Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Vết cắt

Trần Minh Nguyệt

.

Ngày ngày, hai con người lầm lũi trong ngôi nhà nhỏ ở một miền quê yên ả, thanh bình.Hai con người với những hoài niệm, với những cơn gió buốt lạnh trái mùa.

Đó là hai con người mà phía trước là màn đêm điểm những đốm sáng. Từ phía mặt trăng dịu hiền kia, những làn gió mát lạnh nhè nhẹ thổi. Bóng tối dần bị đẩy lùi mãi về một bên. Con đường dốc thoai thoải phủ đầy cát bụi, tưởng chừng như kéo dài vô tận không có điểm dừng. Ngôi nhà trên triền dốc, ngôi nhà có những ô cửa sổ sáng đèn.

CON GÁI

Tôi là một đứa trẻ bị mẹ bỏ rơi.

Lúc tôi còn bé, ba tôi thường hay nói là mẹ yêu tôi rất nhiều, nhưng vì công việc mẹ phải đi làm ăn xa nên không về với tôi được. Và tôi tin vào điều đó. Ba thường kể lúc nhỏ tôi hay quấy khóc, ngang ngạnh. Mẹ bế tôi đi chơi khắp xóm để dỗ dành. Những hình ảnh trong kí ức mờ nhạt đó, tôi không tài nào nhớ được.

Tôi là một đứa trẻ bị mẹ bỏ rơi.

Trong tâm trí tôi tràn ngập những kỉ niệm về ba.Tôi nhớ mỗi khi tôi khóc, ba là người ôm tôi vào lòng âu yếm, vỗ về và tìm mọi cách làm cho tôi cười. Mỗi đêm khi tôi lên giường ngủ, ba là người lén hôn tôi và thầm thì: “Con gái ngủ ngon. Ba thương con nhất trên đời.”. Vào mùa đông mưa dầm, rét mướt, ba đến trường đón tôi về. Ba che chắn cẩn thận sợ tôi bị ướt, lạnh. Tôi là một đứa con gái hiếu động. Không có mẹ bên cạnh nên tính tình tôi giống như một đứa con trai. Tôi luôn gây gỗ với những đứa trẻ trong xóm, hay bạn cùng lớp mà không vì một lí do nào cả. Và lần nào cũng vậy, ba không trách mắng tôi. Ông luôn tìm những lời thích hợp để an ủi tôi. Đối với thế giới tuổi thơ của tôi, ba là tất cả. Là mẹ, là ba. Là một người bạn của tôi.

Mẹ đã bỏ ba, con tôi ra đi theo tiếng gọi mà người ta thường nói là của con tim. Mấy người hàng xóm đã nói với tôi như vậy. Tôi không biết theo tiếng gọi của con tim là gì ?. Tôi chỉ biết là mẹ rất ít khi về nhà. Khi về thì cũng vội vội, vàng vàng nói vài câu với ba, và tôi rồi lại ra đi. Tôi còn nhớ năm tôi lên tám, một lần mẹ về, tôi ngập ngừng hỏi mẹ :

– Đi theo tiếng gọi con tim là việc gì hả mẹ ?

Mẹ ngạc nhiên nhìn tôi :

– Ai dạy con như vậy ?

– Là mấy cô, chú hàng xóm.

– Tổ cha cái quân tọc mạch, ác mồm, ác miệng. Trời sao không đánh chết chúng đi.

– Mẹ chửi ai vậy ?

– Im đi đồ ranh con.

Tôi sợ hãi cúi đầu yên lặng. Tôi cũng không biết mình đã làm gì sai khiến mẹ nổi giận như thế. Mẹ! tiếng gọi rất lạ lẫm và ngượng ngùng với tôi. Tôi buộc phải gọi người đàn bà đó là mẹ vì ba tôi bảo vậy và bà ấy cũng bảo như vậy.

Tôi đã đọc rất nhiều chuyện cổ tích. Người mẹ trong truyện bao giờ cũng hiền hòa, thánh thiện như những nàng tiên. Họ yêu con mình rất mực. Họ sẳn sàng hi sinh thân mình để bảo vệ, che chắn cho con. Lá chắn của tôi rách nát tơi bời. Mẹ của tôi giống như bà hoàng hậu phù thủy trong truyện “ Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn” vậy. Những lần hiếm hoi mẹ về thăm nhà làm cho tôi đau đớn, lo sợ. Bà không bao giờ ôm tôi hay nói lời ngọt ngào với tôi cả.

– Sao con giống ăn mày quá vậy?

Quần áo xốc xếch, rách rưới. Quần áo lần trước mẹ mua đâu rồi?

– Con cất ở trong rương

– Sao lại cất?

Lấy ra mặc đi. Mẹ sẽ mua cho nhiều đồ khác mà.

– Con không thích mặc những bộ đồ ấy. Mẹ mua nữa làm gì?

– Ai dạy con như vậy? Ông ấy phải không?

– Mẹ đừng nghi oan cho ba. Ba không nói gì cả.

– Vậy thì tại sao?

– Không tại sao cả.

– Con càng lớn, càng hư. Con nói với mẹ bằng thái độ gì vậy?

– Mẹ hãy để con yên. Mẹ hãy đem đồ ấy về cho Hương mặc đi. Con là con nhà nghèo. Chúng không thích hợp với con.

– Tùy con thôi.

Mẹ tôi buông thõng một câu, trừng mắt nhìn tôi và bỏ đi. Tôi nhìn theo mẹ, nuốt nước mắt vào trong lòng. Những lần gặp mẹ. tôi thường lảo đảo như một cánh cửa long bản lề. Chao đảo, nghiêng ngả. Tôi tự nhốt mình trong nỗi buồn khổ bằng một bức tường im lặng. Với thái độ bướng bỉnh, thách đố.Tôi không muốn giải bày. Không muốn trở lại với chính mình.Tôi không đủ can đảm đập vỡ bức tường vây quanh tôi. Tôi lầm lũi một mình đi dạo trên con đường quê trước nhà vào ban đêm. Nhìn những làn mây nhẹ nhàng trôi trên bầu trời vô tình che khuất những vì sao. Tôi hay ngồi một mình trên đập nước, chờ trăng lên. Tôi thích nhìn ánh trăng vàng uốn lượn trên dòng sông. Tôi luôn ngồi như thế cho đến lúc trăng lên đến đỉnh đầu. Tôi biết rất rõ là vẻ đẹp của con đường sẽ hiện ra dưới ánh trăng. Những cơn gió nhẹ từ cánh đồng thổi vào làm cây cối hai bên đường ẻo lả, uốn lượn như những thiếu nữ đang độ trăng tròn. Và khi về đến nhà là tôi đóng chặt cửa phòng, một mình trong phòng gửi hết niềm tâm sự vào tiếng đàn ghi ta – Cây đàn cũ sờn của ba tôi. Nhưng từ lúc mẹ ra đi ông không còn đàn thêm lần nào nữa.

Ba rất lo cho tôi. Những lần tôi buồn, sống bất cần và khép mình như vậy. ông luôn bên cạnh ân cần, như muốn tiếp cho tôi thêm sức mạnh.

– Con có chuyện gì không vui phải không con gái?

– Con mất ngủ Câu trà lời của ba làm tôi nhớ mãi

– Con không ngủ được vì có gì đó làm con lo lắng, suy nghĩ?

– Dạ!

– Hãy buông bỏ đi. Hãy nghĩ đến những gì vui vui. Tâm ta buồn nhưng ý chí quyết định tất cả. Con hãy dùng ý chí để đến được với những niềm vui con à.

Ông tiếp:

– Con có làm được như vậy không?

Ý chí trong con dường như không còn hiện hữu nữa.

– Đừng nói vậy! Con sẽ làm được

– Tôi nói một cách quả quyết.

Tôi rất mong điều đó xảy đến. Nhưng tôi không biết phải làm gì để có thể bước sang con đường rộng thênh thang ngoài kia. Trong tâm tôi, luôn có sự xung đột bỏng rát, nhức nhối.

Hương là em gái cùng mẹ khác cha với tôi. Nó rất hồn nhiên và xinh xắn. Một vẻ đẹp mơn mởn như hoa hồng mới chớm nở. Cơ thể nó cân đối, đầy đặn, múp máp tươi mát. Các đường cong trên thân thể Hương mềm mại, quyến rũ. Làn da trắng hồng. Đôi mắt to đen lúc nào cũng lúng liếng, ươn ướt dưới hàng mi dày. Thuở nhỏ tôi có gặp nó vài lần. Hương dể thương, hiền từ như vậy không hiểu sao lúc đó tôi rất ghét nó. Nó lúc đó giống như một nàng công chúa. Còn tôi lem luốc, bẩn thỉu. vậy mà không biết sao, Hương rất thích tôi. Gặp tôi là nó xông vào nắm tay gọi : “ chị ơi, chị à” khiến tôi không biết phải làm gì với nó. Tôi cũng vài lần tỏ ra thô lỗ với nó, quát vào mặt hay thậm chí đánh vào mông nó. Hương cũng sợ hãi khóc toáng lên. Nhưng khi mẹ tôi hỏi thì lần nào nó cũng nói dối là bị té ngã, hay bụi bay vào mắt. Chỉ có một lần duy nhất nó mách lại với mẹ tôi và khóc nức nở, dỗ hoài không nín. Và sau lần đó tôi không muốn nhìn mặt nó thêm lần nào nữa.

– Mầy không phải là em gái tao, nghe rõ chưa?

– Phải mà!

Mẹ bảo mẹ sinh ra chị trước, sau đó sinh ra em

– Bà ấy cũng không phải là mẹ của tao. Tao không có mẹ

– Chị có mẹ mà.

Nó rướm nước mắt.

– Mầy đã cướp mẹ của tao. Mầy là phù thủy.

Tôi hét to. Mẹ nghe hết lời Hương mách lại. Vẻ mặt mẹ vô cùng giận dữ. Mẹ quay sang, tát vào mặt tôi. Tôi vùng bỏ chạy, còn nghe tiếng mẹ đuổi theo:

“Đồ mất dạy, tao không có đứa con như mầy”.

Hương đã vào đại học. Vậy mà cứ có thời gian rảnh là lén gia đình bắt xe về thăm ba, con tôi. Ban đầu ba tôi phản đối nhiều lắm. Nhưng về sau, không thấy ông nói chi nữa. Tôi có cảm nhận ông cũng xem Hương như tôi vậy.

– Hương là một cô gái tốt. Nó nhớ con nên về thăm. Con đừng làm em buồn nhé.

– Ba không ghét nó sao ?

– Lỗi là của người lớn. Hương có lỗi gì dâu. Nó hiền và rất hiểu chuyện.

Tôi thầm nghĩ nó lại chia sẻ ba với tôi rồi. Nhưng lần này tôi không ganh tị với nó mà cảm thấy một sự ấm áp trong lòng. Một sợi dây tình cảm gắn kết tôi với đứa em gái của mình. Những ngày có nó, nhà tôi vui hẳn lên. Lần nào về thăm, hai chị em cũng tâm sự đủ chuyện. Và trong những lần như vậy nó kể về mẹ rất nhiều. Hương luôn bảo tôi:

– Mẹ chưa bao giờ quên chị một ngày nào cả. Nhưng cứ nhìn vào đôi mắt đầy căm hận của chị, bà thấy rất đau đớn.

– Chị không có mẹ

– Hãy hiểu cho mẹ chị à. Bà rất muốn ôm chị vào lòng nhưng nhìn vẻ mặt lạnh tanh, hững hờ của chị bà không dám làm điều đó. Lần nào đi thăm chị về bà cũng khóc rất nhiều.

– Hiểu sao đây em?

Tôi cười nhạt:

– Bà ấy ra đi khi chị mới có 4 tuổi. Bà ấy đã đem cuộc sống của chị quăng ra khỏi cuộc đời của mình rồi. – Nhưng mẹ không yêu ba chị. Chỉ vì bị gia đình ép buộc. Ở bên nhau mà không có tình yêu thì khổ lắm. Hương yếu ớt giải thích.

– Chị không muốn hiểu. Chị không có mẹ.

Tôi đứng dậy bước vội vào phòng. Một thoáng, quay đầu nhìn lại, ánh mắt của Hương nhìn tôi như van xin. Bỗng nhiên lời của ba văng vẳng bên tai tôi

– Chẳng có ai giúp được con đâu. Con phải tự giúp mình thôi. Con không thể sống suốt đời mà không có niềm tin được.

Niềm tin, ý chí mà ba tôi nói ẩn quá sâu trong tâm tôi. Cũng đôi khi tôi cảm nhận được chúng. Nhưng chúng giống như những hạt bụi mù tan biến vào cơn lốc cũng nhanh chóng như khi chúng được sinh ra.

NGƯỜI CHA

Tôi là một người chồng thất bại. Cô ấy về làm vợ tôi mà không có tình yêu. Nên dù chúng tôi đã có bé Mai, vợ tôi vẫn bỏ tôi để đi theo một người đàn ông khác mà cô ấy bảo là yêu. Tôi nhường nhịn, chìu chuộng có ấy đủ chuyện, nhưng vào một ngày khi tôi đi làm về cô ấy nói với tôi về vấn đề li hôn.

– Sai lầm nhất của tôi là nghe lời cha, mẹ lấy anh…

– Nhưng tại sao lại vậy? Anh có làm gì sai đâu?

– Tôi không yêu anh. Chúng ta hãy li dị để giải thoát cho nhau.

– Chúng ta còn bé Mai mà

– Anh đừng lấy con ra làm cái cớ để tiếp tục cuộc sống như địa ngục này. Sống sao được khi tôi và anh, hai người hai tình cách khác nhau.

– Anh thương em và con rất nhiều. Em không yêu anh nhưng bé Mai nào có tội tình gì. Nó cần có cả ba, lẫn mẹ em à.

Vợ tôi im lặng. Tôi cứ tưởng là mình thuyết phục được cô ấy. Tôi không ngờ hôm sau khi tôi đi làm về, vợ tôi đã dọn hết đồ đạc và ẳm bé Mai về nhà ngoại rồi. Tôi tới nhà cha, mẹ vợ nhiều lần thuyết phục vợ mà không được. Cha, mẹ vợ thấy tôi đáng thương không nỡ chia cắt tình phụ tử của hai cha, con tôi nên họ trả bé Mai lại cho tôi.

Một thời gian sau tôi nhận được giấy triệu tập của tòa án. Vợ tôi đã đơn phương đâm đơn ra tòa li dị. Lòng tự ái của người đàn ông nổi lên. Tôi kí vào đơn li dị chấm dứt một cuộc hôn nhân không có tình yêu.

Cô ấy lấy chồng sau đó không lâu. Đó là người đàn ông cô ấy yêu. Người đó giàu có, sang trọng hơn tôi. Hai vợ chồng cô ấy sinh được hai đứa con có cả gái, trai. Cô ấy và chồng hạnh phúc ngập tràn. Tôi vẫn vậy. Vẫn vác cuốc ra đồng cắm đầu vào hai sào ruộng vào những vụ mùa. Và đi làm phụ hồ, làm mướn khi công việc đồng án rảnh rỗi.Tôi không nghĩ đến việc lấy vợ nữa. Tôi sợ cái cảm giác bị ra tòa. Bị phản bội. Tất cả tình thương tôi dồn cho đứa con gái tội nghiệp của mình.

Lúc đầu tôi rất giận cô ấy. Nhưng lâu dần tôi nhận ra là cô ấy đã làm đúng. Cô ấy đang sống trong hạnh phúc. Sống với tôi, cô ấy đã không có tình yêu mà còn phải sống trong nghèo khổ. Những lần cô ấy đến thăm bé Mai, Tôi luôn giữ một khuôn mặt tươi vui, thoải mái như tôi đang đón một người thân trong gia đình.

– Em khỏe không ?

– Bình thường. Em về thăm con. Công việc của anh vẫn tốt chứ ?

– Cũng như mọi ngày thôi. Mai ơi ! Có mẹ về thăm con nè.

Bé Mai mở cửa bước ra. Nó nhìn mẹ nó chằm chằm mà không buồn mở miệng chào. Tôi trừng mắt nhìn nó. Nó ấp úng :

– Mẹ mới đến.

Mắt nó ngấn lệ. Nó nhìn mẹ lộ rõ nét căm hận khiến tôi lo lắng. Thế là cả buổi, mặc cho cô ấy dỗ dành như thế nào đi nữa, nó vẫn trơ trơ. Nó hầu như không trả lời những câu hỏi của cô ấy mà chỉ lắc đầu hay gật đầu cho có mà thôi. Thái độ chai lì, ương bướng của nó làm cô ấy nổi giận. Cô quay sang tôi hoạnh họe. – Anh dạy nó chống lại tôi phải không ?

– Ai lại đi dạy con như vậy chứ

– Vậy tại sao tôi hỏi nó không trả lời

– Tại con không biết phải nói gì. Bé Mai nói chen vào.

– Con không muốn nói cũng được. Vậy theo mẹ ra thị trấn nhé.

– Đi đâu ?

– Con muốn đi đâu mẹ đưa đi.

– Con không biết và cũng không muốn. Con thấy mệt. Con muốn ngủ.

Nó quày quả đi vào phòng.

Càng ngày con gái tôi càng xa cách mẹ nó. Nó luôn nói với mọi người rằng nó không có mẹ. Và nếu ai vô tình hỏi đến mẹ là nó hung dữ bỏ về nhà nhốt mình trong phòng mấy ngày liền. Mọi người ai cũng nói là con gái tôi mắc bệnh trầm cảm.Tôi không biết phải làm sao. Chỉ biết luôn bên cạnh con chăm sóc, khuyên bảo. Từ khi cô ấy bỏ tôi đi tìm hạnh phúc cho mình. Tôi không còn một niềm vui nào nữa. Trong tâm tôi không một dấu vết gì về tình yêu. Tôi thấy nó thật sự gây bao rắc rối và phiền muộn. Tôi cảm nhận được sự vô nghĩa của cuộc đời. Cuộc đời tôi chỉ cho đi mà không được nhận lại bất cứ điều gì. Cuộc đời tôi giống như dòng thủy triều xám bạc đang nhấp nhô ngoài kia. Thật là trống rỗng và vô vị. Dạo gần đây Hương hay đến thăm ba, con tôi. Nó là một con bé tốt bụng, ngây thơ. Nó rất thương Mai. Chính nó đã đem lại cho tôi một cái nhìn khác về cuộc sống. Đó là : Trên thế gian còn biết bao điều khốn khổ, nhưng mọi người vẫn có thể vui. Bên cạnh mỗi sự khổ đau vẫn còn có những tiếng cười vui. Bên cạnh tiếng chuông báo tử, vẫn có thể nghe được sự xót thương của bạn bè, hàng xóm. Bên cạnh sự độc ác, phản bội, còn biết bao người trung thực, thánh thiện. Rồi tất cả sẽ trôi qua đi thôi!

Giờ đây, tôi cảm thấy cuộc sống còn nhiều điều đáng sống. Chặng đường đời còn lại kia biết đâu sẽ là chặng đường vui của tôi và bé Mai. Tôi cảm thấy thỏa mãn với ánh hồng ấm áp và thanh bình đó đang ở phía trước đời tôi….

TRẦN MINH NGUYỆT

Read Full Post »

Đứng lớp

Nguyên Hạ_Lê Nguyễn

Viết tặng các hoc trò cũ của tôi)

Tôi được phân công về giảng dạy tại trường phổ thông trung học Đống Đa Qui nhơn ở miệt khu 6, ngôi trường nằm bên trong con đường Nguyễn Thái học , ngày trước mỗi khi có dịp vào đây là chỉ ăn phở Công Binh hay đến chơi nhà vài đứa bạn ở miệt khu 6 và điểm đến cuối cùng vẫn là quán phở ấy ….

Buổi sáng thức dậy sớm cầm coi lại quyết định của Ty giáo dục, chọn cho mình chiếc áo nào thích hợp khi lần đầu tiên đến nhận công tác đây…Nếu như trước năm 75, nếu là cái mốc thời gian tính từ trước ngày 30 tháng tư năm 75 thì dễ rồi…

.

Tôi chỉ cần chọn cái áo dài nào đẹp nhất mà tôi thích, trang điểm kỹ càng, ngắm vuốt sao cho coi được mắt là xong…

Nhưng bây giờ đây mọi cái đều thay da đổi thịt, thành phố Qui nhơn sau ngày chính quyền cách mạng về tiếp quản, mọi cái đều mới mẻ, mọi người len lén nhìn nhau để mà sống sao cho phải ./???

Sống sao đây ??mặc dù gia đình tôi cũng thuộc loại ” có lý lịch rõ ràng”, vì thế chị em tôi mới được bổ nhiệm trước và có chỗ tốt trong thành phố, sau khi đã dự khóa đào tạo ngắn ngày của Ty giáo dục qua mấy lần chọn lại cái sơ yếu lý lịch của mỗi người và do chính tận tay cha tôi đem nộp cho hai chị em tôi.

Không biết họ sắp xếp làm sao mà tôi được vào lớp 2A Tự Nhiên , được học tại trường Trinh Vương, ngôi trường cũ mà tôi đã từng ngồi ở đó suốt hơn 10 năm, (lớp trưởng là bạn Trần Quang ảnh)

.

Lớp đào tạo ngắn ngày của chúng tôi gồm 50 giáo sinh đều đã có Tú tài 2, đã và đang theo học ở các trường sư phạm của chế độ cũ, hay đã theo học các nơi khác với một hai chứng chỉ đại học… chúng tôi gặp nhau ở đây để ổn định lại cuộc sống và ai cũng mong có việc làm ổn định vì chưa ai biết cuộc sống sẽ đi về đâu và tương lai mỗi người sẽ sao đây ???

Lúc ấy cha tôi đã trở về gặp lại vợ con sau hơn 21 năm xa cách…trong mừng vui của cả gia đình và bà con họ hàng và nhất là của Mẹ tôi, cha tôi xuất hiện như một cứu tinh cho mọi người trong họ tộc nhà tôi, vì trong cuộc đổi đời ấy …chưa ai biết là cuộc sống sẽ ra sao ? phải làm gì cho đúng với cách mạng và lập trường tư tưởng mỗi người phải xác định và sao cho đúng sai .

Khi trở về miền Nam, cha tôi đã không thông báo cho mấy mẹ con tôi biết ngày giờ nào người sẽ về..chỉ biết qua một người cùng làng thông báo là cha tôi vẫn còn sống và sẽ trở về gặp lại gia đình tôi một ngày gần đây….

Chúng tôi nhận biết qua Mẹ tôi nỗi vui mừng hiện ra trong ánh mắt và trong câu chuyện mỗi đêm người hay nhắc nhớ …và gia đình tôi hoan hỉ đón người cha mà bấy lâu tôi vẽ ra trong trí nhớ mù mờ và qua lời tả lại của Mẹ..

.Cha tôi đó :” một con người bằng da bằng thịt, hiền hòa, nói năng có nghĩa, có tình.”

Mẹ tôi đã tần tảo sớm hôm nuôi cho người ba đứa con thơ, ngày người rời cảng Qui nhơn theo đoàn người Tập kết ra Bắc,

Mẹ tôi dắt hai đứa bé gái ra đưa tiễn , một đứa lên năm và một đứa lên ba đó là tôi và một bào thai ba tháng tuổi …bây giờ ba đứa bé đã là những thiếu nữ đang tuổi thanh xuân…,và tôi đã có hai con.

Chiếc xe đạp Phượng Hoàng, món quà và cũng là gia tài duy nhất mà cha tôi mang về cùng với ba cây bút máy hiệu Kim Tinh, cha tôi đã trao tặng ba chị em tôi và một bản lý lịch tốt ở thời gian đó.

.Vì thế chị em tôi mới được chọn vào lớp đào tạo nhanh nhất và được phân bổ cho khắp các huyện lị của tỉnh Nghĩa Bình ngày ấy…

Thời gian này gia đình tôi như một ngày hội lớn, những bà con xa gần tìm về thăm hỏi, những bạn bè từ miền Bắc về nam, những xóm giềng đến chào hỏi và hỏi về những cách phải làm sao cho phù hợp với xã hội mới bây giờ .cả về cách sống và cả về ăn mặc…cùng những lặng thầm khép kín, lắm lét nhìn nhau.

***

Cuối cùng tôi cũng quyết định là chọn cho mình chiếc áo dài màu tím than còn lại trong tủ áo của tôi.

Đúng bảy giờ sáng, tôi leo lên chiếc xe đạp Phượng hoàng của cha tôi , mấy lần suýt ngã vì sự vướng víu của hai tà áo dài và chưa quen với chiếc xe hơi cao, cha tôi tình nguyện ở nhà coi dùm đứa con gái mới bốn tháng tuổi của tôi để tôi đi nhận nhiệm sở mới .

Ngôi trường Trung học Đống đa là điểm đến, hai dãy lớp học gồm 10 phòng học và một dãy ngang 4 phòng nằm trên khu đất cao, cái cảm giác phập phồng y như ngày đầu tiên tôi đến trường trung học, nhưng còn hồi hộp hơn vì chút nữa đây tôi phải đối diện với con người có thẩm quyền và đại diện cho cách mạng mà tôi sẽ gặp và làm việc mỗi ngày, tôi nhìn xuống thân mình lần nữa với tà áo dài ngày cũ mà thấp thoáng trong hành lang của mấy dãy lớp học không thấy ai giống như tôi cả .

Tôi biết trong số những người đang đứng lớp phần lớn cũng là những người mà tôi quen biết cũ và cũng có một số ít từ miền Bắc, hay từ các vùng khác chuyển về công tác ở đây, họ thoáng nhìn tôi từ đầu đến chân , hơi ngại ngùng rồi vội vàng quay gót, mấy chị đàn bà áo ngắn , quần đen ,chân mang dép nhựa xanh đỏ, kể cả mấy chị giáo viên miền nam mà tôi hơi quen mặt cũng phục sức như vậy .

Một vài thầy giáo mà tôi nhìn rất quen, cũng đã lớn lên cùng thời với tôi, nhưng sao hôm nay nhìn họ cũng giống hệt những người cán bộ nơi rừng sâu mới về…áo sơ mi cháo lòng, quần kaki không thẳng nếp, đặc biệt nhất là ai cũng có đôi dép râu, loại dép chế từ các lốp xe nhà binh có quai hậu, màu đen và vững chãi trên chân của mỗi người …lúc ấy những cái lốp xe cũ vứt đi bỗng chốc trở thành xa xỉ là cái “Mốt: của các ông ngày ấy. ra đường là phải có dép râu, có thêm cái nón cối thì lại càng cao cấp hơn trong xã hội lúc bấy giờ .

Tôi ngồi chờ ở văn phòng, sau khi xong tiết dạy, các thầy cô về văn phòng ngồi uống nước và tán chuyện với nhau , ai cũng chỉ liếc nhìn tôi và không ai dám mở lời vì có lẽ nhìn dáng vẻ bề ngoài “không giống ai ” của tôi lúc bấy giờ, tôi đoán có lẽ ai trong họ cũng đang nghĩ rằng : thời buổi này mà còn mặc áo dài…giáo viên mà không biết thức thời…Sự ghẻ lạnh và xa cách từ trong ánh mắt, tôi chỉ biết nén lòng chờ và cũng không có ý định về thay áo ngắn vì tôi cũng có cái dù phải che được cái cán …

Một ngưới đàn ông ngoài 40, mặt lưỡi cày, hai má hơi bành ra khi mỗi lần ngưng câu chuyện, giọng Nghệ Tĩnh rất khó nghe , tên ông là Kấn Hịch, Tên phát âm nghe như của một người dân tộc, Sau này khi ở đây lâu ,chúng tôi đều nhận thấy ông là một người rất tốt, và nhóm giáo viên miền Nam cũng “không bị đì” như một số các trường khác mà tôi được biết qua lời kể lại của các bạn khác..ngay từ đầu tôi cũng nhận thấy ở ông sự thông cảm và không nghe ông bảo tôi phải thay đổi y phục khi dến trường trong thời gian tới…

Sau khi rà soát lại thời gian biểu của trường , ông bảo tôi sẽ phụ trách môn Anh văn cho 4 lớp 6 và hai lớp 8 đang không có người phụ trách, được đào tạo ra dạy Khoa học tự nhiên, nay về trường được cho dạy ngoại ngữ, nhưng tôi không dám xin xỏ gì thêm chỉ lo chép thời khóa biểu và chào từ giã ra về để chuẩn bị ngày mai lên lớp .

Ngày đầu tiên tôi lên bục giảng cũng rất là cảm động , những đứa học trò nhỏ rất dễ thương, chúng cũng nhìn tôi với tà áo dài không giống ai ngày ấy , nhưng thảy đều thích thú và ngưỡng mộ, một đám con gái chạy đến chỗ tôi ngồi lúc ra chơi : tụi em thích cô mặc áo dài khi đứng lớp, mấy bà cô Bắc kỳ , cứ chỏng mông vào tụi em, kỳ quá …Ôi những thiên thần bé nhỏ của một đời tôi. Sao mà dễ thương quá.

Hàng ngày tôi tự tìm hiểu và tự soạn cho mình một giáo án riêng cho mình, những chữ nghĩa mà tôi đã có được… bây giờ tôi đem trang trải cho đám học trò nhỏ, các em đa số là con của những nhà lao động trong miệt khu 6 , đời sống mọi người ai cũng khó nghèo, hàng tháng giáo viên như chúng tôi ngày ấy tất cả đều hưởng mức lương chung là 39 đồng và 6 hào bạc Bắc với 18 cân gạo có pha độn năm sáu cân mì sợi, mỗi đầu tháng có người phụ trách về công đoàn lo việc mua bán và phân chia hợp lý , chúng tôi chỉ đem theo cái bao cát để lãnh nhận số gạo và những nhu yếu phẩm như lon sữa, vài lạng đường, vài cây kim , ống chỉ, và năm lạng thịt heo, còn những nhu yếu phẫm khác như vải vóc, mùng mền thì công đoàn sẽ phân theo công trạng và chức vụ..

Trong số giáo viên trong trường chỉ có thầy Thuận , thầy Hoa,thầy Long, cô Phương , chị Ân và chị Thanh Hương là đồng trang lứa với tôi, Chúng tôi phải sử dụng lại những quần áo cũ còn lại của ngày cũ làm sao chúng tôi có cái để che thân và trước mặt các học trò nhỏ tôi không muốn chúng nhìn chúng tôi với một hình ảnh không đẹp về người thầy của chúng

Tôi được xếp cùng tổ với nhau của mấy người dạy anh Văn, thầy Thuận dạy nhạc, thầy Hoa dạy thể thao, Cô Hương ( vợ thầy Minh râu, cô Ân, người Huế, Thầy tăng Thành Long và tôi cùng một tổ,) chia nhau dạy cho 16 lớp học sinh trong thời gian ấy.

Vào những ngày họp hội đồng của ngày thứ năm trong tuần, sau khi phân công cho các em làm lao động , toàn bộ giáo viên họp chung để kiểm điểm nhau về cách sống, cách dạy của nhau …cũng bị các chị em phê bình góp ý và nhắc nhở phải thay đổi cách ăn mặc sao cho phù hợp với thời đại bây giờ , nhưng cũng không ai bảo thẳng tôi là không được mặc áo dài , vì thế tôi vẫn điềm nhiên lên bục giảng vời tà áo dài và chỉ mấy chị em trong tổ tôi mà thôi .cuộc đời tôi thực thụ bình yên với những tháng ngày đầu đời “ĐỨNG LỚP”

***

.Thỉnh thoảng chị em tôi có hỏi cha tôi về cuộc sống này rồi sẽ ra sao đây???, lần nào người cũng giải thích rõ ràng và nói y chang những lời mà khi họp ở trường hay học bổ túc chính trị cácvị lãnh đạo vẫn nhắn nhở cho mọi người đến thuộc lòng:

” Các đồng chí phải vững tâm giữ vững lập trường và ý chí cách mạng triệt để, chỉ cần chờ đợi , sau khi kế hoạch năm năm lần thứ nhất,”

” Sau Đại hội Đảng, tất cả mọi người trong xã hội sẽ hưởng tiêu chuẩn bằng nhau …mỗi sáng ai cũng được ăn bánh mì, sữa thì cứ cách một cột đèn sẽ có đặt một thùng, uống tự do…v. v…và v.v…”

Cha tôi cũng nói đúng y những câu nói đó nên chúng tôi cũng an tâm, lúc đó vì ăn uống thiếu thốn nên tôi bị mất sữa sớm, mỗi ngày phải cho con uống nước cháo, nhưng tôi cũng thầm nói với hai con nhỏ

_ Các con ơi, ráng chờ năm năm nữa thôi…lúc đó con biết đi , biết chạy rồi , hai chị em con sẽ tự đến mấy cột đèn lấy sữa uống và lấy bánh mì ăn , trước khi đi học, mẹ không còn phải lo nữa rồi …

Những ngày trên bục giảng là những ngày cơ cực, những che dấu nhau, bươi móc nhau về mặt lập trường tư tưởng chưa đả thông, kiểm điểm và kiểm thảo, những rình rập khôn nguôi, đưa những tấm gương sáng cho đám trẻ thơ soi hoài mà chưa rạng.

Thường sau khi các em lao động vào ngày thứ năm, nhà trường chia sân chơi ra từng phần cho các lớp để trồng mì cải thiện đời sống cho cô trò, tôi thường cùng các em đạp xe ra Ghềnh ráng, vào các rẫy để kiếm hom mì, những cây mì đã đào lấy hết củ, các em chặt lấy thân mì ra thành khúc cỡ hai gang tay , cắm xuống đất và cây mì sẽ có nhiều lá xanh rì cả sân trường, nhưng sân chơi của các em thì không còn nữa, màu xanh của lá mì cũng làm xanh mát tầm nhìn của cô trò tôi một chặng tháng năm dài…

Nhưng khi thu hoạch thì chỉ toàn là thân cứng chứ không có củ vì đất lẫn đá , vì bỡi chúng tôi chưa có kinh nghiệm về trồng trọt nên lần nào cũng thất bại, khi báo cáo lãnh đạo và công đoàn, tổ chúng tôi phải ghi thêm mấy con số không ở đàng sau đơn vị số lượng thu hoạch được và được biết lãnh đạo cũng ghi thêm vài con số nữa khi gởi về ty hay về bộ …

Số lượng cây mì xanh mướt quê hương tôi, nhưng tôi cũng không thích nó lắm vì nó có mặt trong từng bữa cơm ghé độn với toàn mì là mì .

Bấy giờ tôi lại làm lại công việc ngày xưa mẹ tôi đã làm với chị em tôi ngày trước:

Cơm ghé độn mẹ nhường con phần trắng

Bát cơm tươi chờ đợi đến bao giờ? ? ?

Những lần đưa học trò lớp tôi chủ nhiệm, cô trò tôi ra Ghềnh ráng ngồi ngắm biển ,

Ngồi trên những cục đá tròn hình trứng, gió biển thổi bốn bề, đó là thời gian mà chúng tôi yêu thích nhất, kể cho nhau nghe những cuộc sống của từng em, gia dình các em tất cả đều cơ cực học trò tôi nghèo quá,:tội nghiệp đến mủi lòng.

Sau khi đi học về các em cũng thường phụ giúp cha mẹ công việc gia đình, đi mót củi ở chân núi, giữ em nhỏ, thậm chí có em còn đi bán cà rem …

Khuôn mặt em nào cũng ốm yếu xanh xao, những đôi mắt trẻ thơ luôn lận bận những cơm không đủ no, áo quần không lành lặn…và cuộc sống không mấy lúc được bình an vì những lệnh tập trung lao động cho vùng “kinh tế mới”

Và những người “đứng lớp” như chúng tôi cũng xanh xao theo các em, đôi lúc tôi cũng chán chường và muốn bỏ bục giảng vì những thiếu thốn vật chất mỗi ngày ..

Nhũng buổi chiều cô trò tôi thả tầm nhìn theo những đợt sóng nhấp nhô” chúng tôi cũng xôn xao về những mơ ước băng mình qua đại dương xa mờ đầy phong ba cuồng nộ”…

Những thầy cô giáo như chúng tôi ngày ấy, sau buổi đứng lớp, chúng tôi phải làm thêm nhiều công việc khác để kiếm thêm chút tiền độ nhật, các chị thường ra đứng ở các đầu chợ , gặp ai cũng hỏi chỉ một câu :

_Có gì bán không ? Có vật gì bán không? ? ?

Hay có người giấu những bao thuốc lá trong áo quần, đạp xe bỏ mối cho các tủ thuốc…Mắt láo liêng, kéo che vành nón vì sợ người trong trường nhìn thấy…sẽ được phê bình kiểm điểm vào ngày ‘họp hội đồng”

Những cái có thể bán được của mọi người ngày ấy : là mấy cái áo dài cũ nhưng còn mới, mấy cái muổng nỉa cũ, đôi giày, cái ấm tích cũ, cái Radio , cái quạt máy v.v…tất cả đều bán được và đều có người mua ,

Một vài người khác, trong đó có tôi: sau giờ dạy về nhà là tôi đan móc, những bông hoa kết từ những mũi kim đan , đã giúp tôi vượt qua cơn khốn khó của cuộc đời, làm đẹp cho đời và cho các con tôi có bữa ăn có thịt thà và bộ áo quần lành lặn.

Những thầy giáo thì thường làm rẫy hay sửa xe đạp, đốt than nơi ven núi…

***

Bây giờ sau hơn bốn thập kỷ đã đi qua, ngồi nhớ lại những việc mà ngày xưa tôi đã làm và những ngày còn đứng lớp , tôi đã không làm cái công việc mà tôi cho là không lịch sự và khiếm nhã với các học trò nhỏ của tôi ngày ấy …

Khi đứng trước các em, tôi vẫn kín đáo và lịch sự trong hai tà áo dài che phủ, trong bài giảng cho các em tôi vẫn đem hết tâm hồn ra giảng dạy với tất cả tấm lòng và khả năng có được.

Khi lìa xa các em tôi vẫn nhớ như in từng đứa một , khi tình cờ thấy tên một em nào mà tôi nhìn thấy là tôi hình dung ra em đó ngay …

Thỉnh thoảng có vài em rời thành phố chuyển đi vùng kinh tế mới hay về một vùng quê xa để kiếm sống khi đến xin học bạ hay giấy chuyển trường, tôi đã không làm khó dễ.

Tôi luôn sửa cho các em một học bạ đẹp và lời nhận xét tốt đẹp , phụ huynh không phải chờ lâu và tuyệt đối không nhận một quà cáp nào cả,( trong thời điểm đó cũng có những con người khác có làm chuyện đó.)

Đó chỉ là những cái mà khả năng và tấm lòng mà tôi đã để lại cho các em , những đứa học trò nhỏ của tôi ngày ấy.

Tôi rất tự hào rằng : Tôi đã đem hết tấm lòng , những kiến thức đã thu nhận từ trường Sư phạm Qui Nhơn, tất cả đã trao hết lại cho đám trò nhỏ thân thương của thành phố biển Qui Nhơn ngày cũ.

Suốt chặng đường dài gần mười năm tôi ‘Đứng lớp”, cho đến lúc giã từ các em, cô trò tôi đã từ biệt nhau với biết bao bịn rịn, thân thương lắm … những giọt nước mắt mà các em đã ban tặng cho tôi ngày gia đình tôi lên chuyến tàu xuôi Nam…Suốt chuyến tàu đêm ngày ấy… Và những giọt nước mắt lặng thầm đã rớt rơi suốt chặng đường mà tôi đã đi qua.

Đó cũng chính là phần thưởng mà các học trò dấu yêu của tôi ngày cũ đã âm thầm ban tặng cho tôi…Tôi đã may mắn hơn nhiều bạn cùng lớp, cùng khoá với tôi ngày ấy: Họ chưa được một lần trên bục giảng, chưa hề có một học trò nghĩa tình như của riêng tôi…

Bây giờ các em , những đứa học trò nhỏ ngày nào của tôi ngày ấy …Có lẽ đã tung bay ra khắp mọi miền trên đất nước Việt Nam và khắp thế giới…,

Đã có một lần gần ba mươi năm sau …Cũng tại nơi này chúng tôi đã một lần gặp lại nhau trong tay bắt mặt mừng, ôm chặt nhau trong vòng tay ân tình , thắm đậm tình sâu nghĩa nặng .

Trong lần hội ngộ ấy: Tôi lại đọc được tên của từng đứa một, trong trí nhớ già nua của một người già đang khập khểnh bước chân vào tuổi lục tuần….Cô giáo trẻ ngày xưa của các em …bây giờ cả cô trò mái đầu cùng điểm bạc.

Ngày đó tôi cũng đã làm các em vô cùng kinh ngạc và nhiều em lại tiễn chân tôi bằng những giọt nước mắt yêu thương.

Mới đó mà cũng đã gần mười năm .. tôi vẫn giữ mãi những kỷ niệm của những ngày đứng lớp và những khuôn mặt ngây thơ bé dại ,..và những mái đầu chớm bạc của một vài em mà tôi đã gặp lại…sao thương quá là thương…

Nếu bây giờ có một điều ước: .” .Xin cho tôi được một lần nữa : gặp lại tất cả những học trò cũ thân thương của tôi , được cùng nhau ngồi trên Biển Quy Nhơn, mỗi người sẽ kể cho nhau nghe những thăng trầm cuộc đời nhau qua bốn thập kỷ xa mờ…bây giờ gặp lại “

Mong sao các em bây giờ là những người đã thành đạt, sáng tạo, giỏi giang và có những cuộc sống đầy đủ và bình yên bên mái ấm gia đình của mỗi người.

Thương nhớ lắm: Những học trò nhỏ của tôi, đã một thời nhìn tôi trên bục giảng.

Atlanta July 25th 2017

Nguyên Hạ_Lê Nguyễn

Read Full Post »

Chiếc lá phong

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

.

Bây giờ đã là gần cuối tháng Mười, trời bắt đầu se lạnh, buổi sáng mùa Thu nơi này thật dễ chịu, gió se lạnh chỉ đủ cho người phụ nữ chuẩn bị những quần áo chỉnh chu hơn, xếp gọn những áo quần mỏng manh của những ngày hè chói nắng… và những chiếc áo dày hơn được đem ra chuẩn bị cho mùa thu với chút lạnh pha sương theo cơn gió thoảng làm bay bay những chiếc khăn choàng điệu đàng tung bay theo gió

Tôi thích nhất là mùa Thu ở nơi này.

.Gió heo may, chỉ đủ cho tôi nheo mắt, hững hờ kéo xô cánh cửa…

Mùa Thu ơi ta chào mi…chào những chiếc lá vàng đang chạm ngõ nhà tôi.

. Những chiếc lá Phong đang oằn mình níu kéo tuổi thời gian trên cành, hôm qua tôi nhận ra chúng mới ươm vàng , sáng nay thấy chúng đã xoãi mình rớt rơi bên bờ cỏ úa…

Mỗi làn gió thổi là cuốn tung, xoáy lốc, gom nhau thành từng đống trên bờ cỏ, mái nhà ..

Những chiếc lá đỏ , vàng tội nghiệp của tôi ơi, yêu thương lắm nhưng biết làm sao hốt trọn cả vào lòng…lá vàng ơi, cuộc đời của lá , tuổi đời không mấy nổi … chỉ sang mùa là đã cuốn tung.

Khi xuân về …lá kia xanh tốt trên cành, nụ thời gian vừa chỉ mới ươm mơ , tay trăn trở ẩn mình thua chị kém em, khi những bông hoa khoe muôn màu muôn vẻ. đàn bướm , lũ ve cũng chỉ biết xum xoe bên hương hoa , vờn hoa hút nhụy…

Có bao giờ chiếc lá Phong được chiêm ngắm lúc xuân sang…Lá Phong cũng chỉ xanh màu như muôn ngàn lá khác, rung rinh theo từng giọt nắng lúc xuân sang.

.Mùa hạ đến chỉ vàng xanh thêm sắc lá… lá vẫn lạnh lùng theo những bước chân quen, không hò hẹn, không mong chờ câu tình tự, chỉ phơi mình trước giọt nắng ban mai rồi trãi dài theo giọt nắng cuối ngày…Lá vẫn xanh và vẫn bình an nơi thân cội.

Mùa Thu về… khi vừa chín muồi của thời xuân sắc, màu vàng ươm rồi bỗng biến sang cam…

Thời gian này là tuổi đời của lá chín mọng nhất, nợ áo cơm trong buổi lá còn xanh, nay trãi rộng đón chờ để làm tròn nhiệm vụ pha màu cho vạn vật…Thương lắm những chiếc lá phong

Những sắc lá đổi màu một cách huyễn hoặc, nên thơ, bao bút mực tả sao cho hết , cho vừa.. vàng sắc lá, cam từng chùm, đỏ ối màu tình tự…Rồi thẫn thờ buông mình lìa xa thân cội…

Chiếc lá Phong chưa mỉm cười mãn nguyện.câu tình tự thốt ra từ bao cửa miệng, bao ngòi bút của các văn nhân thi sĩ …làm đẹp cho đời, pha màu cho vũ trụ…nhiệm vụ chỉ hoàn thành khi lá kia phơi mình trên cỏ úa, chờ gió Thu về chao giọt nắng hanh hao…vờn gót chân ai buổi chiều tà lướt nhẹ,

Nợ áo cơm, nợ cuộc đời, lá úa cuốn trôi vào góc vườn bờ cỏ chờ rạn vỡ giữa đất trời không tiếng thở than…

Thu sang….có chiếc lá bay….

Lá Phong rơi mãi ….lắt lay tấc lòng

Mở cao cánh cửa sổ nhìn vào khoảng trời đục mờ loang bóng nước, trời chưa mù sương phủ, nhưng môi cười đã điểm giọt sương pha…bầu trời không ẩm đục như những sáng mùa Đông , nhưng cũng ướt mềm dấu thời gian trên thân lá úa…

Sáng nay những chiếc lá Phong vẫn từng cánh cam vàng, chín đỏ…vẫn lả tả rơi trong hiu quạnh của buổi sáng mùa Thu có chút gió heo may…

Tôi lặng nhìn lá Thu từng cánh rơi mềm trên cỏ úa…cảnh đẹp như trong một giấc mơ đêm…những chiếc lá mang cuộc đời và hơi thở giống thân phận của ai đó đang lặng nhìn và chợt hòa chung với xác lá một âm hưởng hòa chung làm một…

.Ôi mùa Thu…và những chiếc lá Phong…

Thương thương lắm…sắc lá điểm tô cho mùa Thu diễm tuyệt.

Thời gian vẫn rớt dài trên cành cao lá thấp, những cánh tay khẳng khiu không níu giữ , những chiếc lá vàng vẫn từng cánh rơi mau…rồi những cơn gió lắt lay dùa đẩy những chiếc lá thấm màu tình tự …gom vào một góc vườn, xáo xác bên gốc cây bờ cỏ…nát úa màu thời gian tàn tạ xác thân, tan biến giữa hư không…

Vẫn biết tạo hóa vẫn vô thủy vô chung với muôn vật, muôn người, nhưng mỗi lần nhìn những cánh lá Phong rơi ngập tràn vườn sau , ngõ trước, lòng tôi bỗng chợt nhói đau, một nỗi buồn man mác len nhẹ vào lòng như chất keo loãng trãi dài vào chân tơ kẽ tóc…

Tạo hóa và tuổi thời gian của một kiếp đời…cánh lá Phong còn lập lờ trên sân cỏ úa thì con người ta cũng giống hệt như chiếc lá kia sao ???

Tôi thường ví mình giống chiếc lá Phong kia…sao tôi không ví mình như hoa cúc, hoa Mai…Phong. Lan. cúc, trúc, hay cánh Ngọc Lan mà tôi hằng yêu thích, tỏa hương thơm sâu kín, quyện vào lòng người, cho cuộc đời ngát hương thơm dấu ái…cho mỗi lần nhắc đến tên của loài hoa này là khứu giác bỗng mở ra đón chào chất hương tình lãng mạn….nhưng tôi lại chỉ mang thân phận của chiếc lá Phong rơi….

Sao tôi lại ví mình giống chiếc lá phong kia …khi lá còn xanh…lá kia chỉ là chiếc lá trên cành, chỉ sống dậy khi Thu về se lạnh, bỡi tấm thân mỏng manh cô quạnh nên úa vàng sớm hơn cây thông, cây liễu chưa sớm úa vàng ,

Khi sắc lá biến từ màu cam rồi sang đỏ, thẫm màu rồi rơi xuống …

.Thời gian này là đẹp nhất của một kiếp đời vì đang làm đẹp cho tha nhân, nhuộm màu cho vũ trụ, cho mùa Thu mang chút lãng mạn, lan man…Là thời gian lá ngoảnh nhìn lại thân phận của kiếp lá cũng hệt như một kiếp đời…Khi đã hoàn thành nhiệm vụ thì vụt tan biến vào cõi vô minh….Khi Chiếc lá rơi….

Khi những cơn mưa về cuốn chìm vào góc tối, những mãng Tuyết của mùa Đông giá rét sẽ nhấn chìm và nát ngấu giữa hư không, thân xác của những chiếc lá Phong vàng nâu tội nghiệp sẽ về đâu khi bóng ngã chiều tà, khi mùa Đông lấp ló ngọn Tuyết trào dâng che phủ…

Lá Phong ơi …sao mi luôn mãi đơn côi, những con chim bé bỏng bay giữa trời còn từng đàn , từng cặp, dắt díu nhau trốn lạnh của mùa Đông. những cội Thông già bên nhau vẫn rì rào tình tự giữa mùa Đông.giá. ..chuyền tay nhau thay áo mới…chỉ những chiếc lá Phong là tội nghiệp biết bao

Khi tuổi thời gian làm chín vàng là soãi tay phó thác sự sống còn cho con tạo, tan biến vào cõi vô minh sau khi phơi xác lá , tô điểm cho vạn vật có những phong hình đẹp , cho các thi nhân tha hồ làm thơ tả cảnh Thu…mà nào có ai hay rằng : lá cũng là một sinh linh….

Chiếc lá hững hờ bay xáo xác đang có người … lặng lờ cúi nhặt xếp vào trang sách cũ cuộc đời…và lặng lẽ lãng quên …

Khi mùa Thu đến, những chiếc lá Phong vẫn rơi…nhưng con người ấy có còn từng lần cúi nhặt …lại xếp vào ngăn tủ lãng quên…tội nghiệp chiếc lá Phong úa vàng giữa mùa Đông giá buổi chiều nay .nó sẽ còn được dáng ai lom khom nhặt , ép vào trang sách cũ thêm mấy lần nữa giữa đất trời giá băng…tội nghiệp chiếc lá Phong và tội cho ai mang tâm trạng của lá Phong rơi….

Vàng sân xác lá phong rơi….

Cuốn xô hồn lá …. tiếp lời …. mỏng manh

Sương Thu chập choạng buông mành.

Thơ thẩn nhặt………gọi gió về tình tự.

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

Read Full Post »

Mùa thu

.Nguyên Hạ Lê Nguyễn

Cơn gió Thu năm nay đến chậm, nơi chỗ tôi đang ở , bây giờ như rụt rè bẽn lẽn …Vẫn là chút gió heo may cuốn theo vài chiếc lá vàng bay , những chiếc lá đỏ thắm màu thời gian, cơn gió ập vào cánh cửa sổ mở hé, chập choạng chút gió Thu vờn khua làn tóc rối…Tôi chợt cúi đầu ngăn một tiếng ho khan…

Chạm bàn tay kéo cánh cửa , giọt sương mai còn đọng trên vài chiếc lá , bỗng lạnh căm, chợt se sắt bàn tay run, cơn gió lạnh ập vào, làm lu lu chiếc kiếng soi trước mặt…Tôi hững hờ chùi tay lau chút hơi sương, không nhìn ngắm bóng mình trong gương buổi sáng nay ….để làm chi khi ngoài kia xao xác lá…những chiếc lá vàng bay bay nhiều quá chút hương Thu.

Sáng chủ nhật…môt sáng nào lất phất hạt mưa rào…Tôi bấm đốt ngón tay nhẩm tính…mình đã xa quê cũng đã nhiều năm…thời gian nào cho tôi trái ngọt, thời gian nào đã cho tôi trái đắng oan khiên, dù trái xanh trái mọng vàng hay là từng chùm trái đắng tôi vẫn oằn mình cam chịu lúc chạm tay vào…

Chạm mắt vào khung ảnh Mẹ tôi, một người mẹ quê với tấm lòng biển cả, giọt sương mai dầu dãi sáng nắng mưa chiều, thân lặn lội làm thân cò trên bến vắng…suốt một đời tận tụy với đàn con.

Nhớ những ngày thần tiên nhưng rất lặng…những tháng năm xa nay bỗng chợt hóa gần.ngày tuổi nhỏ với những năm bên nhà Ngoại.

Những buổi sáng mùa Đông tàn ít việc…mẹ ở nhà vét mấy chén nếp mới thổi mở hàng, nấu nồi xôi vừa dẻo vừa chín vàng, ..ngoài sân trước ngõ tôi chạm tay vào chùm trái chín, hương ổi chín thơm lừng theo từng cơn hít mùi ,thoảng hương thơm, dù bao ngày vẫn nhặt được quả thơm, nhưng bây giờ bên chân mẹ với nồi xôi , hương bốc khói với chút muối mè pha đường đậu, vừa béo, vừa bùi, vừa thơm mùi lúa mới…mấy chị em tôi, ngồi thu mình trên chiếc chõng tre, vê tay từng vắt xôi nóng hổi…vị ngọt của đường đen, vị béo của hạt đậu rang vàng, thơm ngát hương mè rang và cục xôi có hạn..

.

Mẹ vê tròn cho mỗi đứa một nắm mang theo..khi vào lớp học, lớp vỡ lòng , chật chội những đứa trẻ nhà quê.

Tôi vội vàng chui qua lối mòn của hai bờ tre, sang nhà hàng xóm trả công cho người bạn nhỏ…nắm xôi trên tay , chia nhau qua bao ngày của một thời tuổi nhỏ …những trứng chim, trứng cút nhỏ trao tay , người bạn nhỏ kiếm tìm nhặt được, đặt trên bàn tay bé xíu của cô bạn tuổi lên năm…

Rồi tháng năm trôi nhanh với bao tháng năm dài huyễn mộng …hai bờ tre láng màu óng mượt vì lũ trẻ sang chơi nhà luôn phải chạm tay vào…ngoài sân đứa bé trai nhón chân lên giàn mướp đầy hoa vàng óng mượt, hái chùm hoa vàng cài lên tóc đứa bé gái hai bím tóc đong đưa , tóc cháy nắng vì bao năm dài không nón che, mũ đội.,

Ngày hôm đó tôi làm cô dâu nhỏ, tóc kết hoa vàng của mướp, nhẫn cưới , vòng đeo là mấy cọng lá dừa xiêm…Chú rể khẽ khàng tay cầm lễ vật là mấy cái trứng chim vừa nhặt được bên bờ ao của ổ chim dồng dộc..chân nhón bước chân khẽ khàng trong hai ổ chim làm giày cao cổ …

Chạy sang nhà hàng xóm đón cô dâu về trong con mắt thật ngây thơ…Nhớ hình ảnh ngày xưa, lòng tôi chợt bơ thờ…thương nhớ lắm những ngày thật xa nơi quê Ngoại…rồi tháng năm qua tất cả đã đi vào huyền thoại ….hai đứa trẻ ngày nào nay đã đi những bước thật xa…đã băng qua đại dương , những bước chân đã vượt ra khỏi lũy tre, qua biển lớn băng qua ngàn hải lý … Nơi đất lạ của một vùng trời viễn xứ…Quả đất tròn hai trẻ lại gặp nhau…tay mừng vui, chân bước vội…chẳng thốt được câu nào…và tất cả nhấn chìm cơn bão nổi.

Chỉ những buổi chiều Thu khi vạt trời chao động, nắng chao nghiêng, lúc bóng đổ giữa chân tường, khi nhìn lên bờ tường cao ẩn hiện những cánh chim, bay chấp chới đang tìm về nơi ấm áp….Tiếng lích chích của đôi chim chia mồi khi Đông tàn nguyệt tận….Mới vỡ òa trong tâm thức một chút vấn vương chao…những dấu tích của thời gian nào lúc tuổi thơ bé dại…đã qua rồi theo bao giọt sương rơi…

Sương bây giờ và giờ ở nơi đây, cũng là những giọt sương rơi mềm trên lối ngõ …những ngôi nhà tô loang màu ngói đỏ, châp chùng , lạnh lẽo giữa những hàng cây , không bóng người, không một kẻ đi qua, những chiếc xe chợt dừng rồi biến dạng, không tiếng cười, không có tiếng khua vang, gõ guốc gỗ của những ngày Xuân trên xóm ngõ…chỉ những chiếc lá vàng bay chạm vào lòng ai biết bao chiều một mình trên xứ lạ…Nhẹ tay chùi giọt sương pha hay là nước mắt ai …thương nhớ lắm những ngày xưa bé dại…

Những giọt sương mai , hay những chiếc lá vàng bay luôn gợi nhớ trong tôi những kỷ niệm xa mờ nhưng chợt mới hôm qua nay tỉnh thức kiếm tìm nhận diện…con chó vện tiếng sủa cao vang vọng, tiếng gáy của con gà trống cất cao lúc bình minh …và tiếng chim chích chích của đôi chim chào mào…và nhớ lắm những lần làng quê có đám cưới đám ma…mâm cỗ nhỏ nhưng ngấm vào từng vị giác, vị ngọt của miếng bánh đậu xanh , vị cay của gừng già …thịt béo ngậy nhưng ăn hoài chưa thấy ngán…

Tiếng pháo nhà ai hồng vui chân bước, lũ trẻ xô nhau giật lấy những chiếc pháo sót, pháo còn, gom góp lại tiếng đì đùng, đì đẹt…

Tôi nhớ lắm khi nhà nào có đám ma , đám chết, những gỉai tang phủ kín cả những cây chuối, cây keo, cột vào thân cây để chúng cũng khóc theo, mau tiễn biệt những linh hồn đang đi vội…Ở quê tôi, cây cũng biết xót thương người ra đi trong niềm xót đau vời vợi.. nên ấm tình làng, nghĩa xóm thật thâm sâu.

.

Tôi đã nhìn thấy tại nơi này …vẫn có những con người cùng chủng loại…nhưng chẳng chút thương nhau …trong bóng xế buổi Đông tàn…những cụ già , những kiếp người cơ nhỡ, sống âm thầm trong những bức tường cao…lặng nhìn theo những ngày tháng xanh xao…không tiếng ủi an hay một lần vui tương ngộ…

Ở nơi này…nào ai buồn khóc lúc chia ly, khóc than chi nào có được ích gì …thân xác thiêu rụi giữa đất trời xa lạ….những đám tang thoạt nhìn trông rất lạ, không tiếng khóc than, không cả giọt lệ lúc biệt ly…

Hoa đưa tiễn đưa có nói được điều gì ? Khi còn đó chẳng trao nhau khi gặp gỡ…chỉ có thế và kiếp bể dâu chỉ có thế…

Giọt sương nào rồi cũng rơi theo mùa Thu vàng rất vội, gió Thu nào cho ta nhớ lại chuyện vọng cố hương…chuyện ly hương ai cũng tưởng thiên đường…nhưng chua xót…đoạn trường nào ai biết.

Ngày xưa nhà thơ Lý bạch đã từng buông câu thảng thốt :”Cử đầu vọng minh nguyệt….Đê đầu tư cố hương …” đó là chuyện của ngày xưa xa lắc …Ôm trăng Thanh và cùng chết giữa đêm sương …Có khi nào ta gục chết giữa đêm trường… Hay gục chết trong buổi chiều sầu cô quạnh …???

Câu chuyện nhìn sương rơi…. lòng chợt vọng cố hương , ngàn năm xưa cho tới tận ngàn nay, thế kỷ nào của những ngày năm cũ …những giọt sương rơi vội xuống lòng ai.chút nữa … bây giờ và trong thế kỷ này còn hiện hữu bóng hình ai…xa vắng , lu mờ và cũng thật bi ai…

Giọt sương bây giờ trong hồn tôi lạnh giá và giọt sương mai của một ngõ ngách nào trong tuổi thơ bé dại, chút hương quê và những giọt sương mờ

Một sáng nào ta bừng tỉnh thức

Giọt sương mai …..vẽ một vệt mù

Lao xao chiếc lá buổi tàn Thu

Sương rớt….Sao bỗng cay tròng mắt….

Read Full Post »

Nguyễn Văn Sâm

Những cây bút nữ bất kỳ là ai, có danh hay chưa tạo được chỗ đứng trong văn học của nước mình, theo tôi đều là những cây bút đặc biệt. Họ có những cái nhìn khác với người viết thuộc tính phái khác. Sâu sắc về mặt tình cảm, nhẹ nhàng trong câu văn, lắm khi có những nhận xét tế nhị bất ngờ làm ngạc nhiên người đọc.

Nhà văn nam, kể cả người nghiêng nhiều về mặt thi ca, có khuynh hướng bộc lộ nhiều về mặt lý trí, Phan Khôi trong bài Tình già chẳng hạn, trong khi đó người viết nữ, ngay cả những bài phê bình, nhận định văn học, ta cũng thấy chan chứa nhiều điều tình cảm. Ba bài nhận định của ba người phê bình nữ Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Cao Thị Hồng trong tập  lấp lánh những tình cảm hơn là các suy luận cần nhiều lý trí, nhức đầu.  Đó là cái điều trời cho riêng phái nữ chăng? Cái phong tư trời xếp đặt để nam phái có  điều để so bì ganh tỵ chăng?

Trong cái chấp nhận tiên thiên đó, tôi đọc tập truyện ngắn Vàng trên biển đá đen của Elena Pucillo Trương. Và tôi thấy rõ hơn tình cảm của người phụ nữ. Ở đây không phải là tình cảm gái trai yêu đương mà là tình cảm của người với người, một cảm thức của con người bằng cái máy tính trước mặt và tấm lòng thương cảm tương thông trước nỗi bất hạnh, nhứt là nỗi bất hạnh của người phụ nữ.

Xin sẽ không làm việc phân tích để giới thiệu nhà văn nữ nầy với người đọc. Việc đó đã có ba cây bút nữ nói trên và biết bao nhiêu người khác nữa trong và ngoài tạp chí Quán Văn, những người khá nổi tiếng đương dạy văn học ở ba miền Bắc Trung Nam, lo việc nầy.

Từ trước đến giờ tôi thường tránh né sự việc nói chuyện bên ngoài tác phẩm khi luận về một tác giả, như kiểu đi tìm tiểu sử thiệt chính xác về ngày sanh tháng đẻ, về dòng dõi, thời đại và cả lý do sáng tác. Tôi đọc tác phẩm và luôn luôn coi tác phẩm là một vật thể kỳ bí để nhìn nó, suy nghĩ về nó rồi giới thiệu với độc giả mong giúp người đọc sau mình hiểu tác phẩm hơn – ít ra là hiểu theo cách nào đó mà người giới thiệu còn để lại chút ít ý tưởng bằng bài viết của mình sau khi độc giả buông bài vừa đọc xuống. Tôi  không đi theo trường phái dòng dõi, huyết thống, cũng không đi theo trường phái xã hội hay bất kỳ triết thuyết nào đó dầu được  theo dõi bởi số đông hay được thổi phồng lên tận mây xanh vào hàng siêu việt. Tôi coi tác phẩm là vật hiện diện tự thân, nó sau khi ra đời, đã có mặt và tách rời khỏi người tạo ra nó, đã đứng ở giữa chợ  đời văn học, dính dáng với tác giả chỉ vì cái ID của nó. Nếu chẳng may nó chẳng có ID như những tác phẩm vô danh tràn đầy trong nền văn học Việt Nam hay tác phẩm có tên người viết nhưng  chẳng ai biết tiểu sử ông/bà ấy cũng chẳng thể đoán định được chính xác  ông/bà ấy sống vào thời nào. Và tôi có bổn phận phải tìm hiểu chính nó và chỉ chính nó mà thôi, bằng cách đọc và ghi lại những cảm tưởng của mình.

Đọc quyển Vàng trên biển đá đen, truyện nầy, rồi đọc truyện kia, chắc hẳn nhiều người như tôi, thỉnh thoảng lật lại cái bìa để kiểm chứng lại coi bài viết nầy văn phong nọ phải chăng của một người ngoại quốc. Kiểm chứng lại vì tôi thấy như là cây bút của người Việt Nam thuần túy. Câu chuyện Việt Nam, bối cảnh Việt Nam, nỗi đau  thương Việt Nam, những éo le tình tiết Việt Nam. Tấm lòng của tác giả tràn đầy xúc cảm Việt Nam. Và nhứt là văn phong Việt, thuần Việt.

Viết đến đây tôi nhớ đến cặp sinh vật huyền thoại, một đàng không mắt mà chân cứng đá mềm, một đàng có mắt rất sáng để chỉ đường phải đi để tránh những nguy hiểm. Và cặp vợ chồng tri kỷ Elena Pucillo- Trương Văn Dân đã ở trong trường hợp đó. Nếu không có những bản dịch đầy chất văn chương được gọt dũa với tình nồng và sự thông hiểu tâm hồn nhau tường tận bằng mấy chục năm yêu thương vợ chồng thì chúng ta không có bản tấu khúc rất Việt Nam Vàng trên biển đá đen của một người phụ nữ đến từ xa xôi của trời Âu nước Ý.

Tôi có nhiều dịp được anh Dân và chị Elena  tiếp chuyện. Chị  ít nói, trầm ngâm thì nhiều, đó là vấn đề ngôn ngữ, nhưng khi chị nói thì chữ dùng ít mà chính xác, lại líu lo rất vui. Tôi hiểu trở ngại chút xíu ngôn ngữ của nhà chồng, nhưng chị có tấm lòng của người vợ yêu quê hương nhiều đau khổ của chồng nên chị nói ra bằng tác phẩm. When we speak, we are afraid our words will not be heard or welcomed. But when we are silent, we are still afraid, so it is better to speak. (Aude Lorde). Và Elena đã nói lên bằng bao nhiêu bài văn của mình. Tất cả đều được chào đón nồng nhiệt.

Một nhà văn nữ nào đó có nói ‘thiên tài thì có tức thời, liền ngay, còn tài năng thì cần phải có thời gian để hình thành. Với tôi, cái thời gian để hình thành đó quá ngắn trong trường hợp Elena Pucillo Truong. Nó không cần thiết phải kiểm nghiệm bằng thời gian mà kéo dài chi cho vô ích!

Và tôi mỉm cười vui: Vào thời đại toàn cầu hóa, chúng ta có một nhà văn Việt đặc biệt: Elena Pucillo Truong cũng như chúng ta có biết bao nhiêu cô dâu ngoại quốc theo phong tục Việt Nam một cách thuần,thục, biết nấu canh kho cá theo kiểu Việt Nam.

Nói theo Khổng Tử xưa: Bất diệc lạc hồ? Thế chẳng vui sao?

Nguyễn Văn Sâm, Tháng Tám 2018

Read Full Post »

Huỳnh Ngọc Nga ( Torino Ý)

.

Cơm chiều chưa xong chồng tôi đã vội vả hối cả nhà:

– Ăn mau đi để mình còn đặt viển vọng kính ngắm trăng nửa chứ.

Thằng con lớn của chúng tôi ngạc nhiên:

– Mình mới ngắm trăng mấy hôm trước đây mà ba.

Em gái nó cười, làm ra vẻ hiểu biết hơn anh mình:

– Anh không nhớ hôm nay là ngày gì sao? Trăng hôm nay đặc biệt lắm đó, anh hỏi lại má thử xem.

– Ngày gì vậy má? Con trai tôi quay sang hỏi tôi.

Nhìn vẻ mặt ngớ ngẩn của cậu quý tử, tôi mỉm cười:

– Con thì có nhớ gì ngoài mấy trò chơi điện tử của con đâu, phải không? Hôm nay là ngày Rằm tháng Tám, tức này lể Nhi Đồng ở các xứ miền viển đông như Việt Nam của má hay còn gọi là ngày Tết Trung thu. Má đã kể bao nhiêu lần cho hai đứa nghe về ngày Tết này, con quên hết rồi hả? Cái lồng đèn bằng giấy má xếp cho con hồi nhỏ con còn giữ không?

– A, con nhớ rồi, ngày này ở VN người ta ăn bánh Trung thu, con nít xách đèn lồng, người lớn uống trà thưởng trăng phải không má?

Con gái tôi lanh chanh chen vào:

– Còn thiếu nhiều thứ lắm….

– Thiếu cái gì nửa? Em lúc nào cũng lộn xộn. – Thằng anh bực bội gắt em.

– Thiếu Hậu Nghệ – Hằng Nga, thiếu chú Cuội và Thỏ ngọc, thiếu Dương quý phi và Đường minh Hoàng vào ngày Trung thu sao anh không kể vô luôn.

Con trai tôi cười ngất, giọng chế giểu:

– Cô nương lại nói chuyện huyền hoặc nửa rồi. Anh tưởng em phải kể là thiếu ba phi hành gia Amstrong, Collins, Aldrin của phi thuyền Apollo 11 thám hiểm mặt trăng năm 1969 mới đúng chứ.

Chồng tôi đã ăn xong, đứng dậy, lên tiếng:

– Thôi, đừng tranh cải nửa, ba đi chuẩn bị viển vọng kính đây, hai đứa có muốn học hỏi lắp ráp loại kính này thì đến coi ba làm. Nhanh lên, đừng để trăng nghiêng qua khỏi nóc chung cư nhà mình.

Tôi vừa thu dọn bàn ăn vừa nghe ba cha con lăng xăng chuyện lắp ráp viển vọng kính, chiếc kính mà chồng tôi mới mua với giá rẻ của một siêu thị vừa mới khai trương. Đây không phải là lần đầu cả nhà tôi chuẩn bị cho một cuộc khảo sát thiên văn, vì ngay từ ngày mới mua loại kính nầy chồng tôi đã đem sử dụng liền và chúng tôi tha hồ suýt xoa bàn tán khi tận mắt thấy khá rõ ràng những hình ảnh tuyệt vời của các vì tinh tú trên bầu trời đêm. Hôm đó, trong lấp lánh của ngàn sao, ánh sáng huyền dịu của vầng trăng quyến rũ nhiều nhất sự quan sát của cả nhà chúng tôi. Và dù biết đàng sau màu trắng thanh khiết đó chỉ là những lồi lõm xấu xí của một nơi mà sự sống còn đang là dấu hỏi để các nhà khoa học phải cất công tìm kiếm, vậy mà con gái tôi vẫn không dấu đuợc sự thất vọng khi nhìn thấy sự thật phủ phàng. Nó bảo sao mặt trăng giống như một nàng ca kỷ tuy tuổi đã xế chiều nhưng trong đêm vẫn đẹp lộng lẫy kiêu sa với phấn son mượt mà và viễn vọng kính giống như chiếc gương thần soi thấu lớp phấn son đó để phơi bày những tàn phá của thời gian. Trái ngược lại với cô em gái, con trai tôi thích thú nhìn thấy mặt thật của một vệ tinh chung thủy nhất với địa cầu và chồng tôi nhân cơ hội đó đã giảng giải tận tình cho chúng tôi biết thêm về tính chất của chị Hằng, một tính chất khô khan không bầu khí quyển để chuyền tia sáng mặt trời vào bên trong, vì thế nơi đó chỉ có màn đêm, ánh sáng của vầng trăng mà bao thi nhân ca tụng chỉ là ánh sáng phản chiếu của mặt trời từ đó dội xuống địa cầu.

Với chồng và con trai tôi, chuyện quan sát vầng trăng là chuyện tìm hiểu thêm về khoa học, về những minh chứng mà tất cả chúng ta đã học hỏi từ trường học, báo chí, Tivi, …..Với con gái tôi, đàng sau mặt viển vọng kính là cả một sự sụp đổ những chuyện thần kỳ phương đông mà tôi đã kể cho nó nghe vào những mua trăng sáng, nhất là những đêm thu tháng tám nơi quê ngoại xa vời. Con bé nói với tôi, dù biết sự thật không đẹp như cổ tích nhưng nó vẫn mơ hoài dáng tiên nơi cung Quảng hay chú Cuội dưới gốc đa già hoặc đâu đó phất phơ điệu múa của Dương quý phi khi Đường minh Hoàng du nguyệt điện.

Riêng tôi, những mùa trăng luôn là mùa gợi nhớ với đầy ấp bao kỷ niệm của những ngày xa xưa cũ, nổi nhớ đó hiện diện từ khi tôi sống đời tha hương viễn xứ để biết niềm đau của một áng mây vì cơn gió xôn xao trôi về phương khác, hóa nước thành mưa khóc kiếp lạc loài. Những mùa trăng của tôi mang từng tên gọi nhớ, trăng tháng giêng nhớ Tết Nguyên Tiêu; trăng tháng hai, tháng ba rộn ràng nhớ Tết Thanh Minh của nàng Kiều bạc hạnh; chị Hằng tháng tư hân hoan chào mừng ngày Phật Đản; trăng tháng năm đến vấn vương chút vị hương mùa tết Đoan Ngọ mồng năm tháng năm vừa mới bước qua; trăng tháng sáu yên ả không tên để chuẩn bị nổi nhớ gọi mời mùa trăng lễ hội Vu Lan tháng bảy; và đây, nàng trăng tháng tám của Tết Trung thu đang đeo đẳng theo tôi mỗi năm bằng những hoài tưởng mênh mông.

Trăng thu tháng Tám với tôi không có những bước chân đầu tiên của con người trên mặt nguyệt bằng phi thuyền vũ trụ Apollo 11 lừng danh lịch sữ, cũng không có những mộng mơ của tuổi dậy thì để vớ vẫn nhớ chuyện Hậu Nghệ – Hằng Nga, Dương phi – Đường đế, Thỏ ngọc -Cuội già…. Nổi nhớ của tôi không bay bỗng về hướng trời cao mà cô đọng trên mặt địa cầu, có tôi ngày thơ rước đèn cùng lủ bạn của xóm Chánh Hưng hiền lành mộc mạc đi diễu hành từ đầu làng đến cuối ngỏ. Những chiếc đèn lồng bọc giấy kiến trong suốt màu xanh, đỏ, vàng với đủ dạng hình tôm, cá, rồng, sao. v.v….mà chưa đầu tháng tám (Âm lịch) các tiệm bánh trung thu khắp mọi nẻo đuờng đã bày bán chung với những chiếc bánh nướng, bánh dẽo thơm tho như mời mọc sự háo hức của trẻ con lẫn người lớn.

Tôi không bao giờ quên những ngày cận tết trung thu ba má tôi thường dắt tôi và cô em kế của tôi vào Chợ Lớn để coi sự nhộn nhịp mua bán của mùa lễ nầy, lúc đó các em khác của tôi chưa chào đời, và cuối cùng bao giờ chị em tôi cũng sung sướng khi về nhà với mỗi đứa một chiếc đèn lồng trên tay, năm nào tôi cũng luôn chọn đèn lồng con cá trong khi Yến, em tôi, lại thích đèn ngôi sao, con voi hay đèn phi cơ. Vài năm sau, lớn hơn một chút, lên lớp nhì, lớp nhất bậc tiểu học, tôi lại thích những chiếc đèn do chính tay mình làm. Trước những ngày trăng thu đến, tôi đi xin những nẹp tre của những vựa chằm lá trong xóm để kết thành những chiếc đèn ngôi sao mà tôi đã khổ công học hỏi cách làm từ một chiếc đèn cũ để dành trong mùa hội thu năm trước vì chỉ có loại hình này là dễ làm đối với tôi. Xong phần khung, tôi xin tiền ba má tôi đi mua giấy kiến về dán vào nẹp tre để hoàn thành chiếc đèn ngôi sao. Đôi khi để thay đổi hình thức cho vui, tôi mua loại giấy màu đục hơn giấy kiến, loại giấy màu dùng để bao các bìa tập rồi xếp thành đèn trống quân. Những lần kết đèn như vậy phải qua nhiều công đoạn chuốt tre, kết nẹp, cắt giấy, dán hồ. Chiếc đèn hoàn tất là cả một công trình và với cái nhìn ngây thơ của tuổi nhỏ, với bàn tay chế tạo của chính mình, tôi thấy hình như chiếc đèn sao đó đẹp hơn cả những chiếc lồng đèn treo bán của phố tiệm Chợ Lớn – Saigon.

Có những chiếc lồng đèn rồi lại phải nôn nao chờ ngày Rằm tháng tám vì ngày này là ngày vui đặc biệt của lũ trẻ chúng tôi. Chiều hôm đó chúng tôi đuợc ăn cơm sớm để chuẩn bị “ra quân”. Đèn đường vừa hiu hắt những tia sáng nhạt nhòa, trăng chưa lộ hẳn khỏi ngọn cây me bên hè nhà ông bà Ba lối xóm là tôi và em tôi đã đâu đó sẳn sàng, đèn cầy được gắn chắc trong lồng đèn lung linh cháy, chao đảo theo từng ngọn gió thu, đong đưa trên những bàn tay non trẻ. Chúng tôi đứng đợi đám con nít gần cả trăm đứa đi từ các xóm Mũi Tàu, Miểu Vạn, bến Nguyễn Duy…. tất cả kéo về hướng nhà tôi, vừa đi vừa hát vang rân bài Rước Đèn Tháng Tám. Chị em tôi nhào ra nhập bọn để đi dần về Bến ba Đình của con kinh Tàu Hủ, có bãi đất trống rộng lớn của Lò Than chú Hía – một ông chủ ba tàu giàu sụ – đuợc dàn dựng cho ngày lễ hội này. Sát với vách tường của vựa than là một sân khấu “dã chiến” bằng ván sơ sài có đèn điện đuợc kéo dây điện từ nhà ông chủ vựa, đèn “câu” không đủ để làm rực sáng cả khuôn sân nên Ban Tổ chức treo thêm nhiều đèn măng-xông hổ trợ. Bà con trong xóm trước, xóm sau đã tự động xách ghế nhà đem ra để chật sân nhưng vẫn chừa đủ chổ cho lủ con nít kéo đèn đi qua. Trên sân khấu có ampli, micro đầy đủ. Sân khấu có hai cầu thang, bên phải để bước lên và bên trái để bước xuống. Ở một góc sân, có một bàn để đầy các hộp bánh trung thu và bánh dẽo.Tôi lúc đó không cần tìm hiểu bánh ở đâu mà có, chỉ cần biết là đứa bé nào có lồng đèn là đuợc một cái bánh dẽo nhỏ hoặc nữa cái bánh trung thu, chỉ đuợc lên lảnh bánh một lần thôi chứ không đuợc lên hai hoặc ba lần, nhưng cũng có đứa “ăn gian” tới lui “thiếm xực” lần thứ hai. Sau nầy lớn lên tôi mới biết đó là tiền quỹ của cơ quan địa phương xuất ra cho trẻ em vui đón tết trung thu. Có bánh xong, chúng tôi lẩn quẩn ở đó chờ vài cơ quan chức việc trong xóm lên phát trình cảm tưởng để vổ tay theo tiếng vổ tay của người lớn và coi văn nghệ do các ca sĩ cổ nhạc khá nổi tiếng của đài phát thanh Saigon thuở đó được mời đến giúp vui như nghệ sĩ Thành Công, Sáu Thoàn, Chín Sớm, cô Lệ Liễu , cô Ba Trà Vinh, v.v…

Sau hai tiếng đồng hồ thì cuộc vui chấm dứt, chúng tôi lục tục kéo nhau về, đi đứng lộn xộn hàng ngủ chứ không trật tự như lúc đầu hôm, có đứa lồng đèn vẫn cháy sáng lung linh, có đứa chỉ có lồng mà không thấy đèn đâu hết. Nhưng cần gì đèn của lủ nhỏ chúng tôi, cũng không cần đèn điện trên đường mờ ảo gần giữa đêm khuya, kia kìa, trên cao chót vót “ông trăng” đang tỏa một ánh sáng dịu dàng soi đường cho mọi người về sau đêm lể hội, “ông” ở trên cao mà như gần gủi vì ánh sánh trong thanh đó hoà trong gió thu đêm như mơn trớn, ve vuốt làn da mọi người đang mau bước về nhà tìm giấc ngủ an lành. Mà an lành thật, sự an lành của một không gian không ô nhiễm môi trường, cũng không xe cộ ồn ào động cơ quấy nhiểu và không có cả hận thù chinh chiến của những năm sau nầy bằng tiếng súng, tiếng đại bác vang rền mỗi đêm từ xa vọng về với ánh hỏa châu chập chờn trên nền trời xa thay cho ánh nguyệt. Không gian và thời gian của những mùa trăng thu thơ trẻ của tôi là thế đó. Tiếc rằng những năm sau, khi tôi vào trung học, vùng Chánh Hưng được tân trang đổi mới, không còn vựa lá, lò than, thay vào đó là bến xe buýt, xe lam, chợ búa, hàng quán mọc lên khắp chốn, tất cả đồng lỏa với nhau xoá dần nhũng êm ả ngày xưa, bãi đất trống dành cho những buổi hội diễn văn nghệ không còn, những đêm rước đèn chỉ còn lại trong ký ức mọi người, các đứa em khác sau nầy của tôi không biết đuợc niềm vui của những đêm rước đèn trung thu như tôi nửa.

Tuy nhiên, truyền thống rước đèn cho trẻ nhỏ vẫn còn ở những miền thôn dã và đặc biệt trong đêm hội trăng thu dinh Độc Lập (hay dinh Tổng thống lúc bấy giờ) luôn tổ chức trọng thể buổi lễ rước đèn, tặng quà bánh cho trẻ em khắp nơi tụ về, những hình ảnh vui tươi đó đuợc chụp hình lên báo truyền đi khắp nơi trong toàn lãnh thổ miền nam bấy giờ..

Tôi vào đời đi làm ở tuổi mười chín tại Hoàn Cầu Bảo Hiểm Công ty. Phải nói rằng tôi may mắn ngay từ những bước khởi đầu vì đó là một cơ sở đang phát triển tốt và lối làm việc gần như có tính cách gia đình với ba ông giám đốc như ba vị cha già lúc nào cũng tận tình lo lắng cho các nhân viên, đó là các ông Lý Anh Hiền, Bàng Ốc Minh và Nguyễn Phát Tài. Trong ba người, chỉ có ông Tài là người Việt còn hai ông kia là người Hoa. Chỉ cần nghe tên các ông người ta cũng đủ mường tượng thế nào là uy tín của Hoàn Cầu Bảo Hiểm Cty, một Cty có đủ người hiền, tài và minh chánh mà. Dĩ nhiên đám nhân viên chúng tôi cũng được hưởng lây sự thịnh vượng của Cty, ngoài tiền lương hậu hỉ chúng tôi còn luôn đuợc tiền thuởng vào những dịp cuối năm hay những lúc kết toán chia lời cho cổ đông. Nhưng đặc biệt nhất và cũng là điều làm tôi nhớ nhiều về Cty khi mùa trăng thu đến, đó là những hộp bánh trung thu thơm ngon thượng hạng mà Cty dành tặng đồng đều cho từng nhân viên không biệt phân cấp bậc. Những cái bánh không chỉ nói lên sự phát đạt của Cty mà còn nói lên cái tình giữa nhân viên và ban Giám đốc, ngày vui chung hưởng, ngày làm chung lo. Bây giờ vật đổi sao dời, Hoàn Cầu Bảo Hiểm là cái tên đã lùi vào dĩ vãng nhưng tình cảm cũ vẫn còn mãi trong tâm của những ai đã một thời làm việc lãnh lương của Cty nầy.

Gió đưa trăng lênh đênh khắp chốn như biến chuyển dòng đời đưa đẩy chúng tôi trôi giạt trời xa. Trăng trôi rồi lặn biến khi ánh dương lên, tôi trôi rồi mịt mùng thương nhớ khi ngồi nhớ lại những mùa trăng năm cũ. Quê chồng tôi có mấy ai hoài niệm những đêm trăng, ở đây bốn mùa đèn đường, đèn hàng hiệu sáng choang rực rỡ. Ánh trăng những đêm Rằm bị “luốt” đến ngượng ngùng phải ẩn nấp dưới lớp khí bụi bao phủ khắp cả bầu trời. Lớp bụi khí do chính con người tạo ra để tự hại chính mình và bây giờ con người đang tìm cách “giải trừ” nó, không phải để cứu vản vầng trăng mà để tự cứu lấy cả thế gian nầy. Vào mùa thu, nơi đây thiên hạ đã bắt đầu quấn aó, choàng khăn khi những cơn gió heo may, những cơn mưa bụi đầu mùa lất phất bay, có ai chịu khó chờ đêm trung thu ra ngoài ngắm trăng, nhâm nhi miếng bánh, nhấm nháp chung trà? Chỉ có chồng tôi tội nghiệp vợ nhà khoắc khoải nhớ những đêm trăng xưa, các con tôi thương mẹ nhớ quê hương như chú Cuội ôm gốc cây đa ngóng hoài về mặt đất nên mỗi năm đến thời gian nầy tất cả thường chịu khó ngồi nghe tôi nhắc hoài chuyện rước đèn trong xóm, lãnh bánh ở Cty.

Kể hoài chuyện dưới đất sợ “cha con nó” chán nghe, tôi kể thêm chuyện trên trời nên con gái tôi mới biết “ông trăng” còn biến “giống” để thành chị Hằng Nga có chồng là Hậu Nghệ, một ông chồng tài ba xuất chúng cung thủ tuyệt vời, bá phát bá trúng bắn rơi chín mặt trời để cứu nguy hạn hán chốn trần gian, đươc dân chúng tôn sùng cho lên ngôi báu. Ông vua Hậu Nghệ nầy quên thuở hàn vi, quen mùi phú quý sinh ra hư hỏng, bạc đãi vợ hiền, tàn ác với thần dân khiến Hằng Nga buồn tủi nắm lấy đuôi tên thần bay về tuốt cung trăng, bỏ Hậu Nghệ ở lại và bị “đảo chánh” mất hết quyền hành để cuối cùng chết trong thương nhớ vợ hiền.

Đó là ông trăng mang danh chị Hằng “hoàng hậu”, tôi kể thêm một “ông trăng” khác, ông trăng nầy tên chú Cuội, giống đực đàng hoàng, làm nghề thợ săn, đi rừng tình cờ thấy cọp mẹ nhai lá đa làm thuốc chửa bịnh cho cọp con nên Cuội hái nhánh đa đem về trồng trước nhà thành cây để chờ dịp cứu đời. Duyên trời đưa đẩy, có cô con gái ông phú hộ trong vùng mắc bịnh trầm kha và Cuội nhà ta nhờ lá đa mà chửa bịnh cho cô nên đuợc phú ông gả con gái đền ơn đáp nghĩa. Cuội rước vợ về nhà, ngôi nhà nho nhỏ trước cổng có cây đa thần dược. Cuội dặn vợ đừng làm ô uế gốc đa để đa sống an, tăng trưởng tốt. Nhưng vợ Cuội sau cơn bệnh trở nên lãng trí hay quên, vô tình làm trái lời dặn của chồng khi Cuội vắng nhà. Thế là giông tố nổi lên, thân đa chuyển động vừa kịp lúc Cuội đi săn được thỏ ngọc về nắm lấy gốc đa cùng bay về cung quế. Từ đó cứ đến những đêm rằm, nhìn lên trời cao người ta thấy giữa mặt trăng tròn có mập mờ hình dáng cây đa và với đôi mắt đi sau cái trí tưởng tượng phi phàm của người nhân thế, mọi người bảo có cả chú Cuội nhà ta ngồi dưói gốc cây ôm thỏ ngọc nhìn về dương gian tiếc nuối hiền thê.

Thấy như chưa đủ những hoang đường về “ông trăng” sáng, tôi đem kể chuyện tình lãng mạn vương giả của ông vua Đường Minh Hoàng và nàng quý phi Dương Ngọc Hoàn. Quý phi nầy là một trong Tứ Đại Mỹ Nhân bên Tàu, đẹp đến nổi con nuôi của vua là tướng An Lộc Sơn đem lòng say đắm, sanh tâm chiếm đoạt “mẫu hậu” nên làm loạn đánh chiếm kinh đô khiến vua tôi phải dắt díu nhau bỏ hoàng cung lánh nạn. Trên đường đào thoát, các quân tướng chịu nhiều gian khổ để bảo vệ vua và hoàng tộc, họ đổ lổi cho nhan sắc khuynh thành của quý phi là nguyên nhân gây ra binh biến và ra điều kiện với nhà vua rằng phải giết quý phi thì mọi người mới hết lòng chiến đấu với loạn quân để đưa vua trở lại kinh đô. Lúc giậu đổ thì phải để bìm leo, vua quặn ruột thắt gan hạ lịnh “tam ban triều điển” (*) ái thê cho vừa lòng ba quân tướng sĩ, nhờ vậy mà cuối cùng loạn tướng bị thua và vua hồi cung với trái tim tan nát. Nhớ người ngọc, nhớ cả những đêm trăng bên nhau một thời say sưa yến tiệc, mùa trung thu sau ngày Dương Phi mất, vua nhờ đạo sĩ phù phép hóa giải lụa đào thành đường mây nối liền trần thế với cung hằng cho vua ngự giá đi tìm cố nhân để người đời sau truyền nhau sự tích Đường vương du nguyệt điện.

Những chuyện trên như hoa mầu tưới thắm nền văn học đông phương cho dù mọi người đều biết đó chỉ là huyền thoại viễn vông . Với cái nhìn nào thì trăng cũng là biểu tượng của sự dịu dàng, trong sáng và cứ đếm số lượng bao tác phẩm văn học, nghệ thuật mà các văn, thi, nhạc, họa sĩ tạo tác về trăng thu từ xưa đến nay khắp cùng thế giới sẽ đủ hiểu trong các mùa trăng thì trăng thu được con người ưu ái nhất.

Ngoài bao lơn chồng con tôi đang hỉ hả huyên thiên bình phẩm đủ điều về tên những vì sao qua viển vọng kính, con trai tôi đang tìm sao Hỏa, chồng tôi xoay trở mọi chiều ống kính để xem có thể phát hiện ra một ngôi sao chổi mới nào không, con gái tôi hớn hở thấy được sao Vệ nữ rất gần và rât giống với mặt trăng tuy nhỏ hơn một chút. Tôi cũng dọn dẹp xong buổi cơm chiều đúng lúc chồng tôi gọi vói vào nhà, kêu :

– Mình, ra ngắm trăng thu của mình đi.

Con gái tôi liếng thoắng:

– Phải chi từ ống kính nầy mình thấy được trăng VN bây giờ thì hay biết mấy hén má.

Đang dợm bước chân ra tôi bỗng khựng lại khi nghe con bé nhắc đến trăng VN, có một cái gì đó làm lòng tôi chùng xuống khi nhớ đến lần về thăm quê hương vài tháng trước đây, hình ảnh phố xá Saigon với những dòng xe cuộn chảy không ngớt khói bụi mịt mù như hiện ra trong tâm trí tôi. Không biết trách nhiệm về ai nhưng các thành phố lớn của VN đều như thế đấy. Xe lớn, xe nhỏ thi nhau nhập vào một đất nước mà trước kia người dân chỉ quen thong dong đi lại bằng những chiếc xe đạp hiền hòa. Kinh tế thời đổi mới khiến người dân như chóa mắt chạy theo thị trường, chạy bằng mọi cách trong việc kiếm ra tiền và chạy bằng cả những chiếc xe Nhật, xe Hàn, xe Tàu không cần kiểm soát việc thanh lọc khói xe, tất cả cặn bẩn đuợc phun ra để người dân tha hồ hít thở và các bịnh viện tha hồ gia tăng số bịnh nhân tìm đến bởi vô số các chứng bịnh vì ô nhiêm môi trường. Người cỏi thế bịnh thì trăng trên cao cũng chẳng “khỏe” được bao nhiêu, sao đêm thôi không lấp lánh, chị Hằng cũng buồn vì bị “luốt” bởi những áng mây đen do bầu khí bẩn tạo thành. Tôi thở dài nói với con:

– Chắc đêm nay trăng Saigon không đẹp như ở đây đâu, con không nhớ khói bụi giao thông bên đó trong lần về hôm nào sao? Khói bụi đó phủ che trăng Rằm của má rồi.

Con trai tôi nói như an ủi tôi:

– Cùng là một vầng trăng mà má.

Ừ, thì cùng là một vầng trăng thu nhưng nơi đây trăng cười, bên kia trăng thẹn vì những áng mây che. Tôi nghe lòng xót xa khi nhớ lại hình ảnh người dân nghèo ngụp lặn giữa không gian bụi khói trong cái nóng như lên cơn sốt miền nhiệt đới. Tiếng chồng tôi lại giục thúc:

– Mình, ra đây nhanh lên, trăng sắp chuyển hướng rồi kìa.

– Thôi, năm nay em không ngắm trăng nửa, chờ năm tới đi anh.

– Sao vậy? Chồng tôi ngạc nhiên hỏi.

Tôi cười không đáp, chàng làm sao biết được nổi lòng nguời xa xứ khi để tâm tư một thoáng nhớ về cố hương và chợt dưng tôi nghe mình hững hờ với đèn trăng tháng tám. Hằng Nga có giận, chú Cuội có buồn tôi đành chịu, nhưng đó là tất cả những gì tôi muốn chia xẽ cùng quê hương tôi trong phút giây hồi tưởng nầy. Ước mong sao cho nơi đó ngày mai trời quang gió mát trước khi trăng thu chỉ còn rơi lại nữa vầng nguyệt khuyết.

HUỲNH NGỌC NGA

—————————————————————————-

GHI CHÚ : (*) Tam ban triều điển : Một án lệnh tử hình ngày xưa trong cung vua dành cho hậu, phi, cung tần. Tội nhân được chọn một trong ba cách để chết : độc dược, lụa đào dùng để thắt cổ và dao găm để tự xử.

Read Full Post »

Phan Trường Nghị

Tháp Thầy Bói tọa lạc trên một cụm đá nổi lên giữa đầm Thị Nại, từ lâu đã là một danh thắng của TP Quy Nhơn. Xung quanh nguồn gốc địa danh này có nhiều giả thuyết khác nhau. Cùng với đó cũng có một số thông tin lịch sử thiết nghĩ rất nên nhắc lại để ít nhất có thể tăng thêm phần thú vị cho du khách khi đến tham quan nơi này.

1. Trong tác phẩm Nước Non Bình Định, Quách Tấn viết: “Trong đầm ở phía Tây, gần phía Qui Nhơn nổi lên một cụm đá rộng, chừng một vài sào và cao chỉ trên mặt nước chừng một thước, một thước rưỡi khi thủy triều lên. Người ta gọi là tháp Thầy Bói. Không hiểu tại sao lại gọi thế. Có người bảo rằng xưa kia có một bốc sư bói hay như thần, xây một tòa tháp tại đó. Ai muốn hỏi phải chịu khó đi thuyền ra. Sau khi bốc sư qua đời, tháp không có người coi ngó bị sóng gió phá hoại. Hiện trên mỏm đá có một miếu nhỏ do anh em ghe thuyền lập để thờ thủy thần”…

Tháp Thầy Bói. Ảnh: QUỐC TUYÊN

Nhưng khoảng trăm năm trước đó, quãng năm 1870, sách Đại Nam Nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn khi mô tả đầm Biển Cạn – một tên gọi cổ xưa của đầm Thị Nại – đã chép như sau: “Nước đầm đổ vào cửa Thị Nại, trong đầm có một núi nhỏ tục gọi Tháp Thầy Bói, phía tả là Gành Hổ, phía hữu là Bãi Nhạn. Lại phía tả có Vũng Tàu, Gành Triều, là Bãi Sò, là Mũi Cổ Rùa, phía Bắc có thôn Huỳnh Giản”.

Điểm dễ nhận ra là ở khu vực quanh tháp Thầy Bói có một số địa danh có tên: Bãi Nhạn, bãi Sò, gành Hổ, mũi Cổ Rùa… cho thấy những địa danh quanh đây hầu như đều gắn liền với tên các con vật. Có con sống trên cạn (hổ), con dưới nước (sò), con ở trên không (nhạn), có con vừa ở đất vừa ở nước (rùa). Thế nên địa danh tháp Thầy Bói còn có thêm một cách giải thích khác, theo đó rất có thể đã trùng lặp với tên một loài chim là chim thầy bói, còn gọi là chim bói cá – loài chim thường tụ ở các gành đá để bắt mồi. Cụm đá nhô lên giữa đầm Thị Nại trông như ngọn tháp mà thành tên. Xem ra nó hợp lý hơn là chuyện có ông thầy bói trú ngụ ở am giữa đầm mà rồi thành tên địa danh.

Vậy cái am/miếu xây dựng trên cụm đá giữa đầm có từ lúc nào? Tục thờ cúng thần vật của người Việt đã có từ ngàn xưa, ngư dân quanh đầm Thị Nại sống nhờ vào con tôm con cá đâu chỉ mới gần đây. Chuyện dân gian tự xây một cái am để thờ thủy thần, cầu cho suôn sẻ hằng năm mưu sinh là chuyện thường có. Có lẽ từ khi có người định cư và lấy sông, biển đầm làm chốn mưu sinh, am/miếu cũng đã có ngay sau đó không lâu.

2. Vào thời Tây Sơn, có một sứ đoàn người Anh đến Quy Nhơn xin yết kiến vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, đặt vấn đề bang giao, thông thương, trao đổi hàng hóa. Trưởng đoàn sứ đoàn này Charles Chapman sau đã tường trình lại chuyến đi này cho Toàn quyền Anh và Công ty Đông Ấn thuộc Anh ở Bengal, trong đó có đề cập việc vua Thái Đức Nguyễn Nhạc đã tổ chức một buổi hiến tế ở vịnh Quy Nhơn hôm 26 tháng 7 năm 1778. Đoạn tường thuật như sau: “Trên đường từ triều về chúng tôi gặp nhà vua vượt qua. Nhận được vài tin xấu về lực lượng thuyền chiến ở Đồng Nai, ông sắp sửa cử hành nghi thức hiến tế tại một ngôi miếu ở trong vịnh nơi tàu của chúng tôi neo đậu” (British Mission to CochinChina). 

Charles Chapman kể: “Sau đó chúng tôi trông thấy ông vượt sông và cập bờ tại đền thờ. Ông ở trong một chiếc thuyền có mái che, cùng tham dự có 5 hoặc 6 thuyền chèo với chừng 200 người”.

Thử hình dung nơi vua Thái Đức tổ chức hiến tế là một ngôi đền ở giữa vịnh Quy Nhơn, thì đó có lẽ không thể khác hơn chính là cái am/miếu trên cụm đá giữa đầm Thị Nại. Nói cách khác tháp Thầy Bói với đời sống, sinh hoạt tâm linh đã xuất hiện trong thời Tây Sơn. Đoạn tường trình trên cũng hé ra thêm một chi tiết vua Thái Đức Nguyễn Nhạc “nhận được tin xấu ở Đồng Nai”, nói cách khác chính là sự biến liên quan đến đội quân Tây Sơn ở Gia Định.

Nguyên tháng 2 năm Mậu Tuất 1778, vua Thái Đức Nguyễn Nhạc sai Tổng đốc Chu, Tư khấu Uy (Oai) từ Phiên Trấn (Gia Định) đánh phá ra các địa phương ven sông, phái Hộ giá Phạm Ngạn từ Quy Nhơn vào Bình Thuận, đem thủy sư đánh lấy Trấn Biên (Biên Hòa). Bấy giờ Nguyễn Ánh xưng vương, được quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn hỗ trợ, tổ chức phản công. Tin tức xấu khiến một ông vua phải cử hành một nghi thức như thế phải tương đối lớn, trong khung thời gian ấy chính là việc tổn thất thủy binh và Tư khấu Oai bị quân Đông Sơn chém chết trong chiến trận Bến Nghé tháng 5 năm Mậu Tuất. Và như thế có thể thấy rằng từ thời Tây Sơn, am/miếu trên cụm đá giữa đầm Thị Nại – nơi mà ngày nay ta quen gọi là tháp Thầy Bói, đã có vị trí không hề tầm thường.

3.Tháp Thầy Bói hiện nay chưa là di tích tâm linh, nhưng ngoài ngôi miếu xưa nay đã được sửa sang lại, một vài công trình nhỏ khác mang dáng dấp kiến trúc tín ngưỡng đã mọc lên. Những công trình trên cụm đá giữa đầm không còn mang ý nghĩa cầu an cho việc mưu sinh sông nước, để ngư dân thêm niềm tin khi vượt qua đầu sóng ngọn gió; chúng cũng không phải là nơi ghi nhớ cho biết bao xương trắng trầm lắng dưới đáy đầm từ những cuộc lửa binh giữa hai phe Nguyễn Tây Sơn và Nguyễn Gia Miêu. Cũng không mấy người nhớ đến việc vua Thái Đức Nguyễn Nhạc từng thực hiện nghi thức hiến tế, nhang khói tưởng nhớ cho binh lính của ông nằm xuống ở Gia Định năm 1778. Một điểm đến thu hút nhiều du khách có lẽ nên được hoàn chỉnh thông tin giới thiệu để tránh việc vẽ vời ly kỳ hóa, hoặc dị đoan hóa một danh thắng ở sát bên trung tâm TP Quy Nhơn.

PHAN TRƯỜNG NGHỊ

Nguồn Báo Bình Định

Read Full Post »

Cánh chim di

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

Những ngày tháng hạ rồi cũng qua nhanh khi những đứa bé được cha mẹ chuẩn bị cho những bộ quần áo mới, những tập vở tinh khôi để bước vào niên học mới.

Tháng Tám luôn bắt đầu niên học mới ở nơi này, khác với quê tôi ngày xưa niên học mới bắt đầu thừ tháng Chín…

Sáng hôm nay con đường quen thuộc mọi ngày lại có thêm bóng dáng của người đàn bà mặc chiếc áo màu xanh lá mạ non đứng chỉ đường cho đám nhỏ tung tăng trở lại trường..

.Mùa hè đã qua nhanh vậy sao???các cháu tôi đã trở lại trường sau hai tháng Hè ngơi nghỉ.

Buổi sáng nào , tôi vẫn còn nhìn thấy con chim Robin đàng sau nhà vẫn chạy ra vào bên chiếc nhà gỗ sơn màu xanh đỏ, vẫn hót vang bên ngôi nhà bé xíu mà chủ nhân đã dọn dẹp sẵn chào đón chim trở về sau mùa đông giá, những con chim màu vàng nâu, có một mảng yếm màu hoàng yến đeo trước ngực như dải yếm đào của cô gái Bắc quê tôi…

.Mỗi buổi sáng ngồi bình yên bên ly cà phê sángsau khu vườn nhà còn đẫm sương , hình ảnh thân thương nhất trong tôi vẫn là hình dáng nhỏ nhắn của con chim Robin mà tôi đã nhìn thấy nó từ hai năm qua…

Khi tôi dọn đến căn nhà này, hình ảnh thân thương nhất cho tôi mỗi buổi sáng vẫn là nó, nhảy nhót líu lo, cất tiếng ríu rít như mời gọi những bạn bè thân quen , nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng con chim nào khác bay về…

Qua mùa sau, tôi bắt đầu để ý đến nó như một thân quen không thể thiếu, tôi tìm mua một cái nhà lớn hơn, sơn màu thắm tươi hơn….Và hàng bao sáng ngồi chờ bóng chim về mỏi mắt, tai chờ , dạ trông ngóng.

Niềm vui đến với tôi khi một buổi sáng nào chợt nhận ra đôi chim đã trở về của đầu mùa hè năm ấy, không phải một con mà là hai con…thật là tuyệt vời khi nhìn thấy hai cái trứng màu xám nằm giữa mấy mảnh rơm khô giữa bộn bề những sợi lông óng ả…

Một gia đình bé nhỏ thành hình, một niềm vui nhân rộng trong âm hưởng của một bản đồng ca khi mỗi sáng lặng thầm trong niềm vui sẻ chia ấm áp bốn con chim làm bầu bạn trong những sáng tinh khôi.

Rồi những ngày chớm Thu, khi những đợt gió heo may về ve vuốt bờ cỏ úa, khi ngọn gió thu làm rơi rớt những chiếc lá phong trên bờ cỏ, khi những con sóc vẫn tung tăng nhặt những trái chín của cây hồng giòn sau nhà…gia đình chim đã biến mất tự bao giờ, chúng ra đi mà không hề báo cho người bạn già thinh lặng ngắm nhìn sẻ chia với chúng từng viên thóc, hột đậu be bé mỗi ngày, không cả một lời giã biệt…thật thế sao chim ?

Tôi lặng thầm đem cất chiếc nhà bé con của gia đình chim vào một xó, chuẩn bị cho mùa nắng ấm năm sau….gia đình chim không biết bay về trốn lạnh ở nơi đâu???xứ sở nào cho chim đến, phố phường nào đón bước chim di.

Sáng hôm nay vẫn một ngày bắt đầu bằng ly cà phê lặng thầm buổi sáng, lười nhác lãng quên, tiếc nuối bâng quơ, nhớ man mác tiếng chim kêu ríu rít, chỉ còn chăng chút gió heo may xua đuổi những cánh chim đi tìm nơi trốn lạnh, chỉ còn gió và sự trống vắng lặng thầm trong nỗi xáo xác khôn nguôi

Thời tiết thay đổi, tuổi già chất chồng cũng thay đổi theo trời nắng bỗng mưa sa…những cơn ho khan tìm về và hai bàn tay lạnh cóng…tôi nằm miệt mài giữa chăn gối bộn bề…và he hé bên trong cửa sổ nhìn ra khu vườn mỏi mắt….

Gió về đâu sau những cánh chim di

Hình hài em tôi không sao kịp nhớ

Giấu vào tim cùng ánh mặt trời

Buổi sáng nào

Ly cà phê một mình ngọt đắng

Chợt trời chiều khuất nẻo nắng xưa

Những con đường nửa quên nửa nhớ

Cánh chim di không nhớ tuổi tên

Chim đi không gởi một câu chào

lặng thầm tôi nhắn lời hỏi chim

Biết chăng vườn cũ kẻ ngóng tin

Chờ nghe tiếng hót …mong tin trở về

Rồi từng năm khi bắt đầu cơn nắng hạ, nắng chói chang, mặt trời vút lên cao…

Tôi lại sẽ hoan hỉ treo lên ngôi nhà nhỏ đón đôi chim thân quen về trú ngụ, vẫn ríu rít khúc hoan ca mỗi sáng cùng nắng mai, nhưng không thể nào nhận ra em…

Có phải là em của mùa năm trước, không thể nào phân biệt khuôn mặt của những bóng chim di.

Tôi vẫn hằng mong cho mùa hạ qua thật chậm cho những ngày nắng nóng mãi thật dài ra để mỗi ngày được nhìn gia đình chim ấm áp trong ngôi nhà thầm lặng, cho buổi sáng nào tôi cũng được dõi bóng đôi chim tự tình bên nhau, mong cho mùa Thu chậm trở về và mùa Đông giá thôi quay lại,

Tôi muốn thay đổi cả thời tiết của bốn mùa mưa nắng, không còn muốn nhìn thấy một chớm Thu về và lạnh giá của mùa Đông.

Trong cái huyễn hoặc của tiết trời trở gió, trong sợi heo may, tôi chợt ngậm ngùi thương xót và bỗng nhớ mãi cánh chim di, có phải là những cánh thiên di trong truyền thuyết, bay bổng giữa trời xa tránh cái lạnh mùa Đông ở nơi đây…có phải chim bay về nơi cố xứ trong sự mong ước , hoài niệm của một hồi ức nhỏ nhoi.

Chim bay về bến sông xưa

Đò chiều gát mái

cát vàng buồn tênh

Lặng thầm con nước triều lên

Chim về cõi ấy

Trốn cơn gió cuồng

Những mùa hạ trở về, những cánh chim lại quay về nơi nắng ấm xưa…nhưng có một thời gian chờ mỏi mòn mà chim không trở lại, ngôi nhà chim bé nhỏ vắng mãi bóng chim di…những cánh chim di bây giờ cũng giống con người…vẫn yếu hèn và trốn chạy, hững hờ và lạnh lẽo tựa mùa đông giá đến từng năm…và trong sâu thẳm của tâm linh, chim có biết rằng cũng có một sinh linh đang lặng thằm trong nỗi nhớ bóng chim di với tâm tình sâu lắng một tình thâm.

Bóng thiên di dãy chết giữa trời đông khi không đủ sức bay qua hết đại dương để tránh cơn cuồng nộ, buồn thương thay cánh chim di đơn lẻ giữa cuồng phong. bóng chim thì mịt mù xa thẳm cõi nhân gian.

Con người khi đã bay xa …có mấy ai tìm về chốn cũ…còn bóng chim thì biết nẻo tìm về ???

Tại sao và tại vì sao??? Tôi bỗng chợt so sánh giữa con người và những cánh chim trong nỗi buồn man mác vào một sáng chớm thu nơi chỗ của mình.

Atlanta( Những ngày tháng Tám)

NGuyên Hạ_ Lê Nguyễn

Read Full Post »

Một truyện ngắn UKRAINE

VOLODYMYR VYNNYCHENKO

(Ukraine)

Truyện ngắn

Một tình tiết lạ

HIẾU TÂN dịch

Tại sao tim tôi thắt lại khi nó nhìn thấy cái đẹp? Tại sao tôi muốn ôm đầu bằng hai bàn tay và khóc bằng những giọt nước mắt nóng bỏng? Tại sao? Và tại sao trong những giọt nước mắt ấy có cả dịu êm, vui sướng, buồn đau và vô vọng?

Nhưng tôi biết. Bây giờ chắc chắn tôi biết, nhưng cho đến cái đêm hôm ấy, ngay cả chính cái đêm ấy, khi cái tình tiết chưa ai từng biết, vô nghĩa ấy xảy ra cho tôi – tôi vẫn chưa biết. Tôi nghĩ rằng Natalie vẫn chưa biết. Mà nàng cũng không cần biết.

Nỗi buồn dẫn tôi đến với Natalie. Tôi thấy nàng lần đầu trên tàu điện. Tôi đang đọc báo thì nàng bước vào toa. Báo viết đủ thứ nhưng không có gì dính với hạnh phúc – người ta giết người khác như thế nào, người ta tự giết mình như thế nào, người ta trộm cắp, giết nhau, gào khóc, lừa bịp như thế nào, tóm lại, mọi thứ không có gì dính dáng đến hạnh phúc và tiếng cười (bạn có nhận thấy báo chí không bao giờ viết về chúng hay không?) Tôi đọc tất cả những cái ấy và trở nên vô cảm. Nhưng khi nàng bước vào, khi mắt nàng chạm mắt tôi trong thoáng chốc, tim tôi bỗng lịm đi. Tôi thấy buồn vô hạn. Tự nhiên tôi muốn ôm người ngồi cạnh, béo phị vì ham ăn, và hôn vào cái cổ ba ngấn của anh ta. Tôi muốn hai tay che mặt, ngồi thụt xuống, lắng nghe tiếng chuông khao khát, nỗi khao khát chưa từng biết, ngọt ngào trong tim tôi.

Và sau đó tất cả những cái ấy luôn sống lại trong tôi khi tôi đắm đuối nhìn Natalie. Thậm chí ngay cả khi tôi ôm nàng lần đầu tiên, khi thân thể nàng run rẩy trong tay tôi, ngay cả khi ấy nữa, nỗi buồn cũng không rời khỏi tim tôi. Nó không rời đi, nó chỉ trốn khỏi ngọn lửa khao khát.

Và Natalie, ngay cả bây giờ, nàng vẫn không biết tại sao khi nhìn cái đẹp tim ta lại buồn đến vậy, lại đầy khao khát, lại thích thú một cách đau đớn đến vậy. Nàng biết nàng có một sắc đẹp tuyệt với, ờ, điều ấy thì nàng biết chắc.

Chính đêm ấy, nàng bảo tôi: “Anh nghĩ em không biết giá trị của em à? Nếu em muốn, ngay ngày mai em có thể có một chiếc ôtô.” (Nàng thích ôtô lắm lắm.) “Anh không tin em à? Sao anh lại cười? Tôi tin nàng. Tôi cười vì một lý do hoàn toàn khác. “Và em sẽ có! Em chán ngấy phải ăn khoai tây và khoác chỉ một chiếc áo khoác rồi.” (Chúng tôi đang ở trong tình trạng như thế: ăn khoai tây và chỉ có một chiếc áo khoác.) “Những ước mơ ngu ngốc của anh làm em bực mình. Vâng, em bực mình. Em nói thẳng với anh như thế đấy. Em không phải một bà thánh….Lạy Chúa. Hãy cho em tiền và không phải những bài hát. Tiền! Anh có hiểu không?” Nàng chưa bao giờ thật sự nói thẳng ra như vậy. Tôi đang ngồi cúi gục đầu, đến lúc đó tôi ngẩng lên và nhìn Natalie. Ôi, nàng đẹp biết bao! Lạy Chúa nàng đẹp đến mức tôi muốn đập đầu tôi vào mép bàn cho nó vỡ toác ra, như chiếc bình hoa vô dụng kia. “Thế nào, sao anh cứ nhìn trừng trừng thế. Anh sắp giảng đạo về chù nghĩa khuyển nho chăng? Cứ giảng đi! Em không thánh thiện. Em phát cáu khi phải tỏ ra thánh thiện. Em không làm được. Em cần tiền, thế thôi. Những lý tưởng, những khao khát tìm tòi, những tinh thần và những hành động cao cả xin anh cứ giữ cho riêng anh. Những cái ấy không hợp với em. Thế đấy. Cái gì? Anh chưa từng mong cái đó à?” Tất nhiên tôi chưa từng mong cái đó. Có lẽ…có lẽ tôi có mong, bởi vì tại sao nó buồn thế, tại sao trái tim tôi thắt lại nghẹn ngào khi nhìn vẻ đẹp của thân thể nàng. Tôi không nói thêm gì nữa với nàng. Thậm chí tôi lặng lẽ ra khỏi nhà mà không mang theo áo khoác.

Trời đã về khuya. Trên đường phố có sương mù. Nó bao bọc những bóng đèn như những chiếc khăn quàng của phụ nữ. Khách đi đường bước hối hả, cổ áo dựng lên và hai tay đút túi. Họ biết rõ họ đi đâu. Nhưng tôi không biết, nên tôi không vội. Tôi thậm chí không đút tay vào túi và kéo cổ áo lên. Tôi chỉ mỉm cười. Nhưng nếu có ai đó lấy nụ cười ra khỏi môi tôi và nấu chảy nó trong một thứ gì đó mà họ có thể nấu chảy cả tiếng cười lẫn tiếng khóc, thì nụ cười của tôi có lẽ không có vẻ là một cái cười. Tôi dừng lại trên một góc phố. Tôi thường đợi Natalie ở đấy. Chúng tôi cùng bước đi, ôm chặt nhau. Cũng ở đây thường xuất hiện một bóng người mà vừa trông thấy, trái tim tôi thắt lại vì thương xót và một nỗi sợ khinh khi.

Phải, chúng tôi thường qua đây. Chúng tôi hối hả về nhà. Một đĩa khoai tây nguội và một chiếc áo khoác đang đợi chúng tôi ở nhà.

Còn bây giờ, tôi đi đâu bây giờ? Dù sao, chắc chắn là không phải đi kiếm tiến. Đương nhiên là thế. Nhưng, dù sao, đi đâu? Sương mù làm đường phố ẩm ướt, nhớp nháp, lạnh lẽo nhưng dẫu sao vẫn ấm hơn tảng băng đang đè trĩu trong ngực tôi. Và tôi lại đi dọc đường phố, trong sương mù.

Bỗng nhiên có bóng người áp sát tôi. Tôi nhìn quanh. Vẫn là cái sinh linh mà chúng tôi thường gặp trên những phố này. Vẫn là cái sinh linh xấu xí, tội nghiệp đã gợi lên trong chúng tôi nỗi sợ hãi bí mật và khi ấy chỉ muốn níu chặt nhau hơn.

Ả luôn luôn xuất hiện bất ngờ thế nào đó ở cùng một nơi hoang vắng. Chúng tôi không nghĩ ả là gái điếm, mặc dù chúng tôi thường thấy ả vỗ nhẹ vào khách đi đường như ra hiệu. Nhưng khách qua đường sau khi liếc nhìn lập tưc quay người bước đi. Chúng tôi thường nói chuyện về ả, và Natalie luôn hỏi liệu có người đàn ông nào đi với một sinh linh ghê rợn như ả không, một bóng ma.

Quả thật, ả giống như một bóng ma, như sự hiện hình của một gái điếm, như cái biểu tượng ghê sợ của cái nghề đáng nguyền rủa ấy. Ả luôn luôn mặc một thứ không thay đổi, như thể ả đã bước đi ở đây hằng đêm trong nhiều năm. Và quả vậy, một con ma cần gì thay quần áo? Luôn luôn vẫn là chiếc áo choàng dài mầu xám ấy, các nếp gấp của nó không lay chuyển khi ả bước đi dưới những bức tường, dọc theo những cánh cửa câm lặng khóa kín, và những tủ kính của các cửa hàng. Luôn luôn trong chiếc mũ cổ lỗ xẫm màu, từ đó buông xuống tấm mạng che mặt dày màu xám, và luôn luôn có một chiếc dù trong tay ả.

Một hôm chúng tôi gặp ả dưới một cây đèn đường. Một khuôn mặt xấu xí liếc nhìn chúng tôi qua tấm mạng che mặt, xấu đến mức tôi thấy chân mình bủn rủn. Nó tái nhợt, với cặp mắt mệt mỏi, trang điểm như mọi cô gái điếm, với cặp môi đỏ chót giống như của một xác chết.

Tại sao ả đi dưới những bức tường, trong bóng tối? Có thể có người đàn ông nào đi với ả chăng? Natalie ngờ điều ấy. Tôi nhìn quanh một lần nữa và nhìn thẳng vào mặt ả. Khuôn mặt hoàn toàn phù hợp với những gì trong tim tôi.

Nhưng lúc này tất cả những gì mà tôi cần là hôn lên khuôn mặt ấy và khám phá ra rằng sinh linh này có thể làm cho tôi vui.

“Chào ông,” cô ta nói giọng thì thào hết sức véo von.

“Chào cô,” tôi to giọng trả lời, miệng luôn mỉm cười.

Cô ta chăm chú nhìn nụ cười của tôi, lướt nhìn khắp mặt tôi, ngực tôi bằng đôi mắt mở to trân trân và hỏi bằng giọng đều đều êm dịu:

“Ông ra đây đi dạo phải không ạ?”

Tôi phá lên cười.

“Tất nhiên tôi đi dạo. Tôi thích ra đây khi đẹp trời.”

Một lần nữa cô ta dán cặp mắt cá chết lên người tôi. Trên khuôn mặt cô ta, cứng đơ như chết, không một chi tiết nào cử động, như thể cô ta đã quen với kiểu cười đó, quen với những quý ông từ thiện “ra phố khi trời đẹp” như thế này.

“Đi với em chứ?” Cô ta hếch mặt lên.

“Đi đâu?”

“Sao lại đi đâu. Về nhà em.”

Cô ta nhìn tôi “Anh không biết thật à?”

Tôi cũng nhìn cô ta. Một người qua đường cầm ô đi qua liếc nhìn lại chúng tôi. Hắn nhìn cô ta, nhìn nhanh sang tôi và tôi đọc được trên mặt hắn vẻ ngạc nhiên, khinh bỉ và thương hại đối với tôi.

Và Natalie sẽ nói sao đây?

“Có đi không?” cô ta hỏi lại, đầu cúi xuống.

Bỗng nhiên tôi thấy ớn lạnh như thể sương mù tràn vào óc tôi, không phải vì tôi chỉ mặc một chiếc áo khoác duy nhất, mà còn vì điều gì khác, cái điều có thể khiến người ở xích đạo ớn lạnh.

“Tôi không có tiền.” Tôi nói giọng buồn và lạnh lùng.

“Anh có thể trả tôi lúc khác cũng được.”

Hừ. Con ma này quyết chiếm chỗ của Natalie đây. Tuyệt. “Nào, đi” tôi nói.

Cô ta xoay người và bước đi hầu như không một tiếng động, dẫm lên những vũng nước trên vỉa hè. Chiếc áo choàng màu xám, giống như một tấm vải phủ quan tài, thẳng đuột không hề lắc lư, quệt xuống đất.

Tôi mỉm cười và quả quyết đi theo cô ta. Chúng tôi không phải đi lâu.

Cô ta sống trên tầng 6, trong một căn áp mái, trong một phòng nhỏ có bức tường cắt một nửa và trên nó căng một tấm vải che. Một góc phòng bị bưng kín bằng một tấm khăn trải giường mầu xám, góc khác kê một chiếc giường, rộng và êm. Nhiều tranh khắc treo trên tường.

Chúng chủ yếu là những bức ảnh chụp các họa phẩm cổ điển. Nhiều bức của Rodin. Tôi nhận ra ngay. Cô ấy lấy chúng ở đâu, cô ma này, và không biết chúng có ích gì cho cô?

“Cô có nhiều tranh khắc thế?” Tôi nói.

Cô nhìn tôi hơi sợ hãi, như thể tôi muốn lấy đi những bức tranh này của cô.

“Cô thích chúng hay đây là quà tặng?”

“Em thích chúng.” Cô ta nói dịu dàng và bắt đầu vội vã cởi váy áo.

Tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu cạnh bàn và tựa đầu lên cánh tay. Tôi không muốn cười nữa. Tôi muốn… Không! kết thúc đi!

“Anh buồn à?” tôi nghe bên cạnh tôi tiếng thì thào êm dịu.

Tôi ngẩng đầu lên và cười vào mặt cô.

“Tại sao tôi phải buồn? Vì tôi đã lên đến tầng 6? Đấy vẫn chưa phải là vấn đề lớn. Còn có những cái tồi tệ hơn. Được. Chúng ta sẽ đi ngủ chứ? Tuyệt…ở đây yên lặng lắm. Nhưng cái gì ở trong góc kia? Một chiếc giường thứ hai chăng? Chắc cho những vị khách đặc biệt?”

“Không. Quần áo em treo ở đấy.”

“Quần áo à? Cũng thế cả thôi. Thậm chí một trái tim treo ở đó tôi cũng cóc quan tâm. Nhổ lên tất cả mọi thứ, và thế đấy. Được không?”

“Được,” cô ta đáp và nhìn tôi rất chăm chú. Chúa ơi, cô ta có đôi mắt đẹp quá… Không, không phải đôi mắt, cái biểu cảm. Mắt cô xấu, như mắt cá, không gì sửa chữa được điều ấy. Nhưng cái biểu cảm của chúng thì đẹp. Ôi, nếu mắt Natalie cũng có biểu cảm như thế. Nhưng – để làm gì!

“À, thế nghĩa là tôi phải cởi quần áo. Tuyệt. Cô có nhiều khách không ?”

“Không, không nhiều lắm…”

“Không nhiều lắm? Thì cũng thế cả thôi” Nhưng, có lẽ tôi nên cầm lấy mũ và bỏ đi?

“Em xấu lắm nên ít người đến với em..”

“Thật ư?” Nhưng Natalie đẹp đến nỗi…

Trái tim tôi đầy đau đớn đến nỗi tôi tưởng rơi xuống tận đáy và tôi muốn quào sàn nhà bằng những ngón tay co quắp.

Tôi nhăn nhở cười với cô. Tôi không nghĩ cô có thể đọc ra niềm vui mừng trong cái cười ấy.

Cẩn trọng, nhu mì, cô chạm vào cánh tay tôi và dịu dàng vuốt ve nó.

Và thật lạ lùng, tôi thấy ấm bên trong và cảm thấy tiếc cho tôi.

“Với ai cô cũng mơn trớn thế này à?”

“Những người đang buồn.”

Không, nhất định có cái gì đó tuyệt vời trong giọng nói của cô, một cái gì nhu mì, nhưng là cái đến từ một sự thấu hiểu sâu sắc.

“Tại sao cô nghĩ là tôi đang buồn?”

Cô mỉm cười và không nói một lời cô bước ra xa, đến cạnh bàn và nghĩ ngợi. Ánh sáng từ ngọn đèn lọc qua chiếc chao đèn mầu lục tỏa xuống khuôn mặt xấu xí của cô một màu lục ngả xám. Trông cô giống như một xác chết đăm chiêu suy nghĩ về cuộc sống đã qua của nó qua làn sương mờ im lặng của quan tài mà trông thấy mọi thứ, hiểu và buồn một nỗi buồn hiền lành nhỏ nhoi tội nghiệp.

“Những người đang buồn có thể hiểu nhau”. Và khi nói thế, cô nhìn tôi vẻ tội lỗi và sợ hãi, sợ bởi vì cô dám so sánh tôi với cô.

Tôi đứng bật dậy và bước quanh phòng. Sao tôi muốn đến thế lấy hai tay đè mạnh lên ngực để ép bật ra cái khỏi đó cái cục gì nó đang chẹn ngạt tôi, như cho xì hơi ra khỏi một quả bóng. Trời ơi, sao ngạt thế.

“Nghe này! Cô có chút rượu nào không?”

“Không , em không có rượu”

“Nhưng vậy thì…” Có lẽ cô ấy có sợi dây thừng. Nhưng thôi, chết tiệt..

“Được. Sao cô không cởi ra? Cởi ra”

“Em còn phải tắt đèn.” Cô ta nói dịu dàng. Tôi nhìn cô. Đúng thật, cô ta không thể cởi quần áo dưới ánh sáng. Nhưng đó lại là điều tôi tuyệt đối cần.

“Sao lại tắt đèn? Không cần thiết. Tôi không thích tối. Tôi thích ánh sáng, tiếng cười, hạnh phúc.” Và tôi thậm chí bật cười.

“Sao cô nhìn tôi như thế? Cô không tin tôi à? Tôi nói có gì lạ đâu? Mọi người đều thích ánh sáng và hạnh phúc. Chắc cô có nến. Mang lại đây. Chúng ta sẽ thắp nến ở mọi góc. Sao cho ánh sáng xuyên vào mắt. Sao cho mọi vật đều được nhìn thấy. Trong mọi góc, hai, ba ngọn nến. Trút bỏ quần áo ra. .. từ góc ấy. Ánh sáng trong mọi xó xỉnh.”

Và tôi nắm mép tấm khăn trải giường mầu xám, kéo tuột nó ra. Đúng lúc ấy, có một tiếng thét vút lên sau lưng tôi, và tôi đứng chết lặng với góc khăn trải giường trong tay! Trong góc, trên hai chiếc rương nhỏ, đứng một pho tượng làm dở dang. Đó là tượng một người đàn bà xấu xí, xấu đến mức tôi không thể nào rời mắt khỏi nó. Đó là một cái gì nhức nhối, một cái gì bất ngờ, quyến rũ một cách kỳ lạ, đáng sợ nhưng đồng thời tràn đầy một nỗi đau thầm lặng, ngọt ngào khát khao bí ẩn. Tôi nhìm quanh tìm chủ nhân, cô ta đang đứng sau lưng tôi, mỉm một nụ cười âu sầu như có lỗi.

Cô rất giống người dàn bà đó.

“Có ai đã tạc nó ở đây?”

Không trả lời, cô cố lấy lại tấm khăn trải giường từ tay tôi và che lên tác phẩm ấy.

“Khoan đã.” Tôi nóng nảy gạt cô ra. “Nói cho tôi biết ai đã làm cái này?”

Cô ta trở nên tức giận. Mặt cô có nét biểu cảm đúng như nét mặt người phụ nữ kia, thậm chí những đôi môi mím lại một cách đau đớn và quyến rũ giống nhau. Một kiểu đẹp ngự trên những đường nét nhăn nheo, xấu xí ấy. Đúng, đúng, nó đẹp thật. Nó là cái gì khó tin, phi lý, nhưng đây là cái đẹp thật sự.

“Tôi đang tạc nó…” cô ta nói, mắt nhìn vào khuôn mặt người phụ nữ. Người phụ nữ nhìn cô, dường như họ hiểu nhau.

“Cô?… Chính cô?”

Con ma mỉm cười. Có cái gì đó đã xảy ra với cô, một loại biến đổi. Tội lỗi và sợ hãi biến đi đâu mất. Cô cúi đầu, nói chậm rãi.

“Có thể nó là chính tôi. Có thể nó là cái gì đó có trong mọi người. Không phải thế sao?”

Và ngửng phắt đầu lên, cô ấy nhìn tôi. Tôi chuyển mắt nhìn sang pho tượng. Thật sự có một cái gì thân quen trong đó, một cái gì gần gũi. Thật sự…

“Đây là một tác phẩm đẹp” tôi lầm bầm.

Tôi muốn nói một điều gì khác nũa, nhưng không biết nói gì

“Anh nghĩ thế à?”

“Vâng, tôi nghĩ thế.”

Ôi cái gì thân quen đến thế trong khuôn mặt này? Đôi mắt? Đôi vú chảy xệ khô héo vì sự chất phác và những rối loạn của trái tim, quai hàm trẹo đi vì bản năng thú vật? Cái miệng hé lộ nỗi đau bị tổn thương? Hay là sự khao khát kia, nỗi khao khát hiền lành, tối tăm, bí ẩn ấy – tìm một chỗ nơi nào đó giữa những vành môi, nơi nào đó dưới vầng trán thấp giữa đôi mắt sụp xuống kia?

Tôi lấy chiếc ghế đẩu, ngồi xuống và bắt đầu ngắm cái hình dáng tuyệt mỹ. Cái nhìn chăm chăm của nó qua vai tôi, găm vào một nơi nào đó, tới bóng ma kia, như thể cô ta bất cẩn và nghiêm túc để cho mình bị quan sát kỹ, đúng như tôi mong muốn.

Cả ba chúng tôi cùng im lặng. Một miếng đất sét đắp pho tượng rơi từ đầu gối nó xuống sàn. Đôi chân trông là lạ và khó tin, nhưng chắc chắn chúng là những đường nét đang tồn tại. Một dáng hình như thế này không thể thấy được, thế nhưng chúng đã được thấy. Nó có trong mỗi chúng ta. Thậm chí…

Bỗng nhiên ý ấy đập vào tôi. Nó giống Natalie.

Hết sức rối loạn, tôi nhảy bật lên khỏi ghế và bắt đầu nhìn tác phẩm ngu ngốc này! Thật ngu xuẩn! Thế nào? Ở đâu? Thật vớ vẩn! Con ma nhanh nhẹn chạm vào cánh tay tôi. Tôi nhìn quanh.

“Nó làm anh chán ngấy phải không?”

Tôi lại ngồi xuống. Thật vớ vẩn. Tôi nghĩ quá nhiều đến Natalie và nàng hiện ra trong một hình dáng ghê sợ như thế này. Tôi mỉm cười.

“Bức tượng của em đã làm anh chán ngấy.”

“Nó thật sự tuyệt diệu. Có một cái gì đó trong nó… Cô làm nó có lâu không ?”

“Sáu tháng”

Thật sự cái vật ghê gớm này hút người ta đến nó. Nó kéo mắt anh, nó kéo tim anh và hơi thở của anh đến với nó băng vẻ đẹp mê hồn và nỗi khát khao của nó; sự xấu xí và thảm hại của nó.

“Tôi muốn tạo hình một con người.”

“Một con người?”

Tôi quay đầu nhìn lại “bóng ma” từ đầu đến chân. Bây giờ cái miệng cô ta có một nét biểu cảm có trên người phụ nữ kia. Cô ấy đã nhìn vào gương khi nặn đôi môi này. Và cô ta cho bức tượng hình ảnh đôi mắt của chính cô. Và cái mũi tẹt kia giống như một quả mận bị ép.

“Cái đẹp này và cái xấu này có trong tất cả mọi người… trong mọi hình thức… Nhưng nó nhất định phải có. Chẳng phải sao?”

Tôi không nói.

“Nhất định phải có…Cả cái đẹp lẫn cái xấu… chỉ đôi khi cái đẹp bị giấu kín đến nỗi không thể thấy nó. Hoặc cái xấu ẩn dưới cái đẹp. Tôi muốn cho chúng bộc lộ cùng nhau… hay là tôi không nên?”

Cô ta hay nói “tôi có nên không?” Dù thế nào tôi vẫn im lặng và nhìn tác phẩm của cô. Nhìn càng lâu, tôi càng thấy trong lòng ấm áp và thoải mái. Như có một cái gì bóp nghẹt tôi, thổi phồng tôi, không cho tôi thở dễ dàng, đang từ từ thoát khỏi tôi qua một cái lỗ nhỏ.

Cảm giác thật diệu kỳ, và tôi không muốn cưỡng lại nó. Ôi, không! Tôi muôn nghe điệu nhạc ấy, cái giọng hơi vỡ ra dường như được bọc bằng một lớp men bạc, giọng của một người đàn bà đẹp. Tôi không muốn cử động để khỏi làm vỡ mất cái bình lặng của đêm, trong đó dường như chỉ có ba chúng tôi tồn tại cùng với cái ánh sáng dìu dịu của ngọn đèn trên bàn. Các góc của căn phòng này được bọc bằng sự hài hòa buồn bã của cái đẹp và cái xấu, ở trung tâm của cái thành phố khổng lồ tối đen đang ngủ say này.

Những đường nét của pho tượng kỳ lạ này toát ra một nỗi khao khát trò chơi hão huyền của cuộc sống. Cô gái đứng bên tôi, giọng của cô là giọng của pho tượng ấy. Trong tim tôi nỗi buồn thức dậy.

“Anh là nghệ sĩ phải không ?”

“Phải, tôi là một nghệ sĩ.”

“Em nhìn biết ngay. Em rất vui mừng. Em đã muốn trưng bày nó từ lâu. Nhưng em không thể… bây giờ em mới thấy những gì em làm là đúng. Em hạnh phúc.”

Cô xúc động. Cô ước vài bước về một bên, quay lại, xoa xoa hai tay. Rồi cô dịu dàng chạm vai tôi.

“Anh buồn à?”

Tôi gật đầu, mặc dù tôi không còn buồn nữa.

“Có phải điều gì đó làm anh chán. Tha lỗi cho em, vì em đã yêu cầu anh chuyện đó… Em thích anh.”

Tôi thích nghe nói thế dù tôi không rung động.

Cô im lặng.

“Anh có bao giờ cảm thấy tất cả mọi khốn khổ là một hình thức của cái xấu không ?…”

Tôi không động đậy. Tôi không muốn để cô nói, để cái giọng vỡ, khao khát ấy tiếp tục sau lưng tôi.

“Em luôn cảm thấy rằng… đó là lý do tại sao những người xấu xí lại thường bất hạnh đến thế… Xấu xí không phải chỉ trên mặt… Tất cả đều xấu.. Em không đúng à?”

Tôi thở dài sâu. Người đàn bà này biết nỗi buồn. Cô ta biết cái ý nghĩ về nó. Có lẽ cô ta thường xuyên nhìn nó kỹ quá như nhìn vào một vết thương.

“Sao anh không nói?”

Bỗng nhiên tất cả chuyện này trở nên tuyệt diệu. Bóng ma này, căn phòng được trang hoàng thanh nhã với thị hiếu nghệ sĩ này, những bức tranh, và bức tượng bị che khuất sau tấm khăn trải giường. Tôi đứng lên và lướt nhìn cô chủ nhà của tôi từ chân đến đầu. Cô đứng, hai cánh tay buông thõng bên mình, chăm chăm nhìn tác phẩm của cô. Đôi mắt cô mang cùng nỗi đau buồn như bức tượng của cô. Bản thân cô là một tác phẩm.

“Cô làm có lâu không ?”

Cô thở dài và quay mặt về phía tôi.

“Anh nói gì? Em xin lỗi, em không …”

“Tôi nói – Cô làm việc này có lâu không?”

“Việc gì?”

“Việc đắp tượng, tất nhiên.”

“Không, không lâu, chưa đến một năm”

“Và… làm gái?”

Cô ta cúi đầu xuống.

“Em không tìm được việc nào mà em có thể đi làm vào ban đêm”

“Không tôi không hỏi chuyện đó. Tôi hỏi cô vào nghề ấy đã lâu chưa?”

Tôi nói với cô như một quan tòa. Và cô ấy cảm thấy tôi có quyền nói với cô như vậy. Nhưng tại sao?

“Em đã làm nghề ấy ngay từ khi em bắt đầu làm bức tượng này.”

“Và cô làm tượng vào ban ngày.”

“Vâng.”

Tại sao tôi hỏi cô tất cả những chuyện ấy? Có trời biết. Tôi lại ngồi xuống ghế, tựa đầu lên lưng ghế, và không cử động. Ở nơi nào đó trong xưởng vẽ không người, Natalie đang ngủ. Cứ để cho nàng ngủ. Ngày mai nàng sẽ thấy sự đánh giá sắc đẹp của nàng. Cứ để cho nàng thấy.

“Nghe này” Tôi bỗng nhiên ngẩng đầu lên, “Có phải cô cố cho tôi thấy sự thống nhất của cái đẹp và cái xấu để thấy trong cái hình thức đẹp bề ngoài cái xấu bên trong bộc lộ ra, phải không ?”

“Không em không muốn cố theo cách ấy. Khó hơn nhiều.”

“Khó hơn? Hừ! Ừ khó hơn, đúng. .. nhưng nó có nhiều tác động hơn”

“Oh…nhiều hơn…”

“Nó phải gợi lên một nỗi buồn cùng cực. Nó phải gây ra rối loạn đau đớn ở tâm một sự kết hợp như thế, đúng không? để cho một vẻ đẹp như thế, một sự kết hợp như thế, sao cho người ta có thế thấy… Không! tôi nói không đúng… tôi không thể nghĩ… nhưng bây giờ tôi hiểu. Bây giờ tôi đã hiểu.”

Và tôi lại ngả đầu tựa lên vai ghế. Bây giờ tôi đã thật sự hiểu, rằng ngay cả trong những khoảnh khắc hạnh phúc thuần khiết nhất với sắc đẹp của Natalie, trái tim tôi bị bóp nghẹt bởi một nỗi buồn, nỗi khát khao chưa từng biết khiến tôi muốn khóc lên bằng những giọt nước mắt nóng hổi cho ai đó hay cái gì đó, và tại sao trong những giọt nước mắt đó có cả cái dịu dàng và hạnh phúc và nỗi đau và vô vọng.

Hiếu Tân dịch theo bản tiếng Anh (dịch từ tiếng Ukraine) của L. Hirna và D. Struk

Read Full Post »

Phía mùa rực rỡ

                                       Hoàng Thanh Hương

Ý ngồi nghe bản “Forever in love”, mùa xuân ngoài cửa, mùa xuân năm nào cũng đến ngoài mong đợi của nàng, nàng không thích những thứ thuộc về nó, bao năm rồi nàng không có tết, 30, mồng 1,2,3 thậm chí rằm tháng Giêng, chúng là chuỗi thời gian hân hoan của bao người, bao nhà thì nàng thờ ơ như ngày thường, như ngày đi làm đầu tuần, chẳng phấn khích, chẳng hào hứng, uể oải tiếc nuối hai ngày nghỉ với bao việc riêng chưa làm hết đành gác lại, lại là mớ công việc quanh quẩn với những mặt người quanh quẩn, tất cả cứ phải nhẫn nhịn thế để cuối đời có đồng lương hưu, để có cái danh công chức viên chức nhà nước, để ngong ngóng đợi đầu tháng nhận gần 4 triệu cho hơn 8 năm làm việc. Có lúc nàng bị bệnh sợ người, nhất là những người cùng giới, cùng ngành, cùng bộ phận công tác, những môi son hồng cánh sen, đỏ, cam vừa thơn thớt nói cười vồn vã, vừa quay lưng khuất bóng là đơm đặt, dè bỉu, bêu riếu, trắng đen thật giả lộn nhào, hỗn loạn. Mẹ bảo phần đa đàn bà là thứ rắn độc, nguyên nhân của mọi chiến tranh. Mẹ bảo mình là đàn bà, kiếp giời đầy, cố gắng không là số đông tồi tệ. Đời người luân hồi, thiện – ác có quả báo, đều phải đền trả sòng phẳng. Nàng tin chúa. Nàng đã thấy thiên đường trong những giấc mơ. Nàng đọc đâu đó khi trẻ người ta hay vấp váp, khi trung niên thì vật lộn và khi già hay nuối tiếc. Nàng chưa vào trung niên nhưng cũng không hẳn đang trẻ, cái cỡ 30 tuổi nó ở quãng giữa hai mốc kia, như thế nghĩa là vừa hay vấp váp vừa phải vật lộn. Năm nàng 28 người tình bỏ nàng theo mụ nạ dòng giàu nhất huyện C, gã chúi đầu vào bộ ngực đồ sộ cứng câng silicon của mụ, nghe mụ phỉnh phờ “Lấy em, anh sẽ là ông hoàng của thế gian”. Và gã bỏ nàng để làm ông hoàng của mụ ngực bự. Vài lần gã lái xe đứng đợi nàng đầu hẻm, nàng và gã giằng co, nàng tát gã, nàng tím mặt rồ ga phóng nay nẩy qua đám ổ gà ổ voi, về đến cổng nhà nàng mới khóc lu loa. Thằng ngọng đứng chơi phía bên cổng nhà nó líu lịu bảo đừng khóc, đừng khóc để ngọng gọi bố dỗ Ý. Nàng phẩy tay bảo đừng, bảo nó lại cô cho túi bánh cam nóng giòn. Tết mấy năm rồi chỉ có thằng ngọng hay chạy qua chạy lại líu lịu với nàng, bạn bè đến uống nước trà rồi đi, đồng nghiệp đến uống nước trà rồi đi, trà nhà nàng ngon đệ nhất vì nàng là kẻ rành trà, thích trà. Đĩa bánh ngọt còn nguyên từ ngày 1 đến ngày 15 tháng Giêng, thời buổi này chả ai còn thèm bánh ngọt. Nàng nhớ cái hồi bé tí, chao ôi chỉ mong đến tết để mà tha hồ ăn bánh kẹo, những thức ấy ngon ngọt thơm đến tận bây giờ. Còn giờ, bánh xịn loại A1 con nàng cũng chẳng thèm ngó lấy một cái, nàng thì sợ béo cũng lơ. Khách đến ngồi chào chúc cho phải phép rồi đi. Chỉ có thằng ngọng bới bới nhặt một cái màu vàng nó thích, ngồi nhai chậm chạp, gật gật on on (ngon ngon). 

Một cái tết cách đây 5 năm nàng sinh con một mình, bệnh viện thành phố đêm 30 trống trải và lạnh như xéo da ngắt thịt. Nữ hộ lý gầy gò đặt đứa bé nhỏ tí ti và tay nàng, ánh nhìn cảm thông: Không ai chăm à? Chồng đâu? Mẹ đâu? Nàng đón con, nó bé xíu, 3kg, ậm ạch từ đầu chiều giờ nó mới chịu để nàng thấy mặt, nàng gọi nó là Lì, tên đi học là Ly Ly, nó mang họ nàng, Mai Ly Ly. Nàng hỏi nữ hộ lý gầy gò có thích tên con bé không? Chị bảo tên đẹp chỉ khổ, theo ông bà ta xưa đặt tên xấu dễ nuôi, khỏi sợ ma quỷ nhòm ngó. Tên gì kêu lanh canh, nghe lạnh và ám ảnh tan tác. Sao không đặt là  Nụ, Nhài, Hiền, Mai cho nó dịu dàng, yên ổn. Nàng cười nhẹ, chị tên gì? Tên Thôi. Nàng nhiu mày tên gì mà như cấm đoán, ngăn cản thế? Chị đắp chăn ngang bụng nàng cười buồn kể lể bà già đẻ cố đứa con trai, chị thứ 9 vẫn thị mẹt, bà nản, sức khỏe đuối nên quyết không đẻ đái gì nữa, kết thúc ở số 9. Vũ Thị Thôi. Câu chuyện trôi êm giữa hai người đàn bà trong căn phòng hậu sinh lạnh xéo da ngắt thịt. Nàng lì xì chị 500 ngàn, chị chối đây đẩy. Chị bảo quanh năm nghề hầu người đẻ, chứng kiến bao buồn vui oán giận của thiên hạ khi được/bị nhận một sinh linh, nhọc lắm, tủi lắm rồi. Kiếp sau không làm người, làm kiếp chó, con người sống với nhau bạc quá. Mấy lần tính nghỉ, nhưng nghỉ thì chỉ có húp nước lã, mà nước lã cũng chả có mà  húp vì không có tiền đóng phí nước, nhà máy nước nó cắt pheng. Chị bảo mấy năm rồi chả có cái tết cái nhất gì sất, xin làm mấy ngày này kiếm thêm đồng nuôi thằng con giai học cấp 3, thằng bé giỏi như thần đồng, đẹp giai như bố, thương người như bố, hiền lành như bà ngoại, ăn no ngủ kĩ như bà nội… chị cứ như được khơi đúng nguồn, thao thao kể về thằng con. Bà mẹ nào cũng tự hào về con, cũng yêu con kì lạ. Còn nàng, nàng đang bế trong tay đứa bé đỏ hỏn, nó là thứ nàng không mong đợi, anh cũng không đợi mong. Anh bỏ nàng vì sự có mặt của nó. Nàng mở mũ để nhìn nó kỹ hơn, chẳng nhận ra gì, chẳng thấy gì, chỉ thấy lạnh từng cơn xông vào lưng, ngực, chân tóc buôn buốt. Nàng bảo nữ hộ lý: Chị ôm nó cho em ngủ chút, em lạnh quá, em sợ ngủ quên đè vào nó. Chị lườm nàng hừ một tiếng lầm bầm: Rõ là vụng, trẻ thế mà đèo bòng, khổ chưa? Nàng cười nhẹ, kéo chăn kín đầu, mùi nhang cúng giao thừa bên phòng họp khoa sản tỏa lan thơm thơm, tiếng nhạc ti vi rộn ràng chào xuân mới, nàng co đầu gối ép sát bụng cố dỗ giấc cho quên từng cơn đau co thắt tử cung. Tiếng chị ru hời ru hỡi buồn buồn rên rên, nàng lớn lên chẳng biết mẹ là ai, cha là ai, họ hàng là ai. Nàng buồn buồn lớn lên giữa cái xóm người làm công ăn lương nhà nước cư xử  kiểu cách nhạt nhẽo cùng mẹ nuôi – một văn thư ế duyên. Bà nhặt nàng trước cổng nhà thờ Mẹ vô nhiễm một sáng giáp tết. Nàng được trời ban sức khỏe và nhan sắc, nàng có trí nhớ tốt, đôi bàn tay đẹp như tay đức mẹ thiên chúa. Nàng ít nói đến nỗi trong xóm nhiều người tưởng nàng câm, nàng hay nhìn chăm chắm vào người đối diện không chớp mắt khiến họ bối rối, sợ hãi, nàng hay ôm chó mèo nói lảm nhảm thì thào, mẹ nuôi nàng kệ mọi điều dị nghị xôn xao, bà một mình nuôi nàng lớn nhanh như thổi, học giỏi nhất trường, vào đại học thủ khoa, ra trường được nhận làm việc ngay, nghề bác sĩ nhi là nghề mẹ nuôi mơ ước, nàng thực hiện mơ ước của bà một cách trôi chảy, bà yêu nàng một cách chân thành nhất thế gian, chắc là hơn cả tình yêu của người mẹ đẻ nàng, người vứt nàng lăn lóc sáng giáp tết nọ trước cổng nhà thờ. Bà ấy chắc xinh đẹp, chắc dại dột và chắc là ác như thú. Nàng nhớ mẹ nuôi, giá lúc này có bà, nàng sẽ được ăn những thìa cháo thịt bằm nóng hổi thơm nhức mũi, sẽ được uống cốc sữa nóng hổi béo ngọt để lấy lại sức, sẽ được bà xoa xoa hoặc chườm nước nóng lên vòm bụng đang cương trương đau thắt… Bà không chờ nổi ngày nàng lên xe hoa, không chờ nổi ngày hai mẹ con đi đặt thiệp cưới, không được nhìn góc trái thiệp ghi bà quả phụ Mai Thị Phi tổ 12 phường K, TP. Pleiku trân trọng báo tin lễ vu quy của con gái Mai Xuân Như Ý… Nàng thèm có mẹ nuôi quá, nước mắt nàng chan chứa. Những sự kiện buồn thảm toàn rơi vào đời nàng những ngày tháng tết đến xuân qua. Khi người ta vui vẻ sum vầy thì nàng một mình với nỗi đau mất mẹ, sinh con một mình, người yêu phụ bạc.

Phòng mạch của nàng ngoài giờ lúc nào cũng đông khách, những ông bố bà mẹ xuýt xoa, đi ra đi vào sốt ruột ngóng đợi đến lượt bế con cưng vào, những đứa trẻ nàng khám cho thuốc 3 ngày, 5 ngày, 10 ngày hết ho, ói, sổ mũi, ỉa chảy, sốt… Người ta đồn nàng mát tay mát vía. Người ta đồn nàng đẹp như đức mẹ nhưng kiệm lời, chẳng thấy cười, mắt luôn nhìn chăm chắm làm người đối diện lúng túng. Nàng giàu. Tiền mẹ nuôi ki cóp cả đời đủ để nàng sửa nhà cũ thành phòng mạch, đi làm cơ quan, hết giờ về làm tại nhà, nàng chẳng đi đâu, chẳng gặp ai, tết cũng chẳng thăm hỏi đồng nghiệp bạn bè. Bà trưởng khoa phê bình nàng ra rả mỗi dịp họp xét bình bầu thi đua cuối năm rằng nàng tự ti, thiếu quan tâm đồng nghiệp, không có tính phối hợp, không hòa đồng, không tích cực trong các phong trào văn nghệ thể thao… năm nào nàng cũng tự nhận hoàn thành nhiệm vụ, không lăn tăn bầu bán danh hiệu thi đua. Nhưng các chị già ở khoa thương nàng lắm, ai nhờ gì nàng cũng giúp, lịch của nàng dày ken vì trực thay. Các chị già giơ tay đề nghị nàng hoàn thành tốt nhiệm vụ, bà sếp gạt phắt, các đồng nghiệp cùng tuổi ngồi im, ngó linh tinh chỗ khác, các đồng nghiệp trẻ hơn sợ sếp ngồi im thít, tiếng thở kìm nén ấm ức. Chẳng ai muốn dây với bà, công việc bữa nay người đông của khó, bà điên tiết về tâu với ông chồng giám đốc viện là mai có ngay quyết định chuyển sang bộ phận khác. Chẳng ai dại. Ở viện nàng cái giường đôi ở nhà  và cái ghế da trên cơ quan của vợ chồng sếp là đề tài “hot”. Việc cơ quan cũng là việc nhà và ngược lại, cứ như thời phong kiến thống trị. Nàng thờ ơ. Mấy em nhỏ thì thầm vào tai nàng: Tết chị đến quà cáp bả để êm cho rùi. Nàng cười nhẹ, nhún vai. Tết nàng đút phong lì xì, họp tổng kết cuối năm xong tặng các chị già, cho các em trẻ, cho bác bảo vệ, các chị hộ lý kèm câu ngắn gọn: “Năm nay nhà em có tang không đến thăm được”. Tang hết 2 năm nàng vẫn một câu đấy mỗi khi tết đến. Các chị già làm mai đám này đám kia, nàng nể đi cà phê xem mặt, được 30 phút đòi về vì bệnh nhân đợi đầy nhà. Các chị già chán ngán bảo nàng làm để chết à. Nàng cười nhẹ. Mắt chăm chắm nhìn người trai đối diện. Anh chàng cà phê nhỏ giọt tránh mắt nàng.  Các chị già thở dài sườn sượt. Con gái gì mà mắt với mặt cứ buồn rười rượi thế kia sướng làm sao được. Rồi lại thở dài sườn sượt ngước mắt nhìn trời. Trời cao tít, nhấp nháy sao và sao.

Anh không chịu nổi nàng, anh không muốn cưới nàng, anh thích xài tiền của nàng, thích ngủ với nàng, thích ăn những món nàng nấu mỗi tối được về thành phố. Kĩ sư nông lâm ở huyện, gặp một lần anh lao vào nàng, đều đặn và lắm trò anh làm nàng xiêu lòng, đến khi nàng yêu anh, cần anh thì anh tỏ ý rút lui. Lý do anh chưa muốn có con lúc này, anh phải phấn đấu, chức phó chủ tịch huyện anh chạy đã 5 năm nay, bây giờ đang cơ cấu trẻ, nàng theo đạo công giáo sẽ khiến anh khó thăng tiến… nhiều lý do nàng không nhớ hết nhưng bạn anh lộ với nàng rằng anh bảo không chịu được sự im lặng của nàng. Lấy nàng anh sẽ không tiến được vì thầy bói nói anh và nàng khắc tuổi, nàng dân xóm đạo. Ba lí do bị phụ tình. Nàng không phá thai, anh mua nhà ở huyện, lên phố không đến nhà nàng, không liên lạc. Cứ như chưa quen nhau bao giờ. Nàng không phá thai. Bà sếp đòi kỷ luật nàng, đòi truy ra bố đứa bé, thế kỉ XXI rồi mà, nàng có quyền làm mẹ đơn thân. Các chị già chăm nàng ăn, trực thay nàng khi nàng nghén, đến nhà khám thay nàng những hôm nàng bệnh không gượng dậy nổi, cha mẹ bệnh nhân tặng nàng những món quà sơ sinh dễ thương của con họ, những món ăn vặt bà bầu. Nàng cười nhẹ. Mắt nàng nhìn chăm chắm.

Gã đến, gã yêu nàng như điên, gã trẻ hơn nàng hai tuổi, nhất gái hơn hai, người ta đồn gã là thằng đào mỏ, nàng kệ. Gặp gã nàng như bị sét đánh, lao vào nhau bốc cháy. Hơn một năm bên nhau gã là người tình tuyệt vời, gã chăm sóc nàng như nữ hoàng, thẻ lương gã luôn hết veo ngay từ giữa tháng bởi những quan tâm chu đáo cho hai mẹ con nàng. Ly Ly yêu gã gọi là papa, chị giúp việc yêu gã gọi là cậu Ba, nàng yêu gã gọi là mình. Những bữa cơm chung thật ấm cúng. Gã nài nỉ nàng ra giêng cưới. Nàng cười nhẹ, mắt chăm chắm nhìn gã gật lia lại, những tia mắt lóng lánh như pha lê, đêm mùa đông, phòng ngủ 30 độ C, dưới đèn hồng nàng đẹp như đức mẹ thiên chúa, vòng tay gã cuộn nàng ấm áp, giấc ngủ có gã thật sâu và êm dịu. Nhưng gã không cưới nàng, gã không thích làm nhân viên quản lý khách sạn quèn, gã không thích làm chồng khi chưa tuổi 30, gã mộng làm giám đốc công ty tư nhân, nàng không biết điều đó, gã chỉ nói với nàng khi đã say mèm rằng đời này anh yêu em mãi mãi nhưng anh nhất định phải có danh tiếng với đời. Không thể nào cứ con sãi ở chùa thì quét lá đa mãi được, con sãi cũng có thể làm vua chứ, nhất định phải làm được. Nàng không hiểu, vỗ về gã ngủ. Giờ thì gã làm vua rồi, mụ ngực bự hơn gã 7 tuổi, đại gia nông sản và gỗ gì gì đó, nức tiếng huyện T, các chị già chê mụ ngực bự là thứ hư hỏng, đấy là hàng xách tay, cơ sở hai của quan này quan kia mấy đời mới củng cố được cơ ngơi địa vị như thế. Nàng tặng anh một câu ngắn gọn: “Mong anh làm vua mãi mãi”. Nàng xóa số anh, nàng xé nát ảnh, nàng vứt vào sọt rác những thứ liên quan đến anh… nàng thất tình như tuổi teen. Khi ba mươi tuổi đàn bà yêu sâu hơn nhưng cũng cả tin hơn. Khi ba mươi tuổi đàn bà bắt đầu biết quý những gì mình đã có và cả biết tiếc. Gã gọi điện, gã nhắn tin, gã đến trường gặp Ly Ly, ôm hôn nó ngấu nghiến, cho nó gấu Misa và sữa, bông tai vàng, con bé vẫn gọi gã là papa, chị giúp việc vẫn nhắc cậu Ba, nàng im lặng, nàng câm lặng, nàng nhẹ cười khi ai đó nhắc lại mối tình của nàng và gã.

Ý ngồi nghe bản “Happy new year”, mùa xuân đang về qua ngõ, giàn hoa tigon nở hồng mong manh, nàng đóng cửa phòng khám, hôm nay sinh nhật nàng, ngày giáp tết cách đây 30 năm nàng chào đời, bị bỏ lại trước cổng nhà thờ mỗi ngày nàng vẫn đi qua, được nhặt lên và đem về nuôi nấng, được mẹ nuôi cho cái tên đầy mong chờ hạnh phúc, được làm mẹ khi 25, nàng tự hỏi giờ mẹ nàng ở đâu, bà có dằn vặt trong tim mỗi khi nhớ đến nàng. Nàng đã làm mẹ, mẹ đơn thân khi tuổi 25 nhưng nàng sẽ không phải dằn vặt đến khi chết.  Anh đã lên được chiếc ghế phó chủ tịch huyện, đã xây nhà ba tầng, sắm xe hơi, đã kết hôn nhưng không có con, vợ anh bị khiếm khuyết ống dẫn chứng. Anh không lần ghé thăm Ly Ly. Mai là sinh nhật con. Đôi khi nàng vẫn nghĩ về anh, không oán trách. Gã đã làm giám đốc, mụ vú bự đã sinh bé gái nặng 4kg.  Gã nói với Ly Ly nó là em gái con – Ly Ly em. Mụ vú bự nhắn tin “Chị em mình cùng yêu một người đàn ông, em có duyên mà không phận, chị may mắn có phận, mong em dĩ hòa vi quý để hai nhà được yên vui em nhé!”. Mụ hẹn tết bế Ly Ly em ra thăm Ly Ly chị. Nàng nhắn lại “ok, nên cho bé bú sữa mẹ!”, send thêm cái biểu tượng mặt cười vàng chóe. Khi ba mươi tuổi đàn bà vị tha hơn, biết nghĩ về tương lai hơn, biết thương mình và âu lo hơn.

Hôm nay nàng tròn ba mươi. Mùa xuân đến ngõ, lao xao phố phường, thằng ngọng bấm chuông. Nó chìa mảnh giấy qua kẽ cửa. “Chiều qua nhà anh tất niên, anh gói bánh chưng cho hai mẹ con rồi, đừng mua bánh chợ về cúng mẹ nhé!”. Nàng nhướn mắt, nàng cười nhẹ. Mắt nàng ngó chăm chắm sang bờ rào đối diện. Bố thằng ngọng đang vừa lau mấy chậu mai vừa hát “Happy new year”. Nàng nghe có tiếng Ly Ly và chị giúp việc bên ấy. Nàng mở cổng. Từ ngày mẹ thằng ngọng qua đời vì ung thư gan đây là lần thứ hai chị sang nhà anh. Anh chuyển về đây ở khi nàng vừa 20. Lâu lắm rồi nàng mới nhìn kĩ một người đàn ông. Anh chỉ cái xích đu: “Ngồi đi, chậu mai này tặng em, mừng sinh nhật nhé, mừng xuân luôn”. Ly Ly ôm cổ anh nũng nịu: “Bác hông tặng con bánh tò te à?”, “Tối mai mới có bánh tò te chứ? Mỗi đứa hai cặp tha hồ mà ăn”. Thằng ngọng chỉ vào chồng bánh trên chiếc bàn gỗ nơi góc thềm: “Ánh ưng của ố, ủa ọng, ủa em Y Y, ủa ị Ý”. Nàng cười nhẹ, mắt nhìn đăm đắm thằng ngọng đang nặng nhọc phát âm, cố diễn đạt điều nó muốn khoe. Tên nàng nó nói rõ nhất, tên nàng dễ gọi, người ngọng cũng có thể phát âm chuẩn. Anh quay nhìn nàng, mắt cười, ngập ngừng: “Hay là ba mẹ con chị em nhà Ý mai qua đây cùng đón giao thừa với bố con anh cho vui?”. Nàng nhìn anh đăm đắm. Giờ nàng mới nhớ câu mẹ nuôi khen anh “ Đàn ông đàn ang gì mà tử tế thế. Vợ bệnh con tật  mà thương yêu chăm sóc một dạ một lòng”.  Nàng gật gật, mắt nhìn anh chăm chắm. Anh bảo: “Em cười đi, Ý cười đẹp lắm đó”. Nàng gật gật nhoẻn cười. Ly Ly và thằng ngọng vỗ tay nhảy choi choi reo ầm ĩ: “A mẹ cười rồi, mẹ cười rồi”. Nước mắt nàng tự nhiên chan chứa. Bỗng nhiên nàng muốn đi chợ, siêu thị, các cửa hàng, hôm nay sinh nhật nàng, mai tết rồi, mai sinh nhật Ly Ly, nàng muốn sắm sanh thật nhiều thứ, cho mình, cho Ly Ly, cho chị giúp việc, cho bố con thằng ngọng, cho mấy chị già, mấy em trẻ cơ quan, cho bác bảo vệ, mấy chị hộ lý, cho cả bà sếp… Chị gọi: “ Này, anh lái xe chở mẹ con em đi sắm tết nhé”. “Tuân lệnh”. Nói xong anh giơ tay chào kiểu nhà binh. Ly Ly và thằng ngọng vừa nghe thế lại nhảy choi choi reo ầm ĩ: “A đi sắm đồ Tết thôi, đi thôi mẹ”… nàng nhoẻn cười, hai má hồng hồng, mắt nhìn chăm chắm vào lũ con, vào anh, vào chậu mai bắt đầu xòe những bông vàng rực rỡ háo hức đón mùa./.

                                                                                                H.T.H

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »