Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Hai, 2012

Thơ cho người mong gặp

Trần Mai Hường.

Có một ngày đá bỗng thấy nhớ nhung,nỗi nhớ vu vơ từ nơi nào xa lắm,mây như mướt hơn khoe trời ngọt nắng,ngọn gió mềm lay khẽ phím non tơ.

Ngỡ qua rồi những run rẩy xa xưa,thời phấn trắng bảng đen tươi nguyên màu áo, tình yêu ngàn đời vẫn trái tim mách bảo,thuở tinh khôi lại chập chững tìm về.

Em rưng rưng đón nhận đam mê, khẽ lùa tay chặn tim mình lỗi nhịp,có phải anh thực hư hư thực, giăng mắc này mặc định những đa đoan.

Đêm trống đêm em hờn giận thời gian mà thời gian thích đùa dai đến lạ,em như chấm buồm nhỏ nhoi giữa trùng trùng biển cả,nào biết dưới biếc xanh kia ẩn chứa những gì.

Chợt bàng hoàng khi khép nhẹ hàng mi,ẩn hiện bóng hình người em mong gặp, biết đâu… biết đâu… ở một nơi xa lắm, anh cũng như mình…lặng lẽ…biết đâu…

 

Read Full Post »

Con gái rượu

Vũ Thế Thành

Như con hổ già trong gánh xiếc bỗng nhiên nhớ rừng, người già thường cô đơn, dễ tủi. Họ cần sự cảm thông và chia sẻ, mỏng manh trước những bất cần. Tiện nghi vật chất hờ hững. Thế giới tâm linh trở nên gần gũi hơn…

Tôi gặp cha con họ  trong một quán phở gần nhà thờ Ba Chuông, hồi năm 80 hay 81 gì đó.

Tối đó trời mưa. Đi chơi về khuya, tôi táp vào quá phở. Quán vắng khách, chỉ có 2 người: ông già và cô gái. Họ đang uống rượu, thủ thỉ nói chuyện. Hơi lạ!

Tô phở đã kết thúc mà mưa chưa dứt. Sàigòn mưa tháng bảy nhì nhằng bất kể lúc nào, tối khuya hay nửa đêm về sáng cũng chẳng chừa.

“Chú em qua đây làm một ly cho ấm bụng”, ông già nâng ly nói vói qua. Đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh. Mưa rả rích thế này, đang thèm rượu, mà uống một mình, cay ai chịu nổi. Không khách sáo, tôi bước qua bàn ông và cạn ly.

Ông chỉ qua cô gái với chút hãnh diện: “Đây là con gái tôi. Nó làm ở tổ hợp đan lát. Hôm nay nó lãnh lương, rủ bố đi nhậu”. Cô gái trạc hai mươi, tóc ngắn, có da thịt, trông có vẻ quyết đoán.

Ông tự giới thiệu là họa sĩ. Trước năm 75, có triễn lãm tranh ở nhiều nơi, kiếm tiền rủng rỉnh, tay chơi một thời. Bây giờ chẳng ai mua tranh, đi vẽ thuê  panô, áp phích qua ngày. Tôi dốt hội họa bẩm sinh, dốt thời đi học, và bây giờ vẫn dốt, nên không hào hứng lắm với chuyện tranh ảnh, nhưng nghe ông kể cuộc đời lãng tử của ông, chuyện văn nghệ sĩ Sàigòn cũng thấy vui vui. Chuyện vãn tôi đoán ông khoảng ngoài năm mươi, tóc dài chấm vai, thưa, nhiều sợi bạc, mắt hõm sâu, tinh anh, mặt gầy, xương xẩu, áo sơ mi đuôi tôm rộng thùng thình. Trông ông có vẻ già hơn tuổi nhiều.

Tô mồi gân bò còn hơi đầy, nhưng xị rượu gần cạn. Có vẻ như cha con họ uống nhiều, nói nhiều và nghe nhiều hơn là ăn. Tôi gọi thêm xị rượu: “ Xin phép chú, từ chai này cháu tính, mời chú và cô em…”. Ông xua tay, hơi to giọng: “ Chú em gọi rượu được, tính tiền được, nhưng không được gọi tôi bằng chú, phải gọi là anh, mình là dân nghệ sĩ…”. Ông già chơi thế mới…nghiệt. Tôi hơn cô gái chừng năm, sáu tuổi chứ nhiêu, lỡ cỡ… Tôi rót rượu mời ông, mời cô gái. Cô chỉ nhấp môi, lí nhí : “ Cám ơn…chú”. Lỡ cỡ là ở chỗ đó! Ông già cười ha hả: “ Con này nó chỉ đá mồi”.

Rượu ngấm qua bờ môi… Bỗng nhiên ông đứng dậy, lảo đảo, một tay vịn mép bàn, ông hát:

“Ngày mai lênh đênh trên sông Hương.

Theo gió mơ hồ hồn về đâu?

Sóng sầu dâng theo bao năm tháng.

Ngóng về đường lối cũ tìm em…”

Tiếng hát không cần nhịp, lúc ngắn lúc dài, khi hát khi nói, lúc nhỏ lúc to,… Lưng ông còng, khom người xuống, tay phải áp vào tim, dang ra diễn đạt, trông ông còng đến thảm hại. Ông hát không cần người nghe, ông hát cho chính ông, hát để trang trải nỗi lòng. Rồi ông thẳng người lên:

“ Thương em thì thương rất nhiều,

mà duyên kiếp lỡ làng rồi.

Xa em, lòng anh muốn nói….”.

Giọng ông khàn, gào lên như tiếng con gà bị cắt tiết. Tôi nhìn sang cô gái, mắt cô chăm chăm nhìn ông. Tôi buột miệng: “ Mẹ đâu?”. Mắt cô vẫn không rời cha, môi mím chặt: “ Bỏ đi rồi!”. Tôi thấy khóe mắt cô có giọt nước…

Những năm tháng đó, lòng người đổ vỡ nhiều, kẻ đi người ở, tâm trạng lao đao, nhân tình thế thái. Giọng hát của ông họa sĩ dở nhất trên đời, nhưng nghe ông hát, nhìn ông diễn mới cảm ra được số phận thế nào. Tiếng hát không đi vào lòng người thì đi về đâu? Ánh mắt của cô con gái nhìn cha đã ám ảnh tôi cả một đoạn đường dài.

Cách đây không lâu, tôi có đọc một truyện ngắn của một cô gái kể về cha mình. Cha cô là một người đàn ông có trách nhiệm, nghiêm khắc, thương con. Từ ngày qua Mỹ, ông làm quần quật để lo cho các con ăn học. Mục tiêu của ông là thế, rồi dựng vợ gả chồng. Mẹ cô tiếng Anh kém, nên chỉ ở nhà nội trợ. Đến tuổi, mẹ cô lãnh tiền già, ba cô lãnh lương hưu. Mẹ cô bỗng đổi tính đổi nết, ăn nói ngang ngược, suy diễn lung tung. Ba cô trở nên ít nói, suốt ngày trong phòng, niềm vui duy nhất là đứa cháu ngoại. Rồi một hôm, cha cô bỏ đi, để lại mảnh giấy nhắn, đừng  lo cho ông và cũng đừng tìm ông. Cô lo lắng, dọ hỏi khắp nơi. Không ai biết tin về ông.

Một hôm cô nhận được thiệp mừng sinh nhật của ông, không phải cho cô, mà cho con gái cô. Ba cô nhớ cháu ngoại. Thư không có địa chỉ người gửi. Theo dấu bưu điện, cô biết ông ở thành phố, cách chỗ cô cả ba ngàn cây số. Cô xin nghỉ phép, bay đến đó, hỏi thăm người quen của ba cô ở gần thành phố đấy. Cũng không ai biết. Tuyệt vọng, cô đi bay về, thì ba cô đến tìm cô ở khách sạn. Hai cha con ra quán cà phê. Cô mời ông về nhà để cô chăm sóc, các cháu nhớ ông ngoại. Ông từ chối. Ông nói, ông đang trông cửa hàng cho một người bạn, hồi còn đi học. Bà ta đã góa chồng, hiện ở với đứa con gái trạc tuổi cô. Cả hai rất quý ông, và ông cảm thấy thoải mái khi ở đó. Trông cha cô khỏe ra, vui hơn, cô thấy yên tâm. Dặn ông nhớ viết thư thường để cô đỡ sốt ruột. Nhưng rồi cô cũng chẳng biết địa chỉ nơi cha cô ở. Ông không nói.

Bốn năm sau, ông quay về thăm nhà. Mẹ cô cạnh khóe, ông lại trở nên ít nói. Ba hôm sau, ông bị đột quỵ, rồi mất ở bệnh viện vài ngày sau đó. Ở nghĩa trang, mẹ cô cũng than khóc như bất cứ bà vợ mất chồng nào khác. Bỗng nhiên, cô thấy xa xa, hai người phụ nữ mặc đồ đen, một già, một trung niên, lặng lẽ đứng dưới gốc cây.. Linh cảm cho cô biết họ là ai. Cô muốn bước đến nói lời cám ơn họ đã chăm sóc cha cô những năm tháng cuối đời. Một trong hai người đang dùng khăn chậm nước mắt. Cô chợt hiểu, họ đã làm thay cô hơn cả những gì gọi là chăm sóc, điều mà lẽ ra cô nên làm. Nhưng họ đã quay lưng đi về phía cổng nghĩa trang. Cô cảm thấy có điều gì đó ân hận và nuối tiếc… Chuyện chấm dứt ở đây.

Cô thương cha, cô muốn phụng dưỡng, chăm lo ăn uống, săn sóc sức khỏe cho cha. Cô cũng hiểu cha cô buồn bực, khổ tâm vì những lời nói ngang ngược của mẹ. Là con, cô cảm thấy mình khó xử, biết làm gì bây giờ? Cô muốn cha vui. Nhưng có thể cô chưa hiểu, người già như cha cô, khi xong nghĩa vụ với con cái, lo cho chúng yên bề, họ thường có xu hướng quay về với quá khứ, với những ước mơ thời trẻ, không phải để thực hiện hay nuối tiếc, mà để sống với nó, đắm chìm với nó như một níu kéo mà phần lớn cuộc đời, vì cơm áo gạo tiền, vì trách nhiệm với gia đình họ không dám phiêu lưu.

Thức ăn trở nên nhạt, sức khỏe là điều miễn cưỡng. Người già thấm thía số phận hơn người trẻ. Con cái quan tâm đến cha mẹ già như một đối tượng khách quan, chữ hiếu được làm tròn bằng sự chăm sóc duy ý chí với những kiến thức khoa học hiện đại. Đó có phải là những thứ người già cần?

Như con hổ già trong gánh xiếc bỗng nhiên nhớ rừng, người già thường cô đơn, dễ tủi. Họ cần sự cảm thông và chia sẻ, mỏng manh trước những bất cần. Tiện nghi vật chất hờ hững. Thế giới tâm linh trở nên gần gũi hơn.. Khi cha mất, cô chợt hiểu ra nhu cầu tinh thần của ông. Cô biết ơn người đàn bà đã chăm sóc, đã mang lại chút niềm vui cho cha cô lúc cuối đời. Người đàn bà lặng lẽ ở nghĩa trang đã làm cô hiểu ra điều đó. Cô hiểu, nhưng chưa thấu được những giọt nước mắt “không chính danh” của người phụ nữ kia đã phải nuốt ngược vào tim. Tử Kỳ mất rồi, cây đàn Bá Nha còn để làm gì? Cô chưa với tay được tới tri âm.

Chưa với tay được, có lẽ vì cô chưa bao giờ ngồi… nhậu với cha cô. Không khí bàn nhậu thường làm tâm hồn người ta chùng lại, đôi khi nói với khoảng không, nói mà như không nói, … Trong những khoảng khắc đó, cô có thể bắt gặp được cha cô. Chữ “nhậu” ở đây mà hiểu theo nghĩa cụng ly chan chát, thì buồn chết.

Tôi không có duyên để gặp cha con ông họa sĩ lần thứ hai. Chẳng biết bây giờ họ ra sao. Nếu gặp lại, có thể tôi vẫn nhận ra ông. Ông không thể già hơn được nữa. Còn cô gái, bây giờ cũng xấp xỉ 50, nếp nhăn trên khóe mắt, và còn biết bao biến đổi khác. Chỉ một lần gặp, rồi ba mươi năm trôi qua, làm sao có thể nhớ được khuôn mặt. Nhưng nếu gặp nhau ở quán rượu, chỉ cần bắt gặp ánh mắt của cô nhìn cha, có thể tôi sẽ nhận ra. Đó là ánh mắt xót xa thương cảm vô bờ, rõ ràng là ánh mắt của người mẹ, không phải của đứa con. Chắc chắn tôi sẽ nhận ra.

Read Full Post »

LỘC XUYÊN ĐẶNG QUÝ ĐỊCH

Từ năm 1965, Quách Tấn biên soạn tập Nước non Bình Định1, có viết Tổ mộ họ Trần ở Hoài Ân: “Mộ nằm trong ấp Vạn Hội thuộc xã Ân Tín. Trên một nấm gò cao trước mộ, dựng một tấm bia xây bằng đá, mặt khắc chìm bốn đại tự TRẦN GIA TỔ CƠ. Đó là ngôi tổ mộ của Trần Quang Diệu, theo lời con cháu họ Trần ở Hoài Ân… Truyền rằng người nằm dưới mộ là một vị Thượng thư quán Hoài Ân… Mộ phát đến ba đời quan lớn, Trần Quang Diệu là đời cuối cùng.

 
Bia Tổ mộ họ Trần ở Ân Tín, Hoài Ân.

 

Nhà Tây Sơn bị diệt, nhà Nguyễn lên ngôi Cửu Ngũ. Nhà họ Trần sợ, đốt hết giấy tờ thời trước. Tập Gia phả phái họ Trần ở Bình Định cũng thành mây khói. Tuy vậy, con cháu họ Trần không bị nhà Nguyễn làm tội, suốt mấy triều vua từ Gia Long đến Khải Định, mỗi năm nhà họ Trần cứ mùa Thu thì tảo mộ và mùa Xuân thì cúng kỵ. Mỗi lần cúng, hạ một trâu, hai bò và bốn heo…

Năm 1987, Tiến sĩ Vũ Minh Giang đã đến tận xã Ân Tín, huyện Hoài Ân để xác minh: “Quả thực, địa phương này còn có một họ Trần khá lớn. Dòng họ có từ đường riêng, có gia phả và còn mộ tổ, trên bia có khắc bốn chữ TRẦN GIA TỔ CƠ. Tuy nhiên, dòng họ Trần ở đây không hề biết tới Trần Quang Diệu và trong các tài liệu của gia đình không hề chép đến một người nào đó tên như vậy. Qua điều tra đối chứng và xác minh tại chỗ có thể loại trừ khả năng quê Trần Quang Diệu ở ấp Vạn Hội thuộc xã Ân Tín…

Và năm 1978, Giáo sư Phạm Văn Diêu ở TP. Hồ Chí Minh có cho chúng tôi biết con cháu Trần Quang Diệu và người tộc trưởng còn giữ gia phả (có ghi chép về Trần Quang Diệu) hiện sinh sống ở thôn Tú Sơn, xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, tỉnh Nghĩa Bình, chúng tôi đến tận địa phương này trong đợt khảo sát tháng tư năm 1987…

Qua điều tra nghiên cứu ở Tú Sơn (xã Đức Lân, huyện Mộ Đức) có thể thấy rằng Trần Quang Diệu quê ở thôn Kim Giao, xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Nghĩa Bình. Dòng họ này đến đời thứ 4 (ông Trần Văn Chẩn) mới dời đến Tú Sơn khai khẩn đất ruộng, sinh cơ lập nghiệp (về mặt địa dư, tuy Đức Lân và Phổ Thuận nay thuộc hai huyện khác nhau nhưng cách nhau không  xa). Họ Trần ở Kim Giao và Tú Sơn thường xuyên qua lại với nhau và cùng thờ Trần Quang Diệu 2.

Mùa xuân năm Tân Mão (2011), ông Trần Văn Qui ở thôn Vạn Hội 2, xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, tự nhận là hậu duệ Tây Sơn Danh tướng Trần Quang Diệu, mang tập TRẦN TỘC GIA PHẢ bằng chữ Hán đến nhờ tôi phiên dịch. Tập Gia phả này có thể không xưa bằng các tập Gia phả họ Trần ở Quảng Ngãi như ông Vũ Minh Giang đã viết nhưng được viết từ năm 1891, cách nay (2011) 120 năm. Tôi xin sơ bộ giới thiệu tập Gia phả như sau:

 

Tập Gia phả có 28 tờ, gấp đôi thành 56 trang.

Tờ 1: Phiên âm:

TRẦN TỘC GIA PHẢ

Đệ nhất phái phụng thủ

Dịch nghĩa:

GIA PHẢ HỌ TRẦN

Phái thứ nhất kính giữ

Tờ 2a: Phiên âm:

Hoàng triều Thành Thái tứ niên

Trọng Xuân kỷ phả

Dịch nghĩa:

Triều nhà Nguyễn Gia Miêu,

niên hiệu Thành Thái thứ 4 (1892),

tháng 2, chép Gia phả.

Tờ 2+3: Phiên âm:

Tộc phả nguyên tự

Dịch nghĩa:

Bài Tựa nói nguyên do viết phả họ.

Cuối bài Tựa cho biết họ tên, tự, hiệu người trùng tu cựu phả và tục biên tân phả, phiên âm: Hậu sanh, Hoài Ân châu tri châu, Lương Khê, Huệ, Địch Cát Phủ, đốn thủ cẩn chí, bài thư vu lị xá.

Dịch nghĩa: Kẻ sinh sau là (Trần Văn) Huệ, tự Lương Khê, Địch Cát Phủ, chức Tri châu châu Hoài Ân, cúi đầu lạy, kính cẩn viết tại nhà riêng ở nơi làm việc.

Tờ 4: Phàm lệ (có 5 điều)

Từ tờ 5 đến hết tờ 28: Phả họ

Phả họ chép từ ông Cao tổ Trần Văn Tuấn, chức Thượng thư Bộ binh, tước Hằng Đức hầu.

Trong bài Tựa (tờ 2+3), ông Trần Văn Huệ đã viết, tôi dịch như sau:

Họ Trần ta vốn dĩ là người ở huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Kể từ lúc chúa Tiên Nguyễn Hoàng được vua Lê cho giữ từ đèo Ngang trở vào Nam (từ năm 1558) thì ông Thủy tổ họ Trần ta, tước Vân Long hầu, đã theo phò Tiên chúa Nguyễn Hoàng mở mang bờ cõi. Ông Vân Long hầu họp dân khai phá từ ải Hải Vân đến các nơi đồi cao, chân núi, lập tình làng xóm, tức xã Vân Khuất, nay thuộc tỉnh Quảng Nam. Xã ta (Vân Khuất) thờ ông Vân Long hầu làm Tiền hiền, làm Thành hoàng, làm ông tổ đầu tiên khai lập đất này.

Ông tổ đời thứ ba kế thừa tổ nghiệp.

Cho đến đời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738 -1765) thì ông Cao tổ Trần Văn Tuấn, tước Hằng Đức hầu, theo mẹ vào Nam, đến nơi đất tốt là huyện Bồng Sơn thuộc phủ Hoài Nhơn (huyện Bồng Sơn thời ấy nay là ba huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân, An Lão; phủ Hoài Nhơn thời ấy, nay là vùng đất thuộc tỉnh Bình Định, L.X. chú). Từ ấy đến nay, trong họ Trần ta đời nào cũng xuất hiện những người làm quan nổi tiếng danh thần, làm tướng nổi danh lương tướng, làm nên thành tích vĩ đại, công cán to lớn, tên chép trong sử xanh, người trong châu khen ngợi “ông ở ngụ” và xưng tụng họ Trần ta là “cự tộc” (họ lớn).

Về ông Trần Văn Tuấn, gia phả chép ở trang 5b, tôi dịch như sau:

Ông Cao tổ họ Trần, tên kiêng cữ là Tuấn, chức Thượng thư Bộ Binh, tước Hằng Đức hầu.

Sanh năm Tí. Mất năm Mùi, tháng chạp ngày 7.

Phu nhân: Cao Thị Mè.

Ông tuổi thơ cha chết, theo mẹ vào Nam. Thời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), làm quan đến chức Hàn Lâm tri chế cáo, mông ơn chúa biết tài thăng đến chức Đại Tư mã (tức Thượng thư Bộ Binh dưới thời nhà Nguyễn Gia Miêu). Đến đời Định vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1775), năm Giáp Ngọ (1774), tháng 10, chúa Trịnh Sâm sai Hoàng Ngũ Phúc đem quân thủy bộ hơn ba vạn vượt sông Gianh vào đánh xứ Đàng Trong. Ông vâng mệnh đem quân chống cự nhưng quân Trịnh quá mạnh, Thuận Hóa thế cô nên bị bại. Ông vâng mệnh đến bản doanh Hoàng Ngũ Phúc cầu hòa nhưng không xong bèn mật tấu lên Định vương rồi hộ vệ chúa lánh vào Quảng Nam. Chính dinh Phú Xuân bị quân Trịnh chiếm. Sau đó, ông hộ vệ chúa theo đường thủy vào Gia Định…

Sinh hạ:

Trưởng nam: Trần Văn Trạc

Trai thứ hai: Trần Văn Bạt

Trai thứ tư: Trần Văn Đức (mất sớm)

Trai thứ năm: Trần Văn Điện

Nữ: Thị Nhân, Thị Hảo.

Ngụ quán của ông Trần Văn Tuấn là ấp Vạn Hội huyện Bồng Sơn, nay là thôn Vạn Hội I và thôn Vạn Hội II, xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Mộ ông tại thôn Vạn Hội I. Trước mộ có bia đá khắc bốn đại tự TRẦN GIA TỔ CƠ. Có Từ đường tại thôn Vạn Hội I do tộc trưởng Trần Sử giám phụng. Con cháu họ Trần rất đông, đều ở trong xã Ân Tín.

Tờ 6 chép về Trưởng nam của ông Trần Văn Tuấn là ông Trần Văn Trạc. Ông Trạc phò chúa Nguyễn vương Phúc Ánh lập nhiều công lớn, từng làm chức Tham tri Bộ Hình, rồi làm Trấn thủ dinh Quảng Nam. Đại định rồi, Nguyễn vương lên ngôi vua Gia Long. Năm 1802, triều đình lập 6 Bộ, ông là người đầu tiên làm Thượng thư Bộ Lại, Bộ quan trọng nhất triều đình. Ông mất năm Gia Long thứ 8 (1809), được tặng chức Tham Chánh. Cho đưa quan cữu về mai táng ở Vạn Hội, cấp tự điền và mộ phu.

Tờ 7a chép về trai thứ hai của ông Trần Văn Tuấn là Trần Văn Bạt. Ông Bạt phò Hoàng Tôn Dương vào Gia Định. Sau đánh nhau với quân Tây Sơn, Hoàng Tôn Dương bị bắt rồi bị giết, ông chết tại trận được tặng Thị Độc học sĩ.

Tờ 7b chép về trai thứ ba của ông Trần Văn Tuấn là Trần Văn Hiên. Ông Hiên phò Nguyễn vương Phúc Ánh, làm chức Tham mưu. Ông nhận mật lệnh của Chúa về vùng Tây Sơn chiếm đóng mà tổ chức nghĩa quân rồi đem nghĩa quân đến nơi Chúa Nguyễn đóng quân mà giúp Chúa. Cơ mưu bị tiết lộ, ông bị quân Tây Sơn giết, sau Gia Long truy lục công thần, con cháu ông được miễn thuế thân.

Tờ 8a chép về trai út của ông Trần Văn Tuấn là Trần Văn Điện, phiên âm: Binh bộ công chi quý tử: Đệ tứ phái, Hiển tằng tổ xử sĩ Trần húy Điện. Sanh niên …, Tốt niên … nhị nguyệt thập nhật. Vi nhân thất tường. Thê …

Nam: Văn Kê, Nam tử nhất nhân.

Dịch nghĩa: Con trai út của ông Thượng thư Bộ binh Trần Văn Tuấn là ông cố họ Trần, tên kiêng cữ là Điện, là nhà Nho lánh đời, không làm quan.

Sanh năm…, Mất năm …, tháng 2 ngày 10. Vợ …

Ông là người như thế nào, mất cả dấu vết nên không rõ.

Sinh hạ một trai là Trần Văn Kê.

Người họ Trần ở Vạn Hội xưa nay mật truyền rằng, Trần Văn Điện chính là Trần Quang Diệu, danh tướng nhà Tây Sơn, chức Thiếu phó triều Cảnh Thịnh.

Nửa sau trang a tờ 12, viết về con ông Trần Văn Điện là Trần Văn Kê, phiên âm: Đệ tứ phái, Hiển tổ khảo Nông nghiệp Trần, húy Kê. Sanh niên…, Tốt niên…, tư nguyệt thập nhật. Thê: Thị Cư. Vi nhân vị tường.

Trưởng nam: Văn Thịnh (vô tử)

Thứ nam: Văn Dược

Nữ: Thị Hạnh

Dịch nghĩa: Phái thứ tư, ông Nội làm nông họ Trần, tên kiêng cữ là Kê. Sanh năm:…, Mất năm… tháng 4 ngày 10. Vợ: Thị Cư. Ông là người thế nào, chưa rõ. Sanh hạ:

Trai trưởng: Văn Thịnh (không con)

Trai thứ: Văn Dược

Con gái: Thị Hạnh

Ông Trần Văn Qui bảo tôi rằng: “Các bậc trưởng lão trong họ đều nói Gia phả không ghi tên Trần Quang Diệu mà ghi Trần Văn Điện là cần che dấu người con là Trần Văn Kê. Nếu nói rõ ra thì Trần Văn Kê không khỏi bị giết để không còn người trả thù”. Ông Qui nói tiếp: “Vua Gia Long từng tuyên bố “Vì mười đời mà báo thù” nên đã chém ông Thiếu phó Trần Quang Diệu, cho voi chà bà Đại Đô đốc Bùi Thị Xuân, người con gái mới 15 tuổi cũng chịu cực hình như mẹ. Nếu họ bắt được người con trai là Trần Văn Kê thì họ cũng giết luôn chứ không tha. May mắn là ông Kê không bị bắt nên dòng dõi danh tướng Trần Quang Diệu mới còn người sống sót và con cháu hiện còn ở Vạn Hội.”

Những điều trên, ông Trần Sử đã kể cho ông Quách Tấn từ những năm 50 của thế kỷ trước nên ông Tấn mới đưa vào sách Nước non Bình Định xuất bản năm 1965. Năm 1987, ông Vũ Minh Giang có về Vạn Hội, có hỏi ai hay không thì tôi không biết, nhưng ông chép: “Dòng họ Trần ở đây không hề biết tới Trần Quang Diệu” là không chính xác.

Tôi cũng nhận thấy rằng, ông Vũ Minh Giang đã đọc bài “Mộ Tổ họ Trần” trong sách Nước non Bình Định của Quách Tấn, đã biết họ Trần ở Vạn Hội có Gia phả mà không tìm đọc lại kết luận rằng: “…loại trừ khả năng quê Trần Quang Diệu ở ấp Vạn Hội thuộc xã Ân Tín”. Hơn nữa ông mới đọc bản Gia phả bằng quốc ngữ do ông Trần Thắng mới soạn, chưa đọc những Gia phả xưa bằng Hán tự mà kết luận: Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu quê ở thôn Kim Giao, xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Nghĩa Bình (huyện Đức Phổ nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi) là vội vàng. Gia dĩ ông cho biết trong quyển Gia phả của ông Thắng có chép hậu duệ của Trần Quang Diệu là Trần Mạnh, Trần Nhì không hề dấu diếm mình là con cháu Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu mà không bị nhà Nguyễn Gia miêu làm hại là điều lạ! Phải chăng Trần Quang Diệu ở Kim Giao và ở Tú Sơn đều thuộc tỉnh Quảng Ngãi chỉ là người trùng tên với Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu?

Tôi không dám vội vàng kết luận quê hương Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu ở đâu, nay sơ bộ giới thiệu mấy trang trong Trần tộc Gia phả của Trần Văn Huệ để giới học giả rộng đường nghiên cứu.

LỘC XUYÊN ĐẶNG QUÝ ĐỊCH

Theo tạp chí Văn hóa Bình Định

 

Ghi chú:

1. Quách Tấn – Nước non Bình Định, NXB Thanh Niên in lần 2, TP.HCM – 1999, Tr. 344-345.

2. Những gia phả xưa của dòng họ có thể được anh Trần Văn Nghị ở quận Phú Nhuận (TP. Hồ Chí Minh), ông Trần Ba ở Đà Lạt và Trần Nguyên Hoàng ở Đà Lạt lưu giữ. (Lược trích bài TRẦN QUANG DIỆU của TS. Vũ Minh Giang, in trong TRÊN ĐẤT NGHĨA BÌNH tập I, Sở Văn hóa – Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, Quy Nhơn – 1988, từ tr. 194 đến tr. 199)

Read Full Post »

Trăng khuyết

Lê Văn Ngăn

Quê hương đã cho anh một vầng trăng khuyết
treo trên nền trời một đêm thời ấu thơ
Đêm ấy, dầu đã cạn trong đáy đèn, căn nhà chìm vào bóng tối
Đêm ấy, với chút ánh sáng của vầng trăng ban đầu
anh đã nhìn thấy lại khuôn mặt những người sinh đẻ ra mình

.

Quê hương đã cho anh một vầng trăng khuyết
Từ đấy cho đến bây giờ , dù lưu lạc nơi đâu
trăng vẫn ở cùng anh như người bạn đường chung thủy

.

Trăng vẫn ở cùng anh khi người tình đã rời bỏ anh trong cảnh nghèo nàn
khi bạn bè thân mỗi người mỗi ngã
Trong chốn lao tù của quân xâm lược năm nào, anh nhìn ra
vẫn thấy trăng ẩn mình bên những vòng thép gai vấy máu
Qùa tặng cùa quê hương
chẳng bao giờ mất
chẳng bao giờ hoen ố

.

Mai sau, khi anh rời lòng mẹ để nằm vào lòng đất lòng mẹ thứ hai
anh biết vầng trăng xưa vẫn lặng lẽ trên đầu .

Read Full Post »

Nhật Chiêu

Nguyên sơ

Sau ái ân,nàng nằm nhắm nghiền mắt.thả mình trong một dư cảm nguyên sơ,thì bỗng nhiên từ cửa sổ vọng lên tiếng rên dữ dội,anh ơi em chết mất,một tiếng rên tội lỗi hoàn hảo phát xuất từ một con vẹt xanh đang đu đưa trong lồng.

Bầu trời

Sau khi bay xa mặt đất,Diều tự bứt giây để lên cao hơn nữa,thế nhưng bầu trời lại đảo lộn bất ngờ

Ma mỹ nữ

Khi Don Quixote chết,cô gái xấu xí từng trú trong mộng của chàng như một giai nhân tuyệt thế quyết định chết theo chàng để có thể biến thành ma mỹ nữ

Mây

Từ cửa sổ trong bóng đêm,đôi khi tôi thấy nàng bay qua tựa như một áng mây nhỏ, đôi khi tôi thấy áng mây bay qua tựa như nàng và tôi bám theo hư ảnh đó như một đứa bé bò theo một quả bóng đang từ từ lên không.

Chí Tôn

Gặp cóc,Trời xin từ nhiệm vì không muốn làm Trời nữa.Cóc khuyên giải ” Cháu bắt chước con người làm gì,như ta đây là Cậu của Trời phải cai quản mưa,nếu ta từ nhiệm thì cả thiên hạ đành chết khát, Cóc và Trời là không thể thay thế,vậy mới là Chí Tôn ! “

Read Full Post »

Truyện ngắn Nguyễn Hữu Duyên

Khi tôi dừng xe, anh chủ nhà ra ngõ chào tôi và nhìn tôi có vẻ thảng thốt trong một thoáng chốc rồi quay lưng đi về phía đường luồn sát hông nhà, bảo tôi đi theo ra chuồng heo. Như đã thống nhất thời gian, giá cả giữa vợ anh và vợ tôi lúc sáng, tôi xách rọ bước vào chuồng. Một tay tôi đưa rọ vào chận trước đầu, một tay cầm đuôi đẩy nhẹ thì con heo đã vào rọ gọn gàng. Anh chủ nhà phụ tôi khiêng con heo ra trước sân, nơi có cái cân treo và một khúc tre dài, thẳng để sẵn. Khi cân, dù cái đòn cân còn đang chổng lên, anh không kéo trái cân ra nữa, mà anh lại nói với vợ anh đang đứng một bên: 55 ký. Thực sự là tôi bị bất ngờ, bởi cái móc trái cân nằm ở vạch 58 ký. Đây là lần đầu tiên tôi gặp phải trong nghề bắt heo. Tôi không tin vào tai của mình. Tôi nhìn vào mặt anh như để tìm câu trả lời. Như để tránh ánh mắt thắc mắc của tôi, bởi anh tin chắc như vậy, anh thản nhiên bước vào nhà, còn chuyện tiền nong thì vợ tôi tính với vợ anh.

Tối về, tôi mới nhớ ra anh là học viên lớp 7 bổ túc văn hóa ban đêm ở trung tâm thị xã, còn tôi là giáo viên môn ngữ văn của lớp ấy gần 15 năm về trước. Có lần, trong một tiết học ngữ pháp, tôi gọi anh lên bảng, bảo anh viết một câu có thành phần trạng ngữ chỉ nguyên nhân. Anh lên bảng, sau một thoáng suy nghĩ, anh nhìn tôi rồi quay sang, viết: “Vì muốn có thêm tiền, nên thầy đi dạy thêm bổ túc văn hóa ban đêm”. Và, anh lên mô hình câu chính xác từ thành phần trạng ngữ đến cụm chủ – vị. Tôi thật sự bất ngờ vì câu ví dụ này của anh. Lúc đó tôi lúng túng và chỉ biết mời anh về chỗ với nụ cười gượng gạo. Anh đã xúc phạm tôi. Tôi không còn nhớ là mình dạy cái lớp bổ túc văn hóa ban đêm này được bao lâu, nhưng qua bữa đó, tôi báo cáo với người phụ trách là tôi không thể tiếp tục được nữa với lý do vì nhà tôi cách chỗ dạy gần 10 cây số mà đường đi lại về đêm trong thời điểm đang mùa mưa nên khá là vất vả. Tôi không muốn phân bua cùng anh học viên đó về nội dung của câu ví dụ từ cách nhìn của anh. Bởi làm sao anh hiểu tôi thích cái nghề dạy học như thế nào? Anh đã chạm vào nỗi đau của tôi. Hồi còn học vỡ lòng, tôi học giỏi nhất lớp, nên thầy giáo tin tưởng giao cho tôi sửa, chấm bài cho cả lớp, khi thầy mắc tiếp khách hay bận một công việc nào đấy. Mới chỉ năm, sáu tuổi mà đã làm công việc của một ông thầy, thật thích. Lũ bạn cùng lớp biết thế nên thường hay đem trái cây của vườn nhà “hối lộ” tôi. Đứa nào không có thì tôi ngang ngay sổ thẳng. Đứa nào đưa cái khế thì tôi sửa lại một phần chỗ sai và cho 7 điểm, còn ổi thì 8 điiểm, mà xoài tượng thật ngon thì 9 điểm, 10 điểm…Đặc biệt là không đứa nào dám hó hé với thầy, bởi sợ tôi thù vặt thì ngồi mãi cái lớp vỡ lòng. Cái cảm giác vui sướng được làm thầy của tôi bắt đầu từ đó. Nghe những người lớn tuổi trong làng thường nói với nhau, “mồng một tết cha, mồng ba tết thầy”, tôi lại càng khoái trong bụng, cứ nghĩ mai này mình sẽ làm thầy thì oai biết chừng nào. Lên lớp ba, tuy vẫn học ở trường làng, nhưng tôi may mắn gặp một người thầy có kiến thức rất rộng, dù chỉ là một giáo viên tiểu học. Hình ảnh của thầy thật đạo mạo và sang trọng, chân đi giày xăng – đan, áo sơ mi trắng bỏ trong quần tây được ủi thẳng tắp, túi áo có hai cây bút, một cây nguyên tử màu đỏ dùng để sửa bài, chấm điểm, một cây pilot màu xanh dùng để soạn bài, ra bài tập. Và, tôi mê cái nghề dạy học bắt đầu từ đó. Nhưng người ta thường nói, mơ ước là một chuyện, thực tế lại là một chuyện khác. Sau ngày giải phóng, tôi được điều về công tác tại phòng thống kê của thị xã, ngày 8 tiếng bù đầu với những báo cáo, con số, dự báo, và ước mơ làm thầy càng ngày càng lùi xa. Năm này tháng nọ trôi qua. Đến những năm đầu của thập niên 80, do biết tôi thích nghề dạy học, anh bạn rủ tôi đăng ký dạy bổ túc ban đêm, vừa thỏa mãn sự ham thích, vừa có tiền phụ thêm vào cuộc sống sinh hoạt của gia đình…
Đúng là trái đất tròn! Ngày ấy tôi gặp anh trên cương vị thầy trò, tôi kiểm tra bài, cho anh điểm 9; ngày nay, sau gần 15 năm, anh là người bán heo, anh tặng tôi, người mua heo 3 ký heo hơi. Nếu không có cái ngày tôi rời khỏi cơ quan nhà nước vì nằm trong danh sách giảm biên thì có lẽ tôi và anh không gặp nhau trong cảnh kẻ bán người mua chẳng dễ chịu tí nào này. Dù sao tôi cũng cảm ơn anh vì đã nghĩ một chút nghĩa ngày xưa tôi từng  đứng trên bục giảng truyền đạt những kiến thức cơ bản góp một phần nhỏ để anh có thể viết được một câu tròn trịa, ít lỗi chính tả trong báo cáo công tác của cơ quan gửi lên cấp trên. Ngày ấy hay bây giờ cũng thế, tôi không hề trách anh, bởi thực tế có rất nhiều thầy cô giáo phải làm thêm nhiều việc để sống vì đồng lương quá ít ỏi, không thể kham nổi, đến nỗi họ phải bán thuốc lá cho học sinh khi đến nhà mình học thêm, và bí quá, họ nhảy tàu Bắc – Nam để mua bán hàng lậu, khi được nhiều, khi trắng tay. Anh bạn tôi dạy phải môn sử địa, không buôn lậu, không bán thuốc lá cho học sinh, cũng chẳng ai đến học thêm để mà dạy kèm, nên chuyển sang bốc vác đường bột ở chợ để chia sẻ với vợ con, lo toan cuộc sống gia đình trong thời buổi khó khăn. Riêng tôi thì nghề dạy học là nghề tôi yêu thích nhất từ hồi còn bé nên tôi đến với cái lớp bổ túc văn hóa ban đêm ấy như là một sự hiếu kỳ pha lẫn một chút thích thú muốn khám phá cái công việc mà từ nhỏ tôi yêu thích, chứ  không phải vì muốn kiếm thêm tiền, bởi tôi đang là cộng tác viên thường xuyên, có uy tín với đài tỉnh, nhuận bút hàng tháng tôi nhận còn khá hơn nhiều. Nếu ngày ấy anh hiểu được tôi, chắc anh không đưa ra câu ví dụ làm tổn thương tôi, và vô tình anh đã đẩy tôi ra khỏi cái lớp bổ túc văn hóa ban đêm ấy…
Sáng hôm sau, sau khi chở thịt ra chợ, tôi xuống nhà anh vừa là thăm vừa là để cùng nhau chia sẻ, giải bày chuyện của hôm qua và chuyện của gần 15 năm về trước. Vừa thấy tôi, anh ra mở cửa:
   
–         Như vậy là thầy nhớ tôi rồi, phải không? – Anh vừa cười vừa bắt tay tôi, dắt vào nhà.
–         Chuyện đã qua lâu rồi. Bây giờ hai đứa gọi anh qua anh lại là được.– Tôi nhìn anh nói một cách chân tình.
Anh lại tủ lạnh lấy một chùm nem Chợ Huyện và vào phòng trong lấy một chai rượu đặt lên bàn sau khi đã lau sạch bụi bám một cách kỹ càng.
 – Rượu Bàu Đá, lão tửu đó! Thầy…ờ mà… anh là khách đặc biệt nên hôm nay tôi mới đem ra, tôi chôn dưới đất cũng cả năm rồi.
Tôi chỉ nhìn anh cười, chưa kịp nói gì thì anh đã  tiếp:
–         Tôi nhớ một hôm anh giảng về Nguyễn Khuyến, anh say sưa phân tích hai câu: Rượu ngon không có bạn hiền / Không mua không phải không tiền không mua.- Anh vừa nói vừa rót rượu vào hai ly nhỏ, sóng sánh, trong vắt, vun hạt cườm, thơm lựng.
–         Bữa nay anh phải uống say với tôi một bữa nhé! Không mấy thuở đâu!
–          Chắc cũng trên năm mươi độ, phải không anh?
–         Chắc vậy. Uống ly rượu này tôi xin tạ tội cùng anh vì ngày ấy tôi đã làm anh bị tổn thương.
–         Thôi bỏ đi, chuyện đã qua lâu rồi. Hơn nữa do anh bức xúc thực trạng giáo dục lúc đó mà!
Rồi tôi kể cho anh nghe, hồi tôi còn bé, ông ngoại tôi cứ nửa tháng hay 20 ngày là lên thăm nhà tôi. Ông rất thương tôi, có lẽ do tôi là cháu ngoại trai duy nhất, bởi các dì của tôi lúc đó đều sinh con gái. Ông hay giúp tôi làm thủ công như: cày, bừa, cuốc, đũa, rổ…Tối tôi ngủ với ông và ông hay đọc cho tôi nghe các câu ca dao, tục ngữ, rồi giải thích cặn kẽ cho tới khi nào tôi hiểu, hoặc là buồn ngủ thì ông mới thôi. Có lần ông hỏi tôi, sau này lớn lên cháu thích làm nghề gì, tôi nói ngay là tôi rất muốn làm thầy giáo. Nghe tôi nói vậy, ông rất vui và bảo rằng, đó là những kỹ sư tâm hồn, mà để thực hiện được chức năng đó, không phải ai cũng làm được. Phải học thật giỏi và phải đọc sách thật nhiều, tất nhiên là phải có năng khiếu và đam mê nữa. Nghe lời ông, tôi cố gắng học và giảm đi một ít thời gian đánh trổng, thả diều cùng lũ bạn để có thời gian đọc sách nhiều hơn. Cũng may là thời ấy trong xóm có một nhà gần như có đầy đủ các loại sách truyện Tàu, thấy tôi mê đọc sách, nên cho mượn, chỉ có điều là phải giữ cẩn thận. Biết tôi vậy nên mỗi lần có công việc đi Quy Nhơn hay đi Sài Gòn, ba tôi đều mua cho tôi rất nhiều sách. Sau này lớn lên, tôi tiếp tục xây dựng một tủ sách khá đầy đủ, nhất là hai lĩnh vực văn học và lịch sử. Đặc biệt là tôi chuẩn bị khá đầy đủ về những bài hát thiếu nhi và phương pháp, nội dung sinh hoạt tập thể. Ngoài ra, tôi còn tập thắt châu chấu bằng lá dừa, làm lồng đèn ông sao để sau này hướng dẫn học trò tham gia sinh hoạt cộng đồng…Nhưng oái ăm thay, nghề thống kê lại chọn tôi. Bây giờ tôi không lý giải được vì sao nên cứ nói là do số phận. Vì vậy, cái lớp bổ túc văn hóa ban đêm ấy là niềm an ủi còn lại của tôi. Khi nghe tôi kể đến đây, dường như không thể nào chịu đựng được nữa, anh chồm người  ôm lấy tôi, nói trong nước mắt:
–         Thầy ơi, sao tôi lại dốt thế? Đúng là tôi ngu như heo, thầy ơi! Tội tôi lớn quá, thầy ơi!
–         Anh say rồi! – Tôi vừa nói vừa dìu anh lại cái phản gõ kề bên để anh nằm nghỉ. Khi đâu vào đấy, anh kéo tôi ngồi một bên:
–         Sao anh lại chọn cái nghề bắt heo? Tôi nói điều này có thể là anh không vui, nhưng nhờ có “thuốc gan”, nên nghĩ sao tôi nói vậy. Cái anh “Bảy Đáp” là cái anh vai u thịt bắp, còn anh thì khác, thế sao anh lại chọn cái nghề này để mưu sinh. – Tôi cười và nói:
–         Nghề nó chọn mình mà anh. Hồi nãy thì anh say, bây giờ thì anh sai rồi! Nghề nào cũng có cái khó riêng của nó. Không có học thì không làm tốt được. Theo tôi được biết thì xưa nay chỉ có một người không biết chữ mà làm nên nghiệp lớn, đó là Trần Thủ Độ. Ông đã dựng nên Vương nghiệp nhà Trần – 3 lần chống quân Nguyên với những chiến công hiển hách trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.
–         Đ ã  n h ậ u…mà anh nói…giống như giảng bài vậy. – Anh lè nhè, mắt thì nhắm riết
Rồi tôi nói thì nói mà anh thì ngáy khò khò tự lúc nào, nhanh thật. Tôi bước xuống khỏi phản gõ, lững thững bước ra sân trước. Tôi hiểu sự suy nghĩ của anh, và đâu phải chỉ riêng anh. Cái anh xách cái rọ đi mua heo thì có mấy ai tôn trọng. Lớn hay nhỏ gì đi nữa thì người ta cũng gọi là thằng mua heo, ăn nói không thiệt, gian xảo trong coi cân, tính ký, trả tiền…Ngày xưa tôi cũng nghĩ vậy nên khi vợ tôi đặt vấn đề làm nghề mua heo, ban đầu thì tôi phản đối, nhưng “cơm áo không đùa với khách thơ” mà, sau rồi cũng phải chấp nhận, bởi hai đứa con đang sức ăn sức lớn, tiền học phí, tiền xây dựng trường, tiền học thêm ở lớp, ở nhà thầy, cô bộ môn, vân vân và vân vân…Hơn nữa, tôi nghĩ điều quan trọng là chuyện đúng sai, gian xảo hay không đều do bản thân của mỗi người tự quyết định lấy chứ đâu phải do cái nghề, mà làm gì có nghề nào là sang, nghề nào là hèn. Thế là tôi chọn nghề mua heo, mổ  lấy thịt cho vợ tôi bán. Đúng là có vô cuộc thì mới hiểu. Cái nghề đi mua heo cũng lắm chuyện buồn vui. Người bán heo luôn cho ăn no để bán, chứ không đời nào để heo đói cả. Nếu đến chuồng để ngã giá khi heo quá đói thì dù có trả đến rách miệng người ta cũng không bán. Nhất là khi đến gần ngày tết hoặc ngày lễ, mua heo no, heo lưng lửng về mổ để bán là điều không thể tránh khỏi. Bởi mình không mua thì người khác cũng mua. Dân mua heo chuyên ngiệp thường mua bộ chứ không mua cân. Mà quần qua quần lại, họ cũng mua được, vẫn có lời. Tôi vào nghề cũng được ba, bốn năm, nhưng cái khoản ấy thì đành chịu. Có một lần, tôi cũng tập tò mua bộ một cặp heo, về cân lại mới biết bị hố, mất đến 10 ký, lỗ nặng, tối về vợ tôi chỉ biết khóc. Một anh mua heo biết chuyện nên mới kể cho tôi nghe câu chuyện thế này: Hôm đó, anh gặp một con heo rất đẹp, chủ nhà là một phụ nữ khoảng trên 60 tuổi. Bà sợ mấy thằng mua heo vặn cân bẻ móc léo lận nên chỉ bán bộ mà không bán cân. Vì cái chuồng sâu nên bà nghĩ con heo nhỏ chỉ độ 65 ký là cao nhất, nhưng dưới cặp mắt nghề nghiệp của anh thì con heo phải đến 75 ký. Lúc ấy giá thị trường một ký heo hơi là chín ngàn. Qua năm bảy lần định ký của con heo, anh gút lại, 70 ký. Anh nhân luôn: bảy lần chín là năm mươi ba, tức năm trăm ba chục ngàn đồng. Anh trả tiền và xúc heo vào rọ. Thế là kẻ bán người mua đều vui vẻ. Và, hôm sau, người phụ nữ bán heo ngày trước chận đường anh và bảo rằng:
–         Hôm qua anh nhân sai rồi. Con gái tôi bảo, chín lần bảy là sáu mươi ba, tức sáu trăm ba chục ngàn, chớ không phải năm trăm ba.
–         Con chị có học, nó khác. Còn tôi nhân chia đâu đã rành. Hơn nữa, tôi mua bộ, chị đồng ý bán, chứ có tính cân tính ký gì đâu mà nói chuyện nhân đúng nhân sai.
Khi kể xong câu chuyện, anh nhìn tôi và nói như đinh đóng cột:
–         Tôi ở gần anh nên tôi biết, anh không thể tồn tại với cái nghề này đâu. Đã cầm cái rọ đi bắt heo thì phải mua heo chết, heo bệnh với giá rẻ như cho, mới có lời nhiều. Nhưng anh lại áy náy lương tâm vì sợ ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng. Thế anh coi, người chăn nuôi vẫn bán được hết đấy. Và, ngoài chợ đến chiều tối có còn miếng thịt heo nào đâu…Ngay cả gặp con heo đẹp, anh không có thế để bắt, làm gãy một hay hai chân, thậm chí là bốn chân của nó, thì chỉ có đường lỗ vốn, chứ không có đường huề. Thôi, anh hãy kiếm chuyện khác mà làm. Tôi không hiểu sao anh lại chọn cái nghề này?
Hai người, một bán heo, một mua heo, cũng đều có một câu hỏi dành cho tôi. Cái anh bán heo vì sĩ diện cho tôi, bởi dù sao tôi cũng là người đã từng làm thầy. Còn anh bạn đồng nghiệp thì cho rằng tôi sẽ thất bại bởi tâm thế của tôi không say mê với cái nghề xách rọ đi mua heo. Riêng tôi, nghề mua heo cũng bình thường như bao nghề khác. Bởi ngay từ còn học lớp 8, tôi chịu ảnh hưởng sâu sắc sự nhận thức “làm quan không lấy làm vinh, làm lính không lấy làm nhục” của Nguyễn Công Trứ. Vấn đề là đừng làm điều gì trái với đạo lý ở đời là được. Nếu làm thầy mà cứ tìm cách trù dập, moi tiền của học trò, cứ chạy sô như ca sĩ thì có đáng được tôn trọng không?
Vợ tôi thường hay hỏi, liệu tôi có kham nổi cái nghề này. Tôi bảo, việc gì cũng phải có thời gian, rồi sẽ quen thôi. Vợ tôi cười, rằng tôi có thể quen với sự nặng nhọc, nhưng không thể quen với mặt trái có tính đặc thù của nghề này. Bởi bao năm chung sống với nhau, vợ tôi hiểu tôi sống ở đời có những nét giống như sống với những nhân vật điển hình tốt đẹp trong phim ảnh, trong tiểu thuyết vậy. Vợ tôi còn bảo, có khối người mới đó chỉ lớp 5, lớp 6, thậm chí viết một câu, giải phương trình một ẩn cũng chưa nên mà nay đã có bằng tốt nghiệp phổ thông, bằng đại học, đâu cần có thời gian…Tôi im lặng. Vợ tôi còn tiếp đòn, mấy người ra nghề sau tôi nhưng tay nghề của họ, nay có thể nói là bậc thầy trong làng mua heo. Họ cất nhà tầng, xe máy loại xịn, nội thất không thiếu gì…Còn vợ chồng mình thì sao? Vẫn ở nhà của thiên hạ, hết chỗ này đến chỗ khác, không một tấc đất cắm dùi…
 Khi nghe những lời như vậy, tôi nhìn vợ tôi, mắt tôi như căng cứng, cay rát như muối ớt xát vào…Tôi bước ra đường, đi như người say rượu. Trước mắt tôi như một khoảng không vô định. Tôi chua xót với chính mình. Tôi cũng đã đọc sách hướng dẫn về cách nhìn, cách đo chiều dài vòng bụng, chân dài ngắn… của con heo để xác định trọng lượng. Anh em mua heo còn mách nước, con heo nằm ở chuồng cao, khi nhìn cứ tưởng  là nhiều ký nhưng thực ra không như vậy, người mua bộ dễ bị đánh lừa. “Thức đêm mới biết đêm dài”, đó chỉ là lý thuyết. Phải có cái nhìn mẫn cảm sau nhiều năm tích lũy kinh nghiệm về mua bộ thì phần sai lệch sẽ rất nhỏ. Ngoài ra, việc nhìn con heo nạt hay mỡ cũng vậy, phải tìm hiểu kỹ càng nhà đó thường cho heo ăn thức ăn gì, giống heo được mua về từ đâu, nước da thế nào, cái lông ra sao, nếu không thì nhìn con heo mỡ mà cứ cho rằng nạt thì chỉ có đường chết…Nếu sai sót là lần đầu tiên thì vợ con cũng chỉ buồn mà không nói gì, nhưng lần 2 lần 3 thì chì chiết, nói những lời khó nghe, thậm chí xúc phạm nặng nề: “ Ông học lớp này lớp kia làm chi mà tính không ra cân ra ký, hơn nữa ông đâu có mù mà nhìn con heo mỡ thành nạt vậy.” Thật là đau xót khi nghĩ lại mới ngày nào đó, cái hồi mới yêu nhau còn anh anh em em, còn tặng hoa ngày sinh nhật, tặng một nụ hôn dịu ngọt, nồng nàn ngày 8/3…Thế mà bây giờ mọi cái đã thay đổi. Bi kịch. Nhưng vẫn phải sống với nhau. Một sự thật tàn nhẫn. Và tôi cứ ngẫm nghĩ mãi câu nói của Tô Đông Pha: “Bình sinh ngũ thiên quyển / Nhất tự bất cứu cơ”.
–         Nhìn anh từ nãy giờ, tôi biết anh đang hoài niệm, nhưng anh ơi, mọi cái đã qua rồi. Như sáng nay anh xuống, giờ thì đã trưa. – Một vòng tay nhẹ nhàng ôm lấy vai tôi. Thì ra, anh chủ nhà đã tỉnh rượu và đang đứng bên cạnh tôi – Anh biết không, tôi thoát ly năm 17 tuổi. Chiến tranh kết thúc, tôi là thương binh hạng 2/4. Gần 10 năm sau, tôi được phân công làm giám đốc công ty xây dựng, một công việc vượt quá khả năng của tôi cả về chuyên môn lẫn văn hóa. Tôi phải học bổ túc văn hóa từ lớp 3, cố gắng đến hết lớp 9. Tôi dừng lại ở đó vì vết thương cũ tái phát hành hạ, cứ vài ngày lại phải nằm viện để điều trị. Và, điều quan trọng là tôi không kham nổi cái việc được phân công. Trong đơn vị, cứ bàn tán nói vào nói ra, bảo tôi là dân thoát ly, lại là thương binh, có thành tích trong kháng chiến, nên mới được làm giám đốc, chứ thực ra…Dù biết họ nói không sai, nhưng tôi thấy mình bị xúc phạm. Và thế là tôi xin nghỉ, hưởng chế độ mất sức, về nhà nuôi heo, làm ruộng, như ngày xưa ba má tôi vẫn làm, sống thanh nhàn cùng bà con lối xóm.
–         Phải chi anh còn làm, chắc sẽ khá hơn nhiều!
Anh cười hiền.
 – Và, bây giờ tôi muốn hỏi anh, nếu có kiếp sau thì anh thích làm thầy giáo hay thích đi mua heo?
–         Nếu được, tôi cũng chỉ thích xin như Nguyễn Công Trứ đã từng xin:                                                                     
     Kiếp sau xin chớ làm người        
     Làm cây thông đứng giữa trời mà reo!
N.H.D

Read Full Post »

Bài thơ tặng vợ

Cao Quảng Văn

Nụ cười tươi đôi môi
Dù mùa xuân mùa hạ
Mặn nồng em thắp lửa
Cho ấm mãi tình anh

Mắt em nhìn long lanh
Bao đau buồn khát vọng
Muôn vì sao lấp lánh
Anh thêm yêu cuộc đời

Những vì sao vẫn mọc
Giữa tháng ngày chúng ta
Rực rỡ và thơ mộng
Rất gần. Dù rất xa…

Dù ngày mưa ngày nắng
Dù năm dù tháng trôi
Đường xa nào chẳng tới
Khi có em bên đời!

Nụ cười tươi đôi môi
Dù mưa đông nắng hạ
Mắt em nhìn xanh quá
Bao ước vọng chân trời

Màu chan hòa yêu mến
Suốt đời anh tìm kiếm
Ơi bến bờ không nguôi…

Read Full Post »

Lê Đức Vũ

Nhân tiện ngày giỗ má tôi,cả nhà tôi vợ chồng con cháu về quê đầy đủ,đặc biệt là dzới sự cho phép của bà Phó giám đốc,tôi sẽ nói nguyên nhân nào mà bỗng dưng nghĩ dạy rồi ra sản xuất loại bánh độc đáo này

Đầu tiên,phải nói trứơc ,do ở trong hẻo sâu nam bộ lâu ngày nên tôi nói chuyện kiểu “tưng tửng” như bác Ba Phi,chứ khôngcòn kiểu nói chuyện “chát bụp” như anh em nẫu mình thường nói. Phải nói trước như vậy để anh em mình không phàn nàn sao cha này cứ …cà rề,cà rà…

Hồi nhỏ tôi ham học đánh bi da,học đờn ca hơn học chữ nên mãi vẫn không qua được tú tài một;phứơc chủ may thầy nhà nước bỏ thi tú tài một,và tôi nghiễm nhiên đựơc lên lớp mười hai .Rồi lệnh đôn quân tôi được mang quai chảo (chuẩn uý) và đóng quân tại Bến tre. Sau nhiều lần di chuyển ,tôi được cho chốt cầu Bà em dưới cầu Chẹt sậy. Trung đội trưởng nắm mưòi lăm em giữ cầu Chẹt sậy còn tôi mang hai em qua chốt cầu Bà em, cách cầu Chẹt sậy gần hai cây số

Nghe đồn cầu này do ngừơi chủ đất ở bên kia cầu tự làm thay cho cầu khỉ, nhưng ở xứ này cầu mà xe đạp chạy qua được thì với ngừơi dân ở đây cho là hoành tráng lắm; khi mới về tôi có qua nhà ,trước là làm quen và sau là đánh tiếng xin mấy ổng đừng có đánh sập cầu. Các bạn có biết bà chủ đất nói sao không?-“tui sợ mấy ông phá thì có chứ ở đây có ai dám phá đâu”

Thế là như cá gặp nước ,tôi đóng quân cho tới ngày giải phóng,vẫn mang quai chảo luôn tù tì ba năm.

Trước ngày giải phóng, bà chủ đất có động viên tôi đừng làm gì và cũng đừng đi đâu; tôi có nói “má cứ yên tâm, gần ba năm , ba anh em chúng con ở đây đâu có thù oán gì với ai, và cũng chưa bắn phát súng nào”. Bà chỉ ừ rồi bỏ đi

Thống nhất đất nước, tôi được cải tạo tại chỗ, việc cũng lai rai, hết đào mương lại trồng dừa quanh xã Lương Quới . Ốc hết ngày này qua tháng nọ

Một hôm má tôi vào thăm và có cho mấy ràng bánh tráng nước dừa của xứ mình, phải nói là quá …đã vì xứ này có thứ này đâu

Thường gần cuối chiều anh em bao việc cho tôi; còn tôi thì đi kiếm mấy bặp dừa khô đốt lửa nấu ấm nước, nướng bánh tráng, khi nướng bao giờ tôi cũng chừa góc tư bánh nướng cho cháy, bỏ vào ấm nước thay trà

Trời xui đất khiến thế nào, hôm đang nướng bánh, ông trưởng trại đi kiểm tra ngang qua, ổng kêu

-“đứa nào nướng cái dzì mà thơm dzữ ta”,

tôi chưa kịp dọn dẹp thì ổng đã đứng sau lưng , tôi lúng túng chưa biết tính sao thì ổng nói luôn

-“dzụ này mới à nghen! thôi làm tiếp cho xong, chút nửa xong nhớ kêu tui tham gia dzới nghen”

Hú hồn…tưởng phen này tiêu đời, ai ngờ…

Khi anh em tụ tập ,ăn bánh uống nứơc “trà” tôi kể lại nguồn gốc bánh tráng dừa xứ nẫu , ổng chưng hửng vì Bến tre cũng xứ dừa mà hổng thấy món này, đặc biệt là món trà… bánh tráng dừa

Được vài hôm thì cô quản giáo cũng tham gia…” sinh hoạt cuối chiều”. Ban đầu thì chỉ ăn bánh uống trà, riết rồi bảo tôi bày cách nứơng bánh ,pha trà…bánh tráng dừa , thế là tôi phun toàn bộ…bí kiếp, và nhanh chóng gửi thư về nhà xin má tôi vài chục ràng bánh

Thế là sau đó tôi đương nhiên làm “sư phụ”, việc nướng bánh pha trà đã có “đệ tử” lo liệu

Tôi còn một bài dạy cho “đệ tử” nữa là nằm ngữa trên nước, một việc mà ngoài mình hình như ai cũng làm được mà ở đây coi như một hiện tượng lạ

Chuyện gì đến sẽ phải đến…

Hơn tháng sau, ông trưởng trại kêu tôi lên văn phòng cho học một bài…giáo huấn; nào là quan điểm, nào là nguyên tắc, nào là…trời ơi nhiều quá làm tôi lùng bùng lỗ tai không nhớ nỗi…Cuối cùng ổng cho tôi nói một câu (và chỉ một câu thôi), tôi nhận hết nhưng chuyện của tôi với cô quản giáo thì tôi không đồng ý vì tôi có làm gì mà phải mang tiếng dụ dỗ…

“-Đúng là ông tên Dzụ thiệt mà, tên nào tính ấy”

( Má ơi! ông này đổi tên con rồi! )

-“Thưa , tôi tên Vụ là …con quay chứ không phải là dụ dỗ”

-“Tên gì mà nói muốn trẹo quai hàm, thôi thì trong nam này “vụ” hay “dzụ” cũng như nhau, mà nói nhỏ này, cuối tuần mang nải chuối, con gà dzới chai rượu qua nhà bà chủ đất xin đổi tên đi”

Tưởng ông này …kiếm chuyện , nhưng tôi vẫn răm rắp thi hành

Khi qua nhà bà chủ đất  tôi mới chưng hửng, các bạn có ngờ rằng ông trưởng trại là chồng và cô quản giáo là con của bà chủ đất ?

Thế là nải chuối, con gà và chai rượu được bày ra làm lễ sửa tên và cho phép tôi được dạy “đệ tử” thoải mái…

Cũng nên nói rõ hơn về “cô quản giáo” một tí để các bạn dể hình dung.

Ông trưỏng trại khi chuẩn bị rút vô sâu thì bà chủ đất đang có bầu, thế là ổng làm cây cầu trong vòng một tháng với sự giúp đỡ của anh em trong họ và bạn học, hai ngày sau khi cầu xây xong thì “cô quản giáo” ra đời

Nghe kể lại rằng , thiên hạ khi sinh ra ai cũng khóc, nhưng lạ là từ lúc sinh cho tới đầy tháng cô này chẳng khóc tiếng nào, khi nào đói thì ọ ẹ một tiếng bà chủ đất biết ý mà cho …bú…

Lớn hơn một tí thì toàn chơi với con trai , toàn những trò bạo lực làm nhiều khi bà chủ đất chịu không thấu vì bị hàng xóm sang mắng vốn (sau này cổ chỉ chơi với những ai đồng ý giao ứơc “có chơi-có chịu”)

Mười hai tuổi, cổ nói với bà chủ đất cho đi với tía, bà chủ đất nói kiểu nào cũng không đựoc, đuối lý bà hỏi môt câu

-Dzậy chớ mầy đi rồi tao lấy cớ gì nói dzới thiên hạ đây?

– Thì …má cứ nói con theo… trai rồi, mà chiều nay má ra đầu cầu la lớn dzí thiên hạ là con mới ti tuổi đầu mà đã …yêu đương rồi má hén! (trời đất…đúng là gan lỳ tướng quân…)

Sau bửa làm lể “sửa tên” của tôi xong, cổ có giao ứơc rằng thương cổ rồi thì cấm , chớ léng phéng, cổ mà biết đựoc là…thiến. Cô nào mà xớ rớ là cho ăn dao ngay, tù cũng chịu…

Có một chuyện là hồi tôi đang dạy ở trường cấp 1, có một cô phụ huynh đến năn nỉ tôi cho roi cho vọt với thằng con ngổ ngáo, ba nó đã chết và không ai dạy được, nó chỉ phục ông thầy mà nó cho là… thần tượng …ấy là tôi. Nói thế nào cũng không được , đến khi tôi tiễn cô ấy về thì bỗng dưng cô ấy nắm tay tôi … năn nỉ tiếp…ngờ đâu bên kia cổng trường…cô quản giáo nhìn thấy được …thế là một pha náo loạn trước hiên…trường…tôi kéo tay cô phụ huynh chạy trước, cô quản giáo cầm dao rượt theo sau, thầy hiệu trưởng và học sinh chạy sau rốt hò reo vang cả một góc trời…(và sau đó gia đình tôi nổi tiếng khắp tỉnh, nghe nói chuyện còn được đăng báo…nhưng tôi nào mà còn tâm trí để đọc)

Cô quản giáo của tôi cũng không đến nỗi nào, so với hoa hậu chắc cũng…kẻ tám lạng người nửa…phân, nhưng với tôi là…nhất hạng. Nói vậy chứ chưa thấy ai chắc dạ, môt…một….hai…hai như cổ, chuyện gì mà thấy nằm ngoài khuôn phép là chúng tôi đều xin phép nhau trước; cứ ừ với nhau một tiếng trước rồi hãy làm. Tôi dám khẳng định rằng ở đây không ai sướng bằng tôi, cơm nước, rượu chè, bè bạn, giổ quảy đều một tay cổ lo liệu, tôi đi làm về chỉ lo dạy dỗ hai thằng con, chăm sóc mảnh vườn cho đàng hoàng là đủ. Ừ thì cũng kể thêm một chuyện nửa để các bạn biết rõ về cổ

Năm rồi,mấy đứa bạn hồi còn học phổ thông, kiếm cớ để anh em gặp nhau chương trình đó có tên là “Cường Để Qui nhơn 1234567…” , hổng tin mấy bạn cứ dzô google gõ là thấy liền, các cô là bạn bè chung lớp còn mấy tay kia đa phần là lớp dưới , tôi xin phép cổ đồng ý rồi, mấy hôm sau thì có thiệp đám cưới của đứa cháu ở trên Pleiku cũng cận ngày, thế là tôi năn nỉ cổ thế nào cũng không chịu đi, viện cớ là “ không có tui , đám cưới cũng không mất dzui, chứ họp mặt mấy bạn của ông mà có tui thì…rách …dziệc…”;  bửa đó sau khi lo liệu xe cộ, áo quần tiền bạc , quà cáp…khi tiễn tôi lên đường cổ còn cười tươi làm tôi muốn kéo cổ lên xe đi luôn, đến khi cổ liết mắt một cái làm tôi nổi cả dza gà…mới chịu dzọt ga…

Đó, hai thằng con của tôi đó , hồi nhỏ cũng chơi đùa phá phách uýnh lộn u đầu sứt trán, máu me tơi bời ban đầu còn về mét mẹ, bị phán cho một câu “có sức chơi, có sức chịu đứa nào mét là bị đòn à nghen!”, đến giờ thành đạt ,vợ con đầy đủ, ra đường nói thiên hạ nghe răm rắp nhưng về đây vẫn vòng tay thưa tía thưa má nghiêm chỉnh

Mà tôi cũng chưa thấy ai thông minh, siêng năng mà ham học như cổ: hồi mới giải phóng cổ chưa xong lớp bốn mà tôi làm “sư phụ” có một năm, cổ thi đậu luôn trung học cơ sở, (và cũng bắt tôi học rồi tốt nghiệp phổ thông năm đó), rồi vác bụng bầu lên thành phố học ở trường Bổ túc Công nông tận Thủ đức; thằng Lán ruồi mới đầy tháng ,gửi nhờ bà ngoại trông chừng để lên thành phố ,thi đậu luôn phổ thông .Sau đó hai vợ chồng đùm túm nhau lên thành phố tôi vào học ở Đại học Sư phạm còn cổ học bên Học viện Hành chánh; nào chồng nào con mà học hành ngon ơ

Còn đây mới là cái hay nè! Khi tôi tốt nghiệp xong, trong thời gian chờ chuyển trường mới cho đúng bằng cấp , cổ rủ tôi – “thôi anh trả xong nợ rồi bây giờ anh dẫn tui dzí thằng Lán ruồi dzìa báo cáo dzới xứ …Nậu”. (Trời !!!  có thằng chồng nào mà không đồng ý?)

Thăm xứ …Nậu về thì cổ sắm  luôn lu, vại, chảo lớn rồi bắt tôi nghâm gạo, nạo dừa…còn cổ làm bánh tráng …Dzừa; thì ra về xứ Nẫu có năm hôm mà cổ đã ra tận Tam quan ăn cắp bí truyền làm bánh tráng dừa

Và cũng nhờ nghề tay trái này mà mấy năm bao cấp, nhà tôi có của ăn, của để…

Hì…hì… thì để từ từ tôi nói rõ…thời đó còn ngăn sông cấm chợ nên gạo xứ này cũng dư…ăn, mà bánh phồng thì làm bằng nếp chứ có ai làm bằng gạo đâu; cho nên làm bánh tráng dừa không đụng…hàng, làm xong, gửi xe đò mang lên thành phố cho mấy chú sinh viên bán, sướng cái là mang gạo thì coi chừng bị mấy ông quản lý thị trường tịch thu, chứ bánh tráng thì…dzô tư đi…Các bạn thấy cổ tính tài không? Lâu lâu cổ gửi mấy bánh cho hàng xóm, rồi cho bạn bè nói là đặc sản của má chồng gửi dzô ăn lấy… thảo…Ai mà biết được; có ai ngờ bánh tráng dừa Tam quan được …sản xuất ở Bến tre đâu. Mỗi lần có ai muốn có hàng …độc thì chạy tới năn nỉ cổ để lại, có bao giờ cổ tính tiền đâu, bạn bè của nhà tôi mỗi lần đến thăm hay nhậu nhẹt , đầu tiên phải ăn miếng bánh tráng dừa nướng, uống ngụm “trà” bánh tráng dừa, phải nói là “dzô địch thiên hạ” không đâu ở xứ này có…

Còn hai thằng con của tôi nữa; hồi có bầu đứa lớn, ai cũng bảo là con gái, nên cả nhà đều nhất trí là đặt tên Lan như tên cổ, hôm gần sinh hai vợ chồng rủ qua lán thăm “ông trưởng trại” , ngồi chưa nóng chỗ thì cổ la mắc đẻ…may mà lúc ấy có cô mụ gần bên chứ gặp lúc nước ròng, ghe mà chở lên được đến bệnh viện tỉnh gần mười cây số thì …toi; lúc sinh ra không biết ruồi ở đâu mà bu dữ quá , thế là ổng phán luôn: – “tưởng mày là con gái thì đặt tên Lan , chứ mày là con trai, lại sinh nhằm trong lán của tao, sinh ra lại có ruồi đến chúc mừng, thôi thì tao phán luôn, mày tên là Lán, biệt danh là …Lán ruồi…Hà…hà…tên này độc à nghen!!!”

Thằng thứ hai thì đã có tên Biển, trai gái gì cũng không sợ đổi tên, vậy mà khi ổng tới thăm, ruồi ở đâu tới bu vào mặt thằng nhỏ, -“bệnh viện mà cũng có ruồi thì khỏi nói, tao cho mày cái tên Ruồi biển luôn…”

Hai thằng nhỏ nghịch như quỷ, không sợ ai- ngoài má nó với “ông trưởng trại”- nhưng lại thích chơi với ông ngoại hơn vì ổng cho chúng thoải mái, một bửa chơi thế nào mà ổng kêu thằng Lán lại ,bắt đứng nghiêm rồi hỏi:

-“Mày kêu tao là gì mà tao nói mày không nghe , hả!!!”

Thằng nhỏ đứng nghiêm, mếu máo trả lời:

-“Dạ…ông…Kẹ…”

Trời đất…ổng cưòi như chưa bao giờ được cưòi, và từ đó cả nhà tôi kêu ông trưỏng trại là…ông Kẹ

Thôi, bây giờ dzô chuyện chính đi…

Năm kia , cô quản giáo nghỉ hưu, mới chân ướt chân ráo thôi việc ở chính quyền chưa được mấy ngày; cổ bàn với tôi mở công ty sản xuất… bánh tráng dừa xuất khẩu. Tôi hết hồn vì bánh tráng dừa mà xuất khẩu thì xưa nay chưa có ai làm, xứ mình ai có bà con ở nước ngoài gửi cho người ta ràng bánh đã là khó khăn, chưa nói tới việc tiêu thụ như thế nào, sản xuất kiểu thủ công như ngoài mình mà đòi xuất khẩu thì có mà ăn…cám

Các bạn biết cổ giải thích làm sao không?

-“Anh không để ý, để tứ gì hết. Đây là trăn trở của anh trên bàn…nhậu; em thấy anh có lý nên mới tìm tòi nghiên cứu, kinh nghiệm làm bánh nướng thì mình có rồi, kinh nghiệm làm bánh phồng thì Bến tre ai cũng làm được, em có nhờ mấy bạn làm sao cho nó mềm để dể chuyên chở và bảo quản thì cũng được luôn, rồi quy cách đóng gói như anh muốn, trứơc mắt mình sản xuất hai loại bánh, cứng và mềm quy cách như bánh qui Kinh Đô hoặc mấy loại sẵn có, trên bao bì mình in giới thiệu luôn kiểu bánh truyền thống nhưng nhỏ hơn để ngưòi ta tìm hiểu vì xứ người ta đâu dễ tìm lò nướng nên phải nướng trên lò vi sóng, để ai muốn thì mình sản xuất, em có nói chuyện với tía má, ổng bả ủng hộ cho mình lấy lán làm xưởng lấy nhà làm văn phòng, hùn vốn làm ăn, còn chuyện quảng bá thương hiệu thì hôm trước anh Hai làm tham tán bên Mỹ về chơi, em đem chuyện ra bàn , ảnh ủng hộ hết mình hứa sẽ hổ trợ ở Mỹ rồi nhờ mấy người bạn bên Anh giới thiệu vào món trà trưa…,Ảnh còn dẫn lên tỉnh uỷ giới thiệu, ai cũng ủng hộ cả. Trứơc mắt, vốn mình còn ít thì chỉ sản xuất qua Mỹ thôi, khi nào đủ sức thì làm lớn kể cả sản xuất trong nứơc cạnh tranh với bánh Tam quan ; hai thằng Lán với Biển cũng đồng ý nghĩ việc để về cùng làm ăn. Bây giờ chỉ còn anh ,gật đầu là em tiến hành liền. Anh tính sao?”

Trời đất!!! tôi quá sức sửng sốt vì chuyện lớn như vậy mà bấy lâu cổ âm thầm làm một mình, bây giờ gần như hoàn hảo mới nói một mạch rồi cho tôi …quyền quyết định. Mà còn sững sốt hơn vì gần bốn mươi năm chung sống, đây là lần đầu tiên cổ anh…anh…em…em…với tôi ngọt x…ớ…t…

-“Em là nhất hạng , em tính hay quá rồi! anh không thấy chỗ nào thiếu, thôi thì em cho anh nghĩ hưu sớm rồi cho anh tham gia cái dzụ này dzới nghen!!!”

Cổ ôm hun tôi cái chụt thật kêu rồi tựa đầu vào ngực tôi và gật đầu

Thế là tôi tổ chức đại hội cổ đông…gia đình, rồi lập luôn công ty như ngày nay…

Thằng Lán thằng Biển đâu!!! Má bây chắc là mắc cở rồi; thôi thì hai đứa lấy bánh ra đãi quý Chú quý Bác đi mấy con!!!

 

 

Read Full Post »

Nắng quái

phiêu thạch ba

                                            Một hôm nắng xế qua đồi

                                                      Biết không còn kịp nữa rồi giấc mơ.

                                                                              Thanh Nguyên

 

Nắng đã quái rồi ư?

Sao không gian vàng vọt.

Đêm qua ta còn toan bẻ nạng[1]

Mà bây giờ

              nắng đã quái rồi ư?

.

Hy Hoàng. Hy Hoàng[2]

Dừng roi chờ một nhịp

Lá ngưng vàng

                ta sẽ kịp lao thân.

Thỏa nguyền nguyện trước hóa công

Nhân gian thôi hận thuyền không theo người

.

Hy Hoàng. Hy Hoàng

Đừng trách ta thuở trước

Giục thời gian cho mơ ước tuôn trào

Vợi trông nghĩa cử tầng cao

Nghe như thiên mệnh xôn xao đổ về

.

Hy Hoàng. Hy Hoàng

Sao càng giục giã

Sao càng vội vã

Sóng xô trời sau từng giải mây đen.

Sao bôn ba

Gieo ưu phiền

Gập ghềnh tôn giả

Gió nghiền thư hoa

.

Chiều xám

Trời xám

Hơi lạnh hắt khô môi

Trơ trơ mắt xé đỉnh đồi.

Hy Hoàng khuất bóng

Thôi rồi giấc mơ.

    


[1]  Nửa thành ngữ Bẻ Nạng Chống Trời

[2]  Theo truyền thuyết trong Ly Tao của Khuất Nguyên, Tôn Giả Hy Hoàng là người đánh xe cho thần mặt trời

Read Full Post »

Nam Thi

ÔNG Phương cột xong chiếc võng vải giữa hai thân cây bạch đàn, thẩn thờ nhìn theo ba người đồng hành đang tìm đường leo lên đỉnh núi Chóp Vàng. Họ đã vượt dốc núi 45 độ cách chỗ ông dừng lại vài trăm mét và sẽ vòng sang sườn phía Nam thoải hơn để lên đỉnh. Họ gồm ba người: cô Minh, học trò cũ của ông ở trung học mấy chục năm trước, nay là chuyên viên khảo cổ; Hùng, con trai ông, kỹ sư tin học và ông Ba Xuân, nông dân địa phương, người dẫn đường, bạn thiếu thời của ông.

Gieo mình xuống võng, ông cố điều hòa hơi thở nhưng vẫn thấy đau nhoi nhói ở vùng ngực trái. Từ lâu bác sỹ đã cảnh báo tim ông có vấn đề và ông thường xuyên uống thuốc phòng ngừa mỗi sáng. Cũng là chuyện bình thường của người trên sáu mươi. Ông cảm thấy yên tâm vì trước khi lên đường ông đã uống một viên natrilix. Nằm trên võng ông có thể nhìn bầu trời xanh xuyên qua những cành lá bạch đàn thưa thớt không đủ che ánh mặt trời buổi sáng dọi xuống. Khi nhoài người qua thành võng để lấy chai nước, ông thấy một đàn kiến đen từ trong đám lá ủ bò ra. Ông thoáng ngạc nhiên vì không hiểu lũ kiến đánh hơi thấy mùi gì mà kéo đến nhanh thế, trong khi không rơi vãi bất cứ thứ gì chúng có thể ăn được do ông và các bạn đồng hành mang đến. Hay giản đơn chỉ là mùi người. Ông hơi chột dạ khi nhớ lại lũ kiến rừng đã ăn sạch những xác chết của người và và thú vật ở những bãi chiến trường mà ông đã đi qua thời trai trẻ, chỉ chừa lại những bộ xương trắng hếu.

Ông nhận ra một con đầu đàn với hai cái râu dài như hai cái antenne đang dò đường. Rồi thêm mấy con đầu đàn khác. Có thể dễ dàng phân biệt chúng với lũ kiến thợ vì chúng to con hơn, đen hơn. Chỉ một lát sau, theo tín hiệu của những con đầu đàn lũ kiến bu lại ngày càng đông quanh cái áo gió ông còn vất dưới đất. Ông vói tay lấy cái áo lên giũ cho sạch kiến. Chợt nhớ kinh nghiệm thời chiến, ông chu miệng phun nước bọt để làm mất phương hướng đàn kiến vì nước bọt làm nhòe những tín hiệu hóa học do những con đầu đàn để lại (1). Lũ kiến nháo nhác chạy lung tung nhưng rồi chúng lại tập hợp theo những lộ trình mới. Ông lại tiếp tục phun nước bọt. Nhưng nước bọt của ông ngày càng ít và loãng nên mất dần tác dụng. Vả lại ông cảm thấy mệt nên không muốn tiếp tục chơi trò vờn nhau với chúng. Ông nằm im trên võng nhìn những đám mây trắng lướt qua bầu trời xanh mặc cho lũ kiến nhung nhúc dưới đất…

Lúc nãy, lên tới lưng chừng núi, có lẽ ở độ cao hơn 200 m, ông cảm thấy mệt lã, hụt hơi, mồ hôi vã ra, … Thấy ông tụt lại, Hùng quay lại dìu ông tiến lên. Cuối cùng, ông biết mình không thể tiếp tục theo đoàn vì phía trước triền núi ngày càng dựng, nếu ông có bề gì thì phiền phức cho cả đoàn. Tuy thất vọng, nhưng ông còn đủ tỉnh táo chấp nhận sự bất lực của mình. Từ khi có ý định leo lên đỉnh núi nầy, ông đã chịu khó tập đi bộ mỗi sáng, tăng dần thời gian từ 30 phút đến 90 phút. Nhưng ông không lường trước sự khác nhau giữa đi bộ trên đường làng bằng phẳng và leo núi cao chớm chở. Ông cứ nghĩ rằng mình thừa kinh nghiệm leo núi vì trong thời chiến tranh, ông đã từng vượt bao đèo cao, núi thẳm còn cheo leo hơn hòn núi Chóp Vàng chỉ cao hơn 350m so với mực nước biển.

“ Tôi không leo nổi nữa – ông nói với đoàn. Nhưng các bạn cứ leo tiếp. Tôi nằm lại đây chờ…”. Hùng muốn ở lại chăm sóc cha nhưng ông biết con trai ông từ lâu muốn có dịp lên đỉnh núi nầy, có lẽ do sự tò mò thôi thúc khi nghe ông nói về sự tích (2) rằng trên đỉnh Chóp Vàng có dấu vết thành Uất Trì của người Chăm, nơi nhân vật huyền thoại Chàng Lía chọn làm nơi trú ẩn sau khi chạy khỏi Truông Mây, nên Uất Trì cũng được gọi là thành Chàng Lía. Truyền thuyết còn kể rằng Lía đã từ đỉnh núi ném một cái mâm đồng làm điểm tựa để phi thân, cõng theo xác mẹ  về chôn ở một đỉnh núi trên thượng nguồn sông Côn…Ông Ba Xuân tình nguyện dẫn đường và quả quyết ông đã mấy lần lên tới đỉnh Chóp Vàng, tận mắt thấy những viên gạch Chăm và những cây ăn trái. Một số người dân quê ông cũng nói như vậy.

Ông Phương giục con tiếp tục leo lên đỉnh vì nghĩ rằng mình không thực hiện được ước mơ thì con trai ông phải thay ông đặt chân lên đó rồi mang về cho ông vài tấm ảnh, mấy mẩu gạch vỡ…coi như ông đã đạt sở nguyện. Hơn nữa, không thể vì ông mà  Minh bỏ lỡ cơ hội khám phá một di chỉ do chính ông giới thiệu. Trong mấy năm qua, sau khi nghỉ hưu, quay về sống ở quê nhà, Minh đã hướng dẫn ông nghiên cứu tài liệu khảo cổ học và đưa ông đi điền dã dài ngày ở nhiều nơi. Đó là niềm vui mới của ông. Trước kia ông là thầy dạy chữ của Minh nhưng sau nầy Minh lại là cô giáo của ông về môn khảo cổ. Họ đã chia sẻ với nhau niềm vui khi đào bới các lớp đất, phát hiện những cái rìu đá, những miểng sành, những mảnh xương, những vỏ sò… lưu lại từ hàng nghìn năm trước. Căn nhà cổ của ông bên bờ Bắc Sông Côn trở thành một bảo tàng nho nhỏ của họ. Từ hiên nhà,  Minh và ông bao lần nhìn lên đỉnh Chóp Vàng mây phủ buổi sáng mùa Đông, vàng hực nắng chiều mùa Hạ. Ngọn núi và những truyền thuyết về nó đã nối kết ước mơ của họ, thúc giục họ phải cùng nhau lên tận đó…

Nhiều lần ông nghĩ rằng leo lên đỉnh núi đó là mục tiêu phấn đấu cuối cùng của đời ông sau khi đã hoàn thành những mục tiêu cho bản thân, gia đình và xã hội. Con người luôn đề ra những mục tiêu để theo đuổi, thiếu vắng mục tiêu cuộc sống sẽ hụt hẫng, nhàm chán. Đó không chỉ là mục tiêu mà còn là mơ ước của ông từ tấm bé. Ông vẫn thường mường tượng những nền tháp hoang phế, những viên gạch vỡ lẩn khuất trong đám cỏ tranh, những cây xoài hoang trái nhỏ chua lét,…Hồi còn trai trẻ, ông có thể dễ dàng leo những ngọn núi còn cao hơn Chóp Vàng nhưng thời ấy không ai dám đi sâu vào núi vài km từ quốc lộ 19, hơn nữa ông đã bỏ quê vào Nam đã lâu…

Thế mà giờ đây ông đành chấp nhận dừng lại ở lưng chừng núi. Trước khi chia tay, Minh kề sát tai ông bảo nhỏ, “ Em thay anh lên đó và sẽ mang về cho anh một món quà đặc biệt…”. Đó là lần đầu tiên Minh xưng anh-em với ông, thay cho “thầy-em” từ ngày họ gặp lại. Từ khi vợ ông qua đời ông chưa được nghe tiếng anh-em từ một người phụ nữ nào, vừa ngọt ngào vừa nồng nàn, vừa quen thuộc lại vừa lạ lẫm như nghe nhịp tim của mình thì thầm trong lồng ngực…

TỐT nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn năm 1971, ông được bổ về dạy ở Trường Nữ Trung hoc tỉnh và Minh là học trò của ông ở lớp Đệ Ngũ. Sau “mùa hè đỏ lửa”1972, có lệnh tổng động viên. Vốn là một sinh viên tranh đấu ở Sài Gòn, thời thế buộc ông phải chọn lựa cầm khẩu súng nào. Ông đã trở lại Sài Gòn liên hệ với bạn bè cũ mà ông biết là người của MTDTGP, rồi thoát ly. Hòa bình lập lại, ông trở lại với nghề giáo. Trai thời loạn thì phải cầm súng, hết giặc là “giã từ vũ khí”, trở về với đời thường. Sau mấy mươi năm đứng lớp, ông về hưu và quay về sống ở căn nhà tổ tiên  bên bờ sông Côn. Các con ông đã thành gia thất, chỉ có Hùng vẫn còn độc thân lại làm nghề “tự do” nên thường về quê thăm ông khi vài ba hôm, khi vài tuần. Ông bảo các con rằng khi nào ông thấy không còn tự lo được ông sẽ về Sài Gòn để các con tiện chăm sóc. Khi còn đủ sức khỏe, ông muốn sống quãng đời còn lại không bị ràng buộc, câu thúc nào.

Về quê được ít lâu thì Minh và vài học trò cũ khác tìm đến thăm ông. Minh đã là mẹ của hai con gái đang học đại học ở Sài Gòn. Chồng Minh là một chủ lò gạch, không may bị tử nạn giao thông. Minh phải từ nhiệm ở Viện Khảo cổ nhưng vẫn làm cộng tác viên không ăn lương. Minh vừa điều hành công việc kinh doanh của chồng vừa tiếp tục theo đuổi ngành khảo cổ. Ngoài thời gian đi điền dã, Minh còn dự những hội nghị, hội thảo chuyên ngành. Ông giúp Minh chuẩn bị tài liệu báo cáo, tham luận như một phụ tá cần mẫn. Minh thường nấu thức ăn tự tay hoặc sai người nhà mang đến cho ông. Đôi khi hai người cùng ăn cơm với nhau. Sự có mặt của Minh khiến cuộc sống của ông đàng hoàng hơn, vui tươi hơn.

Công việc thường trực ở lò gạch Minh  nhờ cậu em chồng giúp. Không biết làm thế nào Minh có thể phân thân cho hai công việc tréo ngoe như thế; việc nầy thì cạnh tranh, tính toán lời lỗ chi ly, việc kia thì tĩnh lặng, phi lợi nhuận. Càng gần Minh, ông càng hiểu rằng trong kinh doanh Minh kiếm tiền nhưng không đam mê, ngược lại Minh theo đuổi ngành khảo cổ chỉ vì đam mê. Minh đã truyền sự đam mê cho ông. Sâu xa hơn, Minh đem lại sự ấm áp cho mùa Đông của đời ông…Ông không muốn phân biệt đó là tình yêu hay nhu cầu có nhau. Chắc là cả hai. Và ông cảm nhận Minh cũng thế, dẫu rằng họ chưa bao giờ đả động gì về tình cảm.

“Em thay anh lên đó và sẽ mang xuống cho anh một món quà đặc biệt…”. Lời thì thào của Minh làm ông xao xuyến. Ông dường như còn nghe văng vẳng bên tai khi nhìn theo bóng Minh mất hút ở sườn núi phía Nam. Ông mỉm cười một mình.

Ông lấy áo khoác phủ lên mặt để che nắng và chợp mắt.

KHI Minh, Hùng và ông Xuân quay xuống chỗ ông Phương nằm, lũ kiến đã bu đen kín mặt đất dưới chiếc võng; chúng  leo lên hai thân cây bạch đàn và theo dây võng bò lên khắp thân thể lạnh ngắt của ông, nhiều con bám vào mặt, mũi và đôi mắt khép kín của ông.

– Anh ơi!…Tiếng Minh thảng thốt nghẹn ngào vang vọng rừng bạch đàn.

Minh chưa kịp trao cho ông Phương “món quà đặc biệt” như đã hứa lúc chia tay…Ngoài Minh, vĩnh viễn không ai biết đó là thứ quà gì.

Chiều đã ngã bóng trên đỉnh Chóp Vàng.*

Nguyên Tiêu- Nhâm Thìn (06-02-2012)

(1)   Hóa chất pheromone

(2)“Nước Non Bình Định”- Quách Tấn.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »