Feeds:
Bài viết
Bình luận

Chạy dưới mưa

Nhà văn Đặng Chương Ngạn

Gần sáng, cứ nghe tiếng sáo trúc, mẹ tôi lại trở mình: “Cái thằng Tuyến đi học rồi đấy!”

Lặng đi một lúc giọng mẹ thắt thẻo: “Trường dời về Thạch Xuân xa hơn chục cây số, mùa đông đường sá ngập bùn… Khổ… Khổ… Chịu cực vầy rồi có làm vương làm tướng gì được không!”

Sáng nào, tiếng sáo trúc của anh Tuyến cũng đánh thức tôi. Nằm nán thêm một chút trong chăn ấm đệm rơm, tôi cố trở dậy học bài. Ngoài kia, vẫn còn tối lắm. Trời mù căm, gà gáy canh năm, ngoài ngõ cách mười bước chân vẫn chưa rõ mặt người. Tôi khoác áo bông, trùm cái chăn sợi gai dày sụ ngồi vào bàn học mà vẫn run cầm cập, nghĩ đến anh Tuyến đơn độc trên con đường lầy lội bùn, đầy ổ chân trâu, trần mình trong gió bấc… đến trường mà ái ngại.

*

Làng Chùa Nấp chỉ có trường tiểu học. Học cấp 2, phải qua xã bên cạnh. Học cấp 3 thì cả huyện chỉ có một ngôi trường ở Thạch Xuân. Thanh niên làng tôi học xong cấp 2 tự cho đã đủ, không còn ai đi học tiếp cấp 3 trường huyện nữa. Xa quá. Đường lầy lội quá. Để đến kịp giờ học thì phải đi từ mờ sáng… Chỉ còn anh Tuyến vẫn kiên nhẫn đến trường.

Ở làng, cũng chỉ mình anh Tuyến có mấy cuốn sách mà ai thích đọc có thể đến mượn: Thép đã tôi thế đấy, Ruồi trâu, Truyện núi đồi và thảo nguyên, Giamilia, Đường đến khoa học… Chỉ có anh Tuyến đặt thường xuyên qua bưu điện tờ báo Văn nghệ và Toán học tuổi trẻ. Tờ Toán học tuổi trẻ ra hằng tháng, còn báo Văn nghệ ra hằng tuần. Thứ bảy báo Văn nghệ phát hành thì thường thứ ba, thậm chí 10 ngày sau, mới đến tay anh Tuyến.

Ông Chắt Khoái, người đưa thư của xã, luôn ca cẩm với mọi người: “Không có ai đi đòi báo như thằng Tuyến. Tôi phát báo cho mọi người lỡ có thiếu một vài tờ họ đều bỏ qua, riêng cái thằng Tuyến cứ càm ràm mãi, như đòi nợ. Nếu là tờ báo khác, tôi đã lấy đâu đó, đưa nó cho xong. Nhưng cái báo Văn nghệ, cả xã, cả tổng này chỉ mình nó đặt mua. Lỡ mất, không kiếm đâu ra.” Ông Chắt Khoái không hiểu được vì sao anh lại đòi tờ báo như vậy. Còn tôi, sau này, khi đã nghiền báo Văn nghệ, tôi hoàn toàn hiểu rõ: mất đi một số là một tuần không được đọc mục dọn vườn, không được đọc mấy bài phê bình, một truyện ngắn đang đọc dở… người cứ bần thần, thiêu thiếu, như đánh rơi cái gì đấy. Rồi, sau này, tôi cũng có những cuộc cãi vã với ông Chắt Khoái vì tờ báo Văn nghệ giống như anh Tuyến.

Chạy dưới mưa - Truyện ngắn dự thi của Đặng Chương Ngạn
Chạy dưới mưa (Minh họa của họa sĩ Đỗ Dũng)

Hồi ấy, ở quê tôi, thanh niên mê sáo trúc và kèn harmonica. Hầu hết thanh niên đều có cây sáo trúc giắt sau lưng, một ít người có kèn harmonica trong túi. Anh Tuyến thổi sáo rất hay, tiếng sáo có hồn, mê hoặc. Mỗi lần liên hoan văn nghệ, đám cưới, luôn có ai đó thét gọi “Nghệ sĩ sáo trúc Minh Tuyến đâu!”, anh bước lên sân khấu với cây sáo trúc trên tay và đám đông chao đảo theo tiếng sáo của anh.

Nhưng tôi mê nhất tiếng sáo anh vào những đêm trăng, giữa cánh đồng đang mùa thu hoạch nồng hăng mùi cỏ cháy, mùi lá lạc, mùi đất cày ải… Nó mung lung, diệu vợi trộn lẫn vào ánh trăng mê hoặc, phủ lên những khoảng ruộng còn ngổn ngang rơm, rạ, mơn trớn, lênh loang miên man trên những rặng tre ngà. Cả làng Chùa Nấp về khuya trở mình không thể ngủ được vì tiếng sáo. Nhưng, tôi nhớ nhất, tiếng sáo của anh vào mỗi sớm mai, lúc canh năm gà gáy, tiếng sáo ấy thúc hối tôi tỉnh dậy học bài.

Anh nói buổi sáng anh chỉ thổi sáo khi đi băng qua nghĩa địa Cồn Nghê thôi. Thổi vì sợ, có tiếng sáo thấy vững tin hơn khi len chân qua từng ngôi mộ giữa đêm tối…

*

Tôi lên 8, gầy đét như tàu cau, da xanh mét.

Hồi đó, có một bác sĩ sơ tán về làng tôi. Ông thường mặc bộ blouse trắng, đeo tai nghe lủng lẳng trên cổ. Mọi người làng tôi cứ gọi là bác sĩ Trọng. Sau này, tôi mới biết ông chỉ là y sĩ trên bệnh viện tỉnh. Một lần, đạp xe ngang qua tôi, ông dừng lại, rồi hỏi:

“Cháu con ai trong làng?”

“Con mẹ Trân.”

“Cháu nói mẹ Trân đến gặp bác sĩ Trọng nhé!”

Mẹ gặp ông bác sĩ, trở về nhà tâm trạng âu lo, buồn. Mẹ nhìn rất lâu khuôn mặt tôi, săm soi mắt, cằm, cổ, rồi thở dài. Ngay tối đó, mẹ dẫn tôi đến nhà ông bác sĩ. Ông bác sĩ bảo tôi cởi áo ra, đặt cái ống nghe lên ngực tôi, lưng tôi, gõ gõ vào tai nghe mấy lần. Ông bấm ngón tay lên động mạch nổi như một sợi dây thừng xanh lét trên cổ tay tôi, nhìn đồng hồ, lẩm nhẩm đếm: mười, hai mươi, bảy mươi… Tôi bị hở van tim, cần điều trị, không sau này thành bệnh mãn tính hết cứu chữa. Mẹ tôi trả công cho ông bác sĩ một rổ khoai, nhận mấy viên thuốc rồi ra về. Những ngày sau, tôi đi đâu, người làng nhìn tôi với vẻ mặt ái ngại, thương xót. Có người thở dài: Bị bệnh tim thằng bé chẳng còn sống được bao lâu.

Tôi thường ra bờ sông Ruộc ngồi một mình hiu hắt, buồn thảm nghĩ về cái chết. Anh Tuyến tìm đến tôi. Nhìn tôi một lúc, anh phán: “Chết quái nào được. Mà mày chẳng có bị bệnh tim, mày bị bệnh đói ăn nên xanh xao vậy. Mẹ mày đẻ nhiều quá! Mày bị mấy đứa em vét sạch thức ăn, không có gì vào bụng nên thế. Từ giờ, hằng ngày qua nhà anh, anh cho thuốc. Sáng chạy thể dục với anh 20 phút là khỏi!”

Nhà anh Tuyến chỉ có hai mẹ con. Anh là con út, các chị đều đã lấy chồng sang làng bên, nên kinh tế khá hơn nhà tôi nhiều. Tôi qua, anh kéo vào ăn cùng nếu đúng bữa. Còn không, sẽ để dành cho tôi củ khoai, củ sắn. Buổi sáng, khi đi học, anh ghé nhà đón tôi. Hai anh em chạy cùng nhau đến nghĩa địa Cồn Nghê. Tới đấy, anh rút sáo vừa thổi vừa băng qua nghĩa địa, tôi chạy trở về nhà. Không biết tự lúc nào tôi thấy mình khỏe mạnh, yêu đời, không nghĩ đến bệnh hở van tim và cái chết nữa. Anh Tuyến là người rất hay chạy, nhiều việc người khác đi còn anh thì chạy, có lẽ do phải dành thời gian để học bài nên mọi việc anh phải làm nhanh, gấp vì vậy anh phải chạy: chạy ra đồng bứt rạ, gặt lúa, bới khoai, gánh chạy về sân hợp tác… Lũ trẻ con chúng tôi đôi khi vẫn chạy cùng anh. Nhớ nhất, những cơn mưa đầu mùa, anh sẽ thét lên: “Ra đồng, ra đồng nhận lộc trời nào!” Chúng tôi chạy theo anh như bầy vịt nhao nhác dưới mưa, cầm theo rổ, thúng, giỏ…

18 tuổi, tôi hỏi vị bác sĩ đi khám nghĩa vụ quân sự: Tim tôi có vấn đề gì không? Ông bảo chẳng có vấn đề gì. Tim, phổi, dạ dày… lục phủ ngũ tạng đều quá tốt. Tôi bảo ông: Tôi bị bệnh hở van tim. Ông trừng mắt: “Định trốn nghĩa vụ à? Hở đâu mà hở!”

*

Tôi học lên cấp 2, chiến tranh lan đến… Cái chết treo lơ lửng trên đầu mỗi ngày. Chúng tôi học bài dưới hầm chữ A, đi học theo đường hào và đội mũ rơm. Thanh niên trai tráng lần lượt lên đường. Anh Tuyến đang học dở lớp 10 thì nhập ngũ. Anh là con út, độc đinh, được miễn nghĩa vụ, nhưng anh ghi tên tình nguyện. Anh tặng lại tôi tủ sách mini. “Anh đã đặt báo Văn nghệ hết năm nay, em cứ đến ông Chắt Khoái lấy về đọc nhé!” Hết năm, tôi xin mẹ tiền đặt mua tiếp báo Văn nghệ, sau anh Tuyến, tôi trở thành người duy nhất ở xã Hoàng Hạ đặt mua báo Văn nghệ hằng năm và vẫn bị ông đưa thư bêu riếu khắp nơi vì đòi báo dai như đỉa giống thằng Tuyến.

Tôi đi tiễn anh. Tập kết ở xã được phát quân tư trang. Anh chỉnh tề trong bộ quân phục mới, thắt eo, đội mũ cứng, ba lô phồng căng sau lưng. Ba lô anh Tuyến khá nặng vì anh mang theo tất tật sách học lớp 10. Anh sẽ tiếp tục học hết chương trình dù anh đã được đặc cách tốt nghiệp phổ thông. Anh nói học để có kiến thức, hết chiến tranh tiếp tục học đại học. Tôi lẽo đẽo theo anh cho đến khi đoàn xe chở tân binh rời bánh…

Tôi chưa bao giờ thương nhớ một ai quay quắt như vậy. Anh ra đi để lại cả một khoảng trống lớn. Không còn người thầy, người anh, một người bạn thân thiết bên cạnh, tôi cảm thấy thiếu vắng, cô đơn.

Anh Tuyến viết cho tôi mấy lá thư, viết cho bác San mấy lá thư… khi đang luyện tập ở một huyện miền núi, khi đang hành quân vào Nam. “Anh vừa qua sông Trà Bồng em ạ, con sông quá quen thuộc trong thơ Tế Hanh. Vậy là, anh xa em gần ngàn cây số rồi đấy.” Đó là những câu trong lá thư cuối cùng tôi nhận được. Anh mất hút không còn tin tức… Sau năm 1975, những người lính nhập ngũ cùng đợt với anh lần lượt trở về hoặc gia đình nhận được giấy báo tử, anh Tuyến vẫn vô tăm tích…

Có hai người hay ra đứng đầu làng nhìn lên quốc lộ 1 chiều chiều mong ngóng là tôi và bác San. Mỗi khi có một người lính bước xuống con đường đất lối về Chùa Nấp, tôi như nghẹt thở. Nhưng anh Tuyến đã không trở về… Rồi một hôm, anh Nhu, một người làng bên, tòng quân cùng đợt với anh Tuyến, chống nạng gỗ lập bập trước ngõ nhà bác San với tin dữ: Anh Tuyến đã hi sinh. Chính mắt anh nhìn thấy anh Tuyến bị trúng đạn ngã gục xuống, máu chảy trào ra ướt đẫm quân phục, đọng thành vũng trên đất đỏ bazan, trong trận đánh ở Cam Lộ. Khi ấy, tiểu đội trưởng thúc anh xông lên yểm trợ cho mũi giáp công bên phải nên phải rời đi… Nếu anh Tuyến vẫn trở về thì trận ấy, anh chỉ bị thương và đã được cấp cứu, còn đến nay vẫn không có tin tức gì thì chắc chắn anh Tuyến đã hi sinh ngay ở Cam Lộ.

Anh Nhu vừa rời đi, bác gái đã đổ gục xuống bất tỉnh. Chỉ ít ngày sau, bác gái ra đi. Trái tim người mẹ không chịu được nỗi đau quá lớn ấy. Đợi đứa con trở về từng ngày, hi vọng từng ngày, khiến trái tim của người mẹ tan vỡ khi nhận tin buồn. Anh Nhu ân hận nhưng anh chẳng có lỗi gì khi anh không thể mang đến tin vui. Một thời gian, sau nhiều lần lập cập với cái nạng gỗ đi lên Ban chỉ huy quân sự tỉnh, anh Nhu mang về xóm tôi giấy báo tử cho liệt sĩ Đặng Minh Tuyến.

*

Rồi tôi tốt nghiệp lớp 10 xuất sắc. Mấy môn tự nhiên toán, lý, hoá đều đạt điểm tuyệt đối. Hình ảnh anh Tuyến và những người lính cứ ám ảnh tôi, ám ảnh tôi những trang báo Văn nghệ viết về người lính, tôi kí đơn thi vào trường Đại học kĩ thuật quân sự, nơi đào tạo ra những kĩ sư cho quân đội. Năm đó, trường Phan Đình Phùng có 5 thí sinh thi Đại học kĩ thuật quân sự, nhưng chỉ mình tôi đủ điểm vào trường.

Tôi cũng mặc áo lính như anh, học 5 năm, ra trường đeo lon trung uý rồi được điều về một đơn vị quân đội đang xây dựng khu hậu cần dầu khí ở Vũng Tàu. Ngành dầu khí mới phôi thai, chưa khoan được một lít dầu nào, chưa hút lên từ mỏ một lít khí nào, tất cả vẫn trong giai đoạn tìm kiếm ngoài khơi và chuẩn bị kho, bãi, cầu cảng, giàn khoan trong bờ. Chúng tôi xây dựng căn cứ địa vật lý, xưởng cơ khí trung tâm, tiền cảng, kho chứa xăng dầu… Thành phố biển Vũng Tàu như một đại công trường lớn. Tôi trưởng thành trong đại công trường ấy, một năm sau, tôi được phong hàm thượng uý. Sĩ quan kĩ thuật, hai mươi ba tuổi, đeo trên vai một vạch ba sao thực sự hiếm.

*

Vẫn chưa có dầu, có khí… Mọi hi vọng vẫn ngóng trông từ phía biển.

Tất cả đang ở thì tương lai. Những người lính dầu khí: binh nhất, binh nhì, hạ sĩ… từ chiến trường chuyển qua làm việc quên mình nhưng đời sống thật khó khăn với vật giá leo thang biến động từng ngày.

Gần tết, trung đoàn trưởng gọi tôi lên: “Trông cậu nhanh nhẹn. Cậu dân miền Trung nhưng nói giọng Nam còn chuẩn hơn dân Nam Bộ gốc. Tôi cử cậu xuống miền Tây, tìm xem có thể liên hệ với các nông trường dưới đó mua ít nếp, đường về cho anh em ăn tết.”

Tôi loanh quanh Long An, Tiền Giang, Hậu Giang, An Giang. Một ngày, đã gần trưa, tôi đi qua nông trường mía. Dưới ánh nắng như thiêu, như đốt, một người đàn ông cao cao, thanh mảnh đang chất những cây mía lên chiếc xe công nông. Ô! Anh Tuyến! Anh Tuyến! Mắt tôi không thể nhầm được. Tôi bỏ xe máy trên bờ ruộng chạy như bay đến chiếc xe công nông: “Anh Tuyến! Anh Tuyến… Em Chung đây!” Tôi gọi khản cổ, nhưng người đàn ông dường như không nghe thấy, bỏ lại chiếc công nông và đám cây mía đã chặt, quay lưng đi thẳng vào ruộng mía cao ngút đầu, lá múa loạn xạ theo gió lốc… Tôi chạy theo, nhưng khi tôi đến gần, người đàn ông càng bước chân nhanh hơn. Tôi buồn bã quay lui. Sao tôi có thể nhầm được: dáng người ấy, mái đầu ấy, vầng tóc ấy! Nhưng, làm sao còn anh Tuyến ở đây để tôi gặp: Anh đã hi sinh rồi! Anh đã chết trong trận huyết chiến ở Cam Lộ rồi kia mà!

Tôi lầm lũi bước đi dưới ánh mặt trời ban trưa ở Bình Thành như thiêu, như đốt.

“Chung!”

Có tiếng gọi giật ngay sau lưng. Tôi quay lại: anh Tuyến đứng đó, trước mắt tôi bằng da, bằng thịt.

Tôi nhào tới ôm chặt lấy anh và khóc. Tôi hai mươi ba tuổi, khóc như một đứa bé con trên vai anh. Khóc nức nở hơn cả cái lần anh tìm ra tôi bên bờ sông Ruộc khi tôi buồn thảm đón chờ cái chết.

*

Anh Tuyến không hi sinh trong trận đánh đó như anh Nhu người làng nhầm tưởng. Anh bị trúng đạn vỡ nát xương cánh tay, xuyên qua ổ bụng, phá ra sau lưng, lòi cả ruột ra ngoài. Bộ đội địa phương sơ cứu, chuyển anh đến trạm phẫu thuật tiền phương. Anh được cứu sống, nằm điều trị hơn ba tháng, rồi bổ sung vào một đơn vị chiến đấu khác. Sau khi xuất ngũ, anh đã trở về quê, ở quán nước làng bên, anh biết: Mẹ đã mất, xã đã nhận giấy báo tử liệt sĩ Đặng Minh Tuyến, đã làm lễ truy điệu… Anh cũng biết tin tôi đã vào đại học. Mẹ đã mất. Về làng chẳng còn gặp được người thân. Anh qua nghĩa địa Cồn Nghê thắp hương cho bác gái, rồi ra quốc lộ 1, bắt xe quay vào Nam. Anh dự tính sẽ trở về làng một dịp khác sau này, khi anh đã có sự nghiệp, và sẽ làm sáng tỏ sự nhầm lẫn. Anh đã xin vào làm việc ở nông trường mía xa xôi này và luôn lánh mặt để không gặp người cùng quê. Anh nhận ra tôi ngay, khi nghe tiếng gọi của tôi, nhưng đã bỏ đi vì thế.

“Anh không vào học đại học nữa sao?”

“Vào chứ. Em có nhớ hôm lên đường, anh vẫn mang tất cả sách lớp 10 theo không. Rồi sau này, anh phải bỏ bớt lại vì ra trận mang theo một gam cũng phải cân nhắc tính toán. Anh bỏ đi tất cả sách truyện, sổ ghi chép, nhưng cuốn học bạ, sách toán, lý, hoá vẫn giữ. Anh vẫn tự học những lúc có thời gian hết chương trình lớp 10… Giấc mơ đó không bao giờ anh từ bỏ.”

“Sao anh vẫn ở đây?”

Anh thở dài:

“Đấy là một câu chuyện buồn. Có hai lần lẽ ra anh đã đến được giảng đường đại học. Lần thứ nhất, khi đó vẫn đang chiến tranh. Rời bệnh viện, về đơn vị mới, anh cùng một tổ với tiểu đội trưởng trong nhóm hoả lực B41. Tiểu đội trưởng Long, xạ thủ chính, mang súng B41, anh xạ thủ phụ mang AK và ba lô đạn đã nạp liều phóng khi ra trận. Lần ấy, đụng độ với một tiểu đoàn thiết giáp đối phương. Trận đánh hết sức khốc liệt. Tăng chúng tràn qua, nhiều chỗ phòng tuyến đe doạ bị vỡ. Tiểu đội trưởng Long lóng ngóng thế nào bắn 2 quả B41 đều không trúng chiếc M41 đang gầm rú chồm tới, chỉ mấy giây nữa thôi sẽ cán lên ngay trên đầu anh và Long. Anh giật lấy súng trên tay tiểu đội trưởng Long, lắp đạn, nhảy lên khỏi công sự, bắn ngay vào chiếc M41 sắp chồm qua. Rồi lắp đạn, bắn tiếp chiếc thứ 2, bám theo chiếc thứ nhất. Quay qua phải, một chiếc M551 khác từ trên đỉnh đồi đang lao tới. Phát B41 thứ ba trúng ngay chỗ chứa đạn trên xe, đạn phát nổ làm bay luôn cả tháp pháo chiếc Sherian đi xa cả chục mét… Trận đó, đại đội anh hi sinh mất 12 người, bị thương 30 người, nhưng chặn đứng và tiêu diệt sạch tiểu đoàn cơ giới.

Tối đó, Long gọi anh ra ngoài:

“Chiều nay, mình đã báo lên đại đội thành tích diệt ba chiếc tăng… nhưng mình lỡ khai thành tích mình bắn.”

“Nhưng đó là tôi bắn!”

“Đúng! Tuyến bắn! Tuyến là một anh hùng trong giây phút đó. Trận hôm nay, nếu không chặn được hai chiếc M41 đầu tiên ngay thì coi như phòng tuyến vỡ… Nhưng Tuyến ơi, xin lỗi Tuyến, mình là cựu binh, xạ thủ chính không lẽ báo với đại đội mình không bắn được, mình run đến bắn trượt… Tuyến cho mình tạm vay thành tích này!”

Anh đã đấm một cú vào mặt, Long ngã ngửa. Anh nhào tới tính đấm anh ta cú nữa vì tức giận. Long chắp hai tay vái anh: “Tuyến ơi, mình xa nhà hơn mười năm rồi. Nhớ mẹ quá. Người ta bảo đợt này chiến sĩ lâu năm có thành tích xuất sắc sẽ được ra Bắc về thăm nhà!” Anh cũng đang nhớ mẹ, nhớ đến quay quắt và mong được trở về. Anh bỏ đi và đã im lặng không tố việc Long cướp công với cấp trên. Anh nghĩ: Long xa nhà quá lâu, tuổi đã lớn, tư tưởng đang dao động nên hôm nay ra trận không được bình thường. Hoá ra, chuyện không chỉ vậy. Do thành tích đó Long được thưởng huân chương, được bình bầu chiến sĩ thi đua, được rút ra Bắc đi học… Lẽ ra, cái suất đi học đó phải là anh! Một cơ hội như vậy thật hiếm!

Lần thứ hai anh lại bị hụt ước mơ. Lần này, khá lớn chuyện.

Chỉ còn một tháng nữa, bọn anh được ra quân, những người lính đã hoàn thành nhiệm vụ và có thành tích tốt được chọn một số nguyện vọng: đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, đi học văn hoá ở trường quân đội để thi vào đại học hay về quê. Anh ghi nguyện vọng được về học trường văn hoá. Trong ba lô anh đã có quyết định về trường văn hoá quân khu. Trường đó, cả những người lính học rất i tờ vào luyện 5-6 tháng, thi đại học điểm cao chót vót. Anh em trong đại đội đùa: thông minh như anh điểm thi dư sức đi du học…

Tối ấy, bất ngờ đơn vị anh được huy động hỗ trợ cùng bộ đội biên phòng bắt một vụ tổ chức vượt biên lớn, bằng tàu biển theo mật báo. Bộ đội biên phòng sẽ tập kích vào vị trí đám vượt biên đang tập kết trên bờ biển chuẩn bị xuống tàu, ba trung đội bọn anh sẽ hỗ trợ vòng ngoài, đón lõng bắt những người vượt biên trốn chạy lúc hỗn loạn. Anh được giao đứng chặn ngay lối mòn dẫn qua đám dừa nước vào khu dân cư ven biển. Sau tiếng súng nổ ở nhóm tập kích khoảng 10 phút, một cô gái kéo theo một người đàn ông lao vào lối mòn đó. Họ là hai cha con. Ông bố nguyên là công chức hành chính, cô con gái học dở năm nhất đại học. Ông bố đang bị bệnh gan, không có thuốc điều trị, chỉ có cách trốn ra nước ngoài, đến Phần Lan nơi con trai ông du học xong đang làm bác sĩ ở đấy. Anh biết vậy, vì họ mang theo đầy đủ giấy tờ cá nhân và cả bệnh án của ông bố đưa cho anh xem để xin được tha. Cô gái cố dúi vào tay anh cái túi nhỏ đựng vàng: “Đây là tất cả tài sản còn lại của ba con em!” Anh đã gạt phắt đi: “Không được mua chuộc người lính chúng tôi. Cả hai về đồn.” Cô gái trắng trợn: “Ông lính, nếu ông không cần vàng, ông có thể giữ em lại nhưng cho ba em đi. Vì nếu bị bắt ba em sẽ chết bệnh trong tù!” Anh quát: “Đằng sau quay, đi về đồn!” và kéo cò súng. Cô gái đó nhào đến ôm chặt lấy anh: “Ông lính, ông có thể làm gì em cũng được! Em mười chín tuổi, còn trong trắng!” Chính vì câu nói đấy, anh quyết định để cha con cô ấy đi. Anh đứng sang một bên, nói rất khẽ: “Hai người đi nhanh đi!”

Đêm đó, bên biên phòng và đại đội anh cũng chỉ giữ lại được khoảng hai trăm người, hơn trăm người đã chạy thoát vào lúc hỗn loạn… Chẳng ai phát hiện ra việc anh tha cho hai cha con họ nếu anh không dại dột tâm sự với một đồng đội. Câu chuyện loang ra cả trung đội, đến tai cấp trên. Kỉ luật được thi hành ngay. Nếu không vì những thành tích chiến đấu trước đó, anh đã bị tước quân tịch. Anh bị cảnh cáo, hạ quân hàm xuống binh nhất, và cho xuất ngũ. Cánh cửa vào trường văn hóa luyện thi đóng sầm lại.

Xuất ngũ, anh đã về quê và rồi khi biết mẹ đã mất, anh quay lại nơi này. Em biết ở quê mình, dòng họ mình, những người đào ngũ đều phải bỏ xứ đi xa vì không chịu đựng được sự khinh ghét. Anh là một quân nhân bị kỉ luật, bị hạ quân hàm… sẽ bị khinh ghét hơn! Làm sao có thể chịu được ánh mắt của các ông, các cụ trong làng, trong họ. Mà nói ra sự thật như anh vừa kể cho em thì chắc chẳng ai tin…”

Tôi thở dài cảm thông cho số phận cay đắng của anh. Anh trầm ngâm: “Phải chăng do anh em mình đọc nhiều sách về chiến tranh, đọc quá nhiều truyện về người lính nên sống lí thuyết khác người ta quá chăng!”

Sực nhớ ra, tôi hỏi anh:

“Anh có hay đọc báo Văn nghệ nữa không?”

“Không. Ở đây muốn đọc cũng không có báo. Nhưng đi qua chiến tranh rồi, anh không còn muốn đọc những câu chuyện viết về người lính, viết về chiến tranh trong sách báo nữa! Hình như những câu chuyện ấy được viết bởi những người chưa ra trận, hay chỉ đi qua bên lề các trận chiến.”

Lúc chia tay, anh cứ nhìn mãi cái quân hàm trên vai tôi:

“Không ngờ, đứa em của anh mới 23 tuổi đã đeo hàm thượng uý. Ở chiến trường cỡ em đã là tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, chỉ huy cả trăm lính thét ra lửa. Có mơ, anh không bao giờ được ngồi cùng để bàn chuyện quân.”

Rồi, anh nhìn tôi, gật gù như lão thầy tướng ở Đền Hạ, phán:

“Tai to, trán cao, mắt sáng, dáng đi chậm rãi, từ tốn… Hai mươi ba tuổi đã đeo lon thượng uý, bốn mươi tuổi em sẽ đeo lon tướng! Còn nếu làm bên dân sự, ít nhất cũng là tổng giám đốc công ty có chục ngàn quân!”

Tôi cười: “Tướng em khác gì anh, đều tai to, trán cao, mắt sáng…”

Anh nghe vậy, trầm ngâm rất lâu, rồi cười: “À, há!…”

Đôi mắt anh buồn, ánh nhìn xa xăm.

Chạy dưới mưa - Truyện ngắn dự thi của Đặng Chương Ngạn
Chạy dưới mưa (ảnh minh họa)

Tôi gửi thư cho anh theo địa chỉ nông trường. Anh hồi âm đều đặn. Rồi đến một thời gian, thư của tôi bên bưu điện trả lại: không có người nhận. Tôi tìm được số điện thoại nông trường. Gọi đến, họ dập máy, hoặc trả lời cộc lốc: “Không có ở đây!” Thật lạ! Cho đến một hôm, bên kia là một giọng nữ, nhẹ nhàng, như gió thoảng, nói nhanh vội vàng:

“Anh trai em không còn ở đây. Anh ấy đã trốn đi, không ai biết địa chỉ. Họ đang truy nã anh ấy về tội trộm cắp. Đó không phải là sự thật, chỉ là một cái cớ…” Tôi chưa kịp hỏi thêm gì bên kia đã đặt ống nghe xuống.

Rồi bất ngờ, tôi nhận được tin nhắn của anh. Tôi lên Sài Gòn, tìm mãi mới ra cái xưởng sản xuất than tổ ong thủ công nằm bên mé kênh nước đen, ngập ngụa rác. Anh gầy gò, da cháy đen, mặc áo ba lỗ, quần lửng ngang đầu gối, tay và mặt ám đen màu than đá. Hoá ra, cái nông trường ấy là một ổ buôn lậu hàng qua biên giới. Mấy chục héc ta mía chỉ là cái bình phong cho những đoàn ghe, xuồng, tấp nập tới lui chuyển hàng buôn lậu. Phát hiện ra điều đó, anh hết sức sửng sốt, anh gửi ngay một lá thư lên huyện uỷ. Lá thư đó được chính đồng bọn đám buôn lậu nhận, và chuyển về cho bộ sậu nông trường. Họ quyết định xử lí, bịt đầu mối kẻ tố cáo ngay, một màn kịch đã được dàn dựng, sẽ được diễn vào đêm cuối tuần: anh là kẻ đã trộm tiền từ phòng tài vụ nông trường về giấu dưới gầm giường, chuẩn bị chạy trốn, bị bắt quả tang điên cuồng chống cự, nên bị tiêu diệt. Chính cô gái trả lời điện thoại tôi lần trước là người mật báo cho anh âm mưu của họ và khuyên anh hãy chạy trốn ngay.

Anh rời khỏi nông trường mía, bắt xe đò, trốn về thành phố. Ở nông trường, bảo vệ đến khám phòng khi anh vừa rời đi. Không giết được anh, họ dàn dựng: khui từ gầm giường của anh lên một bao tiền lớn chụp hình đăng báo, kèm theo lệnh truy nã tội phạm… Anh ở nhờ nhà anh Nguyên, một đồng đội cũ, với một lí lịch mới, đóng vai em trai của Nguyên từ quê lên ôn thi đại học. Hồ sơ anh đứng tên là một câu chuyện đau buồn của anh Nguyên: đứa em đang học năm cuối phổ thông, theo bạn bè vượt biên đã bị chìm tàu mất tích ngoài biển. Tin đau buồn ấy, anh Nguyên giấu kín, cả ông bà cụ dưới quê cũng chưa được biết.

Ngày anh đi làm cho tổ hợp than tổ ong, tối tiếp tục ôn luyện thi vào đại học. Tạm thời anh mang tên Trung, Sáu Trung. Hi vọng, chẳng bao lâu nữa, đám buôn lậu kia bị tống vào tù, anh sẽ lấy lại hồ sơ của mình…

Từ đó, tôi luôn nhận được tin vui từ anh: đã thi được vào khoa Hoá Đại học tổng hợp; học xong năm thứ nhất, giỏi tuyệt đối, được học bổng; đã học xong năm 2, giỏi tuyệt đối; cái xưởng đúc than tổ ong đã được anh cơ giới hoá gần xong, chỉ cần bấm nút là đầu dây nhận được sản phẩm; anh đã vào học năm thứ ba, anh tính học thêm bằng kinh tế…

Chỉ cái tên anh vẫn là Sáu Trung và bè đảng đám buôn lậu kia vẫn chưa bị triệt hạ.

“Chắc anh sẽ được giữ lại trường. Nhưng anh muốn về một viện nghiên cứu nào đấy. Hoá học, nghiên cứu hoá học sẽ là con đường tương lai của nhà khoa học Đặng Minh Tuyến. Sẽ có một ngày tên anh nằm bên cạnh tên những nhà phát minh sáng chế danh giá nhất…”

Tôi tin anh làm được điều đó. Bao nhiêu người tài năng không bằng anh, nghị lực không bằng anh mà tôi gặp mấy năm qua, họ đã trở thành các phó giáo sư, giáo sư, nhà này, nhà nọ… thì sao một người như anh không làm được.

Tôi không thành một vị “tướng” như anh dự đoán.

Binh đoàn xây dựng quân đội có quyết định chuyển qua dân sự trở thành Liên hiệp xây lắp dầu khí. Tôi rời quân đội với quân hàm thượng uý trở thành một kĩ sư dân sự.

Chúng tôi liên lạc với nhau bằng điện thoại. Tôi cho anh số ở cơ quan, ngay phòng làm việc của tôi. Anh gọi cho tôi từ điện thoại công cộng, các trụ điện thoại dùng thẻ ngoài phố. Bẵng đi khá lâu không thấy anh gọi điện thoại. Cũng có thể anh gọi mà không gặp. Tôi đang rắc rối trong công việc, bị ông giám đốc đì, buổi chiều hằng ngày phải xuống công trường tham gia chỉ đạo trực tiếp thi công cụm kho dầu Tiền Cảng. Bị đì vì tôi với tư cách trưởng phòng kĩ thuật đã phản đối việc chạy theo tiến độ thi công để báo cáo thành tích, ông giám đốc đã cho san lấp cát sai quy trình ở công trình cảng, chưa nạo vét bùn xong đã ùn ùn đổ cát sẽ tạo nên những thấu kính bùn dưới nền móng công trình tương lai.

Anh đã gọi đến vào lúc tôi xuống công trường chăng?

Mơ hồ có chuyện không lành, lòng như lửa đốt, tôi bắt xe lên thành phố đến nhà người đồng đội cho anh ở nhờ.

“Anh Tuyến chết rồi em!”

Anh Nguyên thốt lên, rồi ôm mặt khóc.

Chị Ngân vợ anh cũng khóc: “Chú ấy dại dột quá. Sáng nhịn đói lên giảng đường. Trên đường về gặp đám cháy bên kênh Nhiêu Lộc, nghe tiếng trẻ con khóc kêu cứu, cứ thế chạy ào lên cầu thang. Nhà ấy cầu thang làm bằng gỗ, trần bằng gỗ đều đang cháy, khói lửa mù mịt. Người ta dân chống cháy, cứu hộ chuyên nghiệp, có áo chống cháy, có mặt nạ phòng độc, đi giày… còn không dám lên theo lối cầu thang. Chú Tuyến tìm được thằng bé, bế nó xuống, nhưng qua lầu 2 bị trần nhà đang cháy, rơi ập xuống đè luôn hai chú cháu. Trời ơi! Sao chú ấy dại thế!”

Anh Nguyên quát chị Ngân:

“Em im đi được không, đừng than bậy nữa! Nếu chú ấy ‘khôn’ thì cũng chẳng còn thằng này để làm chồng em, đã bị xích xe M113 nghiến tan thây bảy năm trước. Chú ấy ‘dại’ mới liều lao ra ngay trước cái thiết vận xa M113 đang vãi đạn 12 ly 7 như điên, kéo chồng em bị thương, nằm chết ngất một cục xuống hào… Chú ấy là một anh hùng! Một anh hùng!”

“Mộ anh ấy ở đâu?”

“Anh biết em là người thân duy nhất của Tuyến ở gần Sài Gòn mà không làm sao báo được. Anh đâu biết địa chỉ của em. Anh đã đưa chú ấy về an táng ở quê anh. Ngay trong phần mộ gia đình. Anh chôn cất chú ấy với tên em trai anh. Ngoài kia, chú ấy là liệt sĩ Đặng Minh Tuyến. Còn ở đây, chú ấy là em ruột của anh!”

*

Tôi rời khỏi nhà anh Nguyên, trời chiều đang mưa. Từ phòng khách tôi nhào thẳng ra đường bỏ luôn cả đôi giày da bên bậc cửa, cứ thế đội mưa mà đi. Cơn nấc hậc lên, tôi oà khóc, nước mắt trào ra trên hai má. Tôi khóc dưới mưa, nước mưa chảy tràn cùng nước mắt nên không ai nhận thấy. Hết đường Ung Văn Khiêm, tôi đi bộ dọc theo đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, theo Điện Biên Phủ về bến xe Văn Thánh… Người đi đường trố mắt nhìn một gã điên quần xanh, áo sơ mi trắng dính sát vào người, ướt như chuột lột, bước lầm lũi dưới mưa…

Phải, tôi đang điên, đầu tôi và ruột gan tôi như đang sôi cháy, hai mắt tôi như đang sôi cháy. Đôi chân trần của tôi cày qua sỏi lề đường bị cứa rách, chảy máu, tôi không hề biết… Hiện lên, trong tâm trí tê dại của tôi những cơn mưa mùa hè ở Chùa Nấp. Những cơn mưa sau mùa thu hoạch khoai, đỗ, lạc. Anh Tuyến thường là người đầu tiên hét vang lên khi mưa sầm sập tới: “Ra đồng, ra đồng nhận lộc trời nào!” Anh cởi trần, làn da rám nắng, mặc độc chiếc quần đùi chạy dưới mưa… Đám trẻ con chúng tôi như bầy vịt chạy theo sau, những đứa con trai lớn mặc quần đùi quăn vỏ đỗ, mấy đứa nhỏ hơn cởi truồng, mấy đứa con gái mặc nguyên quần áo. Đứa nào cũng mang theo đồ vật là cái thúng, cái rổ, cái mẹt, cái cạu, cái giỏ bắt cua… Những thửa ruộng sau mùa thu hoạch đã cày ải, đã bừa hay chưa bừa, đã bao lần chúng tôi quần qua quần lại mót những củ khoai, củ lạc rơi vãi, sót lại… tưởng không còn một mống. Nhưng bây giờ, dưới trận mưa đầu mùa, những báu vật vùi chôn hay bị đất che phủ bỗng lộ ra. Đó là quà của trời, lộc của trời. Chúng tôi tranh nhau nhặt… Anh Tuyến chạy trước, đá những củ khoai, búi lạc bung ra, cho chúng tôi nhặt. Nhà anh có hai mẹ con nên anh không cần mót thêm lộc của trời…

Chúng tôi băng qua Đồng Vường, Đồng Cao… rồi Đồng Ngô. Khi bọn trẻ các xóm khác kéo ra thì chúng tôi đã nhặt hết lộc trời. Chúng sẽ đứng từ xa nhìn chúng tôi khệ nệ bưng, xách thúng, rổ, giỏ… chiến lợi phẩm mà tiếc nuối, tự kiểm với nhau, cơn mưa mùa sau sẽ lao ra đồng sớm hơn. Nhưng rồi vẫn vậy, vì chúng không có một người anh như anh Tuyến dẫn dắt. Một người nhìn lên trời xanh, đoán biết cơn mưa đầu mùa sắp tới để hét to với chúng tôi: “Chuẩn bị nào, trời sắp mưa! Sắp mưa!” “Chuẩn bị nào, anh đã ngửi thấy mùi mưa rồi đấy!”

*

Rồi tôi rời khỏi công ty xây dựng dầu khí, làm việc cho một công ty nước ngoài. Mười năm sau, tôi cũng tự mở một công ty xây dựng cho riêng mình. Bạn bè tôi nhận các gói thầu nguồn vốn nhà nước giàu lên như diều gặp gió. Nhưng để chen chân được vào các gói thầu đó thì phải có quan hệ, phải biết điều và phải biết nhậu. Ngay yêu cầu đầu tiên, tôi đã bị loại từ vòng gửi xe, tôi không uống được, chỉ vài lon bia đã say. Công ty tôi chỉ nhận được những công trình của các nhà đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp, sau khi đấu giá trầy vi tróc vảy. Giá thi công trừ chi phí vật liệu, lương công nhân, thuế… cũng chẳng còn lại bao nhiêu. Xây dựng hàng trăm công trình, tôi cũng chỉ kiếm được ít tiền để lo chỗ an cư và nuôi sống gia đình.

Tôi là người thất bại trong mắt các cụ cao tuổi ở làng. Đôi khi họ nói nhỏ với nhau, vẫn đến tai tôi: “Thằng Chung được cái học giỏi, mà ra đời thì kém hơn mấy đứa bỏ ngang không bằng cấp!” Cụ trưởng họ chép miệng: “Tui nghiệm ra làng mình, mấy đứa học hành bài bản, lập nghiệp, không đứa nào thành công.”

Tôi luôn nhớ về anh Tuyến, đôi khi, trong giây phút nào đó, tôi đã thoáng nghĩ: cuộc đời tôi như vậy có lẽ vì tôi đã giẫm lên bước chân anh.

Nhưng ngay đấy, tôi mỉm cười. Tôi nghe như đâu đó từ không gian mông lung vọng lại tiếng sáo trúc của anh, tiếng sáo hồn tôi. Và, những cơn mưa đầu mùa trở về trong tâm trí tôi. Tiếng sấm vang động cả chân trời, lũ trẻ con chúng tôi ào chạy ra đồng trên đôi chân trần… Và những giọt mưa mát lành tưới ướt chúng tôi.

___

BAOVANNGHE.VN

Mưa tháng Bảy

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Những trận mưa bất chợt đổ xuống nơi tôi đang ở một cách hồn nhiên, mạnh mẽ và không dai dẳng như những trận mưa đổ xuống nơi quê hương tôi ngày nào còn trên đất mẹ.

Còn nhớ những ngày xa xăm ấy,

Mẹ tôi vẫn thường nói với tôi rằng ; ” Những cơn mưa đem nước về cho người nông dân khó nghèo, người trồng trọt đỡ công lo thiếu nước, giảm dịch bệnh cho muôn người..

.Nhưng cũng chính những cơn mưa dai dẳng ngày ấy …làm cho người tiểu thương buôn bán nhỏ như mẹ tôi sẽ bị ế ẩm, nguồn thu nhập giảm sút, những bữa cơm không còn tươm tất, chỉ có cá khô hay chút mắm kho cho bốn mẹ con tôi.

Những người đánh cá ven biển khó nghèo, là khách hàng thân thuộc của mẹ tôi, những quần áo rẻ tiền, những vuông khăn vải thô, những túi cói đơn sơ dùng cho người dân đi biển…

Khi cuộc sống đơn sơ của họ buồn lê thê vì biển xanh dậy sóng… ảnh hưởng cho mâm cơm nhà nghèo , là của mẹ con tôi…chỉ cá khô và mắm muối đan xen…

Ngày ấy đã xa rồi…bao thập kỷ đã đi qua trong cuộc đời của chúng tôi…

Người mẹ quê hiền lành chất phác …là mẹ tôi đã không còn…

Ba thiếu nữ ngày ấy…bây giờ cũng đã vượt qua những truông dài khó khổ…người nào cũng đã bước qua ngưỡng cửa ‘Thất thập” tất cả cũng chỉ còn là hoài niệm….

Đứa bé gái ngày nào…là tôi…Vẫn thường mơ ước có được một căn nhà tươm tất, có một chỗ đi về ấm cúng bên mái ấm gia đình…vun quén cho đám con thơ thành người hữu dụng…

Vượt qua bao khổ hận triền miên của một kiếp người cơ cực, đứa bé gái nhà quê ngày nào trên sân ga cũ…

Bằng tất cả nổ lực, chắt chiu từng chút thời gian mỗi ngày…rồi cũng có ngày thành tựu trong cuộc đời…

Bây giờ ở nơi này, trong căn nhà với những tiện nghi đủ đầy nơi đất Mỹ, thiên đường của muôn người khắp cùng thế giới..

.Tất cả cũng đã định vị trong chỗ của mỗi người…niềm mơ ười cả một đời cơ cực…đã qua rồi những tháng năm khó nghèo túng cực của tuổi thanh xuân và cũng đả qua rồi thân phận của một người đàn bà Việt Nam sống trong một gia đình không có tiếng nói chung , bên những hệ lụy gia đình bên cạnh một người chồng “gia trưởng, áo đặt và không thấu hiểu nhau…

Tất cả qua đi như một cơn ác mộng….

Bây giờ đây: Những ngày tuổi già bóng xế …Con người chịu thương, chịu khó …đứa bé gái nhà quê ngày nào…

Là tôi …đang sống bình thản, không chút âu lo vì miếng cơm manh áo, không bận tâm vì những lo toan về sự bình yên, quấy nhiễu của chính quyền, đâu đâu cũng dẫy đầy những chuẩn bị để đối phó…

Luôn phải có chút tiền trong mình để đối phó với những kẻ đại diện chính quyền, từ những nẻo đường ta sẽ đi qua, hay những lần vào bệnh viện vì ốm đau hay bất cứ nơi nào trên mảnh đất quê hương cũng canh cánh những đồng tiền cống nạp mưu cầu sự bình an cho bản thân và gia đình chưa kể phải đề phòng những bất trắc do những nhóm người xấu cướp bóc, hành hung nơi phố thị…

Cuộc sống nơi xứ sở này không phải lo toan những bận lòng canh cánh…ngược lại với đời sống nơi quê nhà, hít thở không khí tự do, sự bình đẳng của con người trên từng màu da, sắc tộc, ai muốn làm giàu, học hành, tiến thân cũng không phải là chuyện khó khăn như ở quê nhà, chỉ những kẻ lười biếng mới chọn con đường bế tắc mà thôi.

Ở nơi này…Mỗi người chỉ cần siêng năng, cần mẫn…ắt sẽ thành công…Và ở đó có tôi và các con đã đạt được điểm đến của sự cần mẫn ắt phải có.

Mỗi ngày… Tôi vẫn mãi nhìn lên trần nhà, đối diện với đêm đen và sự tĩnh lặng, bên tai như vọng lại âm thanh của từng giọt mưa tháng bảy…

Tí tách rơi vãi, âm thầm giữa muôn hoa, mong sao những giọt mưa tháng Bảy cuồng nộ, âm thầm mang đi những tai ương đang đổ xuống nhân loại, trong đó có gia đình tôi, bà con tôi, bạn bè tôi và những con người đang muốn mạnh mẽ bước tới những ngày tháng bình yên trước mặt.

Hạt mưa rơi tháng Bảy

Mưa vẫn rơi triền miên

Lá hoa cùng hòa quyện

Tâm hồn mãi bình yên

Trời cao bớt oan khiên

Cuộc sống sẽ an yên

Nhân loại gieo điều thiện

Tháng Bảy mưa triền miên …

Atlanta Tháng Bảy 2025

Nguyên Hạ_Lê Nguyễn

Mộc Miên

.

Đêm qua say khướt ngồi nghe phố

Trong tiếng lao xao, tưởng tiếng người

Hình như ta mới vừa rơi mất

Một dấu hôn buồn đăng đắng môi

.

Đêm qua say khướt phơi lòng nhớ

Giữa cuộc nhân gian chẳng thể bày

Tôi ném thời gian qua vũng lấp

Trên chuyến tàu khuya, chuyến lẻ đôi

.

Còn lại gì đâu trên ngón tay

Nâng ly chạm với phố khuya này

Hình như đi lạc còn chưa biết

Phố lạ bao giờ ai nhắc tôi

.

Còn lại gì đâu, sao khuya rơi

Rụng giữa nhân gian, một cõi người

Tôi tìm lời nguyện sao chưa thấy

Chỉ thấy mộ bia giữa mắt đời…!

Đinh Thị Thu Vân

tôi chẳng muốn trôi đâu, phía sông xa mờ mịt quá

làm sao mà quay lại một ngày đau

đừng đẩy đưa thêm – nhỡ rồi bạc lòng nhau

nhỡ phai mất mong manh, nhỡ nhạt nhòa sương khói

.

đừng đưa đẩy tôi về một phía nào lốc xoáy

đừng sóng tràn đừng gió ngã mưa nghiêng

tôi chẳng muốn trôi đâu – nhỡ mai thuyền lạc bến

muôn nẻo đời xa khuất dấu chân quen

.

muôn nẻo đời, có thể, một ngày quên

lòng tôi chẳng vẹn gìn, tim ráo lạnh

anh có thể, biết đâu, hồn úa quạnh

một hôm nào đáy mắt quá chông chênh

.

trời đang xanh, mình đang rất thương mình

đừng giông gió, thôi đừng xô giạt nữa

nếu như thế, nếu như thế, tôi thà tan, thà xóa

thà hư vô thà chết để đừng trôi

.

hãy dừng lại đời tôi ngay khoảnh khắc đắm say người

đừng trôi nữa, sông xa mờ mịt quá

đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ

mang phận buồm không gió để ra khơi

.

nếu rủ lòng thương, xin thượng đế bớt xa xôi

hãy nghiêng xuống, hãy dừng lại đời tôi, thôi đừng tan vỡ nữa.

Nguyễn Thị Liên Tâm

.

Mùa Thu dài như hơi thở của

những người đàn bà gánh nước giếng làng

Tiếng gàu khua chạm vào tầng gạch cũ

Ký ức trỗi về vông vang

.

Mắt ai chạm vào mắt ai

Con sẻ nhỏ hót lời ran ríu

Thật xa những ngày tháng cũ

Cỏ dại xanh ngăn ngắt bên đường

.

Chiếc gàu từng múc ánh trăng suông

Chiếc gàu đong tầng tầng ký ức

Anh bỏ em đi mất

Chiếc gàu lạc lỏng giữa miền trăng

.

Giếng làng năm xưa như trái chín sắp lìa cành

Không ai mang gàu kéo nước

Chỉ có bờ rêu xanh thật xanh!

Đợi những người đàn bà tóc đã già như cỏ xước!

Chín rơi

Mộc Miên

.

Chín rơi

Nắng đỏ cây già

Bàn chân lỡ bước

Mây xa phố gần

.

Ly rượu cũ

Thấm môi trần

Thuốc thơm nửa điếu

Buồn lưng nửa bầu

Không ai

.

Chia nửa chén sầu

Không ai

Ghế ố bạc màu cũng xưa

.

Ly rượu cũ

Suốt đời thừa

Thấm môi

Ướt dấu hôn vừa mới phai

Haiku mùa hè

Nguyễn Hoàng Anh Thư 

.

Trời nghiêng bên trái

bầy cò bay lặng lẽ

trên cánh đồng cỏ mọc xanh

.

Không gian vừa sạch

một tiếng chó sủa

mà rơi rơi tường vách

.

Trên mái đình làng

con chim làm tổ mới

bằng rơm mùa hè

.

Giếng nước nhà ngoại

ai vừa cúi rửa mặt

sương tràn như xưa

.

Gió mùa hè chạm vào

một cánh chuồn chuồn đậu

trên đỉnh chiêm bao

.

Mỗi sáng chuông ngân

con dế trong bếp nhỏ

ngừng hát một lần

.

Mùa hè mở ngỏ

tôi thấy mây cúi đầu

lạy hoa sứ nở

.

Chuông chùa xa xôi

vang qua dãy núi

chạm vào vành nôi

.

Dưới gốc măng cụt

con sóc chôn một hạt mùa hè

ở nhà

.

n.h.a.t

Mưa đâu nhỉ

Mộc Miên

Mưa đâu nhỉ

Nhân gian đẫm ướt

Đêm say chưa

mờ ảo đèn khuya

.

Những đốm lửa tàn hơi rồi lụi tắt

Buồn bay lên,

buồn tới tự bên kia?

Nhấp chén rượu

phố thưa đường vắng

Lời nhân gian

mưa nắng chừng phai

Mắt soi mói thấu chưa cùng sự thật

Ta ngoảnh đầu,

nhìn lại đã không ai!

.

Mưa đâu nhỉ?

Ta trở mình say khướt

Ả đàn bà theo cơn gió lang thang

Có bao giờ nhân gian ta tìm được

Hay chân tâm chỉ có ở vĩnh hằng

.

Đêm lảo đảo vẽ mình trong bức hoạ

Lời điểm trang nên đỏ chót bờ môi

Ta tìm mãi thấy gì từ phương ấy

Một mênh mông

trống rỗng đến ghê người…!

Ông Giáo Chín

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

Nhà ngoại tôi, nằm trên Quốc Lộ số I; cạnh cầu Tân An, thuộc thôn Huỳnh Kim, xã Nhơn Hòa quận An Nhơn Bình Định.

Nếu đi từ hướng Qui Nhơn lên chợ Gò Chàm, đi qua khỏi Tháp Bánh ít hơn nửa cây số, gặp xóm Gò Bắn là sắp đến nhà ngoại tôi, ba căn nhà ngói nằm liền nhau, bên kia là dòng sông Tân an .

Sau một thời gian rong chơi, đã đến thời điểm chúng tôi phải cắp sách đến trường. Mẹ tôi bàn tính với cậu mợ tôi: phải chuẩn bị cho chúng tôi đi học lúc đó tôi và hai anh họ tôi cùng xấp xỉ tuổi nhau nên đi đâu cũng đi cùng. Được biết ý định này tôi rất buồn vì sắp phải lìa xa những ngày thần tiên trên Biển Cát. Chúng tôi được gởi về nhà Ngoại tôi để theo học lớp vỡ lòng chuẩn bị cho chúng tôi vào trường công, niên khóa sắp tới. Ba anh em chúng tôi, sẽ theo học lớp vỡ lòng ở trường Ông Giáo Chín.

Ngôi nhà gạch đổ nát của Ngoại tôi, nay lại có thêm ba đứa trẻ nghịch phá leo trèo. Ngôi nhà cũ kỹ đổ nát; dấu tích của sự đập phá, loang lỗ. Theo lời kể lại ngày trước, ông cố Ngoại tôi là người bản xứ đầu tiên đứng ra hợp tác với người Pháp để kinh doanh về ngành dệt vải. Ngôi nhà này trước kia là một xưởng dệt vải ở vào thời Pháp thuộc. không ai ở miền này mà không biết đến Ông Thông Nhẫn.

Đến thời Việt Minh nắm chính quyền, họ cho đập phá để tránh bom đạn hai bên. Vì thế chỉ còn chừa lại một gian, dùng làm nơi thờ phượng, một dãy nhà ngang làm chỗ nghỉ ngơi và một nhà kho nay làm chuồng gà.

Ba anh em chúng tôi đột nhiên mất đi những ngày tháng chơi đùa tự do nơi vùng biển cát, giã từ những thân quen về sống nơi buồn bã này để đi học.

Mặc dù đã được mẹ tôi hứa hẹn: mỗi tuần sẽ về thăm chúng tôi với những quà bánh mà chúng tôi ưa thích.

Mẹ tôi còn sắm cho mấy bộ quần áo mới.

Nhưng vì là lần đầu tiên xa nhà, xa mẹ…lòng tôi buồn thao thiết…

Từ nay hằng đêm tôi không còn cái cảnh nằm ôm lưng mẹ, nghe mẹ tôi kể chuyện, tay mân mê vú mẹ…cho đến khi thiếp dần dần vào giấc ngủ thần tiên.

Nước mắt tôi lại tiếp tục chảy dài….khi mỗi lần ai nhắc đến tên mẹ .

Những ngày mới đến, mỗi sáng mỗi chiều, tôi cứ ra ngồi ở bậc tam cấp trước nhà ngoại mắt dõi nhìn những chiếc xe lam, những chuyến xe ô tô buýt đỏ chạy về hướng thị xã Qui Nhơn… tự nhiên nước mắt không biết từ đâu kéo về cho tôi kéo dài những cơn tức tưởi. Khóc mãi mà không thấy ai dỗ dành, tôi thường chui vào các xó cửa, khóc thầm một mình và thiếp đi lúc nào không hay biết. Đến bữa ăn, không thấy tôi, mọi người đi tìm kiếm, hễ vào các xó cửa là ngay chóc…

Hằng đêm ba chúng tôi ôm nhau ngủ trên nền gạch trước dãy nhà thờ. Đến bữa ăn dì Mai tôi, người con gái Út , thứ 14 của ngoại tôi, lúc đó dì khoảng 16 tuổi, dì phát cho mỗi đứa một tô cơm đã được chan nước cá kho, một khứa cá ngừ kho mặn hay nửa quả trứng vịt luộc, với tiêu chuẩn bằng nhau.

Thời gian này, chỉ cần có ai vô tình nhắc đên mẹ tôi là tức thì tôi bật khóc rất ư là thảm thiết và rất dai dằng vì thế tôi còn có thêm biệt danh là “con khóc dai”.

Hai anh họ tôi tuy cũng rất ưu phiền nhưng còn dũng cảm hơn tôi, thường chạy kiếm những trái ổi, trái khế, kiếm được đem đến cho tôi đỡ tủi thân vì còn được thấy có người quan tâm đến tôi.

Hằng ngày các anh tôi chuyền khắp các cây ổi,cây khế quanh vườn, nhặt nhạnh nhũng cây trái còn sót lại, còn nhiệm vụ của tôi là đứng dưới gốc cây đón lấy những phẩm vật thiên nhiên ban cho chúng tôi, lúc nào gói muôi ớt đỏ thắm cũng được tôi thủ sẵn trong túi áo.

Đó chính là những món ăn mà chúng tôi có được trong thời gian này.

Đến thời điểm chúng tôi phải đến trường, ngoại tôi coi được một ngày tương đối tốt…

Sáng sớm dì tôi gọi chúng tôi dậy sớm hơn mọi ngày; bảo chúng tôi đi rửa mặt. Dì thắt cho tôi hai cái bím tóc nhỏ xíu và thay cho tôi bộ áo có in hoa đỏ; dì phát cho chúng tôi mỗi đứa một cái bánh tráng dày để trên chiếc mâm đồng có sẵn một dĩa nước cá kho.

Ba anh em tôi ngồi chồm hổm trên nền gạch, chờ bánh dẻo, tôi dùng tay xé ra từng miếng nhỏ, đặt trên đùi gối cuộn tròn, chấm vào đĩa nước cá kho. Trong lúc ăn , chúng tôi cứ lén nhìn vào phần bánh của đứa kia, xem chừng phần của đứa nào mau hết trước.

Dì tôi đi trước, ba chúng tôi lẽo đẽo theo sau… lòng tôi buồn man mác.

Đi qua chiếc cầu nhỏ, băng qua khoảng mười đám ruộng thì gặp một đường rày xe lửa,chúng tôi leo lên cái dốc cao để qua bên kia đường rày, thêm vài chục thửa ruộng nữa… (những thửa ruộng quê tôi chỉ to bằng 5, 6 chiếc chiếu trải liền nhau, không giống với những mảnh ruộng của miền Nam mà sau này tôi đã được nhìn thấy).

Trước mắt chúng tôi lố nhố một đám người đang tắm gội và giặt giũ, bên một mương nước màu vàng đục.

Đó là Mương Ông Giáo Chín. Đứng chỗ mương nước chúng tôi có thể nhìn thấy một ngôi nhà gạch, mái lợp tranh, quét vôi trắng, viền chân tường màu xanh.

Một đám con nít hơn vài chục đứa đang chơi đùa rộn rã.

Dì tôi đưa chúng tôi vào gian đầu của ngôi nhà, giữa nhà kê một dãy bàn thờ, cái dọc cái ngang liền nhau, trước dãy bàn thờ kê một cái bàn phủ khăn nylon in hình hoa quả xanh đỏ, bên cánh trái bàn thờ có một phản gỗ, đen mun, bóng loáng.

Đây là nơi làm việc hằng ngày của thầy Giáo Chín, Thủ tục nhập môn của chúng tôi cũng chỉ ngắn gọn: Dì tôi chỉ cần nói rõ ý định Xin giúp chúng tôi học lớp vỡ lòng trước khi vào trường công.

Thầy xoa đầu chúng tôi một cách ân cần . Sau khi đã biết tên thường gọi của từng đứa. Tiễn dì tôi ra về, rồi đưa chúng tôi đi qua dãy nhà ngang, một cánh cửa bằng ván ép sơn đen ngăn lớp học với căn buồng này.

Một quang cảnh hỗn loạn hiện ra trước mắt tôi, một đám con nít lố nhố, xấp xỉ tuổi tôi, trai có, gái có… chúng đang ê a… với tập vở nhăn nheo trước mặt…

Tiếng hít mũi sồn sột, tiếng xì xèo to nhỏ… tạo thành một âm thanh hỗn loạn.

Sau khi tìm chỗ ngồi cho chúng tôi, thầy nhịp cây thước trên cánh cửa liên hồi, nhắc bọn trẻ giữ yên lặng.

Bàn học chúng tôi gồm hai tấm phản bằng gỗ xấu, loang lổ mực tím, mực xanh, mấy chiếc bảng gỗ đóng tạm bợ làm ghế ngồi cho lũ nhỏ học trò. Ngày đầu tiên thầy ghi cho chúng tôi mỗi đứa năm chữ đầu tiên của 24 chữ cái. Bỗng thầy hô to:

– Ra chơi.

Bọn học trò túa ra sân như đàn ong vỡ tổ.

Tôi ngồi nhìn mấy đứa con gái chơi nhảy dây, đánh thẻ… Hai anh tôi thì nhập cuộc nhanh hơn, họ theo đám con trai len lỏi vào các ngôi mả đá ong cạnh vườn nhà thầy tôi, tìm kiếm những trái hoang… Chim chim, dú dẻ và những trái sim, các loại trái mọc len vào các lùm cây hoang dại trên khắp các làng quê… trái chim chim có hình dài ,từng chùm dính lại như bàn chân của một con chim, khi chín có màu đỏ,còn trái dú dẻ thì có màu vàng như trái chuối chín và cũng từng chùm vài ba quả liền nhau, còn trái Sim thì màu tím sẫm và cả ba bên trong cũng nhiều hột lắm …

Đó chính là món quà không tốn kém của các trẻ em nơi thôn dã. chúng tôi phải tự cải thiện đời sống không quà bánh mỗi ngày, đối với những đứa trẻ cùng trang lứa tôi ngày ấy , thật là tội nghiệp… vì thế chúng tôi rất thèm ăn, và thèm tất cả mọi thứ…

Những ngày kế tiếp chúng tôi đã quen dần với lớp học và những khuôn mặt xung quanh. Đang mơ màng trước mấy chữ mới chưa thuộc bỗng nghe tiếng hô to của một trò cuối lớp:

– “Thằng Cu Ỉa Thả Bom!”

Cả đám con nít túa ra sân, đứa nào tay cũng bịt mũi chạy tứ tán. Một thằng bé còn lại nơi cuối lớp với nước da xanh tái, cặp mắt sâu hoắm, nó đang bẽn lẽn đứng nép vào cạnh bàn, nó chỉ mặc vỏn vẹn chiếc áo cánh nâu phủ gối, dưới chân nó đang có một đống lá chuối khô đầy nước vàng hôi thối.

Sau này tôi được biết nó có tên thằng “Cu ỉa”. Vì nó bị tiêu chảy nhiều ngày và không được chữa trị đúng mức nên thành mãn tính, thỉnh thoảng nó hay cho ra ngoài một cách tự nhiên. Vì thế nên nó không cần phải mặc quần khi đi học. Khi sự cố xảy ra sẽ có một đứa lập tức chạy về báo tin cho người nhà nó, mẹ nó đến thu dọn tàn cuộc, thay lại lớp lá chuối khô khác, bỏ thêm mớ tro lên nền nhà. Những lần như thế, chúng tôi lại được dịp chơi đùa thỏa thích, bọn trẻ túa ra mương nước tập bơi, tắm gội.đám con gái lại chơi nhảy dây, u mọi….

Thầy tôi không hề than phiền, thầy chậm rãi đến nằm sấp trên phản gỗ chấm bài, hay viết hộ những thư từ, hay thảo dùm những đơn từ thưa kiện của những người trong thôn xóm đến nhờ thầy giúp.

Thầy tôi rất vui vẻ, nụ cười hiền lành luôn nở trên môi. Thỉnh thoảng cũng có người đến biếu thầy con gà mái tơ, vài nải chuối hay một vài thứ hoa quả có được trong vườn nhà.

Thầy thường đặt hết lên bàn thờ, thắp nhang nghi ngút.

Ngược lại với thầy, đó là BÀ THẦY: chúng tôi gọi là bà thầy vì là vợ của thầy, bà rất ít cười, khuôn mặt bà ốm nhóc, choắt cheo, hai con mắt bé tí, nằm hai bên chiếc mũi ngắn, hầu như chỉ thấy hai cái lỗ sâu hoắm, miệng bà nhọn không có môi chỉ độc những răng, đưa cả ra ngoài, đại khái là bà không được đẹp, tính tình bà lại không hiền hòa như thầy tôi, bà luôn chỉ trích lũ học trò, đôi lúc còn mắng mỏ cả thầy tôi trước đám học trò nhỏ.

Sau này tôi mới hiểu và thông cảm cho nỗi bực tức của bà. Chỉ vì thầy tôi ra công dạy học mà không thấy thu về đồng học phí nào từ đám học trò.

Lúc bấy giờ làng tôi còn nghèo lắm, cuộc sống chỉ trông cậy vào số ruộng vườn rất ư là khiêm tốn. Mỗi ngày chạy cho đủ hai bữa ăn là quí lắm rồi, thậm chí một chén gạo, người dân làng tôi phải ghé độn năm ba chén mì, lang. Một chén mắm, trộn thêm vài chén muối hột để ăn dần. Việc học hành cũng chỉ là thứ yếu. Nếu thầy tôi đòi tiền học phí thì có lẽ họ sẽ dắt con về cho nó đi chăn bò, chăn vịt…

Bản chất thầy tôi rất nhân từ lại yêu nghề dạy học nên đã làm đúng câu: “Thi công, bất cần báo”. Vì thế mọi sinh hoạt trong gia đình chỉ nhờ vào một tay bà thầy gánh vác. Cứ giáp năm ngày đến phiên chợ Gò Chàm, bà đội trên đầu một mạng vải Ta, từ lúc trời còn tối mịt, đi bộ hơn 6, 7 cây số để kịp phiên chợ. Đến xế chiều mới chở về bằng xe ngựa, nếu ngày hôm đó bán được hàng và ngược lại.

Đó cũng chính là nguồn gốc của sự chì chiết… hằng ngày của người đàn bà gian khổ.

Thỉnh thoảng mẹ tôi về thăm tôi, với những quà bánh như đã hứa, ngủ lại với tôi một đêm.

Mẹ tôi giặt giũ cho chúng tôi, tắm, gội, kì cọ cho từng đứa, nấu những món ăn ngon.

Thời gian này thật là diễm tuyệt và ngắn ngủi đối với tôi.

Đêm đến mẹ kể cho tôi nghe biết bao nhiêu chuyện trong thời gian tôi vắng nhà.

Bao giờ tôi cũng hỏi mẹ về cha tôi… và tại sao cha tôi lâu trở về với chúng tôi như thế đó. Không sao giải thích cho tôi hiểu… mẹ tôi bảo rằng cha tôi cũng gần giống như Thầy Giáo Chín.

Cha tôi ngày xưa cũng dạy học trò trong thôn xóm, ở quê Nội tôi, cha tôi cũng giúp mọi người thưa kiện, cha tôi cũng cao cao, cũng đeo kính trắng. Cha tôi còn biết viết chữ Hán, cha tôi còn biết đọc chữ Tây, cha tôi còn viết chữ Quốc ngữ đẹp nhất làng….

Tôi thầm nhủ có lẽ cha tôi còn hơn hẳn cả thầy giáo Chín. Tư tưởng này tôi luôn dấu kín vì luôn là niềm hãnh diện trong tôi, mỗi khi nhìn thầy và tưởng tượng về cha tôi… tôi luôn mỉm cười…

Hằng ngày tôi ngồi cạnh đứa con trai của thầy, nó là đứa con “cầu tự” vì sau nhiều lần sinh đẻ không nuôi được, vợ chồng thầy đi cầu xin khắp các chùa chiền… sau đó sinh được thằng Tũn. Nó rất được nuông chiều, đứa con gái nhỏ ngồi cạnh tôi bên cánh trái là con Bẹp, nó nhỏ hơn anh nó vài tuổi, nó không như anh nó.

Thường trong giờ học, thằng Tũn thường chạy vào sau cối xay lúa để sờ vú mẹ nó và khi ngồi vào bàn học nó hay đút ngón tay cái vào mồm mút chùn chụt.

Nó thường đem đồ ăn vào lớp để ăn một mình trước sự thèm thuồng của chúng tôi

. Những buổi xế chiều nó thường ngủ dậy trễ, sau khi mẹ nó dỗ dành và phải cho nó nhiều thức ăn vặt nó mới chịu ngồi vào bàn học. Thường mẹ nó quấn tròn vào chiếc đũa một cục mật đã được thắng dẽo, cuộn tròn trên đầu đũa, nó điềm nhiên ngồi chậm rãi mút từng chút, một cách chậm chập và rất ư là thỏa mãn. Khi ăn nó không hề dám nhìn vào ai, có lẽ vì sợ chúng tôi xin xỏ.

Hằng ngày cứ phải chứng kiến cảnh nó ăn uống, càng ngày tôi lại càng thù ghét nó. Vì cứ mỗi lần nhìn nó chăm chỉ ăn uống, vị giác tôi tự nhiên hoạt động một cách rất ư là mãnh liệt, tôi cố quay đi chỗ khác và không thèm nhìn nó nhưng cổ tôi vẫn cứ ầm thầm hoạt động một cách vô tư.

Tôi cố chăm chú nhìn vào tập vở nhưng cổ họng tôi vẫn cứ nuốt vội từng cơn, cái cảm giác đè nén sự thèm ăn của một đứa bé thật là tội nghiệp (sau này đối với các con tôi, trong vấn đề quà bánh tôi rất chu đáo để tránh cho chúng cảm giác khó chịu này của tôi ngày xưa.)

Ngồi đối diện tôi là thằng Cu đen, nó lớn hơn tôi vài tuổi, nhà nó ở dưới chân cầu Nhỏ, nó cũng có hoàn cảnh giống như tôi, nó cũng không có cha.

Mẹ nó lại là bạn thân của mẹ tôi. Ngày mẹ tôi rời làng về Qui Nhơn sinh sống cũng có rủ mẹ nó cùng đi nhưng mẹ nó từ chối vì khi cha nó rời xa quê nhà, cha nó để lại cho mẹ con nó một căn nhà mái lá, vài công ruộng và một con trâu cái.

Hằng ngày mẹ nó làm ruộng, nuôi heo, gà, nó đi học một buổi, chiều nó giúp mẹ nó thả trâu ra đồng, Hai anh nó cũng đã đi học ở trường quận.

Cuộc sống gia đình nó tương đối ổn định. Có lẽ nó đã được theo học từ lâu nên nó học giỏi nhất lớp, nó khỏe mạnh và chững chạc hơn mấy đứa khác, da nó đen bóng, cặp mắt lúc nào cũng mở to khi nhìn và kẻ khác (có lẽ vì da nó đen bóng nên mọi người gọi nó là cu Đen).

Ngày tôi bắt đầu làm toán, thầy viết cho tôi mấy bài cộng trù, tôi đang lục tìm mấy que cà rem trong túi áo để đếm 1+1=?, thằng cu Đen đá vào chân tôi và giơ liền 2 ngón tay, và rất nhiều lần như thế nó đã giúp tôi giải nhanh đáp số hơn mấy đứa khác và tôi luôn được điểm cao.

Hằng ngày nó còn cung cấp nhiều món ăn kiếm từ trong vườn nhà nó, đặc biệt nó rất kín đáo, thường nó gói vài trái me để trong miếng lá chuối khô, củ khoai nướng sẵn gói trong miếng giấy nhật trình, chờ lúc không ai để ý nó đẩy nhẹ trước mặt tôi, lập tức tôi cho vào túi áo và từ từ ăn dần.

Cũng giống như tôi, nó cũng rất ghét thằng Tũn, khi tập viết thằng Tũn hay dùng bàn tay trái đậy hũ mực Con Gà của nó lại, có lẽ vì sợ chúng tôi chấm trộm. Thừa lúc thằng Tũn sơ ý, tức thì thằng cu Đen kéo nhẹ cuốn tập, làm đổ hũ mực thằng Tũn, vết mực loang đầy những điểm 9, điểm 10 của nó, thế là cậu quý tử chạy xuống mách mẹ nó. Bà thầy giận dữ chạy đến chỗ chúng tôi, không tiếc lời nhiếc móc:

– Đứa nào, đứa nào ??? tao bắt được, tao cho bay quì xơ mít ba ngày cho biết …

Hình phạt nặng nhất của Thầy tôi là bắt đứa có tội quì trên tấm xơ mít khô và quì ngoài nắng, .Chúng tôi thảy đều im lặng trong khoái chí. Thằng cu Đen vẫn thản nhiên và thường nó rất ít nói.

Một lần tôi học về ngang qua chỗ nó thả trâu, nhìn thấy con trâu con đang bú mẹ, tôi thích lắm, ngây ngô hỏi nó:

– Con đực hay con cái?

Nó trả lời cộc lốc:

– “Con nghé”.

– Sao có con nghé hả ??

– Mẹ nó đẻ .

Thường nó trả lời cộc lốc và rất ít lời nhưng tôi vẫn cho rằng nó là một người tốt bụng…

Ngày tháng cũng trôi nhanh, anh em chúng tôi đã học hết vần xuôi và vần ngược. Hằng ngay tôi đã biết đọc vanh vách cuốn Quốc Âm Giáo Khoa Thư bậc đồng ấu, tôi đang bắt đầu viết những bài tập làm văn. hai anh tôi thì rất ham chơi, chúng tôi tìm bắt những con chuồn chuồn to bự để chúng cắn vào rốn chúng tôi.

Sau gần một năm theo học ở đây, hai anh tôi đã biết bơi sấp, bơi ngữa, bơi chó… Riêng tôi, mặc dù đã cho chuồn chuồn cắn rốn nhiều lần, nhưng tôi cũng chỉ mới dám xăn quần lội xuống mương mỗi lần hai anh tôi tập bơi. Những lần đi học về hai anh tôi thường cùng bọn trẻ bờ lông nhông …xuống mương tập bơi, tôi cũng chỉ ngồi trên bờ giữ mớ quần áo và mấy cuốn tập nhàu nát. Nhưng lần nào cho chuồn chuồn cắn rốn tôi cũng hăng hái tình nguyện cho chúng cắn thỏa thích với hy vọng ngày trở về vùng biển mặn của tôi… tôi cũng sẽ biết bơi…

Vào một ngày cuối mùa hạ, mẹ tôi về thăm chúng tôi với hai con gà mái to và một ít quà bánh cùng chút tiền lệ phí để nhờ thầy làm giúp chúng tôi mấy tờ giấy khai sinh để chuẩn bị vào trường công. Từ trước đến nay, ba chị em chúng tôi vẫn được kêu là: Gái chị… gái em và gái út, bây giờ làm giấy khai sinh để đi học mẹ tôi cũng chưa hề nghĩ đến phải đặt tên cho chúng tôi thế nào?

Thường thầy tôi hay đặt tên dùm cho mọi người. Đến phiên chị em tôi, thầy đang nhìn ra đường ngẫm nghĩ? Chợt nhìn thấy bên cạnh cửa sổ nhà thầy, đang có một cây đào lộn hột ( loại trái chát có hột mọc ở đít trái) ở miền Nam người ta thường gọi là trái Điều, thầy bèn viết vào giấy của chị tôi là Thị Đào và mặc nhiên tôi sẽ là Thị Lê. Thầy vô cùng vừa ý vì đã chọn cho chúng tôi hai loại quả quý và thầy cũng cho em gái tôi một loại trái quý nữa là: Thị Hồng.

Ngày nay mỗi lần dùng đến cái “First Name” của tôi, tôi lại thầm cám ơn thầy giáo Chín. Tôi còn nhớ trong vườn nhà thầy cũng có cây Xoài, cây Mít, cây Lựu, cây Cam nhưng sao bỗng nhiên thầy lại chọn cho tôi cái tên nghe cũng rất êm tai. (Trong hãng tôi, cũng rất đông người Việt, thường tên chúng tôi người Mỹ họ kêu không quen nên thường đọc theo cách đọc của họ. Có một chị kia tên là Lưu, người Mỹ họ thường gọi chị là “Lu” dần dà họ thêm cho chị một cái “Lu” nữa, nay chết tên là “Lu Lu”. Cũng giống như chị, họ gọi tôi là “Li” có lẽ vì tên tôi quá đơn điệu nên họ cũng thêm cho tôi một cái “Li” nữa. Bây giờ tôi đã hoàn toàn trở thành “Li Li” nghe cũng rất Tây. Mỗi lần nghe họ gọi tên tôi trên máy rền vang khắp hãng, tôi lại thầm cám ơn thầy giáo Chín.

Ngày mai chính là ngày mẹ tôi sẽ về đón chúng tôi về Qui nhơn. Tôi dậy sớm hơn mọi bữa, chạy ra lu nước rửa mặt. Bỗng tôi nhìn thấy chiếc lồng chim nhỏ, đan bằng tre, bên trong có con sáo mỏ vàng, đang nhảy nhót bên trong. Chính con sáo mà hằng ngày vẫn tung tăng bên lưng trâu với thằng cu Đen. Tôi biết nó rất quý con sáo này, sao bỗng dưng hôm nay lại đem tặng tôi?

Buổi chiều anh em chúng tôi thu xếp để trở về thị xã, trở về ngôi nhà thân yêu của tôi sau một thời gian dài xa vắng… lòng tôi buồn vui lẫn lộn. Tôi tìm gặp nó để nói lời từ biệt…

– Mày dzìa dưới trước đi, má tao nói mai mốt nhà tao cũng xuống Qui nhơn, hai anh tao đã xuống học ở trường Cường Đễ…

– Nhớ xuống nghen, không có mày không ai binh tao, mấy đứa ở dưới hay ăn hiếp tao lắm..

– Biết rầu …

Ngồi trên xe ô tô buýt đỏ, tôi cố nhoài mình ra ngoài khi xe chạy trên chiếc cầu nhỏ. Thoáng thấy bóng thằng cu Đen đang ngồi trên lưng trâu, cặp mắt nó mở to nhìn theo chiếc xe. Tôi đưa bàn tay nhỏ xíu vẫy nó, hàng cây hai bên đường chạy giật lùi lại đằng sau trong bụi mờ. Tôi còn hình dung được bàn tay nhỏ đen thui của nó vẫy lại tôi thay lời giã biệt.

Thỉnh thoảng tôi có về thăm quê ngoại, mẹ tôi mua sẵn cân trà, gói mứt. Chúng tôi thường ghé thăm thầy, mỗi lần như thế tôi chợt thấy mắt thầy long lanh sau làn kính dày…

Ngày thầy tôi qua đời chúng tôi được tin chậm. Chiếc bàn trống phủ tấm khăn bàn in bông xanh đỏ nay đặt bài vị của thầy… Thằng Tũn được hoãn dịch vì lý do sức khỏe, kế nghiệp thầy dạy học trò trong thôn xóm, Con Bẹp, cũng đã lấy chồng xa…Chúng tôi không còn có dịp về lại ngôi trường cũ ngày nào nhưng trong tâm khảm chúng tôi vẫn nhớ hoài những ngày thần tiên ấy..

Trong đám học trò nhỏ của thầy Giáo Chín ngày ấy…Chỉ có tôi là yêu mến và kính trọng thầy nhất vì thế sau này tôi cũng được làm thầy…

Và trong số các học trò ngày ấy,tất cả đều cũng đã đạt được những thành tích đáng nể, ngày nay nếu còn Thầy,chắc thầy cũng sẽ mỉm cười mãn nguyện….

Tôi và… “áo dài ơi!”

Phạm thị Bích Quyên  

          Tôi là người mê áo dài từ thời còn đi học nên khi nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên gửi cho xem bản nhạc tôi đã đọc ngay. Và thật bất ngờ.

          Bất ngờ vì người đã tạo cảm xúc để nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên cảm tác thành nhạc phẩm “áo dài ơi”  là chị Elena,  một nhà văn người  Ý!

           Thế là tôi liền tìm đọc bài viết Áo Dài Việt Nam & Tà Áo Lụa Bay Trên Đất Ý nhà văn Elena Pucillo Truong (thực ra là một bài trả lời phỏng vấn của  báo song ngữ Ngày mới Sài Gòn) và được đăng lại trên trang A2A.net[1]. Các nhận xét của chị thật tinh tế, làm nổi bật những nét độc đáo của chiếc áo dài Việt Nam:

  • “Áo dài là trang phục truyền thống của Việt Nam. Từ chiếc áo dài trắng của các cô gái trẻ đi học – sự chuyển tiếp từ thời thơ ấu sang tuổi thiếu niên, cho đến chiếc áo dài màu đỏ trong các lễ cưới – đánh dấu sự khởi đầu của một gia đình.” .
  • “Trong các buổi lễ quan trọng hay tham dự một bữa tiệc, khi trên người có mặc áo dài, người phụ nữ nào cũng cảm thấy mình như một “bà hoàng”  Và chỉ cần một cơn gió là 2 tà áo múa may như trình diễn vũ khúc của ánh sáng với các tia phản chiếu.”
  • “Thoạt nhìn, trông Áo dài cũng tương tự như trang phục của các đất nước Á châu khác; thế nhưng, khi người mặc áo chuyển động, hai tà áo sẽ bay làm bước đi của người phụ nữ thanh thoát và uyển chuyển. đây là một trong những nét rất độc đáo của Áo dài Việt Nam.”

Ngạc nhiên pha lẫn chút tò mò, tôi còn tìm các bài viết khác và đọc được bài “Tà Áo Lụa Giữa  Những Cánh Sen[2]  mà chị Elena đã viết từ 13 năm trước (2012) :

  • Tôi cũng có chiếc áo dài đầu tiên của mình khi về Việt Nam lần đầu để tổ chức đám cưới vào năm 1985… Đó là kiểu áo, dù chỉ có một màu hay được thêu những hoa văn  tuyệt đẹp hay không, nó vẫn luôn lịch sự và quyến rũ.

            Biết chị đã theo chồng về sống ở Sài Gòn từ nhiều năm nay,  và trong các sinh hoạt văn hóa dù ở Việt Nam hay ở ra mắt sách ở Ý, chị đều mặc áo dài… tôi lại càng quý mến.

                                                *

     Tà áo dài bay trong gió luôn là niềm cảm hứng dạt dào cho người  nghệ sĩ nên tôi hiểu là nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên đã đồng cảm với bài viết của chị Elena nên đã cảm tác nhạc phẩm “áo dài ơi”.

          Có thể nói lời ca, giai điệu bài hát đẹp như một bức tranh hay một khúc phim ngắn nhìn qua lớp sương mờ. Lời nhạc dịu dàng, bay bướm mà khi ngân nga tôi như thấy tà áo đang lất phất bay trong “màu xanh đồng lúa”, “giữa phố phù hoa” hay lan ra “khắp miền thế giới..” còn “Em mân mê chiếc áo nàng dâu”… tạo  trong lòng tôi một chút bâng khuâng, một nỗi nhớ thương ngơ ngác, có pha chút ngậm ngùi về thời gian và sắc đẹp, hồi tưởng đến phút giây chia tay cái tuổi vô tư để hướng về cuộc đời mới.

          Toàn bộ ca từ như hòa quyện nhịp nhàng trong một giai điệu du dương, êm ái…!

      Sống trong một thành phố xô bồ, người người đông đúc ai cũng ăn mặc gọn, bước đi nhanh như chạy… một bài hát viết về chiếc áo dài thanh thoát với nhịp điệu chậm rãi thật là ý nghĩa và gây cho lòng tôi tràn đầy cảm xúc.

Chính vì thế, dù mình không phải là ca sĩ tôi vẫn muốn hát lên ca khúc này. Hát để mình nghe, để chia sẻ tình cảm với hai tác giả, nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên và nhà văn Elena Pucillo Truong và cũng để  bày tỏ tình yêu áo dài của mình.

 Tôi mạnh dạn xin phép nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên để hát, tuy trong lòng vẫn còn chút đắn đo, chỉ sợ mình thể hiện không đạt, “làm hư” ca khúc của tác giả.

Nhưng, thật bất ngờ! Sau khi dè dặt đưa lên FB liền có nhiều người nghe và bình luận khích lệ. Chắc chắn là nhờ giai điệu dễ thấm vào lòng người. Vả lại, bạn bè, người quen, ai là người Việt mà không mê áo dài?

Sự hài hoà của âm nhạc và hình ảnh minh họa trên video thanh thoát, có một thiếu nữ mặc áo dài e ấp như cũng phụ họa để tăng thêm sức quyến rũ…  tạo thêm cảm xúc cho người nghe. Vì có ai trong chúng ta mà không từng ngắm, từng mơ, từng nhớ một dáng áo dài, và có lẽ bài hát còn giúp chúng ta thấy cần khám phá thêm những nét mới… để  càng yêu thương chiếc áo dài.

 Vì áo dài đâu chỉ là trang phục mà còn là nét đẹp Việt Nam!

 Tôi rất vui khi có người đã bình luận là Bích Quyên trình bày duyên dáng, tiếng hát dịu dàng đằm thắm và gợi nhiều cảm xúc.

            Mới sau 3 ngày đã có hơn 2000 lượt nghe, nhiều đợt chia sẻ lại trên FB  và trên trang web chuyên về âm nhạc “Hợp Âm việt[3] cũng đã đăng lại.
           Tôi thật sự hạnh phúc và rất cảm ơn bạn bè và khán thính giả quý mến. Nhưng trước hết tôi xin cảm ơn nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên đã cảm tác một nhạc phẩm giá trị để tạo cho người nghe những cảm xúc thú vị.

     Trước nay đã có nhiều ca khúc rất hay về áo dài đã ra đời và tôi đã từng nghe … nhưng có lẽ bài hát này của nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên đã tạo cho tôi nhiều cảm xúc nhất.

PS:  Khi vừa viết xong đoản văn này, tôi tình cờ bắt gặp một trang viết trên FB của hội quán các bà mẹ[4] có một  trạng thái ngắn và có nhiều hình ảnh để nói về các sinh hoạt văn học của nhà văn Elena Pucillo Truong trên đất Ý: Hiếm có người thương Việt Nam đến vậy.Học tiếng Việt- Nói tiếng Việt- Mặc áo dài Việt- Đội nón lá Việt. Hẹn gặp nhau vào Ngày Quốc tế Tiếng Mẹ Đẻ: Tôi yêu tiếng nước tôi trong buổi giao lưu với chị Elena nhé!”

  Lòng tôi dâng lên một niềm thương mến. Xin cảm ơn chị Elena  và cảm ơn tình yêu cho quê hương thứ hai mà chị đã chọn sống.

Sài gòn tháng 4.2025

                                                                  Phạm Thị Bích Quyên

Nghe hát:    https://www.youtube.com/watch?v=PHPPpRb_Yn4

Nguồn:

   và    https://www.youtube.com/shorts/Kj4f8_sq2LY

https://www.youtube.com/watch?v=zoysRn8Re-M  Karaoke Tone nữ https://www.youtube.com/watch?v=QxvxKs3xcoU   Karaoke Tone nam

#aodaioi    #aodaioinguyenphuyen    #aodaioibichquyen    #aodaioiElena


[1]https://art2all.net/tho/truongvandan/elena_TaAoLuaBayTrenDatY.html?fbclid=IwZXh0bgNhZW0CMTAAAR7y2fEi_jWKlV4AF_wadBYmpxE6YT0PUeve3g7q2l1ptUpieO_CJDKZiASHdg_aem_5XEbE4c_cuU52zexUxqrQw  

[2] http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=4013%3Ata-ao-la-gia-nhng-canh-sen&catid=45%3Asangtac&Itemid=101&lang=vi&fbclid=IwZXh0bgNhZW0CMTAAAR6pbJZTH2VGdwXhvNi7rRglTI_GFxCRO15H-Cn-8g62-d1Z33VFKaprlsWXyg_aem_6iFPUK74BD0tFxSBXgGqGA

[3]https://hopamviet.vn/chord/song/ao-dai-oi/W8IUBWAW.html?fbclid=IwZXh0bgNhZW0CMTEAAR6gqj-jt-qusSXi39op0PoZqRvmvHjmntvtxkxuYrrpUEnYFnJfoFptztm3wg_aem_XaGbjpFxeYuj25N1EpyewQ

[4] https://www.facebook.com/story.php?story_fbid=945816401066043&id=100069130760424&rdid=MvTYZXQAnRj68Bfz#