Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Nghiên cứu và phê bình văn học’ Category

(Bài diễn từ có tên Ánh sáng và sợi chỉ [Light and Thread] của Han Kang phát biểu bằng tiếng Hàntại Viện Hàn lâm Thụy Điển ở thành phố Stockholm hôm 7/12).

Đỗ Hồng Nhung dịch từ bản tiếng Anh trên trang web của giải Nobel.

Hiếu Tân hiệu đính.

Tháng 1 năm ngoái, khi dọn kho để chuyển nhà, tôi tìm thấy một hộp giày cũ. Tôi mở hộp, tìm thấy vài cuốn nhật ký thời thơ ấu. Trong đống nhật ký, có một xấp giấy mỏng, trên ghi bằng bút chì Một tập thơ. Cuốn sách mỏng này gồm năm tờ giấy A5 gấp đôi và đóng bằng kim bấm. Tôi đã thêm hai đường ngoằn ngoèo dưới tiêu đề, một đường đi lên sáu bậc về bên trái, đường kia đi xuống bảy bậc hướng sang phải. Đó có phải là một kiểu minh họa bìa? Hay chỉ đơn giản là một hình vẽ nguệch ngoạc? Mặt sau xấp giấy ghi năm 1979 và tên tôi. Bên trong có tổng cộng tám bài thơ viết bằng nét bút chì gọn gàng giống như ở bìa trước và sau. Cuối mỗi bài thơ ghi một ngày khác nhau, theo thứ tự thời gian. Những dòng chữ của tôi khi lên tám rất ngây thơ và thiếu trau chuốt, nhưng một bài thơ viết vào tháng 4 đã thu hút sự chú ý của tôi. Nó mở đầu với những câu sau:

Tình yêu ở đâu?
Nó nằm trong lồng ngực đập thình thịch của tôi.
Tình yêu là gì?
Nó là sợi chỉ vàng kết nối trái tim của chúng ta

Trong chớp mắt, tôi quay ngược về bốn mươi năm trước, nhờ kỷ niệm về buổi chiều tôi loay hoay đóng cuốn sổ thơ. Cây bút chì ngắn của tôi đậy bằng nắp bút bi, bụi từ cục gôm, chiếc kẹp giấy lớn tôi lén lấy từ phòng của cha. Tôi nhớ là sau khi biết gia đình mình sắp chuyển đến Seoul, tôi có động lực thu thập những bài thơ viết rải rác trên những mẩu giấy nhỏ, hoặc bên lề sổ tay, vở bài tập và hoặc giữa các đoạn nhật ký, gom chúng lại thành một quyển duy nhất. Tôi cũng hồi tưởng lại cảm giác không muốn cho ai xem “tập thơ” của mình khi nó hoàn thành.

Trước khi đặt xấp nhật ký và tập thơ nhỏ trở về chỗ cũ và đóng nắp hộp lại, tôi đã chụp ảnh bài thơ đó bằng điện thoại. Bởi vì tôi cảm nhận được tính liên tục giữa những từ mà tôi đã viết vào thời thơ ấu với con người tôi hiện tại. Trong lồng ngực tôi, trong trái tim đập thình thịch của tôi. Giữa trái tim của chúng ta. Sợi chỉ vàng nối kết – một sợi chỉ phát sáng.

Han Kang ở buổi phát biểu nhận Nobel Văn học 2024. Ảnh: Anna Svanberg

***

14 năm sau, với việc xuất bản bài thơ và truyện ngắn đầu tiên, tôi trở thành nhà văn. Sau năm năm nữa, cuốn tiểu thuyết dài đầu tiên mà tôi viết trong ba năm được phát hành. Từ đó đến nay, quá trình làm thơ, viết truyện ngắn luôn cuốn hút tôi, nhưng viết tiểu thuyết luôn có hấp lực đặc biệt. Mỗi cuốn tiểu thuyết dài tiêu tốn của tôi từ một đến bảy năm để hoàn thành, chúng khiến tôi đánh đổi đáng kể cuộc sống cá nhân của mình. Đây cũng chính là điều thu hút tôi vào công việc này. Suy ngẫm về những câu hỏi mình cho là cần thiết và cấp bách, tôi đắm chìm sâu sắc đến nỗi chấp nhận sự đánh đổi.

Mỗi khi sáng tác tiểu thuyết, tôi chịu đựng những câu hỏi, tôi sống trong chúng. Lúc đi đến cùng những câu hỏi này không đồng nghĩa với đã tìm ra câu trả lời, mà là lúc tôi chạm đến điểm cuối của quá trình viết. Lúc ấy, tôi không còn là tôi khi bắt đầu, và từ trạng thái đã thay đổi đó, tôi tái khởi đầu. Những câu hỏi tiếp theo xuất hiện, như trong một chuỗi mắt xích, hoặc như những quân cờ domino, chồng chéo và nối tiếp nhau, thúc đẩy tôi tiếp tục viết điều gì mới.

Khi viết cuốn tiểu thuyết thứ ba Người ăn chay, từ năm 2003 đến 2005, tôi đã đối mặt với những câu hỏi đau đớn: Một người có thể hoàn toàn ngây thơ không? Chúng ta có thể từ chối bạo lực đến mức nào? Điều gì sẽ xảy ra với cá nhân từ chối thuộc về giống loài gọi là con người?

Cuốn Người ăn chay bản tiếng Việt, xuất bản năm 2011. Ảnh: Nhà xuất bản Trẻ

Lựa chọn không ăn thịt để từ chối bạo lực, và cuối cùng từ chối mọi đồ ăn, thức uống, ngoại trừ nước, với niềm tin rằng mình đã biến thành cây, Yeong-hye, nhân vật chính trong Người ăn chay, thấy mình ở trong tình huống mỉa mai: Càng muốn tự cứu mình thì càng nhanh chóng hướng đến cái chết. Yeong-hye và chị gái In-hye của cô, thực tế cả hai đều là nhân vật chính, gào thét vô thanh trong những cơn ác mộng và sự đổ vỡ, nhưng cuối cùng họ vẫn bên nhau. Tôi để cảnh cuối cùng diễn ra trong chiếc xe cứu thương, với hy vọng Yeong-hye vẫn còn sống trong thế giới của câu chuyện. Chiếc xe lao nhanh xuống con đường núi dưới những tán lá xanh rực rỡ, trong khi người chị đăm đăm nhìn ra ngoài cửa sổ. Có lẽ cô đang chờ đợi một phản ứng, hoặc cô đang phản kháng. Toàn bộ tiểu thuyết nằm trong trạng thái nghi vấn. Nhìn chằm chằm và thách thức. Chờ đợi một câu trả lời.

Mực và Máu (Ink and Blood), cuốn tiểu thuyết sau Người ăn chay, tiếp tục những câu hỏi này. Từ chối cuộc sống và thế giới này để từ chối bạo lực là sự bất khả thi. Rốt cuộc, chúng ta không thể biến thành những cái cây. Vậy chúng ta tiếp tục bằng cách nào? Trong cuốn tiểu thuyết thể loại kỳ bí này, những câu văn in thường và in nghiêng xô đẩy, xung đột nhau, khi nhân vật chính – người lâu nay vật lộn với bóng đen Thần Chết – mạo hiểm mạng sống của mình để chứng minh rằng cái chết đột ngột của bạn cô không thể là tự tử. Khi tôi viết cảnh kết thúc, mô tả cô ấy lê lết trên sàn để bò ra khỏi cái chết và sự hủy diệt, tôi đã tự hỏi những câu này: Lẽ nào chúng ta không được sống sót đến cùng sao? Lẽ nào đời ta không là minh chứng cho chân lý hay sao?

Với cuốn tiểu thuyết thứ năm, Những bài học Hy Lạp (Greek Lessons), tôi thậm chí còn đẩy xa hơn nữa. Nếu chúng ta phải sống trong thế giới này, những khoảnh khắc nào làm cho điều đó khả thi? Một phụ nữ mất tiếng nói và một người đàn ông mất dần thị giác đang đi trong lặng lẽ và bóng tối khi những ngả đường đơn độc của họ giao nhau. Tôi tập trung miêu tả những khoảnh khắc xúc giác trong câu chuyện này. Cuốn tiểu thuyết diễn tiến với tốc độ chậm của riêng nó, xuyên qua tĩnh lặng và bóng tối, cho đến khi bàn tay của người phụ nữ với tới và viết vài từ trên lòng bàn tay của người đàn ông. Trong giây phút rực sáng thành vĩnh hằng, hai nhân vật bộc lộ những khía cạnh ôn hòa của chính họ. Câu hỏi tôi muốn đặt ra ở đây là: Phải chăng bằng cách quan tâm đến những khía cạnh dịu dàng nhất của nhân loại, bằng cách vuốt ve sự ấm áp không thể chối cãi tồn tại ở đó, rốt cuộc chúng ta có thể tiếp tục sống trong thế giới hữu hạn và đầy bạo lực này?

Khi chạm đến tận cùng câu hỏi này, tôi bắt đầu nghĩ về cuốn sách tiếp theo. Đó là vào mùa xuân năm 2012, không lâu sau khi Những bài học Hy Lạp xuất bản. Tôi tự nhủ sẽ viết một cuốn tiểu thuyết tiến thêm một bước nữa về phía ánh sáng và sự ấm áp. Ngập tràn tác phẩm này là cảm giác sáng choang, trong suốt. Tôi nhanh chóng tìm ra tên sách và viết được hai mươi trang bản thảo đầu tiên, rồi buộc phải dừng lại. Tôi nhận ra rằng có điều gì đó bên trong ngăn cản tôi viết cuốn tiểu thuyết này.

Cho đến lúc đó, tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc viết về Gwangju.

Tôi mới chín tuổi khi gia đình rời Gwangju vào tháng 1/1980, khoảng bốn tháng trước khi các cuộc thảm sát bắt đầu. Khi tôi tình cờ nhìn thấy gáy sách lộn ngược của Sách ảnh Gwangju trên kệ vài năm sau, và xem qua lúc không có người lớn nào xung quanh, tôi đã mười hai tuổi. Cuốn sách chứa những bức ảnh của thường dân, sinh viên Gwangju bị giết bằng gậy, lưỡi lê và súng khi chống lại lực lượng quân sự vừa thực hiện đảo chính. Được những người sống sót và gia đình người chết xuất bản, phân phối bí mật, cuốn sách làm chứng cho sự thật vào thời điểm mà sự thật còn bị bóp méo, xuyên tạc do truyền thông bị đàn áp khốc liệt. Là một đứa trẻ, tôi chưa hiểu hết ý nghĩa chính trị của những hình ảnh đó, nhưng những khuôn mặt dập nát trong sách đã in hằn trong tâm trí tôi câu hỏi cơ bản về con người: Đây có phải là hành động của một con người đối với con người hay không? Và sau đó, nhìn thấy một bức ảnh chụp hàng người vô tận chờ hiến máu bên ngoài bệnh viện đại học, tôi lại tự hỏi: Đây có phải là hành động của một con người đối với con người hay không? Hai câu hỏi này trông thì giống nhau, nhưng chúng xung khắc và dường như không thể hòa giải. Sự thiếu tương thích của chúng là một nút thắt mà tôi không thể tháo gỡ.

Vì vậy, vào một ngày xuân năm 2012, khi thử viết một cuốn tiểu thuyết tươi sáng, ngợi ca cuộc sống, tôi một lần nữa phải đối mặt với vấn đề chưa được giải quyết này. Tôi đã mất cảm giác tin tưởng sâu sắc vào con người từ lâu. Vậy làm sao tôi có thể vỗ về thế giới? Tôi nhận ra rằng mình phải đối mặt với câu đố không lời đáp này nếu muốn tiến về phía trước. Tôi hiểu rằng viết là cách duy nhất để vượt qua nó.

Tôi dùng phần lớn thời gian của năm đó để phác thảo tiểu thuyết, hình dung sự kiện tháng 5/1980 ở Gwangju sẽ tạo thành một lớp nghĩa trong cuốn sách. Vào tháng 12, tôi đến thăm nghĩa trang ở Mangwol-dong. Lúc đó đã quá trưa, một ngày sau trận tuyết lớn. Sau đó, khi ánh sáng mờ dần, tôi bước ra khỏi nghĩa trang băng giá với bàn tay đặt lên ngực, cạnh trái tim. Tôi tự nhủ rằng cuốn tiểu thuyết tiếp theo này sẽ nhìn trực diện vào Gwangju, thay vì dành cho nó một lớp nghĩa duy nhất. Tìm được một cuốn sách thu thập hơn 900 lời chứng, tôi dành chín giờ mỗi ngày trong suốt một tháng để đọc từng câu chuyện trong đó. Rồi tôi đọc ngấu nghiến không chỉ về Gwangju mà còn về các trường hợp bạo lực nhà nước khác. Nhìn xa hơn và quay ngược về quá khứ, tôi đọc về những cuộc thảm sát mà con người liên tục gây ra khắp thế giới trong suốt chiều dài lịch sử.

Trong quá trình nghiên cứu chuẩn bị cho cuốn tiểu thuyết, có hai câu hỏi thường xuyên hiện lên trong tâm trí tôi. Ở độ tuổi 20, tôi đã viết những dòng này lên trang đầu tiên của mỗi cuốn nhật ký mới:

Hiện tại có thể giúp quá khứ không?

Người sống có thể cứu người chết không?

Càng đọc, tôi càng nhận ra rằng đây là những câu hỏi không thể trả lời. Thông qua sự chạm trán dai dẳng với những khía cạnh đen tối nhất của nhân loại, tôi cảm thấy những tàn dư của niềm tin vào con người – vốn đã gãy đổ từ lâu trong tôi – nay vỡ vụn hoàn toàn. Tôi gần như từ bỏ cuốn tiểu thuyết. Rồi tôi đọc được những trang nhật ký của một giáo viên trẻ dạy trường buổi tối. Park Yong-jun, một thanh niên nhút nhát, trầm tính, đã tham gia vào “cộng đồng tuyệt đối” của những công dân tự trị hình thành ở Gwangju trong 10 ngày nổi dậy vào tháng 5/1980. Anh ấy bị bắn chết tại tòa nhà Hiệp hội Nữ Thanh niên Cơ đốc (Young Women’s Christian Association) gần trụ sở hành chính tỉnh. Anh đã chọn ở lại, dù biết rằng binh lính sẽ tấn công lần nữa vào sáng sớm. Trong đêm cuối cùng đó, anh viết vào nhật ký: “Chúa ơi, tại sao lương tâm con lại đau khổ và cắn rứt như vậy? Con muốn được sống”.

Khi đọc những câu này, tôi thấy ngay đường đi của cuốn tiểu thuyết, sáng rõ như ban ngày. Và hai câu hỏi của tôi phải đảo ngược.

Quá khứ có thể giúp hiện tại không?

Người chết có thể cứu người sống không?

Về sau, khi đang viết Bản chất của người (Human Acts), vào những khoảnh khắc nhất định, tôi nhận thấy rằng quá khứ thực sự đang giúp hiện tại, và người chết đang cứu người sống. Thỉnh thoảng tôi lại ghé thăm nghĩa trang ấy, chẳng hiểu sao lúc nào trời cũng trong xanh chứ không còn lạnh giá. Tôi sẽ nhắm mắt lại, để những tia nắng màu cam tràn vào mí mắt tôi. Tôi cảm thấy đó là ánh sáng của sự sống. Tôi cảm thấy ánh sáng và không khí bao bọc tôi trong ấm áp khôn tả.

Những câu hỏi còn đọng lại lâu trong tôi sau khi tôi nhìn thấy cuốn sách ảnh đó là: Con người sao lại bạo lực đến vậy? Và tại sao đồng thời, con người có thể chống lại bạo lực có sức mạnh áp đảo đến vậy? Thuộc về giống loài có tên là loài người có nghĩa là gì? Để băng qua “con đường không-thể-qua” nối khoảng không giữa hai vách đứng của nỗi sợ của con người và phẩm giá con người, tôi cần sự trợ giúp của người chết. Cũng như trong cuốn tiểu thuyết này, Bản chất của người, cậu bé Dong-ho kéo tay mẹ để thúc giục bà đi về hướng mặt trời.

Tất nhiên, tôi không thể đảo ngược những gì đã xảy ra với người chết, thân nhân họ hay người sống sót. Những gì tôi có thể làm là truyền cho họ cảm giác, cảm xúc, và sự sống đang đập trong cơ thể tôi. Mong muốn thắp nến ở đoạn đầu và cuối cuốn tiểu thuyết, tôi đã đặt cảnh thứ nhất trong nhà thi đấu địa phương, là nơi quàn những thi thể của người chết và nơi tiến hành tang lễ. Ở đó, chúng ta chứng kiến cậu bé mười lăm tuổi Dong-ho phủ những tấm vải trắng lên các thi thể và thắp nến. Cậu nhìn đăm đăm vào cái lõi xanh nhạt của từng ngọn lửa.

Tên tiếng Hàn của tiếu thuyết này là Sonyeon-i onda. Từ cuối cùng “onda” là thì hiện tại của động từ “oda”, có nghĩa là “đến”. Ngay khoảnh khắc thiếu niên sonyeon được gọi bằng ngôi thứ hai là “em”, dù thân mật hay không, cậu ấy lập tức tỉnh dậy trong ánh sáng mờ ảo và bước về phía hiện tại. Những bước chân của cậu ấy là của một linh hồn. Cậu ấy càng lúc càng đến gần và biến thành cái bây giờ. Khi thời gian và không gian trong đó cái ác của con người và phẩm giá con người tồn tại song song trong đối cực được gọi là Gwangju, thì cái tên đó không còn là danh từ riêng chỉ một thành phố duy nhất, mà trở thành một danh từ chung. Đó là điều tôi học được khi viết cuốn sách này. Nó xảy đến với chúng ta – hết lần này đến lần khác, xuyên qua thời gian, không gian – và luôn ở thì hiện tại. Thậm chí là bây giờ.

***

Khi cuốn sách hoàn thành và xuất bản vào mùa xuân năm 2014, nỗi đau mà nó gây ra nơi độc giả khiến tôi ngạc nhiên. Tôi phải dành thời gian suy nghĩ xem nỗi đau tôi cảm thấy trong quá trình sáng tác và những khổ sầu độc giả bày tỏ với tôi có liên quan với nhau thế nào. Có gì đằng sau nỗi thống khổ ấy? Phải chăng do chúng ta muốn đặt niềm tin vào nhân loại, và khi niềm tin ấy bị lung lay, ta cảm thấy như chính bản thân đang bị phá hủy? Phải chăng chúng ta muốn yêu nhân loại, và đây là nỗi đau mà chúng ta cảm thấy khi tình yêu ấy bị đập tan tành? Phải chăng Tình yêu sinh ra nỗi đau, và nỗi đau là bằng chứng của tình yêu?

Tháng 6 cùng năm, tôi mơ thấy mình đang đi qua một cánh đồng bao la trong tuyết rơi lác đác. Hàng nghìn hàng vạn gốc cây đen rải rác khắp cánh đồng, sau mỗi gốc cây là một gò mả. Có chỗ tôi bước xuống nước, và khi nhìn lại tôi thấy biển đang tràn vào từ rìa cánh đồng, mà trước đó tôi nhầm là đường chân trời. Tại sao lại có mộ ở một nơi như thế này? Tôi tự hỏi. Chẳng phải tất cả xương cốt trong những gò mả thấp gần biển đã bị cuốn trôi rồi sao? Ít nhất, tôi có nên di dời xương cốt lên các gò cao hơn, ngay bây giờ, trước khi quá muộn? Nhưng làm cách nào? Tôi thậm chí không có cái xẻng nào. Nước đã lên đến mắt cá chân tôi. Tôi tỉnh dậy, nhìn ra cửa sổ thấy vẫn còn tối, trực giác cho tôi biết rằng giấc mơ này đang nói với tôi điều gì đó quan trọng. Sau khi ghi lại giấc mơ, tôi nghĩ rằng đây có thể là khởi đầu cho cuốn tiểu thuyết tiếp theo của mình.

Tuy nhiên, tôi chưa có ý tưởng rõ ràng về hướng đi. Tôi bắt tay vào cuốn sách mới, loại bỏ dần những cách mở đầu của một số câu chuyện tiềm năng mà tôi tưởng tượng sau giấc mơ. Cuối cùng, vào tháng 12/2017, tôi thuê phòng trên đảo Jeju và dành khoảng hai năm tiếp theo đi về giữa Jeju và Seoul. Dạo bước trong rừng, dọc theo biển, trên con đường làng, cảm nhận thời tiết cực đoan của Jeju vào mỗi khoảnh khắc – gió, ánh sáng, tuyết và mưa – tôi dần hình dung rõ nét phác thảo của cuốn tiểu thuyết. Tương tự khi viết Bản chất của người, lần này tôi cũng đọc lời chứng của người sống sót sau những cuộc thảm sát, nghiền ngẫm tài liệu, rồi sau đó, với cách tiếp cận kiềm chế nhất có thể mà không quay lưng lại với những chi tiết tàn nhẫn gần như không thể diễn tả bằng lời, tôi đã viết nên Không lời từ biệt (We Do Not Part). Cuốn sách được xuất bản gần bảy năm sau giấc mơ về những gốc cây đen và nước biển tràn bờ.

Bìa Bản chất của người bản tiếng Việt, sách 350 trang. Ảnh: Nhã Nam

Trong cuốn sổ tay tôi dùng trong quá trình sáng tác ấy, tôi đã ghi chú thế này:

Cuộc sống tìm cách sống. Cuộc sống ấm áp.

Chết là trở nên lạnh lẽo. Có tuyết phủ lên mặt thay vì tan chảy.

Giết là làm lạnh.

Con người trong lịch sử và con người trong vũ trụ.

Gió và các dòng hải lưu. Dòng tuần hoàn của nước và không khí kết nối toàn thế giới. Chúng ta được kết nối. Tôi cầu nguyện cho chúng ta được kết nối.

Tiểu thuyết này chia thành ba phần. Nếu phần đầu là hành trình theo chiều ngang, theo chân người kể chuyện Kyungha từ Seoul đến nhà của người bạn Inseon ở vùng cao nguyên Jeju, xuyên qua tuyết rơi dày đặc để tìm đến chỗ chú chim nhỏ mà cô được giao nhiệm vụ cứu sống, thì phần thứ hai theo con đường thẳng đứng dẫn Kyungha và Inseon đến một trong những đêm đen tối nhất của nhân loại – vào mùa đông năm 1948, khi thường dân trên đảo Jeju bị thảm sát – và lặn sâu xuống đáy đại dương. Trong phần thứ ba, cũng là phần cuối, hai người cùng thắp lên ngọn nến dưới đáy biển.

Mặc dù diễn tiến tiểu thuyết xoay quanh hai người bạn, tương tự cách họ thay phiên nhau giữ ngọn nến, nhân vật chính thực sự, đồng thời là người liên hệ với cả Kyungha và Inseon, là Jeongsim – mẹ của Inseon. Bà sống sót sau chuỗi thảm sát trên đảo Jeju, đã chiến đấu để giành lại dù chỉ một mảnh xương của người thân yêu, để bà có thể làm một đám tang tử tế. Bà, người không chịu ngừng than khóc. Bà chịu đựng nỗi đau và đứng lên chống lại sự lãng quên. Bà, người không nói lời từ biệt. Khi viết về cuộc đời bà, người bao năm tháng luôn sục sôi, đẫm đầy cùng một nỗi đau và tình yêu, tôi nghĩ mình đặt ra những câu hỏi sau: Chúng ta có thể yêu đến mức nào? Đâu là giới hạn của chúng ta? Chúng ta phải yêu đến mức nào để duy trì được nhân tính đến tận cùng?

Nhà văn Han Kang trong buổi họp báo của Viện Hàn lâm Thụy Điển hôm 6/12. Ảnh: Reuters

***

Ba năm sau khi phát hành ấn bản tiếng Hàn của Không lời từ biệt, tôi vẫn chưa hoàn thành cuốn tiểu thuyết tiếp theo của mình. Còn cuốn sách tôi hình dung sẽ theo sau nó thì chờ đợi tôi mòn mỏi từ lâu. Đó là cuốn tiểu thuyết liên kết với Sách Trắng (The White Book), tác phẩm tôi viết ra từ mong muốn cho người chị ruột – đã qua đời hai giờ sau khi chào đời – mượn tạm cuộc sống của mình trong giây lát, và cũng để săm soi vào những thành tố làm nên chúng ta mà không gì phá hủy nổi, dù trời long đất lở. Như mọi khi, thật khó dự đoán khi nào sẽ hoàn thành tác phẩm, nhưng tôi vẫn miệt mài viết, dù chậm. Tôi sẽ vượt qua những cuốn sách đã viết để đi tiếp. Cho đến khi tôi ngoái lại nhìn và thấy chúng không còn trong tầm mắt mình nữa. Xa nhất có thể mà đời tôi cho phép.

Khi rời xa tôi, các tác phẩm tiếp tục đời sống độc lập và đi theo số phận riêng của chúng. Cũng như hai chị em ở cạnh nhau mãi mãi trong chiếc xe cứu thương, khi ngọn lửa xanh rực cháy bên ngoài cửa kính. Cũng như người phụ nữ sắp lấy lại giọng nói, dùng ngón tay mình viết vào lòng bàn tay của người đàn ông – trong tĩnh lặng, trong bóng tối. Cũng như chị ruột tôi, đã qua đời chỉ sau hai giờ đến với thế giới này, và người mẹ trẻ măng của tôi ôm con van cầu: “Đừng chết, xin đừng chết” cho đến phút cuối cùng. Những linh hồn đó sẽ đi xa đến đâu – những linh hồn tụ lại thành vầng sáng màu cam rực rỡ sau mí mắt nhắm của tôi, bao bọc tôi trong ánh sáng ấm áp khôn tả? Những ngọn nến sẽ rọi xa đến đâu – những ngọn nến được thắp lên tại hiện trường mỗi vụ giết chóc, trong thời gian và không gian bị tàn phá bởi bạo lực không thể tưởng tượng được, ngọn nến trên tay những con người thề không bao giờ nói lời từ biệt? Phải chăng chúng sẽ lướt đi từ sợi bấc này sang sợi bấc khác, từ trái tim này sang trái tim kia, trên một sợi chỉ vàng?

Trong cuốn sổ nhỏ tôi tìm thấy ở hộp giày cũ vào tháng 1 năm ngoái, tôi của quá khứ, viết vào tháng 4/1979, đã tự hỏi mình:

Tình yêu ở đâu?

Tình yêu là gì?

Còn đến mùa thu năm 2021, khi Không lời từ biệt xuất bản, tôi xem hai vấn đề sau đây là cốt lõi:

Tại sao thế giới đầy bạo lực và đớn đau?

Mà vẫn có thể đẹp tươi đến vậy?

Suốt thời gian dài, tôi tin rằng cuộc đấu tranh bên trong căng thẳng giữa những câu này là lực đẩy đằng sau sự nghiệp viết lách của mình. Từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên đến cuốn mới nhất, những câu hỏi neo giữ trong tâm trí tiếp tục thay đổi và phát triển, nhưng chỉ có hai câu này là bất biến. Nhưng hai, ba năm trước, tôi bắt đầu nghi ngờ. Có thật sự là tôi chỉ bắt đầu tự hỏi mình về tình yêu – về nỗi đau kết nối chúng ta – sau khi Bản chất của người ra mắt bản tiếng Hàn vào mùa xuân năm 2014 không? Từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên đến cuốn mới nhất, chẳng phải lớp sâu nhất của các truy vấn của tôi đều luôn hướng về tình yêu hay sao? Phải chăng tình yêu thực sự là âm điệu cổ xưa và căn bản nhất trong cuộc đời tôi?

Tình yêu nằm ở một nơi riêng tư được gọi là “trái tim của tôi”, đứa trẻ đã viết vào tháng 4/1979. (Nó nằm trong lồng ngực đập thình thịch của tôi). Và về tình yêu làgì, đây là câutrả lời của cô bé. (Nó là sợi chỉ vàng kết nối trái tim của chúng ta).

Tôi huy động toàn bộ cơ thể mình khi viết. Tôi sử dụng tất cả giác quan để nhìn, nghe, ngửi, nếm, trải nghiệm sự dịu dàng, ấm áp, lạnh lẽo, đớn đau; để nhận thấy tim mình đập nhanh và cơ thể cần thức ăn nước uống; để đi và chạy; để cảm nhận gió, mưa, tuyết trên da; để nắm giữ những bàn tay. Tôi cố gắng truyền những cảm giác sống động mà tôi – một sinh vật phàm trần với dòng máu nóng chảy trong cơ thể – cảm nhận được, vào câu chữ của mình. Như thể truyền đi một luồng điện. Và khi biết luồng điện này đã được truyền đến độc giả, tôi kinh ngạc và xúc động. Trong những khoảnh khắc này, tôi lần nữa trải nghiệm sợi chỉ ngôn ngữ kết nối chúng ta, mối liên quan giữa những câu hỏi của tôi với của độc giả, thông qua luồng điện sống động ấy. Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những ai đã kết nối với tôi qua sợi chỉ đó, cũng như những ai sẽ đến tham gia kết nối trong tương lai.

Nguồn Vanviet

Read Full Post »

.Nguyễn Đức Tùng

.

Nhà thơ Nguyễn Hoàng Anh Thư, từ Huế, gửi cho chúng tôi những bài thơ sau đây. Chị là một nhà thơ hiếm hoi ngay từ khi xuất hiện đã xác định cho mình lối đi riêng. Tinh thần tự do của chị, tính độc đáo (originality), một phần nào chất nữ quyền, ý thức về sinh thái, làm nên các giá trị chính yếu. Nhưng chị cũng là nhà thơ của tình yêu, của trữ tình cá nhân mạnh mẽ.

Cô gái không hề để ý gì về thời gian yên bình của mái tóc

Cho đến khi cô nhận ra

Cần phải cắt bỏ những chiếc vây cá mềm mại đang bơi trong cái chậu bằng thủy tinh

Bởi chúng quá hẹp và mắc vướng

Cô bắt đầu tập ăn tóc

Cô bắt đầu ăn từ những ngọn khô giòn quá lưng

Cô ăn mỗi ngày

Giấc mơ của một bài thơ trữ tình là tính âm nhạc: nhịp điệu làm dừng lại dòng chảy, cho phép chúng ta sống lâu hơn một khoảnh khắc. Nhịp điệu trong thơ chị là ký ức. Các hình ảnh đôi khi cũng có tính nguyên thủy, tiền ngôn ngữ. Từ khi xuất hiện cho đến nay, Nguyễn Hoàng Anh Thư trung thành với lối viết của mình, với sự mô tả táo bạo, cảm giác hài hước và châm biếm.

Đó là cách chúng ta có thể đâm sầm vào

Một thế giới đang chuyển động

Mà không hề hấn gì

Em nắm mây trong tay

Kéo ngày lại giữa nỗi nhớ mùa hè oi bức

Từng câu chuyện không lời

Em ôm mây nóng bỏng

Nguyễn Hoàng Anh Thư được giải thưởng Văn Việt về thơ vào năm 2016, điều này giúp xác định vị trí của chị trong văn học hôm nay. Chị là một trong số ít người viết thường xuyên tìm kiếm và làm mới chính mình. Thơ đề cập đến môi trường thiên nhiên như một không gian sống, như căn nhà tâm hồn. Đó là sự mô tả có phần lãng mạn, nhưng nhiều hơn là từ góc nhìn xã hội, quan hệ giữa con người và hoàn cảnh. Đó là một chủ nghĩa hiện thực sầu muộn, tinh tế, sự tiết chế xúc cảm, với những cực đoan về tâm lý.

Mọi bi kịch đều phải dàn dựng

Mỗi cuộc ra đi

Phải rắc thêm vài nhúm tro tàn

Những bàn tay rờ rẫm trên con đường thẫm sâu

Những ngày buồn lạnh tràn xương trắng

Giọng nói ngày trầm đục

Chia lìa

Chia lìa

Từng lời nguyện ước mịt mù xanh

Th ơ tình ấy cũng là một tiếng nói nhân ái, sự bảo toàn các giá trị của con người.Tôi muốn thấy trong thơ chị nhiều yếu tố hài hước hơn nữa. Thơ chị tạo ra những giai thoại, kể những câu chuyện từ góc cạnh khác nhau của đời sống, tách bạch sự thật và giả dối, giữa khai mở và mê muội.

Thơ hiện nay không nhất thiết phải dày đặc và tối tăm như bạn có thể tưởng. Một bài thơ phải mang lại cảm xúc, hoặc gợi lên những suy nghĩ mới ở độc giả, lý tưởng nhất là cả hai, nhưng nếu không thì một trong hai thứ ấy. Có những cảm xúc vui tươi và những cảm xúc sầu muộn. Thơ hôm nay ngày càng có khuynh hướng gây phiền phức cho người đọc, không để họ yên lành, chúng chứa đầy những câu hỏi và thách thức, những mơ ước tuyệt đẹp và phản ứng giận dữ, sự thất vọng chua chát. Thơ bây giờ làm chúng ta suy nghĩ.

T. S. Elliot từng nói rằng: Thơ không phải là sự trào dâng cảm xúc nhưng là sự vượt thoát khỏi nó; thơ không phải là sự biểu hiện của nhân cách, nó là sự thoát khỏi nhân cách.

Thời nào thì con người cũng đi tìm trong thơ những điều sâu kín như hy vọng và thất vọng, chán chường và đau đớn, sự thật và tất nhiên, tình yêu. Chúng ta đang sống qua một thời kỳ khó khăn: dịch bệnh, tàn phá môi trường, độc tài và tham nhũng, nô lệ hoá con người. Tôi nghĩ, chúng ta cần nhiều hơn những tiếng nói như của Nguyễn Hoàng Anh Thư, dịu dàng và dũng cảm.

Trân trọng giới thiệu.

Nguyễn Đức Tùng

1- Ăn tóc

.

Cô gái không hề để ý gì về thời gian yên bình của mái tóc

Cho đến khi cô nhận ra

Cần phải cắt bỏ những chiếc vây cá mềm mại đang bơi trong cái chậu bằng thủy tinh

Bởi chúng quá hẹp và mắc vướng

Cô bắt đầu tập ăn tóc

Cô bắt đầu ăn từ những ngọn khô giòn quá lưng

Cô ăn mỗi ngày

Chúng có mùi vị của nắng cháy và rụm rụm của từng sợi buồn xào giòn

Chiều chiều cô lại tựa vào chiếc ghế cũ thong thả ngồi ăn nỗi buồn từ ngọn tóc chết

Chúng có mùi vị của tế bào quy tắc đóng hộp

Chúng có mùi vị của thời gian hơi chua

Thời gian đã hết hạn dùng từ bốn mươi năm trước

Khi cô đã bắt đầu biết ăn những sợi tóc máu từ trong bào thai mà mẹ cô chưa kịp cạo đi

Cô chẳng nhớ được gì

Nhưng cô nhớ rằng cô chẳng hàm ơn chúng điều gì

Bởi chúng có mùi vị mằn mặn, tanh tanh cứ mắc vào cuốn họng

Và đau đến buồn nôn

Từng cơn buồn nôn khó chịu

Từng ngọn tóc đã rối và mắc vướng

Vào trong thớ thịt và đôi mắt mờ dần của mẹ

Cô vẫn đang ăn

Những sợi tóc có mùi vị hạnh phúc và bạc bẽo

Ăn mãi cho đến khi tóc sẽ không còn sợi nào bạc hơn

Cô vẫn đang ăn

Cho đến khi cô biến thành đất để được ăn tóc

mãi mãi

2 – Người thiếu phụ trang điểm

.

Mười hai giờ mười tám phút

Người thiếu phụ đang ngồi khỏa trắng giấc mơ

Trong chiếc gương có hình oval cũ kỹ

Cô đang kéo đôi chân mày chạm về phía mặt trời

Có thể là dài như một tiếng thở

Cô dùng lớp phấn hồng quét ngược

Đôi mắt xanh màu thảo nguyên

Chiếc gương bây giờ là hình trái đất

Đôi mắt màu đại dương

Từng lớp phấn phủ như cơn lốc về

Trăng vỡ mềm môi

Sau lớp thủy tinh

Lỗ chỗ thịt da rát bỏng

Cô mở hộp tìm mấy câu đồng dao

Tám lẻ dôi

Đôi lên chín

Chín lẻ một

Mốt lên mười

Cô chuyền chuyền đôi tay

Chuyền một

Chuyền hai

Chuyền ba

Trăng vỡ

Cô chuyền trên tay

Đôi mắt xanh màu đại dương

Đôi mắt xanh màu thảo nguyên

Sau lớp thủy tinh

Lỗ chỗ thịt da rát bỏng

3- Một thế giới lệch

.

Đặt hai con mắt chéo bên dưới sống mũi

Mọi thứ bắt đầu chéo

Một thế giới chéo

Ta nhìn nhau lệch về một bên

Anh thấy tấm lưng em khuyết trũng như ngọn núi

Chúng ta nhìn lệch qua tuổi già

Con đường lệch qua để tránh bão

Mọi thứ đang đeo bám trong ngôi nhà lệch nghiêng

Ngọn tháp nghiêng thì đứng thẳng lại

Chúng ta nhìn lệch thời gian, xáo tung mọi thứ trong tuần

Thứ hai ngủ vùi, chủ nhật bắt đầu một tuần mới

Những bức tượng hoá lỏng chảy tràn con đường

Chúng ta thản nhiên

Ngẩng mặt hít thở khí trời, mở miệng hát và nghĩ đến bất cứ điều gì mình thích

Chúng ta nhìn lệch từng

Khớp xương đang chuyển động rất khó khăn

Nhìn cho đến khi chúng bất động

Treo ngược thế giới lên

Chúng ta sẽ nhìn thấy được gương mặt nhăn nhó như đang cười

Để yêu nhau

4- Hoang phí

.

Một thau nước xà bông

Với một cọng lá đu đủ

Cô bé thổi cả ngàn giấc mơ

Vỡ

Một bờ biển

Với hai bàn tay

Cô bé nhặt rất nhiều vỏ sò

Ngàn hải lý nằm trong chiếc túi

Một con phố, một ngõ hẻm

Vài tiếng gõ lóc cóc, cơn mưa đen sắp ập đến

Giờ cô chẳng còn một giấc mơ nào trong túi

Để mua lấy ngày xưa mang về

5-Mây

.

Đó là cách chúng ta có thể đâm sầm vào

Một thế giới đang chuyển động

Mà không hề hấn gì

Em nắm mây trong tay

Kéo ngày lại giữa nỗi nhớ mùa hè oi bức

Từng câu chuyện không lời

Em ôm mây nóng bỏng

Chạy về phía mặt trời

Em nắm mây trong tay đắp ngày muốt mềm mi mắt

Đó là điều kỳ diệu nhẹ nhàng để có thể quên đi thế giới

Nơi mà chúng ta đang đứng đây

Trên sự trì nặng của đôi chân và đôi mắt mệt mỏi

Trên rất nhiều ô cửa giả

Có thể đó là một bí mật mà chúng ta có thể mang theo

Cùng với hơi thở

Của cuộc sống vốn dĩ im lặng

Có thể đó là chiếc áo em khoác cho những lúc bất chợt buồn

Em nắm mây

Chờ sự im lặng nở bung

Trôi

Trôi

Chẳng có con đường nào để biết được hết điều bất tận

Em chờ từng ngọn mây ngã rạp xuống

Trong hơi thở

Để nỗi nhớ bất động cùng đám rong rêu

Bên dưới ô cửa nhỏ

6- Sự chờ đợi

.

Điều hy vọng phải chăng bay lên chứ

Như màu xanh của tán cây măng cụt kia

Từng chiếc lá vẫn còn níu lại sau cơn bão

Cứ xanh lên mỗi khi mặt trời hiếm hoi rơi xuống giữa mùa đông

Xanh như núi Ngự Bình đầy những nấm mồ giữa hương khói màu xám xịt.

Vậy mà dưới chân

Mỗi buổi sáng

Từng móng nhọn của những chú chó

Riết chặt như thể

Tôi sẽ đi ra khỏi nhà mà quên nói lời tạm biệt

Những đôi mắt trong veo

Một ngày của tôi

Là 3 ngày của chúng

Tôi đi mất 4 giờ, chúng phải chờ đến nửa ngày.

Tại sao khi anh tạm biệt

Anh đã không hiểu 1 giờ

Là cả thế kỷ của em.

7- Thư gửi anh

.

Sự lẫn tránh của ngôn ngữ

Làm cho bài thơ hụt hẫng

Nỗi sợ sệt mùa đông

Cứng trên từng khớp tay

Này anh, câu chuyện mà em đã kể cho anh nghe hôm qua

Đó là một ngày thần thoại

Đám mây trắng và hàng cây xanh

Cứ thầm thì kể mãi

Câu chuyện của chúng ta đang trượt trên một đường link

Anh tin không

Nó nhỏ như sợi tóc của em dưới ánh nắng ban mai buổi sáng

Vờn trên những nhánh mây

Đang là mùa hè

Giá như nỗi nhớ anh

Có thể lột xác như đám ve

Em sẽ để lại nỗi buồn trên nhánh cây

Với màu hoa phượng đỏ cháy

Giờ này mẹ đang nấu cơm

Một nơi nào đó đang có chiến tranh

Thời gian đang sôi sùng sục

Một nơi nào đó có tiếng kêu gào trong đám cháy

Có quá nhiều thứ đang bốc hơi

Giờ này, chúng ta đang làm gì

Im lìm trong nhà bếp

Mọi thứ đang dần bốc hơi

8- Trong căn bếp

.

Cô cắt vây, đánh vảy, cắt nhỏ bài thơ, rồi rán lên thơm lừng

Bỏ vào một cái đĩa

Cho bữa sáng lũ chó

Chúng lắc đầu bảo: thiệt vô vị

Lần tới, cô sẽ để nguyên con, thêm một chút gia vị, rồi rán lên

9- Đôi khi

.

Đôi khi,

ngỡ là hơi thở bị nhốt trong căn phòng kín

Chúng chảy thành một đống lan giữa sàn nhà

Cũng chẳng ngạc nhiên cho lắm

Chúng ta chẳng đủ can đảm ngước lên để thở sâu hơn

Chúng ta không dám ngợp chìm giữa màu hoàng hôn đang khuyết rạn

Để thấy chúng đang tràn qua trái tim pha lê vỡ

Muôn vàn mảnh thời gian trong vắt

Đi xuyên qua ngực chúng ta

Đôi khi, ngỡ là lời nói đang bị đóng băng trong tủ đá thật lạnh

Những ngăn tủ hình vuông, hình chữ nhật, nhà mồ, nghĩa trang, hay những chiếc quan tài, chúng ta từng hình dung

Những lời nói bị đập ra, bị cắt đi, rồi tan ra trong những chiếc ly làm bằng trái tim pha lê ấy

Chúng ta uống những lời nói có vị băng tan giữa mùa hè thẫm máu

Với nỗi đau thương ngọt lịm

Đôi khi, ngỡ là đôi mắt của chúng ta đang bị dính chặt vào bàn tay

Mũi

Miệng

Hơi thở

Và từng lời

Từng lời nói

Chúng đang chảy thành một đống giữa sàn nhà

Cũng chẳng ngạc nhiên cho lắm

10- Lá không màu

.

Mọi bi kịch đều phải dàn dựng

Mỗi cuộc ra đi

Phải rắc thêm vài nhúm tro tàn

Những bàn tay rờ rẫm trên con đường thẫm sâu

Những ngày buồn lạnh tràn xương trắng

Giọng nói ngày trầm đục

Chia lìa

Chia lìa

Từng lời nguyện ước mịt mù xanh

Thấm trong bức tường ẩm mốc

Mọi bi kịch đều phải ra đi

Đổ lỗi vài trò ảo thuật

Hơi ấm không còn nằm yên trong chiếc áo

Bàn tay không còn định hình trên con đường thẫm sâu

Để xoay mòn mỏi

Những trục yêu thương cũ kỹ

Đêm nay

Những ngọn lá không màu

Mù mờ rơi trí nhớ

Như mái tóc em đang đổ xuống

Từng sợi dài vô tận nỗi buồn

n.h.a.t

(ảnh: NHAT, cô giáo dạy tại Đồng Khánh- HBT Huế)

May be an image of 1 person, standing, outdoors and tree

Read Full Post »

Trương Văn Dân

Thời còn là sinh viên tôi rất mê guitar classic nhưng bận học nên ít có thời gian tập luyện. Rồi một hôm, khoảng năm 1976, bạn Giuseppe rủ đến thư viện Sormani- Milano để tra cứu vài tài liệu. Sau khi photo các trang sách bạn dẫn tôi đi qua một khu khác để nghe nhạc. Anh chọn cho tôi nghe một đĩa nhạc mà sau khi nghe tôi như kẻ thất thần. Vừa bàng hoàng, kinh ngạc vừa như không tin là mình vừa được trải nghiệm một cảm xúc lạ lùng đến vậy!

Giuseppe nói đó là Concierto de Aranjuez.

https://www.youtube.com/watch?v=sZyZBS4INuc PEPE ROMERO, Guitar

RODRIGO — CONCIERTO DE ARANJUEZ — II Adagio

Sofia, ngày 5 tháng 12 năm 2007 NDK Sofia, Bulgaria

Dàn nhạc giao hưởng FM-Classic Radio

PEPE ROMERO, Guitar – Nhạc trưởng: Luciano Di Martino

Về sau… thỉnh thoảng tôi cũng còn được nghe và quái lạ, mỗi lần nghe người tôi cứ lâng lâng, tâm trạng vừa vui vừa buồn còn giai điệu của phần adagio trong bản hòa tấu như đã ám ảnh và mê hoặc tôi gần như suốt cả cuộc đời. Mãi đến hôm nay, 50 năm sau, cảm xúc ấy như vẫn không hề thay đổi.

Tôi không hiểu sao mỗi khi nghe là nước mắt tôi cứ chực rơi xuống. Giai điệu của nó như làm tan chảy trái tim tôi! Lúc đó tôi chỉ cảm nhận qua âm thanh, vì bận học, tôi không có thời gian tìm hiểu về bản hòa tấu đặc biệt này mà nếu muốn chắc cũng chưa biết tìm ở đâu. Mãi sau này, nhờ các phương tiện tìm kiếm hiện đại, tôi mới biết Concerto d’Aranjuez được sáng tác bởi nhà soạn nhạc Joaquín Rodrigo người Tây Ban Nha. Lạ một điều là do mắc bệnh bạch hầu nên ông bị mù từ năm 3 tuổi. Còn Concerto d’Aranjuez có lẽ là tác phẩm được biết đến nhiều nhất của ông.

Tác phẩm này được sáng tác trong thời kỳ mà ông và vợ, Victoria Kamhi – một nghệ sĩ piano trẻ người Thổ Nhĩ Kỳ – đang trải qua những thời khắc tồi tệ nhất. Joaquín Rodrigo sắp hoàn thành tác phẩm thì vợ ông, lúc đó đang mang thai đứa con đầu lòng, bị bệnh nặng và được đưa đến bệnh viện Madrid. Các bác sĩ cho hay là vợ con ông có thể bị nguy đến tính mạng. Bàng hoàng, Rodrigo trở về nhà, ngồi xuống trước cây đàn piano và sáng tác phần adagio của nhạc phẩm.

Phần này giống như một cuộc đối thoại âm nhạc giữa Rodrigo và Chúa. Nó bắt đầu bằng một giai điệu tuyệt đẹp: sau một cuộc đi bộ thất thần trở về nhà ông ngồi than thở với Chúa, cầu xin Ngài đừng lấy đi linh hồn của vợ và con. Những nốt nhạc mở đầu réo rắt và có thể chạm tới trái tim của bất cứ ai, vì sự ngọt ngào của âm thanh và giai điệu: những nốt nhạc rót xuống như lời cầu khẩn thiết tha cùng đôi mắt đẫm lệ của ông, đang ngước lên Chúa, van xin lòng thương xót của Ngài… Nhưng khi dàn nhạc “nói câu trả lời của Chúa” là “vợ ông có thể được cứu sống còn đứa con trai thì không”… thì cảm xúc của ông được thể hiện bằng một bản độc tấu guitar, nửa như xót xa cam chịu, chấp nhận điều kiện tàn nhẫn mà Chúa đã ban, nửa như đưa tiễn linh hồn của đứa trẻ chưa chào đời lên thiên đàng, và cùng lúc đó Rodrigo cũng xin tiếp nhận linh hồn của vợ.

Đoạn nhạc này tượng trưng cho niềm vui về sự đoàn tụ vợ chồng nhưng tiềm ẩn nỗi buồn mất con…

Khi biết câu chuyện, được nghe lại khúc Adagio tôi càng xúc động hơn và thấy sự tuyệt vời của nhạc cổ điển, thứ có thể đánh thức tâm hồn và truyền cảm xúc qua vẻ đẹp của âm thanh.

Có thể nói Concerto d’Aranjuez là tác phẩm âm nhạc Tây Ban Nha được biểu diễn nhiều nhất trên thế giới. Nó được lấy cảm hứng từ những khu vườn của Cung điện Hoàng gia Aranjuez (cách Madrid 50 km), dinh thự mùa xuân của Vua Philip II vào nửa sau thế kỷ 16, sau đó được xây dựng lại vào giữa thế kỷ 18 cho vua Fernando VI, bản hòa nhạc muốn đưa người nghe đến với những âm thanh của thiên nhiên, mặc dù những âm thanh này cách xa nhau về không gian và thời gian.

Điều kỳ lạ là Joaquín Rodrigo là một nghệ sĩ dương cầm và không biết chơi guitar. Tuy nhiên, ông đã nắm bắt được tinh thần, sự đa dạng và độc đáo của guitar Tây Ban Nha.

Mỗi đoạn nhạc kể một tình tiết và liên quan đến một cái gì đó trong câu chuyện và hoàn cảnh của ông, nhưng không biết vì sao nó như cũng liên quan đến cuộc sống của tôi, cảm xúc của tôi! Mỗi khi nghe nó đều khuấy động đến phần sâu thẳm trong hồn tôi, gợi cho tôi nhiều kỷ niệm, tuy mỗi lần mỗi khác… nhưng lần nào cũng chạm đến chiều sâu của nỗi đau (mà thực ra nỗi đau sau 1975 là thường trực, bao nhiêu buồn lo về gia đình, thời cuộc, và tương lai mờ mịt của chính mình, đơn độc một thân nơi xứ lạ…) làm tôi cảm giác như nhạc sĩ Rodrigo đã viết nên tác kiệt tác này chỉ để tặng cho tôi.

Nó không chỉ là âm thanh của nhạc… mà là tiếng nức nở trước những buồn lo chưa tìm ra lối thoát.

Tôi là người nhạy cảm nên lắng nghe và lòng như khóc thầm cùng những chuỗi âm thanh. Nước mắt có khi thoát ra như để giải tỏa những nỗi niềm. Hay nhưng… đau!

Tuyệt vời! Tuyệt vời! Tôi chỉ có thể nói được thế, không biết diễn tả gì thêm nữa. Nhưng mời bạn nghe đi, đó không phải là thứ âm nhạc vĩ đại nhất mà con người từng viết đó sao?

Không phải ngẫu nhiên mà chị bạn Adriana của tôi nói rằng chị cứ muốn nghe nó mọi lúc mọi nơi. Trong một căn phòng nhỏ, một mái nhà tranh hay trong căn biệt thự cổ nằm trên đồi hay trên bờ biển xanh mênh mông, qua khung cửa sổ nhìn thấy những bông hồng ngoài vườn đung đưa trong gió… chị nói dù ở nơi đâu cũng luôn cảm nhận được, rằng âm nhạc này là siêu phàm, những nốt nhạc đan kết nhau chặt chẽ để tạo nên một vẻ đẹp thuần khiết, làm ta cảm được một nỗi đau sâu sắc mà nhà soạn nhạc Joaquín Rodrigo đã trải. Chị nói trong một trạng thái tâm hồn đau thương cao độ ông đã để lại cho chúng ta một giai điệu xuất thần, một sự hài hòa từ những run rẩy của trái tim đến những lay động cành lá của thiên nhiên với tư cách là một nghệ sĩ, nhạc sĩ và nhà soạn nhạc tài hoa!

Chị Adriana còn nói là chị có thể nghe ngay cả khi vui hay đang buồn. Chỉ có một số ít “yếu bóng vía” mới “không dám” nghe mà thôi!

Còn Elena thì nói khi nghe bản hòa tấu này tự dưng em nhớ về một cuốn sách đã đọc khi còn là sinh viên: Đó là cuốn tiểu thuyết “Thống khổ và phiêu linh” của Irving Stone viết về tiểu sử của nhà điêu khắc/ họa sĩ lỗi lạc Michelangelo Buonarroti. Tác giả Irving Stone nhắc lại lời của Michelangelo: “Tôi yêu cẩm thạch và hội họa. Tôi yêu kiến trúc và thơ ca. Tôi yêu gia đình, bằng hữu; yêu Chúa, yêu người, yêu khắp các hình thể giữa trời và đất. Tôi yêu sự sống đến ngất ngư, yêu luôn chặng cuối cùng, tức là cái chết.”

Elena nói “Nhà điêu khắc lừng danh này có cuộc đời nhiều thăng trầm, đã phải trải qua bao nhiêu đau khổ, dù vinh quang tột bực nhưng cũng không ít bi thương trước khi có thể “đạt đến ngôi sao không thể với tới của mình”…”

“Riêng về bản hòa tấu Concierto de Aranjuez thì nó như mướn nói với ta là vẻ đẹp vĩ đại nhất thường xuất hiện từ những đau khổ và nghịch cảnh. Nếu đọc tiểu sử của những vĩ nhân anh sẽ luôn thấy điều này: một cú ngã đau đớn, một khoảnh khắc tuyệt vọng, một trở ngại khủng khiếp đến nỗi tưởng không thể vượt qua: Van Gogh bị nhốt trong viện tâm thần, Beethoven bị điếc, Dostoevsky bị án khổ sai… “Nhưng chính vào thời điểm đó mà họ sáng tác những tác phẩm hay nhất của mình. Đó là lý do tại sao những tuyệt tác của họ tiếp tục gợi lên những cảm xúc mạnh. Thông qua ngôn ngữ, đá cẩm thạch hay âm thanh siêu việt… họ kể cho chúng ta câu chuyện về một linh hồn bền bỉ và tỏa sáng ngay trong đêm tối.” ”

Có người nói Concierto de Aranjuez là một trong những giai điệu đẹp nhất thế giới. Tôi cũng bị nó cuốn và ám ảnh bao nhiêu năm, mỗi lần nghe đều thấy tuyệt hay, tuy rất buồn; Còn tâm hồn như bay bổng trong một nỗi niềm lâng lâng, khó tả.

Rồi thời gian trôi đi! Sau nhiều năm tháng, tôi tốt nghiệp ra trường, làm tổng hợp Hóa dược rồi phụ trách phát triển trong các công ty Dược phẩm cho người và thú y… bỗng một hôm, chỉ vì (nhờ?) đọc một truyện ngắn của nhà văn Dino Buzzati mà tôi hiểu được ý nghĩa của thời gian nên quay về với đam mê thời thơ ấu: Khởi đầu dịch, rồi viết và cuối cùng là toàn tâm toàn ý đi theo con đường văn chương.

Đầu năm 2020, khi tôi mới vừa từ Ý bay về Việt Nam được hơn tuần thì dịch Covid.19 bùng phát ở Ý mà Elena bị kẹt ở Milano không về Việt Nam được nên tôi phải bay ngược về Ý! Tưởng chỉ vài tháng là hết ai ngờ hai chúng tôi bị giãn cách ở Ý đến hơn 2 năm.

Trong thời gian này gần như bị “cấm túc” trong nhà nên chúng tôi đọc và viết được khá nhiều. Tôi tranh thủ hoàn thành quyển tiểu thuyết “Ước hẹn cuối cùng” (Ultima Promessa) và loáng thoáng nhớ là lịch sử Concierto de Aranjuez của Joaquín Rodrigo có chút gì hao hao đến câu chuyện mà mình đang viết.

Bèn lên mạng tìm. Và như một định mệnh, bản nhạc này rất phù hợp với tình yêu hạnh phúc và thương đau của hai nhân vật Đôn và Anna trong Ước Hẹn cuối cùng!

Nếu trước đây tôi chỉ cảm nhận qua âm thanh thì giờ đây, trên mạng tôi còn được xem cả video trình diễn các bản hòa tấu và tiếng hát của nhiều ca sĩ. Thật bất ngờ! Khi đi tìm các giọng hát bằng tiếng Ý tôi còn được nghe hát bằng nhiều thứ tiếng khác trên thế giới: Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Đức…

Có hai giọng hát mà tôi rất thích. Đó là của nữ ca sĩ Paloma San Basilio hát bằng tiếng Tây Ban Nha và nam ca sĩ Pietro Galassi hát bằng tiếng Ý . Nhạc đã rất hay mà còn được hát như nhập tâm cùng với một niềm đam mê say đắm nên âm thanh như từng giọt nhỏ xuống trái tim, làm cảm xúc trào dâng. Cũng như những lần trước, cứ nghe là muốn khóc dù sau này tôi không có lý do gì để thảm sầu thế nhưng lòng tôi cứ như dâng lên một nỗi nhớ cồn cào, những đợt sóng âm thanh như đi theo huyết quả để làm rung động tận thẳm sâu. Vì sao? Tôi cũng không biết… chỉ thấy buồn và muốn khóc. Nhưng không phải vì sầu thương hay đau khổ. Chỉ muốn khóc, thế thôi!

Trong hầu hết các video trình diễn tôi đều thấy thực hiện rất tốt. Mặc dù đây chỉ là một phần của tác phẩm nhưng tôi nghĩ bản hòa tấu này rất khó biểu diễn. Trước hết dàn nhạc phải sử dụng nhiều kỹ thuật và kết hợp tất cả các nhạc cụ lại với nhau, điều này rất thú vị khi xem video. Vì guitar là nhạc cụ chính nên phần lớn video cho hiển thị những ngón tay mềm mại dịch chuyển thật linh động trên phím đàn. Chắc chắn nghệ sĩ đã mất rất nhiều giờ luyện tập để màn trình diễn thành công.

Tôi đã thử viết lời việt dựa theo giai điệu của bài hát Lacrime (Nước mắt) mà ca sĩ Pietro Galassi đã hát nhưng không tìm ra sheet nhạc và ở Ý lúc ấy cũng không có đàn guitar nên khó thể thực hiện. Tôi liền cầu cứu với nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên, một người bạn hay đúng hơn là một người anh và giữa chúng tôi có rất nhiều đồng cảm văn chương. Anh hiền hòa, ít nói nhưng là người sâu sắc luôn có trái tim trăn trở và khát khao hạnh phúc cho đất nước và con người.

Sau một thời gian gọi qua gọi lại, tôi gửi hết các thông tin về bản hòa tấu và dịch lời các bài hát, anh Phú Yên đã viết nên ca khúc “Khúc tình buồn” với lời việt dựa theo dòng nhạc Concierto de Aranjuez của Joaquín Rodrigo.

Mời các bạn lắng nghe ca khúc “Khúc tình buồn” qua tiếng hát của ca sĩ Đông Quân.

https://www.youtube.com/watch?v=0_uRfDG82jY Ca sĩ Đông Quân

PS: Cũng cần nói thêm là khi viết ca khúc này nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên chỉ nghe tóm tắt về tiểu thuyết Ước hẹn cuối cùng chứ chưa đọc tác phẩm. Mãi hơn 2 năm sau, khi lệnh giãn cách chấm dứt tháng 3-2022 tôi được bay về Việt Nam và gửi anh bản thảo hoàn chỉnh.

Vì bối cảnh của tiểu thuyết Ước hẹn cuối cùng ở thành phố Milano và câu chuyện liên quan đến văn hóa phong tục, môi trường và luật pháp ở Ý nên tôi muốn in tác phẩm bằng tiếng Ý trước khi in bản tiếng Việt. Còn có một lý do khác là sau khi viết và dịch hơn 10 tác phẩm ở Việt Nam mà tác phẩm nào cũng đều có chút dư luận nên tôi cũng muốn “thử sức” ở Âu Châu xem sao.

Nhờ sự hiệu đính và chỉnh sửa của Elena tôi đã dịch toàn bộ tác phẩm sang tiếng Ý với tựa là Ultima Promessa. Cuối năm 2023 chúng tôi bay về Ý và đưa bản thảo cho vài người quen đọc thử. Marco Adami, một giáo sư đang giảng dạy ở viện đại học Milano cho biết anh đã đọc say mê và nhận định: “Không chỉ là câu chuyện về tình yêu của hai nhân vật , cuốn sách còn đề cập đến tình bạn và các chủ đề quan trọng trong xã hội, đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh về cái chết êm dịu, phân tích đến các khía cạnh đạo đức, triết học và tôn giáo, nhận manh sự thiếu quy định về luật pháp ở Ý dù đã được thảo luận trong nhiều thập kỷ. Một cuốn sách giúp chúng ta hiểu được sự khác biệt sâu sắc giữa sống và tồn tại!”. Còn chị bạn Franca đọc xong rất thích nên chuyển cho người bạn là giáo sư Giuseppe Deiana dạy triết học ở Milano. Ông cũng là tác giả của năm, sáu đầu sách, mà quan trọng hơn hết là tiểu luận La Morte Buona. E’ Possibile L’eutanasia Cristiana? (Cái chết ngọt ngào. Có thể có một sự trợ tử trong đạo Chúa?) là một chủ đề chính trong tiểu thuyết Ước hẹn cuối cùng. Lời nhận xét của ông: “Một quyển sách hay và giá trị. Nếu là nhà xuất bản tôi sẽ in ngay” đã làm tôi tự tin nên liền tìm cách xuất bản ở Ý.

Không quen biết ai trong giới và hoàn toàn mù tịt về việc xuất bản ở Ý, tôi lên mạng tìm hiểu. Quả đúng là một mê hồn trận và các thông tin rối rắm và đôi khi trái chiều. Thế nhưng, có thể cũng nhờ một chút may mắn, chúng tôi liên lạc với nhà xuất bản Etabeta-PS và trong thời gian kỷ lục, chỉ trong vòng 2 tháng quyển tiểu thuyết Ultima Promessa đã được in. Thời gian cũng vừa kịp để chúng tôi có thể cầm được vài bản in mang về Việt Nam vào đầu tháng 12-2023.

Một bất ngờ khác nữa là sau khi đọc trọn bản thảo Ước hẹn cuối cùng nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên đã cảm xúc và còn viết nên ca khúc khác là Mối tình thiên thu. Khác với Khúc tình buồn, Mối tình thiên thu hoàn toàn do anh sáng tác, cả nhạc và lời. Tôi thực sự cảm động và biết ơn anh nhưng anh chỉ khiêm tốn nói: Câu chuyện trong tiểu thuyết cũng khá giống tâm sự cuả tôi nên tôi đã viết bằng cảm xúc.

Đó không phải là sự đồng cảm tuyệt vời, và cũng là một sắp xếp khác của định mệnh hay sao?

Đầu tháng 2-2024 nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên cho công bố nhạc phẩm MỐI TÌNH THIÊN THU này qua tiếng hát của ca sĩ Thảo Quyên và được nhiều người nghe và chia sẻ.https://www.youtube.com/watch?v=nMNTSr57SN8

Read Full Post »

.

​​​​​Nguyễn Thanh Quang – Lm. Gioan Võ Đình Đệ

.

​Việc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, công đầu được ghi nhận bởi ba nhà truyền giáo dòng Tên tại cư sở tiên khởi Nước Mặn: Francesco Buzomi (Ý), Francisco de Pina (Bồ) và Cristoforo Borri (Ý). Tuy nhiên, vai trò của Linh mục Bề trên Buzomi với chữ Quốc ngữ chưa được đánh giá khách quan, công bằng…

​Chỉ dẫn của dòng Tên khi các thừa sai đi truyền giáo, ghi cụ thể: “… Cha tìm hiểu ngôn ngữ mà các dân tộc ấy dùng để nói; nếu có nhiều ngôn ngữ, thì hãy chú ý ghi ngôn ngữ nào được sử dụng nhiều nhất, chủ yếu là trong giới bình dân. Cha tìm hiểu về chữ mà họ dùng để viết; về các chữ này, cha tìm cách hỏi những văn sĩ ưu tú mà cha gặp được, để ghi lại một bản chữ cái, kể cả những dấu nối và dấu phân câu mà họ dùng; cha cũng chú ý ghi lại bằng mẫu tự Latin tương ứng với cách phát âm, để ta có thể so sánh…”.

​Việc Latin hóa các hệ thống chữ viết không dùng mẫu tự Latin đã trở thành thông dụng và được xem như “truyền thống” của các thừa sai dòng Tên. Các thừa sai khi đến truyền giáo ở một đất nước nào, thì việc đầu tiên là học ngôn ngữ của nước đó. Muốn học ngôn ngữ bản địa, trước hết các thừa sai phải dùng mẫu tự Latin ghi âm tiếng nói của địa phương, đồng thời tiến hành biên soạn từ điển và ngữ pháp ngôn ngữ của đất nước đó. Các từ điển và ngữ pháp thường căn cứ theo mẫu các sách từ điển và ngữ pháp của tiếng Latin.

Dòng Tên Tỉnh dòng Nhật Bản bị chi phối bởi Bồ Đào Nha, trụ sở của dòng lúc ấy được đặt tại các lãnh địa của người Bồ ở Goa và Macau.Các nhà truyền giáo đương thời thuộc các quốc gia khác, phải được thụ huấn một thời gian trước khi lên đường đi truyền giáo. Vùng hoạt động truyền giáo của Tỉnh dòng bao gồm Trung Hoa, Nhật Bản, Macau và các vùng liền kề, trong đó có Đại Việt, thuộc quyền bảo trợ của Bồ Đào Nha. Nhân sự của Tỉnh dòng gồm nhiều quốc tịch, như: Ý, Pháp, Bồ, Nhật… trong đó đa số là người Bồ Đào Nha.

​Nhờ sự bảo trợ của Trần Đức Hòa, Khám lý Tuần phủ Qui Nhơn, cư sở tiên khởi của dòng Tên tại Đại Việt được thành lập tại Nước Mặn (Residentia di Pulocambi) vào Tháng 7 năm 1618. Từ năm 1618 – 1620, tại cư sở Nước Mặn có các nhà truyền giáo: Linh mục Pina (Bồ), Linh mục Borri (Ý), tu huynh Diaz (Bồ) và Linh mục Buzomi (Ý) là Bề trên của cư sở. Năm 1625, cư sở Nước Mặn của Linh mục Bề trên Buzomi có các linh mục: Gaspar Luis, Majorica và các tu huynh K’ieou, Nishi.

​Cha Bề trên Buzomi chú trọng thực hiện cụ thể Chỉ dẫn của Nhà dòng về việc tìm hiểu, học hỏi ngôn ngữ bản địa. Sử liệu dòng Tên cho biết, những năm 1618 – 1620 các thừa sai làm việc ở Nước Mặn, Đàng Trong là những người đầu tiên học và biết tiếng Việt.

​Theo Báo cáo thường niênnăm 1618, tại cư sở Nước Mặn có một thanh niên mười sáu tuổi, lanh lợi và thông minh, giỏi Hán văn, được dân làng yêu mến, là một tân tòng, tên thánh rửa tội là Phêrô. Dưới sự giám sát của cha Buzomi, anh giúp các thừa sai biên dịch sang tiếng địa phương quyển sách giáo lý gồm các kinh: Lạy Cha, Kính Mừng, Tin Kính, Mười điều răn… mà các Kitô hữu đã thuộc. Hiện nay, quyển sách giáo lý ấy chưa được tìm thấy, các nhà nghiên cứu cho rằng sách được soạn bằng chữ Nôm. Theo Linh mục Léopold Cadière, quyển sách giáo lý nầy được biên soạn bằng ngôn ngữ Đàng Trong, loại ngôn ngữ phổ thông (chữ Nôm)… Song song với việc biên soạn bằng chữ Nôm, sách cũng được phiên âm bằng mẫu tự Latin để các thừa sai được tiện dùng.

​Báo cáo thường niên năm 1619, chép: “Các thừa sai dòng Tên ở Nước Mặn là những người đầu tiên chuyên tâm nghiên cứu ngôn ngữ hơn bất cứ điều gì khác”. Cha Buzomi thành lập một trường học tại cư sở Nước Mặn, chọn một thầy giáo xuất sắc về chữ Hán và chữ Nôm để làm việc tại trường nhằm giúp các thừa sai trong việc nghiên cứu và ghi âm tiếng Việt, hoặc dịch các tài liệu cho các thừa sai.

Ba Linh mục dòng Tên đầu tiên tại cư sở Nước Mặn được ghi nhận có những đóng góp ban đầu trong việc dùng mẫu tự Latin ghi âm tiếng Việt, sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là: Bề trên Buzomi, Pina và Borri.

+ Francisco de Pina: Đến Đàng Trong năm 1617, chết năm 1625. Pina có 8 năm truyền giáo ở Đàng Trong. Bức thư được cho là của linh mục Pina viết tại Dinh Chiêm năm 1623, bằng tiếng Bồ, xen lẫn vài cụm từ Latin, Nhật hay Mã Lai và vài tiếng Việt Nam được ghi bằng mẫu tự Latin. Pina được ghi nhận là người nói tiếng Việt giỏi nhất trong các nhà truyền giáo lúc bấy giờ.

+ Cristoforo Borri: Đến Đàng Trong năm 1618, rời Đàng Trong năm 1622. Bốn năm ở Nước Mặn, Borri đã để lại một số câu từ “Quốc ngữ tiền Đắc Lộ” trong tác phẩm nổi tiếng: Relatione della nuova missione delli PP. della Compagnia di Giesù al Regno della Cocincina (Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong). Ông Thanh Lãng đếm trong bản dịch của Bonifacy có đến 94 từ Quốc ngữ, và trong tài liệu viết tay có rất nhiều chữ mang hình thức hệt như ngày nay. Thí dụ: tui, biết, mọi, càn…

+ Francesco Buzomi sinh năm 1574 tại Napoli (Ý), giáo sư thần học. Ông đến Macau năm 1608, sau đó qua Nhật. Năm 1615 đến Đại Việt, lúc đầu ông làm việc với người Công giáo Bồ ở cửa Hàn (Đà Nẵng), người Công giáo Nhật ở Hội An (Quảng Nam). Năm 1617 vào Nước Mặn, học tiếng Việt và bắt đầu truyền giáo cho người Việt. Với khả năng tổ chức tốt, ông đã sớm tìm kiếm những cộng tác viên ưu tú người Nhật, người Việt để giúp các giáo sĩ dòng Tên đến Đàng Trong học tiếng Việt. Từ năm 1618 – 1629, Linh mục Buzomi làm Bề trên cư sở Nước Mặn. Năm 1929, cùng với các thừa sai khác, Buzomi bị chúa Nguyễn trục xuất khỏi Đàng Trong, sang truyền giáo tại Cambodia (1629-1634). Năm 1934, từ Cambodia Linh mục Buzomi về Macau. Năm 1635 – 1639, Buzomi trở lại Đàng Trong với tư cách Bề trên miền truyền giáo. Năm 1639, lệnh chúa nguyễn Phước Lan trục xuất các thừ sai. Theo Linh mục Đỗ Quang Chính: “Francesco Buzomi… qua đời tại Áo Môn vì bệnh, ngày 01.7.1639”.

Linh mục Alexandre de Rhodes nhận định: cha Buzomi là vị tông đồ đích thực của Đàng Trong, người đã tận tụy lo việc truyền giáo, hoạt động trong hơn hai mươi năm với một sự kiên trì đáng được khen ngợi, ca tụng. Ngày 13.7.1626, Linh mục Buzomi viết một bức thư bằng tiếng Ý dài 4 trang gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi, Bề trên cả dòng Tên. Trong thư có một số chữ Quốc ngữ được viết theo lối cách ngữ như ngày nay:

Trình độ hiểu biết sâu sắc nghĩa từ tiếng Việt và tài năng điển chế từ ngữ tiếng Việt của Linh mục Buzomi trong thư kể trên được Đỗ Quang Chính ghi nhận:

“Trong thư nầy, Buzomi tỏ ra không tán thành các từ Thiên, Thượng Đế, Thiên Chủ Thượng Đế, Ngọc Hoàng; vì không chỉ rõ Đấng Tối cao theo giáo lý Công giáo (như Thiên, Thượng Đế), hoặc chỉ một thứ tín ngưỡng đã xuất hiện từ lâu ở Việt Nam (Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng Thượng Đế), hoặc cụm từ có tính cách hoàn toàn Trung Hoa (Thiên Chủ Thượng Đế), nên Buzomi ngã theo cách dùng từ ngữ Thiên Chúa , vừa vắn, vừa hợp với văn hóa xã hội Việt Nam, vì hai từ Thiên và Chúa đã quá quen thuộc trong xã hội nầy”.

Linh mục Đỗ Quang Chính cũng nhận định chữ Quốc ngữ của Linh mục Buzomi tiến bộ hơn so với các giáo sĩ cùng thời, trong thư 1626: “Nhìn vào những chữ Quốc ngữ của Buzomi, mặc dầu ít, nhưng đã thấy tiến triển, nếu đem so sánh với lối viết của João Roiz, C. Borri, Đắc Lộ, Gaspar Luis và Antonio de Fontes từ năm 1626 trở về trước”.

Thế nhưng, Linh mục Đỗ Quang Chính nêu danh sách gần mười vị góp công sáng tạo chữ Quốc ngữ thời kỳ đầu, gồm: Francisco de Pina, Cristoforo Borri, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, Alexandre de Rhodes, Filippo Marini, Bento Thiện, Igesico Văn Tín, mà không có tên Francesco Buzomi trong danh sách này!

Linh mục Daniello Bartoli (1608-1685) – Nhà sử học dòng Tên (cùng thời với Buzomi và Pina) nhận xét về trình độ hiểu biết tiếng Việt của Buzomi vào năm 1623 như sau: “Ngoài ra, với trí nhớ sâu sắc như một thiên tài cùng với sự nhiệt tình tuyệt vời của cha đã giúp cho cha học nhanh ngôn ngữ đó [Đàng Trong], nắm bắt tính đa nghĩa của từ, tính chất của các dấu nhấn và cung giọng được thể hiện theo ý muốn. Nhờ vậy, trong một thời gian ngắn, cha đã biên soạn từ vựng và luật mẹo ngữ pháp tốt đẹp”. Bartoli còn cho biết khả năng ngôn ngữ Đàng Trong của Buzomi và Pina: “Cha Pina và cha Buzomi là những thừa sai nắm bắt được ngôn ngữ thông dụng của Đàng Trong, có thể thuyết giáo, trao đổi với các nhân sĩ và các vị sãi, trong các việc riêng tư hay trong nơi công hội”.

Tuy nhiên, nhà nghiên cứu – Linh mục Roland Jacques đưa ra nhận định: “Nhà chép sử dòng Tên Bartoli cho rằng Buzomi sáng tác một hệ thống văn phạm và ngữ vựng. Một trong những chứng lý là một bức thư viết năm 1622 mà chúng tôi không thể tìm ra. Có thể có sự lẫn lộn với Pina chăng…”!

Bức thư bằng tiếng Bồ của Pina viết tại Đàng Trong năm 1622, gửi cha Giám sát dòng Tên là Jérónimo Rodrigues “senior”, chép: “Tại Pulo Cambi [Nước Mặn], cha Buzomi có ba ông sãi làm thay cha hết mọi việc. Vì thế, nếu xảy ra chuyện gì, hoặc có công việc gì phải điều hành hay chuyển tin tức quan trọng, cha phái một thông dịch viên, hay một trong ba ông sãi… Khi giờ giáo lý kết thúc, cha ra về, còn họ thì ở lại hoặc để ôn tập, hoặc để chuyện trò với các dự tòng”.

Vai trò của Buzomi trong việc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin sáng tạo chữ Quốc ngữ được ghi nhận khá mờ nhạt so với các nhà truyền giáo cùng thời, với lý lẽ thông thường được đưa ra là: cha Buzomi khi giao dịch hoặc giảng giáo lý cha dùng thông ngôn, nên cho rằng Buzomi không nói được tiếng Việt.

Việc Linh mục Buzomi thường xuyên sử dụng thông ngôn chứng tỏ Linh mục là người cẩn trọng, hơn nữa là một Bề trên, Buzomi còn có nhiều công việc khác. Chính Linh mục Buzomi đã cho biết trong bức thư viết vào tháng 5 năm 1622 gởi cho cha “kinh lược sứ”: “Ngôn ngữ xứ này rất khó vì ý nghĩa của nó được phân biệt bằng thanh điệu hơn là từ ngữ. Tôi bị bệnh lâu ngày và làm việc liên tục, điều đó không cho phép tôi chờ đợi qua thời gian dài. Do đó, khi dạy giáo lý, tôi luôn sử dụng thông ngôn. Tôi hỗ trợ anh ta và gợi ý cho anh ta từng bước một những gì anh ta phải nói và hướng dẫn anh ta nếu có điều gì có thể bị hiểu nhầm. Và như thế những gì anh được nói, nó có giá trị như chính tôi đã nói”.

Sử gia Bartoli đã ghi nhận: “Khi Linh mục không đủ tự tin vào khả năng ngôn ngữ của mình để rao giảng chân lý đức tin, Linh mục dùng thông ngôn, người mà trước đó đã được Linh mục đào tạo vững vàng về kiến thức đức tin để có thể giải nghĩa cho dân chúng. Trước tiên Linh mục cố gắng diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình, sau đó thông ngôn người Đàng Trong nói lại bằng ngôn ngữ Đàng Trong của anh bằng những từ diễn đạt chính xác ý nghĩa, nói được như bản sao của bản chính”.

Linh mục Borri, một trong hai thừa sai (Borri và Pina) được cho là nói thạo tiếng Việt vào thời điểm 1620. Tuy nhiên, Borri bối rối, từ chối dạy giáo lý cho Bà vợ sứ thần được cử đi sứ Cambogia khi bà xin học giáo lý để được rửa tội trước khi lên đường. Linh mục Borri viết: “…Sau đó, tôi xin lỗi bà vì tôi không thể đáp ứng ngay lập tức ước nguyện thánh thiện và đúng đắn của bà, vì cho dù tôi đã có chút ít hiểu biết về ngôn ngữ Đàng Trong, tuy nhiên không đủ để giảng dạy những điều cao thượng và những mầu nhiệm cao cả của Kitô giáo. Vì thế, tôi xin bà nên đợi Cha Buzomi, trong một vài ngày nữa sẽ từ Đà Nẵng trở về cùng với một thông ngôn tài giỏi, nhờ đó bà sẽ được hướng dẫn thỏa đáng và sẽ làm cho bà hài lòng về ước nguyện thánh thiện của bà… Nhờ người thông ngôn này cùng với tính siêng năng, cần mẫn và chú tâm học giáo lý vào hai giờ buổi sáng và hai giờ buổi chiều trong suốt 15 ngày, bà đã học đầy đủ giáo lý của đạo thánh chúng ta. Bà cảm kích việc Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người vì yêu thương nhân loại. Sau khi được cha Buzomi giảng giải giáo lý, bà đã được rửa tội tại nhà thờ Nước Mặn cùng với hai mươi lăm người phụ nữ khác. Bà chọn thánh Ursula làm bổn mạng”. Tự thuật của Borri đã chứng minh việc Linh mục Bề trên Buzomi sử dụng thông ngôn là cần thiết; các thừa sai dù thông thạo tiếng Việt nhưng chưa đủ khả năng truyền đạt giáo lý, những chân lý về đạo cho người Việt.

Cần lưu ý, các thừa sai thường phải học ngôn ngữ của nơi đến truyền giáo là để giải tội. Việc xưng tội và giải tội là chuyện hoàn toàn “riêng tư” của người xưng tội và Linh mục giải tội, không thể có người thứ ba phiên dịch. Các Linh mục nghe hiểu người xưng tội xưng những tội gì, thì mới có thể giải tội được.

Linh mục Buzomi còn có vai trò đặc biệt đối với trường dạy Quốc ngữ đầu tiên cho các nhà truyền giáo tại Nước Mặn và là thầy dạy tiếng Việt tại Nước Mặn cho các Linh mục: Emmanuel Borgès (Bồ) và Giovanni di Leira (Ý) (đến 1622), Gaspar Luis (Bồ) và Girolamo Majorica (Ý) (đến 1624). Linh mục Girolamo Majorica là học trò của Buzomi tại Nước Mặn từ năm 1624 – 1629. Năm 1632, ông đến Đàng Ngoài, làm Bề trên giáo đoàn Đàng Ngoài, ông qua đời năm 1656 tại Thăng Long. Trong khoảng 30 năm hoạt động truyền giáo ở Đại Việt (cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài) ông đã khởi xướng và chủ biên tới 48 tác phẩm lớn nhỏ bằng chữ Nôm. Hiện nay, Thư viện Quốc gia Paris lưu trữ 15 cuốn với 4.200 trang. Mỗi trang có từ 9 đến 12 dòng, mỗi dòng có từ 30 đến 34 chữ Nôm, tổng cộng có 1.400.000 chữ. Có thể nói, Girolamo Majorica là “nhà Nôm học”, một hiện tượng độc đáo trong lịch sử ngôn ngữ và văn học Việt Nam, ông có một chỗ đứng thật đặc biệt, đại diện cho văn xuôi Nôm thế kỷ XVII.

Với tư cách là Bề trên, Linh mục Buzomi triển khai chỉ dẫn các thừa sai, vừa là người tổ chức, vừa là người đôn kiểm, giám sát, vừa là người đồng hành, vừa là thầy dạy tiếng Việt. Ông đã tham gia việc nghiên cứu và sáng tạo chữ Quốc ngữ một thời gian khá dài – trên 20 năm ở Đàng Trong, thời gian đầu cùng với Linh mục Pina, Linh mục Borri và một số người Việt tại Nước Mặn, thời gian sau với các Linh mục: Emmanuel Borgès,Giovanni di Leira, Gaspar Luis và Girolamo Majorica…

Linh mục Bề trên Buzomi là nhân vật số một trong buổi đầu truyền giáo của dòng Tên ở Đàng Trong. Giống như Pina và Borri, Buzomi cũng chỉ ký âm tiếng Việt, biên soạn từ vựng và luật mẹo ngữ pháp sử dụng cho riêng mình học tiếng Việt, cả ba nhà truyền giáo tiên phong chưa làm được công việc mà sau đó các giáo sĩ Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa và Alexandre de Rhodes thực hiện, đó là biên soạn Từ điển. Thế nhưng, không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của Linh mục Bề trên Buzomi đối với việc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin sáng tạo ra “chữ Quốc ngữ tiền Đắc Lộ” cùng hai giáo sĩ Pina và Borri tại cư sở tiên khởi Nước Mặn.

​​​​​​​​​​NTQ – VĐĐ

Read Full Post »

Mai Văn Hoan

.

“MÁU ĐÃ KHÔ RỒI THƠ CŨNG KHÔ…”

Nhân kỷ niệm 80 năm ngày mất của nhà thơ Hàn Mặc Tử (11/11/1940 – 11/11/2020)

TRÚT LINH HỒN

Máu đã khô rồi thơ cũng khô

Tình ta chết yểu tự bao giờ !

Từ nay trong gió, trong mây gió

Những tiếng thương rền khắp nẻo mơ.

Ta còn trìu mến biết bao người,

Vẻ đẹp xa hoa của một thời

Đầy lệ, đầy thương, đầy tuyệt vọng,

Ôi ! Giờ hấp hối sắp chia phôi !

Ta trút linh hồn giữa lúc đây,

Gió sầu vô hạn nuối trong cây.

Còn em sao chẳng hay gì cả ?

Xin để tang anh đến vạn ngày.

Hàn Mặc Tử

.

Hình như linh cảm trước cái chết, một số nhà thơ đã soạn sẵn những lời di chúc. Puskin có Đài kỉ niệm, Êxênin có bài thơ tuyệt mệnh viết bằng máu… Và Hàn Mặc Tử có Trút linh hồn. Bài Trút linh hồn nằm trong Đau thương, tập thơ hay nhất của Hàn Mặc Tử. Đau thương ra đời trong hoàn cảnh thi sĩ lâm vào căn bệnh hiểm nghèo cùng lúc mối tình đang nồng thắm, bỗng “chết yểu”. Đau thương chồng chất “đau thương”. Chính trong những tháng ngày bi đát ấy, Hàn Mặc Tử dường như đã tiên cảm sự ra đi của mình nên đã viết những lời trăn trối nhắn gửi với người mình yêu, đồng thời cũng nhắn gửi với tất cả những ai yêu mến thi sĩ.

Câu mở đầu có thể xem là một quan niệm về thơ của Hàn Mặc Tử:

Máu đã khô rồi, thơ cũng khô

“Chân lí bao giờ cũng giản dị”! Đúng, Hàn Mặc Tử khẳng định một chân lí trong lĩnh vực sáng tạo thi ca bằng cách nói hết sức giản dị. Chân lí ấy được đúc kết vẻn vẹn trong bảy chữ. Tôi đã đọc khá nhiều bài viết trao đổi về thơ gần đây. Ở những bài viết ấy tôi đã học được nhiều điều. Nhưng không hiểu sao tôi cứ thích cách nói của Hàn Mặc Tử. Thi sĩ không lí luận dài dòng, không làm ra vẻ cao siêu, uyên bác. Thi sĩ nói một cách thật dễ hiểu, thật ấn tượng: “Máu đã khô rồi thơ cũng khô”! Có thế thôi. Nhưng để đúc kế được tám chữ ấy Hàn Mặc Tử đã trải qua bao tìm tòi, suy nghĩ, trăn trở… Và cái chính là thi sĩ đã chiêm nghiệm từ thực tế sáng tác của mình. “Máu” ở đây không chỉ là sự sống mà còn là sức sống, là nhiệt huyết của người làm thơ đối với cuộc đời. Khi người làm thơ không còn nhiệt huyết nữa có nghĩa là anh ta nên gác bút. Vì nếu có gắng gượng viết thì cũng chỉ “đẻ” ra những xác chữ khô cứng mà thôi. Chữ có thể “bầu lên nhà thơ” khi chữ đó đã thấm qua “máu”, chứ không phải là thứ chữ được chế tác bằng một trái tim nguội lạnh. Nếu chữ chỉ được chế tác bằng một trái tim nguội lạnh thì chẳng qua đó là mớ chữ vô hồn. “Máu” đúc nên chữ, rồi chữ mới tạo ra thơ. Tất nhiên đã là nhà thơ chân chính thì không thể coi thường chữ nghĩa. Nói như Nguyễn Công Trứ” “Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời”.

Theo tôi, thơ hay trước hết phải chân thực. Chân thực trong cảm xúc. Cái dễ nhận nhất là sự giả tạo trong thơ. Có người chẳng đau đớn gì nhưng thấy thiên hạ rên mình cũng la oai oái. Những tiếng kêu giả, khóc vờ ấy khó lòng qua mắt những độc giả tinh tường. Trong quá trình sáng tạo nhà thơ có thể bịa ra, có thể tưởng tượng ra nhiều thứ. Nhưng phải bịa, phải tưởng tượng trên cơ sở tình cảm chân thực. Lúc đó bịa, tưởng tượng mới “như thật” được. Hàn Mặc Tử viết: “Ta trút linh hồn giữa lúc đây” đó là thi sĩ tưởng tượng ra. Bởi sự thật thì mãi khi vào nhà thương Quy Hòa đúng ngày 11 tháng 11 năm 1940, Hàn Mặc Tử mới “trút linh hồn”… Thế nhưng người đọc vẫn tin sự tưởng tượng ấy là chân thực. Bởi nỗi đau đớn trước mối tình “chết yểu” đã từng khiến cho thi sĩ như điên như dại:

Người đi một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ

(Những giọt lệ)

Nguyễn Du tả tiếng đàn nàng Kiều trong bữa tiệc “mừng công” khi Hồ Tôn Hiến vừa giết Từ Hải: “Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay”. Máu nhỏ năm đầu ngón tay là Nguyễn Du tưởng tưởng ra, nhưng rất chân thật, vì Nguyễn Du đã nói được nỗi đau đớn tột đỉnh của nàng Kiều. Hàn Mặc Tử làm thơ bằng chính máu huyết của mình: “Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt”, “Mà máu tim anh vọt láng lai”… Nên hơn ai hết, thi sĩ hiểu một cách sâu sắc rằng: “Máu đã khô rồi, thơ cũng khô”!

Trái tim Hàn Mặc Tử chưa bao giờ lãnh cảm trước cuộc đời. Ngay đến giây phút sắp “trút linh hồn”, thi sĩ vẫn yêu cuộc đời đến day dứt. Mặc dù cuộc đời đã đem đến cho Tử bao mùi vị cay đắng. Nói như ca dao:

Thương mình lắm lắm nhiều nhiều

Còn mình thương lại bao nhiêu mặc lòng.

Cuộc đời có cay nghiệt với Hàn Mặc Tử đến mấy thi sĩ vẫn cứ trìu mến, vẫn cứ vấn vương, vẫn cứ luyến tiếc:

Ta còn trìu mến biết bao người

Vẻ đẹp xa hoa của một thời

Đầy lệ, đầy thương, đầy tuyệt vọng

Ôi! Giờ hấp hối sắp chi phôi!

Phải hiểu cảnh ngộ, số phận của Hàn Mặc Tử ta mới thấy hết sự “trìu mến” ấy của thi sĩ đáng trân trọng biết chừng nào!

Và đây là lời nhắn gửi cuối cùng của Hàn Mặc Tử:

Ta trút linh hồn giữa lúc đây

Gió sầu vô hạn nuối trong cây.

Còn em, sao chẳng hay gì cả?

Xin để tang anh đến vạn ngày.

Có bản chép “Gió sầu vô hạn thổi trong cây” là vô tình làm tổn hại thơ Hàn Mặc Tử. “Gió sầu vô hạn thổi trong cây” thì bình thường quá. Câu thơ đã bị tước mất sự sống. Phải “Gió sầu vô hạn nuối trong cây” mới thể hiện được nỗi luyến tiếc của Hàn Mặc Tử trước giây phút từ giã cõi đời.

Một hồn thơ “đau thương” như vậy, tài hoa như vậy thế mà đã có một thời chúng ta quá đỗi thờ ơ. Sự vô tâm của người mà thi sĩ từng yêu tha thiết khiến cho thi sĩ vô cùng buồn tủi. Hàn Mặc Tử khao khát được cảm thông, được chia sẻ: “Xin để tang anh đến vạn ngày!”.

Mấy năm lại đây phần mộ Hàn Mặc Tử đã được sửa sang và thường xuyên có người thăm viếng. Thơ Hàn Mặc Tử đã được giới thiệu rộng rãi. Nhiều công trình nghiên cứu Hàn Mặc Tử tương đối công phu ra đời… Đó là một cách chúng ta “để tang” cho thi sĩ. Tôi viết về Hàn Mặc Tử cũng chỉ mong thắp một vài nén nhang tưởng niệm hương hồn nhà thơ.

Văng vẳng bên tai tôi lời nhắc nhở:

“Máu đã khô rồi, thơ cũng khô!”

Vâng, tôi biết giữ được bầu nhiệt huyết cho đến giây phút “trút linh hồn” như Hàn Mặc Tử không phải là chuyện dễ dàng và bất cứ ai cũng làm được.

Mai Văn Hoan

Không có mô tả ảnh.

Read Full Post »

 

Đỗ Văn Minh (Gia Lai)

Văn hoá là mảnh đất màu mỡ cho nghệ thuật nói chung, nhưng không phải nghệ sĩ nào cũng cày xới và gặt hái những quả ngọt từ đó. Bởi yêu cầu nội tại của nó cũng đặt ra những ranh giới nhất định, không đam mê, không am tường và không căn cơ, duyên nghiệp thì khó vượt qua để thành công. Tự thân Hoàng Thanh Hương là một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian -người đã có vốn liếng ít nhiều để chinh phục, nhờ đó đem đến cho cây bút này một dấu ấn phong cách khó trộn lẫn. Đặc biệt là, qua tập truyện ngắn vừa xuất bản Phía mùa rực rỡ, độc giả lại hơn một lần cùng suy nghiệm những “trầm tích” văn hoá dân gian ấy không thể chân thực, sinh động và phong phú hơn.

Nói đến Hoàng Thanh Hương, bạn đọc gần xa không còn xa lạ với chất trần thuật hấp dẫn, điểm nhìn đa chiều kích, với sự kiện và đề tài mang hơi thở dân gian đương đại. Hoàng Thanh Hương quê gốc ở Phú Thọ, hiện sống và làm việc tại Gia Lai, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội VHNT các DTTS Việt Nam. Chị là cây bút chuyên về thể loại truyện ngắn, với 4 đầu sách văn xuôi đã được ra mắt công chúng và có những thành tựu đáng kể. Đây là tác giả có sức sáng tạo mãnh liệt, có đóng góp nhất định trong dòng chảy văn chương nước nhà ở một số phương diện, mà tiêu biểu nhất là điểm nhìn trần thuật, cách phối ngẫu trong cấu trúc của một thiên truyện.

Tập truyện ngắn Phía mùa rực rỡ là những câu chuyện đời thường, nhân tình thế thái, biến thiên hư ảo của cuộc sống, cũng có khi là những chiếc “mặt nạ” đời. Nhưng ẩn đằng sau lớp ngôn từ, tầng nghĩa thứ nhất, giản đơn, dễ hiểu, đó là ngồn ngộn những “ám thị” của lớp lớp trầm tích văn hoá dân gian. Nổi bật lên là cảm thức phồn thực, văn hoá Phật giáo dân gian/Phật giáo thường thức và chút gì đó là khuynh hướng phân tâm học trong việc miêu tả, và nghệ thuật trần thuật.

Trong ba đặc điểm nổi bật kể trên trong truyện ngắn Hoàng Thanh Hương nói chung và riêng tập Phía mùa rực rỡ thì cảm thức, dấu ấn phồn thực tồn tại đều đặn, dày đặc hơn cả. Nó phong phú và đa dạng đến nổi, chúng như trải thảm trên từng con chữ, ở đâu, lúc nào, bề nông hay bề sâu, lớp mặt nạ hay lớp ẩn tàng… người đọc cũng có thể nhận diện nó. Trước hết, ta hãy “khai quật” từng lớp lang một để cảm thức phồn thực hiện ra trọn vẹn nhất.

Phồn thực biểu hiện cho sự sinh sôi và phát triển, bởi vậy trong nội hàm của chúng phản ánh đặc trưng của sự vận động mang tính chất đi lên. Cho nên, cảm thức phồn thức trước tiên quy định hành động nhân vật. Các nhân vật trong tập truyện ngắn thường có hành động thật sự rất tự nhiên. Có thể là, cuộc sống nhân dân các dân tộc Tây Nguyên dường như ám thị trong giọng điệu và hành động của các nhân vật qua điểm nhìn “rất Thanh Hương”. Nỗi khổ, niềm đau được hiện lên, kể ra không chút giấu giếm, chẳng cần ẩn tàng. Các nhân vật thoả sức cười, khóc, bỉu môi… mà không cần vòng vo, quanh co, nhìn trước rào sau. Nhưng mới có thế thì đâu phải văn chương của cô. Nếu rơi lệ thì phảicho “nước mắt nàng chan chứa”, khóc thì phải “khóc lu loa”, yêu thì “gã yêu nàng như điên” (Phía mùa rực rỡ); nói thì cỡ “bô bô”, làm thì phải làm “hùng hục như trâu”, tính thẳng thì phải “thẳng ruột ngựa”, ngu phải được so sánh hơn (nhưng thực chất là thua) “ngu dốt hơn bò” (tức là bò chỉ số IQ hơn) (Nhà trọ); cười thì như “muốn ngất nơi máy giặt” (Hoa nở muộn); “chán như con gián”, “sợ vợ như cọp” (Cô hồn);… Với nghệ thuật so sánh theo hướng “vật hoá”, cũng là một khía cạnh biểu hiện ít nhiều tính chất phồn thực đậm nét trong văn chương của Hoàng Thanh Hương, mà một phần cũng tiếp biến nghệ thuật trần thuật trong loại hình Ngữ văn dân gian rõ nét ở khu vực vùng Tây Nguyên, vùng cao Tây Bắc (trong đó có Phú Thọ, quê gốc của nhà văn). Văn học dân gian chú trọng yếu tố phồn thực qua ngoại hình, và trong trang văn của chị, chúng ta không ít lần bắt gặp những chi tiết miêu tả tỉ mẩn đó, chẳng hạn: Trong Nhà trọ, nhiều lần nhà văn đặc tả nhân vật qua cảm quan của văn hoá bình dân/quan niệm nhân tướng tục truyền, “Cái mặt lưỡi cày, mũi gãy, môi mỏng cong tớn, trán dô, mắt đa phần lòng trắng, tóc lưa thưa”, “Tướng sinh tại tâm, cứ nhìn cái mặt ai sáng láng, thần thái tươi tắn, đẹp nét nào ra nét đấy là biết bụng dạ họ thẳng thớm, thơm thảo”, “Tôi mạng thiên thượng hoả, tính khí quyết đoán, nóng nảy, thấy cái lươn lẹo, giả dối là chịu không được”… Cảm thức phồn thực trong văn chương thường gắn liền với ngoại hình nhân vật có những đặc điểm như: đậm người, bộ ngực ngoại cỡ, mắn đẻ. Riêng “mắn đẻ” cũng là biểu hiện của hoóc-môn và sức khoẻ cường tráng, mạnh mẽ. Chuyện sinh con đẻ cái vì thế mà được trần thuật khá nhiều trong tập truyện. Những chi tiết tiêu biểu được người đọc chú tâm, ấn tượng, chẳng hạn: “sức khoẻ đuối nên quyết không đẻ đái gì nữa, kết thúc ở số 9”, “gã chúi đầu vào bộ ngực đồ sộ”, “ông hoàng của mụ ngực bự”, “mụ vú bự”, “má hồng hồng”, “làm hùng hục như trâu” (Phía mùa rực rỡ); “Phụ nữ ngoài 40 tuổi phải nở nang” (Giãn cách); hình ảnh “chiếc váy và đám nội y rực rỡ sắc màu” (Hoa nở muộn). Cảm thức ấy, không chỉ ở việc “đẻ đái”, mà còn ước mong nuôi con chóng lớn, ăn được ngủ được là tiên. Theo quan niệm dân gian, nó còn có mối liên hệ linh nghiệm với việc đặt tên con, phải tên xấu với lại thanh bằng mới hậu vận sung sướng, tiền vận dễ nuôi (Phía mùa rực rỡ, Hoa nở muộn). Và cũng hiểu được tại sao, các nhân vật liễu yếu đào tơ, ỏn ẻn được/bị nhà văn xếp vào nhân vật phản diện, thường bị các nhân vật chính diện“bỉu môi”. Bên cạnh đó, các nhân vật chính/tốt nữ giới thường có cá tính mạnh mẽ, quyết đoán, tính cách đặc trưng và rõ nét hơn các nhân vật phái nam. Có thể là, nhân sinh quan của nhà văn ảnh hưởng một phần từ phong cách đời sống, từ địa bàn cư trú, hoặc cũng có khi đó là “tàn tích”/dấu ấn của chế độ mẫu hệ, hoặc tín ngưỡng thờ Mẫu (Đạo Mẫu) tồn tại ở đời sống văn hoá – tâm linh không chỉ dừng lại trong cư dân đồng bào thiểu số mà cả ở tầm vĩ mô hơn, nền văn hoá trồng lúa nước (cần nhiều nhân lực trị thuỷ, và những công việc nặng nhọc đồng áng khác).

Ngoại hình nhân vật thì đã rõ, như đã đề cập ở trên, ngoài ra mùa xuân cũng biểu thị, tượng trưng cho cảm thức phồn thực rõ nét không kém. Văn chương xưa thường tập trung phản ánh những biến thiên của mùa thu, mùa thu như là bầu vú đầy sữa cho thi nhân, văn sĩ thưởng thức và nảy nở những ý tưởng sáng tạo, như trong tập truyện Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân: Mùa thu/khí thu/tình thu luôn ẩn hiện trong nhiều tác phẩm chẳng hạn như Khoa thi cuối cùng, Con sư tử một năm Quí Sửu, Một cảnh thu muộn… Nhưng với chị, mùa xuân – cái mùa gắn liền với sinh sôi, phát triển và hưng thịnh mới đáng được đưa lên bàn văn chương. Ai đã từng sống, làm việc và tỉ mỉ quan sát phận người của đồng bào dân tộc nói chung, phát khởi từ Tây Nguyên nói riêng thì mới hiểu được cảm thức tự nhiên đó. Nó như là nước chảy về biển đông, suối róc rách qua kẽ đá. Mùa xuân/tết ấy, nhà văn dụng ý rất sâu, nó được tác giả cấu kết bố cục theo kiểu trùng lặp/vòng tròn/liên hoàn. Trong tác phẩm đầu tiên của tập truyện, mùa xuân được nhắc đến ngay trong đoạn mở đầu để khơi gợi cảm xúc, định hướng “tầm đón đợi”/”tầm đón nhận” (chữ của nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung) và dư vang của nó vẫn vẹn nguyên khi được đặc tả ở phần kết thiên truyện, chỉ khác chăng là: mở đầu rộn ràng mùa xuân với sự “thanh viện” (chữ của Nguyễn Tuân) của những bản nhạc trữ tình bất hủ và kết thúc lại khoe sắc, rợp hương bằng hình ảnh những đoá hoa mai vàng rực rỡ, môi son hồng hồng (Phía mùa rực rỡ); dẫu bao nhiên biến thiên, khổ đau, bất hạnh và cả oái oăm bủa vây, nhưng khi độc giả khép lại trang sách, cảm xúc vẫn dư âm, hân hoan niềm hạnh phúc, bình yên bởi tình chồng – vợ thuỷ chung, vẹn nguyên sau trước, biểu hiện qua đầu và cuối truyện ngắn Nhà trọ.

Nhà văn HoàngThanh Hương còn chú trọng con người bản năng/bổn phận/thiên chức và sứ mệnh. Bản năng làm mẹ không cho nhân vật Nàng bỏ cái thai trong bụng dẫu rơi vào những ngặt nghèo trong cuộc sống, những cơn đau cũng luôn gắn liền với bổn phận thiêng liêng đó, “nàng co đầu gối ép sát bụng cố dỗ giấc cho quên từng cơn đau co thắt tử cung”, “vòm bụng đang cương trương đau thắt” (Phía mùa rực rỡ). Thiên chức làm mẹ của nhiều đứa con (thì càng tốt) hiện diện dày đặc, trong Hoa nở muộn là một ví dụ điển hình: “Nhà hai thằng cu con, thêm ông chồng” nhưng vẫn “luôn thèm một mụn con gái”, nên “Mấy lần tôi gạ gẫm thêm thắt tí con gái”. Quan niệm thời phong kiến thì cho rằng: “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”(một nam cũng gọi là có, mười gái cũng như không), nhưng đối với văn hoá thờ Mẫu, hay chế độ mẫu hệ vẫn tồn tại trong tâm thức và cuộc sống của đồng bào Tây Nguyên thì giá trị của con gái/đàn bà luôn vẹn nguyên, và rõ ràng. Bản năng ấy, có khi “cầu bất đắc” (cầu không được) thì sinh ra “khổ”/buồn/tủi/chịu đựng sự cay nghiệt của gia đình chồng, mặc dù nguyên nhân chính là “Thằng chồng nó tinh trùng yếu”. Nhân vật T trong Hoa nở muộn biểu hiện qua những hành vi xuất phát từ sự khao khát được làm mẹ/đẻ/nuôi con, “Nó cứ ôm riết đứa bé, vài phút lại hôn chun chút vào má, vào trán con bé”, mà “con bé” đó không phải là con của nhân vật T. Đến khi được làm mẹ, dù chỉ là mẹ nuôi, vợ chồng T cũng reo lên sung sướng và “cười như mùa thu toả nắng”. Hoặc là, trong truyện Nhà trọ, bản năng làm vợ đã không cho phép tình thế “lấy chồng chung” hiện diện trong thiên truyện nữa (như ở tác phẩm Phía mùa rực rỡ), mặc cho người ta “ngó nghiêng, bình phẩm, chê bai”, “nhà trọ om sòm náo loạn” nhưng mụ vẫn thực hiện sự vụ đánh ghen, đem chồng về nhà, dưới vòng tay bảo hộ của bả (Nhà trọ). Với tác phẩm Cô hồn lại càng éo le sự đời hơn, Dậu dẫu mong muốn làm thế nào để được sinh con, được làm vợ, và được làm mẹ nhưng lại rơi vào trạng huống lực bất tòng tâm bởi chồng đã mất bốn năm rồi, bởi không thể “con đẻ với ma à?”. Như vậy, đến với văn Hoàng Thanh Hương là đến với thế giới của phận con người – đàn bà, với đủ các kiểu người xấu – tốt, các kiểu tính cách người, độ tuổi già – trẻ – trung niên, nghệ nghiệp, học vấn văn hoá. Dó đó, tên nhân vật cũng được định danh theo kiểu, như: nàng, đàn bà, mẹ, mụ, bà nội, bà ngoại, chị, nữ hộ lí, mẹ nuôi, cô sinh viên, vợ gã cán bộ, cô ta, bà trưởng khoa, bà sếp, bà vú già, vợ gã bán phở – Dậu

Bản năng tính dục như là một cơ sở/thước đo rõ ràng nhất về thiên hướng truyện ngắn theo cảm quan phồn thực và phân tâm học (tập trung ở những khía cạnh: giấc mơ, vô thức, tình trạng quên tạm thời). Tính dục không phải là xu hướng/tư duy nghệ thuật mới trong và ngoài nước, nhưng trong trang văn của nữ văn sĩ, lại đưa người đọc đến những cái bi – hài, cái cười ra nước mắt, và cả cái nhu cầu tâm sinh lý trước mắt – nhu cầu được tôn trọng/yêu mến… Những “tình thế của con người” (mượn với nghĩa nhưtrong bài viết của nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung: Tình thế của con người – tình thế của thơ[2]) hết sức phức tạp và oái oăm của muôn mặt cuộc sống, như tình thế một cán bộ sở A cặp bồ với cô sinh viên M để giải toả cơn dục tính đang “bốc hoả” bằng những cuộc “hớn hở”, “hú hí”, đã làm cho sự vụ “lênh loang khắp thiên hạ” và cái kết đắng không chỉ dành riêng cho anh cán bộ sở A mà cả gia đình và bản thân cô vợ cũng bị “ném đá tơi bời”; hay Anh chàng K với Cô B không ngần ngại “phần trên áo đầy đủ, phần dưới trống trơn đang quần nhau trên bàn làm việc”, “sờ soạng mông nhau, hôn nhau chụt chụt” mặc cho “con vợ thằng K ở dưới huyện cứ tưởng chồng mình lên phố làm việc vất vả không về được”. Cả dãy trọ nhà anh Toàn toàn thành phần bất hảo đến thuê nhưng cuối năm khu phố vẫn đạt “Khu phố văn hoá” (Nhà trọ). Hay như, những con người trong xóm trọ của nhân vật Tôi với những hoàn cảnh ngặt nghèo khác nhau dẫn họ đến những số phận bi – hài khác nhau (Hoa nở muộn), tình thế con người “Dậu chả sợ ma. Dậu sợ người, họ là ma đầu đen” (Cô hồn). Đúng với nhận định của nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung: “Con người đi từ nỗi sợ thiên nhiên, sợ Thượng đế, đến sợ con người[3].Quan sát, tiếp xúc và chuyển hoá chúng vào trong trang văn thật dễ mà cũng thật khó. Đây là tình thế của con người/cuộc đời bắt buộc nhà văn có những lựa chọn chi tiết tiêu biểu, sự việc ấn tượng để đưa ra hình thức trần thật phù hợp nhất. Bên cạnh, yếu tố phân tâm được thể nghiệm qua đề tài, sự việc thì ngoại hình càng được tác giả chú ý khai thác triệt để qua tư duy/cảm thức văn hoá dân gian, trong tác phẩm Nhà trọ, nhân vật vợ anh cán bộ sở A hiện lên với những nét không thể chối cãi được về sự “đa dâm” như: “môi mỏng cong tớn, trán dô”, “giọng kéo dài nũng nịu, nhẽo nhoẹt”; hay “Nhà thơ K là cô giáo dạy văn, mắt lươn, trán dồ, môi mỏng dính, ả liếc liếc vòm ngực vồng căng của chồng tôi”, “người đi như rắn uốn, môi mỏng bóng loáng, mắt ti hí, liếc đảo như bi”(Hoa nở muộn); và nữa: “Nàng ghét những gã miệng trơn bóng, hứa hươu hứa vượn” (Cô hồn).

Lại nữa, bản năng làm người lương thiện được cây bút này đưa lên hàng đầu như là một nhu cầu thiết yếu của bản chất/nhân tố Người trong tác phẩm. Các nhân vật buộc phải sống thiên lương, thẳng thớm. Nó như là tín điều cần phải tuân theo, là quy luật tự nhiên và đúng với thiên mệnh (“nhân chi sơ tính bổn thiện” (Người mới sinh ra, tính vốn thiện lương) – Khổng Tử). Bản năng này là vừa thiết yếu/cơ bản nhưng cũng cao cấp/đặc trưng nhất trong nội hàm, ý nghĩa Người (nằm trong thuộc tính của ba nhu cầu cơ bản là: Giao lưu tình cảm, Được quý trọng Tự thể hiện bản thân trong Tháp nhu cầu của Abraham Maslow, nhà tâm lý học người Mĩ). Văn học xưa nay đều nhấn mạnh yếu tố tâm lý này của nhân vật, nào là Chí Phèo (Nam Cao), nào là Vợ nhặt (Kim Lân)… Với Hoàng Thanh Hương, các nhân vật chính, đặc biệt nhân vật xưng Tôi thường là cái tâm hướng thiện, “vượt qua khó khăn trong cuộc sống bằng chính sức lực mình, tự do về tư duy, độc lập về tài chánh và được bạn đời, bạn tình tôn trọng”, bởi cái cốt “Ai chẳng muốn làm người lương thiện” (Cô hồn). Có thể kể ra như: Nhân vật nàng (Phía mùa rực rỡ), nhân vật Tôi (Nhà trọ), nhân vật T (Hoa nở muộn), Dậu, Em gái của Dậu, Gã bán phở (Cô hồn)… đều đau đáu sự hoàn thiện về nhân cách/tư cách sống. Cũng vì thế, những nhân vật phản diện thường bị nhân vật tư tưởng ghét cay ghét đắng, bỉu môi, khinh bỉ ra mặt, bị nói chuyện “kiểu của vợ gã bán phở hè phố” (Cô hồn).

Trong tổng thể tư duy/cảm quan nghệ thuật ảnh hưởng yếu tố dân gian đậm nét đó, nếu không nhắc đến cảm quan Phật giáo được tục truyền từ ngàn xưa, mang hơi hướng đại thừa, chúng sanh phổ độ, nghiệp duyên, nhân quả… thì chắc chắn chúng ta sẽ không thấy hết nội hàm lẫn ngoại diên những tư tưởng, dụng ý và cả cấu trúc tác phẩm của nhà văn hình thành như thế nào, và lý do, nguồn cơn đó ra sao. Chính cảm quan và suy nghiệm theo hơi hướng Phật giáo hiện diện khá rộng khắp trong tập truyện ngắn nên kết thúc thường có hậu/happy end, hoặc mang chút hơi ấm của niềm vui, tình người, màu sắc. Như, hình ảnh “nàng nhoẻn cười, hai má hồng hồng, mắt nhìn chăm chắm vào lũ con, vào anh, vào chậu mai bắt đầu xoè những bông vàng rực rỡ háo hức đón mùa” (Phía mùa rực rỡ); cảnh bình yên trở lại, nhân vật Tôi giác ngộ duyên, nghiệp là vô thường, sau tất cả, niềm vui đến vẹn nguyên cho những ai biết quay trở về với chính mình/bản lai diện mục (Nhà trọ); cảnh hạnh phúc trào dâng khi nhân vật T bất ngờ có bầu sau ngót 7 năm chịu đựng bao tủi nhục, đắng cay (Hoa nở muộn); cảnh Dậu với Gã bán phở “về một nhà”, “’rổ rá cạp lại mãi mãi” trong Cô hồn. Những quan niệm có yếu tố Phật giáo dân gian thường gắn liền với nho giáo, Lão giáo, từ đó hình thành nên những hành vi tích cực nhất định xung quanh vấn đề “phúc đức”, “ăn ở sao cho phải đạo”, “lương thiện”, “thẳng thớm”, “bình an” (Giãn cách); ăn ở có tâm có tình, hiểu đạo lý và nhân quả, nghiệp duyên (Hoa nở muộn, Cô hồn); số 7 theo quan niệm dân gian là ám thị những điều kém may mắn, kiểu mô típ “tiền hung hậu kết” (khổ trước sướng sau), nhà văn gửi gắm quan niệm trên qua số phận người vợ trong Hoa nở muộn và nghĩa nặng ân sâu của mẹ trong Cô hồn; số 4thường ứng với chữ “tử” (sinh – lão – bệnh – tử), chồng chị Dậu mất được bốn năm rồi (Cô hồn). Từ cảm quan Phật giáo dân gian, nhà văn còn chiêm nghiệm nó theo khuynh hướng triết lý nhân sinh. Phật giáo luôn quan niệm “sinh tử sự đại” (sống chết là việc lớn), đặc biệt trong Thiền tông nhấn mạnh hành vi/nhận thức/hạnh phúc hiện tại là điều tối quan trọng. Hiểu được như thế, độc giả mới ngộ ra những ý tứ diễn giải qua trang văn của chị: “Tôi lúc nào cũng sống hết mình như ngày mai sẽ chết nên tôi yêu cuộc sống đang có một cách kì lạ”, “Tôi nhớ đã đọc đâu đó một câu Phật dạy: “Khi bạn vui, phải nghĩ rằng niềm vui này không phải là vĩnh hằng. Khi bạn buồn, bạn hãy nghĩ rằng nỗi đau này cũng không trường tồn”” (Hoa nở muộn). Phật giáo luôn đề cao tính tự thân: tự thân vận động, tự thắp đuốc lên mà đi, duy ngã độc tôn, phật tại tâm, phật là ta… Những triết luận ấy một lần nữa được nhà văn phát ngôn qua nhân vật tư tưởng, Em của Dậu: “Hạnh phúc là sự tự rèn luyện mình”, và cũng có khi là qua nhân vật chính, Dậu cũng thường suy nghiệm “tâm tốt thì cái việc làm mới tốt đẹp” (Cô hồn).

Khép lại trang văn của Hoàng Thanh Hương, người đọc cảm nhận ẩn đằng sau những câu chuyện đó là cách nhìn, cách cảm đầy nhân văn, thương xót những mảnh đời, phận người nhỏ bé, thiệt thòi. Đó có thể là những số phận nghèo trong xóm trọ (Nhà trọ), cũng có thể là những người mẹ thương con nhưng vì những “tình thế của con người”/số phận buộc lòng phải “đem con bỏ chợ”, cảnh cả xóm (già trẻ, trai gái) chung tay nuôi nấng cháu bé bị bỏ rơi (Hoa nở muộn), cảnh vợ chồng âm dương cách biệt (Cô hồn). Bởi nhà văn luôn hướng người đọc đến những tia sáng, niềm hạnh phúc giản dị, nhỏ nhoi nhưng lại hết sức nhân đạo: Chuyện những con người nhỏ bé, thiệt thòi, nghèo khổ tự học, tự kiếm việc, họ vui mừng vì “kiểu gì cũng có hơn 5 triệu, bác yên tâm, nghèo thì lâu, giàu mấy chốc” (Nhà trọ); hay chuyện cô thạc sỹ chồng mất đã bốn năm chấp nhận lấy gã bán phở từng đi tù nhưng lại được hạnh phúc viên mãn (Cô hồn)…Mỗi nhân vật trong trang văn của chị đều có một số phận riêng. Nhưng nổi rõ lên là thân phận người đàn bà, được nhà văntập trung miêu tả, biểu cảm và tự sự qua các sự kiện đan cài ngẫu hứng, nhưng cũng đầy dụng ý nghệ thuật. Ấn tượng khi đọc tập truyện ngắn Phía mùa rực rỡ là giọng văn có gì đó hờn dỗi, đây đẩy, tuồn tuột, tưng tửng, cá tínhnhư tản văn của Nguyễn Ngọc Tư, cuốn hút như đang đọc tiểu thuyết của Dương Thuỵ(bởi lối kể theo ngôi thứ nhất được phát huy tối đa và có phần ứng biến), đặc tả cảnh những nhân vật trong xóm trọ nghèo cũng có chút gì hao hao/liên tưởng tới các hình tượng nhân vật trong truyện ngắn của O. Henry, kiểu xây dựng “nhân vật số phận” đến éo le, nghiệt ngãđã tạo ấn tượng tâm lý cho người đọc, dấu ấn phong cách bộc lộ rõ hơn. Điểm nhìn trần thuật cũng là một tiêu chí xác lập phong cách của chị, với sự suy nghiệm hết sức sâu sắc về cuộc sống, cộng hưởng với cái nhìn “như thị ngã văn” (tôi nghe như thế), mọi văn bản/kết cấu thiên truyện diễn ra trong sự biến thiên/vô thường, chốc chốc các nhân vật lại được “đốn ngộ”. Như vậy, nhân vật (cũng có thể là tác giả) quán chiếu mọi thứ xung quanh thực chất là để trở về với tự tánh, nguồn cơn, phát khởi của lòng mình. Cái đáng để nói ở đây là, chị đã quan sát tỉ mẩn, đa chiều để truy nguyên bản chất của chúng. Mọi thứ xung quanh như những chiếc mặt nạ, nhà văn phải có sứ mệnh tìm ra cái đằng sau ẩn chứa của chiếc mặt nạ đó. Tác phẩm càng được đẩy lên một cao trào cảm xúc/sự kiện bởi nhà văn vận dụng hiệu ứng kết cấu đối lập, mâu thuẫn của thể loại kịch một cách nhuần nhị để đưa vào truyện ngắn. Tất cả những điều trên đã làm nên những trang văn mang dấu ấn cá tính sáng tạo, phong cách nghệ thuật của cây viết nữ vùng đất cao nguyên đại ngàn – Hoàng Thanh Hương./.                    


[1] Tập truyện ngắn gồm 15 tác phẩm, Nhà xuất bản Đà Nẵng tháng 5/2023.

[2] Bài nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Sông Hương số 410 tháng 04 – 2023

[3] Trích bài viết Tình thế của con người – tình thế của thơ, Trương Đăng Dung,đăng trên Tạp chí Sông Hương số 410 tháng 04 – 2023

Read Full Post »

Nguyễn Thanh Quang

 

Việc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, công đầu được ghi nhận bởi ba nhà truyền giáo dòng Tên tại cư sở tiên khởi Nước Mặn: Francesco Buzomi (Ý), Francisco de Pina (Bồ) và Cristoforo Borri (Ý). Tuy nhiên, vai trò của Linh mục Bề trên Buzomi với chữ Quốc ngữ chưa được đánh giá khách quan, công bằng…

​Chỉ dẫn của dòng Tên khi các thừa sai đi truyền giáo, ghi cụ thể: “… Cha tìm hiểu ngôn ngữ mà các dân tộc ấy dùng để nói; nếu có nhiều ngôn ngữ, thì hãy chú ý ghi ngôn ngữ nào được sử dụng nhiều nhất, chủ yếu là trong giới bình dân. Cha tìm hiểu về chữ mà họ dùng để viết; về các chữ này, cha tìm cách hỏi những văn sĩ ưu tú mà cha gặp được, để ghi lại một bản chữ cái, kể cả những dấu nối và dấu phân câu mà họ dùng; cha cũng chú ý ghi lại bằng mẫu tự Latin tương ứng với cách phát âm, để ta có thể so sánh…”.

​Việc Latin hóa các hệ thống chữ viết không dùng mẫu tự Latin đã trở thành thông dụng và được xem như “truyền thống” của các thừa sai dòng Tên. Các thừa sai khi đến truyền giáo ở một đất nước nào, thì việc đầu tiên là học ngôn ngữ của nước đó. Muốn học ngôn ngữ bản địa, trước hết các thừa sai phải dùng mẫu tự Latin ghi âm tiếng nói của địa phương, đồng thời tiến hành biên soạn từ điển và ngữ pháp ngôn ngữ của đất nước đó. Các từ điển và ngữ pháp thường căn cứ theo mẫu các sách từ điển và ngữ pháp của tiếng Latin.

Dòng Tên Tỉnh dòng Nhật Bản bị chi phối bởi Bồ Đào Nha, trụ sở của dòng lúc ấy được đặt tại các lãnh địa của người Bồ ở Goa và Macau.Các nhà truyền giáo đương thời thuộc các quốc gia khác, phải được thụ huấn một thời gian trước khi lên đường đi truyền giáo. Vùng hoạt động truyền giáo của Tỉnh dòng bao gồm Trung Hoa, Nhật Bản, Macau và các vùng liền kề, trong đó có Đại Việt, thuộc quyền bảo trợ của Bồ Đào Nha. Nhân sự của Tỉnh dòng gồm nhiều quốc tịch, như: Ý, Pháp, Bồ, Nhật… trong đó đa số là người Bồ Đào Nha.

​Nhờ sự bảo trợ của Trần Đức Hòa, Khám lý Tuần phủ Qui Nhơn, cư sở tiên khởi của dòng Tên tại Đại Việt được thành lập tại Nước Mặn (Residentia di Pulocambi) vào Tháng 7 năm 1618. Từ năm 1618 – 1620, tại cư sở Nước Mặn có các nhà truyền giáo: Linh mục Pina (Bồ), Linh mục Borri (Ý), tu huynh Diaz (Bồ) và Linh mục Buzomi (Ý) là Bề trên của cư sở. Năm 1625, cư sở Nước Mặn của Linh mục Bề trên Buzomi có các linh mục: Gaspar Luis, Majorica và các tu huynh K’ieou, Nishi.

​Cha Bề trên Buzomi chú trọng thực hiện cụ thể Chỉ dẫn của Nhà dòng về việc tìm hiểu, học hỏi ngôn ngữ bản địa. Sử liệu dòng Tên cho biết, những năm 1618 – 1620 các thừa sai làm việc ở Nước Mặn, Đàng Trong là những người đầu tiên học và biết tiếng Việt.

​Theo Báo cáo thường niênnăm 1618, tại cư sở Nước Mặn có một thanh niên mười sáu tuổi, lanh lợi và thông minh, giỏi Hán văn, được dân làng yêu mến, là một tân tòng, tên thánh rửa tội là Phêrô. Dưới sự giám sát của cha Buzomi, anh giúp các thừa sai biên dịch sang tiếng địa phương quyển sách giáo lý gồm các kinh: Lạy Cha, Kính Mừng, Tin Kính, Mười điều răn… mà các Kitô hữu đã thuộc. Hiện nay, quyển sách giáo lý ấy chưa được tìm thấy, các nhà nghiên cứu cho rằng sách được soạn bằng chữ Nôm. Theo Linh mục Léopold Cadière, quyển sách giáo lý nầy được biên soạn bằng ngôn ngữ Đàng Trong, loại ngôn ngữ phổ thông (chữ Nôm)… Song song với việc biên soạn bằng chữ Nôm, sách cũng được phiên âm bằng mẫu tự Latin để các thừa sai được tiện dùng.

​Báo cáo thường niên năm 1619, chép: “Các thừa sai dòng Tên ở Nước Mặn là những người đầu tiên chuyên tâm nghiên cứu ngôn ngữ hơn bất cứ điều gì khác”. Cha Buzomi thành lập một trường học tại cư sở Nước Mặn, chọn một thầy giáo xuất sắc về chữ Hán và chữ Nôm để làm việc tại trường nhằm giúp các thừa sai trong việc nghiên cứu và ghi âm tiếng Việt, hoặc dịch các tài liệu cho các thừa sai.

Ba Linh mục dòng Tên đầu tiên tại cư sở Nước Mặn được ghi nhận có những đóng góp ban đầu trong việc dùng mẫu tự Latin ghi âm tiếng Việt, sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là: Bề trên Buzomi, Pina và Borri.

+ Francisco de Pina: Đến Đàng Trong năm 1617, chết năm 1625. Pina có 8 năm truyền giáo ở Đàng Trong. Bức thư được cho là của linh mục Pina viết tại Dinh Chiêm năm 1623, bằng tiếng Bồ, xen lẫn vài cụm từ Latin, Nhật hay Mã Lai và vài tiếng Việt Nam được ghi bằng mẫu tự Latin. Pina được ghi nhận là người nói tiếng Việt giỏi nhất trong các nhà truyền giáo lúc bấy giờ.

+ Cristoforo Borri: Đến Đàng Trong năm 1618, rời Đàng Trong năm 1622. Bốn năm ở Nước Mặn, Borri đã để lại một số câu từ “Quốc ngữ tiền Đắc Lộ” trong tác phẩm nổi tiếng: Relatione della nuova missione delli PP. della Compagnia di Giesù al Regno della Cocincina (Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong). Ông Thanh Lãng đếm trong bản dịch của Bonifacy có đến 94 từ Quốc ngữ, và trong tài liệu viết tay có rất nhiều chữ mang hình thức hệt như ngày nay. Thí dụ: tui, biết, mọi, càn…

+ Francesco Buzomi sinh năm 1574 tại Napoli (Ý), giáo sư thần học. Ông đến Macau năm 1608, sau đó qua Nhật. Năm 1615 đến Đại Việt, lúc đầu ông làm việc với người Công giáo Bồ ở cửa Hàn (Đà Nẵng), người Công giáo Nhật ở Hội An (Quảng Nam). Năm 1617 vào Nước Mặn, học tiếng Việt và bắt đầu truyền giáo cho người Việt. Với khả năng tổ chức tốt, ông đã sớm tìm kiếm những cộng tác viên ưu tú người Nhật, người Việt để giúp các giáo sĩ dòng Tên đến Đàng Trong học tiếng Việt. Từ năm 1618 – 1629, Linh mục Buzomi làm Bề trên cư sở Nước Mặn. Năm 1929, cùng với các thừa sai khác, Buzomi bị chúa Nguyễn trục xuất khỏi Đàng Trong, sang truyền giáo tại Cambodia (1629-1634). Năm 1934, từ Cambodia Linh mục Buzomi về Macau. Năm 1635 – 1639, Buzomi trở lại Đàng Trong với tư cách Bề trên miền truyền giáo. Năm 1639, lệnh chúa nguyễn Phước Lan trục xuất các thừ sai. Theo Linh mục Đỗ Quang Chính: “Francesco Buzomi… qua đời tại Áo Môn vì bệnh, ngày 01.7.1639”.

Linh mục Alexandre de Rhodes nhận định: cha Buzomi là vị tông đồ đích thực của Đàng Trong, người đã tận tụy lo việc truyền giáo, hoạt động trong hơn hai mươi năm với một sự kiên trì đáng được khen ngợi, ca tụng. Ngày 13.7.1626, Linh mục Buzomi viết một bức thư bằng tiếng Ý dài 4 trang gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi, Bề trên cả dòng Tên. Trong thư có một số chữ Quốc ngữ được viết theo lối cách ngữ như ngày nay:

Trình độ hiểu biết sâu sắc nghĩa từ tiếng Việt và tài năng điển chế từ ngữ tiếng Việt của Linh mục Buzomi trong thư kể trên được Đỗ Quang Chính ghi nhận:

“Trong thư nầy, Buzomi tỏ ra không tán thành các từ Thiên, Thượng Đế, Thiên Chủ Thượng Đế, Ngọc Hoàng; vì không chỉ rõ Đấng Tối cao theo giáo lý Công giáo (như Thiên, Thượng Đế), hoặc chỉ một thứ tín ngưỡng đã xuất hiện từ lâu ở Việt Nam (Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng Thượng Đế), hoặc cụm từ có tính cách hoàn toàn Trung Hoa (Thiên Chủ Thượng Đế), nên Buzomi ngã theo cách dùng từ ngữ Thiên Chúa , vừa vắn, vừa hợp với văn hóa xã hội Việt Nam, vì hai từ Thiên và Chúa đã quá quen thuộc trong xã hội nầy”.

Linh mục Đỗ Quang Chính cũng nhận định chữ Quốc ngữ của Linh mục Buzomi tiến bộ hơn so với các giáo sĩ cùng thời, trong thư 1626: “Nhìn vào những chữ Quốc ngữ của Buzomi, mặc dầu ít, nhưng đã thấy tiến triển, nếu đem so sánh với lối viết của João Roiz, C. Borri, Đắc Lộ, Gaspar Luis và Antonio de Fontes từ năm 1626 trở về trước”.

Thế nhưng, Linh mục Đỗ Quang Chính nêu danh sách gần mười vị góp công sáng tạo chữ Quốc ngữ thời kỳ đầu, gồm: Francisco de Pina, Cristoforo Borri, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, Alexandre de Rhodes, Filippo Marini, Bento Thiện, Igesico Văn Tín, mà không có tên Francesco Buzomi trong danh sách này!

Linh mục Daniello Bartoli (1608-1685) – Nhà sử học dòng Tên (cùng thời với Buzomi và Pina) nhận xét về trình độ hiểu biết tiếng Việt của Buzomi vào năm 1623 như sau: “Ngoài ra, với trí nhớ sâu sắc như một thiên tài cùng với sự nhiệt tình tuyệt vời của cha đã giúp cho cha học nhanh ngôn ngữ đó [Đàng Trong], nắm bắt tính đa nghĩa của từ, tính chất của các dấu nhấn và cung giọng được thể hiện theo ý muốn. Nhờ vậy, trong một thời gian ngắn, cha đã biên soạn từ vựng và luật mẹo ngữ pháp tốt đẹp”. Bartoli còn cho biết khả năng ngôn ngữ Đàng Trong của Buzomi và Pina: “Cha Pina và cha Buzomi là những thừa sai nắm bắt được ngôn ngữ thông dụng của Đàng Trong, có thể thuyết giáo, trao đổi với các nhân sĩ và các vị sãi, trong các việc riêng tư hay trong nơi công hội”.

Tuy nhiên, nhà nghiên cứu – Linh mục Roland Jacques đưa ra nhận định: “Nhà chép sử dòng Tên Bartoli cho rằng Buzomi sáng tác một hệ thống văn phạm và ngữ vựng. Một trong những chứng lý là một bức thư viết năm 1622 mà chúng tôi không thể tìm ra. Có thể có sự lẫn lộn với Pina chăng…”!

Bức thư bằng tiếng Bồ của Pina viết tại Đàng Trong năm 1622, gửi cha Giám sát dòng Tên là Jérónimo Rodrigues “senior”, chép: “Tại Pulo Cambi [Nước Mặn], cha Buzomi có ba ông sãi làm thay cha hết mọi việc. Vì thế, nếu xảy ra chuyện gì, hoặc có công việc gì phải điều hành hay chuyển tin tức quan trọng, cha phái một thông dịch viên, hay một trong ba ông sãi… Khi giờ giáo lý kết thúc, cha ra về, còn họ thì ở lại hoặc để ôn tập, hoặc để chuyện trò với các dự tòng”.

Vai trò của Buzomi trong việc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin sáng tạo chữ Quốc ngữ được ghi nhận khá mờ nhạt so với các nhà truyền giáo cùng thời, với lý lẽ thông thường được đưa ra là: cha Buzomi khi giao dịch hoặc giảng giáo lý cha dùng thông ngôn, nên cho rằng Buzomi không nói được tiếng Việt.

Việc Linh mục Buzomi thường xuyên sử dụng thông ngôn chứng tỏ Linh mục là người cẩn trọng, hơn nữa là một Bề trên, Buzomi còn có nhiều công việc khác. Chính Linh mục Buzomi đã cho biết trong bức thư viết vào tháng 5 năm 1622 gởi cho cha “kinh lược sứ”: “Ngôn ngữ xứ này rất khó vì ý nghĩa của nó được phân biệt bằng thanh điệu hơn là từ ngữ. Tôi bị bệnh lâu ngày và làm việc liên tục, điều đó không cho phép tôi chờ đợi qua thời gian dài. Do đó, khi dạy giáo lý, tôi luôn sử dụng thông ngôn. Tôi hỗ trợ anh ta và gợi ý cho anh ta từng bước một những gì anh ta phải nói và hướng dẫn anh ta nếu có điều gì có thể bị hiểu nhầm. Và như thế những gì anh được nói, nó có giá trị như chính tôi đã nói”.

Sử gia Bartoli đã ghi nhận: “Khi Linh mục không đủ tự tin vào khả năng ngôn ngữ của mình để rao giảng chân lý đức tin, Linh mục dùng thông ngôn, người mà trước đó đã được Linh mục đào tạo vững vàng về kiến thức đức tin để có thể giải nghĩa cho dân chúng. Trước tiên Linh mục cố gắng diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình, sau đó thông ngôn người Đàng Trong nói lại bằng ngôn ngữ Đàng Trong của anh bằng những từ diễn đạt chính xác ý nghĩa, nói được như bản sao của bản chính”.

Linh mục Borri, một trong hai thừa sai (Borri và Pina) được cho là nói thạo tiếng Việt vào thời điểm 1620. Tuy nhiên, Borri bối rối, từ chối dạy giáo lý cho Bà vợ sứ thần được cử đi sứ Cambogia khi bà xin học giáo lý để được rửa tội trước khi lên đường. Linh mục Borri viết: “…Sau đó, tôi xin lỗi bà vì tôi không thể đáp ứng ngay lập tức ước nguyện thánh thiện và đúng đắn của bà, vì cho dù tôi đã có chút ít hiểu biết về ngôn ngữ Đàng Trong, tuy nhiên không đủ để giảng dạy những điều cao thượng và những mầu nhiệm cao cả của Kitô giáo. Vì thế, tôi xin bà nên đợi Cha Buzomi, trong một vài ngày nữa sẽ từ Đà Nẵng trở về cùng với một thông ngôn tài giỏi, nhờ đó bà sẽ được hướng dẫn thỏa đáng và sẽ làm cho bà hài lòng về ước nguyện thánh thiện của bà… Nhờ người thông ngôn này cùng với tính siêng năng, cần mẫn và chú tâm học giáo lý vào hai giờ buổi sáng và hai giờ buổi chiều trong suốt 15 ngày, bà đã học đầy đủ giáo lý của đạo thánh chúng ta. Bà cảm kích việc Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người vì yêu thương nhân loại. Sau khi được cha Buzomi giảng giải giáo lý, bà đã được rửa tội tại nhà thờ Nước Mặn cùng với hai mươi lăm người phụ nữ khác. Bà chọn thánh Ursula làm bổn mạng”. Tự thuật của Borri đã chứng minh việc Linh mục Bề trên Buzomi sử dụng thông ngôn là cần thiết; các thừa sai dù thông thạo tiếng Việt nhưng chưa đủ khả năng truyền đạt giáo lý, những chân lý về đạo cho người Việt.

Cần lưu ý, các thừa sai thường phải học ngôn ngữ của nơi đến truyền giáo là để giải tội. Việc xưng tội và giải tội là chuyện hoàn toàn “riêng tư” của người xưng tội và Linh mục giải tội, không thể có người thứ ba phiên dịch. Các Linh mục nghe hiểu người xưng tội xưng những tội gì, thì mới có thể giải tội được.

Linh mục Buzomi còn có vai trò đặc biệt đối với trường dạy Quốc ngữ đầu tiên cho các nhà truyền giáo tại Nước Mặn và là thầy dạy tiếng Việt tại Nước Mặn cho các Linh mục: Emmanuel Borgès (Bồ) và Giovanni di Leira (Ý) (đến 1622), Gaspar Luis (Bồ) và Girolamo Majorica (Ý) (đến 1624). Linh mục Girolamo Majorica là học trò của Buzomi tại Nước Mặn từ năm 1624 – 1629. Năm 1632, ông đến Đàng Ngoài, làm Bề trên giáo đoàn Đàng Ngoài, ông qua đời năm 1656 tại Thăng Long. Trong khoảng 30 năm hoạt động truyền giáo ở Đại Việt (cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài) ông đã khởi xướng và chủ biên tới 48 tác phẩm lớn nhỏ bằng chữ Nôm. Hiện nay, Thư viện Quốc gia Paris lưu trữ 15 cuốn với 4.200 trang. Mỗi trang có từ 9 đến 12 dòng, mỗi dòng có từ 30 đến 34 chữ Nôm, tổng cộng có 1.400.000 chữ. Có thể nói, Girolamo Majorica là “nhà Nôm học”, một hiện tượng độc đáo trong lịch sử ngôn ngữ và văn học Việt Nam, ông có một chỗ đứng thật đặc biệt, đại diện cho văn xuôi Nôm thế kỷ XVII.

Với tư cách là Bề trên, Linh mục Buzomi triển khai chỉ dẫn các thừa sai, vừa là người tổ chức, vừa là người đôn kiểm, giám sát, vừa là người đồng hành, vừa là thầy dạy tiếng Việt. Ông đã tham gia việc nghiên cứu và sáng tạo chữ Quốc ngữ một thời gian khá dài – trên 20 năm ở Đàng Trong, thời gian đầu cùng với Linh mục Pina, Linh mục Borri và một số người Việt tại Nước Mặn, thời gian sau với các Linh mục: Emmanuel Borgès,Giovanni di Leira, Gaspar Luis và Girolamo Majorica…

Linh mục Bề trên Buzomi là nhân vật số một trong buổi đầu truyền giáo của dòng Tên ở Đàng Trong. Giống như Pina và Borri, Buzomi cũng chỉ ký âm tiếng Việt, biên soạn từ vựng và luật mẹo ngữ pháp sử dụng cho riêng mình học tiếng Việt, cả ba nhà truyền giáo tiên phong chưa làm được công việc mà sau đó các giáo sĩ Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa và Alexandre de Rhodes thực hiện, đó là biên soạn Từ điển. Thế nhưng, không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của Linh mục Bề trên Buzomi đối với việc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin sáng tạo ra “chữ Quốc ngữ tiền Đắc Lộ” cùng hai giáo sĩ Pina và Borri tại cư sở tiên khởi Nước Mặn.

​​​​​​​​​​NTQ

Read Full Post »

Nguyễn Văn Sâm

Những cây bút nữ bất kỳ là ai, có danh hay chưa tạo được chỗ đứng trong văn học của nước mình, theo tôi đều là những cây bút đặc biệt. Họ có những cái nhìn khác với người viết thuộc tính phái khác. Sâu sắc về mặt tình cảm, nhẹ nhàng trong câu văn, lắm khi có những nhận xét tế nhị bất ngờ làm ngạc nhiên người đọc.

Nhà văn nam, kể cả người nghiêng nhiều về mặt thi ca, có khuynh hướng bộc lộ nhiều về mặt lý trí, Phan Khôi trong bài Tình già chẳng hạn, trong khi đó người viết nữ, ngay cả những bài phê bình, nhận định văn học, ta cũng thấy chan chứa nhiều điều tình cảm. Ba bài nhận định của ba người phê bình nữ Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Cao Thị Hồng trong tập  lấp lánh những tình cảm hơn là các suy luận cần nhiều lý trí, nhức đầu.  Đó là cái điều trời cho riêng phái nữ chăng? Cái phong tư trời xếp đặt để nam phái có  điều để so bì ganh tỵ chăng?

Trong cái chấp nhận tiên thiên đó, tôi đọc tập truyện ngắn Vàng trên biển đá đen của Elena Pucillo Trương. Và tôi thấy rõ hơn tình cảm của người phụ nữ. Ở đây không phải là tình cảm gái trai yêu đương mà là tình cảm của người với người, một cảm thức của con người bằng cái máy tính trước mặt và tấm lòng thương cảm tương thông trước nỗi bất hạnh, nhứt là nỗi bất hạnh của người phụ nữ.

Xin sẽ không làm việc phân tích để giới thiệu nhà văn nữ nầy với người đọc. Việc đó đã có ba cây bút nữ nói trên và biết bao nhiêu người khác nữa trong và ngoài tạp chí Quán Văn, những người khá nổi tiếng đương dạy văn học ở ba miền Bắc Trung Nam, lo việc nầy.

Từ trước đến giờ tôi thường tránh né sự việc nói chuyện bên ngoài tác phẩm khi luận về một tác giả, như kiểu đi tìm tiểu sử thiệt chính xác về ngày sanh tháng đẻ, về dòng dõi, thời đại và cả lý do sáng tác. Tôi đọc tác phẩm và luôn luôn coi tác phẩm là một vật thể kỳ bí để nhìn nó, suy nghĩ về nó rồi giới thiệu với độc giả mong giúp người đọc sau mình hiểu tác phẩm hơn – ít ra là hiểu theo cách nào đó mà người giới thiệu còn để lại chút ít ý tưởng bằng bài viết của mình sau khi độc giả buông bài vừa đọc xuống. Tôi  không đi theo trường phái dòng dõi, huyết thống, cũng không đi theo trường phái xã hội hay bất kỳ triết thuyết nào đó dầu được  theo dõi bởi số đông hay được thổi phồng lên tận mây xanh vào hàng siêu việt. Tôi coi tác phẩm là vật hiện diện tự thân, nó sau khi ra đời, đã có mặt và tách rời khỏi người tạo ra nó, đã đứng ở giữa chợ  đời văn học, dính dáng với tác giả chỉ vì cái ID của nó. Nếu chẳng may nó chẳng có ID như những tác phẩm vô danh tràn đầy trong nền văn học Việt Nam hay tác phẩm có tên người viết nhưng  chẳng ai biết tiểu sử ông/bà ấy cũng chẳng thể đoán định được chính xác  ông/bà ấy sống vào thời nào. Và tôi có bổn phận phải tìm hiểu chính nó và chỉ chính nó mà thôi, bằng cách đọc và ghi lại những cảm tưởng của mình.

Đọc quyển Vàng trên biển đá đen, truyện nầy, rồi đọc truyện kia, chắc hẳn nhiều người như tôi, thỉnh thoảng lật lại cái bìa để kiểm chứng lại coi bài viết nầy văn phong nọ phải chăng của một người ngoại quốc. Kiểm chứng lại vì tôi thấy như là cây bút của người Việt Nam thuần túy. Câu chuyện Việt Nam, bối cảnh Việt Nam, nỗi đau  thương Việt Nam, những éo le tình tiết Việt Nam. Tấm lòng của tác giả tràn đầy xúc cảm Việt Nam. Và nhứt là văn phong Việt, thuần Việt.

Viết đến đây tôi nhớ đến cặp sinh vật huyền thoại, một đàng không mắt mà chân cứng đá mềm, một đàng có mắt rất sáng để chỉ đường phải đi để tránh những nguy hiểm. Và cặp vợ chồng tri kỷ Elena Pucillo- Trương Văn Dân đã ở trong trường hợp đó. Nếu không có những bản dịch đầy chất văn chương được gọt dũa với tình nồng và sự thông hiểu tâm hồn nhau tường tận bằng mấy chục năm yêu thương vợ chồng thì chúng ta không có bản tấu khúc rất Việt Nam Vàng trên biển đá đen của một người phụ nữ đến từ xa xôi của trời Âu nước Ý.

Tôi có nhiều dịp được anh Dân và chị Elena  tiếp chuyện. Chị  ít nói, trầm ngâm thì nhiều, đó là vấn đề ngôn ngữ, nhưng khi chị nói thì chữ dùng ít mà chính xác, lại líu lo rất vui. Tôi hiểu trở ngại chút xíu ngôn ngữ của nhà chồng, nhưng chị có tấm lòng của người vợ yêu quê hương nhiều đau khổ của chồng nên chị nói ra bằng tác phẩm. When we speak, we are afraid our words will not be heard or welcomed. But when we are silent, we are still afraid, so it is better to speak. (Aude Lorde). Và Elena đã nói lên bằng bao nhiêu bài văn của mình. Tất cả đều được chào đón nồng nhiệt.

Một nhà văn nữ nào đó có nói ‘thiên tài thì có tức thời, liền ngay, còn tài năng thì cần phải có thời gian để hình thành. Với tôi, cái thời gian để hình thành đó quá ngắn trong trường hợp Elena Pucillo Truong. Nó không cần thiết phải kiểm nghiệm bằng thời gian mà kéo dài chi cho vô ích!

Và tôi mỉm cười vui: Vào thời đại toàn cầu hóa, chúng ta có một nhà văn Việt đặc biệt: Elena Pucillo Truong cũng như chúng ta có biết bao nhiêu cô dâu ngoại quốc theo phong tục Việt Nam một cách thuần,thục, biết nấu canh kho cá theo kiểu Việt Nam.

Nói theo Khổng Tử xưa: Bất diệc lạc hồ? Thế chẳng vui sao?

Nguyễn Văn Sâm, Tháng Tám 2018

Read Full Post »

Phan Trường Nghị

Tháp Thầy Bói tọa lạc trên một cụm đá nổi lên giữa đầm Thị Nại, từ lâu đã là một danh thắng của TP Quy Nhơn. Xung quanh nguồn gốc địa danh này có nhiều giả thuyết khác nhau. Cùng với đó cũng có một số thông tin lịch sử thiết nghĩ rất nên nhắc lại để ít nhất có thể tăng thêm phần thú vị cho du khách khi đến tham quan nơi này.

1. Trong tác phẩm Nước Non Bình Định, Quách Tấn viết: “Trong đầm ở phía Tây, gần phía Qui Nhơn nổi lên một cụm đá rộng, chừng một vài sào và cao chỉ trên mặt nước chừng một thước, một thước rưỡi khi thủy triều lên. Người ta gọi là tháp Thầy Bói. Không hiểu tại sao lại gọi thế. Có người bảo rằng xưa kia có một bốc sư bói hay như thần, xây một tòa tháp tại đó. Ai muốn hỏi phải chịu khó đi thuyền ra. Sau khi bốc sư qua đời, tháp không có người coi ngó bị sóng gió phá hoại. Hiện trên mỏm đá có một miếu nhỏ do anh em ghe thuyền lập để thờ thủy thần”…

Tháp Thầy Bói. Ảnh: QUỐC TUYÊN

Nhưng khoảng trăm năm trước đó, quãng năm 1870, sách Đại Nam Nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn khi mô tả đầm Biển Cạn – một tên gọi cổ xưa của đầm Thị Nại – đã chép như sau: “Nước đầm đổ vào cửa Thị Nại, trong đầm có một núi nhỏ tục gọi Tháp Thầy Bói, phía tả là Gành Hổ, phía hữu là Bãi Nhạn. Lại phía tả có Vũng Tàu, Gành Triều, là Bãi Sò, là Mũi Cổ Rùa, phía Bắc có thôn Huỳnh Giản”.

Điểm dễ nhận ra là ở khu vực quanh tháp Thầy Bói có một số địa danh có tên: Bãi Nhạn, bãi Sò, gành Hổ, mũi Cổ Rùa… cho thấy những địa danh quanh đây hầu như đều gắn liền với tên các con vật. Có con sống trên cạn (hổ), con dưới nước (sò), con ở trên không (nhạn), có con vừa ở đất vừa ở nước (rùa). Thế nên địa danh tháp Thầy Bói còn có thêm một cách giải thích khác, theo đó rất có thể đã trùng lặp với tên một loài chim là chim thầy bói, còn gọi là chim bói cá – loài chim thường tụ ở các gành đá để bắt mồi. Cụm đá nhô lên giữa đầm Thị Nại trông như ngọn tháp mà thành tên. Xem ra nó hợp lý hơn là chuyện có ông thầy bói trú ngụ ở am giữa đầm mà rồi thành tên địa danh.

Vậy cái am/miếu xây dựng trên cụm đá giữa đầm có từ lúc nào? Tục thờ cúng thần vật của người Việt đã có từ ngàn xưa, ngư dân quanh đầm Thị Nại sống nhờ vào con tôm con cá đâu chỉ mới gần đây. Chuyện dân gian tự xây một cái am để thờ thủy thần, cầu cho suôn sẻ hằng năm mưu sinh là chuyện thường có. Có lẽ từ khi có người định cư và lấy sông, biển đầm làm chốn mưu sinh, am/miếu cũng đã có ngay sau đó không lâu.

2. Vào thời Tây Sơn, có một sứ đoàn người Anh đến Quy Nhơn xin yết kiến vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, đặt vấn đề bang giao, thông thương, trao đổi hàng hóa. Trưởng đoàn sứ đoàn này Charles Chapman sau đã tường trình lại chuyến đi này cho Toàn quyền Anh và Công ty Đông Ấn thuộc Anh ở Bengal, trong đó có đề cập việc vua Thái Đức Nguyễn Nhạc đã tổ chức một buổi hiến tế ở vịnh Quy Nhơn hôm 26 tháng 7 năm 1778. Đoạn tường thuật như sau: “Trên đường từ triều về chúng tôi gặp nhà vua vượt qua. Nhận được vài tin xấu về lực lượng thuyền chiến ở Đồng Nai, ông sắp sửa cử hành nghi thức hiến tế tại một ngôi miếu ở trong vịnh nơi tàu của chúng tôi neo đậu” (British Mission to CochinChina). 

Charles Chapman kể: “Sau đó chúng tôi trông thấy ông vượt sông và cập bờ tại đền thờ. Ông ở trong một chiếc thuyền có mái che, cùng tham dự có 5 hoặc 6 thuyền chèo với chừng 200 người”.

Thử hình dung nơi vua Thái Đức tổ chức hiến tế là một ngôi đền ở giữa vịnh Quy Nhơn, thì đó có lẽ không thể khác hơn chính là cái am/miếu trên cụm đá giữa đầm Thị Nại. Nói cách khác tháp Thầy Bói với đời sống, sinh hoạt tâm linh đã xuất hiện trong thời Tây Sơn. Đoạn tường trình trên cũng hé ra thêm một chi tiết vua Thái Đức Nguyễn Nhạc “nhận được tin xấu ở Đồng Nai”, nói cách khác chính là sự biến liên quan đến đội quân Tây Sơn ở Gia Định.

Nguyên tháng 2 năm Mậu Tuất 1778, vua Thái Đức Nguyễn Nhạc sai Tổng đốc Chu, Tư khấu Uy (Oai) từ Phiên Trấn (Gia Định) đánh phá ra các địa phương ven sông, phái Hộ giá Phạm Ngạn từ Quy Nhơn vào Bình Thuận, đem thủy sư đánh lấy Trấn Biên (Biên Hòa). Bấy giờ Nguyễn Ánh xưng vương, được quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn hỗ trợ, tổ chức phản công. Tin tức xấu khiến một ông vua phải cử hành một nghi thức như thế phải tương đối lớn, trong khung thời gian ấy chính là việc tổn thất thủy binh và Tư khấu Oai bị quân Đông Sơn chém chết trong chiến trận Bến Nghé tháng 5 năm Mậu Tuất. Và như thế có thể thấy rằng từ thời Tây Sơn, am/miếu trên cụm đá giữa đầm Thị Nại – nơi mà ngày nay ta quen gọi là tháp Thầy Bói, đã có vị trí không hề tầm thường.

3.Tháp Thầy Bói hiện nay chưa là di tích tâm linh, nhưng ngoài ngôi miếu xưa nay đã được sửa sang lại, một vài công trình nhỏ khác mang dáng dấp kiến trúc tín ngưỡng đã mọc lên. Những công trình trên cụm đá giữa đầm không còn mang ý nghĩa cầu an cho việc mưu sinh sông nước, để ngư dân thêm niềm tin khi vượt qua đầu sóng ngọn gió; chúng cũng không phải là nơi ghi nhớ cho biết bao xương trắng trầm lắng dưới đáy đầm từ những cuộc lửa binh giữa hai phe Nguyễn Tây Sơn và Nguyễn Gia Miêu. Cũng không mấy người nhớ đến việc vua Thái Đức Nguyễn Nhạc từng thực hiện nghi thức hiến tế, nhang khói tưởng nhớ cho binh lính của ông nằm xuống ở Gia Định năm 1778. Một điểm đến thu hút nhiều du khách có lẽ nên được hoàn chỉnh thông tin giới thiệu để tránh việc vẽ vời ly kỳ hóa, hoặc dị đoan hóa một danh thắng ở sát bên trung tâm TP Quy Nhơn.

PHAN TRƯỜNG NGHỊ

Nguồn Báo Bình Định

Read Full Post »

Tiểu Mai

             

                                                     “Trò chuyện với thiên thần – Những tai họa thế giới và giấc mơ Việt Nam

                                                                   Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. ( 6.2020)

          Nhà Văn  Kiều Bích Hậu đã giới thiệu bài viết của Tiểu Mai về Trò chuyện với thiên thần đăng trên trang Kết nối văn học thế giới (www.worldliterature.link) và trên Facebook cá nhân : “Một cuốn sách mà bạn có thể đọc lúc thảnh thơi để tìm được sự đồng cảm, nhưng cũng có thể đọc lúc tâm trí rối bời để tìm về bình an.”

“Trò chuyện với thiên thần – Những tai họa thế giới và giấc mơ Việt Nam” là một cuốn sách lạ lùng! Nó lạ từ cái tựa cho đến thể loại mà tác giả lựa chọn. Nhưng nếu có thể vượt qua giây phút e dè ban đầu để mà tiếp cận sách, thì chắc chắn nó sẽ lập tức biến thành thỏi nam châm hút người đọc ngay từ trang đầu tiên.

Xa lạ mà gần gũi,

Hiểu được băn khoăn thông thường của độc giả nên Trương Văn Dân đã có đôi dòng giải thích ngay rằng: “Độc giả chắc sẽ bất ngờ về quyển sách này và nghĩ rằng các đề tài đề cập trong sách đều xa lạ với cái thế giới mà ta đang sống, vì đó chỉ là một cuộc trò chuyện với một nhân vật siêu việt: Thiên thần.

Nhưng hoàn toàn không phải vậy, đó là quyển sách có những câu chuyện liên quan đến đời sống chúng ta, đến thân phận làm người, dù là nam hay nữ, trong cuộc sống hàng ngày.”

Tất nhiên rồi, dù là hư cấu đi chăng nữa, nếu không liên quan đến đời sống thì sẽ chẳng mấy ai tìm đọc. Nhưng “Trò chuyện với thiên thần – Những tai họa thế giới và giấc mơ Việt Nam” rõ ràng không phải là hư cấu. Bởi vì, tác giả trò chuyện với nhân vật tưởng tượng để nói với một tương lai hiện thực. Nhà văn Vũ Ngọc Tiến nói: “Nếu gọi đây là một giáo trình tổng hợp về nhân loại học như một “Bách khoa thư” về cuộc sống cũng không sai bởi mỗi lần trò chuyện của người cha với thiên thần nhỏ bé là một bài giảng bao chứa các vấn đề triết học, tôn giáo, đạo đức học, xã hội học; thậm chí cả những vấn đề về chính trị học, kinh tế học của thế kỷ XX vắt qua hai thập niên đầu của thế kỷ XXI như chiến tranh, toàn cầu hóa kinh tế, cách mạng tin học,…”

Xem chừng “nội thất” cuốn sách này hầu hết đều là những chủ đề đau đầu buốt óc và có vẻ khô khan, nhưng làm thế nào nó vẫn “thao túng” được người đọc, đến mức không thể đọc lướt mà phải đọc thật kỹ, thậm chí đọc đi đọc lại những đoạn làm họ tâm đắc?

Câu trả lời vẫn nằm gọn trong hai chữ: Thực tếđặc tính bám rễ và ăn sâu vào phong cách viết của Trương Văn Dân. Nói cách khác, những câu chuyện thực tế được tác giả quan sát, ghi nhớ để rồi viết ra bằng lối văn chương chân thật và minh triết, khiến những người bạn tri âm của ông cũng phải ngưỡng mộ. Nhà văn Đặng Châu Long nói: “Trò chuyện với thiên thần là một tác phẩm văn học dành cho ai yêu quá đỗi đời này”. Nhà văn Elena Pucillo Truong thừa nhận: “Đây là một quyển sách để chúng ta dừng lại và suy nghĩ.”

Không dừng lại để mà suy nghĩ sao được khi mà mỗi trang sách của Trương Văn Dân đều có một đoạn, thậm chí nhiều đoạn khiến người đọc chỉ muốn ghim ngay vào cuốn sổ ghi chú: “Chừng tuổi này, tôi quá hiểu là của cải không nằm lâu trong bàn tay của một người mà nó luôn được chuyển từ tay người này sang tay người khác. Chủ tài sản giống như những người ở trọ trong khách sạn hay hành khách trong một toa tàu: Tuy có mặt, nhưng chẳng bao giờ được ở lâu.

Trong nhịp sống mới, áp lực của người trẻ giống như một vận động viên điền kinh không tìm được vạch chiến thắng. Chạy miệt mài nhưng chạy đến đâu cũng không tìm thấy vạch cuối cùng.”

Hiện nay không chỉ ở Nhật dù xã hội phát triển, có internet và các mạng xã hội nhưng nỗi cô đơn đã trở thành bệnh dịch toàn cầu!

Nếu có một người nào đó hỏi ba: Bạn muốn con mình lớn lên sẽ trở thành gì? Luật sư? Bác sĩ? Kỹ sư? Nhà quản trị?, ba sẽ không ngần ngại trả lời: Hạnh Phúc.

Vì mỗi khi gặp nhau, phần lớn mọi người sẽ hỏi con: Con làm việc ở đâu? Công ty nào? Lập gia đình chưa? Có mấy con? Đã mua nhà chưa? Mua xe chưa?… như thể cuộc đời chỉ là bảng liệt kê những món hàng. Phần lớn đều xây nhà trên sa mạc mà cứ tưởng là vững chãi. Nhưng chỉ cần một câu hỏi thì tất cả những thứ đó liền chao đảo: Con có hạnh phúc không?

Thực ra thì ai cũng tin là mình đã hành động đúng, nhưng theo ba chỉ có một cách để kiểm chứng: Nếu không bình an và hạnh phúc có nghĩa là mình đã sai lầm.”

Là một độc giả đã thẩm rất kĩ cuốn sách “Trò chuyện với thiên thần”, nhà văn – nhà nghiên cứu văn học Nhật Chiêu khẳng định: “Tác giả hẳn sẽ nhận được đồng cảm tri âm bởi ông đã thắp lên một que diêm cho mỗi đêm buồn mất ngủ.

Đồng hành với cuốn sách này, độc giả sẽ thấy thiên thần thực ra cũng rất gần gũi, trong sáng, luôn ôm ấp và che chở chúng ta bằng đôi cánh mềm mại, làm bất cứ việc gì cũng bằng trái tim dù trong linh hồn họ luôn có rất nhiều vết sẹo…

Thức tỉnh để cứu rỗi mình thoát khỏi sự tự hủy diệt

Trương Văn Dân đam mê cống hiến cho nghề viết đến mức ông không cần người ta phải gọi tên sách của mình sao cho đúng.

Tôi chỉ viết với ý muốn được chia sẻ những suy nghĩ về cuộ sống và mong bạn đọc hiểu cho rằng những trang viết của tôi là không vô nghĩa, không giáo điều. Vả lại, những điều tôi nói cũng chưa hẳn là mới, mà chủ yếu chỉ là những nhận thức chung và ước muốn nhìn thẳng vào sự thật. Tôi cũng như bạn, không ai có thể chắc chắn về điều gì. Bản chất của cuộc đời là đổi thay liên tục. Khi chúng ta tưởng có mọi câu trả lời thì những câu hỏi đã bất ngờ thay đổi”, Trương Văn Dân tỉ tê như thế trong cuốn sách “Trò chuyện với thiên thần”.

Có lẽ, số đông độc giả sẽ đồng tình với nhà Elena Pucillo Truong, rằng “Trò chuyện với thiên thần” khiến chúng ta dừng lại và suy nghĩ. Động thái này của độc giả chính là thành công của tác giả bởi vì, “Đời sống không phải là một trò chơi trên mạng ảo nên khi ý thức được điều này sẽ làm nhiều người vô cùng khổ sở. Trong đời sống thực chúng ta đau khổ, chúng ta chết mà không thể nào tránh khỏi. Nhưng chúng ta không thể chạy trốn khổ đau bằng cách ngắt điện hay tắt chiếc điên thoại di động. Chúng ta hiểu là sự tiến bộ có thể giúp ích cho con người nhưng con người cũng cần phải phát triển những kỹ thuật có đạo đức, và chỉ có thế chúng ta mới mong cứu rỗi mình thoát khỏi sự tự hủy diệt, trước khi chạy đến điểm không còn có thể quay lại.”

 Nguồn :

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »