Feeds:
Bài viết
Bình luận

Hai nhà khoa học Australia đoạt giải Ig Nobel Sinh học nhờ phát hiện một số loài bọ cánh cứng giao phối với những chai bia vì nhầm tưởng chúng là bạn tình.

Một con bọ cánh cứng giao phối với chai bia màu nâu. Ảnh: sciencecodex.com.

BBC cho biết, Darryl Gwynne, David Rentz – hai nhà nghiên cứu côn trùng tại Australia phát hiện ra rằng một số loài bọ cánh cứng tìm cách giao phối trong những chai bia mà con người vứt đi. Tuy nhiên, chúng chỉ làm “chuyện ấy” với những chai màu nâu còn một chút bia. Hôm qua hai nhà nghiên cứu đã nhận giải Ig Nobel Sinh học nhờ phát hiện ấy.

Mù tạt xanh (wasabi) là gia vị không thể thiếu trong những món hải sản ăn sống của người Nhật Bản. Nhưng Makoto Imai, một nhà nghiên cứu của Đại học Y khoa Shiga tại Nhật Bản, cùng các đồng nghiệp đã mở rộng công dụng của mù tạt xanh bằng cách dùng nó để đánh thức những người điếc khi hỏa hoạn hoặc những sự kiện khẩn cấp xảy ra. Cụ thể, khi một ngôi nhà bốc cháy và người điếc đang ngủ, thân nhân của người điếc chỉ việc phun mù tạt xanh. Nhóm chuyên gia đã được cấp bằng sáng chế cho ý tưởng độc đáo, đồng thời đoạt giải Ig Nobel Hóa học 2011.

Theo Guardian, trước khi tìm ra mù tạt xanh, nhóm nghiên cứu Nhật Bản đã thử hàng trăm mùi, bao gồm cả mùi trứng thối, xem mùi nào có thể khiến người điếc tỉnh giấc. Họ phát hiện allyl isothiocyanate, một chất có hoạt tính mạnh trong mù tạt xanh, gây cảm giác khó chịu trong mũi. Nó phát huy tác dụng ngay cả khi con người ngủ.

“Đó là nguyên nhân khiến con người tỉnh giấc ngay lập tức khi hít mùi của mù tạt xanh”, nhóm nghiên cứu tuyên bố.

Vận động viên ném đĩa thường cảm thấy hoa mắt, chóng mặt sau khi ném đĩa. Trong khi đó những vận động viên ném búa không trải qua cảm giác tương tự khi thi đấu. Nghiên cứu giải thích nguyên nhân gây chóng mặt ở vận động viên ném đĩa giúp 5 nhà khoa học Pháp đoạt giải Ig Nobel Vật lý.

Anna Wilkinson, một nhà nghiên cứu của Đại học Lincoln tại Mỹ, cùng một số đồng nghiệp nhận giải Ig Nobel Sinh lý học nhờ chứng minh rằng ngáp không phải là hành vi dễ lây ở loài rùa chân đỏ.

Với những công thức và tính toán phức tạp, 6 nhà toán học trên thế giới – 4 người Mỹ, một người Hàn Quốc và một người Uganda – từng dự đoán ngày tận thế sẽ xảy ra trước năm 2011. Thực tế cho thấy mọi dự đoán của họ đều sai. Nhưng họ vẫn được trao giải Ig Nobel Toán học vì đã có công giúp mọi người hiểu rằng chúng ta phải cẩn thận khi đưa ra các giải thuyết và tính toán trong toán học.

Giải Ig Nobel Tâm lý thuộc về giáo sư Karl Halvor Teigen của Đại học Oslo tại Na Uy vì ông đã giải thích nguyên nhân khiến con người thở dài trong cuộc sống hàng ngày.

Buồn đi tiểu và ra quyết định dường như chẳng liên quan tới nhau. Song Marjam Tuk, một giảng viên của Đại học Twente tại Hà Lan, lại chứng minh được rằng những người có khả năng chịu đựng cảm giác buồn tiểu lâu thường bỏ qua lợi ích trước mắt để hướng tới lợi ích lâu dài. Phát hiện thú vị ấy giúp ông nhận giải Ig Nobel Y học năm 2011.

Các giải Ig Nobel được trao tại nhà hát Sanders của Đại học Harvard tại Mỹ hôm 29/9. Mỗi người nhận giải chỉ được phép phát biểu trong 60 giây. Họ nhận phần thưởng từ tay những người từng đoạt giải Nobel.

Ngày nay, giải Ig Nobel là thứ có thể khiến người ta tự hào. Điều đó giải thích tại sao 7 trong số 10 người đoạt giải năm nay tự bỏ tiền để tới Đại học Harvard.

Minh Long

Thơ 4 câu Đặng Tấn Tới

Ngày Sau

 

Đi vào mây nước thẳm

Còn hạt cát vu vơ

Ngày sau ai nắm được

Cảm thật đến ban sơ

 

Gởi Người Xưa Đã Để Lại  Cho Người Sau

 

Tài tử duyên còn gặp

Thất thanh cười khóc nhau

Trăng tình chung chảy máu

Hừng hực lửa thơ mầu

 

Hoa Vassika

 

Hoa rơi từng cánh úa

Phấn lụa mặc lòng mơ

Hương tình đâu bén nữa

Trăng sáng vườn ban sơ

 

 

Cánh Biếc

 

Đàn hạc xuân về biếc

Trời vui theo cánh lưa

Ngàn cao không dấu vết

Hồn đẹp thoảng xa đưa

 

 

Sukhavagga Dhammpada

 

Đất trải lòng chân thật

Thân trần lượng nước qua

Đâu hận thù còn mất

Vô thình rêu thắm hoa

 

Tâm Khúc

 

Nếu không,  lòng chẳng đợi

Như có, hồn đâu đau

Trời xanh ngát mãi sau

Trăng sao còn chín tới

 

 

Còn Nhau

 

Chút lòng trong cát bụi

Sáng ngoài hương cỏ cây

Đêm trăng tơ mềm núi

Ta còn nhau ngắm mây

 

Ngũ Tuyệt

 

Ngàn thu trang cỏ vắng

Nở hoa sương một đêm

Một thoáng hương dịu mềm

Long lanh lòng bất tuyệt

 

 

Anh Bình Định

Võ Phiến

 

Ðề tựa một cuốn sách của ông Nguyễn Ðình Tư, ông Nguyễn Hiến Lê cho biết đã từng muốn kiếm một khu vườn ở tại vũng Lắm hay Xuân Đài.

Vị học giả từ đất Bắc vào toan mua vườn làm nhà ở Phú Yên vì ông “thương” cảnh đẹp Phú Yên, muốn thưởng ngoạn cho thỏa thích. (Thương là chữ của ông Nguyễn, nhại một tiếng trong ca dao địa phương). Làm dân Bình Định, tôi có hơn ông Nguyễn thêm một lý do nữa để lưu luyến Phú Yên: ở đây, người ta “thương” trai Bình định. “Người ta” là con gái, thế mới càng thú vị. Thú vị và hiếm có. Bởi vì trong văn chương bình dân của từng địa phương không dễ tìm ra một câu thắm thiết tình tứ của miền này hướng về miền kia như câu hát của gái Phú yên:

Anh về Bình Định chi lâu

Chiều chiều em đứng hàng dâu ngó chừng.

Hai hàng nước mắt rưng rưng,

Chàng xa cách thiếp dậm chưn kêu trời.

Tìm đâu cho được những câu như thế? Câu hát về trai Quảng gái Huế chăng?

Học trò trong Quảng ra thi

Thấy cô gái Huế chân đi không đành.

Thực ra ở đây chỉ có chàng trai xứ Quảng bị “chọc quê”, chứ không hề có tình cảm của cô gái Huế.

Còn về cô gái Phú Yên thì cái tình cảm của cô không còn có thể ngờ vực gì nữa: câu hát trên đây không phải là ngẫu nhiên, là trường hợp duy nhất. Người ta bắt gặp nhiều câu tương tự: hoặc cô dặn “anh” mua cho cô một chiếc nón lá dày làm quà Bình Định, hoặc cô trách “anh” bỏ cô kéo vải hái dâu một mình hơi lâu v.v… Tình cảm quí báu nọ được xác nhận đi xác nhận lại nhiều lần.

Vì gái Phú Yên đa tình chăng?

Sự thực gái Phú Yên chỉ mới mang tiếng đa tình từ khi bị Tản Ðà xem tướng (1). Nhưng con mắt Phú yên dù có đa tình, mắt ấy cũng chưa từng “ngó chừng” theo ông Tản Ðà. Chỉ có câu chuyện “đứng hàng dâu ngó chừng” theo anh Bình định!

Vì anh Bình Định gần gũi, vì lửa gần rơm chăng?

– Không phải thế. Tỉnh Phú Yên còn một mặt giáp giới tỉnh Phú Bổn, một mặt giáp giới tỉnh Khánh Hòa: Những gần gũi ấy chưa lưu một dấu vết tình cảm nào, ít ra là trong văn chương truyền khẩu. Gái Phú Yên không tỏ ra đa tình với một ai khác, chỉ đa tình với trai Bình Định mà thôi.

Vả lại, Bình Định còn một mặt giáp giới Pleiku, một mặt giáp giới Quảng Ngãi: Ca dao ở cả Quảng Ngãi lẫn Bình Định đều không đề cập đến một liên hệ tình cảm nào giữa bên này và bên kia đèo Bình Đê. Cái tình của gái Phú Yên đã là tình chuyên nhất lại là tình lâu bền, trải qua nhiều thế hệ. Tại Khánh Hòa có câu hát:

Anh về Bình Định thăm cha,

Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em.

Từ thế hệ trước, cha Bình Định đã gặp mẹ Phú Yên! Làm sao cắt nghĩa được mối duyên nợ truyền kiếp này?

Cắt nghĩa là chuyện khó. Trong khi chờ đợi, tạm có vài suy đoán vu vơ.

Dân tộc mở rộng bờ cõi về phương Nam làm nhiều đợt, chúng ta dừng lại ở Thanh Hóa thật lâu từ đầu Công nguyên; đến thế kỷ thứ VII thứ VIII tiến vào Nghệ An, Hà Tĩnh; đến thế kỷ thứ XI, vào Quảng Bình, Quảng Trị; thế kỷ thứ XV, tiến vào Bình Định; thế kỷ thứ XVI, XVII thanh toán đất Chiêm Thành; sau cùng, sang thế kỷ XVIII, thì chiếm luôn Chân Lạp.

Cứ tiến lên một chặng lại nghỉ ít lâu, rồi tiến chặng nữa. Kể ra là sáu chặng; nhưng sáu chặng ấy có thể phân làm hai thời kỳ khác nhau: Thứ nhất, từ đèo Cù Mông trở ra, cuộc chinh phục và mở mang thuộc công lao các triều vua đóng đô ở ngoài Bắc. Thứ nhì, từ đèo Cù Mông trở vào, thuộc công lao các vua chúa nhà Nguyễn.

Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn đánh chiếm Ðồ bàn, tiến tận đèo Ðại Lãnh, nhưng rồi chỉ giữ lại để cai trị phần đất từ đèo Cù Mông trở ra. Năm 1611, Nguyễn Hoàng đánh Chiêm thành, lập đất Phú Yên. Vào giữa khoảng thời gian hơn trăm năm ấy xảy ra việc Nguyễn Hoàng vào trấn đóng Thuận Hóa năm 1558 với ý định chia đôi sơn hà, gián đoạn sự liên lạc Nam Bắc.

Trong thời kỳ Nam tiến thứ nhất, cứ mỗi lần chinh phục được đất mới, thì triều đình ngoài Bắc đưa người từ các tỉnh ngoài đó vào mở mang; cứ thế đến tận thế kỷ XVI. Vì vậy dân Quảng nam, Quảng ngãi, Bình định, trong buổi đầu phần đông có nguồn gốc trực tiếp ở Bắc, hay ở bắc Trung phần. Nhiều nhân vật đã lập nên nghiệp lớn ở Bình định vốn là gốc người đàng ngoài: Ðào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tấn (gốc Thanh hóa), Lê Ðại Cương, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ (gốc Nghệ an) v.v…

Trong thời kỳ thứ hai, vào đến Phú yên, không còn tình trạng ấy nữa. Khi Nguyễn Hoàng lấy được Phú yên thì Nam Bắc đã chia biệt, không còn lấy được người Bắc đưa vào Phú yên. Những đợt di dân đầu, chúa Nguyễn có thể đưa người Thuận Quảng vào; nhưng sau đó, liên tiếp trong mấy trăm năm, hầu hết có lẽ là việc di dân tự động của người Bình định. Nhân vật Phú yên được lưu danh, ngoài vị thành hoàng mở đất (Lương Văn Chánh), không có ai là gốc ở Ðàng Ngoài. Có chăng chỉ những người từ Bình định vào, như Châu Văn Tiếp, như Võ Trứ…

Phải chăng vì vậy mà có cái tình khắng khít giữa Phú yên với Bình định?

Di dân ở thời kỳ trước, từ Thanh Nghệ vào Quảng nam, Quảng ngãi, Bình định, không gây nên cái tình cảm ràng buộc hai miền như di dân ở thời kỳ sau từ Bình định vào Phú yên; nói cách khác, không có ái tình Thanh Quảng hay Nghệ Quảng trong ca dao mà chỉ có ái tình Bình Phú trong ca dao, như thế là vì lối di dân mỗi thời mỗi khác.

Thời trước, từ Bắc vào đất mới quá xa. Dân Thanh Nghệ vào Thăng Hoa (Quảng Nam ngày nay), Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), Hoài Nhơn (Bình Định) hoặc tuân theo chiếu vua kêu gọi, hoặc vì mang án lưu hình v.v… đã đi là đi luôn, đi để lập nghiệp ở các miền đất mới, không tính ngày về. Thậm chí đời nhà Hồ, di dân phải thích hai chữ tên châu mình lên cánh tay. Ra đi như thế là từ bỏ một quê hương để nhận lấy cho mình một quê hương mới. Trước chuyến đi là dân Nghệ, dân Thanh; sau chuyến đi tức khắc thành hẳn một thành phần của dân Quảng, dân Bình Định.

Trái lại, vào thời sau, trong những cuộc di dân tự động, “anh Bình Định” vào Phú Yên làm ăn, “thương” cảnh Phú Yên, “thương” người Phú Yên, ăn ở với em Phú Yên nhưng vẫn không rời bỏ quê hương Bình định sát kề. Ngoài đó còn có cha mẹ, có mồ mả tổ tiên, có cả những dính líu về tài sản ruộng đất nữa. Ngày giỗ, ngày kỵ, những dịp chia ruộng bán nhà v.v…, anh không thể vắng mặt. Một bổn hai quê, anh Bình Định đi đi về về mãi, khiến em Phú Yên phải giậm chân kêu trời. Như thế cho đến một ngày kia, khi anh đã con đàn cháu lũ đùm đề, gánh gia đình cũng như sản nghiệp tạo dựng của anh ở quê vợ đã quá nặng quá lớn, đủ thu hút tất cả thì giờ, tâm trí, cùng sự hoạt động của anh, khi tuổi anh đã cao, sức anh đã suy sút, bấy giờ anh mới đành chịu định cư hẳn ở Phú Yên, lấy quê vợ làm quê mình. (Nhưng bây giờ lại đến lượt đứa con trai của anh, theo tiếng gọi phương Nam, nó lên đường vào Khánh Hòa làm ăn và lại gặp một em ở trong đó. Cha Bình Định, mẹ Phú Yên, vợ Khánh Hòa: cuộc Nam tiến cứ thế tiếp diễn…)

Thành thử anh Bình Định hấp dẫn, đầu đuôi chỉ vì một lối di dân nhì nhằng.

(1) “Ða tình con mắt Phú Yên” (Tản Ðà)

(Giai phẩm TÂY SƠN Xuân Ất Hợi ).

Trăng mơ


Nguyễn Thị Phụng

 

https://i0.wp.com/farm3.anhso.net/upload/20110929/11/o/anhso-115159_DSC06144.jpg
Cũng là trăng mà hôm rằm tháng tám
Trống rộn ràng vang tận mây xanh
Cũng là trăng mà đông chí rét căm
Chỉ côn trùng rộn rã…

Dù vẫn biết tình đời như thế cả
Trăng mặc nhiên hiện hữu giữa trần gian
Bởi thương mình nên chẳng thở cùng than
Ai muốn bảo trăng già non cũng được!

Vâng đã yêu trăng đâu hề từ khướt
Đêm dịu dàng đằm thắm nên thơ
Suốt bốn mùa trăn trở ước mơ
Như trái đất chung tình mà thích nhỉ!…

Vất vả xứ người

Chỉ vài hôm, sau cái ngày bước chân đến xứ người, một anh bạn ở cùng trại tỵ nạn đã định cư trước chúng tôi chừng vài tháng, có nhã ý mời gia đình chúng tôi cùng đến dự buổi họp mặt cuối tuần tại nhà của một người quen, vừa mới gặp nơi sở làm. Chúng tôi thuộc diện “ con bà phước ”, không thân nhân tại xứ người cho nên cũng thấy vui vui khi được mời dự tiệc .


Thật ra, đó là những buổi “nhậu” của những người đến trước , đã có công ăn việc làm tạm ổn định .

Ngồi vào bàn tiệc, anh bạn cùng trại đã giới thiệu tôi với những người cùng bàn. Có lẽ do chưa quên cái thói quen, như lúc ở trại tỵ nạn cho nên anh đã nhắc đến danh xưng trước cái tên, khiến cho tôi hơi ngượng !
Một người trong bàn tiệc bổng nói lớn :

–         “Sĩ” gì ở VN , chứ qua đây thì ai cũng bị “lòi xỉ” hết !

Theo sau đó là những tràng cười lớn trong lúc mọi người cùng nâng ly chúc mừng buổi hội ngộ. Người bạn nhìn tôi với vẻ e ngại . Tôi vẫn ráng giữ bình tĩnh trong suốt buổi tiệc, nhưng lòng tôi cứ như bị cắt ra từng mảnh nhỏ. Mặc dù khi ra đi, tôi đã chấp nhận bỏ lại tất cả và biết rằng câu nói của ai đó không hề sai. Nhưng nó đã gợi nhắc cho tôi hiểu được cuộc sống của mình sẽ bắt đầu rất chông gai !!
Và suốt những đêm sau đó tôi không tài nào ngủ được .

Vợ chồng tôi có cái may mắn là được một Hội Nhà Thờ bảo trợ, cho nên mọi thứ cần thiết trong cuộc sống khi mới tới đều có đủ. Cũng chính vì vậy mà chúng tôi đã ở một vùng khá xa người Việt định cư. Chúng tôi chọn lối sống “cô lập” và dành nhiều thì giờ tìm hiểu thông tin rồi quyết định theo học các khóa Anh ngữ , để chuẩn bị định hướng cho cuộc sống riêng mình. Chúng tôi cảm thấy thoải mái với cuộc sống đang có mà không một chút gì băn khoăn .

Một hôm chúng tôi thử làm một chuyến đi xa, tìm đến khu phố có đông người mình sinh sống . Lần đó chúng tôi gặp lại vài người quen lúc còn ở trại tỵ nạn, mới vỡ lẽ ra rằng những người cùng chuyến bay đến Úc đều đã sắm “xế hộp” và mọi thứ trong nhà có vẻ “ cập nhật ”…
Chúng tôi thì chẳng có xe , TV thì không màu, bàn ghế tủ giường thì đều là đồ “Hội” (không phải là đồ hiệu đâu nhé). Chúng tôi được thuyết phục và cũng đã xiêu lòng nên quyết định dọn về ở gần vùng người Việt, mong kiếm được việc làm , tăng thêm ngân sách để “nâng cấp” cho cuộc sống gia đình .

Ban sáng thì tới lớp học Anh ngữ, chiều tan trường về thì vào xin làm (tạm thời) ở một xí nghiệp dây chuyền , nơi mà người phải chạy đua với máy . Công việc không khó nếu mình biết nhanh tay , nhanh trí mà lại có đồng lương cao .
Tôi làm việc rất siêng năng, vì muốn giữ chỗ làm và quyết chí tậu cho được một cái “xế hộp” cho thỏa lòng mơ ước . Người đứng coi máy là một thanh niên trẻ gốc Hoa , không khó mà cũng không dễ cho nên tôi cũng ít bị khủng hoảng tinh thần trong lúc làm việc .

Một hôm, dây chuyền bị ứ đọng mà anh chàng đứng coi máy thì lại phản ứng hơi chậm cho nên máy bị hỏng. Anh đã mạt sát tôi bằng những từ rất khiếm nhã và chửi tôi là thằng ngu đần. Có lẽ vì sợ trách nhiệm cho nên anh ta đổ hết lỗi cho tôi khi trình với ông sếp.
Tôi đã khóc, có lẽ tôi khóc không phải vì tủi thân khi nghe những câu chửi giận dữ từ họ. Nhưng mà tôi đã khóc chỉ vì sợ rằng giấc mơ ngồi xế hộp sẽ khó thành hiện thực. Một lúc sau tôi vơ vội cái túi xách và đến gặp ông sếp để nói vài lời xin lỗi. Cũng không quên cám ơn ông , đã giúp đỡ để tôi có việc làm trong mấy tuần qua. Rồi chào “vĩnh biệt” ra về .

Ông  ngạc nhiên quay lại nhìn tôi rồi hỏi , bằng giọng nói dịu dàng hơn lúc nãy :

–         Tại sao lại về, chưa hết ca làm mà sao lại đòi về . Mầy giận tao hả ?

Tôi không biết trả lời làm sao. Tôi cố dấu hai dòng lệ chảy dài nhưng chắc ông đã thấy. Ông vỗ vai tôi và chỉ tay về phía cái máy bên cạnh, rồi nói :

–         Từ rày trở đi mầy chỉ làm tại cái máy nầy thôi đấy nhé (dĩ nhiên là khác người điều khiển máy)

Công việc tại cái hãng nầy thì không khó nhưng phải làm dài giờ. Tôi không có thời gian rảnh để hoàn tất bài tập tại nhà , của lớp học Anh ngữ. Sức học tôi bị sa sút và bị cô giáo nhắc nhở. Thế là tôi lại bị mất ngủ nhiều đêm sau đó. Tôi đang đứng trước ngã 3 đường mà không biết phải chọn đường nào để đi :

–         Tiếp tục theo đuổi việc làm để đạt được giấc mơ “nâng cấp ” ?

–         Tiếp tục theo đuổi việc học để mong kiếm được một mảnh bằng tại xứ người ?

Cái khó là tôi không biết nên chọn đường nào cho đúng. Nhớ lại người mình có câu : “sai một ly, đi một dặm”, khiến cho tôi càng khủng hoảng tinh thần hơn nữa.

Cuối cùng, tôi đã phải quyết định từ bỏ công việc đang làm để tìm một việc làm ngắn hạn hơn. Và rất may tôi đã nhận được một công việc, vài giờ vào mỗi buổi tối trong tuần. Công việc thì thoải mái vì không có ai “dòm ngó” mà tiền lương thì khá cao .
Nếu lúc đó có ai hỏi, đang làm nghề gì thì tôi sẽ tự hào mà nói rằng : “tôi đang làm công việc văn phòng ”. Vâng, thưa các bạn đó là cái công việc dọn dẹp vệ sinh (hút bụi sàn nhà , lau bàn , đổ rác , lau cầu tiêu .. cho văn phòng làm việc của một công ty rất lớn , có nhiều tầng). Tôi cứ đánh lận con đen như thế, nhỡ có ai mà biết được thì tôi sẽ bảo :

–         Ờ .. đó là công việc dọn dẹp vệ sinh văn phòng, nói cho gọn là làm văn phòng, cũng vậy thôi !

Thời gian đã giúp tôi quen dần với những công việc như thế . Cũng nhờ đó mà có một ngày tôi đã viết thư gởi về VN, cho Mẹ. Tôi đã viết :

–         Mẹ ơi, con đã tìm lại được những gì mà con đã mất ..

Và Mẹ tôi đã khóc , lần nầy thì khóc cho một niềm vui !

Người gốc Nẫu

Thổ ngữ Nam Bắc

Bắc bảo Kỳ , Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ)
Bắc gọi lọ, Nam kêu chai
Bắc mang thai, Nam có chửa
Nam xẻ nửa, Bắc bổ đôi
Ôi ! Bắc quở Gầy , Nam than Ốm
Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh
Bắc định đến muộn, Nam liền la trễ
Nam mần Sơ Sơ, Bắc nàm Nấy Nệ
Bắc lệ tuôn trào, Nam chảy nước mắt
Nam bắc Vạc tre, Bắc kê Lều chõng
Bắc nói trổng Thế Thôi , Nam bâng quơ Vậy Đó
Bắc đan cái Rọ , Nam làm giỏ Tre,
Nam không nghe Nói Dai, Bắc chẳng mê Lải Nhải
Nam Cãi bai bãi, Bắc Lý Sự ào ào
Bắc vào Ô tô, Nam vô Xế hộp
Hồi hộp Bắc hãm phanh, trợn tròng Nam đạp thắng
Khi nắng Nam mở Dù, Bắc lại xoè Ô
Điên rồ Nam Đi trốn, nguy khốn Bắc Lánh mặt
Chưa chắc Nam nhắc Từ từ, Bắc khuyên Gượm lại
Bắc là Quá dại, Nam thì Ngu ghê
Nam Sợ Ghê, Bắc Hãi Quá
Nam thưa Tía Má, Bắc bẩm Thầy U
Nam nhủ Ưng Ghê, Bắc mê Hài Lòng
Nam chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh
Nhanh nhanh Nam bẻ Bắp, hấp tấp Bắc vặt Ngô
Bắc thích cứ vồ, Nam ưng là chụp
Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi
Nam nói: mày đi ! Bắc hô: cút xéo.
Bắc bảo: cứ véo ! Nam : ngắt nó đi.
Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói
Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn !
Bắc gọi tiền đồn, Nam kêu chòi gác
Bắc hay khoác lác, Nam bảo xạo ke
Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn
Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay.
Bắc nấu thịt cầy, Nam thui thịt chó.
Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên
Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú
Nam : ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi !
Bắc mới tập bơi, Nam thời đi lội.
Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui
Thui thủi Bắc kéo xe lôi, một mình xích lô Nam đạp
Nam thời mập mạp, Bắc cho là béo
Khi Nam khen béo, Bắc bảo là ngậy
Bắc quậy Sướng Phê , Nam rên Đã Quá !
Bắc khoái đi phà, Nam thường qua bắc.
Bắc nhắc môi giới, Nam liền giới thiệu
Nam ít khi điệu, Bắc hay làm dáng.
Tán mà không thật, Bắc bảo là điêu
Giỡn hớt hơi nhiều, Nam kêu là xạo.
Bắc nạo bằng gươm, Nam thọt bằng kiếm
Nam mê phiếm, Bắc thích đùa.
Bắc vua Bia Bọt , Nam chúa La-De
Bắc khoe Bùi Bùi lạc rang, Nam : Thơm Thơm đậu phọng
Bắc xơi na vướng họng, Nam ăn mãng cầu mắc cổ
Khi khổ Nam tròm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn
Nam toe toét «hổng chịu đèn», Bắc vặn mình «em chả»
Bắc giấm chua «cái ả», Nam bặm trợn «con kia»
Nam mỉa «tên cà chua», Bắc rủa «đồ phải gió»
Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ
Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt
Khi thấm, Nam xách thùng thì Bắc bê sô
Nam bỏ trong rương, Bắc tuôn vào hòm.
Nam lết vô hòm, Bắc mặc áo quan
Bắc xuýt xoa “Cái Lan xinh cực !”,
Nam trầm trồ “Con Lan đẹp hết chê !”
Phủ phê Bắc trùm chăn, no đủ Nam đắp mền
Tình Nam duyên Bắc có thế mới bền mới lâu …

Sen

                           Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

              

      Ở vùng quê tôi có nhiều đầm sen. Người quê tôi lời ăn tiếng nói khá phong phú. Cũng cái vũng trồng sen thôi, nhưng vũng trồng sen mênh mông ở giữa đồng thì gọi là đầm sen hay bàu sen, vũng trồng sen ở trước đình chùa thì gọi là hồ sen, còn cái vũng trồng sen nho nhỏ ở bên nhà, bên đường cái quan gọi là ao sen. Hoa sen có sen hồng, sen trắng, sen vàng và sen nào cũng ngát hương. Trong đầm sen thường mọc lẫn hoa súng, cùng họ hàng với hoa sen. Có người vì yêu quá đã gọi hoa sen là hoa ”quân tử”, hoa súng là hoa ”tiên tử”.

Đọc tiếp »

Ngoài xứ dừa Bến Tre ra thì không có nơi nào ở nước ta nhiều dừa như ở Tam Quan, Bình Định. Với người dân xứ dừa thì sản phẩm nước  mắm dừa được chế biến từ dừa đã quá quen thuộc.

Nếu ai lần đầu tiên được nếm món nước mắm này có lẽ cũng dễ nhầm tưởng đây là loại nước mắm được chế biến từ cá bởi nó cũng có màu vàng, có vị mặn và thơm ngon.

Theo các cụ cao niên, do ngày xưa giao thông đi lại khó khăn nên việc vận chuyển cá mắm từ vùng này sang vùng khác tương đối khó khăn nên người dân ở xứ dừa tự nghiên cứu để sản xuất loại nước mắm này bởi muốn làm ra nó không phải đơn giản.

Để làm ra mẻ nước mắm dừa thường rất nhọc công, mất thời gian. Bởi để chế biến được từ  2 đến 4 lít mắm dừa phải mất một ngày và khoảng 20 lít nước dừa già.

Dừa già hái đươc chặt vỏ lấy nước cho vào xoong nấu đến khi sôi. Sau đó thì chụm lửa riu riu giữ cho độ sôi đều, lưu ý mở vung. Khi còn khoảng 2 lít thì nước dừa ngả màu vàng, lúc ấy cho muối vào vừa đủ mặn đặt xuống, để nguội, cho vào chai là đã có món nước mắm dừa. Sản phẩm nước mắm này cũng có màu vàng, vị mặn và để lâu mấy cũng không hư, lại có mùi vị thơm ngon đặc biệt nên được xem như một món đặc sản của xứ dừa.

Ngày nay nước mắm dừa rất ít được chế biến rộng rãi, phổ biến mà chỉ ở số ít gia đình có truyền thống để làm quà hay đãi khách đặc biệt mỗi khi đến nhà.

Điều thú vị của nước mắm dừa  là không chỉ được dùng làm nước chấm, nước mắm dừa còn được dùng như một loại gia vị đặc biệt trong các món ăn, nhất là các món chay. Chính vì vậy đây được xem như loại nước mắm phù hợp dành cho mọi người trong chế biến thực phẩm.

Theo Laodong

(ĐVO) Một số tài liệu lịch sử xác nhận rằng, vua Quang Trung đã sai sứ thần tới Đại Thanh cầu hôn công chúa – con gái được cưng chiều nhất của hoàng đế Càn Long. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu hiện nay lại phủ nhận điều này.
Thực hư cuộc cầu hôn giữa nhà Tây Sơn với nhà Thanh là như thế nào? Sách Hoàng Lê nhất thông chí chép rằng: “Vua Quang Trung sau khi quyết định đánh Trung Quốc, bèn sai bầy tôi là Chiêu Viễn Vũ Văn Dũng sang nhà Thanh dâng biểu cầu hôn và đòi lại đất hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây”.

Sách Đại Nam chính biên liệt truyện cũng ghi: “Năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung sai làm biểu văn sang nhà Thanh cầu hôn để dò ý vua Thanh và cũng để mượn cớ gây mối binh đao, nhưng vua bị bệnh không đi được”.

Vua Quang Trung. Ảnh minh họa

Theo hai tài liệu trên, việc Quang Trung xin cưới một công chúa của Càn Long mới chỉ trong dự định của một ý đồ liên quan đến vận nước của hai bên. Vua mong muốn bành trướng lãnh thổ Ðại Nam về phương Bắc và bằng mọi cách đòi lại cho được 2 tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây – vốn thuộc nước Nam Việt thời Triệu Ðà (năm 207 trước Tây lịch), mà nhà Hán đã thôn tính.

Sắc mệnh sai sứ thần sang nhà Thanh cầu hôn

Vào tháng 4 âm lịch năm 1791, vua Quang Trung gửi một sắc mệnh cho Chiêu Viễn Vũ Văn Dũng, có nội dung như sau:

“Sắc Hải Dương Chiêu Viễn Đại đô đốc Đại tướng quân Dực vận công thần Vũ Quốc Công tiên gia lĩnh Bắc sứ kiêm toàn ứng tấu thỉnh Đông, Tây lưỡng Quảng dĩ khuy kỳ tâm, công chúa nhất vị dĩ kích kỳ nộ.

Thận chi! Thận chi!

Kỳ dụng binh hình thế tận tại thử hành.

Tha nhất tiền phong, Khanh kỳ nhân dã, khâm tai sắc mệnh.

Quang Trung tứ niên, tứ nguyệt, thập ngũ nhật”.

Tạm dịch:

“Sắc sai Hải Dương, Chiêu Viễn Đại đô đốc Đại tướng quân Dực vận công thần Vũ Quốc Công được tiên phong làm Chánh sứ đi sứ nhà Thanh, kiêm lãnh toàn quyền trong việc tâu thưa để xin lại đất hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây để dò ý và cầu hôn công chúa để khiêu khích tự ái vua Thanh.

Cẩn thận! Cẩn thận!

Hình thế dụng binh là ở chuyến này cả. Ngày kia làm tiên phong chính là khanh.

Sắc mệnh nhà vua.

Ngày rằm tháng 4 năm Quang Trung thứ 4 (1791).

Như vậy, đoàn sứ của Vũ Văn Dũng lên đường sang Đại Thanh để bệ kiến vua Càn Long hai việc: xin cầu hôn và xin đất đóng đô. Thực chất, theo một số nhà nghiên cứu hiện nay, đó chỉ là cái cớ vì thực tâm, vua Quang Trung muốn dụng binh đánh Trung Quốc và Vũ Văn Dũng chính là vị tướng tiền phong trong tương lai.

Càn Long chuẩn thỉnh cầu… Quang Trung băng hà

Sau khi sứ thần Vũ Văn Dũng dâng tấu xin Càn Long ban cho hai yêu cầu nói trên, vua nhà Thanh đã chuẩn y lời cầu hôn của hoàng đế Quang Trung, sai bộ Lễ sửa soạn nghi thức cho việc cưới gả, định ngày cho công chúa sang nước Nam. Còn việc xin lại hai tỉnh, Càn Long ngoài mặt đồng ý, nhưng thực tế chỉ muốn trao cho Quảng Tây làm đất đóng đô, coi như “của hồi môn” cho con gái “rượu”.

Tuy nhiên, ở đời mấy ai học được chữ ngờ! Chỉ sau đó mấy hôm, Vũ Văn Dũng nhận được tin chẳng lành là vua Quang Trung đột ngột băng hà. Mọi việc trở nên dang dở… Lúc đó, Vũ Văn Dũng đã làm bài thơ viếng:

Năm năm dấy nghiệp tự thân nông
Thời trước thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng.

Vua Càn Long cũng thảo một bài thơ viếng hoàng đế Quang Trung. Sứ nhà Thanh đã đến tận mộ ông ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng.

Cho đến nay, thời điểm mất của vua Quang Trung vẫn được các tài liệu cổ ghi khác nhau. Sách Đại Nam thực lục của nhà Nguyễn ghi ông mất tháng 7 âm lịch năm 1792. Hoàng Lê nhất thống chí chép ông mất tháng 8 âm lịch năm 1792. Theo lý giải của Hoàng Xuân Hãn trong La Sơn phu tử, cả hai sách ghi đều không sai. Quang Trung mất vào khoảng 11 h đêm ngày 29 tháng 7 âm lịch, khoảng đó là giờ tý, nghĩa là bắt đầu được tính sang hôm sau; mà tháng 7 năm đó là tháng thiếu, ngày 29 là ngày cuối tháng, nên sau 11h đêm đã chuyển sang tháng 8. Theo Hoàng Xuân Hãn: “Ghi tháng 7 hay tháng 8 thực ra chỉ chênh nhau khoảng nửa giờ”.

Ngay sau khi đại phá quân Thanh ở trận Ngọc Hồi – Đống Đa, vua Quang Trung tìm cách xóa bỏ thù hằn bằng việc chiêu hàng, nuôi dưỡng hàng vạn tù binh nhà Thanh và thu dọn, cúng tế chiêu hồn quân Thanh; thực thi chính sách hòa giải với cường quốc phương Bắc và triều cống, xin phong vương. Bằng một kế sách ngoại giao khôn khéo, mua chuộc được các cận thần nhà Thanh (Phúc Khang An, Hoà Thân…), Nguyễn Huệ đã được vua Thanh chấp nhận cầu phong để nhà Tây Sơn chính thức thay thế nhà Lê làm chủ Đại Việt.

Mưa chiều Tây Sơn thượng

 Phạm Văn Phương

Ta chẳng còn ta ngày tháng cũ
Mười lăm năm một dịp quay về
Em chẳng còn em thời thiếu nữ
Đôi bờ sương đục đã phân chia

Mười lăm năm lẻ về An Túc
Song thưa, nghe lọt gió tư bề
Mưa trút một trời Tây Sơn Thượng
Mơ màng ly rượu sánh trăng quê

Mơ màng một dáng em như liễu
Môi mắt xinh tươi dưới cội đào
Mơ màng con sẻ bay ngoài dậu
Đôi tà áo lụa trắng chiêm bao

Mơ màng ta thấy ta như cỏ
Bâng quơ vướng víu dưới chân người
Ta thấy em buồn như bữa nọ
Mà ta khờ khạo mãi rong chơi

Mà ta đâu biết em như gió
Thổi bung ngọn cỏ buổi ta về
Mà ta đâu biết em như lửa
Cháy bùng một ngọn giữa đêm khuya

Mười lăm năm lẻ ta về lại
Em chẳng còn em thuở ban đầu
Ta chẳng con ta ngày tháng cũ
Đôi bờ sương đục dưới thung sâu

Quái lạ, mà sao ta cứ nhớ
Chiêm bao áo lụa trắng đôi tà
Ta thấy ta buồn hơn lá cỏ
Em buồn  bữa nọ có hơn ta?

Ta buồn, em hỡi- ta buồn lắm
Mười lăm năm trước cũng lâu rồi
Gió thổi ngút một trời An Túc
Mà lòng hồ dễ đã xa xôi ?