Feeds:
Bài viết
Bình luận

Ta mừng tuổi nhau

Nguyễn Thái Dương

Ca khúc Ta mừng tuổi nhau nhạc: Nguyễn Ngọc Thiện thơ: Nguyễn Thái Dương

Cây thắp vào đêm

Những nhành lộc nõn

Anh thắp vào em

Một đôi mắt ngóng

.

Cho trời xanh lên

Trong đêm trừ tịch

Cho tim rộn thêm

Trước giờ xuân đến

.

Đường khuya hành hương

Dòng người huyên náo

Thầm hẹn hò nhau

Hai người ngoại đạo

.

Em khấn điều gì

Cho đêm đứng lại

Anh nguyện điều chi

Mà đêm sâu vậy?

.

Cây mừng tuổi đêm

Bằng chùm lộc nõn;

Bằng đôi môi mọng

Ta mừng tuổi nhau…

NGUYỄN THÁI DƯƠNG

Cái hộp thiếc

Ngô Đình Hải 

(Tranh Đinh Trường Chinh)

Có thằng đệ, trước đi phụ xe tải cho hắn. Anh em no đói có nhau. Thân không vợ con, hắn thương thằng nhỏ như con, chỉ dạy tận tình. Dạo đó xe hiếm, toàn xe quốc doanh. Kiếm được cái bằng lái đã trần thân, có được cái xe chạy kiếm cơm là phước đức ông bà để lại! Tiền lương tháng, xí nghiệp trả, của ai nấy lấy. Xe ra tới đường là xe của hắn, hắn chịu trách nhiệm. Mất mát, hư hỏng, tai nạn…mọi thứ đều đổ lên đầu hắn. Thế nên tiền chở hàng thêm, tiền bán dầu dư, hắn muốn xử sao là chuyện của hắn, lơ xe miễn ý kiến. Hắn chia cho thằng đệ rất ít, phần của hắn cũng không hơn gì. Tới ăn nhậu hắn cũng hạn chế tối đa. Dư được đồng nào, hắn cất hết vô trong cái hộp thiếc, để bên dưới ghế ngồi. Chuyện để dành chút đỉnh phòng khi đau ốm, hay có sự cố là chuyện tất nhiên, ai cũng phải vậy, nhứt là với loại kiếm miếng ăn ngoài đường như tụi hắn. Hắn không nói ra, thằng đệ cũng chớ có mà dám hỏi. Chỉ âm thầm chịu đựng, chấp nhận thiệt thòi hơn khi có dịp tâm sự với mấy đứa đi phụ xe khác trong xí nghiệp. Hắn mặc kệ. Hiểu cũng được, mà không hiểu cũng không sao! Hắn tính rồi, chỉ cần gom đủ tiền là hắn xin cho nó vô trường lái liền, 18 tháng ăn học ở trường chứ ít ỏi gì. Ai nuôi? Ai đóng tiền học? Học xong, lấy bằng rồi, cũng phải chừa một ít để xin xỏ, để kiếm xe chạy cho bằng chị bằng em. Đi lơ miết biết chừng nào khá!…

Vậy mà, đùng một cái, thằng nhỏ xin nghỉ. Hắn tưởng nó giận hắn chuyện tiền nong, so bì ít nhiều mà đòi bỏ nghề. Cực chẳng đã, hắn mới nói chuyện để dành tiền làm gì cho nó nghe.

Thằng nhỏ ứa nước mắt, nhưng nó vẫn nói nghề xe cực quá, còn nguy hiểm, nó nhắm kham không nổi. Để nó đi kiếm nghề khác mẩn ăn. 

Tự nhiên hắn thấy buồn ngang xương. Thôi kệ, nó đã muốn vậy, nghề không muốn nhận nó, giữ nó lại cái kết cuộc cũng chẳng tốt lành gì. Chữ nghĩa thằng nhỏ nhiều hơn hắn, nó còn trẻ, hy vọng đồi nghề sẽ khá hơn!…

Hôm thằng nhỏ nhận quyết đinh thôi việc của xí nghiệp, hắn nghỉ chạy, dẹp xe. Thằng nhỏ lấy nước rửa, rồi rị mọ lau từng ngóc ngách trong xe, như để nói lời chia tay. Hắn mặc kệ cho nó làm. Chiều lại, đợi nó lau xong, hắn mở tấm nệm ghế ngồi, lôi cái hộp thiếc đựng tiền để dành cầm theo, trước khi ra quán nhậu quen. Hắn nói với nó:

– Bữa nay mày có quyền uống thoải mái, sức uống được bao nhiêu cứ uống!

Cái tưởng chừng như đơn giản này lại là thứ tối kỵ trước đây, hắn luôn nhắc và không cho phép nó hay chính mình được làm. 

Thằng đệ ngồi uống, hắn lấy tiền trong hộp thiếc ra đếm, cẩn thận từng tờ một. 

Bỏ lại vô hộp một ít, còn bao nhiêu hắn đưa hết qua phía nó:

– Tiền của xe để lại. Tiền này trước để dành lo cho mày vô trường lái. Giờ không cần nữa. Nó là của mày, cầm lấy làm vốn. Khi nào rảnh nhớ ghé về thăm tao là được…

Sau bữa đó, thằng đệ đi biệt, không tin không tức gì. Hắn và chiếc xe vẫn tiếp tục cuộc sống thường nhật của mình. Xí nghiệp đưa đứa khác theo phụ, hắn lắc đầu không cần, mình hắn cân hết. Hắn bắt đầu uống rượu nhiều hơn. Sống hoang đàng hơn, tiền bỏ vô hộp thiếc để dành cũng thưa dần, thậm chí nhiều khi không bỏ luôn. Có quái gì phải lo nữa đâu!

Mới đó mà gần 20 năm. Hắn cũng đã mấy lần thay xe khác, cái hộp thiếc vẫn đi theo và nằm đúng vô chỗ của nó. Rồi cũng tới tuổi hưu. Ngày hắn giao xe cho xí nghiệp để nghỉ. Anh em xe hùn lại mua tặng hắn cái điện thoại di động, cho dễ liên lạc. Hắn nhận, cười:

– Có nhậu nhớ a-lô nghen!

Chỉ có vậy. Hắn rời nơi đã gắn bó với gần hết cuộc đời mình nhẹ tênh. Mỗi bộ đồ và cái hộp thiếc đi theo…

Nghỉ lại thì lúc trước thằng đệ cũng có cái lý của nó. Nghề xe coi vậy chứ bạc lắm. Buông xe ra, bước xuống đất, là huề trớt. Cái kiếm được trên đường trả lại cho đường sạch nhách. Cái vô-lăng tròn vo, xoay tới xoay lui, buông ra cũng trở về như cũ, y chang như cuộc đời cầm lái của hắn vậy. Có cha tài xế nào mà về chiều có của ăn của để đâu!…

Gần Tết, buổi sáng trời trở lạnh. Hắn ho sù sụ, ngực rát rạt. Bao nhiêu sức lực phung phí từ hồi còn ôm xe, cộng với mấy đợt covid, làm hắn xuống thấy rõ. 

Điện thoại reng. Hắn giật mình khi nghe tiếng thằng đệ:

– A lô! Ông thầy khỏe không? 

– Trời đất! Khoẻ!…Khoẻ!…Mày đang ở đâu? Sao…Sao biết số của tao?

– Dễ ẹt! Điện hỏi xí nghiệp chứ đâu! Tui ở xa lắm, Móng Cái lận, tuốt gần biên giới. Để đó nói sau đi. Ông thầy bắn cái tài khoản qua đây, tui gửi ít tiền xài tết!…

– Cái…Cái gì?…Số tài khoản hả? Tao làm gì có cái đó! Hồi nào tới giờ có xài gì tới nó đâu?…

– Lạc hậu thiệt chứ! Thôi bắn cái số chứng minh với cái số nhà cho tui cũng được, tui gửi bưu điện cho, ra đó lãnh nha!…

Chưa kịp hỏi thêm thì nó đã tắt máy. Chiều 23 Tết, hắn ôm cục tiền cúa nó gửi, mới lãnh ở bưu điện về. Nhiều, nhiều quá, tới mấy chục triệu! Hắn mở nắp cái hộp thiếc, ngó mấy đồng bạc ít ỏi còn lại, rồi bỏ luôn cọc tiền vô đó. 

Ngoài đường xôn xao chợ búa. Người ta đang mua sắm đón Tết.

Hắn rót cho mình ly rượu, uống khan. Hơi rượu xộc lên mũi, hắn nghe hai mắt cay xè. Hắn nhớ tới những cái Tết trên đường, những lúc xe giao hàng xong không về kịp. Nhứt là cái lần có thằng nhỏ. Chiều 30, tấp xe vô chân đèo. Con đường vắng thấy sợ. Giờ này có mấy ai ra đường. Cúng xe xong, thì trời sụp tối. Xe trống, hai thầy trò leo lên thùng xe ngồi ăn. Thằng nhỏ bất ngờ lôi ra chai rượu tây, có hiệu đàng hoàng, không biết nó mua hồi nào. Hắn buột miệng:

– Sang dữ bây!…

Nó cười:

– Kệ, Tết mà…Thà trâu bò đạp chết, chứ để ruồi muỗi cắn chết đau lắm ông thầy ơi!…

Lần đầu tiên trong đời, hắn kể cho người khác nghe, chuyện một đứa nhỏ mồ côi, lê lết ở bến xe cho tới ngày làm tài xế như thế nào. Thằng nhỏ nắm lấy bàn tay chai sần của hắn, đặt cái ly rượu lên đó. Hắn hỏi:

– Còn mày, sao không chịu học hành, theo nghề này chi?

– Tui khác! Tui có cha mẹ anh em, có nhà cửa, có đi học. Cái gì cũng có! Cái có nhiều nhứt là cái nghèo! Mà nghèo hoài chịu sao thấu!…

Hắn bật cười. Hắn thấy vui với cái cách nói chuyện văn chương của thằng đệ. Chai rượu có bao nhiêu đâu mà đêm đó hắn say quắc…

Hắn cầm cái hộp thiếc đầy tiên lên ngắm nghía. Lớp sơn bên ngoài tróc gần hết, dễ chừng nó theo hắn mấy chục năm rồi còn gì. Hắn lại cầm cọc tiền lên tay. Bất chợt hắn nói như nói với cái hộp:

– Mày thấy đó! Má! Tao cần nó vác cái mặt về thăm tao, chứ cần chó gì cái thứ này…

NĐH

Hương vị của ký ức

Tản văn: Nguyễn Thị Việt Hà

Cũng như một cái ôm vậy, trong ký ức, sự quen thuộc và hoài niệm của món ăn thấm đẫm sự chăm chút của những người thân quen làm ấm lòng, xoa dịu cả những ngày khó khăn đang trải qua.

Hai mươi năm về trước, buổi đó vừa qua một cơn dông, Cái Bát tựa như một hòn đảo nhỏ xung quanh bốn bề là nước, lau sậy mịt mù. Từng đám ruộng không còn bờ ranh, lúa ngoi mãnh liệt trên mặt mùa nước nổi. Cậu của tôi xách giỏ, cầm đèn pin đi theo tiếng ếch nhái gọi nhau ở những đám ruộng xem xép nước để tìm bắt.

Đêm mùa mưa năm đó, gió hất từng cơn lạnh lẽo, lòng tôi trống trải hơn cánh đồng. Những giấc mơ tuổi trẻ tan vỡ như ánh lân tinh bắn lên mặt nước mỗi lần con cá nhảy. Cậu tôi nhanh tay chộp từng cặp ếch nhái mập ú bỏ vào giỏ. Tôi đi theo vụng về cũng bắt hơn chục con, chủ yếu là nhái. Chừng hơi hai tiếng, nhắm chừng giỏ đã nằng nặng, hai cậu cháu trở về nhà. Chừa một ít rộng trong lu, còn lại, cậu làm sạch và nấu cháo ngay trong đêm. Tôi cầm đèn pin đi ra bên hông nhà, nhổ vài củ nghệ, cắt mấy bụi hẹ, bẻ thêm hai ba trái ớt hiểm. Cậu làm nhái, tôi bắc xoong vo gạo nấu trên bếp lửa cháy bập bùng. Thịt nhái làm sạch, sấy mỡ tỏi đổ vô xào chung với nghệ tươi đâm nhuyễn vắt lấy nước, bỏ thêm vài lát nghệ vô đảo cho thơm. Khi gạo nở bung như bông mai trắng bay là đà thì cho thịt nhái vô, nêm nếm thêm, chừng năm phút thì cho hẹ, tiêu, ớt rồi bắc xuống bếp.

Nhà cậu tôi bên bến sông, một nửa trên bờ, một nửa bắc sàn lãn leo ra mé sông. Cháo nhái ăn mùa mưa, mà phải ăn ngay giữa đồng, giữa sông mới thấm. Tô cháo nóng hổi, ăn tới đâu ngon run người tới đó. Thịt nhái ngọt, cháo hoa bùi, tiêu thơm, ớt cay, mùi của nghệ, của hẹ không trộn vào nhau mà như lần lượt thẩm thấu vào vòm miệng người ăn. “Ăn đi con, thịt thà cá mú ở đâu cũng không ngon hơn chén cháo này. Đừng tủi hờn gì nữa, nghèo mà vui…”. Tôi im lặng, hít một hơi dài, nuốt thật sâu nỗi cô đơn của một tuổi trẻ tẻ nhạt vào lòng. Chén cháo nhái, ngon như chưa bao giờ ngon hơn thế!

Tôi mê đắm những bữa ăn nơi cửa biển Cái Đôi, xóm tôi vào độ cuối năm hay chung tay làm một bữa tất niên tập thể. Chọn một ngôi nhà rộng rãi nào đó, ai có gì thì hùn đó, không quy định món trước: Người mang đến con gà, con vịt; có người xách lủng lẳng mớ cá biển, có người đem tới mớ cá đồng, rau củ đủ loại; và, tất nhiên không thể quên góp vào vài chai rượu cho người lớn, nước ngọt cho tụi nhỏ. Nhà nào sẵn món gì thì đem đến món ấy, không ai đi xét nét từng món hay so đo chuyện “phần hùn” nhiều hay ít. Đem đồ đạc đến thì cũng tự động xắn tay áo vào bếp để chế biến, nấu nướng, nhờ nhiệt tình góp sức nên chỉ trong thoáng chốc đã bày biện ra mâm, ngó cũng ê hề không thua bất cứ đám tiệc nào thời ấy: Từ các món để “lai rai” như gà xé phay trộn gỏi chuối, cá khô trộn gỏi xoài, cá lóc nướng trui… cho đến các món ăn cho “chắc bụng” là cá khoai tươi nấu cháo, cá lạt phi lê nhúng dấm ăn với bún, bánh xèo… Khi xong xuôi các món chính, còn dư lại mớ cá hủn hỉn (gồm nhiều loại cá nhỏ) với mấy quả chuối chín muồi, dì Sáu đem kho ớt, nấu canh chuối và “tiên đoán”: “Dám chắc, lát nữa món này sẽ được ưa nhứt, hết nhanh nhứt cho coi!”.

Bữa tất niên tập thể đó, mọi người tới để vui nên tất cả mệt nhọc của cả năm đều gác lại hết, để rộng chỗ cho tinh thần “chơi tới bến” của bà con. Người ta ăn nhiệt tình, ca hát nhảy múa hăng say, rồi kể chuyện mình như bày cả ruột gan ra cho người khác thấy. Tới giữa bữa, khi nhiều món khác vẫn còn chưa hết thì món cá hủn hỉn của bà Sáu đã được vét sạch trơn. Mớ cá vụn kho ớt thiệt cay, có thêm tóp mỡ, mấy củ hành tím cắt đôi ba lại trở hấp dẫn vô cùng, dẫu ăn với chén cơm trắng hay với bún hoặc dùng làm thức nhắm khi uống rượu đều tương hợp lạ lùng. Còn chén canh chuối chín kia lại giống như món canh giã rượu, giúp người say cầm cự qua nhiều bận rót xoay vòng.

Tôi xa Cái Đôi Vàm ngót nghét mười năm. Tiệc tất niên tập thể sau khi tôi rời đi chỉ diễn ra thêm một lần nữa rồi ngưng hẳn. Có lần tình cờ gặp người Cái Đôi ở Cà Mau, mới hay bà Sáu và nhiều người hồi đó đã lần lượt nối nhau về miền xa thẳm. Ừ thì… Chừng đó năm, thời gian đời người ai cũng ngắn dần rồi hết. Riêng hương vị cũ tôi vẫn nhớ y thinh, nhiều khi lật đật đi mua đồ nấu, nhưng vị chỉ nhang nhác giống. Có lẽ thiếu đi nhiều thứ “hồi đó” quá nên không sao giống như nguyên bản. Mãi sau này, về nhà anh Đô ở Cái Nước Biển, anh hỏi ăn gì để chị Hòa – vợ anh nấu cho. Tôi nói, đổ lú có nhiêu cá vụn vặt nho nhỏ đem kho ớt với nấu canh chuối chín. Anh cười ha hả nói, tôm sú, cá đối trứng đầy bụng không ăn đi ăn những món ngộ. Vậy mà tới lúc chị Hoà làm xong, mấy món ngon ế hơn món “ngộ” mà tôi thèm… Chỉ khi ấy, nỗi nhớ xóm Ba Khía nhỏ với những người dân đi biển của tôi mới dễ chịu hơn; sự an ủi mà những món ăn mang lại thật khó có thể so sánh được, có chăng là chỉ thua kém những lúc bạn được ở bên những người thân yêu.

Với tôi, món ăn do mẹ tôi nấu người khác khó thể ngon hơn, nhất là món canh chua trái cóc. Không phải mẹ tôi là “đầu bếp cừ khôi” của xóm mà vì nhờ có tình thương của người nấu được nêm nếm vào trong món ăn. Ngày đó, mỗi khi tôi đi học có chuyện căng thẳng, khi về ăn cơm mẹ nấu, mọi thứ đều nhẹ hẳn đi. Có lẽ đồ ăn được làm từ đôi tay mẹ là nguồn ấm áp dịu dàng chiếu rọi cuộc đời trần trụi tầm thường của tôi. Sau này tôi đi làm xa, đối mặt với bao nhiêu chuyện buồn vui trong đời, tinh thần xuống dốc, tôi trở về với mẹ, được mẹ nuông chiều nấu cho những món tôi nhớ để lên “dây cót” tinh thần cho tôi, tiếp thêm nguồn năng lượng để tiếp tục chinh phục thử thách phía trước.

Việt Nam đa dạng thổ nhưỡng, nguyên liệu chế biến các món ăn cũng rất phong phú. Món ngon Việt Nam ít giống với bất kỳ món ăn phương Đông nào bởi nét riêng ở cách nêm nếm gia vị, thành phần và phương pháp chế biến. Ngay cả trong một nước, cách nấu và nêm nếm gia vị ba miền Bắc – Trung – Nam cũng hoàn toàn khác nhau với điểm chung là tôn trọng hương vị nguyên bản của nguyên liệu. Sức hấp dẫn của nền ẩm thực còn đến từ sự mộc mạc, dung dị mà đậm đà bởi cách chế biến và văn hóa kế thừa – sáng tạo qua các thời kỳ. Món ăn không chỉ để no bụng, còn để chữa bệnh và an ủi tâm hồn. Có người xa xứ, định cư nước ngoài mấy mươi năm, Tết đến vẫn làm mâm cơm thuần Việt cúng tổ tiên ông bà với thức món đều phần lớn là những món ăn nơi quê nhà. Để rồi mỗi năm trở về Tổ quốc lại tìm dưa cà mắm muối khi xưa để không quên hương vị cũ.

Một ngày như bao ngày, đi qua một góc phố phảng phất hương canh chua của bữa trưa đầy nắng, bước chân khựng lại vì bắt gặp hương vị cũ, mắt bỗng cay xè bởi quá nhớ cơm mẹ nấu, thời gian không cho phép ai quay lại, tôi đã xa lắm những ngày còn nhỏ. Từng chi tiết trong quá vãng hiện về rất rõ, cả ngôi nhà đã thuộc về người khác, cả quê nhà đã rời đi lâu lắm, cả mẹ tôi đã về miền thiên cổ… ký ức lách qua trầm mặc đời người mà nhắc tôi nhớ đủ đầy.

Ăn uống đâu chỉ là chuyện…ăn uống, đó còn là “cách ăn, nết ở”, nếp nhà, phong tục tập quán; là linh hồn của hạnh phúc yêu thương, nơi nuôi dưỡng tình cảm của biết bao thế hệ. Không phải là mâm cao cỗ đầy mà chính là hình ảnh cha ta, mẹ ta nấu từng món ăn trong gian bếp nhỏ mang lên cho con cái với tất cả sự chăm chút, chu đáo chất chứa trong ấy sẽ theo ta cả cuộc đời.

Xao động xuân thì

Nguyễn Thị Mây

             Đặt thùng tưới xuống đất, tôi thở phào nhẹ nhõm. Vậy là xong! Mấy chục gốc mai trong vườn vừa được tắm mát, chúng hân hoan chìa những chiếc nụ bum búp, be bé đón nắng. Đó là niềm hy vọng của ba tôi, giấc mơ làm giàu của ba sắp trở thành hiện thực.

             Mấy hôm trước, ba bảo tôi vặt lá mai. Theo dự tính của ba thì đây là thời điểm thích hợp nhất. Hái lá sớm quá, chưa tết, mai đã ra hoa. Còn chậm, tết xong, mai mới từ từ nở thì … xuân muộn. Chắc hẳn không ai thèm chọn mua những cây mai như thế. Và, ba sẽ bán ế, giấc mộng vàng tan vỡ. Gia đình lại được dịp xào xáo. Ba mẹ thay phiên trách móc nhau. Tết sẽ buồn như … chết. Vì thế, tôi phải ra tay nghĩa hiệp, giúp ba ép mai nở đúng giờ giấc. Tôi ngắt lia, ngắt lịa, từng chiếc lá thi nhau lìa cành. Chúng bay tản mạn quanh tôi nửa như luyến tiếc nguồn cội, nửa như chế giễu: “Chưa hết đâu, còn phải quét lá nữa, bé ạ!”. Thấy vẻ mặt ủ rũ của tôi, ba an ủi: “ Bao nhiêu lá là bấy nhiêu tiền đó con!”. Tôi chẳng phấn khởi chút nào. Những điều ba nói thường ít có sức thuyết phục đối với mẹ và tôi. Bởi lẽ, kế hoạch nào của ba cũng vĩ đại nhưng thành quả đạt được luôn … hạn chế. Làm việc gì ba cũng phô trương ầm ĩ nhưng thu hoạch thì lặng lẽ, im lìm.

             Sau mấy lần đi buôn chuyến bị lỗ đến cụt vốn, ba chuyển sang nghề trồng cây cảnh. Ông đoán trước một tương lai xán lạn chưa từng thấy. Một vốn, chín mười lời! Theo ba, xã hội ngày càng đổi mới, phát triển. Đời sống nhân dân thoải mái, sung túc nên nhu cầu giải trí cũng được nâng bậc. Ngoài những phương tiện hiện đại như truyền hình màu, cát – xét, xe máy, … Phong trào chơi hoa kiểng, cây cảnh cũng rầm rộ. Thú vui tao nhã này được rất nhiều người ủng hộ. Từ nhà nghèo đến nhà giàu đều yêu thích. Không có một biệt thự nào vắng bóng cây cảnh trong nội thất. Thiếu màu xanh cây lá như thiếu khí trời và không có cây cảnh, chủ nhân ngôi nhà trở nên kém thẩm mỹ, trình độ văn hóa xem như còn thấp. Người ta đua nhau bỏ tiền ra mua tiếng lịch lãm, tao nhã. Ba tôi lý luận: “Cái gì nhà giàu thích thì báu và lên giá!Để minh họa, ba kể rằng:

             Ngày xưa, có hai vợ chồng nhà kia đã nghèo còn đông con. Họ làm lụng quanh năm suốt tháng vẫn không đủ sống. Một hôm, chịu hết nổi cảnh bữa no bữa đói, hai vợ chồng bàn nhau tìm cách tự tử cho rảnh nợ. Họ dắt đàn con vào rừng sâu tìm trái độc. Ở đó, họ bắt gặp một loại trái kỳ lạ, vỏ vàng xanh, ruột màu cam và hột lại đen bóng, mọng nước. Đoán chắc là trái độc, họ chia nhau ăn rồi chờ … chết. Nhưng, một lúc sau, họ chỉ thấy … no và còn có cảm giác khỏe khoắn như vừa được tẩm bổ. Hai vợ chồng chợt tỉnh ngộ. Họ thấy chết là ngu ngốc. Quanh họ còn biết bao điều bí ẩn, hay ho trời sinh ra để cho con người hưởng. Chưa chi đã vội đầu hàng hoàn cảnh. Hai vợ chồng liền dắt đàn con … về nhà. Hằng ngày, họ thay phiên trở vào rừng hái trái cho gia đình đỡ dạ. Nhưng, ăn hoài, họ phát ngán, bèn đem trái ra chợ bán. Lúc đầu, người nghèo mua ăn vì giá rẻ. Số tiền bán trái rừng vừa đủ để đổi gạo sống qua ngày nên hai vợ chồng gọi nó là Đu Đủ. Lâu dần, những người giàu cũng “thèm trái lạ”. Từ khi họ bắt đầu để ý tới đu đủ thì nó trở thành mặt hàng cao cấp, quí báu và giá bán tăng gấp mấy lần. Ba tôi kết luận: “Cây cảnh cũng thế. Loại nào, cây nào nhà giàu để ý có thể bán một hai chỉ vàng như không. Đây là cách làm ăn hợp thời, vừa mau phát đạt vừa được xem là nghệ nhân”.

            Để thực hiện ý định, ông vào rừng truy tìm cây quí. Ngày nào cũng vậy, sáng sớm, ba đã ra đi và đến mặt trời chếch bóng, ông mới quay về. Cái sọt cột sau poọc – ba – ga đầy nhóc cây là cây. Khi thì mai già, lúc lại toàn bồ đề con hay cây xanh. Ba giải thích, loại này quí lắm, chỉ cần nhìn mấy cái gốc, nó ngoằn ngòe cong queo tựa như những chú rắn bé tí cuộn vào nhau dưới vòm lá xanh um. Những nhánh bằng thăng nho nhỏ trông hao hao mấy cụm mây màu lục trôi là đà trên mặt đất.

             Tôi thắc mắc:

             – Sao chỉ toàn là lá, chẳng có hoa làm sao đẹp?

             Ba nạt ngang:

             – Đâu phải cứ phải hồng, đỏ, tím, vàng mới đẹp. Màu xanh là màu … hy vọng. Con nít mà biết gì?

             Thấy sắp có “chiến tranh”, mẹ vội kéo tôi vào nhà, để ba mặc tình trồng trọt, tỉa tót.

 Chỉ trong vòng mấy tháng, khoảng sân nhỏ nhà tôi rợn ngợp màu xanh cây cảnh. Chỗ này toàn mai, chỗ kia cau kiểng, chỗ nọ bồ đề. Ba tôi chỉ chừa một lối đi hẹp ơi là hẹp. Vậy mà ông vẫn chưa hài lòng, cứ tiếp tục vào rừng. Mẹ tôi thường rầu rĩ  than thở:

             – Ôi, chắc ba con định lập một khu rừng tại trung tâm thành phố đây mà!

             Nhưng, chiều nọ, ba tôi trở về với dáng vẻ “thân tàn ma dại”, mặt mày hốc hác, kinh hoảng như vừa gặp yêu quái trong rừng. Cái sọt trên poọc – ba – ga biến mất. Cả cây cuốc và dao phay cũng chẳng thấy. Sau một hồi thở dốc, lấy lại bình tĩnh, ba thều thào:

             – Đúng là đồ … ăn cướp mà!

             Mẹ tôi hết hồn, kêu lên:

             – Trời, ông gặp cướp à?

             Ba khua tay, múa chân:

             – Bà coi, cây mai đó là của tôi. Tôi đã “xí phần” lâu rồi. Tôi làm một cái rào để bảo vệ nó. Vậy mà sáng nay có mấy thằng ôn hoàng tới đào.

             Mẹ tôi nổi nóng:

             – Sao ông không đòi lại?

             – Đòi chứ sao không? Tôi đâu có sợ tụi nó.

             – Rồi sao? Mẹ tôi hỏi.

             Ba tiu nghỉu:

             – Tụi nó không trả còn vây đánh tôi. May là tôi … có võ, không thì làm sao chạy thoát về đây.

            Trong lúc tôi che miệng cười khúc khích thì mẹ tôi ấm ức:

             – Tức chết đi được! Còn cái sọt đâu?

             – Tôi bỏ luôn rồi. Tụi nó tới bốn thằng. Vả lại cái cuốc của tụi nó dài và bén lắm. May là chiếc xe đạp gởi ngoài bìa rừng…

             Ba lí luận:

             – Bà với con phải biết “ Mãnh hổ nan địch quần hồ”.

             Từ đó, ba tôi không vào rừng nữa mà bắt đầu giai đoạn tỉa tót, uốn nắn. Ba mua hàng kí lô dây chì để tạo dáng cho cây cảnh. Ông quấn quanh thân cây, bắt nó ưỡn ẹo đủ cách. Cây vươn cao, cây khom khom, lùn xuống, trông chúng co rúm thấy mà tội nghiệp. Thoạt nhìn như những tên tử tội bị trói, chờ giờ xử trảm. Mấy gốc bồ đề được ươm trồng trong những cái chậu tuyệt đẹp nhưng phải kèm cặp, chống chỏi đủ thứ vì hai phần ba rễ khoe mình trên mặt chậu, phần còn lại chỉ cắm hờ hững xuống lớp đất. Đau khổ nhất là mấy chục cây mai. Chẳng biết ai bày cách mà ba chặt ngang thân chúng. Ba cho rằng làm như vậy mai sẽ đẹp hơn. Khi mọc nhành mới, cành lá sẽ xum xuê. Tất nhiên hoa sẽ nhiều. Nhưng lúc bấy giờ, nhìn chúng, tôi muốn khóc, tưởng mình đang đứng giữa một nơi hoang phế, chết chóc với hàng mai cụt ngọn.

            Chưa hết, ba tôi còn bỏ ra hai chỉ vàng để mua về mấy cây si già cỗi. Ông chọn chỗ tốt gần nhà để dễ trông chừng. Nhưng, cây chưa kịp bén rễ thì “không cánh mà bay”. Sau một đêm mưa dông, sáng, ra vườn, ba kinh hoảng gào lên “Trời ơi là trời”. Tôi và mẹ chạy tới cũng hoảng hồn vì chẳng thấy mấy cây si. Tại đó, còn lại những cái lỗ sâu hóm, lưng lửng nước. Chưa bao giờ tôi thấy ba đau khổ như vậy. Ông không ăn, không ngủ mà chỉ … nhậu và nhậu. Ông say lúy túy. Hết chửi đời đến chửi trời, chửi đất. Ông tự làm khổ mình cho đến khi … ngã bệnh. Đã vậy, năm đó, tết đến, mấy cây mai cụt ngọn không chịu ra nhánh nhanh chóng. Chúng chậm chạp nhú vài ba cụm lá non xèo. Báo hại ba tôi thêm chán nản. Ông ủ rũ suốt ngày như cây nhớ rừng, xơ xác.

             Mẹ và tôi yêu ba lắm. Vì thế, cả hai âm thầm góp sức chuyển biến khu vườn này. Mẹ về ngoại xin mấy chậu Thiên Tuế. Tôi học hỏi các bạn cách trồng hoa hồng, hoa cúc, mãn đình hồng, … rồi ươm cây vào chỗ trồng cây si dạo nọ. Mấy chục gốc mai dường như thấu hiểu lòng tôi cũng vội vàng đâm chồi nẩy lộc, cành lá xum xuê, báo trước một mùa xuân tươi đẹp. Cây cối trong vườn thi nhau xanh tốt, nhẫy nhượt. Ngoài việc chăm bón, tôi còn bảo vệ cây trồng bằng cách treo trước cổng một cái bảng to tổ bố với hàng chữ: “ Coi chừng chó dữ và điện 220”. Kết quả, mùa đông sắp tàn, xuân sắp đến, toàn bộ cây cảnh không bị tên trộm nào để ý. Có lẽ những mặt hàng này chỉ thông dụng, không quý lắm. Dù sao, nó cũng giúp tôi nuôi dưỡng niềm tin. Tôi chẳng có tham vọng làm giàu mà mơ ước được sống hạnh phúc với ba mẹ trong mái ấm gia đình.

             – Cô bé … ơi cô bé!

             Giật nẩy mình, nhìn ra cổng, tôi trông thấy hai người lạ ăn mặc sang trọng, một già, một trẻ đến bên rào. Tôi lễ phép hỏi:

             – Dạ thưa, hai ông định tìm ai?

             – Có phải đây là vườn hoa kiểng của ông Hai Phi không cô?

             – Dạ phải! Tôi đáp.

             – Tôi là người quen cũ của ông Hai, muốn gặp để hỏi mua ít cây cảnh. Người đàn ông lớn tuổi bảo.

             Tôi mừng quýnh:

             – Dạ, mời hai ông vào.

             Người đàn ông còn trẻ trêu chọc:

             – Không mở cổng làm sao vào, cô bé?

             – Dạ, xin lỗi, tại mừng quá nên cháu quên.

             Gã con trai nói với người cùng đi:

             – Chú thấy chưa, người ta chờ mình từ lâu lắm.

             Tôi nguýt dài và nghĩ thầm: “Người đâu mà nhiều chuyện thấy bắt ghét”. Tôi liền hù:

             – Coi chừng chó dữ đó, ông kia.

             Hắn quay lại cười, nhe hàm răng trắng như … răng chó!

             – Hổng dám sợ đâu mà hù. Làm như người ta là con nít không bằng.

             – Chó dữ thiệt đó, coi chừng …

             Hắn lại cười:

             – Người dữ thì có!

             Tôi đỏ mặt, định cãi thì người đàn ông cao tuổi lên tiếng:

             – Trà, không được trêu chọc người ta.

             Trà làm bộ le lưỡi rồi tủm tỉm cười, thấy phát ghét. Mời hai chú cháu vào nhà gặp ba, tôi trở ra vườn ngồi chống càm bên hàng cúc đại đóa, lòng bỗng dưng buồn bã khác thường. Rồi đây những hàng cây, những đóa hoa đẹp sẽ rời bỏ nơi này về nhà khác. Chúng góp phần trang trí, tô điểm mùa xuân của một chỗ nào, không phải nhà tôi. Rồi đây, khi nhà nhà rực rỡ, lộng lẫy để đón giao thừa thì nơi này sẽ chỉ còn trơ khoảng sân cằn cỗi, bạc màu. Thảng hoặc sót lại vài loại cây hay hoa kém hương sắc. Cuối cùng, nỗi buồn cũng thấp thoáng quanh tôi.

             – Người đẹp hay hoa đẹp?

             Tôi giật mình quay lại. Gã “nhiều chuyện” lại làm tôi bực mình.

             – Vô duyên!

             Tự động ngồi xuống bên tôi, gã … bắt đầu nhiều chuyện:

             – Hình như trên trán tôi có hai chữ “vô duyên” thì phải?

             – Vô … duyên! Tôi buột miệng.

             Trà bật cười:

             – Thấy chưa? Lại vô duyên. Có lẽ hai đứa mình “vô duyên nên đối diện cứ … cãi liền”.

             Tôi che miệng cười khúc khích. Tưởng tôi hài lòng, Trà liền tấn công:

            – Bé cười, tôi mừng như chết đi được sống lại.

             – Xạo!

             – Hai đứa mình hợp nhau lắm chứ bộ. Cùng xạo có cỡ. Nhà không có nuôi chó mà dám treo bảng hù dọa.

             Trà bước đến bên rào, ngắt một cọng dây tơ hồng đưa ra trước mắt tôi:

             – Bé nè, dây điện 220 đây phải không?

             – Ừ đó, rồi sao?

             – Tốt, sẽ có người trèo rào vào hái trộm hoa.

             Trời! Liệu gã này có phải là kẻ gian không đây. Tôi liền đề cao cảnh giác. Chỉ vào cây cuốc đặt gần đó, tôi thản nhiên bảo:

             – Thử xem rồi sẽ biết.

             – Hãy đợi đấy, cô bé!

             Đêm nào tôi cũng thức rình đến khuya lơ khuya lắc. Không có ai lẽn vào vườn. Ngày Tết càng gần, cây cảnh trong vườn càng xanh tốt, ngào ngạt hương thơm, tôi càng lo lắng, sợ kẻ gian cướp mất công lao động khó nhọc bao ngày và mang theo cả niềm hy vọng của ba. Bây giờ, tôi lại mong bán được cây càng sớm càng tốt.

             Không uổng công chờ đợi, số mai trong vườn được người săn cây cảnh và cả những người yêu hoa thật sự tới mua gần hết. Các loại hoa cũng đem lại lợi nhuận đến cho gia đình tôi khá cao. Đúng lúc ấy, Trà và chú anh quay lại. Người đàn ông cao tuổi chọn mua mấy chậu thiên tuế. Còn Trà, anh ra vườn, sau một hồi ngắm nhìn, Trà chọn cả chục chậu hồng với giá mỗi chậu một trăm ngàn đồng. Trao tiền cho  tôi xong, trước khi ra về, Trà dặn dò:

             – Giữ giùm tôi nghe, cô bé. Hôm sau tôi cho người tới chở.

             Những đóa hồng nở rộ, tươi vui. Ong bướm dập dìu trong vườn hoa. Ai đi ngang cũng trầm trồ, khen ngợi. Vậy mà Trà đâu chẳng thấy. Anh đã trễ hẹn hai ngày. Ba mươi tết rồi còn gì nữa. Mặt trời chếch bóng đằng Tây. Đêm sắp về. Giao thừa gần kề. Không lẽ anh quên mấy chậu hoa ở đây. Thấy tôi nóng ruột, đi ra đi vào, ngồi đứng không yên, ba tôi bảo:

             – Ối, hơi đâu con lo. Họ là người quen cũ của ba. Hai chú cháu giàu lắm. Một triệu đồng  đối với họ có đáng là bao.

             Mẹ tôi cũng an ủi:

             – Ừ, kệ nó. Ai biểu mua mà không nhớ, ráng chịu. Đâu phải lỗi tại mình.

             Tôi thở dài:

             – Dù biết thế nhưng con vẫn thấy không ổn đâu ba mẹ. Chẳng lẽ tốn tiền mà không mua được gì. Làm sao đây ba?

             Ba nổi nóng:

             – Ai mà biết! Khi không họ đem tiền tới đây chớ ba có ép buộc gì đâu!

            Bỗng nhiên mẹ tôi tròn mắt, đưa một ngón tay lên môi:

             – Mẹ nghi quá! Hay là thằng này … khùng!

             Tôi bật cười nhưng sau đó cảm thấy mẹ nhận xét có phần hơi tàn nhẫn. Xem ra, Trà cũng … dễ thương chứ bộ.

             – Không phải vậy đâu, ảnh khôn thí mồ!

             – Vậy con ở đó đoán già, đoán non một mình đi. Để mẹ lo nấu nướng, rước ông bà.

             Thời gian như ngừng lại trước thềm năm mới. Đêm trừ tịch len lỏi vào khu vườn tĩnh mịch của tôi. Mùi khói nhang từ trong nhà lan tỏa, quyện lẫn hương hoa ngọt lựng, thanh thoát. Tôi bồi hồi đón giao thừa và chờ đợi những điều mới lạ đến với mình, dù vui hay buồn.

             – Chào cô bé! Chúc cô bé một năm vui vẻ, hạnh phúc!

             Trà đã đến, tuy có hơi muộn nhưng dù sao cũng còn kịp nhận hoa, không phải chờ sang năm mới, tôi mừng quýnh, reo to:

             – Anh Trà! Tới nhận hoa phải không?

             Trà mỉm cười vui vẻ:

             – Không, anh tới để chúc tết hai bác và tặng hoa cho bé.

             – Tặng hoa cho em! Hoa gì?

             Trà chỉ những chậu hoa hồng:

             – Tất cả những chậu hoa này, anh xin tặng cho bé.

             Quá sức tưởng tượng của tôi. Cả chục chậu hồng, lẽ nào anh … khùng thật. Tôi cảm thấy bứt rứt không yên:

             – Mua hoa để tặng người bán hoa à? Em không dám nhận đâu!

            – Sao vậy?

             – Như thế chẳng khác nào khi không mà nhận tiền người lạ.

            Trà đưa hai tay lên trời như cầu cứu:

             – Trời ơi là trời! Còn khách khí nữa, rõ khổ! Mình có phải là người lạ đâu. Chú anh quen ba em thì hai đứa cũng … quen luôn.

            Trà bỏ hai tay vào túi quần, đi tới đi lui một hồi rồi ngừng lại, nghiêm chỉnh hỏi:

             – Bây giờ chịu nhận chưa?

             Tôi thản nhiên:

             – Chưa.

             Trà phì cười, anh cú nhẹ vào đầu tôi một cái:

             – Ngu quá! Thôi thì cho anh gởi lại đây, qua tết anh mang đi.

            Tôi thắc mắc:

             – Qua tết còn mang đi tặng ai được nữa?

             – Chờ rằm tháng giêng, anh đem vào chùa để cầu … duyên. Còn em, nếu em không thích hoa thì anh sẽ tặng “quả” vậy.

             Trà đứng thẳng người, tay phải đưa lên ngực, giọng trang nghiêm như đang tuyên thệ:

             – Anh xin tặng “quả tim” của anh cho em. Chịu chưa?

             Vừa thích thú vừa thẹn thùng, chẳng biết làm sao, tôi nguýt Trà một cái rồi bỏ chạy vào nhà. Trà và tiếng cười đuổi theo.

             Tôi bắt gặp ba mẹ đứng bên hiên tự lúc nào. Cả hai nhìn chúng tôi rồi bảo nhau:

             – Mùa xuân thật tuyệt vời!

……

Xứ nẫu quê tôi

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

Những ngày cuối năm…Ở nơi này, với một người già xa xứ…nỗi quay quắt nhớ về quê hương, những năm tháng xa mờ trong dĩ vãng…

Thành phố Qui Nhơn, nơi ghi dấu chân tôi của những ngày thơ ấu và nhìn tôi lớn lên ở tuổi thanh xuân….

Biển và sân ga của thành phố quê hương tôi, luôn là nơi chốn ghi dấu bao kỷ niệm , hành trang mang theo suốt một đời xuôi ngược, mỗi khi đưa tâm tư về những ngày tháng cũ, ngậm ngùi , nhớ thương khôn nguôi

Trên chặng đường dài xuôi ngược của cuộc đời…Mỗi lần nghe tiếng nói thân thương của người dân ” Xứ nẫu” …Tôi lại ngậm ngùi thương cảm và chạy đến làm quen…

Là tôi đó: đứa bé gái nhà quê…ngày nào bên bờ ruộng nương khoai của một làng quê nghèo cơ cực của Xứ Nẫu ngày nào…

Đã bao thập kỷ đi qua trong cuộc đời lưu lạc…dã bao mùa Xuân trên xứ xa…mỗi lần Tết đến Xuân về…đứa bé ngày nào..

.Nay là bà lão già lưu lạc xứ người ta….

Khi mỗi lần Tết đến…lòng chạnh bâng khuâng da diết nhớ về những ngày tuổi nhỏ….

Ngày ấy đã qua rồi…Thật xa…trong trí nhớ già nua của lão bà xa xứ:

Những ngày tuổi nhỏ được theo mẹ đón đưa những người bà con tận

phương xa về thăm nhà vào những ngày giỗ lớn trong họ tộc, hay những

đám cưới gả trong họ hàng.

Nhất là những ngày giáp Tết…

Tôi luôn theo chân mẹ tham gia….và cũng

từng đỏ hoe đôi mắt khi mọi người nói câu giã biệt…

Đứa bé trong tôi

ngày ấy cũng biết khóc theo khi thấy cảnh tạ từ…

Sân Ga…Tiếng Gà gáy…Luôn là nỗi nhớ khôn nguôi suốt cuộc đời tôi:

Niềm vui hớn hở lúc chờ dưới sân ga , Tiếng còi tàu và tiếng ầm vang nghiến vào đường rây khi con tàu ghé vào sân ga…vẫn như vang vọng đâu đây.

Cái cảm giác tươi vui của đứa bé chạy theo mọi người hóng chuyện, hầu như không mấy kẻ quan tâm đến đứa bé đi theo, bé mọn và là một vai phụ nhỏ mọn…

Góp vài nụ cười cùng mọi người…liếc mắt nhìn những quà cáp của người về từ

xa…và chờ mong một chút quà được phân chia của người mới đến.

Niềm vui thật bé nhỏ nhưng đượm nỗi hân hoan của một lần

đón đưa…hay tiễn biệt.

Một chút vui của những ngày bé dại

Tiếng Gà gáy …thay chiếc đồng hồ báo thức mỗi sáng tinh mơ, giục giã mẹ con tôi lên đường đến chợ dọn hàng hóa cho Mẹ tôi buôn bán nuôi sống chị em tôi.

.Những đón đưa …và tiếng hú của những con tàu luôn gợi nhớ

trong tôi về những ngày xa xưa ấy.

Tiếng gà gáy thức tỉnh mẹ con tôi bắt đầu một ngày bương bả kiếm sống

+++

Cũng tại sân ga này của những ngày bắt đầu tuổi mới lớn, cùng bạn

bè rời thành phố đi ứng thí ở những trường xa nhà….

Mẹ tôi cũng đưa

tôi ra sân ga, với những bịn rịn và những dặn dò khi đưa tiễn, dù cũng

chỉ năm ba ngày.

Cũng chỉ là một lần xa nhà ngắn ngày nhưng sao mắt mẹ và mắt tôi

vẫn đượm buồn và khi con tàu bắt đầu hú lên những tiếng còi giục

giã…tôi vẫn nhìn thấy mắt mẹ đỏ hoe, mắt tôi đượm buồn… cuống quít.

Rồi năm tháng đi qua…sân ga và những con tàu luôn là nỗi nhớ

dậy lên trong suốt cuộc đời tôi của những lần trở về thăm nhà…Khi

tôi trưởng thành và đi lấy chồng xa….niềm nhớ nhung mong đợi trong

tôi lớn dần theo năm tháng.

Vẫn nhớ hoài những lần đưa con về nhà thăm mẹ vào những ngày cuối

năm…

Sân ga luôn là nỗi háo hức, một sự mong chờ dõi mắt, khi con tàu

giảm tốc độ khi tiến vào sân ga…nỗi vui mừng òa vỡ trong tôi, qua

mắt nhìn dò kiếm những người thân…cố chen nhau ra khỏi toa tàu …và

được ôm mẹ ngọt ngào trong vòng tay ấm …

Mẹ ơi , con đã trở về….

Kia rồi, mẹ tôi, chị tôi, em tôi, và những đứa cháu nhỏ …hình

ảnh của tôi ngày xưa…

Hình ảnh gợi nhớ một thời bé dại…luôn là sự

háo hức trong tôi trong những lần trở về thăm mái nhà xưa mà tôi luôn

nhớ về trong suốt cuộc đời xuôi ngược, tháng năm trôi trong sự xa cách

mỏi mòn nỗi nhớ nhà.

++++

Bây giờ…những lần trở về thăm nhà của tôi không tính bằng đơn

vị tháng của mỗi năm mà là từng bao nhiêu năm của từng thập kỷ.

Từ lúc mẹ tôi lên chuyến tàu đêm rời thành phố Quy nhơn vào

Saigon tiễn gia đình tôi lên sân bay quốc tế TSN….đông đúc những

người đưa tiễn , với quần là áo lượt. và hoạt náo những thanh âm, lần

ấy tôi đã đi một chuyến thật xa…hết nửa vòng trái đất.

.Buổi tiễn đưa lớn nhất trong cuộc đời mà tôi còn nhớ mãi…thay

đổi cả vận số một đời tôi…

Đứa bé nhà quê theo mẹ trên sân ga ngàycũ

Thiếu nữ tỉnh lẻ ngày nào dắt díu đám con thơ về thăm mẹ vào

những ngày giáp tết…

.Một người già vọng nhớ quê xưa , một lữ khách tha phương

.nay muốn trở lại thăm nhà…nằm trên sàn nhà mát lạnh…Lơ mơ nghe tiếng gà gáy…vọng từ xa…

Lòng háo hức được trở lại với quê hương ….

Một nỗi buồn thao thiết, khi bỗng dưng nghe mặn ở vị giác, vì biết lần trở lại mái nhà xưa tôi không còn nhìn thấy dáng mẹ già dưới sân ga cũ.

+++

Ngày ấy… Một ngày đầu thập niên Chín mươi…

Mẹ tôi đáp chuyến tàu nhanh vào Saigon đưa tiễn chúng

tôi rời đất nước ra đi, nhưng …

lần ấy mẹ tôi lại không ra sân bay

đưa tiễn chúng tôi, người chỉ vào với chúng tôi trước một tuần, nấu

cho chúng tôi những món ăn ngon mà các con và tôi ưa thích, chuẩn bị

vật dụng và vài món cho các con tôi mang theo bằng tất cả tấm lòng của

mẹ…

Rồi mẹ tôi nấp sau cánh cửa lúc cả nhà tôi lên xe.

Trên sân bay với đông nghịt những người đưa tiễn, nhưng tôi vẫn

thấy thiêu thiếu hình bóng thân thương của mẹ.

Tôi dõi tìm lần cuối trước khi bước vào phòng kính mà người ta gọi

là “phòng cách ly” …khi đã bước vào đây là tất cả sẽ xa lìa mọi sinh

hoạt bên ngoài và xa cách muôn trùng khi phi cơ cất cánh…

.Giã biệt đất nước, giã từ quê hương, giã từ những người thân và

giã từ hình ảnh thân thương của mẹ tôi.

Có lẽ giây phút này mẹ tôi đang ngồi một mình trong căn nhà nhỏ,

với những giọt nước mắt nhỏ thầm xuống bàn tay run vì nhớ thương con

cháu, khóc thầm trong niềm vui và nỗi buồn xa cách cho một lần biệt ly

mà không đưa tiễn….

Những lần tôi trở vể thăm quê nhà không có bóng dáng mẹ tôi đón

đưa hay tiễn biệt vì tuổi già và bệnh tật…

Những lần sau nữa của những chuyến về thăm quê… khi mẹ đã

không còn., một mất mác lớn nhất trong cuộc đời và tất cả những gì

thuộc về người chỉ còn là kỷ niệm.

.Niềm vui và nỗi háo hức trong tôi không như xưa với nỗi chờ

mong mỏi mắt.. khi trở về nhà không còn thấy bóng mẹ…mà chỉ còn thẫn

thờ thắp mấy tuần nhang và viếng mẹ với những cánh hoa vô hồn nơi

nghĩa trang Ghềnh Ráng.

.Sân ga và những con tàu chợt đến chợt đi….như những thay đổi

của những lần trở lại, vẫn thoáng buồn và không mang cho tôi những

xúc cảm ấm nồng…chỉ là sự bàng hoàng khi con tàu vào bến với những

con đường mới mở, những bảng hiệu mới sơn và nhũng bạn bè xưa cũ không

còn, và nhất là những người thân yêu nhất của tôi cũng đã lìa xa…

Bao năm qua… Khi bước chân tôi trở về hay ra đi…không còn

nhìn thấy hai con mắt đỏ, và những giọt nước mắt âm thầm nhỏ xuống của

mắt mẹ thân yêu….

Bây giờ …

Khi mỗi lần tôi trở lại thành phố xưa..

Khắp nơi .ngập tràn những bóng đèn xanh đỏ, những con đường mới mở rộng thênh thang…

Những tượng đài lạ lẫm…Không thể nào nhận biết họ là ai lại được dựng lên đất Xứ Nẫu quê tôi????

Tôi sẽ về thăm biển, thăm lại mái trường xưa, thăm bè bạn, thăm học trò cũ của tôi thuở mới bước vào đời.

Tất cả ẩn mờ trong con mắt mờ, mũi đỏ và bàn tay run lau vội giọt nước vô tình nhỏ xuống giữa trời xuân.

.Thoảng trong hương xuân còn sót lại nơi thành phố cũ dấu yêu, chắc còn vương lất phất cơn mưa bụi,

Hương xuân đã về bên đó chưa???

Người về quê cũ…con tàu đợi

Cha mẹ còn đâu…mấy kẻ chờ

Trở lại sân ga ôn chuyện cũ

Sương sa mái tóc bóng trăng lu

Trở lại sân ga…về thăm biển

Hoàng hôn sắc tím chút… niềm riêng

Atlanta… Xuân Ất Tỵ

Nguyên Hạ_Lê Nguyễn

Phần rượu cuối năm

Trần Thiên Thị

1.

Rượu của em để lại

Và em bỏ đi rồi

Chiều nay còn gió bấc

Và tôi buồn mình tồi

2.

Những chiếc kim đồng hồ cứ nghĩ

Gắng cho qua dân giao thừa mình sẽ nằm lại và nghỉ ngơi mãi mãi

Không gian thì cứ rộng dần như không còn điểm tựa

Đâu rồi một bàn tay

3.

Mùa xuân đã đánh thức đám người chai lười nhất thức dậy và mĩm cười

Em đã không cho phép tôi nằm lại

Mơ tiếp giấc mơ cũ kỷ

Mọi đôi môi đều hồng lên nụ hôn bạn đầu

Chờ tôi

Chờ tôi

Nếu có buồn ta sẽ buồn với nhau

4.

Ôi câu thơ này đã chui qua không biết bao nhiêu lớp hàng rào luân lý

Nằm lại trong mắt người với báo nhiêu vết sẹo

Cùng với cỏ

Sau bao lần dày xéo

Ta hứa với nàng

Ngày mai sẽ xanh

Phía trước chúng mình

Mùa xuân

5.

Sắp xếp lại

Cho anh lời hẹn

Cho cái buồn cắc cớ có cơ may

Trả cái lạnh về cho gió bấc

Năn nỉ xuân thì cho mượn bàn tay

Bao nhiêu năm rồi câu thơ chưa dám tỏ

Ta nở cùng em

Hoa của xuân này

6.

Thơ thiên hạ cưu mạng chân lý của loài ngưới

Đeo đuổi em thơ ta thành rắm rối

Mùa xuân nhuộm hồng mặt đất

Sót những góc buồn bởi lỗi mình ta

Ôi những buổi chiều cuoi đông

Ăn thứ gì với nhau cũng ngon

Uống với nhau thứ gì với nhau cũng say

Em nhắn mẹ đêm nay nhiều việc

Về với ta

Sám hối

Đoạ đày

trần thiên thị

Chiều cuối năm ra phố

Đinh Lê Vũ 

.

Từng có bàn tay nắm tay mình thật chặt

Từng có bàn tay buông tay mình mà đi

Từng có người nói thương mình trọn kiếp

Từng có người bỏ mình đi mà chẳng nói một lời…

.

Chiều cuối năm ra phố

Phố xá thênh thang

Người ta dọn sạch sẽ những đồ vật cũ

hỗn độn cũ

tàn tích cũ

Người ta lên màu sơn mới

treo chùm đèn mới

cắm bình hoa mới

hát một bài hát mới…

.

Năm mới tưng bừng

Giây phút an lành…

.

Sao mình cứ thương hoài cái nắm tay ngày cũ.

Tết về . .

.Bùi Thanh Tuấn

Nghe âm vang trong gió

Mùi rơm rạ thơm nồng

Phải chăng là sắp tết

Người có chờ tôi không?

.

Tôi giờ như đứa trẻ

Quẩn quanh bên thềm nhà

Chỉ mong mặc áo mới

Vui tết với người ta!

.

Tôi giờ thơ ngây lắm

Sợ tết này thiếu hoa

Hay là mời em đến

Cho vui cửa vui nhà (?)

.

Tôi giờ mong manh lắm

Như đứa bé lên năm

Vịn câu thơ đứng dậy

Tìm em trong xa xăm

.

Tết này không có pháo

Nhớ em cười giòn tan

Nhớ tôi ngày mới lớn

Đêm mơ tưởng đến nàng

.

Tôi giờ như đứa trẻ

Thèm nghe tiếng dỗ dành

Thèm được ru em ngủ

Bên hiên nhà vắng tênh

.

Thèm được hôn lên tóc

Những sợi mềm cỏ ngoan

Hạnh phúc là khi biết

Mình yêu nhau nồng nàn!

.

Tết năm nay có đến

Xin hãy đến thật gần

Nhỏ nhẹ như dòng suối

Đưa tôi về trăm năm…

……………………….

Bảo Lộc ngày không tên…

Có thể là hình vẽ ngẫu hứng về hoa

Bèo nổi mây chìm

     Nguyễn Trí        

Tuấn. Năm mươi lăm tuổi. Một vợ bốn con. Một trai ba gái. Sáu cháu ngoại và ba thằng rể. Trưởng nam của Tuấn tên Hùng, năm nay ba mươi lăm tuổi nhưng chưa vợ. Chả là năm hai mươi, đang sinh viên năm hai, một tương lai đầy tươi sáng… vậy mà Hùng bỏ cửa bỏ nhà đi một mạch những mười lăm năm. Hai mươi cọng mười lăm vị chi ba mươi lăm tuổi Hùng mới trở về ôm mẹ mà Kiều rằng dại rồi con biết khôn làm sao đây.

          Chớ đi đâu mà dữ thần và dại khôn gì ở đây vậy?

         Để nói sơ về Hùng tí xíu. Hồi nhỏ Hùng ú nu như em bé trên hộp sữa Sma. Cu con là nụ cười tươi của bà ngoại Sáu Kỳ. Ông Sáu qua đời nếu không có thằng bụ bẩm Hùng dám bà Sáu chết theo quá. Hùng còn là tài sản quý báu để cả họ nhà Sáu Kỳ đem khoe. Mười hai năm từ cấp một cấp hai cấp ba Hùng có đúng mười hai năm học sinh giỏi toàn diện. Vào đại học nhẹ như sương như khói – vì thế cho nên – cả họ ngoại xem Hùng như tài sản quý để khoe cũng là phải quá. Hùng lại kế thừa nét đẹp trai như tài tử xi nê của ông cha tên Tuấn. Thiệt mà nói, Tuấn không đẹp, không duyên ơi là duyên với nụ cười có cái răng khểnh và thiệt thà như đếm còn lâu mới được là rể nhà Sáu Kỳ. Sáu Kỳ bốn đứa con gái đẹp như Thúy Kiều Thúy Vân. Gã làm thuê tên Tuấn xuất xứ tận miền Trung xa lắc, không đặc biệt dễ mà lọt mắt xanh cô Thúy con gái thứ ba của Sáu Kỳ. Nhà Sáu Kỳ cố cựu miền Đông nên đất đai kha khá. Rể Tuấn được cha vợ cho năm sào rẫy và cắt cho chút đất cất nhà. Tuấn làm bảo vệ cho một trường tiểu học, bà xã Thúy bán ba cái bút chỉ văn phòng, thức ăn vặt và giải khát các loại ở căn-tin trường.

          Gia cảnh nhà Hùng vậy là ngon. Đẹp trai, con nhà không giàu không nghèo học giỏi. Người vậy, nữ thần tình yêu còn đứ đừ nói chi bạn cùng lớp cùng trường. Khổ cái, con ngươi ta chỉ có một trái tim. Trong vô số bóng hồng sa mạc vây quanh Hùng thích đúng một Minh Thùy. Thùy xinh ơi là xinh, cô là mộng mỵ của hầu hết trai đẹp trong cho đến ngoài cổng trường. Năm lớp mười hai Minh Thùy rực rỡ như hoa, trai xếp hàng theo cô cả cây số. Mới lớp chín Hùng và Minh Thùy đã đôi bên cùng liếc đôi lòng cùng ưa. Ở cái thời sống thử, được tới luôn bác tài, không được thì chia tay. Hùng và Minh Thùy khỏi nói ai cũng biết cái sự yêu của trai thanh gái lịch. Minh Thùy không chứ vào được đại học cả hai chung một phòng trọ là có quá. Vậy là đẹp trai lên phố trọ học, xinh gái được bố mẹ tậu một xe nước mía, một tủ thuốc lá trước sân nhà. Quán của xinh gái kề quốc lộ nên nước mía ngọt là một, thuốc lá thơm là hai, nụ cười chủ quán là ba lôi bọn mê nhan sắc đến tỏ lời ong ve. Khi ván chưa đóng thuyền thì không của riêng ai  – Chiến – huấn luyện viên một lò võ nói vậy khi bê một cây si to đùng đặt trước quán nước mía. Chiến Võ – tên thường gọi –  không những đẹp trai còn hùng dũng như Mike-Tyson thời thịnh. Mỗi khi đến quán Minh Thùy anh mặc quần Jean, áo thun ba lỗ để khoe cái gọi là cường tráng.

        Chiến Võ biết Minh Thùy đang cặp kè với Hùng nên can ke Hùng đến thăm tình là có mặt. Chiến hơn Hùng ba tuổi tức hai mươi ba. Tuổi nầy là chúa của tự mãn và hiếu thắng. Võ nghệ đầy mình nên Chiến ra cái vẻ đàn anh:

  • Mới về hả mậy? Học hành sao? – Anh nói đầy ngạo nghễ.
  • Mắc chi mày mà hỏi?

   Với Hùng hơn ba tuổi không là cái nghĩa địa gì nhưng Chiến Võ thì:

  • Mày có học mà mất dạy quá. Mày tao với người lớn là mất dạy nghe em.

      Rõ là Chiến cố tình sĩ nhục Hùng trước mặt Minh Thùy. Chả nói chả rằng Hùng đi một hơi về nhà lòng đầy giận dữ vì ghen. Vào phòng riêng lấy khẩu súng điện nhét vào lưng quần. Khẩu súng nầy Hùng mua từ một bụi đời ở Sài Gòn. Mua vì thích và để chơi chứ Hùng chả có ý chi. Và khi nhét khẩu súng vào lưng quần Hùng cũng chả có ý chi nếu không tình cờ gặp Vàng, Nhứt và Tú, ba thằng bạn không vào nổi cấp ba đang ăn đang chơi quậy quọ ra trò mỗi khi xỉn rượu.

       Bạn bè lâu ngày gặp nhau không vô quán đâu có được. Ba thằng lôi Hùng vào “Mộc Tồn quán” làm cái lẩu cầy. Đang buồn bực Hùng cũng nhấp môi chút chút. Nhấp môi với một kẻ chưa từng rượu cũng là đáng nói. Nghe Hùng chửi thề Tú – từng bị kỷ luật khi cự lại thầy chủ nhiệm – nói:

  • Gì mà chửi thề. Có gì nói tao xử cho.

      Vậy là Hùng kể về một Chiến Võ bố láo bố toét. Tú rằng, võ chơi theo võ tao đếch sợ thằng nào. Nó ở đâu mày dẫn đến tao xử cho. Vàng và Nhứt có ba xi đế vào người trời còn chả sợ lọ chi võ. Vậy là chơi xong một chai ba xị cả bốn lên đường. Ba xị bốn thằng mỗi thằng ba ly xây chừng đủ để ngà. Rượu ngà ngà thì trời là mãnh vung bể. Trên hai chiếc 125 phân khối bốn thằng dừng xe ở quán nước mía Minh Thùy. Nhìn Chiến Võ đang bên cô chủ cười cười nói nói Hùng nóng như hơ. Đẹp trai học giỏi đốp liền chứ sợ à:

  • Hồi nãy mày nói tao mất dạy. Dám nói lại tao kêu mày bằng cha.

   Thấy người yêu hung tợn Minh Thùy vội chạy lại:

  • Thôi mà… bỏ qua đi Hùng ơi.

    Được người yêu ôm eo ếch, chục thằng Hùng cũng xìu nói chi một. Nhưng Tú thì không. Có rượu và thầy chủ nhiệm còn cự – nghe đâu – Tú còn cải lại cha… thì Chiến Võ không là cái đinh rỉ gì:

  • Mày nói lại tao cũng kêu mày bằng cha.

        Nói xong Tú lao đến ra đòn. Nhưng Chiến là huấn luyện viên võ thuật, chỉ hai bước đã ra khỏi quán. Và khi ta có chút nghề đánh với tay ngang nó mới dễ làm sao. Bị một cước vào mặt Tú ngã xuống đường nghe cái bịch và máu mủi tè le. Thấy vậy Vàng và Nhứt nhào vào…  tiếp tục ăn đòn. Khi khổng khi không được thể hiện tài năng trước mắt người đẹp, Chiến Võ cỡi luôn áo thun ba lỗ khoe cơ bắp và sáu múi đẹp ơi là đẹp. Thấy ba thằng bạn ngã ngựa Hùng hất tay người tình rồi vung súng điện. Hai trăm hai mươi vôn thì voi còn ngã nói chi người.

       Cả ba – Tú, Vàng, Nhứt – lợi dụng thời cơ đối phương ngã ngựa lao vào trả đòn. Mày đánh tao sao tao đánh lại y vậy. Hùng cũng ké vài cú đá. Thấy bá quan văn võ người đời đến, cả bốn liền lên xe vù một hơi. Nhưng chạy lên trời cũng bị lôi xuống. Chiến Võ chết vì bị đánh hội đồng.

       Cái chết khởi nguồn từ khẩu súng điện. Bốn trẻ trai chia nhau năm chục năm tù. Hùng hai mươi năm. Ba mươi còn lại cho Tú, Nhứt và Vàng. Nhờ cải tạo tốt nên sau mười lăm năm Hùng về đời nhờ giảm án.

      Đó là lý do Hùng bỏ cửa bỏ nhà đi một mạch mười lăm năm.

                                                                ***

      Hùng về đúng hai mươi tám tết. Một mình. Hành trình cho ngày về là lên xe đò tiếp tục xe buýt và cuối cùng là honda ôm.

       Sao lại một mình?

       Phận tù. Tục rằng “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại”. Mất tự do khổ lắm. Lắm lắm. Thực ra có phần cường điệu khi nói thiên thu tại ngoại. Con người vốn rất dễ thích nghi với mọi hoàn cảnh sống. Không tự khép mình vào cái khuôn của thì hiện tại là tự sát. Dân chơi có câu “ba năm tù như một giấc ngủ trưa”. Đã là phạm phải xem cõi tù là nhà mới tồn tại. Khi tự do của ta là tường giam thì mọi cái sẽ dần quen. Quen đến độ không ít những con người xem cõi tù là nhà. Hết án về đời lại tiếp tục gây án để vào tù bởi – họ nói – đời chán bỏ mẹ, ủ tờ vui hơn. Hùng sau sáu tháng tạm giam rồi ra tòa. Nơi thụ án cũng bằng nhau với tạm giam. Cũng chừng đó sáng trưa chiều tối ăn ngủ lao động. Trại giam cũng có tivi để giải trí. Có báo để đọc. Lễ lạc tết nhất cũng có ca vũ nhạc kịch. Có cả nghệ sĩ nổi tiếng đến vui chơi cùng phạm… muốn sao nữa bây giờ. Không quen mà được sao?

        Phận tù tội đau khổ là thật nhưng đâu có khổ đau bằng thân nhân của họ. Hãy nhìn ông cha tên Tuấn và bà má tên Thúy của Hùng là biết ngay đau khổ là gì. Hùng ôm án lúc Tuấn bốn mươi và bà xã ba mươi tám. Hai vợ chồng ba cô con gái và cả họ nhà Sáu kỳ không thể tin Hùng phạm tội giết người. Xót xa biết bao nhiêu khi cục vàng của họ bị hai mươi năm tù. Còn quá trẻ và vì đâu mà bèo nỗi mây chìm thế nầy con ơi anh ơi cháu của cậu của dì của bà ơi…

        Tục truyền rằng cõi tù là cõi lớn hiếp bé, ma cũ nạt ma mới. Nghe mấy thằng từng ủ tờ kể bà má tên Thúy lo lắng đến tóp má. Mẹ mà. Ai chả lòng dạ bao la như biển thái bình. Lúc Hùng còn tạm giam má Thúy tuần nào cũng tay xách nách mang thăm nuôi thằng con tội nghiệp. Tội lắm kẻ lỡ lầm một chút mà ôm hận nghìn thu. Nghe nói tạm giam cha ăn hiếp tạm giam con nên, trừ thăm nuôi má Thúy còn gặp riêng cán bộ trại để gửi gấm.

        Hết tạm giam đến tù. Từ nơi cư ngụ Tuấn phải vượt năm trăm cây số đi thăm con. Lúc đầu còn xe đò sau đó honda ôm đưa đến trại. Về sau Tuấn tậu luôn mô tô  cho dễ dàng trong thế cơ động. Muốn gửi gấm nhờ vả phải đến tận nhà cán bộ. Phải thăm dò ai chủ trì phòng con trai mình đang thụ án. Phải gặp vợ của quan anh nhờ nói giúp một tiếng. Anh nói thằng Hùng em tao thì chẳng tù nào dám hiếp. Để anh nói được ba từ “nó em tao” đâu thể bằng miệng mà phải xòe bàn tay đếm ngón tay.

        Sinh viên như Hùng mà lội ruộng, làm vườn, cuốc đất trồng khoai tội lắm. Ở nhà ăn học nào có biết lao động là gì. Lại phải tìm gặp sếp cao nhất để thằng lầm lỡ có một công việc an nhàn. Lại xòe bàn tay đếm ngón tay. Nhưng xòe và đếm lâu nhất là những ngày lễ lạt. Nhờ anh giúp cho cháu nó giảm được ngày nào hay ngày đó. Mỗi năm Tuấn cùng bà xã thân chinh bốn bận vào những ngày lễ lớn và tết nhất thì thu nhập cả một năm coi như xong. Nếu không có cái căn-tin của trường học nơi Tuấn là bảo vệ, chắc chắn Hùng không bao giờ được chân sai vặt trong nhà bếp của trại giam. Rất may cho vợ chồng Tuấn-Thúy – ngôi trường – nơi hai vợ chồng ăn nên làm ra nhờ kiếm bạc lẻ của học sinh tiểu học. Chỉ năm trăm bạc lẻ từ một học sinh của ngôi trường bốn mươi lớp, mỗi lớp ba mươi nhóc thì ngày Tuấn Thúy kiếm triệu là ít. Cũng ngôi trường nầy Hùng hết tiểu học. Hùng được thầy yêu bạn mến bởi ngoan ngoãn và học giỏi. Hùng đã đem vinh dự về cho trường khi quán quân học sinh giỏi toàn diện cấp huyện. Nhờ thành tích nầy mà vợ chồng Tuấn Thúy vẫn bình như vại ở căn-tin. Cô bác bảo rằng gặp người khác thì đừng hòng khi con cái là kẻ giết người.

       Mỗi năm thăm nuôi bốn lần. Chừng đó lần được gặp cha má cũng là một hạnh phúc cho Hùng. Đã biết thích nghi với cõi tù thì phải biết hạnh phúc ở quanh ta chứ chả tìm đâu cho nhọc. Có khi cả họ nhà Sáu Kỳ lên xe bảy chỗ theo 175 phân khối của Tuấn đi thăm thằng cháu tội nghiệp. Quy định của trại giam mỗi lần thăm chỉ một – tối đa – hai người. Muốn chín người phải liên hệ trước qua điện thoại. Và phải xòe bàn tay đếm ngón tay mới thông.

        Đối với cả họ nhà Sáu Kỳ, trước và sau khi Sáu Kỳ qua đời cũng vậy, tiền bạc không là gì. Hùng xé được hai cuốn lịch thì khu vực và đất đai nhà Sáu Kỳ vào quy hoạch làm cao tốc. Cả họ Sáu Kỳ lấy tiền đền bù xây nhà cao cửa rộng trên tái định cư. Tuấn và Thúy cũng chả thua bởi bố vợ khi còn sống cho Tuấn năm sào rẫy và lô đất cất nhà. Thăm nuôi Hùng một năm chục lần còn được lọ chi bốn.

       Vậy mà Hùng về đời sau mười lăm năm chỉ một mình nghĩa là làm sao?

        Số là. Ừ, số là…

                                                             ***

       Số là… biết nói sao nhỉ? Mỗi năm đi thăm con trai bốn kỳ, trại giam như nhà, cán bộ trại chả khác chi bằng hữu, chuyện giảm án ra làm sao vợ chồng Tuấn Thúy không thể không biết. Khi thời gian thụ án của Hùng bước qua năm thứ mười, mười một rồi mười hai… Tuấn mơ ngày con trai về nhà đến cháy bỏng ruột gan. Thời gian lúc nầy trôi đi thật sự chậm với đôi vợ chồng tội nghiệp. Đêm đêm vắt tay lên trán, nghĩ đến thằng con đang âm thầm trong bóng tối của tường giam Tuấn – ngay cả yêu – để giải phóng bản năng còn không muốn. Xòe bàn tay đếm ngón tay và tình thương mến thương vung ra một thời gian dài nên, ở năm thứ mười lăm Tuấn Thúy hy vọng con trai sẽ giã biệt trại giam. Tuấn nghe phó giám đốc trại bảo kỹ luật, lao động và ý thức tốt như Hùng có thể sẽ được về vào một trong nhưng ngày lễ lớn của năm. Nhưng rồi ba mươi tháng tư qua đi, hai tháng chín qua luôn… niềm hy vọng vào ân xá của tết tươi cũng qua đi. Thôi thì chờ năm tới vậy.

       Vậy thì lý do gì Hùng có mặt ở nhà vào hai mươi tám tết?

       Số là… sau một năm ở trại. Nhờ cha má xòe bàn tay đếm ngón tay gửi gấm nên Hùng được vào phụ việc trong nhà bếp. Giàu thủ kho no nhà bếp nên ai thiếu thốn chi kệ, riêng Hùng có da có thịt bởi hơi của dầu mỡ. Gần nhà bếp là căn-tin và trạm xá của trại. Hùng ghé trạm xá và phát giác ra cô y tá trạm đang ôn để thi đại học. Chả là đã hai lần ứng thí mà chả ra cái ôn gì. Là em của giám đốc trại, chỉ ăn và học mà cứ mãi sôi cơm nhưng chửa chín thì đâu có được. Nhớ chữ, Hùng liền thao thao  tám thể mười hai thì, thế nào là chủ động hay bị động trong anh ngữ. Hùng còn nói tiếng anh lưu loát như một ông mỹ con. Toán học hả? Chỉ cần nhìn cái đề ôn thi đại học Hùng đã cho cô y tá biết rằng tù cũng có anh giỏi tận trời. Về nhà cô  méc với anh trai rằng có một tù nhân…

        Ông giám đốc – tội nghiệp quá hoàn cảnh – vợ mất trong một tai nạn. Ông ở vậy nuôi một trai một gái. Trai mười ba tuổi đang lớp tám, con gái kế lớp sáu. Ông phải triệu em gái vào thay mẹ chăm con. Thêm bước nữa ư? Làm sao được khi con cái mới chừng này tuổi. Nhà của giám đốc kề bên trại, cách khu dân cư có ngôi trường con ông đang theo học những ba cây số. Sáng chúng học ở trường, chiều thêm với các thầy cô giáo. Đứa nào cũng giỏi toàn diện nhưng giám đốc biết chúng giỏi bởi ông là giám. Bằng chứng là khi  kiểm tra thằng lớn muốn nhân một đơn thức và một đa thức nó ngơ ra như bò đội nón. Con em còn tệ hơn.

      Vậy là ông giám bèn vời thằng tù về nhà kèm cho cả cô cả cháu cái sự học. Mỗi đêm mà thông qua lớp sáu lớp bảy đến luyện thi đại học thì gã tù tên Hùng quá xá giỏi đa nghe.  Ngon lành nhất là năm ấy cô y tá đỗ đại học. Cô khăn gói lên thành chen chân cùng đô hội. Tù Hùng vẫn đêm đêm ghé nhà ông giám kèm cho đôi trẻ. Thằng anh vào đại học con em cũng vào theo. Đó là những năm tháng đẹp nhất đời Hùng. Nếu không có vụ kèm cặp chắc Hùng tự sát bởi ngộ ra mình dại. Một năm sau ngày thụ án, Minh Thùy của Hùng lấy chồng. Đời mà. Yêu anh em cũng có yêu nhưng chờ thì sao được khi hai chục năm chứ  ngày bữa gì hả anh? Đời chả có cái dại nào giống cái dại nào, nhưng dại nhất chắc chắn là dại gái.

        Hùng nhận ra cô bé lớp mười hai tên Thùy Trâm – cô học trò mà tù Hùng kèm cặp – yêu mình. Tù Hùng hơn Thùy Trâm mười một tuổi. Năm cô mười tám Hùng đã ba mươi. Một số người trên trần gian này bóng thời gian không đi qua họ. Có nhưng rất chậm. Hùng là một. Cả ngày trong bếp với cá mú thịt thà và hơi dầu mỡ lại, kế thừa nét đẹp trai tài tử của cha nên, tù thì tù vẫn cứ phong trai. Gái tham tài trai tham sắc. Hùng quá tài nên Trâm yêu cũng phải thôi. Nhưng Hùng biết mình là ai. Biết lắm. Tù chớ có vọng động bá láp. Mất chỗ đội nón như chơi con ạ.

        Trâm đẹp như á hậu nên trai thanh lịch con nhà theo cô cả tiểu đội. Cha cô là giám đốc, nhà cô cao rộng chả thua ai. Phố phường vui và cái xô bồ của nó hút con người vào với lực nam châm của tam giác quỷ Bermuda. Trâm cũng bị cái guồng của hiện đại hút vào. Năm Hùng lớp mười, cha Tuấn đã tậu cho con máy tính bàn để học. Khoảng cách từ lúc ấy cho đến khi Trâm lên phố thì văn minh internet hiện đại gấp trăm lần. Trai đẹp theo cô ong ve ma mị quỷ sứ đến ghê hồn. Cô bị cái gọi là mê tình bám theo quyến rũ. Vậy là đơn phương trong lòng Trâm sụp đỗ. Cô cũng cặp một anh để cô đơn tan đi.

          Yêu nhau và hẹn ra trường mình cưới nhau em nhé. Trâm ừ –  và – phải chi cô như bạn bè, sống thử trước hôn nhân thì hay quá. Cưới xong cô mới nhận ra mình sai lầm. Chồng. Người mà cô ngộ nhận là yêu, ngay cả yêu anh chỉ biết cho anh. Xong cuộc anh lăn ra khò khò miệng mồm há hốc. Những lúc ấy Thùy Trâm da diết nhớ ông thầy dạy kèm tên Hùng. Một ngày nọ chồng đưa Trâm về thăm cha. Trong lúc cha và chồng chén tạc chén thù. Cha mừng vì sắp có cháu ngoại. Chồng bô lô ba la chuyện làm ăn thì Trâm lẻn vào trại giam thăm thầy. Tù Hùng hỏi:

  • Trâm khỏe không? Hạnh phúc chớ hả?
  • Khỏe thì có nhưng hạnh phúc thì không.
  • Sao vậy?

       Đó rồi cô tựa đầu vai thầy mà khóc. Sau đó vợ chồng Trâm ly thân. Đàn bà khi không yêu họ trơ như đá đàn ông nào chịu được. Huy – chồng Trâm – chân nam đá chân chiêu tâm sự với cha vợ khi con trai đà năm tuổi:

  • Ba hỏi sao ly thân hả? Vợ con không yêu con ba ơi. Cô ấy yêu người khác.
  • Người khác? Ai?
  • Thằng Hùng. Cái thằng tù mà ba nhờ kèm cặp cái vụ học hành đó.

       Để cứu vãn nhân duyên của con cái không ra tòa ly dị. Ông giám đốc với uy quyền sẵn có ký lệnh cho Hùng về trước tết như một đặc ân. Ông nghĩ xa mặt cách lòng. Năm trăm cây số từ trại đến nhà của Hùng thì xa quá là xa.

     Đó là lý do Hùng về vào hai mươi tám tết và chỉ một mình.

                                                                       *** 

      Chả ai có thể hình dung ra niềm vui phải nói là bất tận với cả họ nhà Sáu Kỳ. May mà bà Sáu đã cưỡi hạc chứ sống đến ngày thằng cháu về chắc chết vì sướng. Lòng Hùng cũng vậy. Khi bắt lại được tự do tâm tư con người ta ứ lại vô số nỗi niềm không thể nói bằng lời. May mà hai mươi tám tết nên sau thăm hỏi, láng giềng cũng như anh em họ mạc rút êm để lo cho tết tươi. Ba cô em gái của Hùng – sau mười lăm năm – cũng đã nên bà như ca dao dạy trai ba mươi tuổi đang xoan gái ba mươi tuổi đã toan về già.

        Còn lại Hùng và hai ông bà già. Ôm lấy bà má tội nghiệp Hùng bảo rằng con xin lỗi, con dại quá… dại rồi con biết khôn làm sao hả má? Mười lăm năm tù mà dại rồi không biết khôn làm sao thì biết ai dại biết ai khôn.

       Tuấn nói với con trai:

  • Cuộc sống là một quá trình làm sai và sửa sai. Sai thì sửa. Mười lăm năm tù  cay đắng và đoạn trường lắm nhưng dù sao, đến lúc nầy, mày vẫn đang trên chân mình mà bước. Vẫn đang ngửa mặt hít thở khí trời và tận hưởng tự do. Trong khi đó thằng Chiến mục rửa trong bóng tối của áo quan. Sai lầm của mày tuy đắt nhưng không đắt bằng thằng Chiến.
  • Con hiểu rồi.
  • Ngày mai hãy đi với tao đến nhà thằng Chiến xin lỗi cha má nó. Mười lăm năm chờ đợi của tao và má mày tuy mỏi mòn nhưng, không bằng sự mất mát của ba má thằng Chiến. Hiểu không?
  • Dạ hiểu.

    Hùng đăm chiêu:

  • Không biết anh em nhà Chiến sẽ ra sao khi con đến.
  • Không sao cả. Kinh thánh dạy “Mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện để lấy áo trong của anh hãy để  nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm, hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin, hãy cho, ai vay mượn, đừng ngoảnh mặt đi”. Nhẫn là trên hết.

      Hai mươi chín tết hai cha con đến nhà cha mẹ của kẻ qua đời khi còn rất trẻ là Chiến Võ. Ừ… hai ông bà già và bầy em của Chiến thôi thì chuyện cũ rồi ta cho qua. Sự chân thành của Hùng đã khiến hận oán mười lăm năm qua đi. Chân thành là gì? Là thật với chính mình. Gã tù về đời tên Hùng không còn gì trừ thật với chính mình.

        Về. Ngang qua nhà Minh Thùy ông Tuấn dừng xe:

  • Thăm con Thùy một lát.
  • Thôi ba ơi… chuyện quá cũ rồi. Ai có phận nấy.
  • Phải gặp thôi. Gặp để biết bèo nổi mây chìm vì đâu…

     Minh Thùy hai con. Một trai một gái nhưng không đề huề bởi vợ chồng đường ai nấy đi. Hai con mà không ở được nghĩa là làm sao? Ngộ nhận – nghĩa là – hiểu sai hay nhận thức sai. Sai lầm trong tình yêu đã khiến Minh Thùy trả giá. Nhưng ngộ nhận nầy bắt nguồn từ xốc nổi của Hùng mà ra. Cũng rất chân thành Hùng xin lỗi tình xưa. Con trai Minh Thùy đã mười ba, con gái mười một, cô đủ già để:

  • Cuộc sống là một quá trình làm sai và sửa sai phải không anh? Sai lầm lớn nhất chúng ta mắc phải trong cuộc sống là luôn sợ sai lầm – Elbert Hubhard- đã nói vậy. Vui đi anh. Vui để đối mặt với thử thách và chiến thắng nó mà không mắc phải sai lầm. Và ngay cả khi mắc sai lầm vẫn có thể sửa chữa để thay đổi.

       Hùng nhắm mắt nhìn trời.

                                                 Nguyễn Trí

Chiều xuân nhớ mẹ

Trần Hà Yên

Mẹ ơi!

Ruộng mùa này mẹ cấy có được không?

Vụ đông xuân nước vẫn mênh mông quá

Bàn tay cha đã bao lần gieo sạ

Mưa trắng trời… hạt thóc nước cuốn trôi

.

Ở nơi xa nghe đài báo thế thôi

Xót lòng con vì miền trung mưa gió

Xuân sắp về mà đông như còn đó

Vẫn dãi dề… con nước trắng bao la

.

Đường vào nhà những năm trước đầy hoa

Mẹ trồng rau mướt xanh khi tết đến

Đàn em thơ vui trên sân trìu mến

Nay xa rồi…cảnh ấy chẳng còn đâu!

.

Vẫn áo nâu nắng mưa đã bạc màu

Mẹ dãi dầu nơi đồng xa ngập nước

Thương cánh cò lội đồng sau bãi trước

Bước chân gầy… ngày tháng vẫn bôn ba

.

Chiều xuân nay

Con nhớ mẹ nơi xa!