Feeds:
Bài viết
Bình luận

Lâm Bích Thủy

.

Cuộc gặp định mệnh giữa ba tôi và Hàn Mặc Tử

Tôi không tin tạo hóa sinh ra trái đất thì đấng thiêng liêng tối cao nào đó định cho chỗ này là địa linh nhân kiệt, chỗ kia là đất dữ. Nhưng tôi lại tin lời người xưa nói “nếu có duyên với nhau thì sẽ tụ lại”. Nói đâu xa; đấy chính Bình Định quê tôi là đất của sự tụ nhân, tụ thủy, là địa linh nhân kiệt với danh xưng là “Đất võ trời văn” thật 100% . Được như vậy người Bình Định luôn mang ơn sự đóng góp nhân tài từ các tỉnh bạn như Nghệ An với họ Hồ đã đưa người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ – Quang Trung; quê Hà Tĩnh với duyên kỳ ngộ cha Đàng Ngoài mẹ ở Đàng Trong đã cho quê tôi nhà thơ tình Xuân Diệu”; và cảm ơn đất Quảng Trị đã đưa đến một Chế Lan Viên với những sáng tạo mới mẻ, hiện đại nhất trong bút pháp”. cảm ơn đất Quảng Bình đã tặng một Hàn Mặc Tử để rồi có cuộc gặp gỡ giữa ba tôi-nhà thơ Yến Lan và Hàn Mặc Tử định mệnh làm nên nhóm thơ “Bàn Thành tứ hữu” đã mang đến những giá trị nhân văn sâu sắc làm rạng danh cho quê hương Bình Định…:

Cuộc gặp mặt này được ba tôi kể lại:

– Một sáng chủ nhật, khoảng giữa năm 1930, tôi đang chép lại bài thơ mới làm hôm qua, thì nghe tiếng gọi ngoài cổng chính.

Tôi nghĩ: chắc là có khách lạ muốn đến thăm đền (vì người quen tất phải biết ngõ phụ luôn mở rộng ở phía Bắc của góc tường thành) Tôi bước ra, nghe tiếng của hai trang nam tử. Biết là người xa đến vãn cảnh, tôi chào, rồi chỉ hướng cho họ vào đền. Khách mặc âu phục sang trọng: Một, hơi lớn tuổi, nói giọng Bắc, rất chỉnh tề trong bộ Tropical, một là thanh niên mặc nguyên bộ tơ De-ligaon, đội mũ Panama. Đang đi, người trẻ tuổi bỗng ngoặc sang phải, lối hàng rào chè, rẽ sang một góc sân. Ở đó có cây lựu lớn đang nở hoa đỏ rực. Anh níu bẻ một nụ rồi tặng cho người bạn đồng hành, miệng đọc câu Kiều:

Ngoài hiên quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập lè đơm bông

Rõ ràng là những vị khách thuộc loại hào hoa, ít gặp ở đây. Vừa lúc ấy cha tôi bước ra, hướng dẫn họ đến bên tấm bia đá và mở cửa mời vào chính điện. Tôi trở lại tràng kỷ, làm tiếp công việc bỏ dở. Được một chốc hai người đi xuống. Cha tôi đưa họ vào nghĩa tự, mời ngồi trên tràng kỷ và đưa mắt bảo tôi xuống nhà lấy bộ bình trà bằng sứ chuyên dùng tiếp khách quí. Có lẽ tờ giấy mà tôi còn bỏ ngỏ trên bàn có những dòng chữ và cách trình bày giống dạng một bài thơ đã làm cho người trẻ tuổi chú ý. Anh hỏi tôi:

– Cậu đang chép thơ à? Tôi bẽn lẽn gật đầu:

– Dạ, vâng.

– Thơ của bác hay thơ của cậu đấy?

– Dạ thơ của tôi. Im lặng một chốc, anh lại hỏi:

– Cậu làm thơ lâu chưa? Đã đăng ở đâu chưa?

– Tôi mới võ vẽ, cũng có bài được đăng báo.

– Cậu lấy bút danh là gì?

– Tôi ký Xuân Khai. Người trẻ tuổi vui hẳn lên, anh cười:- Vậy tôi với cậu là đồng nghiệp với nhau. Xin tự giới thiệu, tôi là Phong Trần, là Hàn Mặc Tử. Anh quay sang người trung niên, vẻ quí trọng:

– Vị này là nhà văn, tác giả “Kép Tư Bền”, tập truyện ngắn vừa mới xuất bản đang được cả nước hoan nghênh. Tôi thốt lên một tiếng “À” vui vẻ:

– Hóa ra ông là nhà văn Nguyễn Công Hoan. Tôi đã đọc và đã biết nhiều về ông, nhất là trong cuộc bút chiến với báo Phong Hóa, Ngày Nay về tập chuyện dài “Lá ngọc cành vàng “của ông

Lúc ấy nhà văn Nguyễn Công Hoan như tự nhiên có thêm những cảm xúc không ngờ. Ông nhìn tôi một cách triều mến.

Hàn Mặc Tử thì gật đầu thích thú, anh tiếp lời:- Nhân đây ông làm một cuộc viễn du từ Bắc vào Nam để tạ lòng ủng hộ của tác giả mà mình hâm mộ. Hôm nay tôi đưa ông lên thăm một vài cảnh đẹp ở đây, rồi sẽ lên Phú Phong, mảnh đất lịch sử của quê ta. Nhân dịp này ta làm quen với nhau vậy. Tôi đang sống với gia đình tại 20 đường Khải Định-Qui Nhơn. Có đi Qui Nhơn mời cậu ghé chơi, chúng ta là đồng nghiệp với nhau mà.

Chúng tôi gắn bó với nhau từ buổi ấy. Tôi kể chuyện này với Chế. Chế cho biết đã quen với Tử rồi và cũng muốn có dịp nào đó sẽ giới thiệu tôi với anh.

Sống giữa lòng Bình Định, những chiều hiu hiu nắng quái, tôi và Chế Lan Viên thường lên lầu cửa Đông mà hai đứa tôi gọi là lầu tư tưởng, phóng tầm mắt nhìn bao quát thị trấn, rồi vọng đến những chân trời xa tắp, lòng ngậm ngùi cho mảnh đất quê hương đã trải qua lắm cuộc đổi thay. Có lúc chúng tôi nghĩ xa hơn đến các triều đại của quá khứ, từng nối tiếp nhau đến sự thăng trầm biến thiên của lịch sử, rồi bàn nhau cùng viết về cảnh điêu tàn, những cuộc đời dâu bể. Hoan đi sâu vào sự đau thương, tàn tạ, thịnh vượng, làm sống lại những lễ hội, sinh ca của các hệ tộc quyền quí, rồi binh biến máu lửa thay cho một thuở thanh bình. Tập thơ của Chế, tên “Điêu tàn”.

Thành Đồ Bàn cũng thôi không nức nở

Trong sương mờ huyền ảo lắng tai nghe

Từ một làng xa xôi bao tiếng mõ

Tan dần trong im lặng của đồng quê..

Tập thơ của tôi là “Giếng loạn”. Nghe tôi đôi lần đề cập đến “Giếng loạn” Tử rất muốn xem (lúc này anh đang bệnh). Tôi mang xuống cho anh. Khoảng một tuần sau, Tử đưa trả bản thảo và nói:- Tôi đã xem hết tập thơ rồi. Có một số xúc cảm nên cố làm một bài riêng tặng cậu. Anh lấy ở túi áo ra trao cho tôi và trân trọng nói: – Đây cứ coi như một bài bạt sơ khảo; mà tôi thấy cái nhan đề không ổn. Sao cậu không viết là “Giếng lạng” lại viết là “Giếng loạn”? Tôi đáp: “Có vấn đề về ngôn ngữ tôi muốn thảo luận với anh đấy.”

Rồi tôi và Tử bàn nhau hồi lâu, sau cùng thống nhất là “Giếng loạn”. Loạn ở đây là loạn lạc, đầy đủ ý nghĩa hơn, lạng là bỏ hoang. Bài thơ Tử tặng tôi chính là bài “Trăng tự tử” mang dáng dấp của một bài bạt cho cả tập thơ. Tôi đã có chủ ý sẽ in nó vào tập “Giếng loạn” khi xuất bản. Nhưng bản chép tay ấy với cả tập thơ bị thất lạc, lúc đi sơ tán, ngày Pháp mở chiến dịch Át-lăng đánh vào Qui Nhơn. Bản in trên các sách hiện nay là bản lưu từ trong xấp di cảo do anh Quách Tấn giữ.

Buổi sáng hôm ấy, tôi nhớ dường như sáng 28 Tết âm lịch, năm 1938. Tôi và Chế Lan Viên đến thăm anh. Khi ấy bệnh Tử đã nặng! Mới bước vào cổng nhà, tự dưng tôi có cảm giác căn nhà hiu quạnh quá. Thấy chúng tôi, mẹ Tử bước ra thềm hè, rơm rớm nước mắt:

-Trí đi rồi các anh à! Cò bót không cho nó ở nhà nữa, vì sợ lây bệnh, bắt phải đưa vào Qui Hòa, Tết nhất đến nơi rồi, nếu đưa nó vào trong ấy thì tội lắm. Nhà cập rập quá, nên lén gửi tạm nó vào trong xóm Động. Các anh có đi thăm thì em Hành đưa đi. Nó vừa chạy đâu đó.

Đợi lâu không gặp Hành, hai đứa tôi hỏi thăm vào xóm Động. Đấy là cái xóm nhỏ của những người lao động nghèo, nằm trên một bãi cát rộng mênh mông, khoảng khu VI Qui Nhơn bây giờ. Nhà ở chỉ là những túp lều dựng tạm bợ trên cát, không có nền. Đồ đạc, giường, tủ, bàn, ghế cứ đặt nguyên trên cát. Đường đi vào cũng quanh quất cơ hồ khó tìm ra.

Chúng tôi vào một cái chòi lợp tranh nhỏ hơn một cái chái bếp. Nóc chòi được chống lên bằng hai cây cột tre. Một tấm phên ngắn dọc theo chiều dài của nóc, ngăn chòi làm hai: nửa trước sinh hoạt bình thường, nửa sau hình như có đặt một chiếc chõng tre với lỉnh kỉnh những thúng mủng..

Trước tấm phên là cái bàn ọp ẹp, chỉ còn lại một chân trước nối với một khúc củi đẻo từ chảng ba, hai chân sau cột vào hai cọc tre chống mái nhà, Tử đang ở trong ấy (đây là nhà của một phu kéo xe). Nghe tiếng chúng tôi, Tử chậm rãi bước ra, vẻ mệt nhọc:

– Hai cậu vào tới đây sao…?

Hoan và tôi ngồi trên ngạch cửa làm bằng một khúc tre, xoay lưng ra ngoài, trò chuyện với anh. Tử gầy, trông hốc hác lắm Anh không vui như mọi khi.

Đang nói chuyện thì có bà cụ đem cho anh hai quả keo chín, Tử nhìn hai đứa tôi:- Thứ này mình thích lắm. Mấy năm còn khỏe, mình thường xách ná cao su đi bắn. Có khi đạn rớt vào nhà Tây, mình ba chân bốn cẳng chạy nhanh như sóc. Thế mà bây giờ .!.Anh thở dài.

Chúng tôi nói chuyện cho tới giờ tan tầm, thì có một bé trai xách làn cơm vào (chắc là em Hành) Khi cái xách cơm đặt nghiêng nghiêng trên bàn, em lẫn ra phía sau. Tử vẫn giữ cái vẻ thản nhiên, gợi thêm một vài ý nhỏ về thi ca sách vở. Sợ anh mệt và cũng quá giờ chúng tôi đứng lên tạm biệt. Tử nhìn, đôi mắt anh buồn vời vợi

Sau này, mới biết sau cái Tết ấy, gia đình còn cố giấu anh ở mấy nơi nữa rồi mới vào Qui Hòa.

Khi Tử mất, mỗi lần nhớ tới anh, tôi lại ngậm ngùi đọc “Những giọt lệ” của anh

Trời hởi! Bao giờ tôi chết đi

Bao giờ tôi hết được yêu vì

Bao giờ mặt nhật tan thành máu

Và khối lòng tôi cứng tựa si?

Họ đã xa rồi khôn níu lại

Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa

Người đi, một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ xuống trời sâu

Sao bông phượng nở trong màu huyết

Nhỏ xuông lòng tôi những giọt châu!

Tôi không biết anh viết bài thơ này để nói đến một tình huống nào. Có người bảo là anh viết để than thở về một mối tình trong bao nhiêu mối tình dang dở của mình. Nhưng tôi cứ nghĩ cảm xúc đó bắt nguồn từ buổi sáng hôm ấy, buổi sáng mà tôi và Hoan còn ngồi bên Tử, trong túp lều đơn sơ ở xóm Động…

Quả thật tôi không ngờ, lần chia tay ấy là lần vĩnh biệt.

Giả dụ

Hồ Tịnh Văn

.

Giả dụ lòng anh hình chữ nhật

Em sẽ đem chiều rộng cộng chiều dài

Nếu anh bảo chu vi là sở thích

Em sẽ dùng tổng thể để nhân hai

Giả dụ lòng anh là quyển vở

Chữ viết lên tha thiết những trang lòng

Em sợ lắm nhìn lâu không dám mở

Bởi lo rằng giấy có thấm tình không?

Giả dụ một đêm mùa khô hạn

Lòng em khát cháy những ngọt ngào

Anh là mưa tưới tâm hồn lãng mạn

Cho trái tim yêu dào dạt những dâng trào

Lòng em chín mời lòng anh thưởng thức

Trái thơm ngon em vẫn để dành

Rồi một ngày em mang ra mời mọc

Hai đứa mình tan biến giữa mông mênh.

CÀ PHÊ VÀ NỖI NHỚ

Cà phê một mình

Giữa phố phường đông đúc…

Em nhớ anh!

Ly cà phê Sài Gòn và nỗi nhớ xanh

Hàng phi lao trước biển

Nơi em đến

Là nơi không anh.

Thêm một đêm

em trằn trọc!

Thêm một đêm

thiếu giấc mộng lành!

Chỉ có dáng hình anh án ngữ

Chỉ có đôi mắt anh xoay tròn nỗi nhớ

Chỉ có cặp môi tình khao khát trao anh!

Đêm nay

Em lại nhớ anh

Cơn mưa rả rích

Cơn gió lay rụng tấm chân tình

Chỉ còn em và nỗi nhớ

Tròng trành

Cõi không anh…

Gọi

Phạm Minh Châu

Sự giằng co ở giữa khoảng không

chỉ gió, mây và hơi nước

những thực thể được coi là vi sinh vật

đã ngấm đầy thời gian

dòng nước trôi đi, mây trôi đi

bởi vận hành của gió

sự nghiêng đã tạo thành độ dốc

cho dòng chảy không thôi

.

Phiến đá trầm ngâm

đối diện

Không nhận ra

trong thế giới con người

còn ẩn đó đây chất của loài quỷ dữ

hành trình triệu năm chỗ thiếu, chỗ thừa

thành bão nổi

xin một phút ăn năn và thú tội

để lòng thanh cao

xin ước mơ bay đến những vì sao

dẫu biết là xa lắm

Gọi những linh hồn còn chút cơ may

còn được chở che trong vòng tay ấm

được hiện thân

.

Xin gửi ngày mai

phảng phất vô hình

lời giải bày thánh thiện

xin chữ lành

dài như sông, như biển

như lòng mẹ bao dung

bởi cuộc đời có có, không không

để thanh thản hướng về phía trước

sự nhắm mắt cho người nhận thức

nghiền ngẫm nhân sinh

.

Nếu không có chiến tranh

thì chẳng có khái niệm hòa bình

và thế giới chỉ có màu xanh thơ, nhạc

anh và em cùng nắm tay ngân nga câu hát

ca ngợi sự mềm mỏng của tình yêu

để tháng ngày được sống bên nhau

để tồn tại cuộc đời là không vô nghĩa

đêm mùa đông

dậy,

thắp cho nhau một chút lửa

Chờ…

nắng lên./

Thơ Cao Hoàng Từ Đoan

.

1-

ráng chiều

rớt xuống thinh không

nắng mong manh quá,

tang bồng nơi đâu??

tôi còn

khép nép bên cầu

căng khung vẽ trộm mắt màu hoàng hôn

.

2-

rối lòng , em mượn thơ làm rượu

rải trên sóng mắt mà đưa hương

anh ạ! một ngày vừa ghé đến

bình minh là cổng, mở thiên đường ..

.

3-

à chia tay nhau rồi đó

mà,

chiều lạ nhỉ

con gió im thinh!?

chẳng níu dang dở chúng mình

để ta,người ấy..

bóng hình mờ phai

là chia tay nhau hở ai…

gió sao không nhắn

chờ mai

hẹn ngày..

chưa kịp nhờ gió tỏ bày

chiều nay chan lệ,

ơ hay!

một người..

.

4-

ước là cơn mưa nhỏ

rơi bên hiên, vội vàng

hồn nhiên như hoa cỏ,

nheo mắt cười mà thôi..

.

ngang qua con đường nắng

thấy mùa hạ đến gần

ngang qua bậc thềm vắng

hoa lòng rụng đầy sân..

.

chiều rưng rưng cánh khói

nghe sao nhớ một người!

có nhũng điều khó nói

hồn như một bài thơ

.

5-

đê𝚖 𝚋𝚞ô𝚗𝚐 𝚖ộ𝚝 𝚝𝚒ế𝚗𝚐 𝚝𝚑ở 𝚍à𝚒

𝚌𝚑ừ𝚗𝚐 𝚗𝚑ư 𝚗ỗ𝚒 𝚗𝚑ớ 𝚛ơ𝚒 𝚗𝚐𝚘à𝚒 𝚑𝚒ê𝚗 , 𝚖ư𝚊..

𝚕á 𝚖ù𝚊 𝚝𝚑𝚞 𝚕ạ𝚌

𝚗𝚐õ 𝚝𝚑ư𝚊

𝚑𝚊𝚢 𝚊𝚗𝚑 𝚖ộ𝚗𝚐 𝚟ớ𝚒 𝚗𝚐ườ𝚒 𝚡ư𝚊 𝚝𝚑ì 𝚝𝚑ầ𝚖!?

𝚝𝚑á𝚗𝚐 𝚋ả𝚢 𝚟ề 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 𝚝𝚑𝚊𝚗𝚑 â𝚖

𝚎𝚖 ươ𝚖 𝚗ố𝚝 𝚑ạ𝚝 𝚝ừ 𝚝â𝚖 𝚗𝚐𝚞𝚢ệ𝚗 𝚌ầ𝚞

𝚝𝚑ô𝚒 𝚊𝚗𝚑 đừ𝚗𝚐 𝚗ữ𝚊

â𝚞 𝚜ầ𝚞

𝚗𝚐ủ 𝚗𝚐𝚘𝚊𝚗 𝚗𝚑e 𝚖ộ𝚗𝚐

𝚋𝚊𝚗 đầ𝚞,

đầ𝚞 𝚝𝚒ê𝚗..

.

6-

“𝚗𝚐ủ đ𝚒 , 𝚗𝚐ủ 𝚗𝚑ữ𝚗𝚐 𝚟ầ𝚗 𝚝𝚑ơ

𝚗𝚐ủ 𝚌𝚑𝚘 𝚜𝚊𝚢 𝚖ộ𝚗𝚐 𝚖𝚘𝚗𝚐 𝚌𝚑ờ 𝚝𝚛ă𝚖 𝚗ă𝚖”

( NBV)

.

từ thơ tôi hoá điên rồ

ôi người dành dỗ ngôn từ

ghi ơn!

mai về cắn nát nỗi hờn

mà thôi buồn đã từng cơn chín già.

Khi ta hôn nhau

Tần Hoài Dạ Vũ

Khi ta hôn nhau trời đất cũng bàng hoàng

Mây xuống thấp và cuộc đời nín thở

Em cởi áo lòng thế gian chín đỏ

Anh rùng mình quỳ gối tạ hồng ân

.

Hãy hôn đi hôn lại đến ngàn lần

Đồi trăng mọc và suối hoa thổn thức

Tình đã đẹp trong vòng tay hiện thực

Hạnh phúc nào không rực lửa đam mê

.

Say gối chăn mùa xuân mới trở về

Em thảng thốt níu vai đời mê đắm

Con trăng sáng phia chân trời xa thẳm

Soi lòng ta rạo rực buổi quên đời

.

Có ai về dạo lại khúc đàn hơi

Chiều nín thở và đêm xanh tiếng hát

Hương hoa quỳnh dịu dàng môi thơm mát

Ta hôn nhau trời đất biết giao hòa

.

Ta hôn nhau cho đời hóa bao la!

Một tình tiết lạ

Một truyện ngắn UKRAINE

VOLODYMYR VYNNYCHENKO

(Ukraine)

Truyện ngắn

Một tình tiết lạ

HIẾU TÂN dịch

Tại sao tim tôi thắt lại khi nó nhìn thấy cái đẹp? Tại sao tôi muốn ôm đầu bằng hai bàn tay và khóc bằng những giọt nước mắt nóng bỏng? Tại sao? Và tại sao trong những giọt nước mắt ấy có cả dịu êm, vui sướng, buồn đau và vô vọng?

Nhưng tôi biết. Bây giờ chắc chắn tôi biết, nhưng cho đến cái đêm hôm ấy, ngay cả chính cái đêm ấy, khi cái tình tiết chưa ai từng biết, vô nghĩa ấy xảy ra cho tôi – tôi vẫn chưa biết. Tôi nghĩ rằng Natalie vẫn chưa biết. Mà nàng cũng không cần biết.

Nỗi buồn dẫn tôi đến với Natalie. Tôi thấy nàng lần đầu trên tàu điện. Tôi đang đọc báo thì nàng bước vào toa. Báo viết đủ thứ nhưng không có gì dính với hạnh phúc – người ta giết người khác như thế nào, người ta tự giết mình như thế nào, người ta trộm cắp, giết nhau, gào khóc, lừa bịp như thế nào, tóm lại, mọi thứ không có gì dính dáng đến hạnh phúc và tiếng cười (bạn có nhận thấy báo chí không bao giờ viết về chúng hay không?) Tôi đọc tất cả những cái ấy và trở nên vô cảm. Nhưng khi nàng bước vào, khi mắt nàng chạm mắt tôi trong thoáng chốc, tim tôi bỗng lịm đi. Tôi thấy buồn vô hạn. Tự nhiên tôi muốn ôm người ngồi cạnh, béo phị vì ham ăn, và hôn vào cái cổ ba ngấn của anh ta. Tôi muốn hai tay che mặt, ngồi thụt xuống, lắng nghe tiếng chuông khao khát, nỗi khao khát chưa từng biết, ngọt ngào trong tim tôi.

Và sau đó tất cả những cái ấy luôn sống lại trong tôi khi tôi đắm đuối nhìn Natalie. Thậm chí ngay cả khi tôi ôm nàng lần đầu tiên, khi thân thể nàng run rẩy trong tay tôi, ngay cả khi ấy nữa, nỗi buồn cũng không rời khỏi tim tôi. Nó không rời đi, nó chỉ trốn khỏi ngọn lửa khao khát.

Và Natalie, ngay cả bây giờ, nàng vẫn không biết tại sao khi nhìn cái đẹp tim ta lại buồn đến vậy, lại đầy khao khát, lại thích thú một cách đau đớn đến vậy. Nàng biết nàng có một sắc đẹp tuyệt với, ờ, điều ấy thì nàng biết chắc.

Chính đêm ấy, nàng bảo tôi: “Anh nghĩ em không biết giá trị của em à? Nếu em muốn, ngay ngày mai em có thể có một chiếc ôtô.” (Nàng thích ôtô lắm lắm.) “Anh không tin em à? Sao anh lại cười? Tôi tin nàng. Tôi cười vì một lý do hoàn toàn khác. “Và em sẽ có! Em chán ngấy phải ăn khoai tây và khoác chỉ một chiếc áo khoác rồi.” (Chúng tôi đang ở trong tình trạng như thế: ăn khoai tây và chỉ có một chiếc áo khoác.) “Những ước mơ ngu ngốc của anh làm em bực mình. Vâng, em bực mình. Em nói thẳng với anh như thế đấy. Em không phải một bà thánh….Lạy Chúa. Hãy cho em tiền và không phải những bài hát. Tiền! Anh có hiểu không?” Nàng chưa bao giờ thật sự nói thẳng ra như vậy. Tôi đang ngồi cúi gục đầu, đến lúc đó tôi ngẩng lên và nhìn Natalie. Ôi, nàng đẹp biết bao! Lạy Chúa nàng đẹp đến mức tôi muốn đập đầu tôi vào mép bàn cho nó vỡ toác ra, như chiếc bình hoa vô dụng kia. “Thế nào, sao anh cứ nhìn trừng trừng thế. Anh sắp giảng đạo về chù nghĩa khuyển nho chăng? Cứ giảng đi! Em không thánh thiện. Em phát cáu khi phải tỏ ra thánh thiện. Em không làm được. Em cần tiền, thế thôi. Những lý tưởng, những khao khát tìm tòi, những tinh thần và những hành động cao cả xin anh cứ giữ cho riêng anh. Những cái ấy không hợp với em. Thế đấy. Cái gì? Anh chưa từng mong cái đó à?” Tất nhiên tôi chưa từng mong cái đó. Có lẽ…có lẽ tôi có mong, bởi vì tại sao nó buồn thế, tại sao trái tim tôi thắt lại nghẹn ngào khi nhìn vẻ đẹp của thân thể nàng. Tôi không nói thêm gì nữa với nàng. Thậm chí tôi lặng lẽ ra khỏi nhà mà không mang theo áo khoác.

Trời đã về khuya. Trên đường phố có sương mù. Nó bao bọc những bóng đèn như những chiếc khăn quàng của phụ nữ. Khách đi đường bước hối hả, cổ áo dựng lên và hai tay đút túi. Họ biết rõ họ đi đâu. Nhưng tôi không biết, nên tôi không vội. Tôi thậm chí không đút tay vào túi và kéo cổ áo lên. Tôi chỉ mỉm cười. Nhưng nếu có ai đó lấy nụ cười ra khỏi môi tôi và nấu chảy nó trong một thứ gì đó mà họ có thể nấu chảy cả tiếng cười lẫn tiếng khóc, thì nụ cười của tôi có lẽ không có vẻ là một cái cười. Tôi dừng lại trên một góc phố. Tôi thường đợi Natalie ở đấy. Chúng tôi cùng bước đi, ôm chặt nhau. Cũng ở đây thường xuất hiện một bóng người mà vừa trông thấy, trái tim tôi thắt lại vì thương xót và một nỗi sợ khinh khi.

Phải, chúng tôi thường qua đây. Chúng tôi hối hả về nhà. Một đĩa khoai tây nguội và một chiếc áo khoác đang đợi chúng tôi ở nhà.

Còn bây giờ, tôi đi đâu bây giờ? Dù sao, chắc chắn là không phải đi kiếm tiến. Đương nhiên là thế. Nhưng, dù sao, đi đâu? Sương mù làm đường phố ẩm ướt, nhớp nháp, lạnh lẽo nhưng dẫu sao vẫn ấm hơn tảng băng đang đè trĩu trong ngực tôi. Và tôi lại đi dọc đường phố, trong sương mù.

Bỗng nhiên có bóng người áp sát tôi. Tôi nhìn quanh. Vẫn là cái sinh linh mà chúng tôi thường gặp trên những phố này. Vẫn là cái sinh linh xấu xí, tội nghiệp đã gợi lên trong chúng tôi nỗi sợ hãi bí mật và khi ấy chỉ muốn níu chặt nhau hơn.

Ả luôn luôn xuất hiện bất ngờ thế nào đó ở cùng một nơi hoang vắng. Chúng tôi không nghĩ ả là gái điếm, mặc dù chúng tôi thường thấy ả vỗ nhẹ vào khách đi đường như ra hiệu. Nhưng khách qua đường sau khi liếc nhìn lập tưc quay người bước đi. Chúng tôi thường nói chuyện về ả, và Natalie luôn hỏi liệu có người đàn ông nào đi với một sinh linh ghê rợn như ả không, một bóng ma.

Quả thật, ả giống như một bóng ma, như sự hiện hình của một gái điếm, như cái biểu tượng ghê sợ của cái nghề đáng nguyền rủa ấy. Ả luôn luôn mặc một thứ không thay đổi, như thể ả đã bước đi ở đây hằng đêm trong nhiều năm. Và quả vậy, một con ma cần gì thay quần áo? Luôn luôn vẫn là chiếc áo choàng dài mầu xám ấy, các nếp gấp của nó không lay chuyển khi ả bước đi dưới những bức tường, dọc theo những cánh cửa câm lặng khóa kín, và những tủ kính của các cửa hàng. Luôn luôn trong chiếc mũ cổ lỗ xẫm màu, từ đó buông xuống tấm mạng che mặt dày màu xám, và luôn luôn có một chiếc dù trong tay ả.

Một hôm chúng tôi gặp ả dưới một cây đèn đường. Một khuôn mặt xấu xí liếc nhìn chúng tôi qua tấm mạng che mặt, xấu đến mức tôi thấy chân mình bủn rủn. Nó tái nhợt, với cặp mắt mệt mỏi, trang điểm như mọi cô gái điếm, với cặp môi đỏ chót giống như của một xác chết.

Tại sao ả đi dưới những bức tường, trong bóng tối? Có thể có người đàn ông nào đi với ả chăng? Natalie ngờ điều ấy. Tôi nhìn quanh một lần nữa và nhìn thẳng vào mặt ả. Khuôn mặt hoàn toàn phù hợp với những gì trong tim tôi.

Nhưng lúc này tất cả những gì mà tôi cần là hôn lên khuôn mặt ấy và khám phá ra rằng sinh linh này có thể làm cho tôi vui.

“Chào ông,” cô ta nói giọng thì thào hết sức véo von.

“Chào cô,” tôi to giọng trả lời, miệng luôn mỉm cười.

Cô ta chăm chú nhìn nụ cười của tôi, lướt nhìn khắp mặt tôi, ngực tôi bằng đôi mắt mở to trân trân và hỏi bằng giọng đều đều êm dịu:

“Ông ra đây đi dạo phải không ạ?”

Tôi phá lên cười.

“Tất nhiên tôi đi dạo. Tôi thích ra đây khi đẹp trời.”

Một lần nữa cô ta dán cặp mắt cá chết lên người tôi. Trên khuôn mặt cô ta, cứng đơ như chết, không một chi tiết nào cử động, như thể cô ta đã quen với kiểu cười đó, quen với những quý ông từ thiện “ra phố khi trời đẹp” như thế này.

“Đi với em chứ?” Cô ta hếch mặt lên.

“Đi đâu?”

“Sao lại đi đâu. Về nhà em.”

Cô ta nhìn tôi “Anh không biết thật à?”

Tôi cũng nhìn cô ta. Một người qua đường cầm ô đi qua liếc nhìn lại chúng tôi. Hắn nhìn cô ta, nhìn nhanh sang tôi và tôi đọc được trên mặt hắn vẻ ngạc nhiên, khinh bỉ và thương hại đối với tôi.

Và Natalie sẽ nói sao đây?

“Có đi không?” cô ta hỏi lại, đầu cúi xuống.

Bỗng nhiên tôi thấy ớn lạnh như thể sương mù tràn vào óc tôi, không phải vì tôi chỉ mặc một chiếc áo khoác duy nhất, mà còn vì điều gì khác, cái điều có thể khiến người ở xích đạo ớn lạnh.

“Tôi không có tiền.” Tôi nói giọng buồn và lạnh lùng.

“Anh có thể trả tôi lúc khác cũng được.”

Hừ. Con ma này quyết chiếm chỗ của Natalie đây. Tuyệt. “Nào, đi” tôi nói.

Cô ta xoay người và bước đi hầu như không một tiếng động, dẫm lên những vũng nước trên vỉa hè. Chiếc áo choàng màu xám, giống như một tấm vải phủ quan tài, thẳng đuột không hề lắc lư, quệt xuống đất.

Tôi mỉm cười và quả quyết đi theo cô ta. Chúng tôi không phải đi lâu.

Cô ta sống trên tầng 6, trong một căn áp mái, trong một phòng nhỏ có bức tường cắt một nửa và trên nó căng một tấm vải che. Một góc phòng bị bưng kín bằng một tấm khăn trải giường mầu xám, góc khác kê một chiếc giường, rộng và êm. Nhiều tranh khắc treo trên tường.

Chúng chủ yếu là những bức ảnh chụp các họa phẩm cổ điển. Nhiều bức của Rodin. Tôi nhận ra ngay. Cô ấy lấy chúng ở đâu, cô ma này, và không biết chúng có ích gì cho cô?

“Cô có nhiều tranh khắc thế?” Tôi nói.

Cô nhìn tôi hơi sợ hãi, như thể tôi muốn lấy đi những bức tranh này của cô.

“Cô thích chúng hay đây là quà tặng?”

“Em thích chúng.” Cô ta nói dịu dàng và bắt đầu vội vã cởi váy áo.

Tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu cạnh bàn và tựa đầu lên cánh tay. Tôi không muốn cười nữa. Tôi muốn… Không! kết thúc đi!

“Anh buồn à?” tôi nghe bên cạnh tôi tiếng thì thào êm dịu.

Tôi ngẩng đầu lên và cười vào mặt cô.

“Tại sao tôi phải buồn? Vì tôi đã lên đến tầng 6? Đấy vẫn chưa phải là vấn đề lớn. Còn có những cái tồi tệ hơn. Được. Chúng ta sẽ đi ngủ chứ? Tuyệt…ở đây yên lặng lắm. Nhưng cái gì ở trong góc kia? Một chiếc giường thứ hai chăng? Chắc cho những vị khách đặc biệt?”

“Không. Quần áo em treo ở đấy.”

“Quần áo à? Cũng thế cả thôi. Thậm chí một trái tim treo ở đó tôi cũng cóc quan tâm. Nhổ lên tất cả mọi thứ, và thế đấy. Được không?”

“Được,” cô ta đáp và nhìn tôi rất chăm chú. Chúa ơi, cô ta có đôi mắt đẹp quá… Không, không phải đôi mắt, cái biểu cảm. Mắt cô xấu, như mắt cá, không gì sửa chữa được điều ấy. Nhưng cái biểu cảm của chúng thì đẹp. Ôi, nếu mắt Natalie cũng có biểu cảm như thế. Nhưng – để làm gì!

“À, thế nghĩa là tôi phải cởi quần áo. Tuyệt. Cô có nhiều khách không ?”

“Không, không nhiều lắm…”

“Không nhiều lắm? Thì cũng thế cả thôi” Nhưng, có lẽ tôi nên cầm lấy mũ và bỏ đi?

“Em xấu lắm nên ít người đến với em..”

“Thật ư?” Nhưng Natalie đẹp đến nỗi…

Trái tim tôi đầy đau đớn đến nỗi tôi tưởng rơi xuống tận đáy và tôi muốn quào sàn nhà bằng những ngón tay co quắp.

Tôi nhăn nhở cười với cô. Tôi không nghĩ cô có thể đọc ra niềm vui mừng trong cái cười ấy.

Cẩn trọng, nhu mì, cô chạm vào cánh tay tôi và dịu dàng vuốt ve nó.

Và thật lạ lùng, tôi thấy ấm bên trong và cảm thấy tiếc cho tôi.

“Với ai cô cũng mơn trớn thế này à?”

“Những người đang buồn.”

Không, nhất định có cái gì đó tuyệt vời trong giọng nói của cô, một cái gì nhu mì, nhưng là cái đến từ một sự thấu hiểu sâu sắc.

“Tại sao cô nghĩ là tôi đang buồn?”

Cô mỉm cười và không nói một lời cô bước ra xa, đến cạnh bàn và nghĩ ngợi. Ánh sáng từ ngọn đèn lọc qua chiếc chao đèn mầu lục tỏa xuống khuôn mặt xấu xí của cô một màu lục ngả xám. Trông cô giống như một xác chết đăm chiêu suy nghĩ về cuộc sống đã qua của nó qua làn sương mờ im lặng của quan tài mà trông thấy mọi thứ, hiểu và buồn một nỗi buồn hiền lành nhỏ nhoi tội nghiệp.

“Những người đang buồn có thể hiểu nhau”. Và khi nói thế, cô nhìn tôi vẻ tội lỗi và sợ hãi, sợ bởi vì cô dám so sánh tôi với cô.

Tôi đứng bật dậy và bước quanh phòng. Sao tôi muốn đến thế lấy hai tay đè mạnh lên ngực để ép bật ra cái khỏi đó cái cục gì nó đang chẹn ngạt tôi, như cho xì hơi ra khỏi một quả bóng. Trời ơi, sao ngạt thế.

“Nghe này! Cô có chút rượu nào không?”

“Không , em không có rượu”

“Nhưng vậy thì…” Có lẽ cô ấy có sợi dây thừng. Nhưng thôi, chết tiệt..

“Được. Sao cô không cởi ra? Cởi ra”

“Em còn phải tắt đèn.” Cô ta nói dịu dàng. Tôi nhìn cô. Đúng thật, cô ta không thể cởi quần áo dưới ánh sáng. Nhưng đó lại là điều tôi tuyệt đối cần.

“Sao lại tắt đèn? Không cần thiết. Tôi không thích tối. Tôi thích ánh sáng, tiếng cười, hạnh phúc.” Và tôi thậm chí bật cười.

“Sao cô nhìn tôi như thế? Cô không tin tôi à? Tôi nói có gì lạ đâu? Mọi người đều thích ánh sáng và hạnh phúc. Chắc cô có nến. Mang lại đây. Chúng ta sẽ thắp nến ở mọi góc. Sao cho ánh sáng xuyên vào mắt. Sao cho mọi vật đều được nhìn thấy. Trong mọi góc, hai, ba ngọn nến. Trút bỏ quần áo ra. .. từ góc ấy. Ánh sáng trong mọi xó xỉnh.”

Và tôi nắm mép tấm khăn trải giường mầu xám, kéo tuột nó ra. Đúng lúc ấy, có một tiếng thét vút lên sau lưng tôi, và tôi đứng chết lặng với góc khăn trải giường trong tay! Trong góc, trên hai chiếc rương nhỏ, đứng một pho tượng làm dở dang. Đó là tượng một người đàn bà xấu xí, xấu đến mức tôi không thể nào rời mắt khỏi nó. Đó là một cái gì nhức nhối, một cái gì bất ngờ, quyến rũ một cách kỳ lạ, đáng sợ nhưng đồng thời tràn đầy một nỗi đau thầm lặng, ngọt ngào khát khao bí ẩn. Tôi nhìm quanh tìm chủ nhân, cô ta đang đứng sau lưng tôi, mỉm một nụ cười âu sầu như có lỗi.

Cô rất giống người dàn bà đó.

“Có ai đã tạc nó ở đây?”

Không trả lời, cô cố lấy lại tấm khăn trải giường từ tay tôi và che lên tác phẩm ấy.

“Khoan đã.” Tôi nóng nảy gạt cô ra. “Nói cho tôi biết ai đã làm cái này?”

Cô ta trở nên tức giận. Mặt cô có nét biểu cảm đúng như nét mặt người phụ nữ kia, thậm chí những đôi môi mím lại một cách đau đớn và quyến rũ giống nhau. Một kiểu đẹp ngự trên những đường nét nhăn nheo, xấu xí ấy. Đúng, đúng, nó đẹp thật. Nó là cái gì khó tin, phi lý, nhưng đây là cái đẹp thật sự.

“Tôi đang tạc nó…” cô ta nói, mắt nhìn vào khuôn mặt người phụ nữ. Người phụ nữ nhìn cô, dường như họ hiểu nhau.

“Cô?… Chính cô?”

Con ma mỉm cười. Có cái gì đó đã xảy ra với cô, một loại biến đổi. Tội lỗi và sợ hãi biến đi đâu mất. Cô cúi đầu, nói chậm rãi.

“Có thể nó là chính tôi. Có thể nó là cái gì đó có trong mọi người. Không phải thế sao?”

Và ngửng phắt đầu lên, cô ấy nhìn tôi. Tôi chuyển mắt nhìn sang pho tượng. Thật sự có một cái gì thân quen trong đó, một cái gì gần gũi. Thật sự…

“Đây là một tác phẩm đẹp” tôi lầm bầm.

Tôi muốn nói một điều gì khác nũa, nhưng không biết nói gì

“Anh nghĩ thế à?”

“Vâng, tôi nghĩ thế.”

Ôi cái gì thân quen đến thế trong khuôn mặt này? Đôi mắt? Đôi vú chảy xệ khô héo vì sự chất phác và những rối loạn của trái tim, quai hàm trẹo đi vì bản năng thú vật? Cái miệng hé lộ nỗi đau bị tổn thương? Hay là sự khao khát kia, nỗi khao khát hiền lành, tối tăm, bí ẩn ấy – tìm một chỗ nơi nào đó giữa những vành môi, nơi nào đó dưới vầng trán thấp giữa đôi mắt sụp xuống kia?

Tôi lấy chiếc ghế đẩu, ngồi xuống và bắt đầu ngắm cái hình dáng tuyệt mỹ. Cái nhìn chăm chăm của nó qua vai tôi, găm vào một nơi nào đó, tới bóng ma kia, như thể cô ta bất cẩn và nghiêm túc để cho mình bị quan sát kỹ, đúng như tôi mong muốn.

Cả ba chúng tôi cùng im lặng. Một miếng đất sét đắp pho tượng rơi từ đầu gối nó xuống sàn. Đôi chân trông là lạ và khó tin, nhưng chắc chắn chúng là những đường nét đang tồn tại. Một dáng hình như thế này không thể thấy được, thế nhưng chúng đã được thấy. Nó có trong mỗi chúng ta. Thậm chí…

Bỗng nhiên ý ấy đập vào tôi. Nó giống Natalie.

Hết sức rối loạn, tôi nhảy bật lên khỏi ghế và bắt đầu nhìn tác phẩm ngu ngốc này! Thật ngu xuẩn! Thế nào? Ở đâu? Thật vớ vẩn! Con ma nhanh nhẹn chạm vào cánh tay tôi. Tôi nhìn quanh.

“Nó làm anh chán ngấy phải không?”

Tôi lại ngồi xuống. Thật vớ vẩn. Tôi nghĩ quá nhiều đến Natalie và nàng hiện ra trong một hình dáng ghê sợ như thế này. Tôi mỉm cười.

“Bức tượng của em đã làm anh chán ngấy.”

“Nó thật sự tuyệt diệu. Có một cái gì đó trong nó… Cô làm nó có lâu không ?”

“Sáu tháng”

Thật sự cái vật ghê gớm này hút người ta đến nó. Nó kéo mắt anh, nó kéo tim anh và hơi thở của anh đến với nó băng vẻ đẹp mê hồn và nỗi khát khao của nó; sự xấu xí và thảm hại của nó.

“Tôi muốn tạo hình một con người.”

“Một con người?”

Tôi quay đầu nhìn lại “bóng ma” từ đầu đến chân. Bây giờ cái miệng cô ta có một nét biểu cảm có trên người phụ nữ kia. Cô ấy đã nhìn vào gương khi nặn đôi môi này. Và cô ta cho bức tượng hình ảnh đôi mắt của chính cô. Và cái mũi tẹt kia giống như một quả mận bị ép.

“Cái đẹp này và cái xấu này có trong tất cả mọi người… trong mọi hình thức… Nhưng nó nhất định phải có. Chẳng phải sao?”

Tôi không nói.

“Nhất định phải có…Cả cái đẹp lẫn cái xấu… chỉ đôi khi cái đẹp bị giấu kín đến nỗi không thể thấy nó. Hoặc cái xấu ẩn dưới cái đẹp. Tôi muốn cho chúng bộc lộ cùng nhau… hay là tôi không nên?”

Cô ta hay nói “tôi có nên không?” Dù thế nào tôi vẫn im lặng và nhìn tác phẩm của cô. Nhìn càng lâu, tôi càng thấy trong lòng ấm áp và thoải mái. Như có một cái gì bóp nghẹt tôi, thổi phồng tôi, không cho tôi thở dễ dàng, đang từ từ thoát khỏi tôi qua một cái lỗ nhỏ.

Cảm giác thật diệu kỳ, và tôi không muốn cưỡng lại nó. Ôi, không! Tôi muôn nghe điệu nhạc ấy, cái giọng hơi vỡ ra dường như được bọc bằng một lớp men bạc, giọng của một người đàn bà đẹp. Tôi không muốn cử động để khỏi làm vỡ mất cái bình lặng của đêm, trong đó dường như chỉ có ba chúng tôi tồn tại cùng với cái ánh sáng dìu dịu của ngọn đèn trên bàn. Các góc của căn phòng này được bọc bằng sự hài hòa buồn bã của cái đẹp và cái xấu, ở trung tâm của cái thành phố khổng lồ tối đen đang ngủ say này.

Những đường nét của pho tượng kỳ lạ này toát ra một nỗi khao khát trò chơi hão huyền của cuộc sống. Cô gái đứng bên tôi, giọng của cô là giọng của pho tượng ấy. Trong tim tôi nỗi buồn thức dậy.

“Anh là nghệ sĩ phải không ?”

“Phải, tôi là một nghệ sĩ.”

“Em nhìn biết ngay. Em rất vui mừng. Em đã muốn trưng bày nó từ lâu. Nhưng em không thể… bây giờ em mới thấy những gì em làm là đúng. Em hạnh phúc.”

Cô xúc động. Cô ước vài bước về một bên, quay lại, xoa xoa hai tay. Rồi cô dịu dàng chạm vai tôi.

“Anh buồn à?”

Tôi gật đầu, mặc dù tôi không còn buồn nữa.

“Có phải điều gì đó làm anh chán. Tha lỗi cho em, vì em đã yêu cầu anh chuyện đó… Em thích anh.”

Tôi thích nghe nói thế dù tôi không rung động.

Cô im lặng.

“Anh có bao giờ cảm thấy tất cả mọi khốn khổ là một hình thức của cái xấu không ?…”

Tôi không động đậy. Tôi không muốn để cô nói, để cái giọng vỡ, khao khát ấy tiếp tục sau lưng tôi.

“Em luôn cảm thấy rằng… đó là lý do tại sao những người xấu xí lại thường bất hạnh đến thế… Xấu xí không phải chỉ trên mặt… Tất cả đều xấu.. Em không đúng à?”

Tôi thở dài sâu. Người đàn bà này biết nỗi buồn. Cô ta biết cái ý nghĩ về nó. Có lẽ cô ta thường xuyên nhìn nó kỹ quá như nhìn vào một vết thương.

“Sao anh không nói?”

Bỗng nhiên tất cả chuyện này trở nên tuyệt diệu. Bóng ma này, căn phòng được trang hoàng thanh nhã với thị hiếu nghệ sĩ này, những bức tranh, và bức tượng bị che khuất sau tấm khăn trải giường. Tôi đứng lên và lướt nhìn cô chủ nhà của tôi từ chân đến đầu. Cô đứng, hai cánh tay buông thõng bên mình, chăm chăm nhìn tác phẩm của cô. Đôi mắt cô mang cùng nỗi đau buồn như bức tượng của cô. Bản thân cô là một tác phẩm.

“Cô làm có lâu không ?”

Cô thở dài và quay mặt về phía tôi.

“Anh nói gì? Em xin lỗi, em không …”

“Tôi nói – Cô làm việc này có lâu không?”

“Việc gì?”

“Việc đắp tượng, tất nhiên.”

“Không, không lâu, chưa đến một năm”

“Và… làm gái?”

Cô ta cúi đầu xuống.

“Em không tìm được việc nào mà em có thể đi làm vào ban đêm”

“Không tôi không hỏi chuyện đó. Tôi hỏi cô vào nghề ấy đã lâu chưa?”

Tôi nói với cô như một quan tòa. Và cô ấy cảm thấy tôi có quyền nói với cô như vậy. Nhưng tại sao?

“Em đã làm nghề ấy ngay từ khi em bắt đầu làm bức tượng này.”

“Và cô làm tượng vào ban ngày.”

“Vâng.”

Tại sao tôi hỏi cô tất cả những chuyện ấy? Có trời biết. Tôi lại ngồi xuống ghế, tựa đầu lên lưng ghế, và không cử động. Ở nơi nào đó trong xưởng vẽ không người, Natalie đang ngủ. Cứ để cho nàng ngủ. Ngày mai nàng sẽ thấy sự đánh giá sắc đẹp của nàng. Cứ để cho nàng thấy.

“Nghe này” Tôi bỗng nhiên ngẩng đầu lên, “Có phải cô cố cho tôi thấy sự thống nhất của cái đẹp và cái xấu để thấy trong cái hình thức đẹp bề ngoài cái xấu bên trong bộc lộ ra, phải không ?”

“Không em không muốn cố theo cách ấy. Khó hơn nhiều.”

“Khó hơn? Hừ! Ừ khó hơn, đúng. .. nhưng nó có nhiều tác động hơn”

“Oh…nhiều hơn…”

“Nó phải gợi lên một nỗi buồn cùng cực. Nó phải gây ra rối loạn đau đớn ở tâm một sự kết hợp như thế, đúng không? để cho một vẻ đẹp như thế, một sự kết hợp như thế, sao cho người ta có thế thấy… Không! tôi nói không đúng… tôi không thể nghĩ… nhưng bây giờ tôi hiểu. Bây giờ tôi đã hiểu.”

Và tôi lại ngả đầu tựa lên vai ghế. Bây giờ tôi đã thật sự hiểu, rằng ngay cả trong những khoảnh khắc hạnh phúc thuần khiết nhất với sắc đẹp của Natalie, trái tim tôi bị bóp nghẹt bởi một nỗi buồn, nỗi khát khao chưa từng biết khiến tôi muốn khóc lên bằng những giọt nước mắt nóng hổi cho ai đó hay cái gì đó, và tại sao trong những giọt nước mắt đó có cả cái dịu dàng và hạnh phúc và nỗi đau và vô vọng.

Hiếu Tân dịch theo bản tiếng Anh (dịch từ tiếng Ukraine) của L. Hirna và D. Struk

Phía mùa rực rỡ

                                       Hoàng Thanh Hương

Ý ngồi nghe bản “Forever in love”, mùa xuân ngoài cửa, mùa xuân năm nào cũng đến ngoài mong đợi của nàng, nàng không thích những thứ thuộc về nó, bao năm rồi nàng không có tết, 30, mồng 1,2,3 thậm chí rằm tháng Giêng, chúng là chuỗi thời gian hân hoan của bao người, bao nhà thì nàng thờ ơ như ngày thường, như ngày đi làm đầu tuần, chẳng phấn khích, chẳng hào hứng, uể oải tiếc nuối hai ngày nghỉ với bao việc riêng chưa làm hết đành gác lại, lại là mớ công việc quanh quẩn với những mặt người quanh quẩn, tất cả cứ phải nhẫn nhịn thế để cuối đời có đồng lương hưu, để có cái danh công chức viên chức nhà nước, để ngong ngóng đợi đầu tháng nhận gần 4 triệu cho hơn 8 năm làm việc. Có lúc nàng bị bệnh sợ người, nhất là những người cùng giới, cùng ngành, cùng bộ phận công tác, những môi son hồng cánh sen, đỏ, cam vừa thơn thớt nói cười vồn vã, vừa quay lưng khuất bóng là đơm đặt, dè bỉu, bêu riếu, trắng đen thật giả lộn nhào, hỗn loạn. Mẹ bảo phần đa đàn bà là thứ rắn độc, nguyên nhân của mọi chiến tranh. Mẹ bảo mình là đàn bà, kiếp giời đầy, cố gắng không là số đông tồi tệ. Đời người luân hồi, thiện – ác có quả báo, đều phải đền trả sòng phẳng. Nàng tin chúa. Nàng đã thấy thiên đường trong những giấc mơ. Nàng đọc đâu đó khi trẻ người ta hay vấp váp, khi trung niên thì vật lộn và khi già hay nuối tiếc. Nàng chưa vào trung niên nhưng cũng không hẳn đang trẻ, cái cỡ 30 tuổi nó ở quãng giữa hai mốc kia, như thế nghĩa là vừa hay vấp váp vừa phải vật lộn. Năm nàng 28 người tình bỏ nàng theo mụ nạ dòng giàu nhất huyện C, gã chúi đầu vào bộ ngực đồ sộ cứng câng silicon của mụ, nghe mụ phỉnh phờ “Lấy em, anh sẽ là ông hoàng của thế gian”. Và gã bỏ nàng để làm ông hoàng của mụ ngực bự. Vài lần gã lái xe đứng đợi nàng đầu hẻm, nàng và gã giằng co, nàng tát gã, nàng tím mặt rồ ga phóng nay nẩy qua đám ổ gà ổ voi, về đến cổng nhà nàng mới khóc lu loa. Thằng ngọng đứng chơi phía bên cổng nhà nó líu lịu bảo đừng khóc, đừng khóc để ngọng gọi bố dỗ Ý. Nàng phẩy tay bảo đừng, bảo nó lại cô cho túi bánh cam nóng giòn. Tết mấy năm rồi chỉ có thằng ngọng hay chạy qua chạy lại líu lịu với nàng, bạn bè đến uống nước trà rồi đi, đồng nghiệp đến uống nước trà rồi đi, trà nhà nàng ngon đệ nhất vì nàng là kẻ rành trà, thích trà. Đĩa bánh ngọt còn nguyên từ ngày 1 đến ngày 15 tháng Giêng, thời buổi này chả ai còn thèm bánh ngọt. Nàng nhớ cái hồi bé tí, chao ôi chỉ mong đến tết để mà tha hồ ăn bánh kẹo, những thức ấy ngon ngọt thơm đến tận bây giờ. Còn giờ, bánh xịn loại A1 con nàng cũng chẳng thèm ngó lấy một cái, nàng thì sợ béo cũng lơ. Khách đến ngồi chào chúc cho phải phép rồi đi. Chỉ có thằng ngọng bới bới nhặt một cái màu vàng nó thích, ngồi nhai chậm chạp, gật gật on on (ngon ngon). 

Một cái tết cách đây 5 năm nàng sinh con một mình, bệnh viện thành phố đêm 30 trống trải và lạnh như xéo da ngắt thịt. Nữ hộ lý gầy gò đặt đứa bé nhỏ tí ti và tay nàng, ánh nhìn cảm thông: Không ai chăm à? Chồng đâu? Mẹ đâu? Nàng đón con, nó bé xíu, 3kg, ậm ạch từ đầu chiều giờ nó mới chịu để nàng thấy mặt, nàng gọi nó là Lì, tên đi học là Ly Ly, nó mang họ nàng, Mai Ly Ly. Nàng hỏi nữ hộ lý gầy gò có thích tên con bé không? Chị bảo tên đẹp chỉ khổ, theo ông bà ta xưa đặt tên xấu dễ nuôi, khỏi sợ ma quỷ nhòm ngó. Tên gì kêu lanh canh, nghe lạnh và ám ảnh tan tác. Sao không đặt là  Nụ, Nhài, Hiền, Mai cho nó dịu dàng, yên ổn. Nàng cười nhẹ, chị tên gì? Tên Thôi. Nàng nhiu mày tên gì mà như cấm đoán, ngăn cản thế? Chị đắp chăn ngang bụng nàng cười buồn kể lể bà già đẻ cố đứa con trai, chị thứ 9 vẫn thị mẹt, bà nản, sức khỏe đuối nên quyết không đẻ đái gì nữa, kết thúc ở số 9. Vũ Thị Thôi. Câu chuyện trôi êm giữa hai người đàn bà trong căn phòng hậu sinh lạnh xéo da ngắt thịt. Nàng lì xì chị 500 ngàn, chị chối đây đẩy. Chị bảo quanh năm nghề hầu người đẻ, chứng kiến bao buồn vui oán giận của thiên hạ khi được/bị nhận một sinh linh, nhọc lắm, tủi lắm rồi. Kiếp sau không làm người, làm kiếp chó, con người sống với nhau bạc quá. Mấy lần tính nghỉ, nhưng nghỉ thì chỉ có húp nước lã, mà nước lã cũng chả có mà  húp vì không có tiền đóng phí nước, nhà máy nước nó cắt pheng. Chị bảo mấy năm rồi chả có cái tết cái nhất gì sất, xin làm mấy ngày này kiếm thêm đồng nuôi thằng con giai học cấp 3, thằng bé giỏi như thần đồng, đẹp giai như bố, thương người như bố, hiền lành như bà ngoại, ăn no ngủ kĩ như bà nội… chị cứ như được khơi đúng nguồn, thao thao kể về thằng con. Bà mẹ nào cũng tự hào về con, cũng yêu con kì lạ. Còn nàng, nàng đang bế trong tay đứa bé đỏ hỏn, nó là thứ nàng không mong đợi, anh cũng không đợi mong. Anh bỏ nàng vì sự có mặt của nó. Nàng mở mũ để nhìn nó kỹ hơn, chẳng nhận ra gì, chẳng thấy gì, chỉ thấy lạnh từng cơn xông vào lưng, ngực, chân tóc buôn buốt. Nàng bảo nữ hộ lý: Chị ôm nó cho em ngủ chút, em lạnh quá, em sợ ngủ quên đè vào nó. Chị lườm nàng hừ một tiếng lầm bầm: Rõ là vụng, trẻ thế mà đèo bòng, khổ chưa? Nàng cười nhẹ, kéo chăn kín đầu, mùi nhang cúng giao thừa bên phòng họp khoa sản tỏa lan thơm thơm, tiếng nhạc ti vi rộn ràng chào xuân mới, nàng co đầu gối ép sát bụng cố dỗ giấc cho quên từng cơn đau co thắt tử cung. Tiếng chị ru hời ru hỡi buồn buồn rên rên, nàng lớn lên chẳng biết mẹ là ai, cha là ai, họ hàng là ai. Nàng buồn buồn lớn lên giữa cái xóm người làm công ăn lương nhà nước cư xử  kiểu cách nhạt nhẽo cùng mẹ nuôi – một văn thư ế duyên. Bà nhặt nàng trước cổng nhà thờ Mẹ vô nhiễm một sáng giáp tết. Nàng được trời ban sức khỏe và nhan sắc, nàng có trí nhớ tốt, đôi bàn tay đẹp như tay đức mẹ thiên chúa. Nàng ít nói đến nỗi trong xóm nhiều người tưởng nàng câm, nàng hay nhìn chăm chắm vào người đối diện không chớp mắt khiến họ bối rối, sợ hãi, nàng hay ôm chó mèo nói lảm nhảm thì thào, mẹ nuôi nàng kệ mọi điều dị nghị xôn xao, bà một mình nuôi nàng lớn nhanh như thổi, học giỏi nhất trường, vào đại học thủ khoa, ra trường được nhận làm việc ngay, nghề bác sĩ nhi là nghề mẹ nuôi mơ ước, nàng thực hiện mơ ước của bà một cách trôi chảy, bà yêu nàng một cách chân thành nhất thế gian, chắc là hơn cả tình yêu của người mẹ đẻ nàng, người vứt nàng lăn lóc sáng giáp tết nọ trước cổng nhà thờ. Bà ấy chắc xinh đẹp, chắc dại dột và chắc là ác như thú. Nàng nhớ mẹ nuôi, giá lúc này có bà, nàng sẽ được ăn những thìa cháo thịt bằm nóng hổi thơm nhức mũi, sẽ được uống cốc sữa nóng hổi béo ngọt để lấy lại sức, sẽ được bà xoa xoa hoặc chườm nước nóng lên vòm bụng đang cương trương đau thắt… Bà không chờ nổi ngày nàng lên xe hoa, không chờ nổi ngày hai mẹ con đi đặt thiệp cưới, không được nhìn góc trái thiệp ghi bà quả phụ Mai Thị Phi tổ 12 phường K, TP. Pleiku trân trọng báo tin lễ vu quy của con gái Mai Xuân Như Ý… Nàng thèm có mẹ nuôi quá, nước mắt nàng chan chứa. Những sự kiện buồn thảm toàn rơi vào đời nàng những ngày tháng tết đến xuân qua. Khi người ta vui vẻ sum vầy thì nàng một mình với nỗi đau mất mẹ, sinh con một mình, người yêu phụ bạc.

Phòng mạch của nàng ngoài giờ lúc nào cũng đông khách, những ông bố bà mẹ xuýt xoa, đi ra đi vào sốt ruột ngóng đợi đến lượt bế con cưng vào, những đứa trẻ nàng khám cho thuốc 3 ngày, 5 ngày, 10 ngày hết ho, ói, sổ mũi, ỉa chảy, sốt… Người ta đồn nàng mát tay mát vía. Người ta đồn nàng đẹp như đức mẹ nhưng kiệm lời, chẳng thấy cười, mắt luôn nhìn chăm chắm làm người đối diện lúng túng. Nàng giàu. Tiền mẹ nuôi ki cóp cả đời đủ để nàng sửa nhà cũ thành phòng mạch, đi làm cơ quan, hết giờ về làm tại nhà, nàng chẳng đi đâu, chẳng gặp ai, tết cũng chẳng thăm hỏi đồng nghiệp bạn bè. Bà trưởng khoa phê bình nàng ra rả mỗi dịp họp xét bình bầu thi đua cuối năm rằng nàng tự ti, thiếu quan tâm đồng nghiệp, không có tính phối hợp, không hòa đồng, không tích cực trong các phong trào văn nghệ thể thao… năm nào nàng cũng tự nhận hoàn thành nhiệm vụ, không lăn tăn bầu bán danh hiệu thi đua. Nhưng các chị già ở khoa thương nàng lắm, ai nhờ gì nàng cũng giúp, lịch của nàng dày ken vì trực thay. Các chị già giơ tay đề nghị nàng hoàn thành tốt nhiệm vụ, bà sếp gạt phắt, các đồng nghiệp cùng tuổi ngồi im, ngó linh tinh chỗ khác, các đồng nghiệp trẻ hơn sợ sếp ngồi im thít, tiếng thở kìm nén ấm ức. Chẳng ai muốn dây với bà, công việc bữa nay người đông của khó, bà điên tiết về tâu với ông chồng giám đốc viện là mai có ngay quyết định chuyển sang bộ phận khác. Chẳng ai dại. Ở viện nàng cái giường đôi ở nhà  và cái ghế da trên cơ quan của vợ chồng sếp là đề tài “hot”. Việc cơ quan cũng là việc nhà và ngược lại, cứ như thời phong kiến thống trị. Nàng thờ ơ. Mấy em nhỏ thì thầm vào tai nàng: Tết chị đến quà cáp bả để êm cho rùi. Nàng cười nhẹ, nhún vai. Tết nàng đút phong lì xì, họp tổng kết cuối năm xong tặng các chị già, cho các em trẻ, cho bác bảo vệ, các chị hộ lý kèm câu ngắn gọn: “Năm nay nhà em có tang không đến thăm được”. Tang hết 2 năm nàng vẫn một câu đấy mỗi khi tết đến. Các chị già làm mai đám này đám kia, nàng nể đi cà phê xem mặt, được 30 phút đòi về vì bệnh nhân đợi đầy nhà. Các chị già chán ngán bảo nàng làm để chết à. Nàng cười nhẹ. Mắt chăm chắm nhìn người trai đối diện. Anh chàng cà phê nhỏ giọt tránh mắt nàng.  Các chị già thở dài sườn sượt. Con gái gì mà mắt với mặt cứ buồn rười rượi thế kia sướng làm sao được. Rồi lại thở dài sườn sượt ngước mắt nhìn trời. Trời cao tít, nhấp nháy sao và sao.

Anh không chịu nổi nàng, anh không muốn cưới nàng, anh thích xài tiền của nàng, thích ngủ với nàng, thích ăn những món nàng nấu mỗi tối được về thành phố. Kĩ sư nông lâm ở huyện, gặp một lần anh lao vào nàng, đều đặn và lắm trò anh làm nàng xiêu lòng, đến khi nàng yêu anh, cần anh thì anh tỏ ý rút lui. Lý do anh chưa muốn có con lúc này, anh phải phấn đấu, chức phó chủ tịch huyện anh chạy đã 5 năm nay, bây giờ đang cơ cấu trẻ, nàng theo đạo công giáo sẽ khiến anh khó thăng tiến… nhiều lý do nàng không nhớ hết nhưng bạn anh lộ với nàng rằng anh bảo không chịu được sự im lặng của nàng. Lấy nàng anh sẽ không tiến được vì thầy bói nói anh và nàng khắc tuổi, nàng dân xóm đạo. Ba lí do bị phụ tình. Nàng không phá thai, anh mua nhà ở huyện, lên phố không đến nhà nàng, không liên lạc. Cứ như chưa quen nhau bao giờ. Nàng không phá thai. Bà sếp đòi kỷ luật nàng, đòi truy ra bố đứa bé, thế kỉ XXI rồi mà, nàng có quyền làm mẹ đơn thân. Các chị già chăm nàng ăn, trực thay nàng khi nàng nghén, đến nhà khám thay nàng những hôm nàng bệnh không gượng dậy nổi, cha mẹ bệnh nhân tặng nàng những món quà sơ sinh dễ thương của con họ, những món ăn vặt bà bầu. Nàng cười nhẹ. Mắt nàng nhìn chăm chắm.

Gã đến, gã yêu nàng như điên, gã trẻ hơn nàng hai tuổi, nhất gái hơn hai, người ta đồn gã là thằng đào mỏ, nàng kệ. Gặp gã nàng như bị sét đánh, lao vào nhau bốc cháy. Hơn một năm bên nhau gã là người tình tuyệt vời, gã chăm sóc nàng như nữ hoàng, thẻ lương gã luôn hết veo ngay từ giữa tháng bởi những quan tâm chu đáo cho hai mẹ con nàng. Ly Ly yêu gã gọi là papa, chị giúp việc yêu gã gọi là cậu Ba, nàng yêu gã gọi là mình. Những bữa cơm chung thật ấm cúng. Gã nài nỉ nàng ra giêng cưới. Nàng cười nhẹ, mắt chăm chắm nhìn gã gật lia lại, những tia mắt lóng lánh như pha lê, đêm mùa đông, phòng ngủ 30 độ C, dưới đèn hồng nàng đẹp như đức mẹ thiên chúa, vòng tay gã cuộn nàng ấm áp, giấc ngủ có gã thật sâu và êm dịu. Nhưng gã không cưới nàng, gã không thích làm nhân viên quản lý khách sạn quèn, gã không thích làm chồng khi chưa tuổi 30, gã mộng làm giám đốc công ty tư nhân, nàng không biết điều đó, gã chỉ nói với nàng khi đã say mèm rằng đời này anh yêu em mãi mãi nhưng anh nhất định phải có danh tiếng với đời. Không thể nào cứ con sãi ở chùa thì quét lá đa mãi được, con sãi cũng có thể làm vua chứ, nhất định phải làm được. Nàng không hiểu, vỗ về gã ngủ. Giờ thì gã làm vua rồi, mụ ngực bự hơn gã 7 tuổi, đại gia nông sản và gỗ gì gì đó, nức tiếng huyện T, các chị già chê mụ ngực bự là thứ hư hỏng, đấy là hàng xách tay, cơ sở hai của quan này quan kia mấy đời mới củng cố được cơ ngơi địa vị như thế. Nàng tặng anh một câu ngắn gọn: “Mong anh làm vua mãi mãi”. Nàng xóa số anh, nàng xé nát ảnh, nàng vứt vào sọt rác những thứ liên quan đến anh… nàng thất tình như tuổi teen. Khi ba mươi tuổi đàn bà yêu sâu hơn nhưng cũng cả tin hơn. Khi ba mươi tuổi đàn bà bắt đầu biết quý những gì mình đã có và cả biết tiếc. Gã gọi điện, gã nhắn tin, gã đến trường gặp Ly Ly, ôm hôn nó ngấu nghiến, cho nó gấu Misa và sữa, bông tai vàng, con bé vẫn gọi gã là papa, chị giúp việc vẫn nhắc cậu Ba, nàng im lặng, nàng câm lặng, nàng nhẹ cười khi ai đó nhắc lại mối tình của nàng và gã.

Ý ngồi nghe bản “Happy new year”, mùa xuân đang về qua ngõ, giàn hoa tigon nở hồng mong manh, nàng đóng cửa phòng khám, hôm nay sinh nhật nàng, ngày giáp tết cách đây 30 năm nàng chào đời, bị bỏ lại trước cổng nhà thờ mỗi ngày nàng vẫn đi qua, được nhặt lên và đem về nuôi nấng, được mẹ nuôi cho cái tên đầy mong chờ hạnh phúc, được làm mẹ khi 25, nàng tự hỏi giờ mẹ nàng ở đâu, bà có dằn vặt trong tim mỗi khi nhớ đến nàng. Nàng đã làm mẹ, mẹ đơn thân khi tuổi 25 nhưng nàng sẽ không phải dằn vặt đến khi chết.  Anh đã lên được chiếc ghế phó chủ tịch huyện, đã xây nhà ba tầng, sắm xe hơi, đã kết hôn nhưng không có con, vợ anh bị khiếm khuyết ống dẫn chứng. Anh không lần ghé thăm Ly Ly. Mai là sinh nhật con. Đôi khi nàng vẫn nghĩ về anh, không oán trách. Gã đã làm giám đốc, mụ vú bự đã sinh bé gái nặng 4kg.  Gã nói với Ly Ly nó là em gái con – Ly Ly em. Mụ vú bự nhắn tin “Chị em mình cùng yêu một người đàn ông, em có duyên mà không phận, chị may mắn có phận, mong em dĩ hòa vi quý để hai nhà được yên vui em nhé!”. Mụ hẹn tết bế Ly Ly em ra thăm Ly Ly chị. Nàng nhắn lại “ok, nên cho bé bú sữa mẹ!”, send thêm cái biểu tượng mặt cười vàng chóe. Khi ba mươi tuổi đàn bà vị tha hơn, biết nghĩ về tương lai hơn, biết thương mình và âu lo hơn.

Hôm nay nàng tròn ba mươi. Mùa xuân đến ngõ, lao xao phố phường, thằng ngọng bấm chuông. Nó chìa mảnh giấy qua kẽ cửa. “Chiều qua nhà anh tất niên, anh gói bánh chưng cho hai mẹ con rồi, đừng mua bánh chợ về cúng mẹ nhé!”. Nàng nhướn mắt, nàng cười nhẹ. Mắt nàng ngó chăm chắm sang bờ rào đối diện. Bố thằng ngọng đang vừa lau mấy chậu mai vừa hát “Happy new year”. Nàng nghe có tiếng Ly Ly và chị giúp việc bên ấy. Nàng mở cổng. Từ ngày mẹ thằng ngọng qua đời vì ung thư gan đây là lần thứ hai chị sang nhà anh. Anh chuyển về đây ở khi nàng vừa 20. Lâu lắm rồi nàng mới nhìn kĩ một người đàn ông. Anh chỉ cái xích đu: “Ngồi đi, chậu mai này tặng em, mừng sinh nhật nhé, mừng xuân luôn”. Ly Ly ôm cổ anh nũng nịu: “Bác hông tặng con bánh tò te à?”, “Tối mai mới có bánh tò te chứ? Mỗi đứa hai cặp tha hồ mà ăn”. Thằng ngọng chỉ vào chồng bánh trên chiếc bàn gỗ nơi góc thềm: “Ánh ưng của ố, ủa ọng, ủa em Y Y, ủa ị Ý”. Nàng cười nhẹ, mắt nhìn đăm đắm thằng ngọng đang nặng nhọc phát âm, cố diễn đạt điều nó muốn khoe. Tên nàng nó nói rõ nhất, tên nàng dễ gọi, người ngọng cũng có thể phát âm chuẩn. Anh quay nhìn nàng, mắt cười, ngập ngừng: “Hay là ba mẹ con chị em nhà Ý mai qua đây cùng đón giao thừa với bố con anh cho vui?”. Nàng nhìn anh đăm đắm. Giờ nàng mới nhớ câu mẹ nuôi khen anh “ Đàn ông đàn ang gì mà tử tế thế. Vợ bệnh con tật  mà thương yêu chăm sóc một dạ một lòng”.  Nàng gật gật, mắt nhìn anh chăm chắm. Anh bảo: “Em cười đi, Ý cười đẹp lắm đó”. Nàng gật gật nhoẻn cười. Ly Ly và thằng ngọng vỗ tay nhảy choi choi reo ầm ĩ: “A mẹ cười rồi, mẹ cười rồi”. Nước mắt nàng tự nhiên chan chứa. Bỗng nhiên nàng muốn đi chợ, siêu thị, các cửa hàng, hôm nay sinh nhật nàng, mai tết rồi, mai sinh nhật Ly Ly, nàng muốn sắm sanh thật nhiều thứ, cho mình, cho Ly Ly, cho chị giúp việc, cho bố con thằng ngọng, cho mấy chị già, mấy em trẻ cơ quan, cho bác bảo vệ, mấy chị hộ lý, cho cả bà sếp… Chị gọi: “ Này, anh lái xe chở mẹ con em đi sắm tết nhé”. “Tuân lệnh”. Nói xong anh giơ tay chào kiểu nhà binh. Ly Ly và thằng ngọng vừa nghe thế lại nhảy choi choi reo ầm ĩ: “A đi sắm đồ Tết thôi, đi thôi mẹ”… nàng nhoẻn cười, hai má hồng hồng, mắt nhìn chăm chắm vào lũ con, vào anh, vào chậu mai bắt đầu xòe những bông vàng rực rỡ háo hức đón mùa./.

                                                                                                H.T.H

Ngó Ra Đường Vắng Hoe

Nhánh Liễu Buồn Gió Chải

Trần Vấn Lệ

.

Cả tuần nay trời nắng.  Sáng, chiều, lạnh bâng quơ.  Cali rất ít mưa, chỉ mưa khi bão rớt…

Cũng thèm mưa rắc hột, mà không có thì thôi!Chắc con chim bật cười nếu nó nghe mình nói?Cây đang mùa kết trái, nhìn mãi thấy vui vui…Bè bạn không con ai mặn mòi thăm nhau nữa…Mà có thăm, có hứa; hứa rồi biết làm sao?  Ngày tháng trôi qua mau, lời hứa nào cũng chậm…Có khi lòng vẫn thắm, tình thì lại mây trôi!*

  • Làm thơ mình săm soi rồi gục xuống bàn viết.  Bài thơ nào chấm hết?  Hình như chưa bài nào!
  • Bốn tám năm chiêm bao, ước mơ thành mộng mị!  Không ai gọi Chiến Sĩ những người trai cuối đời!
  • Có lúc cũng ngậm ngùi…chỉ ngậm ngùi có lúc. Mẹ Cha từng khổ cực gấp trăm lần bầy con…
  • Nhắc để nhớ Quê Hương, nhắc để cho còn nhớ: núi chưa mòn hơi thở, sông đi nữa vẫn dài!
  • Ngộ chớ chữ Trần Ai!  Ai trần ai…   ai biểu?  Công Hầu, Khanh Tướng thiếu trong tất cả bài thơ…
  • Em có hiểu thế chưa?  Tha nhé người lỡ cuộc. Cúi đầu trước Đất Nước, gục đầu Đất Nước đâu?
  • Tôi hỏi chim bồ câu, chúng giụi đầu thương mến.  Ở đây không chim én dù mùa Thu sắp về…
    Ngó ra đường, vắng hoe.  Nhánh liễu buồn, gió chải… 

    Trần Vấn Lệ 
  • Delete
  • Move to
  • Forward

Tiểu Mai

             

                                                     “Trò chuyện với thiên thần – Những tai họa thế giới và giấc mơ Việt Nam

                                                                   Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. ( 6.2020)

          Nhà Văn  Kiều Bích Hậu đã giới thiệu bài viết của Tiểu Mai về Trò chuyện với thiên thần đăng trên trang Kết nối văn học thế giới (www.worldliterature.link) và trên Facebook cá nhân : “Một cuốn sách mà bạn có thể đọc lúc thảnh thơi để tìm được sự đồng cảm, nhưng cũng có thể đọc lúc tâm trí rối bời để tìm về bình an.”

“Trò chuyện với thiên thần – Những tai họa thế giới và giấc mơ Việt Nam” là một cuốn sách lạ lùng! Nó lạ từ cái tựa cho đến thể loại mà tác giả lựa chọn. Nhưng nếu có thể vượt qua giây phút e dè ban đầu để mà tiếp cận sách, thì chắc chắn nó sẽ lập tức biến thành thỏi nam châm hút người đọc ngay từ trang đầu tiên.

Xa lạ mà gần gũi,

Hiểu được băn khoăn thông thường của độc giả nên Trương Văn Dân đã có đôi dòng giải thích ngay rằng: “Độc giả chắc sẽ bất ngờ về quyển sách này và nghĩ rằng các đề tài đề cập trong sách đều xa lạ với cái thế giới mà ta đang sống, vì đó chỉ là một cuộc trò chuyện với một nhân vật siêu việt: Thiên thần.

Nhưng hoàn toàn không phải vậy, đó là quyển sách có những câu chuyện liên quan đến đời sống chúng ta, đến thân phận làm người, dù là nam hay nữ, trong cuộc sống hàng ngày.”

Tất nhiên rồi, dù là hư cấu đi chăng nữa, nếu không liên quan đến đời sống thì sẽ chẳng mấy ai tìm đọc. Nhưng “Trò chuyện với thiên thần – Những tai họa thế giới và giấc mơ Việt Nam” rõ ràng không phải là hư cấu. Bởi vì, tác giả trò chuyện với nhân vật tưởng tượng để nói với một tương lai hiện thực. Nhà văn Vũ Ngọc Tiến nói: “Nếu gọi đây là một giáo trình tổng hợp về nhân loại học như một “Bách khoa thư” về cuộc sống cũng không sai bởi mỗi lần trò chuyện của người cha với thiên thần nhỏ bé là một bài giảng bao chứa các vấn đề triết học, tôn giáo, đạo đức học, xã hội học; thậm chí cả những vấn đề về chính trị học, kinh tế học của thế kỷ XX vắt qua hai thập niên đầu của thế kỷ XXI như chiến tranh, toàn cầu hóa kinh tế, cách mạng tin học,…”

Xem chừng “nội thất” cuốn sách này hầu hết đều là những chủ đề đau đầu buốt óc và có vẻ khô khan, nhưng làm thế nào nó vẫn “thao túng” được người đọc, đến mức không thể đọc lướt mà phải đọc thật kỹ, thậm chí đọc đi đọc lại những đoạn làm họ tâm đắc?

Câu trả lời vẫn nằm gọn trong hai chữ: Thực tế – đặc tính bám rễ và ăn sâu vào phong cách viết của Trương Văn Dân. Nói cách khác, những câu chuyện thực tế được tác giả quan sát, ghi nhớ để rồi viết ra bằng lối văn chương chân thật và minh triết, khiến những người bạn tri âm của ông cũng phải ngưỡng mộ. Nhà văn Đặng Châu Long nói: “Trò chuyện với thiên thần là một tác phẩm văn học dành cho ai yêu quá đỗi đời này”. Nhà văn Elena Pucillo Truong thừa nhận: “Đây là một quyển sách để chúng ta dừng lại và suy nghĩ.”

Không dừng lại để mà suy nghĩ sao được khi mà mỗi trang sách của Trương Văn Dân đều có một đoạn, thậm chí nhiều đoạn khiến người đọc chỉ muốn ghim ngay vào cuốn sổ ghi chú: “Chừng tuổi này, tôi quá hiểu là của cải không nằm lâu trong bàn tay của một người mà nó luôn được chuyển từ tay người này sang tay người khác. Chủ tài sản giống như những người ở trọ trong khách sạn hay hành khách trong một toa tàu: Tuy có mặt, nhưng chẳng bao giờ được ở lâu.”

“Trong nhịp sống mới, áp lực của người trẻ giống như một vận động viên điền kinh không tìm được vạch chiến thắng. Chạy miệt mài nhưng chạy đến đâu cũng không tìm thấy vạch cuối cùng.”

“Hiện nay không chỉ ở Nhật dù xã hội phát triển, có internet và các mạng xã hội nhưng nỗi cô đơn đã trở thành bệnh dịch toàn cầu!”

“Nếu có một người nào đó hỏi ba: Bạn muốn con mình lớn lên sẽ trở thành gì? Luật sư? Bác sĩ? Kỹ sư? Nhà quản trị?, ba sẽ không ngần ngại trả lời: Hạnh Phúc.

Vì mỗi khi gặp nhau, phần lớn mọi người sẽ hỏi con: Con làm việc ở đâu? Công ty nào? Lập gia đình chưa? Có mấy con? Đã mua nhà chưa? Mua xe chưa?… như thể cuộc đời chỉ là bảng liệt kê những món hàng. Phần lớn đều xây nhà trên sa mạc mà cứ tưởng là vững chãi. Nhưng chỉ cần một câu hỏi thì tất cả những thứ đó liền chao đảo: Con có hạnh phúc không?

Thực ra thì ai cũng tin là mình đã hành động đúng, nhưng theo ba chỉ có một cách để kiểm chứng: Nếu không bình an và hạnh phúc có nghĩa là mình đã sai lầm.”

Là một độc giả đã thẩm rất kĩ cuốn sách “Trò chuyện với thiên thần”, nhà văn – nhà nghiên cứu văn học Nhật Chiêu khẳng định: “Tác giả hẳn sẽ nhận được đồng cảm tri âm bởi ông đã thắp lên một que diêm cho mỗi đêm buồn mất ngủ.”

Đồng hành với cuốn sách này, độc giả sẽ thấy thiên thần thực ra cũng rất gần gũi, trong sáng, luôn ôm ấp và che chở chúng ta bằng đôi cánh mềm mại, làm bất cứ việc gì cũng bằng trái tim dù trong linh hồn họ luôn có rất nhiều vết sẹo…

Thức tỉnh để cứu rỗi mình thoát khỏi sự tự hủy diệt

Trương Văn Dân đam mê cống hiến cho nghề viết đến mức ông không cần người ta phải gọi tên sách của mình sao cho đúng.

“Tôi chỉ viết với ý muốn được chia sẻ những suy nghĩ về cuộ sống và mong bạn đọc hiểu cho rằng những trang viết của tôi là không vô nghĩa, không giáo điều. Vả lại, những điều tôi nói cũng chưa hẳn là mới, mà chủ yếu chỉ là những nhận thức chung và ước muốn nhìn thẳng vào sự thật. Tôi cũng như bạn, không ai có thể chắc chắn về điều gì. Bản chất của cuộc đời là đổi thay liên tục. Khi chúng ta tưởng có mọi câu trả lời thì những câu hỏi đã bất ngờ thay đổi”, Trương Văn Dân tỉ tê như thế trong cuốn sách “Trò chuyện với thiên thần”.

Có lẽ, số đông độc giả sẽ đồng tình với nhà Elena Pucillo Truong, rằng “Trò chuyện với thiên thần” khiến chúng ta dừng lại và suy nghĩ. Động thái này của độc giả chính là thành công của tác giả bởi vì, “Đời sống không phải là một trò chơi trên mạng ảo nên khi ý thức được điều này sẽ làm nhiều người vô cùng khổ sở. Trong đời sống thực chúng ta đau khổ, chúng ta chết mà không thể nào tránh khỏi. Nhưng chúng ta không thể chạy trốn khổ đau bằng cách ngắt điện hay tắt chiếc điên thoại di động. Chúng ta hiểu là sự tiến bộ có thể giúp ích cho con người nhưng con người cũng cần phải phát triển những kỹ thuật có đạo đức, và chỉ có thế chúng ta mới mong cứu rỗi mình thoát khỏi sự tự hủy diệt, trước khi chạy đến điểm không còn có thể quay lại.”

 Nguồn :