những đồng tiền mừng tuổi của mẹ, tuy ít ỏi nhưng cũng được Nhi xếp vào chung với số tiền trong con heo mà Nhi đang có được…cả một gia tài mà chưa bao giờ Nhi nhìn thấy từ lúc lớn khôn…với số tiền này sẽ giúp Nhi có phương tiện ra Huế thi vào trường đại Học, vào Sài gòn ghi danh vào một trường nào mà Nhi sẽ chọn…Hay đi Đà Lạt học…V.V…và V…V…

Chỉ một chút tiền bé mọn mà Nhi đã dệt cho mình biết bao mộng đẹp trong mùa Xuân năm ấy…

Ba ngày Tết trôi nhanh …niềm vui và nỗi háo hức , chờ mấy hôm mẹ đi bán lại sẽ mua cho Nhi con heo khác và số tiền này sẽ đổi thành những đồng tiền lớn hơn hay mở một trương mục ở ngân hàng với tên trương chủ là mình….

Nhi bềnh bồng trong hạnh phúc với những mộng đẹp và nụ cười trong giấc ngủ .

Rạng sáng mồng năm….Mọi người chuẩn bị đi dự lễ mồng Năm ở Phú Phong…

Tiếng gõ cửa nhà ai hay nhà Nhi không rõ…Những tiếng gọi dập dồn…thúc hối

_Chị Năm ơi, dậy mau, chợ cháy hết rồi.

_Cháy ở đâu???

_Cháy đâu từ lúc nửa đêm, chỗ mình không còn gì nữa cả

_Không biết chỗ mình gởi hàng có sao không ?

_Tất cả chỉ còn lại một đống tro tàn, mau chạy xuống coi.

_Trời ơi, tai ương đổ xuống nữa rồi

Mấy mẹ con Nhi vừa chạy về hướng chợ, vừa khóc tỉ tê…Bao nhiêu hàng hóa gởi ở chợ là cả một gia tài bé mọn của gia đình, sau khi bán Tết, Mẹ Nhi đã mua thêm một số hàng hóa của những người bạn hàng chở từ Saigon ra chậm nên bán rẻ hơn giá thường, bà Năm đã mua sẵn và gởi ở chợ để chuẩn bị mồng Sáu Tết là khai hàng…

Nhìn quang cảnh xáo xác của ngôi chợ điêu tàn, tan tác không còn một dấu vết gì của một sự sinh tồn, những tro than và những rác rến , những đổ nát tan hoang…Mấy mẹ con ôm nhau khóc ròng và trở về nhà trong sầu thảm, đau thương.

Để ổn định lại cuộc sống, bà Năm cũng vay mượn của bà con và góp nhặt những gì có thể kiếm được để tạo lại một gánh hàng làm độ nhật…món tiền của Nhi mới dành dụm được từ con heo đất là một cứu tinh cho mẹ mà Nhi nài nỉ mẹ nhận lại để mua thêm hàng hóa…

Những ngày kế tiếp nhìn mẹ vất vả hơn vì thiếu vốn và phải chuyển bán những món hàng rẻ tiền hơn, Nhi không dám xin mẹ cho mình nuôi heo đất nữa và mùa hè năm ấy…Nhi cũng đậu Tú tài, nhưng không dám mở môi xin mẹ cho đi bất cứ vùng nào như dự tính…

Thỉnh thoảng Nhi cũng tiếc nhớ con heo đất và mộng ước không thành …nhưng cũng cam chịu và không hề đòi hỏi gì thêm vì biết mẹ cũng trăm cay ngàn đắng vì không lo được cho con đủ đầy như chúng bạn.

***

Qua bao nhiêu năm tháng trôi qua trong cuộc đời…mỗi lần nhìn thấy con heo đất bày bán trong cửa hiệu, hay các chợ trời của người Hoa, Nhi vẫn muốn mua về làm quà cho con cháu, và thương mến nó biết bao, những con heo đất luôn là món quà lập đi lập lại nhiều lần cho những người thân nhưng người nhận không hiểu vì sao ???

Những con heo đất bây giờ được tân trang bóng bẩy hơn, trên lưng vẫn có cái rãnh chữ nhật để bỏ tiền và dưới bụng lại có thêm một cái cửa sổ tròn để rút tiền ra theo ý muốn chứ không cần đập bỏ như ngày trước.

Hình thức con heo đất ngày nay trang nhã hơn con heo đất của Nhi ngày xưa, tuy hai chiếc má vẫn phinh phính dễ thương, hai má tô hồng, môi son đỏ thắm và vẫn chiếc nơ điệu đàng muôn thuở.con nào cũng xinh quá là xinh.

Trên bàn viết Nhi luôn có sự hiện diện của nó như nhắc mãi cho Nhi một mơ ước không thành và nhớ hoài về người mẹ thân yêu nay đã không còn.

Mỗi ngày Nhi đều bỏ vào con heo đất mấy đồng tiền kiếm được…như để gợi nhớ cho mình một kỷ niệm dấu yêu…Khi bỏ những đồng tiền vào con heo đất bây giờ , Nhi không nghĩ là những đồng tiền ấy để làm chi…thỉnh thoảng lấy ra gởi về quê nhà tặng các bạn bè nào cần giúp đỡ.hay mua quà cáp khi mỗi bận về thăm quê nhà.

Sau khi những đồng tiền ấy rung rinh trong bụng con heo và cần lấy ra thì cũng có những việc cần làm với những đồng tiền bé mọn ấy, cũng chỉ một chút nhỏ mọn để giúp người, gởi biếu những người nào cần giúp đỡ…cũng chính cái tâm của Nhi là giúp người , tưởng nhớ về người mẹ thân thương.

Một kỷ niệm khó quên trong cuộc đời và nhắc cho Nhi nhận ra rằng chớ nên kỳ vọng vào bất cứ điều gì quá đỗi…Khi sự việc không thành như ý nguyện lại cưu mang một nỗi thất vọng vô biên..

.Con heo đất đập ra để giúp mẹ trong cơn khó nghèo cơ cực và ngưỡng cửa trường đại học xa mờ trong cuộc đời..

.Sau đó Nhi đã lặng lẽ bước chân lên xe hoa giã từ những mơ ước đầu đời…Bước vào những “‘giông gió cuộc đời từ buổi ấy.”

Ôi tuổi thanh xuân và những mơ ước không thành làm thay đổi vận mệnh một cuộc đời …

Ôi con heo đất và những ngày tháng lặng thầm bên bóng mẹ.

Atlanta ( Tưởng nhớ Mẹ và những mơ ước ngày mới lớn)

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

Read Full Post »

Đào Thị Thanh Tuyền

.

Tôi có thói quen mỗi cuối năm dọn dẹp lại bỏ đi nhiều thứ, những thứ tồn đọng, lưu cữu từ năm này sang năm kia, lấn cấn, bỏ thì thương, vương thì tội. Năm ngoái thấy tiếc, không nỡ bỏ đi, năm nay lại lôi ra, cân nhắc, đắn đo.

1. Những cuốn sổ ghi chép đời nảo đời nào từng chi tiết lụn vụn, lặt vặt như thưởng tết bao nhiêu, mua sắm thứ gì… Đó là tôi đã đoạn tuyệt nhiều với quá khứ rồi, từ cái thời bao cấp khó khăn, mua bình sữa, cái nôi, thau tắm… tôi cũng ghi sổ hết để so sánh một bên là lương tháng mấy chục đồng, một bên là chi phí cho một đứa bé – thường là cao hơn rất nhiều. Rồi lẩn thẩn, mình lấy đâu ra tiền chi dùng ngần ấy năm? Để rồi ký ức tuôn về ào ạt muốn ngộp thở. Tôi nhất quyết nói lời chia tay quá khứ. Hủy hết. Giữ lại nặng lòng quá! Có ai ngồi tỉ mẩn ngoài mình để nhớ thương, bồi hồi?

Năm nay tôi quyết thanh lý gọn sạch những cuốn sổ ghi chép đã ố vàng đi nhiều. Đa phần là sổ công tác ghi nội dung các cuộc họp, lịch làm việc, linh tinh… Mấy năm trước tôi cố giữ lại, giờ lướt qua lần nữa tôi thấy chẳng để làm gì. Nếu căn cứ so sánh thời giá qua các giai đoạn thì đã có nhà kinh tế, sử học… Ai cần đến tôi?

Tiếp đến tôi lôi chồng vở cũ thời còn làm việc, theo học các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ. Lần lại những trang vở cũ tôi hiểu ra lý do mình giữ nó bao nhiêu năm là vì… chữ viết đẹp quá, và vở thì rất sạch. Tôi lại tiếc lần nữa, chần chừ một lúc, cuối cùng quyết định không lưu nữa.

Tuy nhiên, có những thứ mỗi lần giở ra luôn khiến tôi dừng lại thật lâu. Đó là những lá thư của ba, của anh, của bạn bè mà ngày ấy, thư đi tin lại trong nước cũng phải đến hai tuần là nhanh. Quá khứ tái hiện từng khuôn mặt người, cái cách cầm cây bút và đánh tay viết như thế nào.

Dáng ba ngồi bên bàn viết, lưng thẳng, đầu hơi nghiêng. Ba viết nhanh, chữ hơi khó đọc. Những năm đó tôi đi học xa. Ba kể chuyện gia đình, động viên tôi học hành và luôn trong những lá thư ba ghi cho tôi bao nhiêu tiền kèm câu dặn dò: “Đồng tiền khó kiếm lắm, con giữ lấy mà tiêu dè sẻn”.

Cảm xúc đẩy lên cao, tôi vội vàng xếp những lá thư của ba và chuyển sang xấp thư của bạn bè. Những câu chuyện kể vu vơ, nỗi buồn thời tuổi trẻ, băn khoăn về tương lai… Những dòng chữ quen thuộc quá khiến tôi cảm giác mình đang ngồi trong lớp học, xung quanh bạn bè cắm cúi ghi chép.

Tôi thích nhìn cách mỗi người ngồi viết, quan sát và cảm nhận, để thấy không ai có chữ viết giống ai, cũng như mỗi người mỗi tính, mỗi cuộc đời khác nhau mà mãi sau này, trải nghiệm nhiều tôi mới hiểu hết.

2. Tôi nhớ không nhầm thì mãi đến năm 2000, tôi mới bắt đầu sử dụng email. Và từ đó, những lá thư viết tay gửi qua bưu điện ngày một ít rồi hết hẳn. Không còn thư viết tay nhưng mối quen biết nhiều và đa dạng hơn. Tôi cũng như nhiều người bây giờ gõ phím máy tính hay thao tác hai ngón tay cái trên điện thoại nhoay nhoáy, nhanh hơn viết tay. Thậm chí, có khi tôi lười, bật chức năng giọng nói trên điện thoại, chuyển thành văn bản cho mau thấy!

Một ngày, bỗng nhiên thèm đọc chữ viết tay của bạn bè quá, tôi email cho hai người bạn ở nước ngoài quen qua thế giới ảo. Nội dung, tôi ngỏ ý muốn biết được chữ viết của bạn. Để “làm tin”, tôi lấy giấy ra và viết hai “lá thư” với nội dung, chào bạn, bạn khỏe không, đây là chữ viết của mình, gửi lại cho mình xem chữ viết của bạn với. Tôi vẽ kèm theo các icon mặt cười, trái tim… Tôi viết bình thường, không nắn nót, nhưng chữ vẫn còn đẹp và sạch sẽ, dễ đọc.

Mở ngoặc, ngày xưa nhiều bạn bè biết tôi viết chữ đẹp. Một thời gian dài trong hai năm từ 1984 đến 1986, rảnh rỗi sinh nông nổi, tôi mua giấy carô, mực tàu, ngòi bút lá tre… về đóng thành cuốn rồi kẻ nhạc và chép đến ba tập nhạc dày, hệt như bản in. Đến nỗi, bây giờ mỗi lần giở ra, thằng con trai của tôi cứ há hốc miệng không thể tin được là có những bản nhạc chép tay đẹp như thế, từ mẹ.

Tất nhiên là tôi chụp hình “

” vỏn vẹn hơn hai mươi chữ, kèm vào email gửi đi.

Tôi nhận thư trả lời ngay sau đó mà tôi hình dung ra được bạn đang ngồi trong văn phòng, trước máy tính và cười ngất.

Nội dung thư hồi âm đều giống nhau, kiểu như, mấy chục năm rồi, bạn không viết tay mà suốt ngày ngồi gõ phím nên chữ viết kinh khủng lắm, như cua bò, không thể đọc được. Bây giờ cầm lại cây bút thật khó khăn.

Vậy là tôi không có được cái diễm phúc đọc “nét chữ” để biết “nết người” ở thời đại công nghệ rào rào gõ phím.

3. Tôi thích nhất khoảng thời gian giáp tết, mỗi ngày tranh thủ lúc rảnh tôi xách xe chạy rong, tạt qua chợ tết, chợ hoa, hàng trang trí… Nơi tôi thường ghé lại là chỗ ngồi của mấy anh viết câu đối tết mà tôi hay gọi là “hàng chữ”. Có lần tôi chụp được tấm hình hai đứa bé khoảng ba, bốn tuổi, một bé hai tay bế con chó con, đứng say sưa nhìn anh chàng “thầy đồ” ngồi trên chiếc chiếu rộng, viết chữ thư pháp. Trên cái bàn nhỏ, linh tinh các thứ, bút, giấy, mực…

“Hàng chữ” không đông người đến nhưng năm nào cũng có. Người mua mang về những dòng chữ hy vọng đem lại may mắn, sung túc cho cả năm, người bán cũng muốn chia sẻ chút tài mọn, kiếm ít đồng tiêu tết.

Mấy năm trước đọc báo thấy lao xao chuyện cấm không cho các “thầy đồ” viết chữ trên phố ngày tết ở Văn Miếu, Hà Nội. Vẫn còn lưu trên internet khi tìm thông tin này trên Google. Có những tựa bài báo đọc lên thấy chạnh lòng, như: “Ông đồ cắp chữ chạy khi bị đuổi khỏi vỉa hè”.

Đọc kỹ thông tin cũ mới thấy, để giữ gìn trật tự đô thị, các “hàng chữ” được dời vào khu quy hoạch với các tiêu chuẩn a, b, c, d cho “thầy đồ”. Nhưng, từ khi đi vào quy hoạch thì lại ít người lui tới.

May quá, thành phố tôi ở chưa quy hoạch chuyện này nên tôi hy vọng tết năm nay vẫn còn được lang thang ngắm các “thầy đồ” viết chữ.

Bây giờ mấy ai còn ham cầm đến cây bút và viết ra thành chữ?

Read Full Post »

Phá

Truyện ngắn của JOSEPH CONRAD

Hiếu Tân dịch

.

Joseph Conrad (Józef Teodor Konrad Korzeniowski) nhà văn Anh gốc Ba lan (1857- 1924). Tác phẩm chính: Chiến thắng (Victory, 1915) Lord Jim, 1900, Tên mật vụ (The Secret Agent, 1907) Một kẻ bị ruồng bỏ (An Outcast of the Islands, 1896), Cuộc đọ kiếm (The Duel), Heart of Darkness, 1899, (Nostromo,1904)

Conrad được coi là một trong những nhà văn viết tiếng Anh hay nhất, là người có phong cách văn xuôi bậc thầy đã đưa những xúc cảm bi kịch của những xứ sở ngoài Anh vào văn chương Anh.

ND

***

Người đàn ông da trắng tì cả hai khuỷu tay lên mui ở khoang đuôi thuyền, nói với ông lái:

“Chúng ta sẽ nghỉ qua đêm ở ngôi nhà của Arsat trong khoảng rừng trống. Bây giờ muộn mất rồi”

Người Mã lai chỉ lầm bầm điều gì không rõ và tiếp tục nhìn cắm xuống dòng sông. Người da trắng tỳ cằm lên hai cánh tay khoanh đặt trên mui thuyền và đăm đăm nhìn luồng nước rẽ trôi phía sau thuyền. Ở cuối con đường thẳng trong rừng bị cắt ngang bởi ánh lấp lánh gay gắt của sông, mặt trời hiện ra chói lòa giữa bầu trời quang đãng, lơ lửng trên dòng nước phẳng lừ sáng loáng như một giải kim loại. Những cánh rừng âm u xám xịt đứng im lặng bất động hai bên dòng nước rộng. Dưới gốc những cây to cao chót vót, những cây cọ nipa không thân mọc lên từ bùn bên bờ thành những cụm lá to rộng rậm rạp, che trên những xoáy nước màu nâu cuồn cuộn. Trong không khí im lìm từng thân cây từng chiếc lá, từng cành, từng tua của những cây leo, từng cánh của những bụi hoa nhỏ xíu.. dường như đang mê đi trong một cảnh bất động hoàn toàn và cuối cùng. Không vật gì động đậy trên mặt sông ngoài tám mái chèo nhịp nhàng khỏa lên xuống làm nước bắn tóe; trong khi ông lái mạnh mẽ và đột ngột vung tay chèo đều đặn sang phải sang trái vạch thành những đường bán nguyệt lóe sáng trên đầu ông. Nước bị khuấy tung bọt trắng trong tiếng kêu róc rách. Và chiếc thuyền chở người đàn ông da trắng, bơi ngược dòng sông trong sự náo động ngắn ngủi do nó tạo ra, dường như đang tiến vào một xứ sở mà ngay cả ký ức về chuyển động cũng đã bị phai mờ vĩnh viễn.

Người đàn ông da trắng, lưng quay về phía mặt trời đang lặn, ngắm nhìn khoảng trống trải mênh mông phía cửa biển. Trong ba dặm cuối cùng của nó, con sông đang ngập ngừng và lờ lững bỗng như không cưỡng nổi sự dụ dỗ từ vẻ phóng khoáng của một chân trời rộng mở, lao thẳng ra biển, lao thẳng hướng đông – cái phương đông neo đậu cả ánh sáng và bóng tối. Đằng sau thuyền, một nghịch âm mơ hồ không rõ rệt, như tiếng kêu liên hồi của loài chim, nhảy cóc trên mặt nước êm và mất hút trong cái im lìm như nín thở của cảnh vật, trước khi vào được đến bờ.

Ông lái dấn mái chèo xuống dòng nước, và giữ nó bằng cánh tay cường tráng, thân người ông nhao về phía trước. Tiếng nước réo ùng ục, và khúc sông đang thẳng bỗng nhiên như xoay đi quanh tâm của nó, những cánh rừng đu đưa nửa vòng và ánh tà dương chiếu chếch mạn thuyền bừng lên rực rỡ, in những bóng người mỏng manh và vặn vẹo trên thuyền thành những vệt dài lên mặt nước sông lấp loáng. Người da trắng quay lại nhìn lên phía trước. Hướng thuyền đã đổi thành vuông góc với dòng sông, và cái mũi thuyền chạm đầu rồng bây giờ nhằm thẳng vào một khe hẹp trong những bụi cây chằng chịt bên bờ sông. Nó lướt qua, chải qua những cành cây con buông rủ từ trên xuống, và biến mất khỏi dòng sông giống như một loài lưỡng cư mảnh mai dời khỏi mặt nước bò lên hang ổ của chúng ở trong rừng.

– 2 –

Con rạch nhỏ giống như một đường hào: ngoằn ngoèo và sâu một cách khó tin, đầy bóng tối ảm đạm dưới một dải hẹp màu xanh dương trong sáng của bầu trời. Mênh mông cây rừng vươn lên cao ẩn mình sau những diềm hoa của những bụi dây leo. Đó đây, bên bóng đen lấp loáng của mặt nước, những bộ rễ xoắn xuýt của những cây cao hiện ra giữa những mảng dương xỉ, đen và tăm tối, oằn oài và bất động, giống như những con rắn bị tóm giữ. Những lời lẽ cộc lốc của mấy người chèo thuyền bị dội lại vang lên giữa những bức tường thực vật dày đặc và tối xẫm. Bóng tối rỉ ra từ giữa những bóng cây, qua mê lộ rối rắm của những kênh rạch, đằng sau những tán lá lặng tờ hình thù kỳ quái; bóng tối bí mật và không gì thắng nổi, cái bóng tối tỏa hương thơm và độc địa của những cánh rừng dày kín mít.

Những người chèo thuyền dùng sào chống ở đoạn nước nông. Con rạch mở ra thành một giải rộng, một cái phá trì trệ lờ đờ. Những cánh rừng lùi xa khỏi bờ đầm lầy để lại một giải cỏ lau bằng phẳng màu xanh nhạt, đóng khung lấy màu xanh dương được phản chiếu của bầu trời. Một tảng mây xốp màu hồng bồng bềnh trên cao, để hình ảnh với sắc màu thanh nhã của nó trôi dưới những chiếc lá nổi trên mặt nước và những bông hoa sen ánh bạc. Một ngôi nhà nhỏ ngất ngưởng trên những chiếc cột cao hiện ra đen ngòm phía xa. Cạnh nó, hai cây cọ nibong cao vút trông như tách ra khỏi cảnh rừng làm nền phía sau, hơi nghiêng trên mái nhà bờm xờm, những tán lá dày của chúng ngả xuống như che chở, gợi một nét dịu dàng buồn bã.

Ông lái giơ mài chèo lên chỉ: “Arsat có nhà. Tôi trông thấy chiếc thuyền của anh ấy buộc giữa các hàng cột”

Những người chân sào chạy dọc mạn ngảnh nhìn qua vai cái mục tiêu của một ngày hành trình. Nếu có thể được, chắc họ đã muốn nghỉ đêm ở một nơi nào khác chứ không phải trong cái phá nổi tiếng về những chuyện ma quái và huyền hoặc này. Hơn nữa, họ không thích Arsat, trước hết vì anh ta là người lạ, và cũng vì anh ta sửa chữa cái nhà sập sệ này và trú ngụ trong đó, tuyên bố rằng anh ta không sợ sống giữa những hồn ma thường ám những nơi hoang vắng. Một người như thế rất có thể làm chệch đường đi của thần số mệnh bằng những lời lẽ báng bổ hay bất cẩn, trong khi những con ma quen thuộc của hắn không dễ bỏ qua những người khách trọ qua đường này, mà chúng đã nóng lòng chờ đợi từ lâu để trút lên họ những cơn giận hiểm ác đối với người chủ của chúng. Người da trắng không lo sợ những chuyện loại đó, họ là những người không có tín ngưỡng và họ liên kết với Chúa Quỷ, người dẫn họ qua những hiểm nguy vô hình của thế giới mà không bị hại. Trước những lời cảnh báo hợp lý, họ có thái độ tự đắc hoài nghi rất khó chịu. Vậy còn biết làm thế nào với họ?

– 3 –

Họ nghĩ vậy, và đè cả sức nặng thân người lên đầu những con sào. Chiếc thuyền lớn lập tức trườn đi êm ru không một tiếng động, về phía giải đất trống của Arsat, cho đến khi nghe những tiếng lộp cộp của những con sào ném xuống, và những tiếng rì rầm cất lên “Lạy đức Ala!” đó là lúc nó đụng nhẹ vào những cọc gỗ cong queo dưới chân ngôi nhà.

Những người chèo thuyền nghếch mặt lên kêu chói tai: “Arsat! Ơ Arsat!” Không có ai ra. Người da trắng bắt đầu trèo lên chiếc thang thô dẫn lên sàn nứa trước cửa nhà. Người lái thuyền nói giọng bực bội: “Chúng ta sẽ nấu ăn trên thuyền và ngủ trên nước”

“Đưa cái chăn và cái giỏ của tôi đây” Người da trắng nói giọng khô khan. Anh ta quỳ trên sàn để nhận cái bọc. Chiếc thuyền bị đẩy ra, và người da trắng đứng dậy, đối diện với Arsat vừa mới từ chiếc cửa thấp của ngôi nhà chui ra. Đó là một chàng trai trẻ khỏe, với bộ ngực nở và đôi cánh tay cuồn cuộn bắp thịt. Anh không mặc gì ngoài một chiếc xarong, để đầu trần. Đôi mắt to, ôn hòa của anh nhìn người da trắng chằm chằm, hăm hở, nhưng giọng của anh điềm tĩnh khi anh hỏi, mà không cần chào.

“Anh có thuốc không, Tuân[1]?”

“Không” Người da trắng giật mình nói “Không. Nhưng sao, ở đây có người bệnh à?”

“Vào mà xem” Arsat trả lời, vẫn với giọng bình thản và hơi quay người, lại chui qua chiếc cửa nhỏ. Người da trắng bỏ rơi cái bọc của mình, đi theo. Trong bóng tối mờ mờ của chỗ ở, trên một chiếc ghế dài bằng tre, một người phụ nữ nằm ngửa duỗi dài dưới một tấm chăn rộng bằng vải bông đỏ. Cô ta nằm ngay đơ như chết, nhưng đôi mắt to mở rộng lóe lên trong bóng tối, trừng trừng nhìn lên những rui mè gày guộc trên mái nhà, bất động và không thấy gì. Cô ta đang sốt cao và rõ ràng là bất tỉnh. Đôi má hơi trũng xuống, đôi môi hé mở, và trên gương mặt còn trẻ có điềm xấu, cái vẻ cứng đờ, cái vẻ chìm sâu trong vô thức của một người sắp chết. Hai người đàn ông đứng nhìn xuống cô trong im lặng.

“Cô ấy ốm đã lâu chưa?” Người du khách nói.

“Đã năm ngày đêm tôi không ngủ” Người Mã lai nói chậm rãi. “Đầu tiên cô ấy nghe có những tiếng gọi cô ấy từ dưới nước và vùng ra khỏi tôi lúc ấy đang giữ chặt cô ấy. Nhưng hôm nay từ lúc mặt trời lên cô ấy không nghe thấy gì nữa. Không nghe thấy cả tiếng tôi. Cô ấy không nhìn thấy gì nữa. Không nhìn thấy cả tôi”

– 4 –

Anh ta im lặng một lúc, rồi khẽ hỏi:

“Anh Tuân, liệu cô ấy có chết không?”

“Tôi sợ thế” Người da trắng nói buồn rầu. Anh biết Arsat đã nhiều năm nay, ở một nơi xa xôi từ những thời gian rắc rối và nguy hiểm, khi đó người ta không coi nhẹ tình bạn. Và từ khi người bạn Mã lai này của anh bỗng dưng đến ngụ trong túp nhà trên cái phá này với một người đàn bà xa lạ, đã nhiều lần anh ngủ lại ở đây, trong những chuyến đi xuôi ngược trên sông. Anh thích người bạn này, anh ta biết cách giữ trung thành trong hội đồng và biết cách sát cánh bên người bạn da trắng chiến đấu không hề sợ hãi. Anh thích anh ta, có lẽ không nhiều như người ta thích một con chó cưng, nhưng dù sao anh vẫn thích anh ta đủ để giúp đỡ mà không vặn hỏi, để đôi khi giữa những cuộc theo đuổi mục đích của mình, có một thoáng nghĩ về người đàn ông cô độc và người đàn bà tóc dài với bộ mặt gan góc và đôi mắt đắc thắng, họ sống ẩn náu với nhau trong rừng, đơn độc và sợ hãi.

Người da trắng ra khỏi lều đúng lúc để nhìn thấy cảnh mặt trời lặn như một đám cháy lớn bị dập tắt dần bởi những bóng tối mau lẹ và lén lút nổi lên như những đám hơi nước đen mờ phía trên những ngọn cây, trải ra trên bầu trời, phủ mờ ánh đỏ ối của những đám mây trôi và ánh chói lọi của ngày đang dần tắt. Phút chốc tất cả các vì sao hiện ra cao tít phía trên cái nền đen xẫm của đất, và cái phá mênh mông này bỗng nhiên lấp lóa những ánh sáng phản chiếu giống như một mảnh vá hình ôvan của trời đêm ném xuống màn đêm của một vùng hoang vu thăm thẳm và vô vọng. Người da trắng lấy ra từ chiếc giỏ bữa ăn tối, và vơ lấy mấy que củi rải rác trên sàn, nhóm lên một ngọn lửa nhỏ không phải để sưởi mà để có chút khói để xua muỗi. Anh quấn chăn và ngồi tựa lưng vào vách sậy của túp lều, đăm chiêu rít thuốc.

Arsat chui qua cửa bằng những bước chân không gây tiếng động đến ngồi xổm bên đống lửa. Người da trắng hơi động đậy đôi chân duỗi dài.

“Cô ấy thở” Arsat nói bằng giọng trầm, chờ đợi câu hỏi. “Cô ấy thở và người nóng rực như lửa. Cô ấy không nói, không nghe, và nóng rực.”

Anh im lặng một hồi, rồi hỏi bằng giọng khe khẽ và đều đều.

– 5 –

“Tuân… liệu cô ấy có chết không?”

Người da trắng nhún vai khó nhọc và lầm bầm ngập ngừng:

“Nếu đó là số phận của cô ấy”

“Không, Tuân, nếu đó là số phận của tôi” Arsat bình tĩnh nói. “Tôi nhìn, tôi nghe, tôi đợi. Tôi nhớ…Tuân, anh còn nhớ những ngày ấy không? Anh còn nhớ anh tôi không?”

“Có” Người da trắng nói. Người Mã lai bỗng đứng dậy và đi vào. Người còn lại ngồi im bên ngoài, nghe thấy giọng nói bên trong lều. Arsat nói. “Em nghe anh. Nói đi em” Tiếp sau giọng anh là im lặng hoàn toàn. “Ôi, Diamelen!” Anh bỗng kêu lên. Sau tiếng kêu ấy là tiếng thở dài sâu. Arsat lại bước ra và sụm xuống chỗ ngồi ban nãy.

Họ ngồi im trước ngọn lửa. Không có tiếng động bên trong lều, không có tiếng động nào gần nó, nhưng xa xa trên phá họ nghe thấy tiếng những người chèo thuyền từng đợt vang vang rõ ràng trên mặt nước êm. Ngọn lửa trên mũi thuyền chập chờn ở khoảng xa. Rồi tắt hẳn. Những tiếng nói ngừng. Đất và nước im lìm trong giấc ngủ vô hình, tưởng như trên thế giới này không còn lại gì ngoài những vì sao lấp lánh chảy bất tận và vô ích qua tịch mịch của đêm đen.

Người da trắng ngó thẳng trước mặt vào đêm tối bằng đôi mắt mở to. Nỗi sợ, sự thôi miên, kích thích và kinh hoàng của cái chết – của cái chết gần kề, không tránh khỏi và không nhìn thấy, làm lắng lại những bồn chồn bất yên của đời anh và khuấy lên những suy tư mơ hồ, sâu kín nhất. Nỗi hoài nghi thường trực về cái ác, nỗi ngờ vực dày vò luôn ẩn núp trong trái tim chúng ta, chảy tan ra thành cái tịch mịch bao quanh anh lúc này – cái tịch mịch thăm thẳm và lì lợm, nó hiện ra ô nhục đáng hổ thẹn, giống như cái mặt nạ lạnh tanh và khôn dò của một thứ bạo lực phi lý. Trong sự xáo trộn mãnh liệt và phù du của cuộc sinh tồn của anh, trái đất được ôm bọc trong cái thanh bình của ánh sao biến thành xứ sở tối tăm của cuộc xung đột dã man phi nhân tính, một mặt trận của những bóng ma khủng khiếp và quyến rũ, oai nghiêm hay đê tiện, vật lộn mãnh liệt để giành giật những trái tim không được bảo vệ của chúng ta – một xứ sở không yên bình và bí hiểm, của những nỗi sợ hãi và những khát vọng không thể dập tắt.

Một tiếng rì rầm ai oán nổi lên trong đêm, một tiếng rì rầm làm ta buồn bã và sửng sốt, như thể những nỗi cô đơn vô tận của những cánh rừng bao quanh đây đang cố thì thầm vào tai anh cái khôn ngoan của sự lãnh đạm dửng dưng kiêu kỳ và mênh mông của nó. Ngập ngừng vang lên và mơ hồ trôi đi trong bầu không khí vây quanh anh, chầm chậm hình thành lời, và cuối cùng êm đềm trôi đi trong dòng chảy rì rầm của những câu nhẹ nhàng và đơn điệu. Anh cựa quậy như người vừa tỉnh ngủ, và hơi thay đổi thế ngồi. Arsat bất động và như một cái bóng, ngồi cúi gục đầu dưới trời sao, đang nói bằng một giọng trầm và mê sảng

– 6 –

‘.. vì chúng ta còn có thể đặt cái nặng nề nhất trong những phiền muộn của chúng ta ở đâu ngoài những trái tim bè bạn? Một người đàn ông thì phải nói về chiến tranh và về tình yêu. Anh, chính anh ấy, Tuân ạ, anh biết chiến tranh là như thế nào, và anh đã thấy trong thời kỳ nguy khốn tôi đã đi tìm cái chết như người ta đi tìm sự sống. Một bài viết có thể bị mất, một lời nói dối có thể được viết ra, nhưng những gì ta đã nhìn tận mắt là sự thật và sẽ còn mãi trong trí óc.’

‘Tôi nhớ’ Người da trắng lặng lẽ nói. Arsat tiếp tục bằng giọng điềm tĩnh ảm đạm.

‘Do đó tôi sẽ nói với anh về tình yêu. Nói trong đêm nay. Nói trước khi cả tình yêu lẫn bóng đêm đều tan biến, và con mắt của ban ngày sẽ nhìn vào nỗi đau của tôi và nỗi xấu hổ của tôi, nhìn vào bộ mặt đen tối của tôi, vào trái tim tan vỡ của tôi.’

Một tiếng thở dài ngắn và yếu ớt, đánh dấu một quãng ngưng hầu như không thể nhận ra, rồi sau đó những lời của anh tiếp tục chảy, không một nhúc nhích, không một cử động.

‘Sau cái thời gian mọi rắc rối và chiến tranh đều đã qua đi, và anh rời khỏi đất nước chúng tôi để tiếp tục theo đuổi các khát vọng của anh, mà chúng tôi, những người dân đảo này không thể hiểu nổi; tôi và anh tôi trở lại làm những thị vệ, những người mang kiếm đi hầu đức vua như trước. Anh biết chúng tôi đều là những người đàn ông chủ gia đình, trong một dòng tộc cai trị và hơn ai hết thích hợp để mang cái biểu trưng của quyền lực trên vai phải của mình. Và trong thời kỳ thịnh vượng Si Dendring đã ban cho chúng tôi nhiều ân sủng, vì chúng tôi trong thời kỳ đau buồn đã tỏ cho ngài thấy xác thực lòng can đảm của chúng tôi. Đó là một thời kỳ thanh bình, một thời của những cuộc săn hươu và những cuộc chọi gà, của những cuộc chuyện trò vô bổ và những cuộc cãi vã ngớ ngẩn, giữa những người đàn ông bụng căng đầy và vũ khí để han rỉ. Nhưng người gieo hạt ngắm nhìn những người trai trẻ non tơ lớn lên không sợ hãi, và những người lái buôn đến rồi đi, ra đi gày guộc trở về béo tốt đi vào dòng sông thanh bình này. Họ cũng mang đến cả những tin tức nữa. Những điều dối trá trộn lẫn với sự thật, do đó không ai biết được khi nào nên vui khi nào nên buồn. Chúng tôi nghe được tin anh cũng từ bọn họ. Họ đã thấy anh ở chỗ này chỗ kia. Và tôi đã vui mừng nghe, vì tôi nhớ những thời gian sôi nổi, tôi luôn luôn nhớ anh, Tuân ạ, cho đến khi mắt tôi không còn nhìn thấy gì trong quá khứ nữa, vì nó đã nhìn thấy con người đang chết ở đây – trong ngôi nhà này.’

– 7 –

Anh dừng lại để kêu lên bằng giọng thầm – thì mãnh liệt “Ôi, Mara bahia! Ôi tai họa!” rồi tiếp tục nói lớn hơn một chút.

“Không có kẻ thù nào tồi tệ hơn và người bạn nào tốt hơn một người anh, Tuân ạ, vì người anh thì hiểu người em, và trong sự hiểu biết thấu đáo có sức mạnh của cái thiện và cái ác. Tôi yêu anh tôi. Tôi đến nói với anh rằng tôi không thể nhìn cái gì khác ngoài một khuôn mặt, tôi không thể nghe cái gì khác ngoài một giọng nói. Anh ấy bảo tôi “ Hãy mở trái tim của em ra để cho cô ấy thấy trong đó có gì, và đợi. Kiên nhẫn là khôn ngoan. Inchi Midah có thể chết hay nhà vua có thể vứt bỏ nỗi sợ một người đàn bà của ngài…Tôi đã đợi! ..Tuân ơi, anh còn nhớ người phụ nữ che mạng và nỗi sợ của đấng quân vương của chúng tôi đối với sự khôn ngoan và tâm tính của nàng. Và nếu nàng muốn người đày tớ của nàng, thì tôi biết làm sao được? Nhưng tôi nuôi dưỡng trái tim đói khát của tôi bằng những cái liếc nhìn chớp nhoáng và những lời lẽ vụng trộm. Ban ngày tôi lảng vảng trên những con đường dẫn đến những nhà tắm, và sau khi mặt trời lặn xuống sau rừng tôi trườn qua những hàng dậu hoa nhài ở sân trong ngôi nhà của những người phụ nữ. Không nhìn thấy nhau, chúng tôi nói với nhau qua mùi hương của những bông hoa, qua màn che của những khóm lá, qua những lá cỏ dài đứng lặng trước môi chúng tôi, sự thận trọng của chúng tôi mới kỹ lưỡng làm sao, tiếng thầm thì của nỗi khao khát của chúng tôi mới e ấp làm sao. Thời gian trôi nhanh và giữa những người phụ nữ có tiếng xì xào – và kẻ thù của chúng tôi trông thấy, anh tôi mặt mày ủ rũ, và tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện giết, và đến một cái chết dữ dội. Chúng tôi thuộc loại người đã muốn là làm – giống như người da trắng các anh. Có những lúc người đàn ông phải quên đi sự trung thành và tôn kính. Sức mạnh và quyền hành được trao cho những người cai trị, nhưng tất cả mọi người đàn ông được phú cho tình yêu và sức lực và lòng can đảm. Anh tôi bảo “Em phải cướp nàng đi từ giữa bọn họ. Chúng ta hai người như một.” Tôi trả lời “Làm sớm đi anh ạ, vì ánh nắng nào không chiếu trên người nàng thì em không thấy ấm áp” Thời cơ của chúng tôi đến khi nhà vua cùng đoàn tùy tùng của ngài ra cửa sông để câu cá bằng đuốc. Có hàng trăm chiếc thuyền, và trên bãi cát trắng giữa sông và rừng, những căn chòi bằng lá được dựng lên cho những người của hoàng gia. Khói bếp trông như một làn sương lam buổi tối, nhiều giọng nói vui vẻ vang lên. Trong khi họ đang chuẩn bị thuyền để đi đánh cá, anh tôi đến nói với tôi “Đêm nay.” Tôi chuẩn bị vũ khí và khi đến giờ thuyền chúng tôi trà trộn vào đám thuyền mang đuốc. Những ánh lửa chiếu sáng rực mặt nước, nhưng đằng sau các thuyền bóng tối vẫn dày đặc. Khi tiếng reo hò nổi lên và sự kích động khiến họ như phát cuồng, thuyền chúng tôi rút ra. Chúng tôi nhúng tắt lửa và bơi thuyền vào bờ, trên bờ lúc này tối đen chỉ còn rải rác đây đó những đốm lửa than lập lòe. Chúng tôi nghe thấy tiếng những nô tỳ trò chuyện trong chòi. Rồi chúng tôi tìm ra một chỗ vắng vẻ và tĩnh lặng. Chúng tôi đợi ở đó. Nàng đến. Nàng đã chạy hối hả dọc mép sông không để lại dấu vết gì, giống như một chiếc lá được ngọn gió đưa ra biển. Anh tôi nói giọng âm u “Ra đón nàng, đưa nàng xuống thuyền.” Tôi bế xốc nàng lên. Nàng hổn hển. Tim nàng đập thình thịch bên ngực tôi. Tôi nói “Tôi giành được nàng từ trong đám người kia. Nàng đến đây theo tiếng gọi của lòng tôi, nhưng đôi tay tôi đưa nàng xuống thuyền cưỡng lại cả ý trời.” Anh tôi nói “Đúng đấy. Chúng tôi là những người đã muốn gì là làm bằng được, và có thể cự lại nhiều người để chống giữ. Lẽ ra chúng tôi nên cướp nàng giữa ban ngày.” Tôi nói “Chúng ta đi thôi.” Khi nàng đã ngồi trong thuyền của chúng tôi, tôi bắt đầu nghĩ đến những người của nhà vua. “Phải đấy, chúng ta đi thôi.”Anh tôi nói “Chúng ta bị truy đuổi, con thuyền này bây giờ là nơi trú ngụ của chúng ta, biển cả là nơi lánh nạn của chúng ta.” Anh ấy vẫn nấn ná trên bờ, và tôi van anh hãy nhanh lên, vì tôi nhớ đến tiếng tim đập của nàng bên ngực tôi, và tôi nghĩ hai người không thể cự lại cả trăm người. Chúng tôi xuất phát, bơi thuyền gần bờ xuôi dòng, và khi chúng tôi qua nhánh sông nơi họ đang đánh cá, tiếng reo hò vang dậy đã ngừng, nhưng tiếng rì rầm của những giọng người nghe như tiếng vù vù của loài côn trùng bay lúc giữa trưa. Những chiếc thuyền thả nổi, cụm vào với nhau, trong ánh đuốc đỏ rực, dưới một màn khói đen. Những con người đang nói về trò vui của mình, những con người khoác lác, tán tụng, châm chọc – những con người ban sáng còn là bạn của chúng tôi nhưng đêm đó đã là kẻ thù. Chúng tôi mau lẹ bơi thuyền qua. Từ nay trên mảnh đất đã sinh ra chúng tôi, chúng tôi không còn người bạn nào nữa. Nàng ngôi giữa thuyền, mạng che mặt, im lặng như bây giờ, không nhìn – như bây giờ – và tôi không hề hối tiếc về những gì tôi đã bỏ lại, vì tôi nghe nàng thở gần bên tôi – như bây giờ tôi đang nghe.’

– 8 –

Anh ngừng lại, nghiêng tai về phía cửa, rồi lắc đầu và tiếp tục.

‘Anh tôi muốn hét lên một tiếng để thách thức, một tiếng thôi, để cho những người kia biết rằng chúng tôi là những kẻ cướp tự do bẩm sinh tin vào cánh tay của mình và tin vào biển cả. Và một lần nữa tôi lại van xin anh vì tình yêu của chúng tôi mà hãy giữ im lặng. Có thể nào tôi không nghe hơi thở của nàng gần gũi bên tôi? Tôi biết cuộc truy đuổi sẽ đến rất nhanh. Anh tôi yêu tôi. Anh ấy nhấn mái chèo xuống nước thật êm nhẹ. Anh ấy chỉ nói “Bây giờ trong người em chỉ còn một nửa người đàn ông, nửa còn lại ở trong người đàn bà kia. Anh sẽ đợi. Khi nào em trở lại là một người đàn ông trọn vẹn, hãy quay về đây với anh, để thét lên lời thách thức. Chúng ta là con cùng một mẹ.” Tôi không trả lời. Tất cả sức lực của tôi và tất cả hồn tôi dồn lên đôi tay đang nắm mái chèo, vì tôi cháy bỏng khao khát được sống với nàng ở nơi an toàn ngoài tầm với của cơn giận dữ của những người đàn ông và mối thù hận của những người đàn bà. Tình yêu của tôi lớn quá, đến mức tôi nghĩ nó có thể dẫn tôi đến một xứ sở nơi không biết đến cái chết, miễn là tôi thoát được hận thù của Inchi Midah và lưỡi gươm của đức vua của chúng tôi. Chúng tôi chèo như điên, thở qua kẻ răng. Những mái chèo ngập sâu dưới làn nước êm. Chúng tôi ra khỏi dòng sông, chúng tôi lướt bay qua những luồng nước thông giữa những chỗ cạn. Chúng tôi đi vòng qua những bờ đá đen, vòng qua những bãi cát nơi biển thầm thì trò chuyện với đất; và ánh lập lòe của cát trắng băng qua mặt nước chớp lóe qua thuyền chúng tôi. Chúng tôi im lặng. Chỉ có một lần tôi nói: “Ngủ đi Diamelean, rồi sắp tới sẽ cần đến toàn bộ sức lực của em đấy.” Tôi nghe giọng nàng ngọt ngào, nhưng tôi không quay đầu lại. Mặt trời lên và đứng yên. Nước rơi rào rào xuống mặt tôi như mưa. Chúng tôi lướt đi trong ánh sáng và hơi ấm. Tôi không ngó nhìn lại, nhưng tôi biết đôi mắt anh tôi, ở phía sau, đang trừng trừng nhìn thẳng phía trước, để con thuyền phóng thẳng như một mũi tên của thổ dân. Không có người chèo thuyền nào, người cầm lái nào giỏi như anh tôi. Nhiều lần chúng tôi đã cùng nhau đoạt giải những cuộc đua trên chính con thuyền này. Nhưng chưa bao giờ chúng tôi dồn hết sức lực như lúc này, khi chúng tôi cùng chèo với nhau lần cuối cùng. Trên đất nước tôi không có người đàn ông nào mạnh hơn và can đảm hơn anh tôi. Tôi không đủ sức quay đầu lại nhìn anh, nhưng tôi luôn nghe tiếng rít từ hơi thở của anh vang lên càng lúc càng mạnh đằng sau tôi. Anh vẫn không nói. Mặt trời đã lên cao. Ánh nắng đốt lưng tôi như ngọn lửa. Những giẻ sương sườn của tôi muốn nổ tung, nhưng tôi không còn sức hít đủ hơi vào lồng ngực nữa. Lúc đó tôi cảm thấy tôi phải dùng chút hơi cuối cùng để hét lên “Nghỉ anh ơi!” “Tốt!”Anh trả lời, giọng anh cứng cỏi. Anh ấy khỏe. Anh ấy can đảm. Anh ấy không sợ cũng không mệt. Anh tôi…”

– 9 –

Một cơn gió mạnh mà êm, một cơn gió hào sảng và từ tốn, một cơn gió làm những chiếc lá run rẩy, làm những cành cây đu đưa, xuyên qua rừng sâu rối rắm, chạy qua phá phẳng mượt nhấp nhánh ánh sao, và nước giữa những cây cột trơn nhớt mỗi lần đập vào cột lại bắn lên tung tóe. Một luồng hơi ấm mơn trớn khuôn mặt hai người đàn ông và lướt qua thành một âm thanh não nùng – một hơi thở vang và gấp như tiếng thở dài nặng nhọc của mặt đất mê mị.

Arsat tiếp tục bằng một giọng đều đều trầm trầm.

Chúng tôi kéo thuyền lên bãi cát trắng trong một vịnh nhỏ gần một lưỡi đất dài, dường như chắn ngang con đường của chúng tôi, một mũi đất dài mọc đầy cây nhô ra biển. Anh tôi biết chỗ này. Phía bên kia mũi đất có cửa vào một dòng sông. Xuyên qua rừng rậm trên mũi đất sẽ gặp một con đường hẹp. Chúng tôi nhóm lửa nấu cơm. Rồi chúng tôi nằm ngủ trên cát mịn, dưới bóng chiếc thuyền, còn nàng thì ngồi canh gác. Tôi vừa nhắm mắt thì nghe tiếng kêu báo động của nàng. Chúng tôi bật dậy. Mặt trời đã xế, và trong tầm mắt chúng tôi thấy một chiếc thuyền chiến lớn nhiều tay chèo xuất hiện ở cửa vịnh. Chúng tôi nhận ra nó ngay. Đó là chiếc thuyền chiến lớn của nhà vua. Họ đang nhìn lên bờ, và trông thấy chúng tôi. Họ đánh cồng và quay đầu thuyền chiến vào vịnh. Tôi thấy tim mình lịm đi trong lồng ngực. Diamelen ngồi trên cát và che mặt. Không có đường thoát ra biển. Anh tôi cười. Anh ấy có khẩu súng mà anh cho anh ấy trước khi anh ra đi, nhưng chỉ có một nhúm thuốc súng. Anh ấy nói rất nhanh với tôi “Đưa cô ấy chạy theo đường mòn. Anh sẽ chặn chúng lại, vì chúng không có súng tay, và đổ bộ lên đất liền ngay trước mặt một người có súng là có đứa chết chắc. Đưa cô ấy chạy đi. Ở mép rừng bên kia có một ngôi nhà của người đánh cá, và một chiếc xuồng. Anh bắn hết số đạn anh sẽ chạy theo. Anh là người chạy giỏi và chúng ta sẽ chạy thoát trước khi chúng đến. Anh sẽ cầm chân bọn chúng chừng nào còn có thể, vì dù sao cô ấy cũng là phụ nữ, không chạy được cũng không chiến đấu được, nhưng đôi bàn tay yếu ớt của cô ấy đang nắm trái tim em.” Anh ấy nấp sau thuyền. Chiếc thuyền chiến đến gần. Nàng cùng tôi chạy, và khi chạy theo đường mòn tôi nghe tiếng súng nổ. Anh tôi bắn, một..hai..và tiếng cồng im bặt. Sau lưng chúng tôi là im lặng. Giải đất ấy hẹp lắm. Trước khi nghe thấy phát súng thứ ba của anh tôi, tôi trông thấy một bờ cát thoai thoải, và tôi lại trông thấy nước: cửa một con sông lớn. Chúng tôi băng qua trảng cỏ. Chúng tôi chạy xuống mép nước. Tôi thấy một chiếc lều thấp trên bùn đen, và một chiếc xuồng con. Tôi nghe thêm một tiếng súng phía sau lưng. Tôi nghĩ “Đó là phát đạn cuối cùng của anh ấy.” Chúng tôi lao xuống chiếc xuồng, một người đàn ông từ trong lều chạy ra, tôi lao vào anh ta, và chúng tôi ôm nhau lăn trong bùn. Rồi tôi đứng dậy và hắn nằm bất động dưới chân tôi. Tôi không biết có phải tôi đã giết anh ta không. Tôi và Deamelen đẩy chiếc xuồng xuống nước. Tôi nghe tiếng thét phía sau và quay lại thấy anh tôi đang chạy qua trảng cỏ. Nhiều người đuổi bám sát sau anh. Tôi bế bổng nàng lên ném xuống xuồng rồi nhảy lao theo. Quay lại tôi thấy anh tôi đã ngã. Anh ngã rồi lại đứng dậy nhưng bọn người kia đã vây kín quanh anh. Anh ấy gào lên “Anh đến đây”, nhưng bọn kia đã đến gần anh. Tôi nhìn. Quá đông. Rồi tôi nhìn nàng. Tuân ơi, tôi đã đẩy xuồng! Tôi đẩy nó ra chỗ nước sâu. Nàng quỳ lên nhìn tôi. Tôi nói “Cầm lấy mái chèo” trong khi tôi quạt mạnh mái chèo của mình. Tuân ơi, tôi nghe anh ấy kêu! Tôi nghe anh ấy gọi tên tôi hai lần, và tôi nghe những giọng người quát lên “Giết! Đánh” Tôi không quay trở lại. Tôi lại nghe tiếng anh gọi tên tôi vô cùng thống thiết, như thể cả sự sống cùng trút ra với tiếng kêu. Tôi không hề quay đầu lại! Tên tôi.. Anh tôi! Đã ba lần anh gọi tên tôi. Tôi không sợ cho mạng sống của mình. Phải chi nàng không có trên cái xuồng đó! Và phải chăng tôi không thể cùng nàng tìm đến một xứ sở nơi không biết đến cái chết?

– 10 –

Người da trắng ngồi dậy. Arsat đứng lên: một dáng người mờ mờ và câm lặng trên đống than hồng sắp tàn. Trên phá, một màn sương mù là là trôi, chầm chậm xóa đi hình ảnh những ngôi sao nhấp nhánh. Và bây giờ một làn hơi nước trắng đang tỏa rộng che phủ cả mặt đất, trôi lạnh và xám trong bóng tối, những cơn gió xoáy tít cuốn quanh những thân cây tròn và quanh ngôi nhà này, ngôi nhà dường như đang bồng bềnh trên biển ảo mơ hồ và không ngơi nghỉ, dường như nó là vật duy nhất còn sót lại qua cuộc tàn phá của một cơn hồng thủy ma quái ngập dềnh sóng và vô thanh. Xa xa, những ngọn cây nổi bật trên nền trời sáng long lanh trông giống như một giải bờ biển tối tăm ảm đạm và gớm guốc – một giải bờ lừa gạt, nhẫn tâm và kinh tởm.

Giọng nói của Arsat rung mạnh trong bầu không khí thanh bình sâu thẳm:

‘Tôi đã có nàng. Tôi đã giành được nàng. Để giành được nàng tôi dường như đã phải đối đầu với cả loài người. Những tôi đã có nàng, và…’

Những lời nói của anh vang xa vào khoảng không hun hút. Anh ngừng lại và như để lắng nghe những tiếng nói ấy tắt dần ở khoảng cách xa xăm – xa đến vô vọng. Rồi anh nói, giọng âm thầm:

‘Tuân, tôi yêu anh tôi’

Một cơn gió làm anh rùng mình. Cao cao, trên đầu anh, và trên biển sương mù tĩnh lặng, những tàu lá cọ ủ rũ xạc xào một âm thanh tang tóc. Người da trắng duỗi chân. Cằm anh tì xuống ngực. Và anh lầm rầm buồn bã mà không ngửng đầu lên:

“Tất cả chúng ta đều yêu anh ấy”

Arsat bật ra thành tiếng thì thầm mãnh liệt:

“Tôi đã lo ai chết? Tôi muốn bình yên trong riêng trái tim tôi”

Hình như anh nghe thấy có tiếng động trong nhà, anh lắng tai, rồi lặng lẽ bước vào. Người da trắng đứng dậy. Một cơn gió thổi vào buốt lạnh. Những vì sao nhấp nháy mờ nhạt hơn như thể chúng đang rút lui vào chiều sâu thẳm giá băng của không gian vô tận. Sau một cơn gió lạnh là mấy giây im lặng hòan toàn và êm đềm tuyệt đối. Rồi từ sau cánh rừng đen âm u và dập dềnh như sóng hiện ra một cột ánh sáng vàng chói vọt thẳng lên trời và trải rộng ra thành hình dẻ quạt ở chân trời phía đông. Mặt trời đã mọc. Lớp sương mù dềnh lên, tan tác thành nhiều mảnh trôi lềnh bềnh và biến thành những vòng hoa tang mỏng manh bay bay, và cái phá không còn mạng che mặt, nằm, láng bóng và đen nhánh trong những mảng tối dày đặc dưới chân bức tường bằng cây rừng. Một con đại bàng trắng vụt bay lên bằng một đường bay nghiêng chậm chạp gặp ánh mặt trời chói chang nó sáng lóa lên trong khoảnh khắc, rồi bay lên cao nữa, thành một vệt tối và bất động, trước khi mất hút vào bầu trời xanh như thể vĩnh viễn dời xa mặt đất. Người đàn ông da trắng đứng trước cửa ngước mắt nhìn trời, nghe thấy từ trong nhà vọng ra tiếng lầm rầm bối rối và đứt quãng của những lời quẫn trí, kết thúc bằng một tiếng rên lớn. Bỗng nhiên Arsat nháo nhào chạy ra, hai cánh tay giang rộng, rùng mình và đứng lặng hồi lâu với đôi mắt vô hồn. Rồi anh nói:

– 11 –

“Nàng không còn sốt nữa!”

