Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Nghiên cứu và phê bình văn học’ Category

.Đặng Phú Phong

Tại sao con chữ?

.

Có thể nói ngắn gọn:

Con chữ là chữ đã có linh hồn.

Chữ thường chỉ là ký hiệu.

Con chữ là chữ đã được cảm xúc và ý thức của người viết làm cho sống dậy.

Từ “con chữ” là một cách nói rất giàu sắc thái trong tiếng Việt, đặc biệt trong văn chương và nghề viết. Nó không chỉ đơn giản là “chữ”, mà mang nhiều tầng nghĩa biểu tượng.

1. Nghĩa trực tiếp

• “Chữ”: ký tự, ngôn từ.

• “Con”: trong tiếng Việt thường dùng để nhân cách hoá hoặc làm cho sự vật trở nên sống động (con chữ, con nước, con sóng, con đường…).

Vì vậy “con chữ” hàm ý:

chữ có đời sống riêng, có chuyển động, có linh hồn.

2. Trong cảm nhận của người viết

Nhà văn, nhà thơ thường nói:

– “nuôi con chữ” – chăm chút từng chữ.

– “đi tìm con chữ” – tìm đúng chữ diễn tả cảm xúc.

– “con chữ chạy trên trang giấy” – chữ như sinh vật đang di động.

Ở đây chữ không còn là ký hiệu, mà trở thành một sinh thể của tư tưởng.

3. Ý nghĩa sâu hơn:

Trong văn chương, “con chữ” gợi lên một số ý:

– Chữ có số phận

Một chữ đặt sai có thể làm hỏng cả câu văn.

– Chữ có tính cách

Có chữ mềm, chữ lạnh, chữ thô, chữ sang.

– Chữ có linh hồn

Người viết giỏi là người thổi được hơi thở vào chữ.

Nhiều nhà văn coi chữ như sinh thể:

• Nguyễn Tuân: “mỗi chữ phải có hồn”.

• Bùi Giáng nói tới “chữ nghĩa lang thang”.

• Người làm thơ thường nói “con chữ bay lên”.

Cá nhân tôi từng viết: Chữ gọi chữ, màu gọi màu”

Nếu nhìn theo góc độ thi ca thì “con chữ” còn có thể hiểu:

Mỗi con chữ là một sinh linh nhỏ được sinh ra từ trí nhớ và nỗi đau của người viết.

.

Đời sống của con chữ

.

Người viết nào cũng biết rằng mỗi chữ đều có một tính cách riêng. Có chữ mềm như gió, có chữ lạnh như kim loại, có chữ thô ráp như đá. Khi đặt cạnh nhau, chúng không chỉ tạo thành nghĩa mà còn tạo thành nhịp thở.

Vì vậy, viết văn không chỉ là chọn chữ đúng nghĩa, mà còn là chọn chữ đúng khí chất. Một chữ quá nặng có thể làm câu văn trở nên khô cứng. Một chữ quá nhẹ lại khiến câu văn mất đi sức nặng cần thiết. Người cầm bút vì thế phải lắng nghe chữ, giống như người nhạc sĩ lắng nghe âm thanh của từng nốt nhạc.

Nhiều khi người viết tưởng rằng mình điều khiển chữ, nhưng thực ra chính chữ lại dẫn dắt người viết. Có những câu văn được sửa đi sửa lại nhiều lần, chỉ vì một chữ chưa chịu đứng vào đúng chỗ của nó.

Những nhà văn lớn thường rất nghiêm khắc với chữ. Nguyễn Tuân từng nổi tiếng là người cân nhắc từng chữ một trong câu văn. Còn Bùi Giáng lại nhìn chữ nghĩa như những sinh thể lang thang trong cõi ý thức.

Có lẽ vì vậy mà đối với người viết, chữ không phải là vật chết. Mỗi chữ đều mang theo nhịp sống riêng của nó. Và khi những chữ ấy gặp được nhau đúng lúc, đúng chỗ, câu văn sẽ bắt đầu thở.

Đó chính là lúc đời sống của con chữ bắt đầu hiện ra.

,

Số phận của con chữ

.

Khi người viết đặt dấu chấm cuối cùng, con chữ bắt đầu rời khỏi người đã sinh ra nó. Từ giây phút ấy, nó không còn thuộc về người viết nữa.

