Feeds:
Bài viết
Bình luận

K H I GIAMAHAVU . . . “I U”.

Thuận Nghĩa.

 
Tôi thường nhận được những tài liệu về tuổi già viết bằng tiếng Việt, Anh, Pháp với bản dịch tiếng Việt từ bạn già khắp nơi trong và ngoài nước. Khi thì những chỉ dẫn về những dấu hiệu của chứng đột quỵ, đau khớp, đau tim,…; những phương pháp tập luyện, dưỡng sinh, vân vân và vân vân. Nếu dùng công cụ tìm kiếm của google với những từ khóa “ lão khoa, bịnh người cao tuổi…” bạn sẽ có núi tài liệu, phải sống 200 năm mới đọc hết. Nếu có chí học các phương pháp tập luyện, nào là dịch cân kinh, yoga, thiền …mỗi ngày phải có 48 giờ mới đủ thời gian thực hành, không khéo sẽ bị tẩu hỏa nhập ma.
Một số bạn già của tôi mách cho nhau những bài thuốc “cải lão hoàn đồng “, bài nào cũng “hay lắm”; hoặc tìm ăn các thứ đặc sản như rắn, rết, bọ cạp, kỳ đà, cắt ké,…con gì cũng bảo “ep-phê”. Phổ biến nhất là các thứ rượu thuốc, ngâm đủ thứ cây con, để càng lâu càng “tốt”. Một bác sỹ danh tiếng bảo với tôi rằng dựa theo kết quả phân tích trong phòng thí nghiệm những thứ cây con ấy lâu ngày bị phân hủy khiến rượu thuốc không khác gì nước cống, chỉ khác nhau mùi vị. Chắc là phải tham khảo ý kiến nhà văn Trương Văn Dân, vốn là chuyên gia hóa dược làm việc lâu năm ở Ý, để biết thực hư thế nào. Ớn nhất là các loại rượu pha máu tươi, tim, mật của thú hoang dã như rắn, gấu, bò tót,…Các chuyên gia y tế cho rằng trong các loại máu động vật có những loài ký sinh, vi trùng, vi khuẩn có thể cộng sinh với loài vật nhưng rất nguy hiểm cho người.
Có lẽ, những thức ăn đặc sản, rượu thuốc ấy là những thứ doping, có tác dụng sinh lý thì chưa chắc nhưng tâm lý thì nhiều – liệu pháp tâm lý đôi khi cũng cần để người già có cảm giác …không già hoặc ít già so với tuổi tác thật.
Mới đây, một ông bạn là bác sỹ hưu trí, gửi cho tôi “Mười lời khuyên dành cho người cao tuổi”, tóm tắt như sau:
(1) Hãy vui vẻ với mọi người, (2) Làm chương trình xài hết tiền mình có, đừng tìm vui trong việc làm tiền, tích cóp của cải, (3) Hãy sống với thực tại vì “ Ngày hôm qua thì đã qua. Ngày mai thì chưa đến, thậm chí không bao giờ đến”, (4) Hãy vui vẻ với cháu nội-ngoại nhưng đừng tự nguyện làm người giữ trẻ trọn thời gian, (5) Chấp nhận già, yếu, bệnh tật…và cái chết vì đó là quy luật sinh, lão, bịnh, tử. (6) Vừa lòng với những gì bạn có, đừng nhọc sức tìm kiếm những gì bạn không/chưa có vì thời gian không còn nhiều nữa, đã trễ rồi, (7) Vui với người phối ngẫu ( vợ/chồng), con cháu, bạn bè. (8) Giả có ai yêu bạn, người đó phải yêu chính bạn chứ không phải những gì bạn có, (9) Tha thứ cho  người và cho mình, và (10) Làm quen với cái chết vì chết là một phần của cuộc đời. Đừng sợ.
Những lời “khuyên” đại loại như trên có lẽ phổ biến, bất kể đến từ Tây hay Đông. Những ai đang cố gắng vô ích với rắn, rết, bò cạp,…giống như Tần Thỉ Hoàng tìm thuốc trường sinh bất tử thì tham khảo điều (5), (6), và (10). Những ai đang sống với con cháu chú ý điều (4), tuy nhiên nếu bạn không có khả năng độc lập về tài chính, phải sống nhờ con thì đành chấp nhập là babysitter, thậm chí làm “o sin”vậy. Tục ngữ có câu “mẹ già bằng ba con ở”, chứng tỏ chuyện mẹ già làm o-sin đã có từ xửa từ xưa. Thế nên ông Đặng Tiểu Bình có lời khuyên nên dành dụm chút tiền cho tuổi già có thể “tự lực cánh sinh” là vì vậy. Cũng có người, nhất là ở nông thôn, chia của cải cho con cái, không giữ lại chút tài sản nào để “dưỡng già”, thành trắng tay, phải ăn nhờ, ở nhờ con cái ngay trong nhà của mình. Cho nên bạn cần tham khảo điều (2), phần nào để dưỡng già, phần nào để lại cho con cháu. Tục ngữ có câu: “Đời cua cua máy; đời cáy cáy đào”. Ngay cả Bill Gates, ông chủ Microsoft, tiền rừng bạc biển mà chỉ dành cho con 10 triệu dollars, một số tiền nhỏ trong khoảng 40 tỷ  tài sản. Còn những lão vẫn còn ham chạy theo tiền bạc, kiếm danh vọng…thì miễn bàn. Mười lời khuyên nầy có lẽ xuất xứ từ phương Tây, nhưng xem ra nội dung các điều (3), (9) và (10) cũng tương tự nhân sinh quan phương Đông- nhất là Phật – ở chỗ “sống với hiện tại”, “Tha thứ cho người và cho mình” va “ làm quen với cái chết vì cái chết là một phần của cuộc đời”( tức sinh-lão-bệnh-tử).
 
Tôi thì quan tâm đặc biệt điều (8):“ Giả có ai yêu bạn, người đó phải yêu chính bạn chứ không phải yêu những gì bạn có”. Đúng rồi, không thể bỏ sót mục nầy vì chẳng lẽ người già không yêu ai và không được ai yêu – yêu ở đây là tình yêu trai-gái. Quả vậy, trên xunau.org và những trang khác có vô số thơ, văn về đề tài iu iu mà đa số tác giả là các ông bà U 60, 70, đã đành hầu hết là những hoài niệm nhưng biết đâu trong đó vẫn có iu theo thì hiện tại. Tại sao không? Tình Yêu đâu có tuổi.
Trở lại lời khuyên ở Điều (1) “Hãy vui vẻ với mọi người”. và Điều (3) “Hãy sống với thực tại”. Tình yêu trong thì hiện tại giúp cho ta “sống với thực tại” (Đ.3) và được“vui vẻ” (Đ.1), NẾU…Thế đấy, cuộc đời luôn lè kè chữ “nếu”. “Nếu” là điều kiện cần và đủ. Chẳng hạn, nếu bạn được phép iu, đủ sức iu, …và trước hết nếu có ai đó iu bạn. Nhưng cái “Nếu” tối quan trọng là ai đó “phải yêu chính bạn chứ không yêu những gí bạn có”. Nhân vật người Úc gốc Việt trong truyện “Sống để trả nghiệp” của Đinh Tấn Khương  (trên xunau.org) khôn ba năm dại một giờ giao trái tim và hốt tiền vợ con cho cô sinh viên bạch cốt tinh đến nỗi thân bại danh liệt theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, sống dở chết dở để “trả nghiệp”. Nếu anh ta cảnh giác đặt câu hỏi “ cô ta yêu tiền hay yêu người” thì có lẽ đã không bị rơi vào bẫy tình, giả có lỡ rơi vào thì cũng biết bỏ của chạy lấy người, đâu đến nỗi bị thằng tình địch trẻ khỏe ném xuống lầu đến chấn thương sọ não. Nói thì dễ nhưng cái bẫy nào cũng được ngụy trang khéo léo, khi đã “mù con mắt” rồi làm sao nhận ra nó. Xét cho cùng, trong thời buổi nầy cái gì cũng có giá, chẳng ai cho không cái gì, kể cả cái gọi là “tình yêu”. Sự thật đôi khi phũ phàng nhưng dẫu phũ phàng cũng là sự thật.
 
Thà rằng cứ yêu “lặng lẽ” như Nguyễn Quy hoặc “ lặng thầm” như Nguyễn Thị Tiết cho chắc ăn. An toàn là trên hết. Nhớ nhé các GIAMAHAVU…iu*
Thuận Nghĩa.
19-9-2011

Con đường đi dạy

Hà Thanh

Ngày xưa con đường đi dạy

Cây dài bóng mát đu đưa

Bay bay  đôi tà áo lụa

Con đường là nhạc là thơ

.

Bây giờ con đường đi dạy

Chang chang nắng lửa trưa hè

Mịt mù mưa dầm tháng bảy

Chiều về nơm nớp kẹt xe

.

Thăm thẳm con đường đi dạy

Nhọc nhằn con đường áo cơm

Tuổi mình gối chồn chân mỏi

Đường dài như càng dài hơn

.

Không còn hoa cài nắng đổ

Không còn con đường mưa thơm

Mỗi ngày con đường đi dạy

Dài theo quãng đời ly hương.

Cõi tình thơ của Hàn Mặc Tử

Đặng Hoàng Thám
Đồi Thi Nhân. Ảnh: Mai Lý

(TBKTSG Online) – Có dịp đến thành phố biển Quy Nhơn, thủ phủ của tỉnh Bình Định, hầu như ai cũng muốn tìm đến Ghềnh Ráng – Tiên Sa để thưởng ngoạn vẻ đẹp tuyệt vời mà thiên nhiên đã ban tặng cho dải đất ven biển nầy. Danh thắng Ghềnh Ráng ở phía đông nam Quy Nhơn. Từ đầu đường Hàn Mặc Tử chạy dọc theo biển, đi khoảng 2,5 cây số về phía nam, ta sẽ đến Ghềnh Ráng.

Mua vé vào cửa (6.000 đồng/người), du khách vào cổng rồi đi lên “dốc Mộng Cầm” chừng 150 mét là đến trung tâm khu du lịch Ghềnh Ráng; từ đây sẽ tha hồ phóng tầm mắt quan sát cảnh sắc thiên nhiên trong một khu vực rộng khoảng 35 héc ta.

Từ trên đồi Thi Nhân rợp bóng những cây bàng xum xuê, những gốc sứ trắng, hoàng lan, xoan, tràm hoa vàng… dọc theo những bậc đá quanh co, khúc khuỷu, du khách thả bộ xuống sát mé biển. Những lúc biển yên sóng lặng, ta thấy rõ hàng vạn viên sỏi lớn nhỏ, nhiều màu  sắc, chồng, sắp lớp lên nhau dưới làn nước trong xanh như ngọc bích. Nơi đây gọi là bãi Đá Trứng. Đặc biệt, phía trên bãi có một mạch nước ngầm từ khe núi chảy ra, tạo thành hai giếng nước ngọt hình lòng chảo nằm kề nhau, đường kính miệng rộng hơn một mét. Những khi biển động, những lượn sóng bạc đầu vỗ mạnh vào những ghềnh đá, tung bờm bọt trắng xóa tung cao trông rất đẹp mắt và lãng mạn!

Bãi Đá Trứng. Ảnh: Mai Lý

Dọc lối đi theo sườn núi sát biển, du khách gặp nhiều cảnh quan độc đáo. Do trải qua hàng triệu năm, bị mưa nắng xâm thực, trên một phiến đá lớn có hình nổi lên trông giống như mặt người. Đi một quãng, du khách sẽ gặp một khối đá trông tựa đầu con sư tử đang chồm ra biển, gần đấy có một hòn đá nhỏ giống như người vợ bế con ngóng chồng, dân gian gọi là đá Vọng Phu. Ngoài ra, ở đây còn có hai khối đá lớn chồng xếp lên nhau, chênh vênh như chực rơi xuống, gọi là hòn Chồng.

Cạnh bãi Đá Trứng là bãi tắm Hoàng Hậu, non nước hữu tình, cảnh quan xinh đẹp, nghe đâu xưa kia chỉ dành riêng cho hoàng hậu Nam Phương, vợ vua Bảo Đại. Từ bãi Đá Trứng nhìn về phía Bắc, ta sẽ thấy một góc trong toàn cảnh thành phố biển Quy Nhơn hiện đại, xinh xắn với kiến trúc hài hòa chạy dài đến đầm Thị Nại, bán đảo Phương Mai và khu công nghiệp Nhơn Hội.

Trên đồi Thi Nhân có nhiều chòi lá nhỏ, thấp thoáng, lẫn khuất giữa muôn vàn hoa kiểng xinh tươi. Du khách sẽ gặp nhiều loài hoa đẹp như liễu đỏ, hồng nhung, soi nhái, sứ trắng, hoàng anh, hướng dương, dạ thảo… Cạnh lối đi lên đồi, trên một tảng đá to bằng nửa gian nhà có khắc chữ “Trí” (tên thật của thi sĩ Hàn Mặc Tử) theo lối viết thư pháp.

Có thể đi xuyên qua vạt rừng nhỏ vòng qua đồi Thi Nhân, cũng có thể đi từ cổng lên một quãng ngắn, rẽ qua con đường nhựa phía tay phải, vượt lên những bậc tam cấp đến viếng thăm ngôi mộ mới của nhà thơ tình lãng mạn lừng danh: Hàn Mạc Tử.

Phần mộ thi sĩ Hàn Mặc tử. Ảnh: Mai Lý

Mộ ông nằm dựa lưng chừng núi, giữa không gian thoáng đãng nhìn ra biển khơi bao la lộng gió. Chung quanh mộ có nhiều hoa  kiểng. Cảnh quan sáng đẹp – an nghỉ nơi đây, có lẽ thi sĩ không còn buồn nữa! Hầu như quanh năm suốt tháng có rất nhiều người ghé thăm, thắp hương tưởng niệm, đồng cảm với ông. Những ngày mang chứng bệnh nan y, an dưỡng ở trại phong Quy Hòa gần đấy, cảnh vật trữ tình, thơ mộng của Ghềnh Ráng đã là nguồn cảm hứng lai láng của người nhà thơ tài hoa bạc mệnh nầy:

“Ai mua trăng, tôi bán trăng cho

Trăng nằm yên trên cành liễu đợi chờ

Ai mua trăng tôi bán trăng cho

Chẳng bán tình duyên ước hẹn thề”…

Địa danh Ghềnh Ráng – Tiên Sa còn gắn với một sự tích. Ngày xưa, có một cô con gái đẹp người, đẹp nết sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo. Khi lớn lên cô gái có một tình yêu thắm thiết với một chàng trai cùng làng. Nhưng nhan sắc của nàng đã khiến tên quan huyện  háo sắc say mê. Bằng mưu kế xảo quyệt, hắn tìm cách chiếm đoạt nàng. Cô gái sợ quá bỏ trốn trong khi người yêu nàng bị hắn bắt đi lính thú rồi đày ra biên ải.

Gềnh Ráng hướng nhìn về thành phố Quy Nhơn. Ảnh: Mai Lý

Tên quan cho quân đuổi theo. Bị truy đuổi bén gót, cô gái chạy trốn vào núi Vũng Chùa. Lúc cô sắp sửa sa vào tay bọn ác, bỗng trời nổi cơn giông tố, sấm  giăng chớp giật ầm ầm, đá lở cát bay mù mịt! Và kỳ lạ thay, núi bỗng nứt ra một khe lớn, nàng chạy vụt vào trong đó rồi biến mất! Khi giông bão tan, khe núi ấy biến thành một dòng suối, uốn lượn lờ xuôi chảy xuống vịnh biển. Người đời gọi đó là Suối Tiên.

Chàng trai vượt biển tìm người yêu, trên đường gặp  bão. Thuyền đắm.  Chàng đuối sức rồi ngất xỉu, sóng biển đưa chàng tấp vào Ghềnh Ráng. Khi tỉnh lại, chàng thấy bóng người yêu đứng bên dòng suối vẩy gọi, chàng chạy lại với nàng và hai người sau đó cùng biến mất. Dân gian cho rằng họ đã thoát tục thành tiên.

Ghềnh Ráng ngày nay đã được quy hoạch, xây dựng thành một quần thể du lịch với nhiều hạng mục có giá trị văn hóa… Khu mộ Hàn Mặc Tử được tôn tạo, có nhà lưu niệm, giới thiệu thân thế, cuộc đời và sự nghiệp thi ca của nhà thơ. Vào những dịp lễ, tết, ở đây có tổ chức hội đánh bài chòi và các trò chơi dân gian phục vụ khách tham quan, du lịch.

(Dân trí) – 1. Đối với đàn ông, lần đầu lên giường cùng phụ nữ rất khó khăn, nhưng càng về sau lại càng đơn giản. Phụ nữ thì lần đầu thấy dễ dàng nhưng càng về sau lại càng khó khăn!
2. Đàn ông sau khi kiếm được nhiều tiền thì muốn ly hôn với vợ. Còn khi đàn ông không kiếm được tiền, người muốn ly hôn lại là vợ anh ta.

3. “Anh có yêu em không?” là câu đầu tiên phụ nữ hỏi “đối tác” khi lần đầu trao nụ hôn.

4. Biểu hiện ngoại tình của đàn ông là công việc càng ngày càng bận. Còn biểu hiện ngoại tình của phụ nữ là nấu ăn càng ngày càng chán.

5. Phụ nữ nói “em ghét anh” có nghĩa là họ yêu bạn. Còn khi đàn ông nói “anh ghét em” tức là anh ta ghét bạn thật rồi.

6. Khi trong nhà không có tiền thì người đàn ông thích tính toán, lúc nhà có tiền thì người thích tính toán lại là người phụ nữ.

7. Đàn ông không kiếm ra tiền thì vợ sốt ruột. Khi anh ta kiếm ra tiền thì vợ lại hối hận.

8. Khi người đàn ông ngoại tình và bị vợ bắt gặp, anh ta hy vọng “đó không phải vợ mình”. Còn người phụ nữ thì lại chắc chắn “đó là chồng mình”.

9. Phiền não lớn nhất của người đàn ông là trách nhiệm, phiền não lớn nhất của người phụ nữ là tình nhân.

10. Đàn ông thích máy tính, phụ nữ lại yêu thích những đôi giầy.

11. Người đàn ông tốt phát hiện ra nhược điểm của vợ. Còn người phụ nữ tốt phát hiện ra ưu điểm của chồng.

12. Đàn ông ngoại tình vì những rung động, phụ nữ ngoại tình vì cần nơi chia sẻ.

13. Đàn ông thường là người chủ động hôn, còn phụ nữ lại là người chủ động khơi gợi yêu đương.

14. Người phụ nữ thường có biểu hiện muốn ly hôn trước tuổi 40, còn người đàn ông thì qua ngưỡng 40 mới bắt đầu muốn ly dị.

15. Khi người đàn ông có tiền, anh ta thường muốn đổi ngay một chiếc điện thoại mới, xe mới, nhà mới, cuối cùng mới là quần áo mới. Phụ nữ chọn thứ tự ngược lại.

16. Sau lưng người đàn ông thành đạt thường có bóng dáng của một người phụ nữ. Còn sau lưng người phụ nữ thành đạt có rất nhiều đàn ông.

17. Đối với đàn ông, người phụ nữ họ không thể có là đẹp nhất. Còn với phụ nữ, người đàn ông họ từng có là người đáng trân trọng nhất.

Gia Linh

(Tổng hợp)

Em tôi

Trần Bá Nghĩa
em tôi lấy chồng già
chuyện tình bao năm cũ
đành nép theo mày hoa
*
em tôi lấy chồng già
tình thơ dần năm tháng
rồi cũng sẽ phôi pha
*
em tôi lấy chồng già
rụng một thời son trẻ
mùi ái ân theo xa
*
em tôi lấy chồng già
gối chăn nồng dăm bữa
khóc bên gương lược là
*
bữa em tôi theo chồng
tôi không hề hay biết
gió nói với tôi rằng
tình thôi nay đã chết
Cùng với hồ Baikal, hẻm núi Grand Canyon,… sông Hồng đã được đưa vào danh sách 18 thắng cảnh đẹp nhất thế giới do tạp chí Rianovosti của Nga đã bình chọn.
Sông Hồng của Việt Nam cũng được xếp vào một trong những thắng cảnh đẹp nhất thế giới.

 

Hãy cùng ngắm một số thắng cảnh được ghi danh  sau đây.
 Sông Taiga ở Frolikha, Nga.
Grand Canyon (hẻm núi lớn) là khe núi dốc được tạo ra bởi sông Colrado cắt ra từ hàng triệu năm về trước ở bang Arizona của Mỹ. Độ dài của Grand Canyon 446km, rộng 0,4 – 24 km và sâu hơn 1.600m.
Nhật Bản mùa hoa anh đào: Thời gian đẹp nhất trong năm để khách du lịch có thể thưởng thức vẻ đẹp mê hồn của hoa anh đào là từ
tháng 3 đến tháng 5.
 Antarcia, thuộc Nam Cực là lục địa lạnh nhất, khô nhất và nhiều gió nhất trên thế giới. Nam Cực là quê hương của loài chim cánh cụt
dễ thương.
 Hồ Baikal : Được người dân địa phương gọi là biển, là hồ sâu và cổ nhất thế giới. Hồ Baikal nằm ở vùng Siberia thuộc miền Nam nước Nga, và được mệnh danh là “viên ngọc Siberia”. Vào năm 1996, hồ Baikal đã được công nhận là một di sản văn hóa thế giới do Unesco bình chọn.
 Sông Hồng của Việt Nam cũng được xếp vào một trong những thắng cảnh đẹp nhất thế giới.
 Cầu Long Biên – nơi các teen hay tụ tập buổi tối mùa hè – bắc qua sông Hồng.
 Thung lũng nước nóng Geyser Valley: là một trong những thắng cảnh độc đáo nhất thế giới nằm ở phía Đông Kamchatka Peninsula. Nơi đây được nhà địa lý học người Nga T. Ustinova khám phá năm 1914 bao gồm nhiều mạch nước nóng, bùn nóng, hơi nước nóng và vùng đất nóng.
 Thác nước Iguaza: nằm ở biên giới hai nước Argentina và Brazil, là kết quả của một trận phun trào núi lửa để lại vết nứt trên vỏ trái đất. Vào mùa mưa tháng 11 đến tháng 3, mức độ nước chảy đạt đến 450.000 m³/s
 Livingstone Zoological Park ở Zambia là nơi sinh sống của hơn 1.300 động vật hoang dã và quý hiếm trên thế giới
 Công viên quốc gia Komodo nằm ở trung tâm Indonesia giữa đảo Sumbawa và Flores, được thành lập năm 1980. Công viên bao gồm 603 km2 đất liền và 1,214 km² biển. Loài vật đặc biệt nổi tiếng quý hiếm nhất nơi đây là rồng Komodo, là loại vật lớn nhất thuộc
họ thằn lằn.
 Núi đá vôi Kungur, Nga: là một trong những núi đá vôi độc đáo, lớn nhất ở Nga. Kungkur nằm cách 100km từ làng Flippovka, thành phố Perm. Nga.
(Theo giadinh.net)

Người đàn bà trắc nết

Truyện Ngắn

Trần Minh Nguyệt

 

 

Hai người đàn ông đang ngồi lai rai ở quán bà Tâm, họ ngồi ở đấy chén chú, chén anh từ sáng tới bây giờ. Hai khuôn mặt đỏ ửng lên , sần sần – giọng nói đã nhão nhẹt, nghe có câu lè nhè nhừa nhựa tiếng được tiếng mất. Ở phía góc đường gần đó, cô Ngọ đang chào mời những vị khách đi đường để bán những gói xôi ế còn lại. Một số khách phất tay bước vôi – ra hiệu không mua; một số khác tỏ vẻ khó chịu ra mặt. Tuy vậy cuối cùng cô cũng bán xong gói xôi cuối cùng. Cô dọn đồ đạc, xoong, nồi vào hai quang gánh và đi  khuất dần vào trong con hẽm nhỏ.

Một gã bất chợt nói: “ Ông có biết con mụ Ngọ đó không? Mụ ta đúng là một con đàn bà trắc nết, lẳng lơ, vậy mà không biết thằng nào nó làm cho mụ có thai mà sinh con nữa? Nhìn thây mụ như vậy tôi bắt rùng mình !”. Người đàn ông kia mắt long lên với tia nhìn dữ tợn: “ Mụ ấy là một con đĩ, thì biết thằng nào là cha đứa bé đâu ông? ”. Ngừng lại một lúc, hít một hơi thuốc dài rất thỏa mãn – ông tiếp : “ Ông mới về đây, nên ông chưa biết đó thôi, thời trẻ mụ ấy cũng dể nhìn, vậy mà cũng chỉ vì mụ ấy hư hỏng quá nên không kiếm nổi một tấm chồng cho tử tế.”. Bà Tâm  – chủ quán nhậu, đang đứng ở quầy bên cạnh – liếc hai người đàn ông với tia nhìn sắc lạnh. Bà nín lặng. Khẻ lắc đầu, buồn bã….

Căn nhà tranh lụp xụp, xiêu vẹo, ẩm thấp – rộng khoảng 9m2 nằm ở cuối góc vườn đầy cỏ dại của Đình An Nam. Hai con người chui rúc vào đó để tránh mưa, tránh nắng. Lúc Ngọ 8 tuổi gia đình cô cũng có một ngôi nhà nhỏ cạnh bến sông An Hòa, nhưng từ khi mẹ cô bị chứng bệnh nan y, của cải trong nhà lần lượt ra đi, và đến khi mẹ cô mất, ba cô phải bán nhà để trả nợ. Ba Ngọ bị mù vì làm thuê, đập vỏ đạn lấy thuốc và đồng cho chủ vựa mua bán đồ phế liệu. Cảnh nhà suy sụp, cùng đường –  hai cha con xin làng về tá túc tạm ở mảnh đất sau Đình này. Những ngày nắng thì tạm yên cho dầu với cái nắng hè gay gắt gió Lào đến ngộp thở. Ngọ sợ nhất mỗi khi mùa mưa bão đến, hai cha con ngày đêm nơm nớp lo sợ túp lều có thể sập  ngã bất cứ lúc nào. Những cơn gió thốc, những trận mưa ào ạt – khiến túp lều rung rinh như chực bay lên hay ngã qụy xuống đất. Những ngày mưa to  gió lớn, hai cha con cùng nhau chen chúc vào chổ khô duy nhất còn lại trong góc nhà. Cả đêm  hai cha con lão mất ngủ vì mưa dột khắp nơi. Nghề mà cha con Ngọ nương tựa để có cái ăn ngày hai buổi là xin sự bố thí của thiên hạ khắp vùng. Từ ngả chợ, đến bến xe. Hôm nào đi xin gần nhà, tối – cha, con về lại căn nhà của mình – lúc phải đi xin ở xa, cha con Ngọ ngủ ở lều chợ, vỉa hè hay gầm cầu. Cuộc sống của hai con người lầm lũi, mò mẫm – không tìm đâu ra nẻo sáng.

Mười sáu tuổi, Ngọ dần trở thành thiếu nữ, và mọi người trong cái xóm nhỏ này ai cũng bảo là cô rất xinh. Ngọ không cùng cha mình ăn xin nữa, mà lên thị trấn xim làm tiếp viên cho một quán cà phê. Vẻ nhút nhát, nhu mì và nét mặt hoang dại của Ngọ thu hút bao khách đến quán. Và Ngọ đã sa ngã vì những vẻ hào nhoáng, quyến rủ bao vây chung quanh. Cô làm được rất nhiều tiền, dành dụm mua được ngôi nhà cấp bốn cho hai cha con. Từ đó, hai cha con không còn cảnh chui đục trong túp lều xiêu vẹo ở góc đình  mà nhịn đói để đi ngủ nữa.

Cô có thêm vài cái tên mới  “ Ngọ ca ve”. Có người còn ác ý hơn bảo cô là “ Ngọ ăn sương- gái bán hoa ” . Nếu cứ sống chung với hết người đàn ông này đến người đàn ông khác chỉ vì tiền thì người ta gọi cô là “con đĩ” cũng không sai chút nào. Ngọ cũng không sai, cô không biết chữ nào, nghề nghiệp cũng không có, mà cha thì nay ốm, mai đau – cô biết làm sao để tìm ra tiền chăm lo cho cha,  cho con cô bớt khổ đây? Cô chỉ còn tấm thân mình – còn chút nhan sắc, là “ vốn liếng “ duy nhất có thể xoay ra tiền mà thôi. Tiền bạc không dễ kiếm và cũng chẳng ai cho không – nếu không có sự trao đổi?

Cuộc sống không ngột ngạt. chật vật như trước, nhưng cha của Ngọ thì buồn hơn.  Cả ngày ông không nói gì với cô cả – chỉ lầm lũi vào ra như một cái bóng lờ lững vô hồn và có khi còn thở dài bỏ bữa. Ngọ thương cha, nhưng không thể nghe theo lời ông được, Ngọ không muốn mình đang được sống sung sướng, nuông chìu, dư thùa như thế này lại trở về cuộc sống lam lũ trước kia. Đôi lúc, Ngọ cũng băn khoăn tự hỏi : “  Danh dự là cái gì nhỉ? Trước kia cha, con cô nghèo quá, suốt ngày đi ăn xin. gặp người tốt bụng thì chẳng sao nhưng gặp phải kẻ xấu bụng thì bị xua đuổi, còn nghi ngờ là người ăn cắp –  lúc đó cha, con cô còn có danh dự  nữa không? Danh dự của người nghèo khổ cùng tột như cha con cô có còn trên đời này không? ” .  Ngọ cũng thường thì thầm tự an ủi mình : “ Xét cho cùng mình có trộm cắp của ai đâu? Mình bán dần danh dự, đổi sự trong sạch của bản thân, đổi luôn hạnh phúc của tuổi trẻ để có đồng bạc nhét vào túi cơ mà? “

Có vài lần Ngọ bị những người vợ của những kẻ no xôi, rững mở kia chận đánh tơi bời, và cắt tóc làm nhục cô ngoài đường. nhưng cô chỉ cảm thấy đau  đớn ê ẩm ở thân xác thôi, cũng không mấy xấu hổ. Ngọ nghĩ đơn giản : “ Mình làm chuyện đó vì tiền và những lần như vậy chỉ là tai nạn nghề nghiệp mà thôi. Có gì mà xấu hổ? “ .

Ngày Ngọ có thai bé Khang, cô cũng định đi phá bỏ nó như bao lần, nhưng bác sĩ bảo nếu cô phá thai nữa cô sẽ vĩnh viễn không có con. Bác sĩ cho cô một tuần để suy nghĩ, từ ngày sống bạc mạng đến giờ, đây là lần đầu tiên làm cô dằn vặt khổ đau.  Nằm đêm – Ngọ suy tính : “ Bỏ đứa con này đi thì trong cuộc đời mình sẽ không còn có con được nữa, còn giữ lại nó thì đời mình chắc sẽ chịu thêm bao nỗi khổ đau? “

Ba Ngọ gặn hỏi khi nghe tiếng khóc bất chợt của cô trong đêm – biết chuyện, ông kiên quyết bảo cô phải giữ lại đứa bé, nếu cô không làm vậy thì ông sẽ  bỏ nhà , không nhận cô là con, và lang thang đi xin ăn như trước cho đến khi chết ở  đầu đường xó chợ nào đó.

Và bé Khang đã ra đời. Khi nó còn tượng hình trong bụng Ngọ do dự, không muốn giữ nó lại, nhưng khi nó ra đời, nhìn thấy măt con –  tự dưng cô cảm thấy yêu thương nó vô hạn. Nó trở thành niềm hạnh phúc cho cả hai cha, con cô. Cô quyết định rời bỏ nghề  “ gái cave “, về nhà làm đủ mọi việc để nuôi con. Ngọ không muốn con mình khi lớn lên phải bị tủi nhục, hổ thẹn vì cái quá khứ tội lỗi, nhơ nhuốc của mẹ.

Này cô kia! Cô đổ rác trước mặt nhà tôi vậy sao? Ngọ hét to.

Cô Lan – nhân viên của doanh nghiệp tư nhân mỹ phảm Tiến Đạt giật mình quay lại: “ Trước nhà cô hồi nào? Mà ai trong cái ngõ này cũng đổ ở đây, chứ có phải mình tôi đâu? Nhà cô nằm kẹt trong xó  xỉnh vậy phải rán mà chịu chứ? ”.

Ngọ xấn lại khiến Lan giật mình quay lui nhưng cô vẫn còn nghe giọng nói đầy giận dữ của Ngọ vọng theo : “ Mấy người cũng vừa vừa thôi chứ, sao mà chỉ biết có mình không vậy? Nhà cao cửa lớn thì mặc mấy người, đem rác đổ trước nhà tôi là không yên với tôi đâu? Nếu không muốn tôi đem rác, và đồ dơ dáy này hất lại vào nhà thì ra mà hốt lại đi? ”

Lan cũng không vừa : “ Cô dám thì làm đi, tôi thách cô đó. Ai mà không biết cô là dân chợ búa, hàm hồ, lẳng lơ, hư hỏng chứ ? ”. Nói xong Lan vào nhà đóng sầm cánh cửa cổng lại. Ngọ hùng hổ vào nhà lấy cái mê hốt rác ra định bụng xúc rác đem đổ lại nhà của Lan,  nhưng thằng Khang đi học về – chạy ào vào nhà gặp cô. nó khoe: “ Má ơi! Hôm nay con được cô giáo khen đó. Con viết bài văn tả má, vì con thương má nhiều nhất nên con tả rất hay ”. Ngọ ôm con vào lòng – nước mắt bổng rưng rưng. Cô lặng lẽ cầm hộp quẹt ra đống rác và nhóm lửa đốt nó. Mọi nỗi hờn giận trước kia đều cháy tan theo ngọn lửa …

 

Phía bên kia đường, đoàn người ăn mặc sang trọng tay cầm bó  nhang to, và túi trái cây,  bánh kẹo nặng trĩu – họ rẽ theo con đường tiến sâu ra nghĩa trang thị trấn. Ngọ  vội bảo cu Khang ngồi ở cửa trông nhà, cô lầm lũi theo sau đoàn người. Những người thăm mộ hôm nay có vẻ giàu sang lắm . Họ đem chưng ra trước mộ những hộp bánh đắt tiền, trái cây nhiều loại và còn có cả vài ba lốc nước yến nữa. Ngọ cảm thấy hồi hộp nhưng thầm nghĩ lễ vật mà người ta dùng để yếm trừ, trẻ chăn bò sợ không dám ăn nên cô tin chắc chắn là của mình. ( còn đồ cúng mả bình thường thì cứ phải tranh giành mới có được)

Những người đi thăm mộ dường như cũng biết được điều đó, nên họ ở nán lại rất lâu, chờ lúc tàn  hết cây nhang mới về.  Khi họ vừa quay lưng rời khỏi, cả đám trẻ chăn bò đã nhảy ào vào lấy những gì họ để lại, Ngọ vội chen vào và  đúng như  cô nghĩ – cô đã có được một lốc nước yến, và một hộp bánh. Ngọ bổng thấy lòng rộn lên niềm vui như chính mình được cho quà. Ngọ nghĩ đến nụ cười của cu Khang, và câu hỏi thường ngày của cha: “ Con cho cha thứ gì vậy? “

 

Bà Hường đang mạnh khỏe vậy mà bổng dưng bị tai biến rồi phài ngồi một chỗ. Trước kia, bà Hường cũng có chồng, có con đàng hoàng – nhưng  bị nhà chồng sắc bạc quá không ở được đành bỏ chồng con trôi dạt về con hẻm này. Bà cũng là một người bán hàng rong, đụng đâu bán đó dọc phố ngoài chợ như Ngọ, và cũng cùng chung cảnh nghèo hèn trong cái xóm được đặt tên là “ Xóm Lá “..

Lúc bà Hường còn khỏe mạnh, Ngọ với bà không thuận, cải và ẩu đả với nhau suốt ngày với một lí do duy nhất là giành giật bán từng bó rau, trái bí mà vài khách hàng tình cờ gọi mua giữa phố chợ. Ban quản lí chợ và trưởng thôn đã bao phen đưa họ ra kiểm điểm , nhưng rồi đâu cũng vào đấy.    Từ ngày bà Hường bị tai biến, không đi được nữa – ai cũng ngạc nhiên thấy chính Ngọ lại sang đỡ đần bà trong lúc trưa hoặc tối chứ không có người nào khác – kể cả hai đứa con của bà!  Ngọ bảo thẳng với bà Hường khi nhìn được vẻ bối rối và biết ơn trong ánh mắt của bà : “ Chị đừng lo, tôi không rảnh để giúp chị ban ngày đâu. Đằng nào trưa, với tối tôi cũng rảnh mà, giúp chị một chút để trả ơn chị vậy. Dạo này không có chị, dọc phố, ngoài chợ tôi cũng bán đắt hàng hơn… ”. Thỉnh thoảng, Ngọ còn giúi vào tay bà Hường một ít tiền ăn sáng nữa. Tuy bà Hường đau nằm một chổ,  di chuyễn khó khăn – nhưng nhà cửa vẫn sạch sẽ, ngăn nắp, gọn gàng nhờ bàn tay của Ngọ.

Nhờ sư thầy ở tịnh thất Ngọc Lễ mỗi sáng đều ghé châm cứu và săc thuốc nam cho uống –  ba tháng sau, bà Hường bắt đầu đi lại được. Bà tập đi dần ra chợ, và có thể buôn bán kiếm sống như trước. Nhưng lần này cả bà Hường và Ngọ đều đồng lòng nhường nhịn. thương yêu nhau – như hai chị em ruột vậy!

Nghe những tiếng ồn ào náo nhiệt từ quán nhậu đầu con hẽm vọng vào – Ngọ và vội miếng cơm, và tất tả chạy ra phụ việc rửa chén bát cho bà Tâm kiếm thêm tiền cho cu Khang đi học thêm vào thứ bày và chủ nhật như đã hứa với nó tuần trước.  Ở  vùng này ai cũng biết tiếng “ con Ngọ ca ve, con Ngọ hung dữ, con Ngọ trắc nết “ – nên cô không dám ló mặt lên phía trước quán như một người bị bệnh truyền nhiễm.  Với Ngọ – cô quen nghe những lời như vậy rồi, cũng không mấy xấu hổ nhưng chỉ sợ bà Tâm mất khách, sẽ không nhận cho cô làm thêm nữa mà thôi!. Ngoài tiền lương hằng tháng, Ngọ còn được bà Tâm cho thức ăn thừa của khách để tối về cho Khang và cha cô ăn thêm trước khi ngủ.. Hôm nào quán đông khách, hôm đó gia đình của Ngọ còn có được thêm bữa  ăn sáng ngon lành….

Dù mang nhiều tiếng xấu từ cửa miệng của lắm kẻ ngồi lê đôi mách ác tâm –  nhưng những câu nói ngộ nghĩnh, ngây thơ của bé Khang, lời thì thầm dặn dò thân thiết của cha – Ngọ đã dần tìm thấy được niềm tin yêu trong cuộc sống và luôn nuôi nấng hi vọng về một tương lai tươi sáng sẽ đến với bé Khang – không xa …

 

Tháng 9 -2011

TRẦN MINH NGUYỆT

 

Từ thơ trót dại chữ người

Trần Mai Hường
Ngang trời rớt một tên anh
Nghe chênh chao những phong thanh
mơ hồ…
.
Nhớ nào chạm nhớ
vu vơ
Đốt miền chay tịnh
bằng mùa xanh non
.
Em riêng mang những khuyết tròn
Tìm trong ảo ảnh màu son mới vừa
.
Cuối chiều
nhặt giọt nắng thưa
Thương mình ngơ ngẩn
Đêm thừa
mình
đêm
.
Biển ơi – sóng khát giấc mềm
Ta ơi – buồn đã đẫm mèm mắt môi
.
Từ thơ trót dại chữ người
Khuyết tròn rơi
khuyết tròn rơi
khuyết tròn…

Cõi yêu người

Rêu

em không có
đôi bàn tay mềm mại
để viết nên câu
trau chuốt
rung tình

em không có 
đôi mắt đầy luyến ái
để nhìn anh
cho tan rã…
điêu linh

thơ em viết là ngôn từ rời rạc
rất tầm thường như con dế con giun
nhưng anh ơi!
khi yêu,
trái tim biết hát
hát bằng lời từ sâu thẳm 
vô cùng..

ĐA TÌNH CON MẮT PHÚ YÊN


 


MANG VIÊN LONG

Tôi mượn ý thơ của thi sĩ Tản Đà để làm cái tựa cho bài tiểu luận nầy, đồng thời, cũng nhìn từ đó, để đề cập, dẫn chứng cho cái quan niệm riêng tư của mình, về tính chất đa tình, lãng mạn, hay gì gì đó của người con gái Phú Yên, đã được xác nhận (bằng thơ Tản Đà, ca dao, phong dao, hay thơ của Quách Tấn, Lam Giang, Huy Lực) nhưng hoặc chỉ là cái ca ngợi, cái nồng nhiệt riêng tư ; hoặc được ngắm nhìn, và phát biểu với sự lừa dối (vô tình, hay hữu ý) khiến cái khía cạnh rực rỡ nhất, chói sáng nhất trở nên lu mờ, hoen ố.

Cho tới nay tôi cũng chưa tìm thấy một tài liệu chính xác nào cho biết thi sĩ Tản Đà đã ghé lại Phú Yên vào năm tháng nào trong mấy chuyến xuôi ngược Bắc Nam của ông từ năm 1926 (sau khi làm được 10 số báo An Nam tạp chí, số đầu tiên ra ngày 1/7/1926) ở lại Phú Yên bao lâu, để được hưởng mùi vị của cước cá và sò hào ” lấy chi vui với thu tàn, Phú câu cước cá, Ô Loan miếng hào”. Theo tôi, ngoài cái tiếng về rượu, và ăn nhậu, Tản Đà còn có một đặc tính tuyệt vời khác: Đó là cái con mắt đa tình của ông. Con mắt có đa tình, mới nhìn thấy đôi mắt khác đa tình. Đôi mắt có lãng mạn, thơ mộng, mới nhìn thấy đôi mắt khác lãng mạn, mơ mộng. Bởi vậy, tôi đã bỏ ra trên bốn năm, chỉ tìm hiểu coi Tản Đà đã ở lại Phú Yên bao lâu, ghé lại vào dịp nào, để mới có thể hiểu được đôi mắt Tản Đà đa tình tới bực nào, đồng thời, cũng giúp cho bài nghiên cứu được dễ dàng trong việc dẫn chứng ví dụ, hay có một khoảng không gian giới hạn nào đó (trong cái bao la, biền biệt của ca dao) mà tra cứu.

Phạm Văn Diêu (trong Việt Nam Văn Học giảng bình Hoàng Sơn in lần thứ 3, Saigon 1970) cho biết “…Trên đường viễn du, ông (Tản Đà) ghé Hà Tĩnh thăm núi Sót,  xuống Huế đến Thuận An, ngậm ngùi trước cảnh Trấn Hải Đài tàn phế, tìm gặp Phan Bội Châu ngày 20/04/1927, rồi đi Đà Nẵng qua chơi Ngũ Hành Sơn, Đồng Dương, rồi thẳng vào Quy Nhơn, Nha Trang và Saigon“. Một đoạn khác, trong cùng tác phẩm nói trên, ông Phạm Văn Diêu kể: “…Ngày 14 tháng 2 năm 1928 Tản Đà lại xin thôi (Đông Pháp Thời Báo) về Bắc, và ra đi hai hôm sau đó, trong túi chỉ còn 7 đồng giống như lúc vào Nam. Trên đường về, Tản Đà có ghé Bình Định vài ngày thăm mả Nguyễn Huệ”.

Trong báo Tao Đàn số 9 và 10 ngày 16 Juillet 1939, nhà văn Lan Khai đã thuật lại kỷ niệm với Tản Đà, cũng phát họa dáng điệu tâm tính của Tản Đà, ông đã có nhắc tới một chuyến vào Trung của thi sĩ: ” Năm 1930, giữa lúc xứ Trung kỳ đương nín thở dưới cơn giông khủng bố, thi sĩ (Tản Đà) tự nhiên một mình vào tận quê hương vị anh hùng Nguyễn Huệ…”

Gần đây báo Văn số 175 ra ngày 1/4/1971, Ông Quách Tấn có viết một bài hồi ký, có tựa ” kỷ niệm với Tản Đà“, cũng đề cập tới chuyến Nam du của Tản Đà, nhưng lại mập mờ: “Nhân cuộc Nam du (tôi không nhớ rõ năm nào, chừng vào năm 1924-1925, đi ngang qua Bình Định, Tản Đà tiên sinh ghé lại đình (ghi chú của người viết: “Đình thờ ba vua ây Sơn ờ làng Kiên Mỹ, quận Bình Khê, tỉnh Bình Định)”.

Như vậy, dầu có nhiều tài liệu khác khau nói tới các chuyến vào Trung, và Nam của Tản Đà, nhưng không có nói tới việc Tản Đà ghé Phú Yên vào tháng năm nào, trong bao lâu. Tôi có thể ước đoán, ông ta tới Phú Yên, vào Thu, chớm Đông, thời gian nhiều nhất là 1 tháng. Trong 30 ngày, ở một chỗ, Tản Đà  (hay bất cứ ai nếu có sẵn tiền) cũng có thể tìm thấy các món ăn đặc biệt ở nơi đó; nhưng chỉ một câu thơ Tản Đà nói tới con gái Phú Yên, làm tôi bàng hoàng, kính nể. không phải dễ nhìn thấy cái đặc tính độc đáo của người con gái một miền nào, cho dầu thời gian có kéo dài tới đôi ba năm. Tôi đã sống ở Phú Yên trên tám năm, đã nghĩ tới câu thơ Tản Đà trên mười năm (lúc chưa tới nơi đây), hôm nay mới có thể đặt bút viết bài lý luận nho nhỏ này.

Như đã nói ở trên, đôi mắt có đa tình, lãng mạng mới nhìn thấy đôi mắt khác đa tình, lãng mạn giờ có thể nói thêm, tâm hồn có phóng khoáng, như nhiên, mới biết được tâm hồn khác phóng khoáng như nhiên. Tôi viết những giòng này, sau khi đã dọn mình sẵn sàng để lòng được thành, và trí được sàng. Bởi vậy, tôi đã nhìn thấy cái dấu giếm, cái ác ý trong hai câu ca dao sau:

Chớ lấy vợ Gò Cà

Chớ mua gà Mỹ Phú

Bởi vì, tôi đã nhìn thấy cái buồn cười, giả nhân giả nghĩa, của người đời –  qua hai câu sau:

Nhất gái La Hai

Nhì trai Đồng Nghệ

Bởi vì, tôi đã nhìn thấy cái lố bịch, cái hài hước của hai câu sau đây nữa:

Trai Ngã Thạch

Cái Bàu Hương

Tôi đã sống rất khắc khe với chính tôi, và rất bao dung tha thiết với Phú Yên, trong 6 câu ca dao mà tôi vừa trích nêu, trong tám năm trời. những chữ “Vợ Gò Cà” ” Gái La Hai” và “Gái Bàu Hương“, đã ám ảnh, ray rức tôi không ngớt, từ ngày tôi đặt chân vào Phú Yên. Trong một vài bài viết ngắn, nói tới Phú Yên, gởi cho mấy tờ báo ở Saigon (hay tại Tuy Hòa) tôi dầu tỏ lộ vẻ bồn chồn, khổ sở vì cái ám ảnh của các chữ đó. Tôi còn nhớ ba bài viết có đề cập thẳng tới tính chất ” Vợ Gò cà”, “Gái La Hai”,  “Gái Bầu Hương” nên tuần báo Khởi Hành, nhật báo Tự Do, và trang Văn Học Nghệ Thuật Tiền Tuyến. Ngoài ra, trong tất cả các nhân vật nữ (dầu là bà già) của các truyện tôi viết tại Phú Yên, không khí và khung cảnh Phú Yên, tôi đều bộc bạch tâm sự, và cảm nghĩ sâu kín nhất của tôi, đối với các chữ đó: ” Vợ Gò cà, Gái La Hai, Gái Bầu Hương“.

Ở đây, nơi bài này, tôi sẽ nói dứt khoát và thẳng thắn, nói thành thực, và sau cùng, về vấn đề chung ” Đa tình con Mắt Phú Yên“- hay riêng về các người  nữ ở Gò cà, La Hai và Bầu Hương. Tất cả mọi người đều hỏi: “Gò cà, vợ Gò cà là vợ ở đâu? Tại sao là Gò Cà?”. Xin đáp: Xã An Hiệp, quận Tuy An có 7 thôn (Mỹ Huận, Mỹ Thạnh, Tuy Dương, Hội Đức, Phước Hậu, Mỹ Phú, Phong Phú), diện tích 3.460 ha, Gò Cà thuộc thôn Tuy Dương.

Người ta cũng đã nói: ” Nhất Gái La Hai, gái La Hai là gái ở đâu, tai sao nhất, nhất cái gì?”. Xin đáp La Hai thuộc xã Xuân Long, quận Đồng Xuân. Từ Chí Thạnh, theo liên tỉnh lộ số 6, ( tỉnh lộ dài 36 km dẫn tới Mục Thịnh ranh giới tỉnh Bình Định), qua Phong Viên, tới La Hai. Xã Xuân Long có 2 thôn là Phước Long và Hà Trung, diện tích 2.270 ha. La Hai là tên chợ quận lỵ.

Sau chót, người ta đã sốt sắng và niềm nở hỏi: ” Gái Bàu Hương ở đâu?” Xin đáp: Bầu Hương thuộc xã Hòa Phong, quận Hiến Xương. Xã Hòa Phong có 10 thôn (Phước Thành, Mỹ Thạnh Đông, Mỹ Thạnh Tây, Mỹ Thạnh Trung, Tân Mỹ, Lương Phước, Thạch Bàn, Liên Thạch, Nam Bình và Lạc Mỹ); Bầu Hương nằm ở thôn Mỹ Thạnh Trung (và 1 phần  Hòa Mỹ) dưới chân núi Hương (cao 132 m), gần chùa Hương Tích.

Theo nguyên nghĩa: ” Chớ lấy vợ Gò Cà“, bởi vì ở vùng này con gái có thể giết chết chồng (bằng cách này hay cách khác) để theo người đan ông khác. Hoặc có thể bỏ chồng con, gia đình, theo người đàn ông khác. Nói tóm, ” Vợ Gò cà” không ” thủy chung“, nguy hiểm, giống như…gà ở Phú Mỹ (cũng thuộc xã An Hiệp). Xã An Hiệp, được chê về… con gái và gà!

Con gái La Hai cũng được chê trách về phẩm hạnh: Lẳng lơ, lãng mạn, theo trai. Con gái La Hai cũng được coi là dễ sợ, nguy hiểm, không chuyên chính đứng đắn giống như các chàng trai xứ Đồng Nghệ (cùng quận Đồng Xuân, xã Xuân Sơn).

Ở Phú Yên, người ta khen “Gái Bàu Hương“, đã xinh đẹp thơ mộng như thằng tích ở đó, mà phẩm hạnh cũng vẹn toàn.

Vậy Tản Đà (hay gần đây Huy Lực, Trần Huiền Ân, Phạm Cao Hoàng, Hoàng Đình Huy Quan, Khánh Linh, Đỗ Chu Thăng, v.v…) đã nhìn thấy “Con mắt đa tình” Phú Yên, ở vùng nào? Không có tài liệu nào cho biết Tản Đà đã lên chơi núi Hương, viếng chủa Hương Tích, ngâm vịnh ở Bàu Hương, trong lúc phát  biểu về “Con mắt đa tình Phú Yên“. Như thế, tôi có thể kết luận, Tản Đà (và các thi sĩ khác) đã nhìn thấy “đôi mắt ấy” bàng bạc khắp nơi, ở đây. Theo kinh nghiệm (đã có trên tám năm), cộng với việc suy nghĩ, nghiên cứu, tôi cũng đồng ý như vậy: con mắt Phú Yên rất đa tình. Rất thơ mộng và như nhiên.

Trở lại vấn đề cũ: Tại sao lại vợ Gò Cà? Tại sao gái La Hai là nhất?

Chúng ta phải sống trở lại với các vùng này về hoàn cảnh địa lý, thiên nhiên, đời sống của họ. Nhất là cái xã hội của các câu ca dao, phong dao trên kia ra đời. Sau đó, truy tầm tác giả và nguyên do.

Sống trở lại đời sống của xã hội An Hiệp, tôi dễ dàng nhìn thấy các chi tiết sau đây: Ở An Hiệp sản xuất rất nhiều mật ong và đường. Ở La Hai, hai sản phẩm kể rên lại nhiều hơn nữa:

Nếp màng màng

Đàng Tân Lập”

Hoặc :

“Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai

Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường”

“Hôm nay ăn mía Triệu Tường

Đợi mắm Nam Ổ, đợi đường Phú Yên”.

Ở An Hiệp (Tuy An) và La Hai (Đồng Xuân) cũng nổi tiếng về trái cây (tôi không chú ý tới : Bông vải, đậu nành, đậu phụng, thuốc):

“Cam Đa Lộc

Thuốc Lỗ Dưng”

Tuy An có ba danh nhân đáng lưu ý: Liễu Quán Hòa Thượng (xã An Thạch), nhà ái quốc Lê Thành Phương (xã An Hiệp), và Đại đức Thích Quãng Hương (xã An Ninh). Đồng Xuân có : Nhà ái quốc anh hùng Nguyễn Hào Sự (xã Xuân Phước), Võ Trứ (di cư ở La Hai). Đô Đốc Chương, Phủ Sự Đào Trí, Thống Chế Nguyễn Nhàn. Riêng Đồng Xuân cũng đã nổi tiếng về các bậc hiếu tử đã được ghi vào sử sách.

Khi tìm hiểu các đặc biệt của An Hiệp (Tuy An) và La Hai (Đồng Xuân), tôi nhận thấy có hai điểm giống nhau: Hai vùng này đều phong phú về đường, mía, mật ong và trái cây. Sự trùng hợp này khiến ta nghĩ tới sự trùng hợp ở trên: Con gái bị mang tiếng xấu, lãng mạn, lẳng lơ.

Điều đáng lưu ý thêm nữa, ở Bàu Hương (Hòa Phong), sản phẩm phong phú, đặc biệt cũng là: đường , mía và mật ong. Nhưng tại sao là “Gái Bàu Hương” mà không là :

Nhất gái La Hai

Nhì gái Bàu Hương?

Xin đáp : Núi Hương thơ mộng; chùa Hương Tích hấp dẫn du khích, đạo hữu; sau cùng là cái bàu tên Hương với huyền thoại có con rùa khổng lồ nổi lên làm bàn thạch cho chư Tiên hiện xuống uống rượu, đánh cờ, ngâm thơ, vân vân. Đã có sẵn khung cảnh hữu tình, lại được “che chở” bởi cái lý do mầu nhiệm Thần Thánh; Bàu Hương luôn luôn phải được ca ngợi, dầu là con gái, hay bà già. Ở Bàu Hương, chùa Hương Tích có rất nhiều thi nhân, hay khách tài hoa, giàu sang, đến viếng, đề thơ và khen ngợi.

Còn Tuy An và Đồng Xuân (hay nói riêng Gò Gà và La Hai) có chi? Xin đáp: Chỉ có đường mía, mật ong và trái cây. Khi người ta cần những thứ đó, người ta chỉ tới chợ (hay nhờ người đi) mua rồi về. Gò Cà và La Hai không có thiên nhiên, và nhất là Thánh Thần che chở ! Trong lúc đó, ở Bàu Hương, với thiên nhiên và đời sống đặc biệt của nó, con gái có nhiều tính chất lãng mạn, lẳng lơ hơn.

Các dữ kiện vừa nêu trên, ai cũng dễ dàng trông thấy cả. Tuy nhiên, truy tầm tác giả của 3 câu ca dao đã trích không phải dễ. Ca dao là gì? Là bài hát ngắn, được đọc từ miệng người này tới miệng người khác, tồn tại là do truyền khẩu. Ca đao có nhiều tính chất, khía cạnh. Và, tác giả của ca dao được ghi là “vô danh“. Vậy, ở đây, tôi chỉ tạm ấn định cho tác giả của 3 câu ca dao trên chung một hạng “Lớp nho sĩ phong kiến“. Thời gian xuất hiện cũng vì thế mà ấn định được: Xa chúng ta (1974) ít nhất cũng trên 150 năm (ông Lương Văn Chánh được Nguyễn Hoàng cử vào đánh Thành Hồ, đuổi quân Chiêm Thành, lấy lại đất Phú Yên đã được vua Lê Thánh Tông chinh phục năm 1470. Khoảng năm Mậu Dần = 1578).

Như thế, chúng ta có thêm hai yếu tố mới để truy tìm nguyên do nói tới “Vợ Gò Cà, gái La Hai, gái Bàu Hương“: 1). Tác giả là lớp nho sĩ phong kiến (đổ đạt hay không), hoặc giả, ở lớp người đã chịu ảnh hưởng sâu đậm, bị ràng buộc khe khắt vào cái quan niệm lễ nghĩa, đạo đức Nho giáo một cách hẹp hòi, sai lệch. 2). Thời gian thực xa xưa, mờ mịt, như cái giai đoạn đạo Nho đang cực thịnh trong dân chúng. Cực thịnh đến nỗi khe khắc, giả tạo, và không nhìn thấy chính mình, hoặc xa hơn một chút.

Nhận chân được vài điểm đại cương như trên, chúng ta có thể kết luận, rất vắn tắt: Những ý tưởng, nhận xét qua 3 câu ca dao đó, đã được đưa ra từ một tư tưởng, một đôi mắt (hay nhiều đôi mắt, thời đó), không phải thực là của chính mình (không dám là mình): Nó bị dòm ngó, lệ thuộc, ảnh hưởng bởi một nền luân lý đạo đức cố chấp, hẹp hòi, sai lệch. Ý tưởng đã bắt nguồn từ một sự thiếu sót, sai lệch, cổ hủ như thế, thì cái giá trị của nó cần phải đặt ngược trở lại. Đó là chuyện dĩ nhiên. Cái thời, cách nay hai ba trăm năm, và các thời chúng ta đang sống, có vô số thay đổi, tiến bộ, phong phú (nhìn về phía những ưu điểm). Đôi mắt chúng ta nhìn, tâm hồn chúng ta xúc động, ý tưởng chúng ta phát biểu, hẳn nhiên là khác xưa. Không ai ngờ nghệch, thiển cận nhìn “vợ Gò Cà, con gái La Hai, con gái Bàu Hươong” với cái tâm địa kín mít và đôi mắt lù mù kia nữa.

Tiếp theo, tôi muốn định  nghĩa và xác định giá trị trở  lại các tính chất của những chữ “lãng mạn, đa tình chung thủy, lẳng lơ, trắc nết“. Định nghĩa và xác định, là tôi muốn so sánh cái quan niệm cũ (thời có các câu ca dao kia xuất hiện), với sự đổi thay, tiến bộ đang đi tới. Theo cũ, những chữ trên đều gán cho cái nghĩa xấu, tồi tệ, ngay cả chữ vô tội nhất là “lãng mạn” và “đa tình“. Các chữ “chung thủy, lẳng lơ, trắc nết” cũng bị bóp méo, thu nhỏ sao cho vừa với cái đôi mắt, cái tâm hồn nhỏ xíu kia. Sự “chung thủy” lúc xưa, khác với sự “chung thủy” bây giờ. Cái chuyện “lẳng lơ” lúc các cụ học “Nam nữ  thọ thọ bất thân” cũng khác với quan niệm “lẳng lơ” chúng ta đang sống. Hồi đó , hôn nhân là một sự sắp đặt, hay tệ hơn là đổi chác, mua bán của các bậc sinh thành (ông bà, cha mẹ ,v.v.). Chữ “Tình yêu” không có. Phủ nhận “Tình yêu” là giết chết tâm hồn, sự rung động của con người. Đời sống luôn luôn bị gò bó, thu mình ép buộc. Không coi đời sống của tâm hồn có giá trị (trong tình yêu), vì thế, họ lên án những người dám (hay liều lĩnh, ngây thơ, thành thật) sống với sự xúc động, khao khát của lòng mình; bởi vì con người đã là người khi hiện hữu. Ở vào cái khung cảnh tối tăm đó, cái ngục tù ác nghiệt đó, người con gái Gò Cà đã hành động theo tâm hồn mình. Đã là người với trọn vẹn tính chất khả hữu của nó. Đó là một hành động quả cảm, đáng được thán phục, yêu quý. Người con gái La Hai dám coi thường những lề thói hẹp hòi, những đôi mắt quái lạ kia, để “theo trai“. Chữ “theo trai” phải hiểu: Theo tình yêu, theo khát vọng trung thực, sâu thẵm của tim mình. Sống vào thời đó, chung quanh có vô số sợi dây ràng buộc mà bỏ đi được (dám sống là người), quả họ đã suy nghĩ, đã chân thành quá mức rồi. Tôi nghĩ tới những tù nhân khao khát tự do. Tuy vậy, việc phá vỡ những ràng buộc như thế, đối với thời xưa, là một việc hệ trọng. Đáng … đem vào ca dao, tục ngữ ! Xét hiện tại, ai cũng nghĩ là cái việc “như thế” ở đâu cũng có, và không có gì phải sợ hãi. Nhiều chuyện “động trời” , còn có thể hiểu, cắt nghĩa, và bao dung được. Tôi nghĩ: “Giá còn tác giả của mấy câu ca dao trên sống tới nay, có lẽ họ đã ngã ngửa ra mà chết” . Hoặc : “Họ sẽ hối hận mà sửa lại“. Nói thế, không có nghĩa tôi phủ nhận sự có mặt cần thiết và đáng ca ngợi của quý chữ “Thủy chung, lẳng lơ, trắc nết“, mà đòi hỏi chúng ta phải hiểu chúng, bằng sự tiến bộ, bằng cái sâu thẳm nhất của tâm hồn, của con người.

Thiên nhiên và đời sống có ảnh hưởng tới con người, đó là điều dĩ nhiên. Ở Phú Yên, thiên nhiên đầy đủ và hữu tình quá: Rừng núi sông biển, đồng ruộng, thành hồ, hào rạch, đồi tháp ở cùng khắp. Phú Yên ở giữa hai ngọn đèo, hai cái ải, là Đèo Cả (cao trên 500m) và Đèo Cù Mông (cao 245m ) nên đời sống cũng bị giới hạn, khép lại trong khung cảnh, đất đai của mình. Bởi vậy, tính chất “lãng mạn” và “đa tình” dễ tìm thấy trong những đôi mắt thiếu nữ, nếu có sẵn “một đôi mắt đa tình” để nhìn ngắm.

Tản Đà (hay Huy Lực, Trần Huiền Ân, Hoàng Đình Huy Quan, Phạm Cao Hoàng, Đỗ Chu Thăng, Khánh Linh, v.v…) đã xác nhận với tôi điều đó, trong các thi phẩm của họ. Như thế, vấn đề “vợ Gò Cà, gái La Hai, gái Bàu Hương” còn là một điều đáng chú ý nữa thôi?

Riêng tôi, viết xong mấy dòng này, tôi đã gột sạch tất cả những ám ảnh. Đã dứt khoát một quan niệm về những người nữ Phú Yên. Và, để kết luận cho bài lý luận nho nhỏ này, tôi coi cái tính chất “Đa tình và lãng mạn” của Phú Yên là một ưu diểm, một đặc tính hồn hậu, chân thành, tự nhiên như hoa nở, trăng mọc, mưa rơi …/.