Trước mặt anh mặt trời tròn vành vạnh trên những ngọn cây, chậm rãi lên. Gió nhẹ thổi, một vẻ rực rỡ bừng lên trên phá, lấp lánh trên mặt nước gợn sóng. Rừng ra khỏi những bóng mây buổi sáng, trở nên rõ ràng khác biệt, như thể chúng đang đua nhau chạy đến gần, đột ngột dừng lại trong cái xôn xao của lá, cái đung đưa của cành. Dưới ánh mặt trời tàn nhẫn tiếng thầm thì của cõi sống vô thức như lớn hơn, nói bằng một giọng không ai hiểu nổi, quanh bóng tối lặng câm của nỗi buồn đau kiếp người. Đôi mắt của Arsat nhìn vẩn vơ rồi dán chặt vào mặt trời đang lên.

“Tôi chẳng thấy gì cả”

Anh nói giọng hơi lớn với chính mình.

“Có gì đâu mà thấy”

Người da trắng nói và bước ra đến mép sàn giơ tay vẫy chiếc thuyền của mình. Một tiếng kêu yếu đi qua phá và chiếc thuyền bắt đầu lặng lẽ trườn đi hướng về nơi trú ngụ của người bạn của những hồn ma.

“Nếu anh muốn đi với tôi, tôi sẽ đợi hết buổi sáng” Người da trắng nói, nhìn xa xa trên mặt nước.

“Không, Tuân ạ. Tôi sẽ không ăn hay ngủ trong nhà này, nhưng trước hết tôi phải nhìn thấy con đường của tôi. Bây giờ tôi không nhìn thấy gì cả, không thấy gì cả! Không có ánh sáng, không có hòa bình trên thế giới, nhưng có cái chết, cái chết cho nhiều người. Chúng tôi là con cùng một mẹ, và tôi đã để anh tôi lại giữa những kẻ thù; nhưng bây giờ tôi đang trở lại.”

Anh hít vào một hơi sâu và tiếp tục nói bằng giọng mơ mộng

“Chỉ một chút nữa thôi là tôi sẽ thấy đủ rõ để nghĩ ra – để nghĩ ra. Nhưng nàng đã chết… và , bây giờ tất cả lại tối đen”

Anh vung rộng hai tay để nó rơi xuống bên mình, rồi đứng yên với bộ mặt im lìm bất động và đôi mắt hóa đá, chăm chăm nhìn mặt trời. Người da trắng xuống thuyền. Những chân sào chạy thoăn thoắt dọc mạn, nhìn qua vai vào nơi xuất phát của một hành trình mệt nhọc. Ngồi cao trên đuôi thuyền, đầu quấn khăn trắng, người lái thuyền buồn bã thả cho mái chèo kéo lê dưới nước. Người da trắng tì cả hai cánh tay lên mái cỏ của khoang đuôi, nhìn những ngọn sóng lăn tăn lấp loáng phía sau thuyền. Trước khi con thuyền ra khỏi phá để đi vào con rạch, anh ngước mắt nhìn lên. Arsat vẫn đứng yên không động đậy. Trong ánh nắng tinh khôi sáng tỏ và xuyên thấu, anh vẫn đứng bất động trước nhà và vẫn nhìn qua ánh sáng rực rỡ của một ngày không mây vào bóng tối vô vọng của thế giới.

Bản Tiếng Việt ©: 2009 Hiếu Tân

[1] ‘Tuan’ trong nguyên bản

Read Full Post »

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

Những con đường mà tôi đã đặt bước chân đầu tiên đến trong thành phố này …êm ả và xanh màu lá, nó không sang trọng, không đẹp như trong huyền thoại của một bài văn tả lúc hưng phấn nhưng nó mang chút mộc mạc và êm đềm…trong tâm hồn tôi.

Buổi sáng đầu tiên thức dậy sớm để chuẩn bị đi làm, hình ảnh dễ thương của những đôi mắt tròn xoe, long lanh, ấm áp, nhìn tôi như mở lời chào người bạn mới quen, bạn tôi đã leo xuống từ những cành thông vững chãi, giương mắt nhìn người bạn mới đến, rồi nhanh nhẹn chạy lắc xắc quanh những bụi cây , bờ cỏ…

Những con sóc màu xám nâu , xuất hiện khắp mọi nơi, vì không ai đuổi bắt nên trở thành dạn dĩ và gần gũi , là hình ảnh thân thương nhất mà tôi gặp trước tiên ở vùng đất mới này, nó thường đi kèm với những cây thông mạnh mẽ, màu xanh của lá, hòa quyện với màu trời trong veo, những chân bước mỹ miều của những con Sóc nhỏ…một bức tranh mộc mạc, ít màu sắc nhưng đầy dung dị, mượt mà .

Tôi nhủ thầm….Mình sẽ chọn thành phố này để làm quê hương thứ hai của mình chăng…Tôi đã chọn thành phố này ở hướng Nam vì gần khu da đen nên giá nhà rẻ hơn phía Bắc là khu tập trung người da trắng… vật giá và nhà đất cao hơn chỗ của tôi.

Công việc và cuộc sống đưa đẩy, những đứa con có thêm bè bạn, những quen thuộc lối đi về, cho dù tại nơi này không cho tôi những kỷ niệm mượt mà trong cuộc đời nhưng vì thói quen, vì khả năng ít ỏi nên tôi cũng không rời xa nó được mặc dù cũng đã có lần tôi muốn thay đổi cuộc sống, thay đổi hình tượng cho cuộc đời mình…và tôi cũng đã có chút thành công tại nơi này. Nên tôi vẫn bám trụ cho tới ngày nay …

Trên những con đường quen thuộc ấy, vết xe tôi đã lăn bánh bao lần suốt bao nhiêu năm qua, từ lúc tôi nhìn cái gì cũng lạ lẫm, cái gì cũng muốn khám phá , như một thực khách trên một chuyến tàu trên một chuyến viễn du….món ăn nào của xứ lạ cũng muốn biết qua, nếm thử….và tôi cũng đã nếm đủ những vị đắng cay và ngọt bùi nơi vùng đất này cùng với các con tôi ở đó….

Những thân quen, những lưu luyến của cây cỏ, những việc làm quen thuộc đã từ từ thấm sâu vào từng tế bào trong cơ thể mà không thể lìa xa….ở đây không tráng lệ như những thành phố xa mà tôi nhìn thấy trong phim ảnh, không tiện nghi như Cali fornia, không rộn ràng như Texas, không đẫm sương mù như những thành phố phía Bắc Mỹ…nhưng những con người sống bình dị, ít đua đòi bon chen và ở đây, những con người địa phương ,bình dân và không kỳ thị chủng tộc như những con người sinh sống ở những nơi sang trọng mà tôi đã từng đọc biết qua sách báo và chuyện kể. ngày đầu tiên mới đến nơi này…đã qua ba thập kỷ… những người da trắng rất đông, sau họ dọn lần về hướng bắc, có lẽ vì sự kỳ thị âm thầm nên họ ra đi…những người dân Việt nghèo như chúng tôi bám trụ và sống hòa mình với người da đen và người Mexico siêng năng khốn khổ hơn người Việt( vì họ không được chính thức được nhập cư, họ không có tấm thẻ xanh như ngượi Việt mới đến, họ không được nhận vào làm chính thức tại các hảng xưởng…sau năm năm họ không được thi lấy quốc tịch Hoa kỳ…niềm mơ ước của biết bao người dân khắp thế giới về cuốn sổ gọi là ” PASS PORT ” của Hoa Kỳ…” Đó cũng chính là niềm tự hào của biết bao người Việt lưu vong …họ bỏ nước ra đi không kể đến mạng sống để chỉ mong hưởng được không khí tự do và có thể phát huy khà năng của mỗi con người và quyền bình đẳng của mỗi con người mà không một đất nước nào trên thế giới có được.., Đó chính là niềm tự hào và biết ơn của chính tôi với quê hương thứ hai mà tôi đang hiện diện.

Thời gian như khói sương…đến chẳng hạn kỳ và ra đi không thốt lời giã biệt…Ngày tôi mới đến thành phố này, tuổi thời gian còn xanh trên mái tóc, chập choạng tuổi bốn mươi, thời gian đẹp nhất của người đàn bà,…bương chải, lăn lộn, tìm tòi, khám phá…bằng tất cả mồ hôi , nước mắt của mấy mẹ con…Thời gian qua nhanh quá…tôi chưa kịp nghĩ hạnh phúc riêng tư cho mình thì…Tóc xanh đã nhuốm sương pha…các con tôi đã lớn khôn và tất cả đã lìa xa chân mẹ….

Thành phố này đã giữ chân tôi với những cột ràng không rõ nét, những gốc thông già không biết đã từng bao nhiêu tuổi, chứng kiến bao tháng ngày hụt hẫng của đôi tay chới với lúc thất thế đớn đau…và những lúc mừng vui vì một lần con tôi vui mừng báo tin vui trong cuộc đời chúng khi chúng ra trường và những ngày chúng thành hôn bên giáo đường với người chúng thương yêu gắn kết.

Bây giờ ngồi nhẩm tính lại những bối cảnh của cuộc đời mình đã đi qua…Vui buồn…Hỉ …Nộ… Ái….lạc…tôi đã có hết rồi sao…Tuổi bảy mươi đã cận kề bên song cửa, chấp chới ngoài kia như nhắc nhở chúng ta … .

Hãy lấy vào những món hàng mà ta đang phơi ngoài sân vào nhà vì hoàng hôn đã xuống….cái khoảng thời gian ít ỏi của bóng chiều ập xuống rất nhanh …giật mình thảng thốt…ơ hay bóng tà dương đang mấp mé bên đèo….

Cuộc đời của mỗi con người như một dòng sông chảy xuôi…êm ả và luân lưu. có khúc rộng, khúc nông sâu, nhưng rồi cũng có hồi xuôi ra biển lớn, những vết hằn trên má, trên môi cũng không xóa nhòa được vết cắt của thời gian….Khoa học và sự sáng tạo của con người cũng giúp chúng ta ” Níu ” lại một chút tháng năm hao hụt nhưng tâm hồn và thực chất trong ta có làm xóa nhòa hết những vết nhăn của thời gian không ????

Mỗi khi nhìn những con sóc nhỏ chạy quanh sân vườn, tôi ao ước hòa chung vào cuộc đời vô tư không thấy tuổi thời gian hằn lên thân thể và cuộc đời chúng…làm sao biết đượcchúng sinh ra từ bao giờ và ra đi tự lúc nào??? Quanh quẩn với những ưu tư về cội nguồn và sự ra đi của một con sóc và tuổi thọ của một cây thông…những hình ảnh thân quen và theo tôi suốt những năm tháng đã qua trong thành phố lạ mà nay đã là thành là thành phố của tôi…màu lá xanh vẫn mờ nhạt trong tâm thức mỗi ngày, mỗi khi rời xa thành phố … ngồi trện máy bay nhìn xuống…qua khung cửa kính của thân bay khi thấy những rừng lá xanh đậm màu quen thuộc, màu lá của thành phố tôi đang sống xanh đậm màu hơn những nơi khác mà máy bay đi qua…

Thành phố Atlanta, một thành phố không sang trọng trong mắt nhìn của mọi người, thủ phủ của người da đen, chính tại nơi này đã vươn lên sự đấu tranh của người da đen vượt qua gông cùm của những nhà quí tộc da trắng…đem lại sự công bằng của quyền được làm người…đôi lúc gặp bạn bè , có người vẫn thường bảo tôi :” tại sao lại sống ở đó ? nhiều người da đen “..tôi thầm nghĩ :

Mình còn có được cái quyền ấy sao…một con người sống từ một quốc gia nhược tiểu, trôi giạt nơi xứ người….tha phương cầu thực…mình lại có cái quyền được kỳ thị kẻ khác sao ta …? “

. Nhưng thực tế ở đây tôi không nhận ra mình bị kỳ thị chủng tộc, sự khinh rẻ của những con người nhiều tiền lắm của…Ở đây tôi thấy mình vẫn hiên ngang trước mọi người và trong công việc giao tiếp hàng ngày đôi lúc những người dân bản xứ lại bảo với tôi rằng : – Mày có kỳ thị tao không ??? _

Tại sao mày kỳ thị tao ??? Tôi đã từng ôm họ vào lòng, ngỏ lời xin lỗi vì đôi khi những ngôn ngữ dị biệt đã làm hai bên hiểu lầm nhau, những tâm hồn bình dị , mau quên và xuề xòa, có những người da đen hiền lành dễ thương, lúc nào cũng mang nặng nỗi buồn và mặc cảm mình là người da đen bị kỳ thị sắc tộc.. . Nhưng cũng vẫn coi chừng vì cũng có nhiều tệ nạn mà ở nơi nào cũng có…chỗ làm việc của tôi, hầu hết phục vụ cho người da đen, nhưng tôi cũng chưa gặp những tình huống nào không giải quyết được, và đôi lúc họ còn sợ những người da màu coi thường họ. .

Họ có biết đâu, trong tấm lòng của những người da màu chúng ta, sống nhờ trên đất nước này…thì chúng ta làm sao hơn được ai đâu mà nói chi những lời sang trọng ấy với ai ….

Nhưng đó là trong tâm thức của mỗi con người, cũng có những người trong chúng ta lại cho mình là cao trọng hơn tất cả thì đó cũng là quyền của mỗi người…

Đã có lần tôi chứng kiến những rẻ khinh của một người da Trắng, khi họ mua một món hàng và khi có người da đen vào đứng cạnh và cũng muốn mua món đó…người da trắng lặng lẽ bỏ đi.trong khi họ đã trả tiền món đồ đó… trong tiếng réo gọi của kẻ bán hàng,

Những cái quay lưng, những cái nhìn xa lánh, lạnh lẽo thiếu tình người…ngay cả những lớp trẻ thế hệ con cái tôi…Sau khi thành đạt ở chốn này…chúng đủ lông đủ cánh cũng lìa xa vùng đất này bỏ lài ‘ Bà già tôi” trong căn nhà hoang vắng …Chúng chuyển về nơi đô hộicho tương lai sáng sủa hơn …Tôi vẫn hoan hỉ mừng vui cùng các con trong niềm đau và sự tủi buồn từng đêm đối diện với căn phòng đơn lẻ…

Các con cháu tôi cũng theo bước chân những gia đình người da trắng dọn về những vùng cao, và những căn nhà rất đắt tiền.

Rồi sau đó cũng có những gia đình người Việt nhiều tiền lắm của dọn theo họ…Sự sinh tồn mãi luân lưu…chỉ còn lại những người già xưa cũ âm thầm trong những căn nhà …của ngày mới đến…

Tôi không làm được như nhiều kẻ tài ba khác… nên bám trụ lại nơi này Tôi đã từng chứng kiến những cảnh đau lòng mà chúng ta chỉ biết âm thầm cúi mặt , bút mực nào tả hết đoạn trường của kẻ lưu vong …

.Ngày trước còn có những nơi có bảng cấm người da màu không được vào một số các nơi giải trí và nhà hàng sang trọng …ở thành phố này tôi chưa bao giờ nhìn thấy.

Thành phố Atlanta là nơi đã cưu mang mấy mẹ con tôi từ những ngày mới đến đất nước này sau một thời gian hưởng trợ cấp tại Hawaii … Bây giờ các con tôi đã thành đạt, những đứa cháu tôi lần lượt ra góp mặt với đời…cũng tại nơi này, một vùng đất quen thuộc với gia đình tôi, tôi đã hít thở không khí tự do.mà không bị coi là mình ” Bị kỳ thị ” khi ra đường hay trong công sở…tại nơi này , chốn thân quen của tôi gần mấy chục năm qua .

Những luyến lưu của con người, cây cỏ, thú vật và những ngọn gió bình yên thổi mát những tháng năm yên ắng của buổi chiều tà… thành phố có những nét gần giống Đà lạt của quê nhà, nhưng không có màu đất đỏ làm lấm gót chân thành phố có bốn mùa rõ rệt và thân quen mỗi con đường mà tôi đã bước qua….Những cây cỏ trong vuồn sau sân trước do chính tay tôi vun quén…Tôi muốn ở lại chón này cho tới ngày tôi ra đi mãi mãi…

Bây giờ tôi chỉ mong sao cuộc đời tôi sẽ được như cuộc đời của con sóc nhỏ , quẩn quanh bên những rặng thông già vững chãi, yên ổn về nơi xa mờ của của thành phố bình yên, một quê hương thứ hai … cho đến ngày nào tôi được trở về quê hương thực sự của mình, .Ở đó tôi sẽ gặp lại những người thân, mồ mả cha mẹ, gặp lại những bạn bè tôi ở đó ..và nhất là gặp lại người tôi mến yêu còn ở đó…

Mỗi ngày đứng bên trong cánh cửa nhìn ra ngoài, cảnh vật bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, rõ nét và êm ả , cho dù thành phố này không nhiều những bông hoa thắm tươi diễm lệ , không có những trung tâm giải trí to lớn, nhưng ở đây đã giúp tôi dưỡng nuôi những đứa con tôi lớn khôn., hoàn thành mộng ước đời tôi, âu .cũng là hạnh phúc lắm thay .

Xin cám ơn thành phố đã cưu mang tôi, thành phố xanh màu lá , xin cám ơn quê hương thứ hai đã dưỡng nuôi mẹ con tôi :

Mùa Xuân.. ôi..

.

.Những cành cao xanh lá

Mỗi bước chân …ghi kỷ niệm mỹ miều

Nỗi cô đơn pha nhạt với nắng chiều

Hoàng hôn phủ ….mình ai thơ thẩn nhặt….

Cám ơn thành phố cho tôi góp mặt

Những thành công và kỷ niệm nhạt nhòa

Thành phố ấy muôn đời tôi nhớ mãi …

Những ơn cao mà thượng đế đã ban

Quê hương thứ hai đã phải cưu mang

Là tôi đó … ân sâu …niềm khát vọng…

Atlanta Tháng Hai 2023

Nguyên Hạ- Lê Nguyễn

Read Full Post »

Hoàng Thanh Hương

.

Tôi gọi xóm tôi là xóm vũ phu. Ấy là tôi gọi thế, chứ xóm này có tên hẳn hoi. Bệnh đánh vợ nó lây qua đường không khí, đầu tiên là nhà Mãn, gã đánh vợ huỳnh huỳnh, tuần nào cũng đôi trận, lý do nào cũng chính đáng cả. Vợ đánh phấn nó bảo chỉ đi làm đĩ mới dồi phấn trắng dày mặt thế, vợ nó đón con về muộn 5 phút nó tát bốp má phải gắn ngay cho thị cái tội đứng buôn dưa lê với trai… Con vợ thua thằng chồng 5 tuổi, học chưa hết cấp 2, phụ tiệm làm tóc cho cô họ, thằng này làm thợ hồ đời bố truyền đời con. Làm theo mùa xây dựng. Hết mùa ngồi nhà vá xe, uống rượu vặt. Thằng này ghen bệnh hoạn, trong đầu nó lúc nào con vợ cũng có dấu hiệu sắp đi ngoại tình. Vợ nó đau lòng, uất ức nhiều lần bỏ đi nhưng nó tìm, năn nỉ cầu xin tha thứ, khóc lóc hứa sửa thói hư và ngoen ngoét luôn mồm chỉ vì “anh yêu em quá, anh lo mất em”. Bài này, mấy câu trơn nước bọt này chả cứ con vợ học hết lớp 2 mủi lòng, tôi tin chắc 90% phụ nữ nhà ta sẽ xuôi giận, sẽ tặc lưỡi cho qua chuyện, lại ậm ừ biện minh là do chồng nó yêu mình mới thế, thôi thì về cho con nó có bố, cho thiên hạ nó khỏi xầm xỉ xầm xì cái thứ gái bỏ chồng… thế là cắp giỏ trở về cùng chồng. Đàn bà cả tin, nông cạn là chuyện muôn đời, đặc tính giống cái thay đổi sao được. Tôi cũng đàn bà, có khi tôi còn dại bằng 10 con vợ thằng thợ hồ xóm tôi ấy chứ.

Một đêm cả xóm đồng loạt mở cửa lao ra đường nghiêng ngó, tiếng la hét kêu cứu chữa cháy, mùi khói, mùi xăng, mùi quần áo, đồ nhựa ăn lửa khét sặc. Nhà thằng Mãn nhốn nháo. Nhà thằng Mãn lửa cháy rừng rực. Tôi chạy tìm vợ nó. Không thấy. Tôi chạy tìm con nó. Không thấy. Chồng tôi theo mấy ông hàng xóm quần đùi lộc cộc tạt cát, tạt nước ầm ầm vào nhà thằng thợ hồ. Tôi chạy loăng quăng miệng gọi ời ời, đám đàn bà xóm tôi cũng chạy loăng quăng gọi vợ con thằng thợ hồ ời ời. Đến khi lính cứu hỏa đến được cái xóm nằm trong con hẻm nhỏ xiu ba lần cua trái – phải – trái thì nhà thằng thợ hồ đã như đống rác lún ngún những sợi khói mỏi mệt. Cả xóm nhem nhuốc về nhà lúc trời sắp sáng. Cả xóm buồn buồn, một nỗi buồn chẳng gọi được thành tên.

Tôi gặp Sa lần đầu vào một chiều, nó bắt quen với tôi khi hai chị em ngược hướng nhau trên đường đón con. Nhìn nó xinh xắn, gái một con nở nang trắng trẻo đằm thắm. Tôi bảo: Lúc nào rảnh lên nhà chị, cho con bé lên chơi với Nêmô. Nó vâng nhẹ rồi đi. Con bé Ti giơ đôi tay nhỏ xíu như bông cúc trắng vẫy vẫy làm trái tim tôi đập bình bịch. Tôi thèm một đứa con gái, khát khao. Nhưng bà bói bảo tôi kiếp này không có phước đậu thai con gái. Suốt đời làm chỉ nuôi trai thôi… À quên, tôi chưa giới thiệu tên mẹ Ti cho quý độc giả. Nó tên Sa, Võ Thị Phù Sa. Cái tên chẳng đụng hàng. Cái thời đầu năm 80 của thế kỷ 20 mà cha mẹ nó ở vùng nông thôn sông Hồng quanh năm lũ lụt đã biết đặt tên con đẹp thế thì cũng lạ đấy. Cái tên đẹp như nó. Nước giếng làng nó làm con gái đứa nào cũng da trắng tóc dài đen mướt. Mười tuổi đứa nào cũng biết bơi như nhái. Dòng sông yêu những đứa trẻ con nghèo khó. Hà bá chỉ ăn đứa xấu bụng, đứa ác. Phù Sa 18, nó theo cô vào Tây Nguyên. Cô nó có tiệm uốn tóc nhỏ trong chợ thị xã. Nó bắt đầu học việc. Nó trở thành ô sin, học trò, bạn tâm tình của cô.

Chồng bảo đêm qua đi nhậu anh gặp con Phù Sa, nó làm tiếp thị bia tiger, nhìn mãi mới nhận ra nó em ạ. Hả? Nó sao làm nghề đó được? Anh cho nó 200 ngàn, nó không lấy. Anh có hỏi được nó đang ở đâu không? Tôi nghe trong bụng ran ran. Thằng Mãn sau vụ đốt nhà, công an bắt rồi thả, nó bỏ xóm đi luôn. Xóm có nhà anh Đông bác sĩ, chị Hải kế toán ngân hàng, em Ngân giáo viên Anh văn thỉnh thoảng lại làm một cơn rộn ràng, rượt đuổi chửi hét chẳng khác gì phim Hồng Kông. Quanh quẩn những chuyện đời sống va chạm kiểu tiền vay tiền nợ, nhà anh nhà tôi, ghen tuông bóng gió, tự ti tự ái chồng thấp vợ cao, con anh con tôi con chúng mình. Đời là chuỗi luẩn quẩn những chuyện ái ố hỉ nộ, dân xóm đa phần theo Phật mà ai cũng chẳng thể tĩnh tâm lâu bền. Xóm có hơn 30 nhà, hơn nửa là công chức viên chức nhà nước, kẻ làm quan to thì lương lậu nhiều, nhà xe to, kẻ lính lác thì lương ba cọc ba đồng, sấp ngửa làm thêm mới đủ ăn. Nhà quan to cửa đóng then cài, chó dữ xồng xộc gầm gừ, xóm có việc chung nhồ ra nộp thùng bia, uống tượng trưng một ly rồi giơ tay chào như Tôn Trung Sơn, rồi chắp tay sau đít khệnh khạng về, quan to phải lo việc nước thời gian đâu mà tụ họp xóm giềng quê kiểng. Quan to về, các quan bé, lính lác, dân lao động tự do ngồi quây lại cụng ly côm cốp, hô vô vô, nói râm ran đủ thứ chuyện trong nước quốc tế, chuyện dân sự quân sự, chuyện ăn ở phúc phần… chả ai nhắc gì đến chuyện rượt đuổi chửi hét, đàn ông thằng nào cũng chứa một bụng sĩ diện. Cái gì xấu là giấu như mèo giấu cứt. Nhà báo, kế toán ngân hàng, giáo viên, hướng dẫn viên du lịch gặp cơn điên tiết của mấy lão thì cũng bầm da tím thịt, nhắm vào tay đùi lưng bụng còn giấu che bằng trang phục chứ vào mặt thì phấn kem tô đắp lên vẫn lồ lộ, lên cơ quan nói bị té xe, va cửa, đồng nghiệp ừ ừ xuýt xoa trước mặt, sau lưng xì xào lao xao đến hết tuần, hết tháng, hết năm, chẳng ai cắt phép chờ hết bầm vì chồng uýnh để đợi đi làm, thời buổi của khó người đông, sểnh ra là mất chén cơm hộp sữa cho con như chơi. Thế nên, cơ quan nào người cũng đông lúc nhúc nhưng làm việc chỉ nửa số ấy, còn một nửa cứ lượn lờ đến tháng nhận lương, săm soi, bóc móc nhau những chuyện vụn vặt đời tư. Tôi sợ hai từ đồng nghiệp, trải qua 4 cơ quan, tôi cảm nhận rõ giá trị của hai từ này, loại vô tư cả tin như tôi từng tai bay vạ gió mấy phen nên khiếp.

Minh họa: Lê Cù Thuần

Tôi gặp mẹ Ti tại nhà hàng Bum, nó chạy ào đến ôm chầm tôi, khóc tu tu. Chị ơi đời em sao mà khổ như chó. Tôi vỗ vỗ nó nhẹ giọng: “Chó cũng có con sướng con khổ”. Ngồi xuống kể chị nghe giờ ở đâu, con Ti đâu, đủ ăn không? Nó lại ôm chầm tôi, khóc tu tu. Tôi vỗ nó nhè nhẹ. Nó nức nức kể lể sau khi thằng Mãn đốt nhà, nó ôm con nhảy xe về quê, nhưng đi đến Quy Nhơn nhảy xuống, nó sợ về quê thằng Mãn tìm về gây sự, ở phố biển nó có con bạn làm nhân viên massage ở khách sạn T, nó ôm con ở nhờ nhà trọ của bạn. 5 ngày, 10 ngày, tiền hết, bạn nuôi không thấy khó coi, nó bảo bạn xin cho chân phụ bếp trong khách sạn, lương 100 ngàn/ngày. Nó làm được gần tháng, hôm nào về nhà cũng nhem nhuốc dầu mỡ, toàn thân ám khói ám mùi thức ăn, tay chân bong tróc vì nước ăn. Bạn nó thủ thỉ, xinh như mày đi làm massage với tao kiếm tiền dễ, trắng trơn sạch đẹp. Nó ngắm bạn, nó nghĩ hai đêm rồi chịu, nó nghĩ phố biển này là xứ người, có ai biết nó là ai mà ngại điều tiếng, nó bán lả lơi cười cợt kiếm tiền chứ không bán thân. Nghề mới. Nhan sắc sẵn, kĩ thuật bạn dạy, khéo léo trời cho nó nằm trong top đắt sô nhất của khách sạn. Nó và bạn như đôi chim cứng cánh tha hồ tung hoành và tích cóp. Nó gửi tiền về cho mẹ xây lại cái bếp, sửa lại cái sân, rào lại vườn chuối, đào lại cái giếng, mua cái xe máy Tàu cho thằng em đi học trên thị trấn, mua cho bố mẹ cái nệm kimdan, mua con bò cho mẹ thả bãi… Gần một năm làm ở khách sạn T, nó gặp lão, nó phục vụ lão – khách VIP, cao sang lịch lãm. Lão làm nó nhìn đàn ông bớt xấu xa. Lão và nó thành một đôi tình nhân già trẻ khập khẫng nhưng tình ấm áp mặn nồng. Nó thôi đi làm nhân viên massage, về huyện B mở quán cà phê nhạc Trịnh, xa rời chỗ đám đàn ông phố thị quen mặt biết tên để yên ổn với cuộc sống mới cùng lão. Tưởng đời sẽ yên, một đêm, một nhóm đàn ông đàn bà xông vào quán nó, đập phá tan nát mọi thứ, lột quần áo đánh nó rách bươm thịt da, mái tóc dài đen mượt bị sởn đến ót, con gái nó được con bé phụ bưng cà phê ôm kịp nhảy qua bờ rào chui vào bếp nhà hàng xóm nấp. Nó câm lặng chịu trận, không gào la, chỉ giơ tay đỡ đòn, nước mắt chảy thầm từ khóe mắt xuống mặt, xuống cổ, xuống ngực trộn với máu, bụi, đất mặn sạp, chát nghét trong khoang miệng. Lũ đánh ghen đi khuất, xe lão phanh két, hàng xóm cuốn chăn phụ lão bế nó lên xe đưa đến viện. Nó sống trong lo sợ, luôn giật thột khi nghe tiếng chân người vào nhà, tiếng xe đỗ sịch, tiếng phụ nữ gọi cửa, đêm nó không dám tắt điện ngủ, lão vẫn luôn ở bên nó nhưng lòng nó không còn yên ổn. Bác sĩ bảo nó cần yên tĩnh nghỉ ngơi, cần thay đổi nơi sống để quên. Ký ức vốn khó quên, ký ức hãi hùng càng khó quên. Một đêm, nó bồng con, khoác túi, bắt xe ngược về phố núi. Mặc lão tìm kiếm, mặc lão năn nỉ, hứa hẹn. Một đêm sau đó khá lâu, lâu đủ để tóc nó dài đến ngang lưng đen mướt, các vết rách thịt da ngày nọ đã mờ phẳng, lão nhắn: “Anh đã ly hôn, xong mọi thủ tục, em ở đâu, anh đón mẹ con em về!”. Nó không hồi âm. Nó bảo muốn tìm một người đâu khó gì trong mấy tỉnh miền Trung – Tây Nguyên này phải không chị, nhưng lão đã không tìm thì phải, hoặc lão không muốn tìm… nên em chẳng muốn quay về dù lòng em thương lão đứt ruột. Tôi hỏi nó hay tin gì thằng Mãn không? Nó bảo chồng cũ nó chết rừng hơn năm rồi, nó đi chặt thuê gỗ cho mấy thằng buôn lậu, bị cây đè chết. Sau khi đốt nhà nó cũng không đi tìm mẹ con em. Em không tính về với lão thật à? Thôi chị ạ, đời người là duyên nợ, em nợ lão đến đoạn đó là đứt duyên rồi, cái gì xong cho xong luôn để bắt đầu vào đoạn khác, vui buồn sướng khổ có căn kiếp rồi. Tôi ôm nó vỗ vỗ. Đàn bà sinh ra đã vốn khổ, mạnh mẽ mà sống em ạ. Đức năng thắng số. Nó khóc tu tu. Nó bảo lâu rồi em không khóc. Nó hỏi chị có hạnh phúc không? Tôi bảo chắc là hạnh phúc vì vợ chồng chị lâu nay ít cãi cọ đánh đập nhau. Trả lời xong tôi chợt thấy mình vô duyên, chả lẽ tôi – người đàn bà đã học hết bậc đại học, cử nhân luật, viên chức nhà nước, kết hôn 12 năm rồi lại chỉ bám vào một tiêu chí “ít cãi cọ đánh đập nhau” là “Hạnh phúc”?. Tôi chợt nghĩ đến mấy chị em công chức, viên chức trong xóm trên, mấy chị em bán buôn tự do nơi xóm dưới, mấy ả đồng nghiệp và bao người phụ nữ thân/sơ tôi gặp, tôi quen biết, tôi quan hệ giao du, họ có cảm giác giống/khác nhau khi bị chồng chửi đánh vì 1.001 lý do đúng/sai?. Đàn bà dĩ nhiên nhiều dạng, nhiều loại nhưng đặc tính cơ bản nhất vẫn là phức tạp. Xong cứ hằm hè nhau làm chi, mở mắt/nhắm mắt ngày trôi, đêm đã trôi, cuối cùng phận người cũng chỉ là tro bụi.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »