Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Một 31st, 2022

Về đúng mùa xuân

Vũ Thị Huyền Trang

Ngày cuối năm, Diệu đi giữa phố, nhìn đôi lứa bên nhau có chạnh lòng buồn. Nhiều người đổ dồn ra bến xe để về quê ngày cuối tuần gây tình trạng tắc đường. Gió rét kèm mưa lạnh ngấm sâu vào da thịt dù ai cũng đùm núm đủ thứ áo quần. Diệu cảm tưởng mình có thể đóng băng bất cứ lúc nào. Mỗi hơi thở là một làn khói bốc lên. Dòng người phía trước chưa có dấu hiệu tan ra. Thế mới biết, không phải cứ xích lại gần nhau là có thể ấm áp hơn. Chỉ thấy những khuôn mặt tái đi vì rét đang cam chịu trước dòng người đông nghẹt. Diệu có tin nhắn, chắc là của Sang. “Em nhớ giữ ấm. Anh nghe nói hôm nay miền Bắc lạnh nhất năm”. Giá mà ở gần nhau, chỉ cần một cái nắm tay thôi là đủ. Nơi Sang sống tuyết đang rơi. Hai bàn chân lún sâu dưới tuyết hẳn là rét lắm. Nên cái lạnh mà Diệu đang hứng chịu đã là gì so với nỗi cực khổ của Sang. Ai đó gọi, giọng vẫn rất chân thành:

– Mưa lạnh, để anh qua đưa em về nhé.

– Em đang kẹt xe giữa đường rồi.

– Vậy sáng mai anh đón em cà phê nhé.

– Sáng mai em có hẹn rồi.

Những cuộc gọi như thế sẽ thưa thớt dần đi. Người muốn đưa, kẻ muốn đón rồi sẽ không còn tha thiết nữa. Năm tháng trôi đi, người ta chuộng những cuộc tình chóng vánh. Làm gì còn ai đeo đuổi mãi một người dửng dưng trước mọi sự quan tâm. Thỉnh thoảng Diệu nhận được thiệp hồng của những người đàn ông từng si mê mình. Đến dự đám cưới người ta, rảnh quá Diệu thử mường tượng ra nếu mình là cô dâu ấy, thử nắm tay người đàn ông kia thì liệu có đi hết cuộc đời này? Trong ánh nhìn lướt qua của chú rể dành cho Diệu có chút gì kiêu hãnh. Rằng anh đã có hạnh phúc trong tay, tưởng em thế nào, hóa ra vẫn chỉ một mình. Diệu nhắn cho Sang: “Em đi ăn cưới người yêu cũ”. Nhắn vui thế tầm chục lần thì không nhắn nữa. Những người đàn ông từng đắm đuối vì Diệu giờ đều đã làm chồng người khác, làm cha của những đứa trẻ đáng yêu. Diệu có lần gặp họ địu con trước ngực trong siêu thị. Có lần gặp họ khệ nệ xách đồ cho vợ ngoài chợ đầu mối. Có lần thấy họ đi chọn váy bầu cho vợ, lưỡng lự giữa váy hoa hồng với váy hoa sim. Thấy Diệu vừa bước vào shop cùng bạn, họ mừng quá, kéo tay nhờ chọn hộ. Diệu bỗng thấy mình mất một suất chồng chu đáo, để tuột vào tay của người khác mất rồi. Sang nghe người yêu kể chỉ cười. “Chừng nào về một nhà, anh sẽ chăm sóc cho em”. Sáu năm yêu nhau, Diệu chỉ nhận được những lời hứa hẹn: Anh sẽ về gỡ xương cá em ăn. Anh sẽ về đưa em qua những con đường em muốn. Anh sẽ về làm mứt gừng để em ngậm cho ấm cổ. Đợi anh về sẽ tự tay sửa lại gót giày cho em. Đợi anh về rồi chúng mình ngồi bên bếp than hồng nướng những củ khoai sánh mật. Mười ngón tay của anh nhức lắm, đợi ngày về để được em ủ ấm… Mấy ngôn từ ấy hiện trên màn hình smartphone. Vậy mà Diệu thấy như than ấm, âm ỉ sưởi một mối tình xa cách. Nhi-đứa em gái vẫn thường mắng Diệu khùng. Thời buổi nào còn tin nhau qua mạng.

Về đúng mùa xuân…
Minh họa truyện ngắn: Mai Minh.

Thỉnh thoảng Nhi gọi giật Diệu dậy khỏi giấc ngủ nướng những sáng cuối tuần, dúi ngay chiếc màn hình điện thoại vào mặt Diệu, bảo “đọc đi”. Một người đàn bà vì quen trai Tây mà bị lừa 2,8 tỷ đồng. Yêu qua mạng, một thiếu nữ bị lừa cả tình lẫn tiền. Nhiều năm yêu qua mạng, chàng trai bất ngờ mình bị một thằng con trai “fake nick” gái để lừa. Diệu chỉ cười, làm sao giải nghĩa được những rung động của con tim. Làm sao để nói cho Nhi hiểu về cảm giác tin cậy một người đàn ông đã giúp Diệu mạnh mẽ đến nhường nào. Những ngày lễ, tết, Diệu thường ngồi ngoài hiên nhà nhìn ra ngoài đường ngắm người dưng đang trôi qua cửa, trên môi nở nụ cười hạnh phúc. Người ta ôm eo, thủ thỉ, tựa vào lưng nhau trôi qua ngày mưa dầm, nắng gắt. Diệu chỉ có một mình với tách cà phê nhưng vẫn thấy ấm lòng. Sống phải tin vào một thứ gì đó mới vui. Đối với Diệu, tình yêu không hẳn là một thứ tôn giáo. Nhưng Diệu tin vào tình yêu như là tin vào sự lựa chọn của chính mình.

                                                                                             ***

Diệu quen Sang qua mạng. Đúng hơn là vì vô tình nhìn thấy một bức ảnh Sang đưa lên facebook. Bức ảnh chụp một người đàn ông đang cố gắng bới một bụi hoa đỏ tươi bị vùi trong tuyết trắng. Chân người đàn ông lún sâu trong tuyết, hai bàn tay đỏ ửng vì lạnh. Cả bức ảnh bị choáng ngợp bởi màu tuyết trắng, nhưng người xem không hề thấy lạnh. Sang chú thích, đó là bức ảnh mà người bạn cùng phòng chụp trộm mình trên đường đi làm về. Diệu nhìn bông hoa đỏ trong tuyết hồi lâu thấy thương đôi bàn tay của một người đàn ông xa lạ. Vài lời comment qua lại, thế là thành bạn bè của nhau. Lúc ấy, Diệu hai tư tuổi, thanh xuân rờ rỡ trong tay. Bao nhiêu người đeo đuổi mỗi ngày, hào hoa phong nhã, đón đưa kề cận vậy mà Diệu không màng, lại đem lòng yêu một người ở cách xa vài nghìn cây số. Nhi từng hỏi: “Sang có gì để chị yêu?”.

Sang không có gì ngoài một trái tim chân thành và tràn ngập yêu thương. Sang không học hành cao. Gia đình khó khăn, phải vay vốn đi xuất khẩu lao động bên Nhật với thời hạn ba năm. Vì không có nhiều tiền để thi đi thi lại nên lúc đỗ đơn hàng nông nghiệp, Sang vội vàng chấp nhận. Sang được nhận vào làm trong một nhà máy tư nhân cùng với mấy người Trung Quốc. Công việc hằng ngày là ra đồng làm ruộng, trồng củ cải, thu hoạch khoai tây, phân loại rau củ trước khi mang vào siêu thị. Ruộng xa nhà nên hôm nào Sang cũng phải dậy từ bốn giờ sáng để nấu cơm ủ ấm mang theo rồi leo lên xe chủ ra đồng. Buổi trưa Sang được nghỉ một tiếng ăn cơm. Ăn nhanh thì còn kịp ngả lưng ngay tại bờ ruộng cho đỡ mỏi. Buổi chiều đi làm về, Sang lúi húi nấu cơm, ăn uống một mình. Nếu không có chiếc điện thoại, Sang chẳng biết trò chuyện với ai khi nhìn xung quanh toàn đồng không mông quạnh. Mấy người Trung Quốc cũng có vẻ cởi mở nhưng bất đồng ngôn ngữ. Nhà chủ thì thỉnh thoảng gõ cửa cho mấy bắp ngô, ít khoai tây, cũng có khi cho nửa con gà loại nhỏ để trả công cho một tiếng Sang dọn vườn cho họ.

Người Sang đau nhừ, tay chân nhức mỏi. Công việc làm nông ở Nhật cũng cực khổ chẳng khác gì bố mẹ ở quê. Ở nhà mưa rét còn được nghỉ. Đi làm kiếm cơm xứ người có hôm mưa lạnh vẫn phải dầm mình ngoài ruộng, để thu hoạch củ cải cho kịp, nếu không mưa nhiều sẽ thối hết. Trong một vài bức ảnh, Sang vô tình để lộ bàn tay đỏ ửng vì mưa tuyết. Diệu chỉ ước gì có thể thò tay qua màn hình máy tính để nắm lấy đôi bàn tay ấy, ủ cho ấm lại. Xuyên suốt quãng thời gian sáu năm dài chính là hình ảnh đôi tay ấy đã buộc Diệu vào một cuộc tình. Mẹ không nói gì, có lẽ vì mẹ tin vào tình yêu. Thỉnh thoảng mẹ chỉ hỏi: Khi nào thì Sang về? Bên ấy có lạnh không? Sang về nước tính sẽ làm gì để sống? Nhắn với Sang là mẹ thèm có cháu để bế bồng. Có hôm mẹ đi chợ mang về một mảnh vải hoa ướm lên người Diệu. Mẹ nói: “Vải này may áo dài đẹp tuyệt. Con sẽ mặc vào ngày dạm ngõ”. Sang từng hứa hai đứa sẽ cưới nhau vào mùa xuân. Nhưng mùa xuân năm nào thì còn chưa biết.

Ba năm trước, Sang về nước đổi visa, ký hợp đồng mới. Diệu chỉ có đúng mười ngày được gần người yêu. Sang không nói gì nhiều, chỉ thích im lặng đi bên Diệu. Ngồi trong quán cà phê phố cổ, Sang kể cho Diệu nghe về cuộc đời mình. Sinh ra trong một gia đình nghèo, Sang chưa kịp lớn lên đã phải làm trụ cột gia đình khi bố đột ngột mất sớm. Gánh nặng mấy trăm triệu tiền nợ ngân hàng bố mẹ vay để chăn nuôi lợn nhưng thất bại, giờ đổ lên vai Sang. Cộng với khoản tiền lãi hằng tháng khiến Sang không còn sự lựa chọn nào khác, đành phải đi xuất khẩu lao động nước ngoài. Ba năm làm việc không ngừng nghỉ ở Nhật đủ để Sang trả nợ và nuôi hai đứa em ăn học. Chẳng còn dư dả nhiều, Sang muốn quay lại Nhật tìm cho mình một cơ hội khác. Diệu khẽ gật đầu. Hôm tiễn Sang ở sân bay, anh chỉ nói: “Tay em ấm thế này mà phải xa nhau”. Mới đó mà đã sắp đến ngày Sang quay trở về. Diệu vẫn chờ dưới hiên nhà qua xuân, hạ, thu, đông. Ngoài đường, đôi lứa vẫn bên nhau và lòng Diệu vẫn còn như than hồng âm ỉ.

Có thể Sang không về. Nhi nói thế. Sang giờ đã có công ăn việc làm ổn định ở bên Nhật. Cũng có thể bảo lãnh người thân sang cùng. Biết đâu Sang tham vọng thì sao? Diệu ngồi tự may áo dài cho mình, không ngẩng lên nhìn Nhi. Sáu năm tuổi trẻ trôi qua như một dòng sông. Ta cứ tưởng nó hiện hữu trước mắt nhưng thật ra thời gian lặng lẽ trôi. Buổi sáng hôm nay khác buổi sáng hôm qua. Ở ngoài kia biết bao người sống vội vàng, yêu thương vồ vập rồi gấp gáp xa nhau. Vậy mà Diệu dành sáu năm thanh xuân để lặng lẽ đợi chờ, kể cũng xa xỉ thật. Rất nhiều người hỏi Diệu, dựa vào gì mà tin một mối tình xa lắc? Dựa vào đâu ấy à? Dựa vào bản thân mình. Diệu tin rằng mình là người phụ nữ xứng đáng được hạnh phúc. Thế thôi.

Không báo trước, Sang về vào đúng mùa xuân. Mưa lất phất bay trên tán bàng non. Hàng quán ngoài đường co ro trong cơn rét cuối. Diệu may nốt những đường chỉ cuối cùng trên chiếc áo dài mà mẹ chọn vải năm xưa, đơm thêm vài hàng cúc. Sang về, quà cho Diệu vẫn là đôi tay lạnh. Hai đứa nhìn nhau qua gương, thấy thanh xuân đang dần khép lại trên đuôi mắt. Sang chải tóc cho người con gái mình yêu, thủ thỉ kể cho nhau nghe về những hình dung ấm áp. Sẽ nấu cho nhau ăn những bữa cơm dẫu có khi đạm bạc. Sẽ đi cùng nhau những đoạn đường dẫu có khi trắc trở. Sẽ nương tựa vào nhau dài lâu dẫu bể dâu không chừa bất cứ cánh cửa của ngôi nhà nào. Sang sẽ về làm phiên dịch cho một công ty nước ngoài. Sáng đèo Diệu đến cơ quan, chiều đón nhau chụm đầu bao câu chuyện. Bao vất vả qua rồi, đời Sang thiếu thốn đủ đường nhưng nhờ có Diệu mà ngập tràn hạnh phúc. Diệu nắm lấy tay người đàn ông mình yêu. Mười ngón gầy đang ấm dần lên trong tay Diệu…

Read Full Post »

Rượu Xuân

Ngô Đình Hải

chai rượu mới vừa mở nắp

ta uống trong ngày đầu năm

thoảng hương dậy thì con gái

mùi này lâu không thấy mặt

.

chắc xuân ngó ta thấy ghét

nên ít khi ghé hỏi thăm

ngày em bỏ ta đi mất

bàn tay rót rượu bỗng run

.

rượu thì ngày nào chẳng gặp

có uống được nữa hay không

mà xuân tới lui bất tận

còn em biền biệt mù tăm

.

thì rót cho đầy cái nhớ

rồi mơ em về qua ngỏ

nghiêng ly nhìn em thật gần

trong màu hoàng hôn tím đỏ

.

chai rượu còn hơn phân nửa

xuân hỏi uống thêm làm gì

ta chợt khom người xuống mửa

thấy ngày xuân vụn trong thơ

Read Full Post »

Chia ly nỗi nhớ

Nguyệt Phạm

Em đã qua những mùa ngẩn ngơ nổi gió
Bão đã qua từ lâu
Chỉ còn hoang tàn trú lại trên cây
Những buổi chiều tỉnh táo đi qua
những tàn cây lại nẩy mầm
và những chú chim theo thói quen lại về bâu đen vòm nhỏ.
 
Ngày chỉ còn lại là những túi nhỏ vay mượn
Những câu chuyện có đầu có cuối nhưng đôi khi chằng đi tới đâu.
Rồi thì, dần quen
Kêu ca dần thành giai điệu thân thuộc.

Em thuộc về một nơi nào khác
khác mình
khác người
Chỉ còn là một khái niệm
Em đang nói gì
Đôi khi còn không hiểu

Những mộng mơ xa như chưa từng đi qua
Chỉ là thoáng trong cơn mơ của một người khác
Em viết tên mình lên những khóc cười sân khấu
Dạọ quanh ngày vội vã đến vỡ hơi.

Một bài hát chỉ còn trong tưởng tượng
Chia ly nỗi nhớ bằng những sóng âm…

Read Full Post »

Ngơ ngác từ hôm

nguyễn thái dương

1Chiều bớt lung linh

Biết trời thấp xuống

Bóng không nên hình

Biết trăng thắp muộn

2Mắt còn đăm chiêu

Môi chưa chịu thốt

Em biết bao điều

Mà anh chỉ một

3Anh đếm tuổi tình

Chưa thành năm tháng

Lòng cứ đinh ninh

Hồn em vô hạn

4Tay vói lên mây

Đất cầm chân mãi

Mắt đã sớm mai

Lòng khuya khoắt lại

5Người chưa hề lần

Rộn ràng then cửa

Kẻ lại thất thần

Môi hôn từ bữa…

Read Full Post »

Quà cuối năm

Trần Thiên Thị

nếu hiểu được chú sẻ non hót gì

trước hiên nhà buổi sớm

thì núi cao trời thấp sẽ gần hơn

cứ như nắng không cần kìềm lòng

đổ tràn xuống phố

níu chặt lấy vai người

những điều lớn lao

gió đã nói hết rồi

này đây một trái tim bé nhỏ

gắng hồng thêm mùa nữa yêu người

những dòng sông rất trong

có nguồn từ đôi mắt

cho tôi về tắm gội

một ngày cuối năm

tóc rất xanh bén rễ vào trong gió

về đây em

tay đợi gối nằm

về đây em

chợ phiên gia lạc

trời trung phần hai cánh tay ôm

chữ đã giao thừa trong câu viết

đứng cuối mùa đông

gởi lại chút lòng

Read Full Post »

..

 ĐỖ TRƯỜNG

                        HỒN VIỆT ĐÓ, TRONG TỪNG CON CHỮ ELENA PUCILLO

Thời gian gần đây, những lúc nhức mỏi, tâm trạng không được thăng bằng cho lắm, tôi thường tìm đến thơ Nguyễn Văn Gia, và đọc văn Elena Pucillo. Lời văn tự sự của chị như một liều Aspirin xoa dịu nỗi nhức nhối trong lòng người vậy. Có thể nói, Elena Pucillo là một hiện tượng đặc biệt trên diễn đàn văn chương Việt trong những năm gần đây. Sự đặc biệt ấy, không hẳn bởi tài văn, mà là sự nhào trộn, hoà tan cái văn hóa Ý- Việt vào những trang sách của chị. Đọc văn Elena Pucillo (qua bản dịch của Trương Văn Dân) nếu không biết trước, có lẽ ai cũng nghĩ, tác giả phải là người Việt. Bởi, bối cảnh, tâm lý, hồn cốt nhân vật như đã được Việt hóa hoàn toàn vậy. Có lẽ, cái món văn hóa spaghetti tan chảy vào cái văn hóa nước mắm chăng? Chẳng vậy, có lần ngồi khật khừ với Nguyễn Đức Minh ở Bischofswerda, người rất thân thiết với vợ chồng Elena Pucillo-Trương Văn Dân, chẳng biết đùa hay thật gã bảo: Làm bất cứ loại Spaghettisoßen nào (nước sốt mì Ý) Elena cũng cho nước mắm cá cơm Bình Định nguyên chất vào. Tôi không tin như vậy. Nhưng mấy năm trước Elena sang thăm tôi, bún mắm tôm cứ thấy chị đả đều đều.

Nhà văn Elena Pucillo người Italia, là tiến sĩ ngôn ngữ và văn học nước ngoài. Chị đã từng là giảng viên Đại học Milano, và Đại học âm nhạc, cũng như Đại học  khoa học xã hội, nhân văn Saigon. Nghiên cứu và tiếp xúc với văn chương từ rất sớm, nhưng Elena viết văn muộn. Và chị chỉ viết khi cảm xúc ùa đến bất chợt, buộc phải cầm bút, do vậy văn của chị rất sinh động và chắt lọc. Và nếu không có sự cổ vũ, dịch chuyển sang Việt ngữ của người chồng, nhà văn Trương Văn Dân, thì có lẽ, văn chương của Elena không được nhiều người biết đến như hiện nay. Thật vậy, những tác phẩm: Bóng của ngày, Một phút tự do, Vàng trên biển đá đen, Cùng Bay về Tâm dịch đã xuất bản, và Hạt bụi lênh đênh, cùng Nỗi đau ngọt ngào sắp xuất bản của chị đã được Trương Văn Dân dịch nguyên bản từ tiếng Ý một cách sinh động và tinh tế.

Văn chương Elena gồm hai mảng chính: Truyện ngắn, và tùy bút, tạp văn. Tự sự là nghệ thuật xuyên suốt những trang viết của Elena. Và khi đi sâu vào đọc, ta có thể thấy, Elena là một nhà văn có tài khám phá, miêu tả diễn biến nội tâm, hay mượn cảnh vật thiên nhiên để bộc lộ tâm trạng nhân vật. Nếu được phép tuyển chọn, với tôi Vàng Trên Biển Đá Đen là tập truyện hay và tiêu biểu nhất về nội dung, cũng như thi pháp (hình thức nghệ thuật) sáng tạo này của Elena.

*Tính chân thực, với cái nhìn nhân bản.

Có thể nói, ngay từ những ngày đầu nghiên cứu ở Đại học Milano, Elena đã bén duyên với viết lách, nhưng chỉ đến khi về sống và giảng dạy ở các trường Đại học Saigon thì tài năng văn chương của chị mới được phát tiết. Có lẽ, đất và con người nơi đây đã cho chị những cảm xúc đặc biệt chăng? Có được những trang văn chân thực, làm rung động mọi tầng lớp người đọc như vậy, ngoài bút lực, ta có thể thấy,  tình yêu, tình người của Elena sâu đậm biết nhường nào. Để có được những cảm xúc ấy, Elena đã đi vào khám phá nội tâm tư tưởng, hồn vía con người nơi đây, từ đó có một sự đồng cảm sâu sắc. Và “Con chim nhỏ trong lồng” là một truyện ngắn như vậy của chị. Nhà văn đã chọc thẳng ngòi bút vào cái vô cảm, sự mâu thuẫn gia đình, xã hội mà bấy lâu nay dường như đã bị chìm lấp. Lời văn tự sự, hay là tiếng kêu bất lực vọng lên từ những mẹ, người già cô đơn, hiu quạnh trước sự thờ ơ, ghẻ lạnh của con cái, gia đình và xã hội: “Bị giam hãm giữa bốn bức tường, tôi như chết từng ngày, lặng lẽ ngồi cô đơn trên thành giường mà chẳng có căn phòng riêng nào để trú ẩn. Những tiếng động bên kia bức tường là của những người xa lạ, của những người hàng xóm không quen, lạnh lùng, vô cảm trước nỗi đau của tôi.”. (Con chim nhỏ trong lồng)

Nỗi đau, sự tuyệt vọng ấy, đã đẩy người mẹ đến đường cùng, ngõ cụt. Tự kết thúc cuộc sống là lối thoát duy nhất của bà. Thân phận con người cùng tâm trạng đó đã được nhà văn Elena lồng vào sự vần vũ của đất trời, thiên nhiên. Sự miêu tả độc đáo, cùng những hình ảnh so sánh, với phép ẩn dụ này, dường như nhà văn muốn làm giảm đi nỗi đau của bi kịch đó, và bật lên tấm lòng vị tha của con người, cũng như của chính tác giả chăng? Tuy vậy, từ cái hiện thực đó ta vẫn nhận thấy cái rẻ mạt của tình người, và nhân cách. Và cái luân lý, đạo đức đã bị đảo lộn tùng phèo trong gia đình, xã hội đương thời, gây nhức nhối cho người đọc. Đoạn kết của thiên truyện: Con chim nhỏ trong lồng (dưới đây), tuy rất buồn, nhưng có lời văn nhẹ nhàng, và tuyệt đẹp. Nó không chỉ cho ta thấy rõ những điều đó, mà còn chứng minh tài năng sử dụng biện pháp tu từ của nhà văn Elena: 

“Đêm nay có một vầng trăng tuyệt đẹp trên bầu trời, chỉ có một phần rất nhỏ bị che bởi một sợi mây. Tôi bỏ khung hình vào túi áo, đó là kho tàng của tôi, và từ cửa sổ tôi nhìn xuống thành phố đang ngái ngủ. Tia mắt tôi dõi theo ánh đèn màu đỏ của một chiếc xe hơi dọc theo hàng trụ đèn đường. Yên lặng quá. Từ trên cao ánh sáng chiếu xuống mềm mại như bông làm tôi có cảm giác như mình cũng đang đứng trên một cụm mây. Chỉ vài giây thôi! Tôi nhoài người, bay qua khung cửa sổ, rơi tự do trong không khí. Trên môi tôi vẫn nở một nụ cười thật ngọt ngào, để khỏi phải hét lên, sợ làm phiền người khác”.

Từ yêu người, dẫn đến tình yêu mảnh đất nơi đây, làm cho Elena gắn bó chặt chẽ với nó. Sự đi lại tìm tòi, khám phá với cái nhìn, quan sát tỉ mỉ cùng sự sẻ chia, cảm thông sâu sắc, như vốn sống để nhà văn viết nên truyện ngắn: Vàng trên biển đá đen, được in trong tập sách cùng tên. Tình tiết đơn giản, lời văn mộc mạc, song đây là một trong những truyện ngắn cảm động, và hay nhất của Elena. Gieo mầm một động từ, hay là hình ảnh, một phép tu từ so sánh: (gieo hạt, và gieo chữ) làm nên cái tứ của thiên truyện. Cái khát khao sống, buộc con người phải vượt qua khắc nghiệt của thiên nhiên. Và cái tình người (gieo chữ, bồi đắp linh hồn) ấy, nhà văn đã mở ra lối thoát cho đất và người nơi cao nguyên núi đá khô cằn:

“Một hạt giống không thể nẩy mầm nếu không có đất, và trên núi đá không phù hợp nên họ đào một cái rãnh và đem đất từ nơi khác lấp vào. Một điều đơn giản, mà từ thời nguyên thủy con người đã chiến đấu với thiên nhiên để sinh tồn. Gieo hạt để nẩy mầm! Công việc của tôi cũng vậy. Bây giờ tôi hiểu là mình cũng đang gieo hạt và tìm cách giúp các cậu học trò nảy mầm cho cuộc sống mới…” (Vàng trên biển đá đen)

Đọc Elena, ta có thể thấy tình yêu, tình người không chỉ dừng lại ở hai người mẹ Việt-Ý, mà sự ấm áp đó của nhà văn làm tan đi giá lạnh của bà cụ cô đơn, hay một bé gái bán vé số… Thật vậy, đọc: Mèo con lạc lõng, và Cho nhau một chút an lành (trong tập truyện Hạt bụi lênh đênh, sắp phát hành) rồi quay lại đọc Thư viết cho mẹ (trong tập Vàng trên biển đen, in năm 2018) tôi bị xúc động mạnh. Cảm xúc tuy khác nhau, song có thể nói, tình yêu, lòng nhân ái ấy làm cho người đọc xa quê, xa tổ quốc gần bốn chục năm như tôi ấm lại. Và hơi ấm đó, dường như xuyên suốt những trang văn Elena. Mỗi truyện ngắn, một tản văn của chị như một bài học luân lý vậy. Nếu đọc Con chim nhỏ trong lồng, ta thấy cái luân lý, đạo đức gia đình, xã hội bị đảo lộn, thì đến Thư viết cho mẹ, Elena đã trả cái luân lý, đạo đức ấy về đúng vị trí của nó. Đọc Elena một cách có hệ thống, ta có thể thấy, dù chị dẫn dắt người đọc đến đâu, và đi đâu chăng nữa, thì cái đích cuối cùng vẫn quay về với chân thiện mỹ.

Cũng như tác phẩm Nụ Hoa Vàng Của Ngày Si Tình của nhà văn Trần Hoài Thư (đã đọc trước đây) Thư viết cho mẹ của Elena (đọc gần đây), khi ngồi viết những dòng chữ này, tôi chưa biết để ở mục truyện ngắn, tùy bút, hay một trang thư. Và cho đây là một bức thư, thì có lẽ, đây là lá thư thứ hai hay nhất mà tôi đã được đọc. Nếu Nụ Hoa Vàng Của Ngày Si Tình như một sự tiếc nuối tình yêu của cái thuở ban đầu, thì Thư viết cho mẹ là tình yêu, lời tự sự về mẹ của Elena. Đằng sau lời tự sự ấy là câu chuyện thật cảm động về những người mẹ. Thư viết cho mẹ gây cho tôi cảm xúc đặc biệt, không hẳn bởi nội dung, mà do thủ thuật dẫn dắt truyện của tác giả. Thủ thuật kết nối từ một người mẹ (đẻ) sang người mẹ (chồng) một cách bất ngờ ấy của Elena làm tôi nhớ đến cái qui tắc bắc cầu trong toán học, từ cái thuở còn ngồi trên ghế nhà trường. Đây cũng là một trong những truyện tiêu biểu về tính chân, thiện của Elena. Và đọc nó, dường như ta thấy, văn chương cũng như con người chị đang đến gần hơn với tư tưởng, triết lý nhà Phật:

“Bây giờ thì con xin báo cho mẹ biết là trong những ngày tới, mẹ sẽ có một cuộc gặp gỡ quan trọng. Đến gặp mẹ là một người đàn bà mà mẹ đã từng gặp rất nhiều năm trước: mẹ của chồng con. Con tin chắc rằng hai người sẽ trở thành bạn, sẽ kể cho nhau nghe nhiều rất chuyện, về những cuộc đời ở mãi tận phía bên kia trái đất. Bà ấy hay cười và thích nói đùa. Đây là điều mà con đang tưởng tượng: Hai người ngồi bên nhau như thể là hai người bạn lâu năm, vui đùa, cười nói. Mẹ chồng của con sẽ nói về Việt Nam, sẽ giải thích về lễ Vu Lan, một ngày lễ Phật giáo rất đặc biệt dành cho các bà mẹ vì họ giữ một vai trò quan trọng trong gia đình cũng như ngoài xã hội” (Thư viết cho mẹ)

Có thể nói, truyện ngắn nào của Elena cũng đầy ắp hình ảnh, tình tiết so sánh, liên tưởng. Cùng với lời văn nhẹ nhàng, tinh tế như vậy, hiển nhiên chị đã mang đến người đọc sự rung động và cảm thông sâu sắc.

*Tùy bút, tạp văn…với những nét đặc trưng.

Như có lần phân tích tác phẩm Miền Ấu Thơ của Vũ Thư Hiên và Sông Lam của Trần Mạnh Hảo, tôi đã viết: Có người cho rằng, chỉ có các nhà thơ, nhà văn viết về chính quê hương của mình mới có những tác phẩm hay, và chân thực. Song đi sâu vào văn học sử, cho tôi suy nghĩ ngược lại: Thường những mảnh đất, đồng quê xa lạ mới là đề tài để các nhà văn, thi sĩ đẻ ra những tác phẩm hay. Thật vậy, nếu không có cái nhìn xa lạ, tò mò khám phá của cậu bé đến từ nơi phố thị, thì sau này Vũ Thư Hiên khó có thể viết được tác phẩm Miền Ấu Thơ về đồng quê hay, đặc sắc có sức sống bền bỉ và lâu dài. Hay nếu sinh ra, và lớn lên ở Nghệ Tĩnh, chưa chắc Trần Mạnh Hảo đã viết được Sông Lam, với những hình tượng mới lạ, sâu sắc làm rung động không chỉ người đọc nơi xứ Nghệ. Và nhà văn Elena Pucillo cũng vậy. Đến từ Italia, khi Elena viết về Hà Nội hay Trà Sư, hoặc một vùng đất Việt nào đó sẽ khách quan, mang tính khám phá, sinh động hơn. Nó gây cho người đọc cảm giác thú vị như được tìm hiểu, khám phá vùng quê ấy cùng nhà văn. Hà Nội, nét đẹp bí ẩn là một tùy bút như vậy của Elena. Từ một tiếng rao đêm, hay một gánh đậu hũ non nóng giữa phố thị, hoặc những hàng trái cây bên đường, dưới lăng kính của mình, Elena cho người đọc cùng liên tưởng đến hình tượng (so sánh) thật độc đáo và mới lạ: “Tôi kinh ngạc nhìn các kim tự tháp bằng trái cây đặt trước các cửa hàng bên lề đường, trái nọ chồng lên trái kia, màu sắc chen nhau, như thách thức quy luật thăng bằng.”. Là tiến sĩ văn học Pháp, do vậy Elena đọc, nghiên khá rõ về văn hóa của các nước thuộc địa ở những năm đầu thế kỷ 20. Có được sự đồng cảm và tình yêu ấy, dường như Elena muốn bộc lộ cái tư tưởng, ước vọng của mình. Trở về cái thuở ban sơ của thành phố, như một cánh chim tự do muốn thoát ra khỏi những rào sắt vô tình đó. Vâng, đó cũng là khát khao, ước muốn không chỉ riêng của nhà văn. Một tiệm thuốc, hay nơi bán đồ lưu niệm ở góc phố, hoặc quán bia nơi vỉa hè cũng gây Elena một ấn tượng, một cảm xúc để chị đặt lên trang viết của mình. Có thể nói, Elena Pucillo là một nhà văn giầu trí tưởng tượng, có lời văn nhẹ nhàng, sâu sắc, ngữ nghĩa đa tầng. Và có lẽ, không chỉ tôi mà nhiều người sinh trưởng, gắn bó với Hà Nội đọc trang văn này, ít nhiều sẽ được hiểu biết thêm về nó:

“Giống như một giấc mơ giữa ban ngày, tôi tưởng mình đang cưỡi rồng bay trên thành phố, luớt qua khu biệt thự Pháp và những căn nhà thời thuộc địa được che chắn bởi những hàng rào và cổng vào bằng sắt trang trí theo kiểu Liberty của đầu thế kỷ 20. Tôi muốn mình được bay như một cánh chim vừa thoát khỏi lồng, lơ lửng trên những con đường thuốc, với những dụng cụ chưng cất đang hâm nóng bát thuốc trường sinh hay cỡi trên lưng một con cá vàng bơi dọc theo sông Hồng.” (Hà Nội, nét đẹp bí ẩn)

Mượn cảnh vật thiên nhiên để miêu tả nội tâm nhân vật là nghệ thuật không hề mới, gần đây được nhiều nhà văn quay lại sử dụng. Tuy nhiên, không phải ai cũng thành công ở loại hình nghệ thuật này. Đọc Một đêm huyền diệu của Elena chợt làm tôi nhớ đến cái tài, lấy động tả tĩnh trong Thu Điếu của cụ Nguyễn Khuyến“Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Hay ngược lại, mượn cái tĩnh của căn phòng tả tâm trạng động trong “Hộ Chiếu Buồn Những Biên Cương” của Thế Dũng. Và khi đến thăm nhà văn Nguyễn Hoàng Đức, Elena đã mượn đồ vật, cảnh trí trong căn phòng dường như để miêu tả, khắc sâu cuộc sống, tính cách cũng như tâm hồn gia chủ. Thật vậy, với sự liên tưởng độc đáo ấy của Elena, nhà văn Paul Đức (Nguyễn Hoàng Đức) hiện lên lịch lãm như một triết gia, nghệ sĩ, hay hình ảnh chiến binh của Phong trào khai sáng Tây Âu ở thế kỷ 18 vậy. Trích đoạn có lời văn tinh tế dưới đây, không chỉ thấy rõ điều đó, mà còn cho ta thấy tài năng, cũng như sự quan sát tỉ mỉ của nhà văn Elena:

“Tôi có cảm giác như không phải mình đang ở trong một căn nhà ở Hà Nội, Việt Nam. Tôi tưởng mình là cô bé Alice đang đứng trước chiếc gương thần để khám phá ra một thế giới khác. Tôi tưởng mình đang ở Paris, trên tầng nhà áp mái của một họa sĩ, một nghệ nhân Bohémien, đang ở vùng Montmartre hay ở khu Quartier Latin. Tôi đứng ngây người nhìn những bức tranh treo trên tường. Những tủ sách, ôi chao cơ man là sách, nhiều lắm và những bản nhạc mở rộng đặt trên chiếc dương cầm, như thể chàng nghệ sĩ vừa dạo đàn trước đó và trong không gian vẫn còn vang vang những nốt nhạc du dương của Beethoven, của Liszt hay Chopin…  Tôi không thể nào rời mắt khỏi những thứ đồ vật vây xung quanh mình. Trên một bức tượng bán thân có phảng phất nét mặt của Paul Đức, được lập lại trong một bức chân dung được phóng cọ theo phong cách hiện đại, anh xuất hiện như một chiến binh tân thời.” (Một đêm huyền diệu)

Nếu truyện ngắn Elena sắc lạnh, thì tùy bút, chân dung của chị mềm mại, ấm áp. Tình bạn, tình người ủ ấm những trang viết của chị. Tùy bút, tạp văn Elena thường là những ký ức nhỏ, hay cảm xúc bất chợt từ một bạn văn, một nhà sư, một em bé bán vé số, hoặc về một miền quê nào đó…mà chị đã bắt gặp, trải qua. Thật vậy, mỗi (một) người bạn đều cho Elena cảm hứng viết. Và cái hơi ấm tình bạn, tình người ấy, với chị: “thật bình an và sảng khoái, hơn hẳn các loại thuốc hay liệu pháp trị liệu nhóm nào hiện hữu trên thế giới” (Trị liệu nhóm). Tuy nhiên, đọc tùy bút Elena, tôi khoái nhất những trang viết về chân quê, cùng những hình ảnh thân thuộc dưới góc nhìn của chị. Vâng, hình ảnh bà cụ, với tiếng gà kêu quang quác dưới cái lạnh của mưa gió như kéo hồn vía chúng tôi về với đất mẹ vậy. Cái mộc mạc và chân thực ấy, Elena làm cho lòng tôi ấm lại, khi ngồi viết những dòng chữ này, bởi cái tình người còn sót lại:

“trời mưa lất phất, nên chúng tôi phải nép vào một mái hiên của một căn nhà nhỏ. Bỗng tôi nghe có tiếng lục đục rồi có một bà cụ bước ra mời chúng tôi vào trong nhà nghỉ ngơi cho ấm. Lát sau tôi nghe có tiếng gà đập cánh và kêu lên quang quác. Con gà có thể là của để dành của bà, nhưng bà cụ đem ra nấu cháo mời chúng tôi mà chẳng chút đắn đo. Cho đến hôm nay, tôi vẫn còn nhớ như in bóng dáng bà nhỏ con, chiếc áo bà ba màu nâu phủ lên một thân hình mảnh khảnh và nhất là nụ cười hiền hậu, thương quá, hai khóe miệng còn thẫm đỏ màu trầu.” (Một đêm huyền diệu)

Không biết Elena có phải là một Phật tử hay không, song đi sâu vào đọc và nghiên cứu, ta có thể thấy Phật giáo, hình ảnh, đức tin thấm đẫm những trang văn của chị. Với cái tư tưởng này, Elena luôn hướng nhân vật hành động, ứng xử nhân hậu, nhìn nhận con người, sự việc ở mặt tích cực, hay mở ra một lối thoát cho họ và xã hội. Khi đọc: Hạt bụi lênh đênh, trong tập truyện cùng tên, sắp in của Elena, càng cho tôi những cảm nhận hơn nữa: Cái chánh tin ấy của chị không chỉ trong sinh hoạt thường nhật, mà ngay cả những lúc ốm đau sinh tử. Sự bình tâm, thanh thản từ nơi Đức Phật chính liều thuốc đã giúp con người vượt qua những đớn đau, ưu phiền đó. Thật vậy, đây cũng là một trong những đặc điểm nổi bật nhất trong tùy bút, văn xuôi của Elena:

“Tôi biết là mình đang ngầy ngật vì thuốc. Có lúc tôi cảm thấy như mình đang lơ lửng trong một cái bong bóng đang tan biến. Điều lạ lùng là nằm trong đó tôi không còn nghe đau đớn, chỉ có bình an. Tôi giật mình thức giấc vì bất ngờ có ai đó ngồi bên cạnh mình. Tôi nghe một bàn tay đang đặt lên trái tim và cùng lúc đó cũng có một bàn tay khác đang nắm lấy cổ tay mình. Tôi mở mắt một cách khó nhọc và trời ơi, trước mặt tôi là ánh mắt sáng rỡ của nhà sư mà mình đã gặp trên chuyến bay. Nhà sư nhìn tôi mỉm cười và bàn tay ông dời từ trái tim để đặt lên trán tôi. Ông không nói gì, nhưng sự hiện diện của ông ở nơi đây đã ban tặng cho tôi một sự bình yên không thể nào nói được nên lời” (Hạt bụi lênh đênh)

Có thể nói, mỗi truyện ngắn, tùy bút của Elena Pucillo là một lát cắt của cuộc sống. Cái ác, và sự giả dối, chị vẫn đặt lên trang văn một cách sâu đậm, như để răn mình, răn đời vậy. Và tính nhân văn, khát vọng sống, khát vọng tự do đã làm nên văn chương, tên tuổi Elena Pucillo. Tuy nhiên, văn tự sự, độc thoại nội tâm, dù sâu sắc, nhưng ít đối thoại làm lời văn chậm, cho ta cảm giác mệt mỏi khi đọc. Đây cũng là nhược điểm của loại hình nghệ thuật này.

Leipzig ngày 8-1-2022

Đỗ Trường

Read Full Post »