Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Tiếng gáy

Ngô Đình Hải 

.

Chiều 28 Tết, thằng cháu dưới quê mang lên cho con gà nòi trống, đặng làm thịt cúng 30, đón ông bà. Nó cột 1 chưn bỏ phía sau nhà. Coi như xong, không ai quan tâm tới con gà nữa…

Sáng 29 Tết, hắn dậy sớm. Hồi này hắn hay mang mấy thứ không đâu vào giấc ngủ, chập chờn tới 3,4 giờ sáng là thức. Hắn bắc ấm nước, mở cửa nhìn ra sân sau. Con gà qua một đêm, như đã hồi sức lại sau một chuyến đi dài, đang nghiêng nghiêng cái đầu ngó hắn. Trời vừa ửng sáng. Hắn thảy cho nó nắm gạo, quay vô pha ly cà phê, thì nghe tiếng đập cánh, rồi tiếng gáy vang dội ngoài sân. Thằng cháu cũng lò mò dậy, tiếng còn ngái ngủ, nhưng vẫn không dấu được sự kinh ngạc:

– Ý!…Lạ nghen! Gáy nghe được quá chứ!

Hắn hỏi:

– Là sao?

Thằng cháu nói:

– Con này thua độ, con mua lại của trường gà! Bữa đó, con coi mình, coi chưn, coi vảy thấy ngon lành. Đem xổ với con dưới màu rõ ràng. Vậy mà thua một trận lãng nhách! Đau thấu bà cố luôn…

– Tao hỏi tiếng gáy kìa…

– Thì chắc nó cũng đau, nên thua trận đó về, tắt tiếng luôn! Giờ lên tới trên này nó gáy ngon lành, còn khí thế nữa chứ. Hay là nó biết mai phải chết, nên gáy từ giã!…

Con gà lại gáy, tiếng gáy không một chút e dè, như ngạo nghễ, như thách thức, như muốn lên tiếng về sự có mặt của mình…

Hắn lại hỏi:

– Mà sao thua?

– Cha chủ gà bán độ cậu ơi! Chả chơi chiêu. Ra trường đá thấy thiên hạ kết cái tướng gà, cáp 10 ăn 7, theo nhau nằm cửa trên. Chả ngầm bấm con gà muốn liệt, nhảy không nỗi, dính cựa liên tục. Chứ nó trên chưn, dễ gì thua! Tưởng nó bỏ gáy rồi…

Thằng cháu ngưng ngang, soạn đồ, pha thêm bình trà. Rót cho hắn một chung trước. Chậm rãi hớp một hớp cho thấm giọng rồi mới tiếp:

– Nghĩ mắc cười. Mấy con gà cũng lạ. Thấy mặt là nhào đầu vô đá nhau trối chết, tưởng tranh hùng tranh bá gì, ai dè chỉ để mua vui cho con người. Bị con người lợi dụng bày ra thành trò chơi, để móc túi nhau. Hồi xưa, ra đá, hai con gà như hai võ sĩ thượng đài. Quần nhau từng thế võ, tính toán, cân nhắc từng cái né, cái ra đòn, để thắng đối thủ. Con nào kém tài, chịu không nỗi, thua thì tơi tả chạy, cùng lắm là bị thương nằm bẹp, chứ khó chết lắm! Đá một trận, có khi ba, bốn hồi nhang, cả tiếng đồng hồ.

Thằng cháu rót trà tiếp, chép miệng, ngao ngán:

– Giờ đâu còn…Đá vậy lâu ăn lắm! Cũng bởi tính lợi, tính hại, vì đồng tiền mà ra. Chuốt cựa cho bén cũng xưa rồi. Con người mang cái ác trùm lên mình chúng. Họ gắn thêm cựa sắt, bén nhọn như con dao trong tay người. Hai con gà thản nhiên giết nhau mà không biết. Nhảy mấy cái, cựa đâm thấu tim, chết ngắc. Đá vậy mới mau ăn thua. Rồi cũng vì vậy mà sinh ra tráo trở, gian manh.

Cái thằng, bữa nay mắc chứng gì mà lý sự dữ. Hắn cười:

– Gà không biết nói, chỉ biết gáy, thì nó gáy! Còn hơn người biết nói, mà nói những lời khó nghe mới dị. Để nó đó, tao nuôi cho nó gáy chơi. Lát bây ra chợ, kiếm con khác về mần thịt thế…

Vậy là con gà được sống. Tiếng gáy đã thay đổi số phận của nó. Và rồi những ngày Tết sau đó, mỗi lần nó gáy lại như mang trả cho hắn hình ảnh của ruộng đồng, những ngày Xuân quây quần thời niên thiếu! Từng hình ảnh xưa cũ theo về. Hắn hồi hộp sờ tay lên áo, mường tượng mấy bao lì xì đỏ còn nằm yên trong túi. Hắn như nghe cười, tiếng nói của người đã khuất. Tiếng pháo râm ran, tiếng chúc tụng của người lớn như còn nguyên ở đâu đó. Tiếng reo hò, tiếng chân chạy theo nhau trên đường đê của đám bạn, xúng xính trong bộ quần áo mới. Hắn thấy gian bếp nhà đầy nhóc đồ ăn. Chơi tới chừng nào thấm mệt, chỉ cần chạy ào vô, là có khoanh bánh tét với dưa cải, hay tô cơm nguội, thịt kho hột vịt…

Ăn xong, lại bàn thờ ông Địa đốt cây nhang cầm tay, đi rảo chung quanh vườn, rình coi con gà trống nào đang hung hăng rượt đá mấy con khác, là hắn đốt tặng cho mấy viên pháo mót, nổ hoảng vía chơi…Nhiều, nhiều lắm! Mỗi lần con gà cất tiếng gáy là hắn lại nhớ tới một thứ, liên tu bất tận.

Hắn vui với tất cả những điều này…

Qua tới mùng 8 Tết, con gà không gáy nữa. Nó nằm yên, nhướng con mắt mệt mỏi nhìn hắn, khi hắn tới gần. Vết thương của trận chiến cũ đã không buông tha nó. Hắn bồng nó trên tay, vuốt ve đám lông trên lưng nó, rồi thầm thì:

– Cảm ơn mùa Xuân của mày…

NĐH

hình: internet

Có thể là hình ảnh về gà chọi

Read Full Post »

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Những ngày Tết ở nơi này qua nhanh trong lặng lẽ…Phong tục tập quán của mỗi dân tộc khác biệt.

Năm nay ngày mồng một Tết rơi vào ngày thứ tư…mọi người vẫn phải đi làm, các cháu tôi đều đi học…

Mấy ngày tết qua nhanh …Hôm nay đã là mồng Bốn Tết rồi sao…

Ô kìa…Chim hót ngoài hiên vắng

Tết đã qua rồi…ta nào hay

Xuân khứ, Xuân lai, hay xuân muộn

Vẫn cứ Xuân về…nhớ cố hương

Hôm nay đã là ngày mồng bốn Tết..

Ngày trước khi còn ở nhà mẹ..

.Sau ngày mồng ba, Mẹ tôi cúng đưa ông bà xong là cũng tiễn những người bà con xa về Qui Nhơn chơi Tết …Điểm dừng vẫn là nhà mẹ tôi.

Có lẽ nhà mẹ tôi là nhỏ nhất trong họ tộc nhưng lại tiếp đón chu đáo và bình dân nhất nên bà con ở quê ra là đến nhà chúng tôi ở lại vài ba ngày…

Ngày ấy gia đình tôi có bốn Mẹ Con., đều là phụ nữ ..vì thế theo thói quen chúng tôi thường nằm ôm quanh mẹ , để bảo vệ người hay vì phản xạ tụ nhiên .thói quen này kết thúc khi chị em tôi lớn dần…thành thiếu nữ …và tôi đi lấy chồng xa…

Khi chúng tôi mới bắt đầu lớn một chút Mẹ tôi cũng đã dạy bảo chúng tôi rằng : “Con gái con đứa phải ý tứ…Đi đâu cũng vậy, tới nhà ai mà hễ phải ngủ qua đêm là phải chun chính giữa mấy người đàn bà con gái mà ngủ “.Khi có khách là đàn bà con gái đến nhà … tất cả chủ khách đều ngủ chung với nhau dưới sàn nhà.

Ngày ấy tôi cũng chưa hiểu vì sao…phải làm vậy ??? nhưng Mẹ bảo thì cứ nghe lời…

Sau này khi lớn một chút nữa, khi sắp đi học xa nhà , Mẹ tôi lại dặn dò thêm ” Phải giữ gìn con nhé, đàn ông như cái gậy ăn mày, bảy tám mươi họ cũng có thể làm nhiều cái mà con không biết trước được…cứ biết vậy, sau này lớn lên …các con sẽ hiểu”

.

.Lời Mẹ dặn tôi vẫn ghi nhớ , nên ở đâu chị em tôi nhớ lời Mẹ dặn dò riết rồi thành thói quen, đi đâu và ở đâu chị em tôi cũng chun chính giữa mọi người mà ngủ cho chắc ăn…

Hàng đêm Mẹ tôi thường móc một cái mùng lớn giữa nhà sau khi đã lau sạch nhiều lần nền Xi măng của gian phòng khách, sau khi tấn chung quanh bắng những mền gối đề phòng muỗi mòng, cả nhà chun vô và đôi khi có vài người bà con ở quê ra cũng vào chung đó luôn…cho dù trong nhà cũng có đủ giường , phản…

Thói quen này đã theo tôi đến mãi những thời gian sau này…đôi khi tôi cứ nghĩ là tại mình chân quê quá chỉ thích nằm đất..

Dzẫy thâu…

Có lần đi theo một người bạn già đi hành hương ở một ngôi chùa xa , thuộc một vùng xa xôi trên đất Bắc, các người phương xa muốn ở lại một đêm để ngắm Hoàng Hôn trên đỉnh núi và Bình Minh nơi vắng vẻ…

Đêm đó nhà chùa cho chúng tôi ngủ ở dãy nhà khách trên những chiếc chiếu trãi trên nền gạch của nhà chùa, theo thói quen tôi cũng xin lau sạch sàn nhà và lăn vào giữa các bà ngủ ngon lành…

Sáng hôm sau ai cũng khen tôi là “ăn chay nằm đất ” tốt nhất là tôi, cho tới bây giờ tôi cũng chưa hiểu bốn chũ này cho tường tận. nhiều khi muốn hỏi ai đó cho tường tận, nhưng lại sợ người ta cho là mình dốt quá nên thôi, có những cái mà thực tế chưa hiểu tường tận lại cứ phải cho qua nên lòng cứ luôn ấm ức.

Dzẫy thâu…

Trong cuộc sống, có những cái ấm ức mà không có câu giải đáp, con người cứ phải che đậy mọi cái mà họ cho là không phù hợp với thời đại và thời gian…bẻ cong sự việc, trốn tránh, che dấu mọi cái, ví như ; ngày xưa nghèo khó bần hàn thì cũng không dám nhận mình thiếu ăn, thiếu mặc thuở hàn vi..

.Ngày xưa, tuổi thơ tôi không bao giờ có được một món đồ chơi nào cả, vì nhà nghèo chạy ăn từng bữa , tiền đâu mua những món đồ chơi mà tôi yêu thích… con búp bê trong giấc mơ ngày cũ.

Bây giờ, khi nhớ về tuổi thơ với ước muốn có một con búp bê để may áo cho nó…nhưng tuổi thơ đi qua mà tôi chưa hề có, sự thèm khát có một món đồ chơi đi vào trong tiềm thức…

Bây giờ..Có nhiều lần…đi quanh quẩn trong các cửa hàng , tôi vẫn rinh về nhà những con búp Bê của những ước mơ xưa cũ, ngắm nhìn mỗi ngày , bù sớt những tháng ngày bé thơ mà tôi hắng mơ ước..

.Liệu có làm vơi bớt những thiếu thốn của tuổi thời gian không ???

Khi tôi kể lại niềm mơ ước của mình cho một người bạn…người ấy bảo rằng đừng nhắc lại quá khứ nghèo hèn thiếu thốn xa xưa, hãy cho mình một dĩ vãng tốt đẹp, mọi người đều như thế..

.Được vậy…sao ta????

Dzẫy thâu…

Tôi vẫn thường suy gẫm chân lý của bạn tôi…

.Vậy suốt đời mình thích nằm đất.

Bây giờ bảo là mình thích gì đây???

Khó khăn quá với cuộc đời này .

Tôi phải làm vậy được sao ????

Bây giờ tuy sống trong những căn nhà mới đẹp đẽ nhưng ý thích nằm trên sàn nhà vẫn luôn có trong tôi, mà những ngôi nhà ở đây vì ở xứ lạnh nên phải phủ bằng lớp thảm dày để chống lạnh giá mùa Đông…

Tôi vẫn ao ước có một ngày rủ các con về nhà mẹ và cùng nhau nằm ngủ bên nhau dưới sàn nhà như ngày xưa chúng tôi đã bên nhau nơi nhà Ngoại

Mỗi lần nhớ về Mẹ tôi,

Đã có lần tôi tìm mua một chiếc chiếu, trãi trên lớp thảm dày, sau khi ngồi đọc sách mỏi mệt , tôi lại nằm lăn trên chiếc chiếu, lim dim hình dung lại những kỷ niệm ngày xưa của mấy mẹ con

Lòng bùi ngùi nhớ tiếc, thương nhớ vô cùng về những ngày tháng cũ….và ngẫm lại những lời Mẹ dặn quả không sai :

Ngày đó …mẹ tôi còn dạy bảo chị em chúng tôi nhiều thứ lắm, khi nghe chúng tôi cứ nghe cho qua chuyện mà thôi, sau này khi đụng chuyện, ngẫm lại mới thấy lời Mẹ nói quả không sai,

Mẹ tôi không được học hành chi mấy, chỉ biết đọc biết viết thôi nhưng sao người có những hiểu biết mà bây giờ ngẫm lại tôi thấy quá tuyệt vời mà tôi không ngờ tới.

Giờ đây một mình giữa những con người khác màu da và chủng tộc, ngôn ngữ dị biệt, hàng ngày đối đáp với họ bao nhiêu là sự dị biệt về tập quán và cách sống…

Đôi lúc tôi chỉ ao ước có một ngày được trở lại căn nhà cũ, mấy chị em lại được chun vào chiếc mùng cũ kỹ ngày nào, lăn mình trên sàn gạch mát lạnh, hít thở cái ấm nồng của tình gia đình, tình quê hương, ăn những món mà mình ưa thích, nằm ngủ trên sàn gạch nhà mình thỏa thuê và mát rượi ..

Biết đến bao giờ…

Tôi lại được lăn mình trên sàn gạch ngôi nhà cũ của mẹ tôi.

Bao năm ly xứ thân dầu dãi….

Gót mòn, gối rã, cánh tay buông

Mong ngày trở lại ngôi nhà cũ

Một chút hương xưa, Chỉ ngậm ngùi…

Atlanta Mồng Bốn Tết( Xuân Ất Tỵ)

Nguyên Hạ_Lê Nguyễn.

Read Full Post »

Món ngon ngày Tết của Mẹ

Đinh Lê Vũ

Những ngày Tết của tuổi thơ tôi, gian bếp nhà tôi như một phân xưởng nhỏ, rộn ràng. Hồi đó, gia đình tôi gồm ba mẹ và tôi sống chung với ông bà ngoại cùng với dì trong căn nhà cấp bốn lợp tôn, trần la-phông ván ép, chung quanh rợp bóng cây xanh. Gian bếp nhỏ ở tít phía sau của gian nhà bên cạnh phòng khách và khu sinh hoạt, phía trước là căn phòng rộng hơn để đặt bàn ăn và cái phản gỗ. Bình thường nó cũng chỉ là gian bếp nhỏ với hai cái lò đất nấu củi bám đầy tro, mấy ngày trước Tết thì nở ra thêm mấy cái bếp dầu, thau chậu, dao thớt và đủ thứ hầm bà lằng, giăng ra cả cái bàn ăn dài và cái phản gỗ đặt bên ngoài, ở đó, bà ngoại, mẹ tôi và dì cùng ngồi xúm xít. Thường thì khoảng hai tuần trước Tết, vào những chiều tan tầm hoặc thứ bảy, chủ nhật, khi mẹ không phải đi làm và dì không đi học là lúc gian bếp mới bắt đầu nhộn nhịp. Sự nhộn nhịp này thường kéo dài đến tận chín, mười giờ đêm, khi mọi người đã mệt lử. Những ngày đó, trời sập tối khá nhanh, chưa tới sáu giờ thì bên ngoài đã tối om nhưng trong gian bếp, ánh sáng vẫn tưng bừng bởi mấy ngọn đèn tube dài ba tôi cặm cụi bắt thêm những ngày trước đó. Mẹ tôi cùng bà ngoại và hai dì lúc thì gọt gừng, xắt dừa thành lát mỏng để làm mứt, lúc thì đánh trứng đổ bánh thuẫn, sấy bánh đậu xanh, bánh nếp vừa in xong trên cái lò than nóng rực, đỏ hồng, lúc thì quây quần lau lá, hong lá để gói bánh… Gian bếp lúc nào cũng sực nức mùi thơm, mùi đường, mùi va-ni ngọt lịm, mùa gia vị cay nồng, mùi đồ ăn chế biến thơm đến nước bọt cứ tự nhiên ứa ra, không nín được…

Món Tết của mẹ mà tôi nhớ nhất là các loại mứt và bánh ngọt. Hồi tôi còn nhỏ, những món đồ ngọt như là thiên đường, chỉ cần nghĩ tới thôi, hoặc tệ hơn, nghe mùi thơm thơm, ngọt ngọt tỏa ra từ gian bếp, là tôi đã đứng ngồi không yên. Những ngày đó, tôi không dám chạy ra ngoài lang thang, hoặc qua nhà hàng xóm chơi với mấy đứa nhỏ quanh xóm như thường lệ, chỉ lẩn quẩn quanh gian bếp, chỉ sợ bỏ lỡ mất một miếng mứt sên cháy hoặc mẩu bánh vụn sứt sỉa khi mẹ ngẩng lên cho thì tiếc không ngủ được. Mấy miếng mứt sem sém cháy đó, lớp đường bám dưới đáy nồi, hoặc mấy mẩu bánh bể, đối với tôi, ngon hơn mọi thứ trên đời. Thời khốn khó, những món ngon, đẹp, thường được để dành lại để đãi khách ngày Tết đến thăm nhà. Nhưng rồi, Tết đến, khách đến chơi dùng cũng không bao nhiêu, chỉ những đứa nhỏ như chúng tôi là hưởng trọn…

Thời gian sau này, ông bà ngoại già yếu, rồi qua đời, dì tôi cũng lấy chồng ra riêng, gian bếp nhỏ dần dần trở nên thưa thớt, đìu hiu. Mẹ tôi có lần tâm sự: món Tết của bà ngoại mà mẹ nhớ nhất không phải là các loại bánh, mứt, mà là trưỡi, món đồ nhấm chua của người Hội An, tương tự món tré của người Huế. Gia đình ông ngoại hồi xưa, trên mâm cúng Tất niên ngày ba mươi Tết, luôn luôn có cái đầu heo luộc. Cái đầu heo trong mâm cúng Tất niên là cách người xưa long trọng tạ ơn đất trời cho một năm đã qua xuôi chèo mát mái, mọi thứ hanh thông, thuận lợi, và để cầu mong năm mới mạnh khỏe, bình an. Nhà nào cũng vậy, bất luận giàu nghèo, trên mâm cúng tất niên cũng ráng có cái đầu heo lẫm liệt, uy nghi. Nhưng ba mươi Tết, nhà nào đồ ăn cũng ê hề, nên cái đầu heo luộc cúng xong, thường không có ai đủ sức động đến. Để giữ món thịt heo đầu lai lai suốt mấy ngày Tết, vào cái thời mà tủ lạnh đang còn hiếm hoi, xa xỉ, người miền Trung chế ra món trưởi, hoặc tré.

Món trưởi của ngoại tôi được làm như sau: Cái đầu heo, sau khi hạ mâm cúng xuống, bà ngoại, mẹ tôi, cùng dì cùng ngồi lại xả thịt, xắt thành những lát thật mỏng. (Không như món tré ở Huế, ngoại tôi xắt đầu heo thành sợi mảnh để gói trưởi, chứ không xắt lát.) Sau đó, ướp thịt heo đầu đã xắt mỏng với nước mắm nướng, với củ riềng, tỏi giã nát hoặc xắt sợi thật mảnh, thêm bột thính gạo vô trộn đều, rồi dùng lá gói chặt thành những gói nhỏ vừa ăn. Lớp lá gói có nhiều lớp, lớp trong cùng là lá vông, hoặc lá ổi già, lớp bên ngoài là lá chuối. Để trong tủ bếp, hoặc cột thành chùm treo lên trong bếp, chừng hai, ba ngày thì trưởi bắt đầu chua chua, ăn với cơm, hoặc trộn với củ kiệu ngâm giấm, rắc ít đậu phụng rang làm món nhấm uống rượu, hao mồi kinh khủng.

Món trưởi, đôi khi không cần chờ đến hai, ba ngày, gói xong ăn liền cũng thấy ngon.

Nước mắm nướng để gói trưởi là nước mắm nguyên chất rót ra cái dĩa nhỏ, cho vào ít tiêu giã hoặc tiêu hạt tươi, đặt trực tiếp lên bếp lửa, để lửa riu riu cho đến khi nào nước mắm sôi lên, keo đặc lại thì được. Nước mắm nướng sẽ làm cho món trưởi thơm hơn, lại không quá ướt, có thể giữ hàng tuần lễ hoặc mười ngày sau, mùi vị vẫn hấp dẫn.

Sau này, khi ngoại không còn, thỉnh thoảng nhớ ngoại, mẹ tôi thường mua thịt heo đầu về, làm trưởi cho cả nhà cùng ăn. Nhưng lần nào mẹ cũng rơm rớm than thở, rằng sao mẹ làm đúng y công thức của ngoại mà không bao giờ có được đúng vị ngon của món trưởi ngoại làm ngày xưa.

Cũng là cách để luôn có thịt heo luộc ngon ăn cơm hoặc cuốn với bánh tráng, rau sống trong những ngày Tểt, mẹ vợ tôi hay làm món thịt heo ngâm mắm để dành. Một tuần lễ trước Tết, bà đi chợ, lựa mấy miếng thịt mông thiệt ngon, phần nạc và mỡ đều nhau, về làm món thịt ngâm mắm. Thịt heo ngâm nước muối rửa sạch, cắt thành từng miếng, mỗi miếng chừng vài lạng, rồi luộc chin, để ráo. Nấu sôi nước mắm pha loãng, cho vô ít đường vừa ăn cho dịu bớt vị mặn, rồi để nguội. Khi nước mắm nguội, bà xếp thịt đã luộc, từng lớp vào trong một cái bình thủy tinh lớn, rồi dùng nan tre, lèn chặt cho miếng thịt nằm xuống dưới, sau đó, rót nước mắm đã đun sôi để nguội lên, sao cho miếng thịt ngập sâu trong nước mắm là được. Xong rồi đậy kín. Chỉ vậy thôi mà mấy ngày Tết, mỗi khi ra nhà ba mẹ vợ dùng bữa, lúc nào chúng tôi cũng thưởng thức được món thịt heo luộc ngon tuyệt cú mèo. Vị thịt heo ngâm mắm có hơi mặn hơn một tí, để lâu thì có vị lên men chua chua, vị chua làm miếng thịt thơm ngon một cách rất đặc biệt, mà những miếng thịt heo, khi được chế biến theo kiểu khác, không thể nào có được.

Rồi mẹ vợ tôi cũng qua đời, để lại một ký ức choáng ngợp và nỗi nhớ thương mênh mông, da diết về những bữa cơm ngày Tết sum vầy.

Từ khi mẹ vợ chẳng may qua đời do lâm trọng bệnh, Tết năm nào vợ tôi cũng làm món thịt ngâm mắm. Để đặt trên mâm cơm cúng mẹ, để nhớ hương vị Tết những ngày còn có mẹ.

Nhưng cũng như mẹ tôi, vợ tôi không làm lại được hương vị món thịt ngâm mắm của mẹ vợ ngày xưa…

Mới biết, một món ngon, không chỉ là nguyên liệu, và công thức pha chế. Nó còn là ký ức, là những phút giây hạnh phúc chúng ta từng có với người mình yêu thương, là kỷ niệm của mẹ tôi về những ngày còn có ông ngoại bà ngoại, còn có dì xúm xít dưới một mái nhà, là nụ cười hiền lành, vẻ tất bật đôn hậu của mẹ vợ bước ra từ gian bếp ám khói mỗi lần chúng tôi về thăm bà, là tiếng bà làu bàu trả lời khi vợ tôi gọi: mẹ ơi.

Tiếng gọi đó, bây giờ và mãi sau này, sẽ không còn được hồi đáp.

Thời gian cứ trôi đi.

Đời sống luôn đối xử tàn nhẫn, với mỗi chúng ta.

Cho nên, sau này, dù có muốn gom hết cả giang sơn, gom hết phồn hoa phú quý, đủ các món ngon vật lạ trên đời, chúng ta cũng không bao giờ đổi lại được, một ngày còn mẹ.

ĐINH LÊ VŨ

Read Full Post »

Trốn chạy tình yêu

Trương Văn Dân

                                 

        …     

– Vậy bây giờ em phải bù lại quãng thời gian mà em đã làm mình xa nhau mất mấy tuần nay.

– Em mong chờ mà cũng rất sợ tình yêu.

– Không phải tình yêu làm ta đau, mà ta đau vì không có tình yêu. Ta đau vì cảm thấy cô đơn, và sợ hãi là cô đơn sẽ còn kéo dài, mãi mãi. Ta đau vì không được ai lắng nghe, không được ai thấu hiểu. Ta đau vì sợ mất một người mà người ấy không hề sợ mất ta.

          Ta sẽ rất đau khi không có tình yêu, như kẻ đi tìm nắng mà chỉ thấy cơn mưa, con đường trơn trợt mà không có gì bám víu, phải tự dò dẫm, một mình gượng gạo bước đi, cảm thấy bản thân mình chẳng có gì hấp dẫn hay đặc biệt. Và sợ nhất là mình không hề quan trọng cho ai.

– Anh nói đúng. Nhưng lúc ấy thì..

– Thì sao?

– Hạnh phúc bất ngờ và choáng ngợp quá đến độ em không tin được cảm xúc của bản thân luôn đó anh à. Đó là lý do em sợ hãi và tìm cách chạy trốn.

Cảm xúc ghê gớm thật. Em nhủ lòng là sẽ không gặp lại một lần nào nữa. Nhưng về đến nhà thì em nhớ anh quay quắt. Rồi đấu tranh. Rồi quyết tâm. Và cuối cùng là.. đầu hàng!

– Anh hờn suốt thời gian em về lại Pleiku đó..

– Em biết anh buồn chứ! Nhưng em cũng có vui đâu! Em phải cần một thời gian để suy nghĩ về sự trốn chạy của mình. Em không muốn anh hiểu nhiều về em. Em sợ lắm, anh biết không? Tất nhiên, được ai đó hiểu mình là điều quý giá, nhưng đồng thời cũng có sự sụp đổ của những thứ hàng rào che chắn, mất hết mọi khả năng đề kháng, phải đầu hàng và giao trọn cuộc đời cho ai đó. Lúc  đó thú thật là em chưa sẵn sàng. Lúc đó em vẫn còn muốn  sống như những người bình thường, nghĩa là muốn che dấu khuôn mặt thật, muốn mang chiếc mặt nạ mà ai nấy trong xã hội đều cần, mất còn có khả năng nói dối.

Có thể em là người lạ lạ, nhưng em tin có nhiều người không hiểu giá trị của vòng ôm, của nụ hôn. Họ không hiểu là sự im lặng có thể nói  được nhiều điều vì tâm hồn đã hoà nhập với một người nào đó.

          Suốt cả tháng em như kẻ bị thần Cupid bắn phải mũi tên, như kẻ bị nhiễm độc tố của tình yêu,  vật vã, khổ sở và cần phải gặp anh ngay để xin thuốc giải. Không thì chết mất.

– Chỉ có mình mới giải cứu được cho nhau!

– Anh sẽ không biết được cảm xúc của em khi lần đầu mình hôn nhau đâu.

–  Anh cảm được, nhưng em nói đi.

– Không! Mắc cỡ lắm! Anh chỉ cần biết em hạnh phúc thật nhiều khi được yêu thương anh.

Bây giờ thì em có anh và dù em có ngốc nghếch làm ta xa nhau một thời gian nên em biết là trong nỗi nhớ anh thì cái khoảng cách kia mỗi ngày được xích lại gần qua những tin  nhắn đầy yêu thương.

– Anh cũng đang khắc khoải từng giây từng phút đợi em về bù đắp cho anh đây.

– Mình sẽ bù cho nhau 10 lần nhiều hơn!

 Họ hôn nhau dịu dàng. “Anh có nghĩ rằng 2 mình là đôi tình nhân đáng yêu nhất thế gian không? Em nghĩ rằng chẳng có ai nói chuyện giống 2 mình mô.

– Khi người ta cùng cười với nhau thì khó xa nhau lắm!

– Đúng vậy đó, anh à. Không ai xa được người cho ta niềm vui.

–  Anh không biết cảm giác của em hồi mới gặp anh đâu. Anh thú vị lắm. Chưa nói là lạ lẫm đối với em. Anh đưa em từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Sao nói hết được chứ. Mọi thứ từ anh đều mới mẻ, em bị anh cuốn như nam châm, không cưỡng lại được.

– Cưỡng gì, trốn mất tiêu thì có!

– Em xin lỗi anh! Chạy mà có trốn được đâu! Em chạy xa nhưng lúc nào cũng khao khát được ở bên anh. Anh có biết là anh đã quá thân thiết với em không? Anh như một nửa của em. Trốn về Pleiku 4 tuần mà cứ nhớ nụ hôn đầu. Càng cố quên, càng nhớ nhiều. Em thấy mình đang đánh mất một điều gì quý báu nên sau đó cứ suy nghĩ là sẽ về sớm với anh thôi! Em không thể bắt anh chờ khi trái tim em muốn dâng hiến tình yêu cho anh. Anh có biết như rứa là tội cho lòng em lắm không!

– Ui ghét ! ly cà phê thơm ngon, cuối cùng chỉ đọng lại giọt đắng! Ghét thiệt chứ!

– Thôi đừng ghét em nữa nha anh. Bây giờ anh chỉ nên yêu em thêm. Vì em sẽ nói thầm cho anh nghe về tình yêu em dành cho anh. Em nhớ anh da diết như thế nào.

– Không chịu đâu! Lát nữa anh sẽ đưa em ra biển và hét giữa ngàn khơi… Anh yêu em, Anh yêu em… hét thật to để sóng và gió mang tình yêu cua anh ra khắp bốn phương, để mọi người đều hiểu thế nào là tình yêu lớn ở cõi trần.

– Khi xa nhau em mới nhận ra rằng em đã yêu anh rất nhiều. Một buổi tối, ở cách xa nhau, em thường ngồi một mình trên chiếc ghế xích đu trên hiên nhà. Lúc đó hơi ẩm vì trước đấy có mưa to và buốt lạnh, nhưng khi mây đen đã tản đi và em nhìn xuyên qua mây về phía những ngôi sao, tự hỏi liệu có phải mình đã quyết định chạy trốn anh là đúng, hay sai? Đã nhiều ngày em khổ sở với câu hỏi đó – và tối đó còn khổ sở hơn – nhưng cuối cùng, em biết mình sẽ không bao giờ tha thứ cho bản thân nếu để mất anh.

Lúc mới gặp, một khởi đầu bình thường, và mọi chuyện hẳn sẽ bị lãng quên nếu đấy  không phải là anh. Vì sau khi nói chuyện với anh em linh cảm rằng đó là người mà em có dành cả phần đời còn lại để kiếm tìm cũng không bao giờ thấy nữa.

Vì anh là một người đem lại cảm giác dễ chịu và tin yêu cho một người phụ nữ như em.

Chỉ  mới  tiếp xúc mà anh đã có thể hiểu em sâu sắc và em có thể tin tưởng để trải lòng cùng anh. Anh giống như món quà vô giá mà Thượng đế đã ưu ái mang đến cho em vậy.

– Tình yêu có cách cảm nhận riêng của nó. Có những điều chỉ dùng đến con tim để nghe và nói. Vì nhiều khi  ngôn ngữ bằng lời  không phù hợp.

          Thuý nghiêng đầu vào vai Trung.

– Ở Pleiku em rất nhớ cảm giác được ngã đầu vào ngực anh như thế này nè. Anh cực kỳ lãng mạn. Cực kỳ đáng yêu! Em không biết phải nói như thế nào cho anh hiểu cảm giác của em, cái cảm giác khó chịu, mất mát. Như là đau ở đâu đó trong cơ thể mà em không biết là chỗ nào, ở đâu. Khi đó em mới hiểu là lần gặp gỡ ấy quan trọng với em biết nhường nào. Nó cho em biết là em không thể thiếu anh được. Em chỉ cần bên anh  Chỉ chừng đó thôi Trái tim em cần anh. Khi không có anh em  như chỉ có một nửa, không nguyên vẹn.

– Anh hôn vào trái tim em nè! Tình yêu của em là sức mạnh để anh tin yêu cuộc đời.

– Bây giờ em biết, cảm nhận được nỗi đau của nó, không có anh trái tim em chết mất!

– Em làm anh cảm động. Trong quãng đời lạnh giá này mình sẽ luôn sưởi ấm cho nhau, em nhé. Trong đời không dễ gặp được người để yêu thương nhiều như vậy đâu. Khó vô cùng

– Từ nay và mãi mãi về sau em sẽ không ao ước hay hối tiếc điều gì vì em đã có anh để yêu thương. Em tin là mình sẽ hạnh phúc cũng nhau. Sẽ không có ai có thể chia cắt tình yêu này được. Trừ cái chết!

-Em đừng nói đến chết nha em!

–  Dạ! Từ nay em sẽ không để lạc mất anh nữa đâu!

– Anh muốn ôm và giữ em thật chặt. Em đừng xa anh nữa nhé. Điều quý nhất mà ta có thể nhận được từ người mình yêu là thời gian. Không phải là lời nói, không phải  là vàng bạc hay tặng vật. Chỉ là thời gian được ở bên nhau. Vì thời gian là thứ duy nhất không thể quay lại và khi ta trao cho nhau thì nó mãi mãi là của mình, không quan trọng nếu chỉ là một giờ hay cả một đời.

          Dĩ nhiên là bây giờ chúng ta muốn gặp nhau mỗi ngày là không thể được nhưng mình sẽ cố gắng thu xếp nhé.

Đêm đó đánh dấu một bước ngoặc trong cuộc đời của cả hai người.

… 

 Sài gòn 11-2022       ( trích tiểu thuyết Lỗi Định Mệnh, sắp xuất bản)

Read Full Post »

Ngô Đình Hải 

(Tranh Đinh Trường Chinh)

Có thằng đệ, trước đi phụ xe tải cho hắn. Anh em no đói có nhau. Thân không vợ con, hắn thương thằng nhỏ như con, chỉ dạy tận tình. Dạo đó xe hiếm, toàn xe quốc doanh. Kiếm được cái bằng lái đã trần thân, có được cái xe chạy kiếm cơm là phước đức ông bà để lại! Tiền lương tháng, xí nghiệp trả, của ai nấy lấy. Xe ra tới đường là xe của hắn, hắn chịu trách nhiệm. Mất mát, hư hỏng, tai nạn…mọi thứ đều đổ lên đầu hắn. Thế nên tiền chở hàng thêm, tiền bán dầu dư, hắn muốn xử sao là chuyện của hắn, lơ xe miễn ý kiến. Hắn chia cho thằng đệ rất ít, phần của hắn cũng không hơn gì. Tới ăn nhậu hắn cũng hạn chế tối đa. Dư được đồng nào, hắn cất hết vô trong cái hộp thiếc, để bên dưới ghế ngồi. Chuyện để dành chút đỉnh phòng khi đau ốm, hay có sự cố là chuyện tất nhiên, ai cũng phải vậy, nhứt là với loại kiếm miếng ăn ngoài đường như tụi hắn. Hắn không nói ra, thằng đệ cũng chớ có mà dám hỏi. Chỉ âm thầm chịu đựng, chấp nhận thiệt thòi hơn khi có dịp tâm sự với mấy đứa đi phụ xe khác trong xí nghiệp. Hắn mặc kệ. Hiểu cũng được, mà không hiểu cũng không sao! Hắn tính rồi, chỉ cần gom đủ tiền là hắn xin cho nó vô trường lái liền, 18 tháng ăn học ở trường chứ ít ỏi gì. Ai nuôi? Ai đóng tiền học? Học xong, lấy bằng rồi, cũng phải chừa một ít để xin xỏ, để kiếm xe chạy cho bằng chị bằng em. Đi lơ miết biết chừng nào khá!…

Vậy mà, đùng một cái, thằng nhỏ xin nghỉ. Hắn tưởng nó giận hắn chuyện tiền nong, so bì ít nhiều mà đòi bỏ nghề. Cực chẳng đã, hắn mới nói chuyện để dành tiền làm gì cho nó nghe.

Thằng nhỏ ứa nước mắt, nhưng nó vẫn nói nghề xe cực quá, còn nguy hiểm, nó nhắm kham không nổi. Để nó đi kiếm nghề khác mẩn ăn. 

Tự nhiên hắn thấy buồn ngang xương. Thôi kệ, nó đã muốn vậy, nghề không muốn nhận nó, giữ nó lại cái kết cuộc cũng chẳng tốt lành gì. Chữ nghĩa thằng nhỏ nhiều hơn hắn, nó còn trẻ, hy vọng đồi nghề sẽ khá hơn!…

Hôm thằng nhỏ nhận quyết đinh thôi việc của xí nghiệp, hắn nghỉ chạy, dẹp xe. Thằng nhỏ lấy nước rửa, rồi rị mọ lau từng ngóc ngách trong xe, như để nói lời chia tay. Hắn mặc kệ cho nó làm. Chiều lại, đợi nó lau xong, hắn mở tấm nệm ghế ngồi, lôi cái hộp thiếc đựng tiền để dành cầm theo, trước khi ra quán nhậu quen. Hắn nói với nó:

– Bữa nay mày có quyền uống thoải mái, sức uống được bao nhiêu cứ uống!

Cái tưởng chừng như đơn giản này lại là thứ tối kỵ trước đây, hắn luôn nhắc và không cho phép nó hay chính mình được làm. 

Thằng đệ ngồi uống, hắn lấy tiền trong hộp thiếc ra đếm, cẩn thận từng tờ một. 

Bỏ lại vô hộp một ít, còn bao nhiêu hắn đưa hết qua phía nó:

– Tiền của xe để lại. Tiền này trước để dành lo cho mày vô trường lái. Giờ không cần nữa. Nó là của mày, cầm lấy làm vốn. Khi nào rảnh nhớ ghé về thăm tao là được…

Sau bữa đó, thằng đệ đi biệt, không tin không tức gì. Hắn và chiếc xe vẫn tiếp tục cuộc sống thường nhật của mình. Xí nghiệp đưa đứa khác theo phụ, hắn lắc đầu không cần, mình hắn cân hết. Hắn bắt đầu uống rượu nhiều hơn. Sống hoang đàng hơn, tiền bỏ vô hộp thiếc để dành cũng thưa dần, thậm chí nhiều khi không bỏ luôn. Có quái gì phải lo nữa đâu!

Mới đó mà gần 20 năm. Hắn cũng đã mấy lần thay xe khác, cái hộp thiếc vẫn đi theo và nằm đúng vô chỗ của nó. Rồi cũng tới tuổi hưu. Ngày hắn giao xe cho xí nghiệp để nghỉ. Anh em xe hùn lại mua tặng hắn cái điện thoại di động, cho dễ liên lạc. Hắn nhận, cười:

– Có nhậu nhớ a-lô nghen!

Chỉ có vậy. Hắn rời nơi đã gắn bó với gần hết cuộc đời mình nhẹ tênh. Mỗi bộ đồ và cái hộp thiếc đi theo…

Nghỉ lại thì lúc trước thằng đệ cũng có cái lý của nó. Nghề xe coi vậy chứ bạc lắm. Buông xe ra, bước xuống đất, là huề trớt. Cái kiếm được trên đường trả lại cho đường sạch nhách. Cái vô-lăng tròn vo, xoay tới xoay lui, buông ra cũng trở về như cũ, y chang như cuộc đời cầm lái của hắn vậy. Có cha tài xế nào mà về chiều có của ăn của để đâu!…

Gần Tết, buổi sáng trời trở lạnh. Hắn ho sù sụ, ngực rát rạt. Bao nhiêu sức lực phung phí từ hồi còn ôm xe, cộng với mấy đợt covid, làm hắn xuống thấy rõ. 

Điện thoại reng. Hắn giật mình khi nghe tiếng thằng đệ:

– A lô! Ông thầy khỏe không? 

– Trời đất! Khoẻ!…Khoẻ!…Mày đang ở đâu? Sao…Sao biết số của tao?

– Dễ ẹt! Điện hỏi xí nghiệp chứ đâu! Tui ở xa lắm, Móng Cái lận, tuốt gần biên giới. Để đó nói sau đi. Ông thầy bắn cái tài khoản qua đây, tui gửi ít tiền xài tết!…

– Cái…Cái gì?…Số tài khoản hả? Tao làm gì có cái đó! Hồi nào tới giờ có xài gì tới nó đâu?…

– Lạc hậu thiệt chứ! Thôi bắn cái số chứng minh với cái số nhà cho tui cũng được, tui gửi bưu điện cho, ra đó lãnh nha!…

Chưa kịp hỏi thêm thì nó đã tắt máy. Chiều 23 Tết, hắn ôm cục tiền cúa nó gửi, mới lãnh ở bưu điện về. Nhiều, nhiều quá, tới mấy chục triệu! Hắn mở nắp cái hộp thiếc, ngó mấy đồng bạc ít ỏi còn lại, rồi bỏ luôn cọc tiền vô đó. 

Ngoài đường xôn xao chợ búa. Người ta đang mua sắm đón Tết.

Hắn rót cho mình ly rượu, uống khan. Hơi rượu xộc lên mũi, hắn nghe hai mắt cay xè. Hắn nhớ tới những cái Tết trên đường, những lúc xe giao hàng xong không về kịp. Nhứt là cái lần có thằng nhỏ. Chiều 30, tấp xe vô chân đèo. Con đường vắng thấy sợ. Giờ này có mấy ai ra đường. Cúng xe xong, thì trời sụp tối. Xe trống, hai thầy trò leo lên thùng xe ngồi ăn. Thằng nhỏ bất ngờ lôi ra chai rượu tây, có hiệu đàng hoàng, không biết nó mua hồi nào. Hắn buột miệng:

– Sang dữ bây!…

Nó cười:

– Kệ, Tết mà…Thà trâu bò đạp chết, chứ để ruồi muỗi cắn chết đau lắm ông thầy ơi!…

Lần đầu tiên trong đời, hắn kể cho người khác nghe, chuyện một đứa nhỏ mồ côi, lê lết ở bến xe cho tới ngày làm tài xế như thế nào. Thằng nhỏ nắm lấy bàn tay chai sần của hắn, đặt cái ly rượu lên đó. Hắn hỏi:

– Còn mày, sao không chịu học hành, theo nghề này chi?

– Tui khác! Tui có cha mẹ anh em, có nhà cửa, có đi học. Cái gì cũng có! Cái có nhiều nhứt là cái nghèo! Mà nghèo hoài chịu sao thấu!…

Hắn bật cười. Hắn thấy vui với cái cách nói chuyện văn chương của thằng đệ. Chai rượu có bao nhiêu đâu mà đêm đó hắn say quắc…

Hắn cầm cái hộp thiếc đầy tiên lên ngắm nghía. Lớp sơn bên ngoài tróc gần hết, dễ chừng nó theo hắn mấy chục năm rồi còn gì. Hắn lại cầm cọc tiền lên tay. Bất chợt hắn nói như nói với cái hộp:

– Mày thấy đó! Má! Tao cần nó vác cái mặt về thăm tao, chứ cần chó gì cái thứ này…

NĐH

Read Full Post »

Tản văn: Nguyễn Thị Việt Hà

Cũng như một cái ôm vậy, trong ký ức, sự quen thuộc và hoài niệm của món ăn thấm đẫm sự chăm chút của những người thân quen làm ấm lòng, xoa dịu cả những ngày khó khăn đang trải qua.

Hai mươi năm về trước, buổi đó vừa qua một cơn dông, Cái Bát tựa như một hòn đảo nhỏ xung quanh bốn bề là nước, lau sậy mịt mù. Từng đám ruộng không còn bờ ranh, lúa ngoi mãnh liệt trên mặt mùa nước nổi. Cậu của tôi xách giỏ, cầm đèn pin đi theo tiếng ếch nhái gọi nhau ở những đám ruộng xem xép nước để tìm bắt.

Đêm mùa mưa năm đó, gió hất từng cơn lạnh lẽo, lòng tôi trống trải hơn cánh đồng. Những giấc mơ tuổi trẻ tan vỡ như ánh lân tinh bắn lên mặt nước mỗi lần con cá nhảy. Cậu tôi nhanh tay chộp từng cặp ếch nhái mập ú bỏ vào giỏ. Tôi đi theo vụng về cũng bắt hơn chục con, chủ yếu là nhái. Chừng hơi hai tiếng, nhắm chừng giỏ đã nằng nặng, hai cậu cháu trở về nhà. Chừa một ít rộng trong lu, còn lại, cậu làm sạch và nấu cháo ngay trong đêm. Tôi cầm đèn pin đi ra bên hông nhà, nhổ vài củ nghệ, cắt mấy bụi hẹ, bẻ thêm hai ba trái ớt hiểm. Cậu làm nhái, tôi bắc xoong vo gạo nấu trên bếp lửa cháy bập bùng. Thịt nhái làm sạch, sấy mỡ tỏi đổ vô xào chung với nghệ tươi đâm nhuyễn vắt lấy nước, bỏ thêm vài lát nghệ vô đảo cho thơm. Khi gạo nở bung như bông mai trắng bay là đà thì cho thịt nhái vô, nêm nếm thêm, chừng năm phút thì cho hẹ, tiêu, ớt rồi bắc xuống bếp.

Nhà cậu tôi bên bến sông, một nửa trên bờ, một nửa bắc sàn lãn leo ra mé sông. Cháo nhái ăn mùa mưa, mà phải ăn ngay giữa đồng, giữa sông mới thấm. Tô cháo nóng hổi, ăn tới đâu ngon run người tới đó. Thịt nhái ngọt, cháo hoa bùi, tiêu thơm, ớt cay, mùi của nghệ, của hẹ không trộn vào nhau mà như lần lượt thẩm thấu vào vòm miệng người ăn. “Ăn đi con, thịt thà cá mú ở đâu cũng không ngon hơn chén cháo này. Đừng tủi hờn gì nữa, nghèo mà vui…”. Tôi im lặng, hít một hơi dài, nuốt thật sâu nỗi cô đơn của một tuổi trẻ tẻ nhạt vào lòng. Chén cháo nhái, ngon như chưa bao giờ ngon hơn thế!

Tôi mê đắm những bữa ăn nơi cửa biển Cái Đôi, xóm tôi vào độ cuối năm hay chung tay làm một bữa tất niên tập thể. Chọn một ngôi nhà rộng rãi nào đó, ai có gì thì hùn đó, không quy định món trước: Người mang đến con gà, con vịt; có người xách lủng lẳng mớ cá biển, có người đem tới mớ cá đồng, rau củ đủ loại; và, tất nhiên không thể quên góp vào vài chai rượu cho người lớn, nước ngọt cho tụi nhỏ. Nhà nào sẵn món gì thì đem đến món ấy, không ai đi xét nét từng món hay so đo chuyện “phần hùn” nhiều hay ít. Đem đồ đạc đến thì cũng tự động xắn tay áo vào bếp để chế biến, nấu nướng, nhờ nhiệt tình góp sức nên chỉ trong thoáng chốc đã bày biện ra mâm, ngó cũng ê hề không thua bất cứ đám tiệc nào thời ấy: Từ các món để “lai rai” như gà xé phay trộn gỏi chuối, cá khô trộn gỏi xoài, cá lóc nướng trui… cho đến các món ăn cho “chắc bụng” là cá khoai tươi nấu cháo, cá lạt phi lê nhúng dấm ăn với bún, bánh xèo… Khi xong xuôi các món chính, còn dư lại mớ cá hủn hỉn (gồm nhiều loại cá nhỏ) với mấy quả chuối chín muồi, dì Sáu đem kho ớt, nấu canh chuối và “tiên đoán”: “Dám chắc, lát nữa món này sẽ được ưa nhứt, hết nhanh nhứt cho coi!”.

Bữa tất niên tập thể đó, mọi người tới để vui nên tất cả mệt nhọc của cả năm đều gác lại hết, để rộng chỗ cho tinh thần “chơi tới bến” của bà con. Người ta ăn nhiệt tình, ca hát nhảy múa hăng say, rồi kể chuyện mình như bày cả ruột gan ra cho người khác thấy. Tới giữa bữa, khi nhiều món khác vẫn còn chưa hết thì món cá hủn hỉn của bà Sáu đã được vét sạch trơn. Mớ cá vụn kho ớt thiệt cay, có thêm tóp mỡ, mấy củ hành tím cắt đôi ba lại trở hấp dẫn vô cùng, dẫu ăn với chén cơm trắng hay với bún hoặc dùng làm thức nhắm khi uống rượu đều tương hợp lạ lùng. Còn chén canh chuối chín kia lại giống như món canh giã rượu, giúp người say cầm cự qua nhiều bận rót xoay vòng.

Tôi xa Cái Đôi Vàm ngót nghét mười năm. Tiệc tất niên tập thể sau khi tôi rời đi chỉ diễn ra thêm một lần nữa rồi ngưng hẳn. Có lần tình cờ gặp người Cái Đôi ở Cà Mau, mới hay bà Sáu và nhiều người hồi đó đã lần lượt nối nhau về miền xa thẳm. Ừ thì… Chừng đó năm, thời gian đời người ai cũng ngắn dần rồi hết. Riêng hương vị cũ tôi vẫn nhớ y thinh, nhiều khi lật đật đi mua đồ nấu, nhưng vị chỉ nhang nhác giống. Có lẽ thiếu đi nhiều thứ “hồi đó” quá nên không sao giống như nguyên bản. Mãi sau này, về nhà anh Đô ở Cái Nước Biển, anh hỏi ăn gì để chị Hòa – vợ anh nấu cho. Tôi nói, đổ lú có nhiêu cá vụn vặt nho nhỏ đem kho ớt với nấu canh chuối chín. Anh cười ha hả nói, tôm sú, cá đối trứng đầy bụng không ăn đi ăn những món ngộ. Vậy mà tới lúc chị Hoà làm xong, mấy món ngon ế hơn món “ngộ” mà tôi thèm… Chỉ khi ấy, nỗi nhớ xóm Ba Khía nhỏ với những người dân đi biển của tôi mới dễ chịu hơn; sự an ủi mà những món ăn mang lại thật khó có thể so sánh được, có chăng là chỉ thua kém những lúc bạn được ở bên những người thân yêu.

Với tôi, món ăn do mẹ tôi nấu người khác khó thể ngon hơn, nhất là món canh chua trái cóc. Không phải mẹ tôi là “đầu bếp cừ khôi” của xóm mà vì nhờ có tình thương của người nấu được nêm nếm vào trong món ăn. Ngày đó, mỗi khi tôi đi học có chuyện căng thẳng, khi về ăn cơm mẹ nấu, mọi thứ đều nhẹ hẳn đi. Có lẽ đồ ăn được làm từ đôi tay mẹ là nguồn ấm áp dịu dàng chiếu rọi cuộc đời trần trụi tầm thường của tôi. Sau này tôi đi làm xa, đối mặt với bao nhiêu chuyện buồn vui trong đời, tinh thần xuống dốc, tôi trở về với mẹ, được mẹ nuông chiều nấu cho những món tôi nhớ để lên “dây cót” tinh thần cho tôi, tiếp thêm nguồn năng lượng để tiếp tục chinh phục thử thách phía trước.

Việt Nam đa dạng thổ nhưỡng, nguyên liệu chế biến các món ăn cũng rất phong phú. Món ngon Việt Nam ít giống với bất kỳ món ăn phương Đông nào bởi nét riêng ở cách nêm nếm gia vị, thành phần và phương pháp chế biến. Ngay cả trong một nước, cách nấu và nêm nếm gia vị ba miền Bắc – Trung – Nam cũng hoàn toàn khác nhau với điểm chung là tôn trọng hương vị nguyên bản của nguyên liệu. Sức hấp dẫn của nền ẩm thực còn đến từ sự mộc mạc, dung dị mà đậm đà bởi cách chế biến và văn hóa kế thừa – sáng tạo qua các thời kỳ. Món ăn không chỉ để no bụng, còn để chữa bệnh và an ủi tâm hồn. Có người xa xứ, định cư nước ngoài mấy mươi năm, Tết đến vẫn làm mâm cơm thuần Việt cúng tổ tiên ông bà với thức món đều phần lớn là những món ăn nơi quê nhà. Để rồi mỗi năm trở về Tổ quốc lại tìm dưa cà mắm muối khi xưa để không quên hương vị cũ.

Một ngày như bao ngày, đi qua một góc phố phảng phất hương canh chua của bữa trưa đầy nắng, bước chân khựng lại vì bắt gặp hương vị cũ, mắt bỗng cay xè bởi quá nhớ cơm mẹ nấu, thời gian không cho phép ai quay lại, tôi đã xa lắm những ngày còn nhỏ. Từng chi tiết trong quá vãng hiện về rất rõ, cả ngôi nhà đã thuộc về người khác, cả quê nhà đã rời đi lâu lắm, cả mẹ tôi đã về miền thiên cổ… ký ức lách qua trầm mặc đời người mà nhắc tôi nhớ đủ đầy.

Ăn uống đâu chỉ là chuyện…ăn uống, đó còn là “cách ăn, nết ở”, nếp nhà, phong tục tập quán; là linh hồn của hạnh phúc yêu thương, nơi nuôi dưỡng tình cảm của biết bao thế hệ. Không phải là mâm cao cỗ đầy mà chính là hình ảnh cha ta, mẹ ta nấu từng món ăn trong gian bếp nhỏ mang lên cho con cái với tất cả sự chăm chút, chu đáo chất chứa trong ấy sẽ theo ta cả cuộc đời.

Read Full Post »

Xao động xuân thì

Nguyễn Thị Mây

             Đặt thùng tưới xuống đất, tôi thở phào nhẹ nhõm. Vậy là xong! Mấy chục gốc mai trong vườn vừa được tắm mát, chúng hân hoan chìa những chiếc nụ bum búp, be bé đón nắng. Đó là niềm hy vọng của ba tôi, giấc mơ làm giàu của ba sắp trở thành hiện thực.

             Mấy hôm trước, ba bảo tôi vặt lá mai. Theo dự tính của ba thì đây là thời điểm thích hợp nhất. Hái lá sớm quá, chưa tết, mai đã ra hoa. Còn chậm, tết xong, mai mới từ từ nở thì … xuân muộn. Chắc hẳn không ai thèm chọn mua những cây mai như thế. Và, ba sẽ bán ế, giấc mộng vàng tan vỡ. Gia đình lại được dịp xào xáo. Ba mẹ thay phiên trách móc nhau. Tết sẽ buồn như … chết. Vì thế, tôi phải ra tay nghĩa hiệp, giúp ba ép mai nở đúng giờ giấc. Tôi ngắt lia, ngắt lịa, từng chiếc lá thi nhau lìa cành. Chúng bay tản mạn quanh tôi nửa như luyến tiếc nguồn cội, nửa như chế giễu: “Chưa hết đâu, còn phải quét lá nữa, bé ạ!”. Thấy vẻ mặt ủ rũ của tôi, ba an ủi: “ Bao nhiêu lá là bấy nhiêu tiền đó con!”. Tôi chẳng phấn khởi chút nào. Những điều ba nói thường ít có sức thuyết phục đối với mẹ và tôi. Bởi lẽ, kế hoạch nào của ba cũng vĩ đại nhưng thành quả đạt được luôn … hạn chế. Làm việc gì ba cũng phô trương ầm ĩ nhưng thu hoạch thì lặng lẽ, im lìm.

             Sau mấy lần đi buôn chuyến bị lỗ đến cụt vốn, ba chuyển sang nghề trồng cây cảnh. Ông đoán trước một tương lai xán lạn chưa từng thấy. Một vốn, chín mười lời! Theo ba, xã hội ngày càng đổi mới, phát triển. Đời sống nhân dân thoải mái, sung túc nên nhu cầu giải trí cũng được nâng bậc. Ngoài những phương tiện hiện đại như truyền hình màu, cát – xét, xe máy, … Phong trào chơi hoa kiểng, cây cảnh cũng rầm rộ. Thú vui tao nhã này được rất nhiều người ủng hộ. Từ nhà nghèo đến nhà giàu đều yêu thích. Không có một biệt thự nào vắng bóng cây cảnh trong nội thất. Thiếu màu xanh cây lá như thiếu khí trời và không có cây cảnh, chủ nhân ngôi nhà trở nên kém thẩm mỹ, trình độ văn hóa xem như còn thấp. Người ta đua nhau bỏ tiền ra mua tiếng lịch lãm, tao nhã. Ba tôi lý luận: “Cái gì nhà giàu thích thì báu và lên giá!Để minh họa, ba kể rằng:

             Ngày xưa, có hai vợ chồng nhà kia đã nghèo còn đông con. Họ làm lụng quanh năm suốt tháng vẫn không đủ sống. Một hôm, chịu hết nổi cảnh bữa no bữa đói, hai vợ chồng bàn nhau tìm cách tự tử cho rảnh nợ. Họ dắt đàn con vào rừng sâu tìm trái độc. Ở đó, họ bắt gặp một loại trái kỳ lạ, vỏ vàng xanh, ruột màu cam và hột lại đen bóng, mọng nước. Đoán chắc là trái độc, họ chia nhau ăn rồi chờ … chết. Nhưng, một lúc sau, họ chỉ thấy … no và còn có cảm giác khỏe khoắn như vừa được tẩm bổ. Hai vợ chồng chợt tỉnh ngộ. Họ thấy chết là ngu ngốc. Quanh họ còn biết bao điều bí ẩn, hay ho trời sinh ra để cho con người hưởng. Chưa chi đã vội đầu hàng hoàn cảnh. Hai vợ chồng liền dắt đàn con … về nhà. Hằng ngày, họ thay phiên trở vào rừng hái trái cho gia đình đỡ dạ. Nhưng, ăn hoài, họ phát ngán, bèn đem trái ra chợ bán. Lúc đầu, người nghèo mua ăn vì giá rẻ. Số tiền bán trái rừng vừa đủ để đổi gạo sống qua ngày nên hai vợ chồng gọi nó là Đu Đủ. Lâu dần, những người giàu cũng “thèm trái lạ”. Từ khi họ bắt đầu để ý tới đu đủ thì nó trở thành mặt hàng cao cấp, quí báu và giá bán tăng gấp mấy lần. Ba tôi kết luận: “Cây cảnh cũng thế. Loại nào, cây nào nhà giàu để ý có thể bán một hai chỉ vàng như không. Đây là cách làm ăn hợp thời, vừa mau phát đạt vừa được xem là nghệ nhân”.

            Để thực hiện ý định, ông vào rừng truy tìm cây quí. Ngày nào cũng vậy, sáng sớm, ba đã ra đi và đến mặt trời chếch bóng, ông mới quay về. Cái sọt cột sau poọc – ba – ga đầy nhóc cây là cây. Khi thì mai già, lúc lại toàn bồ đề con hay cây xanh. Ba giải thích, loại này quí lắm, chỉ cần nhìn mấy cái gốc, nó ngoằn ngòe cong queo tựa như những chú rắn bé tí cuộn vào nhau dưới vòm lá xanh um. Những nhánh bằng thăng nho nhỏ trông hao hao mấy cụm mây màu lục trôi là đà trên mặt đất.

             Tôi thắc mắc:

             – Sao chỉ toàn là lá, chẳng có hoa làm sao đẹp?

             Ba nạt ngang:

             – Đâu phải cứ phải hồng, đỏ, tím, vàng mới đẹp. Màu xanh là màu … hy vọng. Con nít mà biết gì?

             Thấy sắp có “chiến tranh”, mẹ vội kéo tôi vào nhà, để ba mặc tình trồng trọt, tỉa tót.

 Chỉ trong vòng mấy tháng, khoảng sân nhỏ nhà tôi rợn ngợp màu xanh cây cảnh. Chỗ này toàn mai, chỗ kia cau kiểng, chỗ nọ bồ đề. Ba tôi chỉ chừa một lối đi hẹp ơi là hẹp. Vậy mà ông vẫn chưa hài lòng, cứ tiếp tục vào rừng. Mẹ tôi thường rầu rĩ  than thở:

             – Ôi, chắc ba con định lập một khu rừng tại trung tâm thành phố đây mà!

             Nhưng, chiều nọ, ba tôi trở về với dáng vẻ “thân tàn ma dại”, mặt mày hốc hác, kinh hoảng như vừa gặp yêu quái trong rừng. Cái sọt trên poọc – ba – ga biến mất. Cả cây cuốc và dao phay cũng chẳng thấy. Sau một hồi thở dốc, lấy lại bình tĩnh, ba thều thào:

             – Đúng là đồ … ăn cướp mà!

             Mẹ tôi hết hồn, kêu lên:

             – Trời, ông gặp cướp à?

             Ba khua tay, múa chân:

             – Bà coi, cây mai đó là của tôi. Tôi đã “xí phần” lâu rồi. Tôi làm một cái rào để bảo vệ nó. Vậy mà sáng nay có mấy thằng ôn hoàng tới đào.

             Mẹ tôi nổi nóng:

             – Sao ông không đòi lại?

             – Đòi chứ sao không? Tôi đâu có sợ tụi nó.

             – Rồi sao? Mẹ tôi hỏi.

             Ba tiu nghỉu:

             – Tụi nó không trả còn vây đánh tôi. May là tôi … có võ, không thì làm sao chạy thoát về đây.

            Trong lúc tôi che miệng cười khúc khích thì mẹ tôi ấm ức:

             – Tức chết đi được! Còn cái sọt đâu?

             – Tôi bỏ luôn rồi. Tụi nó tới bốn thằng. Vả lại cái cuốc của tụi nó dài và bén lắm. May là chiếc xe đạp gởi ngoài bìa rừng…

             Ba lí luận:

             – Bà với con phải biết “ Mãnh hổ nan địch quần hồ”.

             Từ đó, ba tôi không vào rừng nữa mà bắt đầu giai đoạn tỉa tót, uốn nắn. Ba mua hàng kí lô dây chì để tạo dáng cho cây cảnh. Ông quấn quanh thân cây, bắt nó ưỡn ẹo đủ cách. Cây vươn cao, cây khom khom, lùn xuống, trông chúng co rúm thấy mà tội nghiệp. Thoạt nhìn như những tên tử tội bị trói, chờ giờ xử trảm. Mấy gốc bồ đề được ươm trồng trong những cái chậu tuyệt đẹp nhưng phải kèm cặp, chống chỏi đủ thứ vì hai phần ba rễ khoe mình trên mặt chậu, phần còn lại chỉ cắm hờ hững xuống lớp đất. Đau khổ nhất là mấy chục cây mai. Chẳng biết ai bày cách mà ba chặt ngang thân chúng. Ba cho rằng làm như vậy mai sẽ đẹp hơn. Khi mọc nhành mới, cành lá sẽ xum xuê. Tất nhiên hoa sẽ nhiều. Nhưng lúc bấy giờ, nhìn chúng, tôi muốn khóc, tưởng mình đang đứng giữa một nơi hoang phế, chết chóc với hàng mai cụt ngọn.

            Chưa hết, ba tôi còn bỏ ra hai chỉ vàng để mua về mấy cây si già cỗi. Ông chọn chỗ tốt gần nhà để dễ trông chừng. Nhưng, cây chưa kịp bén rễ thì “không cánh mà bay”. Sau một đêm mưa dông, sáng, ra vườn, ba kinh hoảng gào lên “Trời ơi là trời”. Tôi và mẹ chạy tới cũng hoảng hồn vì chẳng thấy mấy cây si. Tại đó, còn lại những cái lỗ sâu hóm, lưng lửng nước. Chưa bao giờ tôi thấy ba đau khổ như vậy. Ông không ăn, không ngủ mà chỉ … nhậu và nhậu. Ông say lúy túy. Hết chửi đời đến chửi trời, chửi đất. Ông tự làm khổ mình cho đến khi … ngã bệnh. Đã vậy, năm đó, tết đến, mấy cây mai cụt ngọn không chịu ra nhánh nhanh chóng. Chúng chậm chạp nhú vài ba cụm lá non xèo. Báo hại ba tôi thêm chán nản. Ông ủ rũ suốt ngày như cây nhớ rừng, xơ xác.

             Mẹ và tôi yêu ba lắm. Vì thế, cả hai âm thầm góp sức chuyển biến khu vườn này. Mẹ về ngoại xin mấy chậu Thiên Tuế. Tôi học hỏi các bạn cách trồng hoa hồng, hoa cúc, mãn đình hồng, … rồi ươm cây vào chỗ trồng cây si dạo nọ. Mấy chục gốc mai dường như thấu hiểu lòng tôi cũng vội vàng đâm chồi nẩy lộc, cành lá xum xuê, báo trước một mùa xuân tươi đẹp. Cây cối trong vườn thi nhau xanh tốt, nhẫy nhượt. Ngoài việc chăm bón, tôi còn bảo vệ cây trồng bằng cách treo trước cổng một cái bảng to tổ bố với hàng chữ: “ Coi chừng chó dữ và điện 220”. Kết quả, mùa đông sắp tàn, xuân sắp đến, toàn bộ cây cảnh không bị tên trộm nào để ý. Có lẽ những mặt hàng này chỉ thông dụng, không quý lắm. Dù sao, nó cũng giúp tôi nuôi dưỡng niềm tin. Tôi chẳng có tham vọng làm giàu mà mơ ước được sống hạnh phúc với ba mẹ trong mái ấm gia đình.

             – Cô bé … ơi cô bé!

             Giật nẩy mình, nhìn ra cổng, tôi trông thấy hai người lạ ăn mặc sang trọng, một già, một trẻ đến bên rào. Tôi lễ phép hỏi:

             – Dạ thưa, hai ông định tìm ai?

             – Có phải đây là vườn hoa kiểng của ông Hai Phi không cô?

             – Dạ phải! Tôi đáp.

             – Tôi là người quen cũ của ông Hai, muốn gặp để hỏi mua ít cây cảnh. Người đàn ông lớn tuổi bảo.

             Tôi mừng quýnh:

             – Dạ, mời hai ông vào.

             Người đàn ông còn trẻ trêu chọc:

             – Không mở cổng làm sao vào, cô bé?

             – Dạ, xin lỗi, tại mừng quá nên cháu quên.

             Gã con trai nói với người cùng đi:

             – Chú thấy chưa, người ta chờ mình từ lâu lắm.

             Tôi nguýt dài và nghĩ thầm: “Người đâu mà nhiều chuyện thấy bắt ghét”. Tôi liền hù:

             – Coi chừng chó dữ đó, ông kia.

             Hắn quay lại cười, nhe hàm răng trắng như … răng chó!

             – Hổng dám sợ đâu mà hù. Làm như người ta là con nít không bằng.

             – Chó dữ thiệt đó, coi chừng …

             Hắn lại cười:

             – Người dữ thì có!

             Tôi đỏ mặt, định cãi thì người đàn ông cao tuổi lên tiếng:

             – Trà, không được trêu chọc người ta.

             Trà làm bộ le lưỡi rồi tủm tỉm cười, thấy phát ghét. Mời hai chú cháu vào nhà gặp ba, tôi trở ra vườn ngồi chống càm bên hàng cúc đại đóa, lòng bỗng dưng buồn bã khác thường. Rồi đây những hàng cây, những đóa hoa đẹp sẽ rời bỏ nơi này về nhà khác. Chúng góp phần trang trí, tô điểm mùa xuân của một chỗ nào, không phải nhà tôi. Rồi đây, khi nhà nhà rực rỡ, lộng lẫy để đón giao thừa thì nơi này sẽ chỉ còn trơ khoảng sân cằn cỗi, bạc màu. Thảng hoặc sót lại vài loại cây hay hoa kém hương sắc. Cuối cùng, nỗi buồn cũng thấp thoáng quanh tôi.

             – Người đẹp hay hoa đẹp?

             Tôi giật mình quay lại. Gã “nhiều chuyện” lại làm tôi bực mình.

             – Vô duyên!

             Tự động ngồi xuống bên tôi, gã … bắt đầu nhiều chuyện:

             – Hình như trên trán tôi có hai chữ “vô duyên” thì phải?

             – Vô … duyên! Tôi buột miệng.

             Trà bật cười:

             – Thấy chưa? Lại vô duyên. Có lẽ hai đứa mình “vô duyên nên đối diện cứ … cãi liền”.

             Tôi che miệng cười khúc khích. Tưởng tôi hài lòng, Trà liền tấn công:

            – Bé cười, tôi mừng như chết đi được sống lại.

             – Xạo!

             – Hai đứa mình hợp nhau lắm chứ bộ. Cùng xạo có cỡ. Nhà không có nuôi chó mà dám treo bảng hù dọa.

             Trà bước đến bên rào, ngắt một cọng dây tơ hồng đưa ra trước mắt tôi:

             – Bé nè, dây điện 220 đây phải không?

             – Ừ đó, rồi sao?

             – Tốt, sẽ có người trèo rào vào hái trộm hoa.

             Trời! Liệu gã này có phải là kẻ gian không đây. Tôi liền đề cao cảnh giác. Chỉ vào cây cuốc đặt gần đó, tôi thản nhiên bảo:

             – Thử xem rồi sẽ biết.

             – Hãy đợi đấy, cô bé!

             Đêm nào tôi cũng thức rình đến khuya lơ khuya lắc. Không có ai lẽn vào vườn. Ngày Tết càng gần, cây cảnh trong vườn càng xanh tốt, ngào ngạt hương thơm, tôi càng lo lắng, sợ kẻ gian cướp mất công lao động khó nhọc bao ngày và mang theo cả niềm hy vọng của ba. Bây giờ, tôi lại mong bán được cây càng sớm càng tốt.

             Không uổng công chờ đợi, số mai trong vườn được người săn cây cảnh và cả những người yêu hoa thật sự tới mua gần hết. Các loại hoa cũng đem lại lợi nhuận đến cho gia đình tôi khá cao. Đúng lúc ấy, Trà và chú anh quay lại. Người đàn ông cao tuổi chọn mua mấy chậu thiên tuế. Còn Trà, anh ra vườn, sau một hồi ngắm nhìn, Trà chọn cả chục chậu hồng với giá mỗi chậu một trăm ngàn đồng. Trao tiền cho  tôi xong, trước khi ra về, Trà dặn dò:

             – Giữ giùm tôi nghe, cô bé. Hôm sau tôi cho người tới chở.

             Những đóa hồng nở rộ, tươi vui. Ong bướm dập dìu trong vườn hoa. Ai đi ngang cũng trầm trồ, khen ngợi. Vậy mà Trà đâu chẳng thấy. Anh đã trễ hẹn hai ngày. Ba mươi tết rồi còn gì nữa. Mặt trời chếch bóng đằng Tây. Đêm sắp về. Giao thừa gần kề. Không lẽ anh quên mấy chậu hoa ở đây. Thấy tôi nóng ruột, đi ra đi vào, ngồi đứng không yên, ba tôi bảo:

             – Ối, hơi đâu con lo. Họ là người quen cũ của ba. Hai chú cháu giàu lắm. Một triệu đồng  đối với họ có đáng là bao.

             Mẹ tôi cũng an ủi:

             – Ừ, kệ nó. Ai biểu mua mà không nhớ, ráng chịu. Đâu phải lỗi tại mình.

             Tôi thở dài:

             – Dù biết thế nhưng con vẫn thấy không ổn đâu ba mẹ. Chẳng lẽ tốn tiền mà không mua được gì. Làm sao đây ba?

             Ba nổi nóng:

             – Ai mà biết! Khi không họ đem tiền tới đây chớ ba có ép buộc gì đâu!

            Bỗng nhiên mẹ tôi tròn mắt, đưa một ngón tay lên môi:

             – Mẹ nghi quá! Hay là thằng này … khùng!

             Tôi bật cười nhưng sau đó cảm thấy mẹ nhận xét có phần hơi tàn nhẫn. Xem ra, Trà cũng … dễ thương chứ bộ.

             – Không phải vậy đâu, ảnh khôn thí mồ!

             – Vậy con ở đó đoán già, đoán non một mình đi. Để mẹ lo nấu nướng, rước ông bà.

             Thời gian như ngừng lại trước thềm năm mới. Đêm trừ tịch len lỏi vào khu vườn tĩnh mịch của tôi. Mùi khói nhang từ trong nhà lan tỏa, quyện lẫn hương hoa ngọt lựng, thanh thoát. Tôi bồi hồi đón giao thừa và chờ đợi những điều mới lạ đến với mình, dù vui hay buồn.

             – Chào cô bé! Chúc cô bé một năm vui vẻ, hạnh phúc!

             Trà đã đến, tuy có hơi muộn nhưng dù sao cũng còn kịp nhận hoa, không phải chờ sang năm mới, tôi mừng quýnh, reo to:

             – Anh Trà! Tới nhận hoa phải không?

             Trà mỉm cười vui vẻ:

             – Không, anh tới để chúc tết hai bác và tặng hoa cho bé.

             – Tặng hoa cho em! Hoa gì?

             Trà chỉ những chậu hoa hồng:

             – Tất cả những chậu hoa này, anh xin tặng cho bé.

             Quá sức tưởng tượng của tôi. Cả chục chậu hồng, lẽ nào anh … khùng thật. Tôi cảm thấy bứt rứt không yên:

             – Mua hoa để tặng người bán hoa à? Em không dám nhận đâu!

            – Sao vậy?

             – Như thế chẳng khác nào khi không mà nhận tiền người lạ.

            Trà đưa hai tay lên trời như cầu cứu:

             – Trời ơi là trời! Còn khách khí nữa, rõ khổ! Mình có phải là người lạ đâu. Chú anh quen ba em thì hai đứa cũng … quen luôn.

            Trà bỏ hai tay vào túi quần, đi tới đi lui một hồi rồi ngừng lại, nghiêm chỉnh hỏi:

             – Bây giờ chịu nhận chưa?

             Tôi thản nhiên:

             – Chưa.

             Trà phì cười, anh cú nhẹ vào đầu tôi một cái:

             – Ngu quá! Thôi thì cho anh gởi lại đây, qua tết anh mang đi.

            Tôi thắc mắc:

             – Qua tết còn mang đi tặng ai được nữa?

             – Chờ rằm tháng giêng, anh đem vào chùa để cầu … duyên. Còn em, nếu em không thích hoa thì anh sẽ tặng “quả” vậy.

             Trà đứng thẳng người, tay phải đưa lên ngực, giọng trang nghiêm như đang tuyên thệ:

             – Anh xin tặng “quả tim” của anh cho em. Chịu chưa?

             Vừa thích thú vừa thẹn thùng, chẳng biết làm sao, tôi nguýt Trà một cái rồi bỏ chạy vào nhà. Trà và tiếng cười đuổi theo.

             Tôi bắt gặp ba mẹ đứng bên hiên tự lúc nào. Cả hai nhìn chúng tôi rồi bảo nhau:

             – Mùa xuân thật tuyệt vời!

……

Read Full Post »

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

Những ngày cuối năm…Ở nơi này, với một người già xa xứ…nỗi quay quắt nhớ về quê hương, những năm tháng xa mờ trong dĩ vãng…

Thành phố Qui Nhơn, nơi ghi dấu chân tôi của những ngày thơ ấu và nhìn tôi lớn lên ở tuổi thanh xuân….

Biển và sân ga của thành phố quê hương tôi, luôn là nơi chốn ghi dấu bao kỷ niệm , hành trang mang theo suốt một đời xuôi ngược, mỗi khi đưa tâm tư về những ngày tháng cũ, ngậm ngùi , nhớ thương khôn nguôi

Trên chặng đường dài xuôi ngược của cuộc đời…Mỗi lần nghe tiếng nói thân thương của người dân ” Xứ nẫu” …Tôi lại ngậm ngùi thương cảm và chạy đến làm quen…

Là tôi đó: đứa bé gái nhà quê…ngày nào bên bờ ruộng nương khoai của một làng quê nghèo cơ cực của Xứ Nẫu ngày nào…

Đã bao thập kỷ đi qua trong cuộc đời lưu lạc…dã bao mùa Xuân trên xứ xa…mỗi lần Tết đến Xuân về…đứa bé ngày nào..

.Nay là bà lão già lưu lạc xứ người ta….

Khi mỗi lần Tết đến…lòng chạnh bâng khuâng da diết nhớ về những ngày tuổi nhỏ….

Ngày ấy đã qua rồi…Thật xa…trong trí nhớ già nua của lão bà xa xứ:

Những ngày tuổi nhỏ được theo mẹ đón đưa những người bà con tận

phương xa về thăm nhà vào những ngày giỗ lớn trong họ tộc, hay những

đám cưới gả trong họ hàng.

Nhất là những ngày giáp Tết…

Tôi luôn theo chân mẹ tham gia….và cũng

từng đỏ hoe đôi mắt khi mọi người nói câu giã biệt…

Đứa bé trong tôi

ngày ấy cũng biết khóc theo khi thấy cảnh tạ từ…

Sân Ga…Tiếng Gà gáy…Luôn là nỗi nhớ khôn nguôi suốt cuộc đời tôi:

Niềm vui hớn hở lúc chờ dưới sân ga , Tiếng còi tàu và tiếng ầm vang nghiến vào đường rây khi con tàu ghé vào sân ga…vẫn như vang vọng đâu đây.

Cái cảm giác tươi vui của đứa bé chạy theo mọi người hóng chuyện, hầu như không mấy kẻ quan tâm đến đứa bé đi theo, bé mọn và là một vai phụ nhỏ mọn…

Góp vài nụ cười cùng mọi người…liếc mắt nhìn những quà cáp của người về từ

xa…và chờ mong một chút quà được phân chia của người mới đến.

Niềm vui thật bé nhỏ nhưng đượm nỗi hân hoan của một lần

đón đưa…hay tiễn biệt.

Một chút vui của những ngày bé dại

Tiếng Gà gáy …thay chiếc đồng hồ báo thức mỗi sáng tinh mơ, giục giã mẹ con tôi lên đường đến chợ dọn hàng hóa cho Mẹ tôi buôn bán nuôi sống chị em tôi.

.Những đón đưa …và tiếng hú của những con tàu luôn gợi nhớ

trong tôi về những ngày xa xưa ấy.

Tiếng gà gáy thức tỉnh mẹ con tôi bắt đầu một ngày bương bả kiếm sống

+++

Cũng tại sân ga này của những ngày bắt đầu tuổi mới lớn, cùng bạn

bè rời thành phố đi ứng thí ở những trường xa nhà….

Mẹ tôi cũng đưa

tôi ra sân ga, với những bịn rịn và những dặn dò khi đưa tiễn, dù cũng

chỉ năm ba ngày.

Cũng chỉ là một lần xa nhà ngắn ngày nhưng sao mắt mẹ và mắt tôi

vẫn đượm buồn và khi con tàu bắt đầu hú lên những tiếng còi giục

giã…tôi vẫn nhìn thấy mắt mẹ đỏ hoe, mắt tôi đượm buồn… cuống quít.

Rồi năm tháng đi qua…sân ga và những con tàu luôn là nỗi nhớ

dậy lên trong suốt cuộc đời tôi của những lần trở về thăm nhà…Khi

tôi trưởng thành và đi lấy chồng xa….niềm nhớ nhung mong đợi trong

tôi lớn dần theo năm tháng.

Vẫn nhớ hoài những lần đưa con về nhà thăm mẹ vào những ngày cuối

năm…

Sân ga luôn là nỗi háo hức, một sự mong chờ dõi mắt, khi con tàu

giảm tốc độ khi tiến vào sân ga…nỗi vui mừng òa vỡ trong tôi, qua

mắt nhìn dò kiếm những người thân…cố chen nhau ra khỏi toa tàu …và

được ôm mẹ ngọt ngào trong vòng tay ấm …

Mẹ ơi , con đã trở về….

Kia rồi, mẹ tôi, chị tôi, em tôi, và những đứa cháu nhỏ …hình

ảnh của tôi ngày xưa…

Hình ảnh gợi nhớ một thời bé dại…luôn là sự

háo hức trong tôi trong những lần trở về thăm mái nhà xưa mà tôi luôn

nhớ về trong suốt cuộc đời xuôi ngược, tháng năm trôi trong sự xa cách

mỏi mòn nỗi nhớ nhà.

++++

Bây giờ…những lần trở về thăm nhà của tôi không tính bằng đơn

vị tháng của mỗi năm mà là từng bao nhiêu năm của từng thập kỷ.

Từ lúc mẹ tôi lên chuyến tàu đêm rời thành phố Quy nhơn vào

Saigon tiễn gia đình tôi lên sân bay quốc tế TSN….đông đúc những

người đưa tiễn , với quần là áo lượt. và hoạt náo những thanh âm, lần

ấy tôi đã đi một chuyến thật xa…hết nửa vòng trái đất.

.Buổi tiễn đưa lớn nhất trong cuộc đời mà tôi còn nhớ mãi…thay

đổi cả vận số một đời tôi…

Đứa bé nhà quê theo mẹ trên sân ga ngàycũ

Thiếu nữ tỉnh lẻ ngày nào dắt díu đám con thơ về thăm mẹ vào

những ngày giáp tết…

.Một người già vọng nhớ quê xưa , một lữ khách tha phương

.nay muốn trở lại thăm nhà…nằm trên sàn nhà mát lạnh…Lơ mơ nghe tiếng gà gáy…vọng từ xa…

Lòng háo hức được trở lại với quê hương ….

Một nỗi buồn thao thiết, khi bỗng dưng nghe mặn ở vị giác, vì biết lần trở lại mái nhà xưa tôi không còn nhìn thấy dáng mẹ già dưới sân ga cũ.

+++

Ngày ấy… Một ngày đầu thập niên Chín mươi…

Mẹ tôi đáp chuyến tàu nhanh vào Saigon đưa tiễn chúng

tôi rời đất nước ra đi, nhưng …

lần ấy mẹ tôi lại không ra sân bay

đưa tiễn chúng tôi, người chỉ vào với chúng tôi trước một tuần, nấu

cho chúng tôi những món ăn ngon mà các con và tôi ưa thích, chuẩn bị

vật dụng và vài món cho các con tôi mang theo bằng tất cả tấm lòng của

mẹ…

Rồi mẹ tôi nấp sau cánh cửa lúc cả nhà tôi lên xe.

Trên sân bay với đông nghịt những người đưa tiễn, nhưng tôi vẫn

thấy thiêu thiếu hình bóng thân thương của mẹ.

Tôi dõi tìm lần cuối trước khi bước vào phòng kính mà người ta gọi

là “phòng cách ly” …khi đã bước vào đây là tất cả sẽ xa lìa mọi sinh

hoạt bên ngoài và xa cách muôn trùng khi phi cơ cất cánh…

.Giã biệt đất nước, giã từ quê hương, giã từ những người thân và

giã từ hình ảnh thân thương của mẹ tôi.

Có lẽ giây phút này mẹ tôi đang ngồi một mình trong căn nhà nhỏ,

với những giọt nước mắt nhỏ thầm xuống bàn tay run vì nhớ thương con

cháu, khóc thầm trong niềm vui và nỗi buồn xa cách cho một lần biệt ly

mà không đưa tiễn….

Những lần tôi trở vể thăm quê nhà không có bóng dáng mẹ tôi đón

đưa hay tiễn biệt vì tuổi già và bệnh tật…

Những lần sau nữa của những chuyến về thăm quê… khi mẹ đã

không còn., một mất mác lớn nhất trong cuộc đời và tất cả những gì

thuộc về người chỉ còn là kỷ niệm.

.Niềm vui và nỗi háo hức trong tôi không như xưa với nỗi chờ

mong mỏi mắt.. khi trở về nhà không còn thấy bóng mẹ…mà chỉ còn thẫn

thờ thắp mấy tuần nhang và viếng mẹ với những cánh hoa vô hồn nơi

nghĩa trang Ghềnh Ráng.

.Sân ga và những con tàu chợt đến chợt đi….như những thay đổi

của những lần trở lại, vẫn thoáng buồn và không mang cho tôi những

xúc cảm ấm nồng…chỉ là sự bàng hoàng khi con tàu vào bến với những

con đường mới mở, những bảng hiệu mới sơn và nhũng bạn bè xưa cũ không

còn, và nhất là những người thân yêu nhất của tôi cũng đã lìa xa…

Bao năm qua… Khi bước chân tôi trở về hay ra đi…không còn

nhìn thấy hai con mắt đỏ, và những giọt nước mắt âm thầm nhỏ xuống của

mắt mẹ thân yêu….

Bây giờ …

Khi mỗi lần tôi trở lại thành phố xưa..

Khắp nơi .ngập tràn những bóng đèn xanh đỏ, những con đường mới mở rộng thênh thang…

Những tượng đài lạ lẫm…Không thể nào nhận biết họ là ai lại được dựng lên đất Xứ Nẫu quê tôi????

Tôi sẽ về thăm biển, thăm lại mái trường xưa, thăm bè bạn, thăm học trò cũ của tôi thuở mới bước vào đời.

Tất cả ẩn mờ trong con mắt mờ, mũi đỏ và bàn tay run lau vội giọt nước vô tình nhỏ xuống giữa trời xuân.

.Thoảng trong hương xuân còn sót lại nơi thành phố cũ dấu yêu, chắc còn vương lất phất cơn mưa bụi,

Hương xuân đã về bên đó chưa???

Người về quê cũ…con tàu đợi

Cha mẹ còn đâu…mấy kẻ chờ

Trở lại sân ga ôn chuyện cũ

Sương sa mái tóc bóng trăng lu

Trở lại sân ga…về thăm biển

Hoàng hôn sắc tím chút… niềm riêng

Atlanta… Xuân Ất Tỵ

Nguyên Hạ_Lê Nguyễn

Read Full Post »

Bèo nổi mây chìm

     Nguyễn Trí        

Tuấn. Năm mươi lăm tuổi. Một vợ bốn con. Một trai ba gái. Sáu cháu ngoại và ba thằng rể. Trưởng nam của Tuấn tên Hùng, năm nay ba mươi lăm tuổi nhưng chưa vợ. Chả là năm hai mươi, đang sinh viên năm hai, một tương lai đầy tươi sáng… vậy mà Hùng bỏ cửa bỏ nhà đi một mạch những mười lăm năm. Hai mươi cọng mười lăm vị chi ba mươi lăm tuổi Hùng mới trở về ôm mẹ mà Kiều rằng dại rồi con biết khôn làm sao đây.

          Chớ đi đâu mà dữ thần và dại khôn gì ở đây vậy?

         Để nói sơ về Hùng tí xíu. Hồi nhỏ Hùng ú nu như em bé trên hộp sữa Sma. Cu con là nụ cười tươi của bà ngoại Sáu Kỳ. Ông Sáu qua đời nếu không có thằng bụ bẩm Hùng dám bà Sáu chết theo quá. Hùng còn là tài sản quý báu để cả họ nhà Sáu Kỳ đem khoe. Mười hai năm từ cấp một cấp hai cấp ba Hùng có đúng mười hai năm học sinh giỏi toàn diện. Vào đại học nhẹ như sương như khói – vì thế cho nên – cả họ ngoại xem Hùng như tài sản quý để khoe cũng là phải quá. Hùng lại kế thừa nét đẹp trai như tài tử xi nê của ông cha tên Tuấn. Thiệt mà nói, Tuấn không đẹp, không duyên ơi là duyên với nụ cười có cái răng khểnh và thiệt thà như đếm còn lâu mới được là rể nhà Sáu Kỳ. Sáu Kỳ bốn đứa con gái đẹp như Thúy Kiều Thúy Vân. Gã làm thuê tên Tuấn xuất xứ tận miền Trung xa lắc, không đặc biệt dễ mà lọt mắt xanh cô Thúy con gái thứ ba của Sáu Kỳ. Nhà Sáu Kỳ cố cựu miền Đông nên đất đai kha khá. Rể Tuấn được cha vợ cho năm sào rẫy và cắt cho chút đất cất nhà. Tuấn làm bảo vệ cho một trường tiểu học, bà xã Thúy bán ba cái bút chỉ văn phòng, thức ăn vặt và giải khát các loại ở căn-tin trường.

          Gia cảnh nhà Hùng vậy là ngon. Đẹp trai, con nhà không giàu không nghèo học giỏi. Người vậy, nữ thần tình yêu còn đứ đừ nói chi bạn cùng lớp cùng trường. Khổ cái, con ngươi ta chỉ có một trái tim. Trong vô số bóng hồng sa mạc vây quanh Hùng thích đúng một Minh Thùy. Thùy xinh ơi là xinh, cô là mộng mỵ của hầu hết trai đẹp trong cho đến ngoài cổng trường. Năm lớp mười hai Minh Thùy rực rỡ như hoa, trai xếp hàng theo cô cả cây số. Mới lớp chín Hùng và Minh Thùy đã đôi bên cùng liếc đôi lòng cùng ưa. Ở cái thời sống thử, được tới luôn bác tài, không được thì chia tay. Hùng và Minh Thùy khỏi nói ai cũng biết cái sự yêu của trai thanh gái lịch. Minh Thùy không chứ vào được đại học cả hai chung một phòng trọ là có quá. Vậy là đẹp trai lên phố trọ học, xinh gái được bố mẹ tậu một xe nước mía, một tủ thuốc lá trước sân nhà. Quán của xinh gái kề quốc lộ nên nước mía ngọt là một, thuốc lá thơm là hai, nụ cười chủ quán là ba lôi bọn mê nhan sắc đến tỏ lời ong ve. Khi ván chưa đóng thuyền thì không của riêng ai  – Chiến – huấn luyện viên một lò võ nói vậy khi bê một cây si to đùng đặt trước quán nước mía. Chiến Võ – tên thường gọi –  không những đẹp trai còn hùng dũng như Mike-Tyson thời thịnh. Mỗi khi đến quán Minh Thùy anh mặc quần Jean, áo thun ba lỗ để khoe cái gọi là cường tráng.

        Chiến Võ biết Minh Thùy đang cặp kè với Hùng nên can ke Hùng đến thăm tình là có mặt. Chiến hơn Hùng ba tuổi tức hai mươi ba. Tuổi nầy là chúa của tự mãn và hiếu thắng. Võ nghệ đầy mình nên Chiến ra cái vẻ đàn anh:

  • Mới về hả mậy? Học hành sao? – Anh nói đầy ngạo nghễ.
  • Mắc chi mày mà hỏi?

   Với Hùng hơn ba tuổi không là cái nghĩa địa gì nhưng Chiến Võ thì:

  • Mày có học mà mất dạy quá. Mày tao với người lớn là mất dạy nghe em.

      Rõ là Chiến cố tình sĩ nhục Hùng trước mặt Minh Thùy. Chả nói chả rằng Hùng đi một hơi về nhà lòng đầy giận dữ vì ghen. Vào phòng riêng lấy khẩu súng điện nhét vào lưng quần. Khẩu súng nầy Hùng mua từ một bụi đời ở Sài Gòn. Mua vì thích và để chơi chứ Hùng chả có ý chi. Và khi nhét khẩu súng vào lưng quần Hùng cũng chả có ý chi nếu không tình cờ gặp Vàng, Nhứt và Tú, ba thằng bạn không vào nổi cấp ba đang ăn đang chơi quậy quọ ra trò mỗi khi xỉn rượu.

       Bạn bè lâu ngày gặp nhau không vô quán đâu có được. Ba thằng lôi Hùng vào “Mộc Tồn quán” làm cái lẩu cầy. Đang buồn bực Hùng cũng nhấp môi chút chút. Nhấp môi với một kẻ chưa từng rượu cũng là đáng nói. Nghe Hùng chửi thề Tú – từng bị kỷ luật khi cự lại thầy chủ nhiệm – nói:

  • Gì mà chửi thề. Có gì nói tao xử cho.

      Vậy là Hùng kể về một Chiến Võ bố láo bố toét. Tú rằng, võ chơi theo võ tao đếch sợ thằng nào. Nó ở đâu mày dẫn đến tao xử cho. Vàng và Nhứt có ba xi đế vào người trời còn chả sợ lọ chi võ. Vậy là chơi xong một chai ba xị cả bốn lên đường. Ba xị bốn thằng mỗi thằng ba ly xây chừng đủ để ngà. Rượu ngà ngà thì trời là mãnh vung bể. Trên hai chiếc 125 phân khối bốn thằng dừng xe ở quán nước mía Minh Thùy. Nhìn Chiến Võ đang bên cô chủ cười cười nói nói Hùng nóng như hơ. Đẹp trai học giỏi đốp liền chứ sợ à:

  • Hồi nãy mày nói tao mất dạy. Dám nói lại tao kêu mày bằng cha.

   Thấy người yêu hung tợn Minh Thùy vội chạy lại:

  • Thôi mà… bỏ qua đi Hùng ơi.

    Được người yêu ôm eo ếch, chục thằng Hùng cũng xìu nói chi một. Nhưng Tú thì không. Có rượu và thầy chủ nhiệm còn cự – nghe đâu – Tú còn cải lại cha… thì Chiến Võ không là cái đinh rỉ gì:

  • Mày nói lại tao cũng kêu mày bằng cha.

        Nói xong Tú lao đến ra đòn. Nhưng Chiến là huấn luyện viên võ thuật, chỉ hai bước đã ra khỏi quán. Và khi ta có chút nghề đánh với tay ngang nó mới dễ làm sao. Bị một cước vào mặt Tú ngã xuống đường nghe cái bịch và máu mủi tè le. Thấy vậy Vàng và Nhứt nhào vào…  tiếp tục ăn đòn. Khi khổng khi không được thể hiện tài năng trước mắt người đẹp, Chiến Võ cỡi luôn áo thun ba lỗ khoe cơ bắp và sáu múi đẹp ơi là đẹp. Thấy ba thằng bạn ngã ngựa Hùng hất tay người tình rồi vung súng điện. Hai trăm hai mươi vôn thì voi còn ngã nói chi người.

       Cả ba – Tú, Vàng, Nhứt – lợi dụng thời cơ đối phương ngã ngựa lao vào trả đòn. Mày đánh tao sao tao đánh lại y vậy. Hùng cũng ké vài cú đá. Thấy bá quan văn võ người đời đến, cả bốn liền lên xe vù một hơi. Nhưng chạy lên trời cũng bị lôi xuống. Chiến Võ chết vì bị đánh hội đồng.

       Cái chết khởi nguồn từ khẩu súng điện. Bốn trẻ trai chia nhau năm chục năm tù. Hùng hai mươi năm. Ba mươi còn lại cho Tú, Nhứt và Vàng. Nhờ cải tạo tốt nên sau mười lăm năm Hùng về đời nhờ giảm án.

      Đó là lý do Hùng bỏ cửa bỏ nhà đi một mạch mười lăm năm.

                                                                ***

      Hùng về đúng hai mươi tám tết. Một mình. Hành trình cho ngày về là lên xe đò tiếp tục xe buýt và cuối cùng là honda ôm.

       Sao lại một mình?

       Phận tù. Tục rằng “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại”. Mất tự do khổ lắm. Lắm lắm. Thực ra có phần cường điệu khi nói thiên thu tại ngoại. Con người vốn rất dễ thích nghi với mọi hoàn cảnh sống. Không tự khép mình vào cái khuôn của thì hiện tại là tự sát. Dân chơi có câu “ba năm tù như một giấc ngủ trưa”. Đã là phạm phải xem cõi tù là nhà mới tồn tại. Khi tự do của ta là tường giam thì mọi cái sẽ dần quen. Quen đến độ không ít những con người xem cõi tù là nhà. Hết án về đời lại tiếp tục gây án để vào tù bởi – họ nói – đời chán bỏ mẹ, ủ tờ vui hơn. Hùng sau sáu tháng tạm giam rồi ra tòa. Nơi thụ án cũng bằng nhau với tạm giam. Cũng chừng đó sáng trưa chiều tối ăn ngủ lao động. Trại giam cũng có tivi để giải trí. Có báo để đọc. Lễ lạc tết nhất cũng có ca vũ nhạc kịch. Có cả nghệ sĩ nổi tiếng đến vui chơi cùng phạm… muốn sao nữa bây giờ. Không quen mà được sao?

        Phận tù tội đau khổ là thật nhưng đâu có khổ đau bằng thân nhân của họ. Hãy nhìn ông cha tên Tuấn và bà má tên Thúy của Hùng là biết ngay đau khổ là gì. Hùng ôm án lúc Tuấn bốn mươi và bà xã ba mươi tám. Hai vợ chồng ba cô con gái và cả họ nhà Sáu kỳ không thể tin Hùng phạm tội giết người. Xót xa biết bao nhiêu khi cục vàng của họ bị hai mươi năm tù. Còn quá trẻ và vì đâu mà bèo nỗi mây chìm thế nầy con ơi anh ơi cháu của cậu của dì của bà ơi…

        Tục truyền rằng cõi tù là cõi lớn hiếp bé, ma cũ nạt ma mới. Nghe mấy thằng từng ủ tờ kể bà má tên Thúy lo lắng đến tóp má. Mẹ mà. Ai chả lòng dạ bao la như biển thái bình. Lúc Hùng còn tạm giam má Thúy tuần nào cũng tay xách nách mang thăm nuôi thằng con tội nghiệp. Tội lắm kẻ lỡ lầm một chút mà ôm hận nghìn thu. Nghe nói tạm giam cha ăn hiếp tạm giam con nên, trừ thăm nuôi má Thúy còn gặp riêng cán bộ trại để gửi gấm.

        Hết tạm giam đến tù. Từ nơi cư ngụ Tuấn phải vượt năm trăm cây số đi thăm con. Lúc đầu còn xe đò sau đó honda ôm đưa đến trại. Về sau Tuấn tậu luôn mô tô  cho dễ dàng trong thế cơ động. Muốn gửi gấm nhờ vả phải đến tận nhà cán bộ. Phải thăm dò ai chủ trì phòng con trai mình đang thụ án. Phải gặp vợ của quan anh nhờ nói giúp một tiếng. Anh nói thằng Hùng em tao thì chẳng tù nào dám hiếp. Để anh nói được ba từ “nó em tao” đâu thể bằng miệng mà phải xòe bàn tay đếm ngón tay.

        Sinh viên như Hùng mà lội ruộng, làm vườn, cuốc đất trồng khoai tội lắm. Ở nhà ăn học nào có biết lao động là gì. Lại phải tìm gặp sếp cao nhất để thằng lầm lỡ có một công việc an nhàn. Lại xòe bàn tay đếm ngón tay. Nhưng xòe và đếm lâu nhất là những ngày lễ lạt. Nhờ anh giúp cho cháu nó giảm được ngày nào hay ngày đó. Mỗi năm Tuấn cùng bà xã thân chinh bốn bận vào những ngày lễ lớn và tết nhất thì thu nhập cả một năm coi như xong. Nếu không có cái căn-tin của trường học nơi Tuấn là bảo vệ, chắc chắn Hùng không bao giờ được chân sai vặt trong nhà bếp của trại giam. Rất may cho vợ chồng Tuấn-Thúy – ngôi trường – nơi hai vợ chồng ăn nên làm ra nhờ kiếm bạc lẻ của học sinh tiểu học. Chỉ năm trăm bạc lẻ từ một học sinh của ngôi trường bốn mươi lớp, mỗi lớp ba mươi nhóc thì ngày Tuấn Thúy kiếm triệu là ít. Cũng ngôi trường nầy Hùng hết tiểu học. Hùng được thầy yêu bạn mến bởi ngoan ngoãn và học giỏi. Hùng đã đem vinh dự về cho trường khi quán quân học sinh giỏi toàn diện cấp huyện. Nhờ thành tích nầy mà vợ chồng Tuấn Thúy vẫn bình như vại ở căn-tin. Cô bác bảo rằng gặp người khác thì đừng hòng khi con cái là kẻ giết người.

       Mỗi năm thăm nuôi bốn lần. Chừng đó lần được gặp cha má cũng là một hạnh phúc cho Hùng. Đã biết thích nghi với cõi tù thì phải biết hạnh phúc ở quanh ta chứ chả tìm đâu cho nhọc. Có khi cả họ nhà Sáu Kỳ lên xe bảy chỗ theo 175 phân khối của Tuấn đi thăm thằng cháu tội nghiệp. Quy định của trại giam mỗi lần thăm chỉ một – tối đa – hai người. Muốn chín người phải liên hệ trước qua điện thoại. Và phải xòe bàn tay đếm ngón tay mới thông.

        Đối với cả họ nhà Sáu Kỳ, trước và sau khi Sáu Kỳ qua đời cũng vậy, tiền bạc không là gì. Hùng xé được hai cuốn lịch thì khu vực và đất đai nhà Sáu Kỳ vào quy hoạch làm cao tốc. Cả họ Sáu Kỳ lấy tiền đền bù xây nhà cao cửa rộng trên tái định cư. Tuấn và Thúy cũng chả thua bởi bố vợ khi còn sống cho Tuấn năm sào rẫy và lô đất cất nhà. Thăm nuôi Hùng một năm chục lần còn được lọ chi bốn.

       Vậy mà Hùng về đời sau mười lăm năm chỉ một mình nghĩa là làm sao?

        Số là. Ừ, số là…

                                                             ***

       Số là… biết nói sao nhỉ? Mỗi năm đi thăm con trai bốn kỳ, trại giam như nhà, cán bộ trại chả khác chi bằng hữu, chuyện giảm án ra làm sao vợ chồng Tuấn Thúy không thể không biết. Khi thời gian thụ án của Hùng bước qua năm thứ mười, mười một rồi mười hai… Tuấn mơ ngày con trai về nhà đến cháy bỏng ruột gan. Thời gian lúc nầy trôi đi thật sự chậm với đôi vợ chồng tội nghiệp. Đêm đêm vắt tay lên trán, nghĩ đến thằng con đang âm thầm trong bóng tối của tường giam Tuấn – ngay cả yêu – để giải phóng bản năng còn không muốn. Xòe bàn tay đếm ngón tay và tình thương mến thương vung ra một thời gian dài nên, ở năm thứ mười lăm Tuấn Thúy hy vọng con trai sẽ giã biệt trại giam. Tuấn nghe phó giám đốc trại bảo kỹ luật, lao động và ý thức tốt như Hùng có thể sẽ được về vào một trong nhưng ngày lễ lớn của năm. Nhưng rồi ba mươi tháng tư qua đi, hai tháng chín qua luôn… niềm hy vọng vào ân xá của tết tươi cũng qua đi. Thôi thì chờ năm tới vậy.

       Vậy thì lý do gì Hùng có mặt ở nhà vào hai mươi tám tết?

       Số là… sau một năm ở trại. Nhờ cha má xòe bàn tay đếm ngón tay gửi gấm nên Hùng được vào phụ việc trong nhà bếp. Giàu thủ kho no nhà bếp nên ai thiếu thốn chi kệ, riêng Hùng có da có thịt bởi hơi của dầu mỡ. Gần nhà bếp là căn-tin và trạm xá của trại. Hùng ghé trạm xá và phát giác ra cô y tá trạm đang ôn để thi đại học. Chả là đã hai lần ứng thí mà chả ra cái ôn gì. Là em của giám đốc trại, chỉ ăn và học mà cứ mãi sôi cơm nhưng chửa chín thì đâu có được. Nhớ chữ, Hùng liền thao thao  tám thể mười hai thì, thế nào là chủ động hay bị động trong anh ngữ. Hùng còn nói tiếng anh lưu loát như một ông mỹ con. Toán học hả? Chỉ cần nhìn cái đề ôn thi đại học Hùng đã cho cô y tá biết rằng tù cũng có anh giỏi tận trời. Về nhà cô  méc với anh trai rằng có một tù nhân…

        Ông giám đốc – tội nghiệp quá hoàn cảnh – vợ mất trong một tai nạn. Ông ở vậy nuôi một trai một gái. Trai mười ba tuổi đang lớp tám, con gái kế lớp sáu. Ông phải triệu em gái vào thay mẹ chăm con. Thêm bước nữa ư? Làm sao được khi con cái mới chừng này tuổi. Nhà của giám đốc kề bên trại, cách khu dân cư có ngôi trường con ông đang theo học những ba cây số. Sáng chúng học ở trường, chiều thêm với các thầy cô giáo. Đứa nào cũng giỏi toàn diện nhưng giám đốc biết chúng giỏi bởi ông là giám. Bằng chứng là khi  kiểm tra thằng lớn muốn nhân một đơn thức và một đa thức nó ngơ ra như bò đội nón. Con em còn tệ hơn.

      Vậy là ông giám bèn vời thằng tù về nhà kèm cho cả cô cả cháu cái sự học. Mỗi đêm mà thông qua lớp sáu lớp bảy đến luyện thi đại học thì gã tù tên Hùng quá xá giỏi đa nghe.  Ngon lành nhất là năm ấy cô y tá đỗ đại học. Cô khăn gói lên thành chen chân cùng đô hội. Tù Hùng vẫn đêm đêm ghé nhà ông giám kèm cho đôi trẻ. Thằng anh vào đại học con em cũng vào theo. Đó là những năm tháng đẹp nhất đời Hùng. Nếu không có vụ kèm cặp chắc Hùng tự sát bởi ngộ ra mình dại. Một năm sau ngày thụ án, Minh Thùy của Hùng lấy chồng. Đời mà. Yêu anh em cũng có yêu nhưng chờ thì sao được khi hai chục năm chứ  ngày bữa gì hả anh? Đời chả có cái dại nào giống cái dại nào, nhưng dại nhất chắc chắn là dại gái.

        Hùng nhận ra cô bé lớp mười hai tên Thùy Trâm – cô học trò mà tù Hùng kèm cặp – yêu mình. Tù Hùng hơn Thùy Trâm mười một tuổi. Năm cô mười tám Hùng đã ba mươi. Một số người trên trần gian này bóng thời gian không đi qua họ. Có nhưng rất chậm. Hùng là một. Cả ngày trong bếp với cá mú thịt thà và hơi dầu mỡ lại, kế thừa nét đẹp trai tài tử của cha nên, tù thì tù vẫn cứ phong trai. Gái tham tài trai tham sắc. Hùng quá tài nên Trâm yêu cũng phải thôi. Nhưng Hùng biết mình là ai. Biết lắm. Tù chớ có vọng động bá láp. Mất chỗ đội nón như chơi con ạ.

        Trâm đẹp như á hậu nên trai thanh lịch con nhà theo cô cả tiểu đội. Cha cô là giám đốc, nhà cô cao rộng chả thua ai. Phố phường vui và cái xô bồ của nó hút con người vào với lực nam châm của tam giác quỷ Bermuda. Trâm cũng bị cái guồng của hiện đại hút vào. Năm Hùng lớp mười, cha Tuấn đã tậu cho con máy tính bàn để học. Khoảng cách từ lúc ấy cho đến khi Trâm lên phố thì văn minh internet hiện đại gấp trăm lần. Trai đẹp theo cô ong ve ma mị quỷ sứ đến ghê hồn. Cô bị cái gọi là mê tình bám theo quyến rũ. Vậy là đơn phương trong lòng Trâm sụp đỗ. Cô cũng cặp một anh để cô đơn tan đi.

          Yêu nhau và hẹn ra trường mình cưới nhau em nhé. Trâm ừ –  và – phải chi cô như bạn bè, sống thử trước hôn nhân thì hay quá. Cưới xong cô mới nhận ra mình sai lầm. Chồng. Người mà cô ngộ nhận là yêu, ngay cả yêu anh chỉ biết cho anh. Xong cuộc anh lăn ra khò khò miệng mồm há hốc. Những lúc ấy Thùy Trâm da diết nhớ ông thầy dạy kèm tên Hùng. Một ngày nọ chồng đưa Trâm về thăm cha. Trong lúc cha và chồng chén tạc chén thù. Cha mừng vì sắp có cháu ngoại. Chồng bô lô ba la chuyện làm ăn thì Trâm lẻn vào trại giam thăm thầy. Tù Hùng hỏi:

  • Trâm khỏe không? Hạnh phúc chớ hả?
  • Khỏe thì có nhưng hạnh phúc thì không.
  • Sao vậy?

       Đó rồi cô tựa đầu vai thầy mà khóc. Sau đó vợ chồng Trâm ly thân. Đàn bà khi không yêu họ trơ như đá đàn ông nào chịu được. Huy – chồng Trâm – chân nam đá chân chiêu tâm sự với cha vợ khi con trai đà năm tuổi:

  • Ba hỏi sao ly thân hả? Vợ con không yêu con ba ơi. Cô ấy yêu người khác.
  • Người khác? Ai?
  • Thằng Hùng. Cái thằng tù mà ba nhờ kèm cặp cái vụ học hành đó.

       Để cứu vãn nhân duyên của con cái không ra tòa ly dị. Ông giám đốc với uy quyền sẵn có ký lệnh cho Hùng về trước tết như một đặc ân. Ông nghĩ xa mặt cách lòng. Năm trăm cây số từ trại đến nhà của Hùng thì xa quá là xa.

     Đó là lý do Hùng về vào hai mươi tám tết và chỉ một mình.

                                                                       *** 

      Chả ai có thể hình dung ra niềm vui phải nói là bất tận với cả họ nhà Sáu Kỳ. May mà bà Sáu đã cưỡi hạc chứ sống đến ngày thằng cháu về chắc chết vì sướng. Lòng Hùng cũng vậy. Khi bắt lại được tự do tâm tư con người ta ứ lại vô số nỗi niềm không thể nói bằng lời. May mà hai mươi tám tết nên sau thăm hỏi, láng giềng cũng như anh em họ mạc rút êm để lo cho tết tươi. Ba cô em gái của Hùng – sau mười lăm năm – cũng đã nên bà như ca dao dạy trai ba mươi tuổi đang xoan gái ba mươi tuổi đã toan về già.

        Còn lại Hùng và hai ông bà già. Ôm lấy bà má tội nghiệp Hùng bảo rằng con xin lỗi, con dại quá… dại rồi con biết khôn làm sao hả má? Mười lăm năm tù mà dại rồi không biết khôn làm sao thì biết ai dại biết ai khôn.

       Tuấn nói với con trai:

  • Cuộc sống là một quá trình làm sai và sửa sai. Sai thì sửa. Mười lăm năm tù  cay đắng và đoạn trường lắm nhưng dù sao, đến lúc nầy, mày vẫn đang trên chân mình mà bước. Vẫn đang ngửa mặt hít thở khí trời và tận hưởng tự do. Trong khi đó thằng Chiến mục rửa trong bóng tối của áo quan. Sai lầm của mày tuy đắt nhưng không đắt bằng thằng Chiến.
  • Con hiểu rồi.
  • Ngày mai hãy đi với tao đến nhà thằng Chiến xin lỗi cha má nó. Mười lăm năm chờ đợi của tao và má mày tuy mỏi mòn nhưng, không bằng sự mất mát của ba má thằng Chiến. Hiểu không?
  • Dạ hiểu.

    Hùng đăm chiêu:

  • Không biết anh em nhà Chiến sẽ ra sao khi con đến.
  • Không sao cả. Kinh thánh dạy “Mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện để lấy áo trong của anh hãy để  nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm, hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin, hãy cho, ai vay mượn, đừng ngoảnh mặt đi”. Nhẫn là trên hết.

      Hai mươi chín tết hai cha con đến nhà cha mẹ của kẻ qua đời khi còn rất trẻ là Chiến Võ. Ừ… hai ông bà già và bầy em của Chiến thôi thì chuyện cũ rồi ta cho qua. Sự chân thành của Hùng đã khiến hận oán mười lăm năm qua đi. Chân thành là gì? Là thật với chính mình. Gã tù về đời tên Hùng không còn gì trừ thật với chính mình.

        Về. Ngang qua nhà Minh Thùy ông Tuấn dừng xe:

  • Thăm con Thùy một lát.
  • Thôi ba ơi… chuyện quá cũ rồi. Ai có phận nấy.
  • Phải gặp thôi. Gặp để biết bèo nổi mây chìm vì đâu…

     Minh Thùy hai con. Một trai một gái nhưng không đề huề bởi vợ chồng đường ai nấy đi. Hai con mà không ở được nghĩa là làm sao? Ngộ nhận – nghĩa là – hiểu sai hay nhận thức sai. Sai lầm trong tình yêu đã khiến Minh Thùy trả giá. Nhưng ngộ nhận nầy bắt nguồn từ xốc nổi của Hùng mà ra. Cũng rất chân thành Hùng xin lỗi tình xưa. Con trai Minh Thùy đã mười ba, con gái mười một, cô đủ già để:

  • Cuộc sống là một quá trình làm sai và sửa sai phải không anh? Sai lầm lớn nhất chúng ta mắc phải trong cuộc sống là luôn sợ sai lầm – Elbert Hubhard- đã nói vậy. Vui đi anh. Vui để đối mặt với thử thách và chiến thắng nó mà không mắc phải sai lầm. Và ngay cả khi mắc sai lầm vẫn có thể sửa chữa để thay đổi.

       Hùng nhắm mắt nhìn trời.

                                                 Nguyễn Trí

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

Về giây phút đầu của buổi chiều hôm đó mẹ chỉ nhớ là mình căng mắt nhìn ra bốn hướng và trái tim đập lên loạn xạ. Mẹ tìm con, cố tìm mái tóc dợn sóng của con nổi lên trên tà áo trắng. Mẹ mong nhìn thấy ánh mắt vui mừng của con, hồn nhiên như những bé gái lên mười.

Từ văn phòng về trễ,  mẹ cầm túi thức ăn có một ít trái cây, bánh mì và  mấy hộp sữa cho bữa điểm tâm. Tuy mệt nhọc leo lên cầu thang nhưng mẹ vẫn chuẩn bị sẵn nụ cười để che giấu sự nhọc nhằn sau một ngày buồn bã và nhàm chán. Một nụ cười dành cho con, để con khỏi cảm thấy cái gánh nặng của cuộc  đời buồn bã, con thì thiếu một người cha còn mẹ cũng không có người đàn ông trong mái ấm. Mỗi ngày chúng ta đều sống như một sự thách thức, để tiếp tục, nhưng niềm vui luôn  có trong đôi mắt, một sự đồng loã phát sinh giữa mẹ và con.

          Niềm vui cuối ngày của mẹ là được nhìn thấy con ngồi đợi ở bậc thang trước thềm nhà, miệng ngậm cây bút chì, tay cầm quyển  tập hay có một trang sách mở rộng trên đầu gối; vài sợi tóc lòe xòe trên trán và khuôn mặt rạng rỡ, sống động như chú ngựa con trên thảm cỏ.

Mẹ hổn hển vì leo đến cuối cầu thang. Nhưng không có con ngồi đợi mẹ.

          Run rẩy. Mẹ không mở được cửa! Mẹ bỏ túi thức ăn xuống sàn nhà, mẹ bấm chuông các nhà lân cận. Gọi điện đến trường…

Tất cả đều vô ích.

          Sao lại thế này? con đã biến mất?

          Mẹ lao xuống đường, hỏi tin con ở các cửa hàng thân quen, đến đồn công an, và một nhân viên an ninh khuyên mẹ gọi điện đến bệnh viện trong vùng.

Không kết quả.

          Mãi đến khuya mẹ mới trở về nhà, tuyệt vọng. Trong đêm mẹ không sao ngủ được, mẹ nằm, cửa để mở, hy vọng được nghe bước chân con bước lên cầu thang. Một đêm kinh hoàng, mẹ lục lọi khắp nơi trong nhà xem con có để tờ giấy nhắn nhủ gì không, tìm một vài dấu hiệu mơ hồ nào đó để có thể dắt mẹ  tìm đến bên con. Nhưng hoàn toàn vô vọng.

Đến lúc đó  thì những hồi tưởng từ đâu quay về trong đầu mẹ: buổi sáng trong lúc chải tóc mẹ nghe con khe khẽ hát, con lẩm nhẩm bài thơ, bài học lịch sử hay địa lý gì đó để học thuộc lòng. Rồi sau đó con kể chuyện về bạn bè hay cô giáo. Con, mãi mãi và chỉ con thôi. Con là cuộc đời của mẹ nhưng mẹ không biết con đang ở đâu.

          Sau những tìm kiếm vô ích và vô vọng, mẹ bỗng dưng cảm thấy mình có lỗi. Đáng lý ra mẹ phải đến đón con ở trường và mọi việc đã không thể xảy ra. Những đứa bạn nói rằng đã cùng con leo lên xe buýt, con đã xuống ở trạm dừng gần nhà, con bước đi trên vỉa hè và vẫy tay chào các bạn. Tất cả như mọi lần. Chỉ vài chục mét, đến cửa hàng bách hóa, quẹo trái là con về đến nhà. Ai cũng nói không, nhưng mẹ vẫn cảm thấy mình có lỗi vì có lẽ mẹ đã phải làm một điều gì đó, dù không thể. Mẹ phải làm việc. Mẹ phải cố gắng kiếm tiền để con không thiếu một thứ gì.

            Sau cảm giác tội lỗi thì mẹ bắt đầu có biểu hiện vô cảm. Đi quanh quẩn trong phòng mà chẳng biết thời gian đã trôi qua, ngồi xuống bàn ăn và liên tục nhìn bức hình con trên tờ báo. Mẹ đọc lại tên con, vài chi tiết như chiều cao,  áo quần đang mặc. Mẹ đã ghim tờ thông báo đó lên tủ buffet để bất cứ lúc nào mẹ cũng có thể nhìn thấy.

Mẹ tìm mọi cách để che giấu sự vắng mặt của con trong trái tim mình, và ngày qua ngày, mẹ vẫn tiếp tục chuyện trò với con, như thể con vẫn còn đây, tưởng tượng về những câu chuyện không hề hiện hữu. Vài tháng sau mẹ im, không còn nói nữa. Cuộc đối thoại chỉ có trong đầu mẹ  và mẹ âm thầm bước đi trong các căn phòng, ve vuốt các vật dụng của con, xếp lại hàng trăm lần chiếc áo của con.  

          Mẹ đã trở thành cái bóng của chính mình. Mẹ không ăn. Buổi sáng thức giấc gập mình trên chiếc bàn, nơi mà giấc ngủ đã cho mẹ tạm dừng sự tuyệt vọng.

          Con đang ở đâu? Ở đâu?  Tại vì sao mà con đã không về?

                                                          &&&

          Mẹ yêu ơi, mẹ cứ liên tục hỏi là con đang ở đâu?

          Chắc không xa mẹ lắm đâu, con ở đây,  dưới chân cầu, có lẽ cách mẹ chừng vài kilomét.

          Bọn họ đã ném xác con ngay trong đêm mà con không trở về nhà.

          Con vừa xuống xe buýt và vẫy tay chào bạn bè. Chỉ vài bước là con đến trước cửa hàng tạp hóa. Ông chủ tiệm dường như đang đợi con….

          Con chưa biết phải làm gì thì bị một bàn tay đưa lên bịt miệng, rồi ông chủ kéo con vào phía sau tiệm. Con nghe tiếng đóng cửa và ngay lúc đó con nhìn thấy có mấy người đàn ông như bầy sói đang thở dốc.

  • Xõa tóc ra, mầy sẽ lớn như một cô gái …

Con chẳng hiểu gì cả nhưng linh tính cho hay mình đang là một con thú đang sập bẫy. Hai mắt mở to vì kinh hãi, nước mắt chảy ròng cùng tiếng kêu lạc giọng.

  • Mẹ ơi, mẹ ơi !

Sau đó thì người ta đánh đập con, rồi ép sát người con vào thân hình nhớp nhúa của họ. Hơi thở sặc mùi rượu, họ không chút động lòng trước tiếng khóc tuyệt vọng của con. Họ giữ con bất động. Rồi một cơn đau nhói chạy khắp người con. Con như ngạt thở. Nấc nghẹn theo từng cú ép đẩy của bọn người khốn nạn. Đớn đau lẫn tủi nhục mà trước đó đầu óc non nớt của con chưa  thể nào tưởng tượng.

            Sau đó thì mọi việc chấm dứt. Con không còn là gì, giống như một nùi giẻ để vứt đi. Họ chẳng chút xót thương. Đối với họ con chỉ là một thứ đồ vật, để thõa mãn, dùng xong rồi bỏ. Rồi trong bóng đêm, họ ném xác con xuống dòng sông.

          Giờ thì con ở đây. Nằm giữa những rác rưởi trôi trên sông và những rễ cành lẫn rong rêu đã giữ con lại. Thân xác con chẳng còn lại gì. Chiếc áo trắng đến trường không còn nữa, và giữa những đám rong, những đàn cá bơi lội xuyên qua mái tóc con, còn lũ côn trùng thì nhún nhảy. Đôi mắt của con giờ chỉ là hai lỗ hổng nằm trong hộp sọ, chó dại và chuột nhắt đã ăn mất từ lâu.

          Con rất tiếc đã không thể báo tin sớm cho mẹ về những gì đã xảy ra! Con đã không trốn mẹ, nhưng chính những gã đàn ông mà mẹ nhìn thấy mỗi ngày, họ nhìn mẹ với cái nhìn thương hại, rồi khi mẹ đi qua, họ đưa mắt đồng lõa nhìn nhau như nhắc nhở về những giây phút điên cuồng  khi con lọt vào cạm bẫy.

          Mẹ yêu ơi, con và mẹ có chung một cuộc đời…Người này chỉ sống cho người kia. Thế mà bây giờ bọn khốn nạn đã chia rẽ chúng ta. Con hy vọng là sẽ có một ai đó sẽ tìm thấy thi thể của con. Để chôn cất. Và lúc ấy mẹ sẽ điên lên. Dửng dưng với hết thảy mọi việc xung quanh. Nhưng mẹ sẽ không còn buồn khổ nữa trong sự đợi chờ vô vọng.

                           (Trương Văn Dân dịch từ nguyên tác tiếng Ý : l’attesa)

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »