Hồ Thế Phất
Archive for Tháng Mười Hai, 2011
Men Thơ Xứ Nẫu I
Posted in Thơ ca, tagged Hồ Thế Phất on Tháng Mười Hai 26, 2011| 61 Comments »
René Leys người tình trẻ trong Tử Cấm Thành
Posted in Văn xuôi, tagged Quế Sơn, Victor SEGALEN on Tháng Mười Hai 25, 2011| 32 Comments »
Tác giả : Victor SEGALEN (1878-1919)
Người dịch : Quế Sơn (Dịch theo nguyên tác tiếng Pháp :”René Leys”, ấn bản năm 2000)
Nhà Xuất bản TRẺ, 2011.

Đây là quyển nhật ký hư cấu của Victor Segalen ghi lại những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của René Leys trong bối cảnh một triều đại Mãn Thanh suy tàn. Chàng trai trẻ Leys có những tố chất mà Segalen không có để thâm nhập vào thế giới quyền quý Mãn Thanh. Để thực hiện giấc mơ của mình là vào Tử Cấm Thành, quan sát thâm cung từ bên trong, Segalen tự đặt mình vào vai của Leys bằng liệu pháp tưởng tượng. Làm như vậy Segalen không ngờ rằng sống một cuộc sống khác theo lời kể của người khác là một quá trình đầy rủi ro và nguy hiểm, cho cả người nghe và người kể chuyện. Khi đọc quyển sách này, bạn đang tự đặt mình vào vai của Segalen, người tự đặt mình vào vai Leys để khám phá thế giới Mãn Thanh qua hai lần liệu pháp tưởng tượng. Một chút rủi ro nguy hiểm còn lại, bạn hãy lấy nó làm niềm vui. Cuốn sách thuộc Tủ sách Cánh cửa mở rộng – Tủ sách hợp tác giữa nhà toán học Ngô Bảo Châu và nhà văn Phan Việt với Nhà xuất bản Trẻ. (Lời giới thiệu ngắn của NXB Trẻ trên trang mạng http://www.nxbtre.com.vn)
Mời các bạn “Xứ Nẫu” đọc hai trích đoạn của cuốn tiểu thuyết viết cách đây gần một thế kỷ, 1916, (và xuất bản lần đầu năm 1923, sau khi tác giả qua đời) nhưng không mất đi tính hiện đại và cách tân của nó. Segalen là một bác sĩ hải quân Pháp, nhưng sống ở Bắc Kinh nhiều năm, trở thành một nhà khảo cổ học có tiếng tăm trong cuộc khai quật các di tích của Tần Thủy Hoàng. Ông cũng là một nhà thơ : tập “Stèles” (Bia mộ) của ông, tuy lúc đầu in ra chỉ có 81 bản, nhưng nhiều năm sau được các nhà thơ lớn của Pháp hết lòng ngưỡng mộ.
Số phận của tiểu thuyết “René Leys” cũng khá lạ kỳ, không khác gì cái chết bí ẩn trong rừng khi đi dạo của Segalen : Nó chỉ được tái bản lần đầu vào năm1971, gần 50 năm chìm trong bóng tối, và dấy lên làn sóng hâm mộ và tìm hiểu về tác giả ở Pháp cũng như ở các nước khác. Tên ông được chọn đặt tên cho một đại học ở Bordeaux (Pháp).
(Quế Sơn, người dịch, 23-12-2011)
Bắc Kinh, 20 tháng 3, 1911
— Thế là tôi sẽ không biết gì hơn nữa. Tôi không cố nài; tôi sẽ lui ra… một cách kính cẩn, cứ cho là như vậy, và tất nhiên đi thụt lùi theo Triều nghi, vì đây là Hoàng Cung; một cuộc bệ kiến đã không được ban, và sẽ không bao giờ được ban nữa…
Chính bằng lời thú nhận này – lố bịch hay khách khí, tùy theo cách nhìn nhận – mà tôi đành kết thúc cuốn nhật ký này, trước khi viết quá nhiều, dù tôi từng hy vọng biến nó thành một cuốn sách. Sách cũng sẽ không có. (Vậy thì một quyển sách chết đi chỉ còn lại một cái tựa đẹp: “Cuốn Sách chưa từng hiện hữu!”).
Tôi cứ tưởng là đã nắm được nó, “hoàn chỉnh” hơn, dễ bán được hơn bất cứ cuốn tiểu thuyết có bản quyền nào, cô đọng hơn bất kỳ sự kết tụ nào khác của những cái gọi là tư liệu con người. Hay hơn bất cứ câu chuyện tưởng tượng nào, mỗi cú nhảy vào thực tại của nó sẽ mang quyền năng của toàn bộ ma lực bị giam hãm trong những bờ thành này… nơi tôi sẽ không bao giờ vào được.
Không ai có thể phủ nhận Bắc Kinh là một kiệt tác của sự thành tựu đầy bí ẩn. Và trước hết, tam trùng thành quách của nó thì không tuân theo các qui tắc của các đám đông đã vào sổ bộ, cũng như không đáp ứng các nhu cầu cư trú của những con người ăn ở nơi đây. Bởi vậy, kinh đô của Đế chế lớn nhất Thiên hạ đã được xây dựng cho chính nó, được vẽ ra như một bàn cờ ở cực bắc vùng bình nguyên hoàng thổ, với những bức tường thành ngay ngắn bao quanh, với những con đường rộng cắt ngang, lại được kẻ ô với những ngõ ngách thẳng góc, rồi được kiến tạo liền một mạch từ đầu đến cuối một cách hoành tráng…Tiếp theo, những người sống bám vào nó, các thần dân Trung Hoa đó mà, đến cư ngụ, rồi cuối cùng thì họ tràn ra các khu ngoại ô ám muội. Nhưng cái hình vuông chính, tức khu thành Thát Đát – Mãn Châu tới nay vẫn còn là một nơi trú ngụ tốt đẹp cho những kẻ chinh phục – và cho giấc mơ này…
Bên trong, tận cùng trung tâm của Hoàng Cung có một khuôn mặt: một đứa trẻ con-người lớn, Hoàng đế, Vua cõi trần và Con của Trời (mà mọi người, và các nhà báo trên thế giới cứ ngoan cố gọi tên là “Quang Tự”, đó chỉ là niên hiệu trong thời gian ông ở ngôi thôi, tức là từ năm 1875 đến 1908). Ông đã sống thực sự, dưới cái tên sinh thời của mình mà không ai dám gọi… Ngài – và vì không thể gọi tên ông, tôi đành thêm vào cái đại từ châu Âu đó tất cả sự tôn kính của điệu bộ Mãn Châu (hai ống tay áo đưa lên cao cùng hai nắm tay chắp lại trước trán cúi thấp) để chỉ Ngài… Trong cõi nhân sinh, Ngài vẫn là hình ảnh và biểu tượng hóa thân của kẻ bi thống nhất và tất phải chết hơn bất kỳ ai khác. — Người ta quy cho Ngài những hành động bất khả… và cũng có thể ngài đã thực sự làm những việc này.Tôi tin chắc rằng Ngài đã chết vì mười chứng bệnh hoàn toàn tự nhiên (ngày nay không ai còn chết vì những bệnh này nữa), nhưng trước hết vì chứng bệnh thứ mười một (không mấy người thấu hiểu) là chứng làm Hoàng đế – tức là nạn nhân được tiền định từ cả bốn ngàn năm để làm kẻ hiến sinh trung gian giữa Thiên đình và Dân gian dưới cõi trần…
… và nơi chốn ngài hiến sinh, cái khu vực chung quanh có tường cao bọc kín mà người ta giam hãm con người Ngài – cái Tử Cấm Thành đang giương thành lũy chặn bước chân tôi – đã trở thành sân khấu duy nhất khả dĩ cho tấn tuồng này, cho Câu chuyện này, cho cuốn sách này, vì nếu không có Ngài, thì nó chẳng còn lý do gì để tồn tại…
Thế nhưng, tôi đã cố gắng hết sức để đón nhận sự Hiện diện của Ngài, để nối lại với nhau, ở bên ngoài tường thành, những hé lộ mang tính hồi ức về “Đại Nội”. Về việc này, tôi trông cậy vào sự thâm nhập nhờ nghề nghiệp chuyên môn của các bác sĩ châu Âu cùng chủng tộc với tôi. Họ ở đó kìa, sinh sống và hành nghề dọc theo “đường Công sứ quán”, ngay chỗ đầu xả các ống cống ngầm từ Hoàng Cung ra, họ sẵn sàng len lỏi qua bất cứ khe nứt nào, và một khi đã vào được bên trong, thì sẵn sàng ra tay đâm sau lưng, với tình đồng nghiệp rất ư là thắm thiết, bất cứ người nào tìm cách vào đó như họ. Một hôm Hoàng thượng cho vời viên bác sĩ của một nước nào đó, và Công sứ quán của nước đó được dịp huênh hoang, a, chỉ mình ta thôi, được lãnh trách nhiệm chăm sóc Thánh thể. Hai hay nhiều bác sĩ tầm cỡ “Cao đơn hoàn tán” sẽ cùng lúc tự tâng bốc là chỉ có riêng mình được triệu vào, được hỏi ý kiến thôi, và trở thành mục tiêu gièm pha duy nhất của tất cả thầy thuốc còn lại khác. Và họ nhìn nhau mặt lạnh như tiền. Ôi, chính họ là những người trung gian mà tôi đã phải tiếp cận đấy. Tôi thấy lo sợ là mình sẽ vấp phải bí mật y khoa khi hỏi han chuyện này, việc nọ. Nhưng họ chỉ tiết lộ vài điều vô thưởng vô phạt dính dáng đến nghề nghiệp thôi… Các báo cáo của họ đều viết trên cùng một thứ giấy, với cùng những từ ngữ đao to búa lớn hợp vệ sinh mà họ phô ra một cách khó coi, và làm khổ bất cứ tên khách hàng trưởng giả nào của mình! Họ xác nhận rằng Ngài, đấng Chí tôn, bị nghi là mang những khuyết tật trẻ con, những thứ mà một tên hậu duệ hỗn hào nào cũng có thể trút tội lên đầu cha mẹ mình… Họ kết luận rằng đó là sự biến chất tai hại… Tóm lại, Thiên Tử càng ngày càng suy nhược, héo hon vì một chứng bệnh… di truyền!
Thấy tởm lợm vì sự dốt nát phạm thượng của các tên đồng hương của mình, tôi đành quay sang phía khác: các viên Thái giám bản xứ. Đây là một phường hội khác, cũng danh giá không kém, nhưng khép kín hơn, độc quyền hơn. Không phải ai muốn vào thì cứ thong dong bước vào đâu: người ta đòi hỏi trước hết phải có bằng cấp. Các chức vụ thì rất hạn chế, với một vài sửa đổi dành cho ngoại lệ. Chính nhờ vậy mà tư cách làm cha được cho phép ở các thái giám cấp cao, còn sự phản bội thì ở mọi cấp.
Tôi đã tìm cách mua chuộc một trong các nhân vật này. Nhưng kết quả không tương xứng với số tiền bỏ ra: tưởng gì chứ tôi biết quá nhiều về mấy cái giai thoại nhàm chán mà báo chí địa phương khai thác để nuôi dưỡng các trang báo; và thật tình mà nói, tôi đã không thu thập được một bí mật phòng the nào. Tôi không trách giận các anh thái giám này đâu: phòng the, với định nghĩa là rèm và một khoảng phòng cạnh giường, rất có thể là không tồn tại trong Nội Cung.
Chỉ còn các bác sĩ Trung Hoa. Được trang bị với những công thức pha chế nước ngoài nhưng trung thành với toàn bộ dược liệu bản địa có sẵn, họ rất đỗi tự hào về kiến thức đáng gờm như con dao hai lưỡi của mình. Một trong những thầy thuốc giỏi nhất, sau một bữa ăn tối ngon lành tại nhà tôi – cũng chính bằng cách nấu ăn nửa Pháp, nửa Bắc Kinh đó – đã vui lòng kể lại, diễn tả bằng điệu bộ sống động trước mắt tôi, cố làm cho tôi hình dung ra cảnh này: một cuộc chẩn bệnh ngay trong lòng Nội Cung. Viên bác sĩ quỳ cúi đầu sau khi đã thực hiện ba lần khấu đầu ba cái. Hoàng đế, và Lão Thái hậu đáng sợ, thì ngồi cao hơn tất cả các tầm mắt. Khi được hỏi, viên bác sĩ không dám mở miệng để nói. Họ ép ông nói. Vậy là, một cách cực kỳ kính cẩn ông hỏi “Long thể Bệ hạ bất an ở phần nào…”
Lão Phật gia uy nghiêm trả lời thay Ngài “rằng tâm dịch khuấy động dưới lớp bì phu của Hoàng thượng…”
Viên bác sĩ lại cực kỳ kính cẩn đề nghị món thuốc nào đó. Ông đã quên mất là thuốc gì (dĩ nhiên, không được là thuốc uống của nước ngoài! – người ta hẳn sẽ kết ông nào là tội phản bội, nào là tội âm mưu đầu độc; lại càng không phải là loại hoàn tán Trung Hoa! – bởi vì người ta triệu ông đến là do kiến thức y khoa học ở nước ngoài của ông kia mà).
Tuy nhiên ông vẫn nhớ chính xác cái ấn tượng chủ quan sau:
“Đối với tôi đầu ông ta có vẻ như không đứng vững trên cổ…”
Ông đã nhớ được điều đó. Tôi chúc mừng ông. Nhưng chuyện chỉ có vậy.
Chuyện chỉ có vậy thôi. Bỏ cuộc sao? Tôi tự cho mình một cơ may cuối cùng để thâm nhập vào Đại Nội. Đó là dùng đến ngôn ngữ của nó là tiếng “Quan thoại miền Hoa Bắc” khó học. Và từ rày về sau, tôi sẽ không cần đến bất cứ tên mối lái nào, bất cứ tên thái giám nào; tôi sẽ chờ cơ hội trực tiếp cho phép tôi…
Nói, hay làm… điều gì cơ chứ? Tôi cũng chưa biết. Để phòng xa, tôi bám chặt vào cái cơ may này và tôi lao đầu vào học từ vựng “Quan thoại” với tất cả sức lực của một kẻ tuyệt vọng. Người ta thường nói là phải dành cả đời, từ tuổi thơ cho đến tuổi già, mới có thể viết và làm luận văn như một tên tú tài tỉnh lẻ, a, thì cũng có thể như thế. Trên thực tế, thiên hạ mở miệng phun ra điều này quá dễ dãi. Tôi có ý thức về các thành tích của mình. Tôi có thể tán gẫu, tôi có thể đàm luận, tôi đã có thể diễn đạt được hầu như mọi thứ. Tôi không biết phải khen ngợi ai hay cái gì đây: chính tôi, tiếng Quan thoại, hay gia sư của tôi. Ngược với mọi lô-gích, ngay giữa đất Trung Hoa, tôi đã chọn một người nước ngoài làm gia sư, một tên rợ không có văn hóa Thánh hiền, và còn hay hơn nữa chứ, một anh chàng người Bỉ trẻ tuổi! Chàng ta có năng khiếu lạ lùng là học tất cả mọi thứ một cách dễ dàng, và có lẽ dạy lại cho người khác mọi thứ cũng dễ dàng như thế, đó là điều làm tôi thích thú vô cùng. Chính thức thì chàng giữ ghế giáo sư môn “Kinh tế Chính trị” ở trường Quốc Tử Giám. Ở bất cứ đâu khác thì chuyện này có thể làm tôi lo ngại đấy… Nhưng chúng tôi đã thỏa thuận rằng để thông hiểu nhau hơn, chúng tôi sẽ chỉ nói tiếng Trung với nhau.
Chàng gia sư của tôi có lẽ sẽ cực kỳ ngạc nhiên khi biết mục đích thực sự các buổi nói chuyện giữa chàng và tôi. Chàng là đứa con ngoan ngoãn của người chủ cửa hàng thực phẩm tuyệt vời ở khu Công sứ quán. Trước đây thì tôi không nhận ra chàng bên cạnh mấy cái cân trong tiệm của ông bố khi vào mua đồ. Nhưng chàng nói với một sự kính trọng sâu sắc về cha mình, về việc buôn bán, gia đình, “tiền tiết kiệm”, về đầy tớ, ngựa xe, về những nguyên tắc của cha. Chàng rõ ràng tin rằng ở Bắc Kinh người ta không thể có một cách sống nào đáng trọng hơn cách sống của cha mình… Thích văn chương, chàng đang đọc lại Paul Féval.
Nếu tôi thành công, ừ, nếu tôi vào đến… nơi mà tôi không còn hy vọng vào đến thì chàng sẽ là người đầu tiên kinh ngạc trước sự thành công của tôi, và cả kinh hãi nữa khi phát hiện ra phần mình trong đó… mặc dù như tôi đã nói, tôi khó có khả năng thành công.
Chàng là một thầy giáo giỏi. Tôi đã thuê chàng dạy thêm một tháng nữa. Và ngay đây tôi nói trước là tôi từ bỏ mọi kỳ vọng.
(Chương đầu, từ trang 5 đến 14)
……………………….
X…— Tin vặt trong một tờ nhật báo ở Bắc Kinh: “Binh biến ở tỉnh Hồ Bắc: Sư đoàn Mười đóng ở Vũ Xương vừa đốt phá Nha môn của quan Tổng đốc. Ngài Tổng đốc – đúng là hay thật – đã bỏ trốn. Bọn phiến loạn đã nắm giữ được lực lượng pháo binh và pháo kích các phòng tuyến ở Hán Dương. Trong các nhượng địa châu Âu ở Hán Khẩu, người ta bắt đầu lo sợ…”
Ba thành phố này, hay nói cho đúng hơn, “Tam cấp Thành” này, quá nổi tiếng ở châu Âu nhờ cuốn “Anticipations” của Wells ban cho vị trí lỗ rốn trong nước Trung Hoa. Và với tám triệu (không có bằng cớ) cư dân, ba thành phố này, dù muốn hay không cũng đều là những địa phương cần phải tính đến trong nền chính trị Trung Quốc. Vả lại, cuộc nổi loạn này thì thuộc loại “quân sự” với súng máy và đại bác… Còn nghiêm trọng hơn câu nói lịch sử trước đó nhiều: Đây là một cuộc cách mạng!
Nhưng không thể nào có “cách mạng” ở Trung Quốc được. Ngay cả một cuộc nổi dậy cũng chỉ mới được gọi là có thể! Tuy vậy tôi phải nói chuyện này với René Leys. Chàng là người duy nhất có thể cho tôi biết tầm quan trọng của biến cố “nổi dậy” đó. Chàng cũng là người liên can trực tiếp nếu người ta tấn công vào những triều thần của Đế chế. Vì xét cho cùng, như là thủ trưởng Mật Vụ và Người Tình của Hoàng hậu, chỉ mình chàng – tôi sẽ nói với chàng – phải trả giá đắt gấp đôi, thậm chí gấp mười lần nếu sự trả thù xảy ra.
Tôi không hỏi chàng gì cả, tôi muốn chờ đúng dịp khi chàng có mặt để nghe ý kiến của chàng về chuyện trên. Và chàng đến gặp tôi một cách cực kỳ bí ẩn. Chàng tỏ ra rất ít quan tâm đến một ngày tháng châu Âu nào đó – ngày 11 tháng 10 năm 1911 là ngày sinh nhật tôi chẳng hạn, hình như vậy, và là ngày lễ thánh năm thứ ba mươi lăm của tôi – hơn là việc tổ chức liên hoan mừng nó theo kiểu Trung Hoa: chàng khẳng định dành cho tôi “buổi trình diễn” không phải ở rạp hát mà là ở nhà tôi. Chàng tỏ ra vui sướng với ý định của mình. Chàng hứa với tôi là sẽ có những diễn viên hàng đầu, được trả công cao nhất. Chàng cho tôi biết tên vở tuồng: “Cuộc gặp gỡ trong ruộng dâu”. Chàng đã trả tiền cho đám gia nhân của tôi để họ dựng lên một bệ cao dựa vào bức tường phía tây của sân trong nhà tôi. Rồi chàng đi ra ngoài, khuôn mặt hớn hở một cách thành thật mà từ lâu lắm rồi tôi không thấy chàng biểu lộ.
Hai giờ sau, chàng trở về, đi sau một nhóm tứ tấu gồm một đàn nhị, bộ phách, rồi chiêng, Hoàng đế của cả ban nhạc, và một thứ kèn có âm trầm thường dùng để báo hiệu là các Hoàng thân đang bước vào sảnh. Cuối cùng là chính chàng, đi cùng với các bạn “của mình”.
Tôi thấy vui gặp lại họ. “Đại Kính Tử” và “Tiểu Điệt”, cháu thứ mấy của ông Thân Vương nào đó… Nhưng tất cả đám người này đã biến mất vào trong nhà chái mà tôi thường dùng làm kho chứa các bộ yên ngựa. Một lát sau, ban nhạc ngồi ở cuối sân khấu bắt đầu so dây, chỉnh âm trong tiếng ầm ĩ lạc điệu. Rồi bất ngờ trước mặt tôi, khán giả độc nhất, cuộc biểu diễn bắt đầu! Điều đó coi như là… A, lần này tôi biết rõ điều đó coi như là gì: gánh hát của René Leys và các bạn chàng… Một tổ chức mật vụ mới, chắc là thế… Họ trình diễn, họ múa xoay người trên mũi chân, họ thủ vai một cách chính xác, chuyên nghiệp. Đây nữa, vẫn là những cuộc tỉ thí – bắt buộc đấy – những khúc mở màn, rồi tái đấu, rồi lầm lẫn, nhưng vẫn giữ theo nguyên tắc. Nhờ thụ giáo tốt trước đây, tôi biết rất chính xác khi nào thì nên vỗ tay tán thưởng; – và từ cuống họng tôi phát ra mạnh mẽ và đúng lúc, tiếng “haaảo a!” thay cho tất cả những tiếng vỗ tay om sòm kiểu Paris hay tất cả những tiếng huýt gió chói tai kiểu Mỹ!
René Leys quả thật là dễ mến khi cho tôi xem tuồng tại nhà như thế. Thế thì tôi dại gì mà đắn đo với những tiếng “haaảo a!” của mình. Chàng chỉ cho tôi một người trong bọn họ, người bạn diễn mà giọng nói bị khàn lắm rồi:
– Đúng vậy! chính là người được trả tiền cao nhất đó, vì giọng của anh ta sẽ mau đứt thôi!
Khi chàng đến lại bên cạnh tôi – khiêm tốn, mặt đã lau sạch phấn sáp, mồ hôi còn rịn đôi chút, nhưng hãnh diện và thỏa mãn – tôi biết việc trước tiên là tôi phải khen ngợi chàng… nhưng cũng có cái gì đó đã làm tôi phật lòng, làm tôi bối rối… tại sao phài giấu chàng điều mà tôi đang nghĩ chứ? Thế là tôi nói ra: trong sự trình diễn của chàng có chút gì đó của một diễn viên xoàng nhưng hợm hĩnh, có chút gì đó là nhảm nhí – nhất là ở Trung Quốc – làm tôi thấy khó chịu.
Chàng trả lời, cực kỳ tự tin:
– Ông biết đấy, chính là vì Nàng mê tuồng hết cỡ nói! Nàng bắt tôi hứa sẽ sắm vai này. Ông nói là tôi diễn hay trước ông – a, đó là tất cả những gì tôi muốn nghe đấy. Nhưng tôi phải diễn trước Nàng,… vào ngày kia.
Nàng à? Và tôi lặp lại rất to, vô ý tứ:
– Trước Nàng,… Nàng nào? Trước ai đây?
René Leys không tỏ ra do dự chút nào.
– Trước “Nàng thứ nhất” của tôi. Nàng “kia” thì không thể yêu cầu gì cả.
Chàng trai trẻ này hạnh phúc và đắc thắng làm sao, khi đánh số tình yêu của mình như thế! Cầu cho chế độ đa thê thống trị lâu dài giữa những viên chức thánh thiện nhất của Quốc gia! Tôi hẳn là không thể hình dung ra là Nàng, với các yếu tố đế chế của mình, bị hạ xuống chỉ còn là con số số học. Thế nhưng, René Leys có lý. Vì sự đúng mực, nàng tì thiếp được ban tặng, được chấp nhận, được chiếm hữu, được “khai bảo” đó vẫn là con số hai được ghi theo cột trong hệ thống kế toán mới này.
Tuy nhiên, một cách đứng đắn, tôi muốn chỉ trích chàng, hạ chàng xuống cùng một mẫu số chung, cùng các thừa số chung, nhưng… cách mạng! Trong Hoàng Cung, người ta nói gì về những chuyện xảy ra hiện nay – trong những ngày mà chúng ta sống đây, ở Tam cấp Thành Vũ Xương, Hán Dương và Hán Khẩu?
Nhưng chàng bỏ đi, chân bước nhẹ nhàng, sau khi hạ màn buổi diễn. (Một cử chỉ không thể dịch ra trong ngôn ngữ sân khấu Trung Hoa!) Chàng rất ý thức về việc đã sắm rất tốt “vai diễn của mình trước tôi”. Chàng sẽ an tâm diễn kịch cho Nàng mà không thấy sợ, từ nay về sau. Chàng bỏ đi, bước chân nghe như mãn nguyện.
Tất cả những gì còn lại là cuộc nổi dậy bên sông Dương Tử. Diễn ra cách đây chính xác là một ngàn cây số, ở miền Nam, cuộc nổi dậy ở cũng hơi xa đấy. Và nhìn từ đây, tức từ giữa sân trong nhà tôi, cùng với những phong cách kịch nghệ thanh lịch, thì cũng hơi… tỉnh lẻ.
(Trích từ trang 235 đến 240)
____________
(Chủ thích của người dịch)
[1] Thành Bắc Kinh được làm mới, mở rộng thêm từ khi Hoàng đế Vĩnh Lạc nhà Minh (tức Minh Thành tổ, ở ngôi 1403-1424) cho dời đô từ Nam Kinh (Kim Lăng) lên. Khi người Mãn Châu chinh phục được Trung Hoa, lập nên triều Thanh (1664-1911), họ cũng chọn nơi này làm kinh đô và không thay đổi gì nhiều về mặt kiến trúc. Nhưng họ dồn người tộc Hán mà họ cai trị ra ở Ngoại Thành (nên khu thành này được người phương Tây quen gọi là “Chinese City” hay “Ville chinoise”), và chỉ để cho người Mãn Châu và đồng minh tin cậy của họ là người Mông Cổ (Tatar, tức Thát Đát) ở trong Nội Thành (mà người phương Tây gọi là “Tatar hay Manchu City”, hay “Ville tartare hay mandchoue”).
Thành cổ Bắc Kinh, vào thời điểm của truyện này (1911, năm cuối cùng của Thanh triều), vẫn giữ diện mạo như xưa, vẫn được phân thành bốn vòng thành, kể từ trong ra ngoài:
1.Cung Thành hay Hoàng Cung, tức Tử Cấm Thành. (Tử là màu tía, vì các bức tường cao sơn màu tía bao quanh cấm thành), do Nguyễn An, (1381-1453), một nhà kiến trúc người Việt bị nhà Minh bắt về Trung Hoa và bị thiến thành hoạn quan, vẽ kiểu và chỉ huy công trình xây cất. Nó có hình chữ nhật, rộng 72 ha, 980 cung và 8707 gian phòng. Còn gọi là Đại Nội hay Nội Cung. Ngày nay gọi là Cố cung.
2. Hoàng Thành, gọi là “hoàng” vì mái các cung điện được lợp bằng ngói lưu li màu vàng, màu chỉ dành cho nhà vua, bao bọc xung quanh Tử Cấm Thành.
3. Nội Thành, hình vuông, mỗi chiều dài khoảng 6 cây số, nằm bao quanh Hoàng thành. Vào gần cuối thế kỷ 19, nhờ vũ lực, các cường quốc phương Tây (và Nhật Bản sau đó) đã thiết lập được “Khu Công sứ quán” ở phía Đông Nam và để cho kiều dân mình đến sinh sống ở đó.
4. Ngoại Thành, nằm ở phía Nam Nội Thành, có hình chữ nhật, dài 8, ngang 3 cây số. Ở đây có Thiên Đàn và đàn Tiên Nông nằm gần nhau.
2. Hoàng đế Quang Tự, tên là Tái Điềm, lên ngôi năm 1875 khi mới bốn tuổi, dưới sự nhiếp chính của Thái Hậu Từ Hi. Sau cuộc cải cách chính trị “Bách nhật Duy tân” (hay “Chính biến Mậu Tuất”, 1898) thất bại, ông bị Từ Hi hạ ngục cho đến khi chết (1908).
3.Ngày trước, tên thật của bất cứ nhà vua nào đều không được nói (hay viết) ra, nếu có là “phạm húy”, một tội nặng.
4 .Nguyên văn: Rue des Légations, là phố tập trung các sứ bộ ngoại giao nước ngoài, nằm trong khu thành Thát Đát, về phía đông nam Tử Cấm Thành. Nó được hưởng qui chế đặc biệt là trị ngoại pháp quyền (exterritorialité). Đây là nơi tập trung nhiều người nước ngoài. Kiến trúc và tiện nghi theo kiểu phương Tây.
5. Có lẽ tác giả muốn nói đến “yêm cát thư” (giấy chứng nhận đã bị thiến) mà các người muốn làm thái giám phải trình ra khi xin việc.
6. Tức Thái hậu Từ Hi (1835-1908), xuất thân là một phi tần của vua Hàm Phong (trị vì 1851-61), được lên làm hoàng hậu nhờ sinh con trai. Sau khi Hàm Phong qua đời, bà trở thành thái hậu vì con trai là vua Đồng Trị nối ngôi mới có sáu tuổi. Bà “thùy liêm thính chính” (rủ màn nghe việc nước), tức là ngồi sau rèm khi họp triều để nghe các quan báo cáo, bàn cãi và quyết định các việc chính trị. Và với danh nghĩa nhiếp chính này, bà một mình thống trị Trung Quốc suốt 48 năm đầy biến động và loạn lạc, qua hai đời vua Đồng Trị và Quang Tự, cho đến khi chết lúc 73 tuổi, chỉ 5 năm trước khi Thanh triều cáo chung.
7. Tiếng tôn xưng Từ Hi khi bà về già.
8. Người Trung Quốc ngày trước thường nhìn người nước ngoài như “man di mọi rợ”. Người da trắng thì bị gọi là “bạch quỉ”, “ngoại di”, “ngoại quỉ”, “rợ” (barbare)…
9. Paul Féval (1816-87), nhà văn Pháp chuyên viết truyện kiếm hiệp hay truyện lâm ly thống thiết đăng dần từng kỳ trên báo.
10 Đây là màn mở đầu cuộc Cách mạng Tân Hợi,1911 (gọi là “Song Thập”, tức ngày 10 tháng 10 năm 1911)…
11 .Vũ Xương (Wuchang), Hán Dương (Hanyang) và Hán Khẩu (Hankou) là ba thành phố nằm sát nhau, bên sông Dương Tử, ngay giữa nước Trung Hoa; cả ba sau này hợp thành đại đô thị Vũ Hán (Wuhan).
12. Herbert George Wells (1866-1946), nhà văn người Anh, được mệnh danh là một trong những “cha đẻ của khoa học viễn tưởng”. “Anticipations” (Những sự dự đoán) là tên gọi tắt của một tác phẩm của ông, được bán chạy khi ra đời năm 1901, dự đoán những tiến bô khoa học, kỹ thuật… của thế giới vào năm 2000.
13. Tác giả nhắc đến câu nói nổi tiếng trong cuộc Đại Cách mạng Pháp 1789. Sau khi nhà ngục Bastille (Paris) bị dân chúng tràn vào phá bỏ (ngày 14-7-1789, sau này thành ngày quốc khánh Pháp), vua Louis thứ 16 đang trị vì hỏi: “Đó là một cuộc nổi loạn hay sao?” và Công tước De la Rochefoucault-Liancourt trả lời: “Tâu Bệ hạ, không đâu, đó là một cuộc cách mạng.” Ba năm rưỡi sau, ông vua này bị đưa lên đoạn đầu đài.
14.“Cuộc gặp gỡ trong ruộng dâu” là một vở tuồng nổi tiếng trong kịch mục đời nhà Nguyên, kể chuyện một người chồng trở về nhà với vợ sau hai mươi năm xa cách, nhưng muốn thử lòng chung thủy của nàng bằng cách không cho nàng biết mình là ai.
15.Nguyên văn “K’ai-paolée” (kai bao, tức khai bảo), có nghĩa mở tã lót, tã bọc (của cô gái còn trinh).
Mùa vọng
Posted in Thơ ca, tagged Hồ Ngạc Ngữ on Tháng Mười Hai 25, 2011| 25 Comments »
Hồ Ngạc Ngữ
Đêm nay trong vườn tôi
Cơn rét mùa Đông vừa trở lại
Bầu trời cao hơn trên những vòm cây
Những vì sao như những bông hoa
Không bao giờ kết trái
o
Em sẽ hiểu vì sao
Đời sống tôi đang thu kín lại
Trong những dòng thơ lặng lẽ này
Như đêm nhốt kín cây
Chỉ còn nghe tiếng thì thầm của gió
o
Em sẽ hiểu vì sao
Tôi yêu em
Như người nữ tu dâng hết tuổi thanh xuân mình cho Chúa
Dâng cuộc đời mình
Trong mùa Vọng xa xôi…
o
Tôi đang sống bên một ngôi giáo đường
Nghe thời gian theo từng hồi chuông đổ
Thành phố chúng ta bây giờ
Lạc mất tiếng chuông xưa
Tôi lắng nghe trở lại
Tiếng chuông tình yêu ngân vang tự lòng mình
Em sẽ hiểu vì sao
Tình yêu mạnh hơn sự chết
o
Nguyện trời hãy đổ sương xuống
Mãi mãi tình yêu vẫn là điều kỳ diệu
Như ánh trăng trong vườn
Tỏa sáng đêm
o
Tôi chờ đợi không tuyệt vọng
Mùa phục sinh của con người
Hát lại khúc ca nguyện hiến dâng đời sống
Bởi vì tình yêu đang cứu rỗi
Trong mỗi tâm hồn chúng ta
Chúc mừng Gíang sinh
Posted in Uncategorized on Tháng Mười Hai 24, 2011| 55 Comments »
Hôm nay là Giáng Sinh, xin kính chúc quý độc giả ,quý thân hữu một mùa Giáng Sinh thật an lành, thật vui vẻ và hạnh phúc trọn vẹn bên gia đình và người thân
.
Xunau.org
Thời gian
Posted in Văn xuôi, tagged Ban Mai, Kieron Williamson on Tháng Mười Hai 24, 2011| 21 Comments »
BAN MAI
Một lần anh hỏi Ước mơ của tôi là gì? Tôi chợt nhớ đến mùa hè xa…
Năm 1980, chị em tôi tíu tít khi ông Chín từ Sài Gòn về Quy Nhơn. Chúng tôi thích thú, cái gì ông cũng biết, đêm nào chúng tôi cũng cùng ông ra bờ biển hóng gió và chơi nhảy sóng. Nhìn trời đêm lấp lánh, ông dạy cho chúng tôi cách nhận ra những chòm sao. Nào là chòm sao Lạp Hộ dễ nhận thấy nhất trên bầu trời. Trong thần thoại Hy Lạp, Lạp Hộ là người khổng lồ cầm quả chùy thần. Còn đây là chòm sao Nhân Mã tốt bụng sáng rực rỡ phương Nam. Tôi nhìn theo tay ông chỉ mà không thể phân biệt được chòm sao nào với chòm sao nào. Ông còn tập chúng tôi truyền tin bằng tín hiệu Morse và Semaphore, tín hiệu thường liên lạc giữa các tàu trên đại dương. Ước mơ của cháu là gì? Ông hỏi. Thời gian đó, tôi đang nghiền ngẫm tủ sách Học làm người của Nguyễn Hiến Lê và say mê những tác phẩm kể về cuộc đời của các vĩ nhân. Tôi đọc hết những gì tôi bắt gặp trong tủ sách. Công thần Nguyễn Trãi nước Việt, tể tướng Ngũ Tử Tư nước Tàu, thủ tướng Ấn Độ Gandhi, tổng thống nước Mỹ Roosevelt, nữ bác học Marie Curie… Tôi thường mơ về họ. Nên khi ông hỏi, tôi nói không suy nghĩ: Cháu sẽ bay vào vũ trụ khám phá các vì sao. Ông bật cười sang sảng, tiếng cười ông ngân vang, òa vỡ trên từng lớp sóng. Sóng uốn đến tận giải ngân hà.
Một buổi tối, chúng tôi thấy ba mẹ căng thẳng, mẹ tấm tức khóc – ông Chín mất rồi, sau chuyến vượt biển. Chị em tôi bàng hoàng. Mấy đêm liền tôi không ngủ, tôi lên sân thượng nhìn trời đêm lấp lánh, tôi nhớ đến những chòm sao của ông ngày trước. Đây là sao Oméga trong chòm sao Nhân Mã, cụm sao già sáng nhất trên trời. Ước mơ của cháu là gì? Cháu sẽ là nữ phi hành gia đầu tiên bay vào vũ trụ. Đó là ước mơ can đảm nhất mà ông từng nghe. Ước mơ của tôi vỡ tan sau tiếng cười của ông ngày ấy.
Giờ đây, tôi chỉ mơ ước làm một con người bình dị trên trái đất này, sống hết mình với cuộc đời để đi trọn một kiếp người. Điều mơ ước nhỏ nhoi ấy, liệu tôi có thực hiện được không? Anh và tôi, những ngã rẻ của cuộc đời.
Có lần tôi nghe tiếng anh gọi, tôi chạy tìm nhưng không thấy đường đi, một bức tường nước thẳng đứng chắn lối qua sông. Người ta nói, tôi phải lên tầng tháp bên sông cầu nguyện, ở đó sẽ có câu trả lời. Tôi chạy lên thang gác lên những tầng tháp, nhìn vào đâu cũng bắt gặp những căn phòng trống, không bóng dáng, không gương mặt, không một nét người. Tôi chạy và chạy, tôi dừng chân khi chạm một căn phòng lạ. Giữa phòng là một hồ nước, trôi bềnh bồng hai chiếc giường tre, xung quanh hoa sứ trắng bập bềnh, hai đôi nam nữ đang nằm ngủ yên trên hai chiếc chõng tre ấy, gương mặt bình thản, thiên thần. Tôi thành tâm cầu nguyện và chạy xuống thang gác, đã gần hết giờ qua sông, bức tường nước đã biến mất, người lái đò đang đợi tôi. Tôi cặp bến và thấy mình đứng trên bến xe, ba và một người chị của tôi đang mong ngóng, tiếng ba nói, trễ giờ rồi con, mau lên đi.
Tam Đảo, 7g30 sáng.
Tôi choàng tỉnh, trễ rồi Tâm ơi, tôi hét lên khi nhìn đồng hồ. 8g phải có mặt tại hội trường. Cả hai cuống quýt mặc quần áo, và chạy lên tầng 3 vào phòng ăn sáng. Cả đoàn bật cười khi thấy chúng tôi vào. Đêm đầu tiên, cả đoàn hốt hoảng khi nghe tiếng Tâm thét trong hành lang, điện khách sạn bị cúp, ngọn nến leo lét trên vách tường, Tâm run rẩy khi thấy một bóng đen bên ngoài khung cửa. Khách sạn dựa lưng vào vách núi, trong khuôn viên của một giáo đường. Tôi liên tưởng đến truyện đường rừng, những thước phim kinh dị, đêm đen lạnh với gió hú trong những vòm cây. Giấc ngủ chập chờn, tôi thấy bóng các giáo sĩ lướt qua dãy hành lang dài hun hút.
Dự án về môi trường làm việc và thảo luận trong các buổi sáng, giấc chiều chúng tôi được tự do. Những buổi chiều, nắng trên từng con dốc nhỏ. Tôi lang thang trên những con đường vắng, quanh co. Không khí mát lạnh và ngập đầy hương rừng. Tôi dừng lại một quán ven đường, người ta bán sáp mật ong ngâm rượu, chuối rừng ngâm rượu, vài túi thổ cẩm. Ở đây có một giáo đường Pháp xây dựng từ đầu thế kỷ và hàng trăm ngôi biệt thư bằng đá nhưng đã bị Việt Minh phá hủy trong trận Vĩnh Yên. Một ông già người bản địa nói. Trời ơi, tiếc ơi là tiếc, tôi than. Ước gì còn những ngôi biệt thự này thì đẹp biết bao. Dấu tích còn sót lại mà thỉnh thoảng tôi nhìn thấy là những bức tường đỗ nát đầy rêu phong, cỏ mọc ngút ngàn. Chung quanh tôi bạt ngàn lá rừng và hoa dại mọc dầy trên các vách. Những khách sạn mới được xây chen chúc dựa lưng vào núi, đủ phong cách không ai chịu nhường ai. Khách sạn Thế giới xanh diêm dúa bên cạnh Nhà nghỉ Bộ Kế hoạch-Tài chính thô sơ, khách sạn Star tân thời bên cạnh Nhà nghỉ Văn phòng Chính phủ lạc hậu, khách sạn Hoa Hồng xuống cấp, khách sạn Hương Rừng quyến rũ, cảnh vật bị phá hủy vì những kiểu kiến trúc thiếu thẩm mỹ, phô trương. Từ cửa sổ phòng mình, nhìn toàn cảnh Tam Đảo, tôi thích thú khi phát hiện một ngôi biệt thự màu trắng đã cũ nằm ẩn mình thật xa trên núi cao, có lẽ từ thời Tây. Tôi phấn khích rủ Tâm hôm nào được nghỉ sớm, mình lên trên ấy. Tâm la, Mai leo tuốt trên đó, chắc khuya mình mới về, nhìn vậy nhưng xa lắm. Sương mù dày đặc không thấy đường đâu, nhưng hấp dẫn quá…Tôi nói.
Cơm chiều xong đã 7g tối, tôi và Tâm – cô bạn cùng phòng dân miền Tây – đi dạo trên con dốc vắng. Đêm sáng lạnh vì ánh trăng non, chúng tôi ngồi uống cà phê bên dòng suối dưới con dốc ven đường. Quán cà phê Internet đường truyền chập chờn, làm khách nước ngoài chán ngán bỏ về. Cà phê miền Bắc quá tệ, không thể tìm đâu ra được hương vị thơm nồng, đậm đặc, dẻo ngọt như cà phê Pleiku, tôi vừa uống ở quán Tân Tây Nguyên hai tuần trước. Pleiku mưa tuôn xối xả, ngồi trên chòi cao, gió tạt ướt cả áo, cả nhóm vừa uống vừa run vì lạnh. Nhưng thỏa mãn vì cà phê quá ngon không uổng công cả bọn cuốc bộ mấy cây số, cũng đường đèo dốc như Tam Đảo.
Đêm khuya, không khí và khung cảnh nơi này thật huyền ảo. Gần đến rằm Vu Lan tháng 7, trăng giát vàng lóng lánh mặt suối. Tôi ước gì anh có mặt ở đây, anh sẽ yêu tiếng suối đang róc rách chảy, âm thanh vỡ òa của nước tuôn giữa các khe đá trong đêm vắng nghe như tiếng hát.
Côn Sơn có suối, tiếng nước chảy rì rầm, ta coi làm đàn cầm…Côn Sơn của Nguyễn Trãi cách đây hơn 500 năm và Tam Đảo thế kỷ 21 có khác gì nhau đâu, thiên nhiên muôn đời vẫn vậy. Còn tôi và anh có vậy không?
Ngày anh trở về chịu tang cha, tôi không hề hay biết. “Mẹ ơi, có chú nào đó đến tìm mẹ ở nhà ngoại”. Tôi lặng người khi nhìn thấy anh ngồi bên cạnh mẹ tôi trong im lặng. Một cảm giác choáng ngộp bao phủ lấy hồn tôi, tôi gần như ngã quỵ chỉ lí nhí “xin lỗi” rồi chạy vào nhà sau, úp mặt vào làn nước cố trấn tĩnh tâm hồn mình nhưng nước mắt cứ trào rơi. Anh về rồi đó sao, đã bao nhiêu đêm tôi mơ về điều ấy… Ngày anh vượt biển, tôi 18 tuổi, tình cảm học trò chưa từng một lần dám nói tiếng yêu thương, chưa từng chạm khẽ tay nhau, có chăng là những ánh mắt. Vì anh tôi khước từ tất cả, những năm học đại học là những năm đợi chờ, những lá thư của anh là niềm hạnh phúc trong tôi. Rồi một ngày, anh viết: “Đừng bao giờ nghĩ đến chuyện vượt biển đó là điều nguy hiểm, hãy quên anh đi”. Ngày ấy, tôi tuổi hai mươi. Lúc đó, tôi vẫn còn là một cô bé đầy kiêu hãnh. Lòng tự trọng bị tổn thương. Tôi cứ nghĩ rằng anh đã có bạn mới nên không muốn gặp mình…. Sau tang cha, anh ở lại một tháng. Tôi không dám một mình đến thăm. Lần lữa mãi cho đến ngày cuối cùng, tôi điện thoại, hẹn ngày mai sẽ đến…. Tôi đứng lặng bên cánh cổng đã khép, giờ này cả nhà anh đang ở phi trường. Tôi đã đến trễ hay cố tình đến trễ? Tôi đẩy cửa bước vào khu vườn, đứng chôn chân trên bậc thềm phòng anh. Cửa đã khóa. Tôi dựa lưng vào khóm trúc, có còn ai nữa không, còn ai nữa không? Cũng trong căn phòng này, ngày xưa tôi thường đến mượn sách, chúng tôi thường nói chuyện trên trời dưới nước, không đâu vào đâu. Sau ngày anh ra đi, những lúc buồn, tôi thường đến thăm cha anh, và xin ông cho tôi ngồi im lặng trong căn phòng này. Một chái hiên nhỏ, phía trước có mấy khóm trúc và lan.
Tôi biết anh đau khổ khi trở về chịu tang cha và người mình yêu không đến gặp. Và tôi cũng biết vì sao mình không thể gặp riêng anh. Ngày cũ đã thật xa.
Sáng nay, cả đoàn dậy thật sớm để đi leo núi, lên trên đỉnh Tháp truyền hình và đi Thác Bạc. 7g sáng nắng vàng trải thảm lên những con đường nhỏ, trời thật mát. Minh chụp cho chúng tôi mấy tấm hình thật đẹp bên những con dốc. Không khí thật trong lành. Tâm bỗng la lên: “Nhìn kìa Mai ơi, hoa gì mà lạ quá vậy?”. Một vạt đồi sáng rực dưới nắng mai, bởi những màu trắng, đỏ chen chúc. “Bác ơi, hoa gì vậy bác?”. Tôi hỏi một người đàn bà địa phương đang nhặt ngọn susu cho vào mẹt thúng ven đường – món rau thôn quê của Tam Đảo – bà dừng tay, trả lời: “Đó là hoa phù dung. Khi mới nở hoa màu trắng tinh sau một thời gian hoa chuyển sang màu hồng, và khi tàn nó trở thành màu đỏ tươi như máu”. Cuộc đời của loài hoa này, sao giống cuộc đời con người quá vậy, tôi nghĩ. Khi vừa ra đời con người thật trinh trắng, trải qua bao đổi thay, tâm hồn họ cũng bao biến đổi, đến lúc sắp lìa xa cõi đời, con người vẫn còn cố gắng để lại trên đời giọt máu của thân phận mình, chứng tích của một lần có mặt trên thế gian. Số kiếp con người như một loài hoa, dù mong manh nhưng con người vẫn quả quyết không khuất phục tạo hóa.
Tôi nhát gan, cái gì cũng sợ. Tôi sợ rắn, sợ vắt và sợ đủ thứ những con côn trùng có thể bám vào cơ thể mình, nên vào rừng tôi che chắn cẩn thận. Mới một phần ba đoạn đường tôi bắt đầu vứt bỏ khăn choàng, áo khoác, mồ hôi tôi túa đầm đìa. Trên núi cây rừng giăng kín và sương phủ mờ, tôi vẫn thấy cơ thể nóng bức, mặc dù bên ngoài hơi sương thấm ướt. Những chú bướm trắng đu mình từng lớp trên những nhánh lá. Tại sao nhiều con nằm chồng lên nhau trên một búp lá như vậy, nó không bay lượn như dưới đồng bằng. Ủ ấm chăng? Hay là mùa giao phối. Tôi thắc mắc. Tôi gặp một nhóm nhà sinh vật học người Tân Tây Lan đang dùng vợt bắt côn trùng. Và suýt bật cười khi thấy ba ông cán bộ bụng to thở dốc, bên cạnh là một người địa phương quang gánh ba lô và thức ăn cho họ, có lẽ dân “Gà Công nghiệp”. Đi một hồi, nhìn quanh không còn ai, tôi và Tâm ngồi nghỉ trên đường ống dây điện cáp quang. Phía trên chắc Ban tổ chức đã lên đến đỉnh, có lẽ mình là người cuối cùng. Ồ không, Tâm mừng quá reo lên dưới mình còn có người nữa Mai ơi. Tôi nhìn xuống nhóm đại học Cần Thơ đang cố bò lên. Nhiều người liếng thoắng: Tụi em lạc đường, phải rẽ qua đền Mẫu thờ Bà Chúa Ngàn. Rằm tháng 7 mà chị, dân dưới núi leo lên đi lễ đông ơi là đông. Tụi em được phát “oản” đây nè. Đây là lần đầu tiên tôi thấy bánh “oản” miền Bắc. Lộc ở chùa phát cho các tín lễ. Ừ hôm nay là 14, lễ Vu Lan, ngày Ngưu Lang – Chức Nữ gặp nhau. Không biết trên Tam Đảo này có cầu Ô Thước cho hai kẻ yêu nhau tìm gặp.
… Mai cổ điển quá đi, cô bạn học ngày xưa của tôi cười ngất, tôi cảm thấy bối rối. Bây giờ làm gì có cầu Ô Thước cho hai kẻ yêu nhau tìm gặp. Ngày xưa Ngưu Lang-Chức Nữ yêu nhau say đắm, mỏi mòn chờ đợi đến rằm tháng 7 mới được gặp nhau. Ngày nay hai kẻ yêu nhau ở hai đầu trái đất, chỉ cần một giây bấm máy điện thoại là có thể nói chuyện bất tật. Cuộc sống là một vòng xoay chuyển động không ngừng, H mới từ Cali về, hai đứa ngồi cả buổi nói chuyện tào lao. Tình yêu bây giờ không còn lãng mạn như ngày xưa nữa, H không thấy văn chương Việt Nam đầy dẫy những cảnh sex rẻ tiền đó sao. Vấn đề sex. Trên mạng người ta vứt bộ phận sinh dục nam, nữ vào mặt độc giả chan chát, đọc vào mình thật sự không tin nổi. Tiếng Việt tinh tế, trong sáng của mình đi đâu rồi? Hồ Xuân Hương ngày xưa vẫn viết về sex nhưng mình thấy thanh không tục. Quan niệm của H thì sao? H nghĩ trong văn chương càng có nhiều giọng văn càng phong phú. Mình đồng ý điều ấy, nhưng có cần phải đầy nhục cảm thô thiển như vậy không. Cái quan trọng là nhà văn phải viết về vấn đề ấy cho tới và có nghệ thuật để người đọc không cảm thấy tầm thường và dung tục. Rừng Nauy của Murakami Haruki cũng sex dữ dội, nhưng đọc mình thấy hay và tức cười nữa, vì Haruki dẫn dắt diễn biến câu chuyện hợp lý người đọc không thấy bị ngượng ngùng trước những cảnh sex rất tự nhiên.
Còn quan niệm tình dục ở bên ngoài thì sao? có còn người con gái hiện đại nào suốt đời chỉ quan hệ một người đàn ông? Và sự chung thủy. H nghĩ ở bên ngoài tụi mình quan niệm tình dục tự do và thoáng hơn. Chuyện tình cảm gắn với tình dục bao giờ cũng rắc rối, chỉ cần đừng làm cho người khác đau khổ là không vấn đề gì. Ngoài những quan hệ gây đau khổ cho người khác, thì H nghĩ đó là tự do của họ, và nhiều khi như thế càng tốt đẹp hơn cho cuộc đời. Tôi ngạc nhiên, thích là quan hệ sao, dù đã có gia đình? Cũng còn tùy. Có người dễ dàng ngủ hết người này đến người khác, có người cũng không dễ dàng như vậy đâu. Họ rất coi trọng gia đình. Dân da trắng cũng vậy, cũng tùy người. H cũng đã từng nghĩ mình có khả năng tách quan hệ tình cảm ra khỏi quan hệ thể xác nhưng sau mình biết là mình không có khả năng đó. Thấy người khác hấp dẫn mà người đó không phải là chồng hay vợ của mình là chuyện thường tình, rất con người. Nếu mình không có như thế thì một là mình quá đè nén, hai là mình không thành thật với chính mình.
Tôi im lặng. Tôi hiểu những điều H nói, và dù sao tôi cũng là một phụ nữ Việt, mà người phụ nữ Việt thường luôn đè nén cảm xúc.
Tình yêu, tôi biết không phải bao giờ cũng trường tồn mãi mãi, đó chỉ là lý thuyết, nó biến chuyển, thay đổi cung bậc theo thời gian, theo nhận thức của con người trong từng năm tháng. Tùy thuộc rất nhiều vào cách ứng xử của người bạn đời. Tình yêu như mầm cây, người làm vườn phải biết cách chăm sóc, nếu không mầm cây sẽ chết.
Còn tình dục thì sao? Với tôi, tình dục là vấn đề hết sức thiêng liêng. Nó không thể nào là vì bản năng chỉ để thỏa mãn thể xác, và nó cũng không thể xảy ra dễ dàng cho bất cứ một ai. Giữ mình là ý thức tự trọng phải có của một người con gái. Tình dục là nghi lễ của tình yêu và nó chỉ được xảy ra khi hai tâm hồn cùng hòa một nhip. Tôi chắc là H cũng chưa thể hiểu mình. Dĩ nhiên, tình yêu và tình dục là một không thể tách rời. Khi yêu nhau người ta khao khát nhau, nhưng cuộc đời không bao giờ như mình suy nghĩ.
…Một ngàn năm trăm ba mươi bảy bậc, tôi và Tâm nhẩm tính, vậy là đã đến đích. Thật sảng khoái.
Trời mù sương không thể nhìn thấy gì ở phía dưới, chỉ là mây và mây. Mây bồng bềnh khắp chốn. Tôi như người trong mơ. Thời gian nơi đây như ngưng đọng. Có phải tôi đang trở về thời thiên cổ và chợt hiểu vì sao nửa thế kỷ trước Đoàn Phú Tứ đã mượn màu thời gian và hương thời gian để tâm tình với người xưa: …Ngàn xưa không lạnh nữa Tần Phi, ta lặng dâng nàng, trời mây phảng phất nhuốm thời gian…
Chuyến tập huấn của tôi ngày mai kết thúc. Nhưng tôi sẽ nhớ mãi cảm giác bềnh bồng khi đứng trên những tầng mây. Có một ai đó đã nói, khi bạn bước ra ngoài vũ trụ, nhìn lại quả đất bạn sẽ thấy trái đất mình nhỏ bé vô cùng. Nhân loại như một ngôi nhà chung mà biên giới giữa các quốc gia không còn ý nghĩa nữa. Tôi và anh, những người cùng thế hệ tứ tán khắp phương trời, thất lạc nhau trong cuộc bể dâu, điều gì đã xảy ra… Đồng hồ của chúng ta cũng đã quá trưa, chẳng còn bao lâu nữa tất cả rồi cũng sẽ chìm trôi.
Màu thời gian không xanh, màu thời gian tím ngát, hương thời gian không nồng, hương thời gian thanh thanh… Tôi ngước mắt lên ngắm nhìn những lượn mây trắng xóa uốn ngang đầu mình. Lớp sóng thời gian kết bằng mây chẳng khác những lượn triều./.
1/2010
Lên Ngôi
Posted in Thơ ca, tagged Paul Gallico, Tình Nghệ Sỹ, Văn Công Mỹ on Tháng Mười Hai 24, 2011| 80 Comments »
| Văn Công Mỹ | |
|
(Nhớ “ Tình Nghệ Sỹ” của Paul Gallico) Hãy một lần lầm lỡ Vết thương dù ứa máu Thiên đàng hay địa ngục Hiện tiền anh thú dữ Nghe lời kinh muốn khóc |
|
Người không chiêm bao
Posted in Văn xuôi, tagged Nhật Chiêu on Tháng Mười Hai 23, 2011| 39 Comments »
1.
Tinh mơ.
Trong khi người không chiêm bao còn say ngủ, nàng lặng lẽ rời khách sạn, mang theo máy ảnh và đi ra Hồ.
Hồ. Trong thơ xưa, nó được xưng tụng là gì nhỉ? Nàng Tây Thi. Bây giờ Hồ đang nằm duỗi mình trong sương mù, mượt mà, long lanh và hư ảo. Xứng danh người đẹp.
Bây giờ vẫn còn chưa trang điểm, nàng và Hồ.
2.
Trời còn lạnh.
Hồ đẹp đến nỗi tôi xấu hổ mình đã quá vội vàng, chưa trang điểm mà đã đi gặp Hồ. May mà còn có chiếc khăn san đỏ sẫm màu rượu vang quấn quanh cổ tôi!
Giờ này quanh Hồ biết đâu có sói, sói có thể mang đầu người, bụng người và chân người. Đó là tôi chợt đùa thầm với chính mình trong làn sương bềnh bồng sớm đông.
Bầu trời màu tro ửng một chút hồng.
Với tôi, bầu trời lúc nào cũng đẹp. Tôi thường ngẩng nhìn, trong khi đi đường, cái vòm bao la đổi màu liên tục ấy.
Đừng thế nữa, chồng tôi nhiều lần trách mắng, nhìn mặt đất mà đi chứ!
3.
Ngay cả khi nhìn mặt đất,
Nàng vẫn thấy thanh thiên phản chiếu trong gương, phản chiếu trong hồ, phản chiếu trong vũng nước…
Trong một giọt sương, nàng cảm thấy, cũng có ký ức của bầu trời xanh.
Ngay cả khi nhìn mặt đất,
Nàng vẫn lạc đường, vẫn bơ vơ, vẫn chờ đợi, vẫn đi về một chân trời xa.
Ngay cả khi nhìn mặt đất,
Nàng vẫn mang dáng vẻ mộng du và nàng đã gặp anh trong trạng thái đó, đã lấy anh trong trạng thái đó.
Nàng đã lấy người không chiêm bao.
4.
Trước khi rời phòng, tôi ngoái nhìn về chiếc giường anh đang nằm.
Anh quấn mình trong chăn ấm. Như một con sâu. Ngáy đều. Như một ao tù rền âm thanh của bóng tối.
Ngay cả mang tai của anh, tôi cũng không thấy đâu. Đôi mắt anh giấu trong bóng tối của chính nó.
Giấc ngủ của anh bao giờ cũng say.
Giấc ngủ của anh có thời khắc, chuẩn xác và không bao giờ mộng mị. Tôi biết.
Biết hay không biết thì cũng vậy.
Giá như một lần, tôi có thể đi vào giấc ngủ ấy, cái thế giới trống rỗng không có gì ấy. Trong cái nhà tù hư vô ấy, chỉ có bóng tối.
Tôi đã may mắn thành công khi thuyết phục được anh trở về thăm cố hương từ một phương trời buốt lạnh, mịt mùng tuyết bay.
Chỉ để nhìn lại Hồ, ngắm những vạt sen hồng và dõi mắt theo một bầy chim thiên di rủ nhau bay về An Bá, Yên Thiên.
Trong mơ, có lần tôi thấy mình bay trong bầy chim di trú ấy, vai mọc đôi cánh màu tím biếc, vẫy gió mà bay. Tỉnh dậy, mắt ướt. Chồng tôi ân cần hỏi han trong khi tôi vừa khóc vừa kể lể.
5.
Có gì thế em?
Không.
Có.
Em chiêm bao…
À, chiêm bao!
Đừng chế giễu em.
Em thấy em đang tậu một miếng đất trên mặt trăng, phải không?
Miếng đất nào? Em chỉ thấy mình bay về An Bá trong hình hài một con chim thiên di, chính xác là con sâm cầm lẻ loi giữa một bầy cò, nhạn, giang, le le…
Tội nghiệp em chưa, tội nghiệp những người phải sống thường xuyên với những giấc chiêm bao. Giá mà em có thể sống như anh. Như anh.
6.
Bởi vì anh chua từng biết mông mị là gì. Trong hàng ngàn giấc ngủ anh trải qua từ bé đến giờ, tuyệt không hề có một giấc chiêm bao nào.
Anh đã thú nhận với nàng như thế ngay trước phút cầu hôn.
7.
Và bây giờ, khi ngoái nhìn anh ngủ, tôi biết rõ một chốc nữa đây, đúng boong 6 giờ, anh sẽ mở mắt. Đôi mắt anh không lưu đọng một bóng hình hư ảo nào, hoàn toàn sáng rõ như hoà nhập với ánh nắng mai sẽ tràn vào phòng qua cửa sổ.
Anh sẽ đi vệ sinh, rồi rửa mặt, rồi đánh răng, rồi tập thể dục, rồi mở máy vi tính bắt đầu một ngày mới. Đó là một nghi lễ bất di bất dịch.
Ngày nào cũng như ngày nào.
Cho dù có luân hồi chuyển thế, anh nói, anh không tin là anh có thể sống khác với thời khoá biểu của mình.
Hay cho dù có động đất sập trời, anh cũng thế.
Bởi thế, tôi không thể đánh thức anh dậy sớm, ra bờ Hồ giăng sương, đón đợi bầy sâm cầm bay xuống và vẫy nước trên Hồ. Trong cuộc đón đợi này, tôi phải lẻ loi thôi.
Nhưng mà, kể từ khi lấy anh, có một cuộc đón đợi nào, nếu như thật sự là một cuộc đón đợi, mà tôi không lẻ loi đâu.
8.
Nàng lang thang theo mạn hồ, ven một vạt sen mênh mông xanh ngút. Những lá sen xoè căng cánh như muốn bay lên.
Ngắm những búp sen hồng qua màn hình máy ảnh, nàng tìm chọn một điểm nhìn. Nhưng chưa bấm. Chờ nắng lên.
Một ông lão, chắc là chủ vạt sen, từ thuyền bước lên, tiến về phía nàng.
9.
Cô chụp ảnh sớm thế?
Chưa đâu ạ. Bác đi vớt hoa sớm thế?
Cũng chưa đâu.
Cháu đợi sâm cầm nhưng không thấy.
Dạo này hiếm hoi lắm!
Sao thế ạ?
Hàng quán xáo xác, du thuyền lung tung, săn bắt bừa bãi, chim biết trú vào đâu? Sâm cầm chỉ thích những nơi thanh vắng như cửa sông, bờ biển và đại hồ, nơi chim có thể bơi lặn thoả thích và sống qua mùa đông.
Cháu ngỡ mình về đúng mùa sâm cầm. Hoá ra không có gì hết?
Nhớ những mùa trước, sâm cầm thường lặn dưới vạt sen của tôi tìm ăn những hạt sen rơi rớt, thực vật thuỷ sinh và tôm ốc nhỏ.
Nghe nói loài chim này biết đào bới rễ cây mà ăn củ nhân sâm, phải không bác?
Chắc là chuyện đời xưa, chắc là huyền thoại. Có một cô gái lên non tìm thuốc cứu cha già, nhìn thấy một bầy chim lạ đào bới cây củ lạ mà ăn. Cây đó là nhân sâm giúp cha cô khoẻ lại. Do vậy mà chim lạ ấy được gọi là sâm cầm.
Cháu thì cũng theo mùa chim di trú mà về đây. Để sống qua mùa đông. Để tìm một điều gì đó không rõ. Và để sống tiếp.
Cô có thấy Hồ đang làm gì không?
Làm gì hở bác?
Đang mơ cô ạ, Hồ đang chiêm bao.
10.
Từ biệt ông lão, tôi tiếp tục lang thang ven Hồ. Mùa này sâm cầm có về không?
Đừng phụ lòng ta chứ, sâm cầm ơi!
Ta cũng là một con chim trốn tuyết, cũng như bọn em thôi.
Sâm cầm ơi, bọn em có những giấc chiêm bao không?
Như là ta vậy. Như ta.
11.
Đi về phía tôi từ trong sương hiện ra một cô bé.
Cô đội một chiếc mũ len trắng trông ngộ nghĩnh như một cái mào chim.Cô mặc chiếc áo ấm bằng len nhung bên ngoài bộ váy xám tro.
Đó là một thiếu nữ. Hay chỉ là một bé gái? Tuổi không thể đoán. Có cái xinh xắn thơ dại pha lẫn một nhan sắc xuân thì.
Vừa đi cô vừa nhai một loại hạt nào đó. Dáng đi nhún nhảy của cô gợi nhớ loài chim có đôi chân cao. Đầu cô lại hay chuyển động theo lối nhìn nghiêng.
Sương mù như đang đưa đẩy cô. Sương mù như đang nhả ra cô. Đang đưa cô vào đời. Đang đưa cô đến với tôi.
Một cách vô thức, tôi giơ máy ảnh lên, ghi nhận khoảnh khắc một cô bé xinh đẹp hiện ra bất ngờ trong sương.
Xin lỗi em nhé, tôi ấp úng nói khi cô bé tới gần, chị chụp ảnh em mà không xin phép trước.
Không sao mà, giọng cô bé nghe ríu rít, chị có ăn hạt sen không?
Và cô bé đặt vài hạt sen tươi vào lòng bàn tay tôi.
Tôi nhìn em, không rời mắt ra khỏi em được. Đắm đuối như si tình.
Trong khi ăn hạt sen, tôi hỏi chuyện cô bé đội mũ len trắng có gương mặt lạ lùng xinh ấy.
12.
Nhà em ở gần Hồ à?
Không đâu. Xa lắm cơ. Xa vô cùng, xa ngút ngàn. Phải bay, bay mãi.
Và em… bay… một mình à?
Em đi lạc và rồi không thấy ai.
Tội em quá!
Nhưng em không sợ đâu. Em sẽ tìm ra bạn thôi. Thế nào cũng tìm được.
Nếu như có thể, em về chỗ chị chơi nhé? Có được không?
Chị cũng đi lạc, sống một mình à?
Ồ không, chị đang ở khách sạn với người không chiêm bao.
Người không chiêm bao?
À, với chồng chị. Xin lỗi. Chị gọi anh ấy như thế.
Em có thể đi chơi với chị một chốc. Nhưng họ hàng em đang đợi ở đâu đó.
Ở đâu?
Ở đâu đó bên ngoài…
Bên ngoài cái gì?
Bên ngoài… Em chưa biết. Rồi từ từ em sẽ biết thôi.
Em đừng buồn, em nhé.
Không, em không khóc đâu.
Vậy thì chúng ta đi thôi.
Vâng.
13.
Giọng của cô bé đội mũ len trắng vừa có vẻ tự tin vừa nhuốm một nỗi buồn vô tả.
Cuộc hội ngộ bất ngờ đã nhanh chóng gắn bó họ trong tình thân thiết. Cứ như thể là hai chị em thương yêu nhau từ nhỏ.
Nhưng cuộc hội ngộ bất ngờ đó cũng nhanh chóng đi đến tan biến. Như thể là chưa từng có một mảy tình nào dấy lên giữa họ.
Nàng đưa cô bé về khách sạn, trong lòng náo nức niềm vui. Xinh đẹp, duyên dáng, khả ái, cô bé đội mũ len trắng tung tăng đi theo nàng.
Nhưng đến cổng khách sạn thì bỗng dưng không nhìn thấy cô bé đâu nữa.
Nàng nhìn quanh tìm. Nhìn lên trời tìm. Như thể tìm chim. Sương đã tan.
Chỉ thấy một chân trời hửng nắng.
14.
Sáu giờ. Người không chiêm bao mở mắt và hỏi: Em đi đâu sớm thế?
Ra hồ chụp ảnh. Một vạt sen hồng rất đẹp và một cô bé rất xinh.
Cho anh xem.
Và ngồi ngay trên giường, anh mở xem các ảnh tôi vừa chụp trên màn hình LCD.
Vạt sen đẹp thật, anh cười nói, nhưng có cô bé nào đâu? Anh chỉ thấy có một con sâm cầm thôi, trông rất đẫy, nếu mà đem quay thì phải biết! Thịt nó thơm lắm, có mùi sen và nhân sâm. Ăn được nó thì có khác gì mình là vua…
Tôi giật lấy máy ảnh trên tay anh.
Mặt em tái xanh tái mét, anh nói. Khổ chưa, đi dạo sớm làm gì cho rét mướt!
15.
Rét mướt. Tôi cảm thấy rồi. Thực thế. Chỉ còn lại rét mướt mà thôi.
Người đi
Posted in Thơ ca, tagged Bùi Giáng, Thanh Nguyên on Tháng Mười Hai 23, 2011| 43 Comments »
Thanh Nguyên
Tưởng nhớ Bùi Giáng
Tặng những ai cảm nhận mình đang bước đi trong cõi chiêm bao
Người đi
những bước chiêm bao.
Rẽ sương phía trước,
vẫy chào phía sau.
Người đi
trãi nghiệm niềm đau.
Dấu chân tạc
một chuỗi sầu sau lưng
Bàn chân
thảng hoặc
lừng khừng.
Vì chưng,
hoài niệm kéo chùng đam mê.
Đôi khi
đối diện nẻo về
Ngã ba khói phủ não nề muôn phương.
Muốn về non
dựng khu vườn.
Đỉnh ngàn ngóng bể chiều sương hiền hòa.
Gặp lại Bùi Giáng qua “Đười ươi chân kinh”
Posted in Nghiên cứu và phê bình văn học, tagged Bùi Giáng on Tháng Mười Hai 22, 2011| 9 Comments »
Tối 20.12 vừa qua, những người yêu thích thơ Bùi Giáng một lần nữa lại có cơ hội gặp mặt và trò chuyện về thơ ông trong buổi tọa đàm thơ Bùi Giáng diễn ra tại Trung tâm Văn hóa Pháp (24, Tràng Tiền, Hà Nội).
Buổi tọa đàm được tổ chức nhân sự kiện cuốn thơ văn tinh tuyển mới nhất của cố thi sĩ mang tên “Đười ươi chân kinh” được xuất bản.
Đó là cảm nhận của nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn, cũng là một thành viên trong đại gia đình thi sĩ Bùi Giáng, về nhân vật được coi là “hiện tượng” của thi ca Việt Nam hiện đại này. Chỉ cần điểm qua một cách ngẫu nhiên nhan đề của một số trong rất nhiều bài viết về Bùi Giáng, ta cũng có thể hình dung phần nào về chiếc kính vạn hoa ấy: “Bùi Giáng, một hồn thơ bị vây khốn”, “Bùi Giáng, một tâm hồn mênh mông ảo diệu”, “Bùi Giáng, giang san một gánh dị thường”, “Cuộc hòa giải vô tận: trường hợp thơ Bùi Giáng”… Theo nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn, tất cả những ai đến với Bùi thi sĩ đều được ông trao tặng cho chiếc kính vạn hoa ấy, để thấy mình như vui hơn, đẹp hơn, sâu hơn, “vô ngần trong bóng nguyệt”.
Và cũng trong chiếc kính vạn hoa ấy, Bùi Giáng hiện lên với những hình ảnh khác nhau, thiên tài hay kẻ điên cũng chỉ cách nhau một lằn ranh mỏng. Thơ văn Bùi Giáng không phải ai cũng tiếp cận được, cũng như con người ông, bạn bè thân quen hiểu thì xem ông như một “lão ngoan đồng” lúc nào cũng hồn nhiên, thơ trẻ. Người lạ không biết thì nghĩ ông điên loạn, “dở hơi”. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo kể lại lần đầu tiên gặp mặt Bùi Giáng ở Sài Gòn: “Đó là ấn tượng khó quên với hình ảnh một ông già tóc bạc ngồi sau chiếc xe thồ, nhưng không ngồi theo kiểu thông thường, mà là ngồi quay lưng lại với anh lái xe, hai tay giơ lên trời như đang đàm đạo với trời xanh. Tôi vẫn băn khoăn về cái dáng ngồi ấy của Bùi Giáng, như là quay lưng lại với tương lai để nói chuyện quá khứ, hay là quay lưng với tất cả những gì xuôi chiều để nói những điều “ngược”: ngược thời gian, ngược với tư duy thông thường…?”
Còn nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn thì kể, hầu như chưa bao giờ thấy Bùi Giáng làm việc, chỉ thấy ông suốt ngày như thế, rong chơi, đùa giỡn với cuộc đời. “Có lần ông vào nhà tôi, thấy mấy chậu hoa lan đẹp liền tròng vào cổ rồi chạy ra đường chơi, ông bảo “Hoa đẹp thế sao lại để một mình chú thưởng, phải mang ra cho thiên hạ cùng ngắm!”; rồi lại có lần ông rượt theo cô dâu ở đám cưới vì thấy cô dâu đẹp quá, kết quả là bị người nhà cô dâu đánh cho “thừa sống thiếu chết”…” – ông Sơn kể lại.
Thế nhưng cũng chính Bùi Giáng ấy, lại có thể ngồi đọc thơ vanh vách cho người khác chép lại, đọc liền một mạch, đọc không ngừng nghỉ. Thơ nói mà hay như thơ viết, có logic, có hệ thống, có triết học hẳn hoi. Cũng chính Bùi Giáng ấy trong một ngày có thể viết tới năm, bảy trăm trang sách. Không chì làm thơ, ông còn dịch thuật, phê bình văn học. Người ta bảo ông đọc nhiều quá nên chữ nghĩa đã ngấm cả vào người, nên lúc cần thì cứ thế mà “tuôn” ra, không cần thời gian suy nghĩ, đắn đo, cân nhắc.
| . |
Có mặt trong buổi tọa đàm, dịch giả Nguyễn Nhật Anh, người biên soạn cuốn “Đười ươi chân kinh” của Bùi Giáng chia sẻ: “Hiện tại có một nghịch lý đang tồn tại khi nói về văn thơ Bùi Giáng. Là một tác gia lớn, với khối lượng tác phẩm đồ sộ hàng trăm đầu sách, nhưng giờ đây, việc đọc và tiếp thu Bùi Giáng lại có tác dụng ngược. Di sản khổng lồ ông để lại trở nên khó tiếp cận với quá nhiều tạp nham, lặp lại, không rõ ràng… Xuất bản miền Nam trước 1975 thường in tác phẩm của Bùi Giáng theo kiểu viết gì in nấy, để lại một Bùi Giáng mênh mông hỗn tạp, thượng vàng hạ cám, và hẳn là “tẩu hỏa nhập ma” trong những thời kỳ “điên rực rỡ”. Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến những quan điểm trái ngược nhau về con người và thơ ca Bùi Giáng”.
Bởi vậy, “Đười ươi chân kinh” xuất bản lần này đã làm nhiệm vụ gạn lọc, bỏ đi những thứ tạp nham, trôi nổi và giữ lại một Bùi Giáng thuần khiết, một Bùi Giáng rất vui, nhưng cũng rất triết, rất sâu. Tuyển tập dành phần ưu tiên cho những thi phẩm của Bùi Giáng xuất bản trước 1975, thời kỳ Bùi Giáng vẫn còn là một “trung niên thi sĩ” đích thực. Ngoài ra, cuốn sách cũng dành một chương cho những câu thơ lẻ xuất thần được nhiều người yêu thích của Bùi Giáng, những câu thơ như: “Yêu cầu cô bán cho tôi/ Một bó rau muống chịu chơi quê nhà” hay “Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi/ Đi lên đi xuống đã đời du côn”…
Bên cạnh thơ là phần dành cho đoản văn và tiểu luận, cùng với một tập truyện chưởng “Kim kiếm điêu linh” của tác giả Ngọa Long Sinh do Bùi Giáng dịch. Tất cả nhằm tạo nên một bức họa đầy đủ nhất về con người và sự nghiệp của “đười ươi thi sĩ”, một huyền thoại sống đúng nghĩa, một gương mặt văn học đa tạp thuộc loại kỳ lạ nhất, người được nhà thơ Thanh Tâm Tuyền ví như một thiên tài – “thiên tài tự hủy ghê gớm nhất của thi ca Việt Nam hiện đại”.
Một thoáng quê xưa
Posted in Thơ ca, tagged Nguyễn Tửu on Tháng Mười Hai 22, 2011| 29 Comments »
Nguyễn Tửu
Sông xanh nhỏ vẫn uốn mình nhẫn nại
Cánh đồng quê chiều tím hạt mưa rơi
Gió mùa ơi, nhớ chi mà trở lại
Và thương ai mây xuống thấp ven trời?
&
Người vẫn ở và người đi, đi mãi
Hồn quê hương lưu lạc khắp đâu đây
Người về cõi lá vàng đang dần rụng
Lòng thương quê ngày tháng cứ vơi đầy!
&
Trên bến vắng những đêm trăng lạnh giá
My Lăng ơi, bến cũ ai qua đò?
Bến Trường Thi ngày xưa bao tấp nập
Nay câu hò trên sóng lạnh chơi vơi!
&
Những cụm tháp trơ gan cùng tuế nguyệt
Mấy trăm năm gội gió, dãi dầu mưa
Tháp có nhớ những thời oanh liệt nhất
Của Chiêm Thành, non nước thủa xa xưa?
&
Trời Bình Định sương hoa và ảo mộng
Ai xa xôi có nhớ hãy quay về
Qui Nhơn đó dốc Mộng Cầm đón đợi
Nghe “Đường lên dốc đá”nhớ Hàn xưa!