Con chữ đi vào đời sống của người đọc.

Có những chữ rất nhỏ, nhưng lại sống rất lâu. Chúng lặng lẽ nằm lại trong trí nhớ của con người, giống như một hạt giống ngủ yên trong đất. Nhiều năm sau, khi gặp một hoàn cảnh nào đó, người ta chợt nhớ lại một câu văn, một dòng thơ. Lúc ấy con chữ lại thức dậy.

Nhưng cũng có những con chữ chết rất nhanh. Chúng được viết ra rồi rơi vào quên lãng, như một tiếng nói tan vào gió.

Vì thế số phận của con chữ không nằm hoàn toàn trong tay người viết. Người viết chỉ có thể sinh ra nó. Còn nó sẽ sống bao lâu, đi xa đến đâu, điều đó phụ thuộc vào thời gian và vào người đọc.

Có lẽ đó là điều kỳ lạ nhất của văn chương. Một chữ rất nhỏ, được viết ra trong một khoảnh khắc riêng tư, đôi khi lại có thể đi rất xa trong đời sống con người.

Và khi điều đó xảy ra, con chữ đã vượt qua người viết để bước vào đời sống của chính nó.

Read Full Post »

Tâm Nhiên

  1. An Nhơn Vờn Trăng Nước Trường Thi

Đặng Tấn Tới là thi sỹ của đất trời. Anh từ vũ trụ, càn khôn đến đây để rong chơi, Chơi Trong Buổi Hội Mấy Màu Thanh Thiên, như một bài thơ mà anh đã viết cách đây hơn nửa thế kỷ.Với anh, thi ca là Hơi Thở:

“Một hơi vừa đi mất
Cho ta hơi mới đầy
Chan hòa hương màu đất
Vui trời chơi gió bay”

Gió bay mây nổi, hòa chan cùng vạn hữu, phiêu hốt một hồn thơ vừa cao rộng vừa sâu thẳm, trầm lắng, thung dung với nụ cười hiền, thiên lương như sông nước Trường Thi mà thuở nhỏ, anh thường hay chạy ra bơi lội, rỡn đùa chơi với sóng thơ và hoa nắng…

Trăng gió An Nhơn, vờn mộng quê nhà Bình Định lung linh đã sinh ra thi sỹ ngày 24 tháng 2 năm 1943. Hoa đồng cỏ nội, bờ tre, vườn chuối, hàng cau, cánh đồng, bến sông quê, trăng sương, gió núi, biển ngàn là dưỡng chất thiên nhiên một thời tuổi trẻ, thanh xuân, rực ngời cả trời thơ đất mộng bồng bềnh…

Rồi lớn lên giữa không khí Đường thi Quách Tấn, Đông Hồ, Yến Lan, Vũ Hoàng Chương và lãng mạn đầy sáng tạo Bùi Giáng, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Xuân Diệu, Đinh Hùng, Bích Khê, Chế Lan Viên….Hít thở bầu không khí văn chương dị thường, chứa chan tình cảm đó, cho nên khi vừa mới 15, 16 tuổi, câu hỏi bất ngờ đầu tiên của anh là Thơ là gì? Thi ca là cái chi? Một câu hỏi như một công án Thiền mà bình sinh trong cuộc sống, anh luôn trăn trở, thắc mắc thành một mối đại nghi suốt ngày đêm không ngừng nghỉ. Thi ca là gì? Ngay cả Bùi Giáng cũng không trả lời được:

“Con chim thì ta biết nó bay
Con cá thì ta biết nó lội
Thằng thi sỹ thì ta biết nó làm thơ
Nhưng thơ là gì?
Thì đó là điều
Ta không biết!”

  1. Thi Ca Là Gì?

“Thi ca trời đất là da
Thịt xương máu tủy thơ là trăng sao
Núi xanh sông trắng lộn nhào
Những khi gió thoảng mưa rào chợt ghi”

Thi sỹ tự hỏi, tự đáp như thế, rồi cao hứng, bừng cháy lên ngọn lửa đam mê đầy quyến rũ, liền vội ghi lại hàng trăm bài thơ đầu tiên, còn nằm trong bản thảo (1961) Dào dạt trong trạng thái phiêu diêu, tiêu sái, xuất thần ấy, kéo dài đến mấy chục năm trời vừa điêu linh, thống khổ, vừa thăng hoa tuyệt hảo, khiến anh đã miên man sáng tạo thành 7 thi phẩm tâm đắc nữa: Mưa Mắt Tình (1968) Tâm Thu Kinh (1970) Tuyệt Huyết Ca (1972) Thi Thiên (1973) Trúc Biếc (1974) Lửa Và Hoa Bên Bờ Năm Tháng Hai Ngàn (bản thảo 2000) Thơ Tình Và Tình Thơ (bản thảo, 2002). Chẳng khác chi Bùi Giáng, Hàn Mặc Tử, anh cũng say thơ, mê thơ, điên thơ đến nỗi thành Vấn Nạn Thi Ca:

“Đã lòng mây trắng trời xanh
Sao còn dội ngược dồn quanh hỡi người
Trăm năm một cuộc đi đời
Là khi lá thốt hoa cười nghe ra”

  1. Thi Sỹ Là Chi?

Nghe được hoa lá, cỏ cây, mây gió, trăng sao, đất đá nói cười là anh đã tự nhiên như nhiên trở thành một thi sỹ rồi. Nhưng Thi sỹ là chi? Hàn Mặc Tử nói:

“Thi sỹ rơi xuống cõi đời bơ vơ, bỡ ngỡ và lạ lùng. Không có lấy một người hiểu mình…Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui buồn, sướng khổ, giận hờn đến gần đứt sự sống.”

Còn Đặng Tấn Tới thì khơi vơi cho biết Thi Sỹ là:

“Những hồn thi sỹ đâu đây
Bao la vô trú bên mây gió ngàn
Sử sầu đôi thế kỷ tan
Tâm thanh lặng nở lan tràn thơ ca
Chim bay lấp lánh dương hòa
Những lòng thi sỹ chưa ca nửa lời”

Chúng ta hãy lắng nghe Đặng Tấn Tới nói về Thơ:

“Thơ đi qua những Hội Mùa cùng ánh sáng lừng vang bước đất.

Thơ còn nói lên Hình của Bóng, Tình của Mơ, Mộng của Chân. Thơ chẳng ngừng soi tỏ Khối-Tình-Chung-Muôn-Thuở, thường khi đi trước vang sóng của Không-Thời, nâng cao vũ trụ vào thanh khí, truyền hơi nồng ấm đến tận nhân sinh.

Bao năm rồi, bấy nhiêu tinh tú sáng soi những trời thơ mới lạ, kỳ diệu thay Sức-Chứa-Không-Gì-Cả!

Trời Thơ là gì? Đất Mộng ra sao? Chân Thơ Mộng vẫn còn đi khắp? Chính nét Đẹp Thật bao dung hơn nửa Vô Cùng.

Thơ buồn hay thơ vui giữa khoảnh khắc đất trời mà kẻ nhớ Hạt-Bụi-Đường-Đi còn thơ thẩn bước.

Giấy mực ơi! Lá cỏ xa trời
Một hôm nào ta hết thở chơi
Mùa thu thơ tràn theo gió nhớ
Lang thang qua mặt đất không lời”

  1. Mưa Mắt Tình – Cơn Mưa Diệu Ảo Qua Vườn Chiêm Bao

“Một hôm nào ta hết thở chơi.”Ý thức rằng mình đang lưu trú gần bên cái chết, kề cận với cái chết nên dốc hết sức bình sinh để sống từng giây phút và sáng tác giữa mưa nắng, gió bụi trần gian…

Lang thang giữa “Mùa thu thơ tràn theo gió nhớ”nhà thơ vô tình làm rơi xuống giữa hư vô, sa mạc cuộc đời cơn Mưa Mắt Tình:

“Tôi cũng biết trời bây giờ đỏ lắm
Cây đón đường hỏi tôi
Em lạ bởi tôi không cười nói
Trời ơi! Lẽ nào em thương tôi!

Cơn mưa đó tôi có rồi
Mà ngày trước em thường bảo buồn không xiết kể
Cây bờ sông hàng mé nước
Nhốt hồn tôi giữa những thân xiềng
Tôi nằm gặm cát sờ cây khóc
Thì ra cây là mây đậu nhánh tay

Nước xô hồn hoa lau dậy
Làm tình với tôi
Chiều mất rồi
Trên đồi
Mưa đồi tôi hay đồi em
Mặt trời tối”

Mặt trời sẫm tối, hoàng hôn xuống rồi, không còn phân biệt mưa đồi em hay mưa đồi tôi mà chỉ biết rằng mình đang chìm trong cơn phiêu hốt giữa Mưa Ngọn Chiêm Bao:

“Hát mộ khúc thu mưa, nhỏ lệ giọt buồn một mình. Trời tháng 4 hay mùa tháng 7, nhạc mưa hay máu nắng chết cuối mắt nâu?

Tóc em bay tạt điệu tiêu sầu, lũng cỏ hoang xiêu bước lạnh. Rụng một ngôi sao môi đau vết sáng, giọt nến hồng đêm tôi ngủ trên tay, chờ em hiện về mà cơn gió nào tạt mưa chiêm bao?

Tôi hát một đoạn nhạc rời, thắp điếu thuốc sau cùng, chờ em bên đường lá ướt…”

Chờ em hay chờ nàng thơ đến, bên đường lá ướt đầy những cơn mưa dầm đẫm lệ, đầm đìa nỗi cô đơn, hiu hắt, lặng thấm cả 39 bài thơ tự do trong thi tập Mưa Mắt Tình. Thuở đó (1968) thi sỹ mới 25 tuổi đời nên chới với những bước đi còn chênh vênh giữa đôi bờ mộng thực…

  1. Mộng Thực Lướt Rung Trên Cung Cầm Tâm Thu Kinh

Thực mộng bồng phiêu giữa muôn chiều du lãng trong thế giới mênh mang của thi ca sâu lắng Đặng Tấn Tới. Mới lạ chất thơ lẫn chất nhạc cùng hòa khúc cung cầm Tâm Thu Kinh:

“Thu dầm âm nguyệt
Thu tâm băng tuyết
Ta thổ huyết trăng
Ngập thu tang trắng”

Đó là Thu Tâm, bài thơ mở đầu thi tập Tâm Thu Kinh. Rồi trải dài qua 60 nốt nhạc vang âm đến nốt cuối cùng là Gánh Thu Phong:

“Quải rộng thu phong
Lên ngàn cô vọng
Ngã trong ngô đồng
Lạnh dồn thu không”

Bước đi của thi ca đã đến chỗ “Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” rồi. Đến chỗ này thì chúng ta cũng mù mù, chập chờn theo cho vui, chứ không cần phải rõ ràng chi cho lắm. Hãy cùng lắng nghe tiếng vọng tuyệt mù Tình Không:

“Thu ơi! Đừng trỗi điệu đàn
Cung tiên thiều cũ trăng vàng bên sông
Loạn màu ố máu ồ bông
Lá ngô đồng lấp tình không thu nào”

Tình Không là vậy đó, còn Kinh Không là đây:

“Thu vân
Bất tận
Thu phần
Tử tận
Tận Vô”

Giữa Bất tận…Tận vô…bỗng hoát nhiên, thi nhân bừng Chứng Ngộ:

“Nhìn suốt vừng trăng
Quên mất vừng trăng
Đi đến vừng trăng
Không thấy vừng trăng
Tịnh tưởng ánh trăng
Màu trăng không còn”

Không còn màu trăng, chỉ còn Thu Máu Hồng:

“Ôi biết bao giờ em đến đây
Mùa thu gầy guộc với hai tay
Ôm không hết đất trời vô vọng
Lòng chết trần ai gãy tháng ngày

Thôi nhé! Là thu lề tóc cũ
Là thôi men rượu bốc trăng mù
Cũng thôi từ lúc lòng lay nhẹ
Hương phấn thu vàng ngang liễu thu

Mai tôi về người có theo không?
Bụi mê tang chế bước phiêu bồng
Tôi còn thở mộng vào thu máu
Hồn của ngàn thu hiu hắt bông”

Tâm Thu Kinh gồm 61 bài thơ chập chùng ẩn ngữ như thế. Đọc thơ là để cảm chứ không cần phải hiểu, như tác giả đã nói:

“Hầu hết thơ trong Tâm Thu Kinh là những Sầu Kinh Ca vọng về Em Ma quá mộng và là máu của thiên thu về tụ dồn nhật nguyệt, vỡ hàn huyết tuyệt mùa, lùa điêu linh chìm cõi cho tan nát tang hồn, vùi chôn thể phách. Tất cả chúc hoài xuống một bi thu phù mộng bông máu mê đường, trải qua vô lượng thu huyết lũ. Từ đó xương máu rung lên lời kinh tàng tịch, ngút ngàn sâu thẳm tâm thu.”

  1. Tuyệt Huyết Ca Hòa Âm Thấm Hồn Vạn Đại

Tiêu Dao Du là khúc hát tự do, tự tại của Trang Tử, Thảo Am Ca là bài ca đã về đã tới vườn tâm thanh tịnh, an yên của Thạch Đầu Hy Thiên hay Phóng Cuồng Ca là khúc hát tiêu sái, thoát tục của Tuệ Trung Thượng Sỹ và đặc biệt Tuyệt Huyết Ca của Đặng Tấn Tới cũng hát vang lên tiếng lòng thiên cổ, hòa âm theo các bậc tiền nhân trên thể điệu bi hùng cùng tuyệt:

“Lòng ơi! Mở từng trang tuyệt huyết
Đưa nhau về bến nguyệt vườn sương
Mang mang cát bụi lên đường
Những xương máu cũ phai hường là đâu?
Trăng cổ độ ố màu tang hải
Trải thu phần quan tái vài bông
Nao nao gió giục sang hồng
Rụng bao nhiêu cánh giữa lòng nhân sinh
Nay buổi hội trời xanh sắc lá
Ta cũng sầu mở quá độ chơi
Ghé trong mây trắng môi cười
Một xe cát bụi xô người ra đi”

Xô người ra đi về đâu trong cõi đời mang mang mờ mịt, để cho Ôn Như Hầu sầu ca bi thiết về phận hồng nhan, thục nữ phải rơi vào hoàn cảnh éo le, ngậm ngùi đến não nùng trong Cung Oán Ngâm Khúc.

Rung cảm theo Ôn Như Hầu, hồn thơ Đặng Tấn Tới cũng chuyển sang tiết điệu se lòng song thất lục bát, nhưng Tuyệt Huyết Ca tuy cũng sầu khúc nhưng thăng hoa lên cung bậc tân kỳ, mỹ cảm, hàm dung khổ đau và hạnh phúc, giọt lệ và nụ cười lấp lánh, long lanh hơn:

“Em phai máu điều Lan Lý Huệ
Lạc mê đồ gót xế phần ma
Sương phồn nội phấn nhìn ra
Ngàn xanh xa ngút bóng tà nhân gian
Ta dừng lại bên đàn Lưu Huyết
Rót linh hồn xuống huyệt trăng khơi
Hãy ra chơi Cõi Ngoài Trời
Những anh hồn cũ bên đời lưu linh
Nghìn thu trước ai tình xanh mắt
Nghìn thu sau hiu hắt hồn hương
Cùng nhau về tụ đầu sương
Long lanh chút mộng cuối đường tài hoa”

Thi sỹ thấu thị nhân sinh, có con mắt: “Nhìn xuyên sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” như đại thi hào Nguyễn Du, nên đồng cảm nỗi khổ niềm đau thống thiết của kiếp con người, của thập loại chúng sinh, những hào sỹ hùng tâm tráng khí, những tài hoa trác tuyệt xưa nay:

“Ai bước vội bên ngàn gió thẳm
Ai buồn lay trên dặm lau khô
Lênh đênh ngoài biển nhấp nhô
Và ai trên nẻo mơ hồ hàn giang?
Người vưởng vất tận hang cùng cốc
Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương
Máu khô thịt nát bên đường
Rợn màu tinh huyết đò dương đắm chìm
Phơi xương trắng ngoài đêm cát lạnh
Vùi đó đây từng mảnh thân non
Đất bay đá chạy chi còn
Bi thương cổ lục héo mòn tân thanh”

Sầu khúc thê lương, rờn rợn máu, nước mắt rồi cũng phôi pha và trôi qua nghìn mùa lao đao khổ đế, để phục hồi trên mặt đất hoang tàn những đóa hoàng hoa rực rỡ, bừng lên ánh nắng reo vui, chim cá ca ngâm giữa mênh mông sông núi rạng ngời:

“Vui lăn lóc theo bầy chim cá
Ca ngâm tràn lan má liên môi
Bao nhiêu thị vọng quy hồi
Còn trong biển lục chỗ ngồi nước xanh
Xa xăm quá tinh thành sao tới?
Hỡi người ơi vời vợi sầu thương
Chiêu ca một độ lên đường
Gọi hồn vô trú du phường trăng chơi
Non nước cũ rạng ngời sông núi
Trời trong xanh muôn tuổi thơ ngây
Nước trôi mây cuốn chưa đầy
Ngày sương nắng biếc hồng rây ánh vàng”

“Trời trong xanh muôn tuổi thơ ngây” là một câu thơ xuất thần, chứng tỏ thi sỹ đã thấy ra cái tinh túy, cốt tủy của thi ca. Thấy được như thế, nên thơ về mở lễ hội hân hoan đón mừng Nàng Thơ hay Người Em Nguyên Thủy mà bấy lâu nay mãi hoài trông ngóng, đợi chờ mong:

“Xưa lễ hội mơ màng nghiêng bóng
Bao nhiêu chiều ước vọng chưa xanh
Nay ta mở hội lá cành
Người em Nguyên Thủy đạp thanh phương nào
Về đây ngát sương sao dạo khúc
Đàn tơ xanh phổ lục từ bi
Cỏ cây bến rạng lâm ly
Trăng hoa một độ xuân thì mang mang
Mây gió nổi trôi ngàn bước mộng
Bàn chân không lùa sóng vô biên
Ta đi dạo khắp cõi miền
Này là phố thảo kia triền xóm hoa”

Với cây đàn Trí tuệ tương tri, thi sỹ dạo lên những tình khúc Từ bi tri ngộ đầy sáng tạo, vào ra suốt sớm trưa chiều vang tận “Chín từng thanh khí chói lòa hào quang.” Trong bầu không khí kỳ diệu, chiếu sáng, lấp lánh ánh thanh tân của buổi hồng hoang, khai thiên lập địa ấy, ta với người, anh với em hồi sinh trong buổi bình minh của nhân loại “Ôi trái đất còn non không tuổi. Lòng ta vui như núi long lanh.” Hạnh phúc nhất là được cầm bàn tay em cùng: “Đi về một mạch đường thanh” rất thong dong, thân thiết:

“Nghiêng đôi nhánh liễu dương làn tóc
Hé đôi môi hồng ngọc bờ hoa
Mắt soi dịu ánh dương hòa
Chín từng thanh khí chói lòa hào quang
Trang tái thế trần gian mới mở
Ta với người hồn vỡ nguồn cơ
Mới hay trăng nước đường tơ
Từ xưa reo sáng trong giờ hồng hoang
Ôi trái đất còn non không tuổi
Lòng ta vui như núi long lanh
Đi về một mạch đường thanh
Bàn chân tân ước bước xanh da trời”

Tuyệt Huyết Ca là bản trường ca đầy chất nhạc và thơ, xuất hiện trên thi đàn Việt Nam vào khoảng năm 1972 gây xôn xao giới văn nghệ sỹ thời bấy giờ, bởi tiếng thơ xuất thần rung ngân thật độc đáo. Đấy là thời kỳ văn nghệ Miền Nam rực rỡ nhất với những thi sỹ thượng thừa như Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Đức Sơn, Hoài Khanh, Phạm Thiên Thư, Tường Linh, Trần Xuân Kiêm, Huy Tưởng, Nguyễn Tôn Nhan, Phù Hư, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh, Nguyễn An Đình, Trần Tuấn Kiệt, Trần Đới, Nguyễn Bắc Sơn… Nhà văn Mang Viên Long, bạn thân thiết Đặng Tấn Tới đã viết một bài bình luận dài về thi phẩm này:

“Thi phẩm Tuyệt Huyết Ca gồm 27 đoạn thơ song thất lục bát, tất cả 108 câu thơ, chung quanh một nhan đề chính đã được chọn. Sử dụng lối thơ cổ truyền Việt Nam để diễn tả những khúc ca máu hồng tuyệt vời của dân tộc.

Đặng Tấn Tới đã dồn hết rung cảm tích tụ kỳ diệu bao năm giữa “ Trăng cổ độ ố màu tang hải. Trải thu phần quan tái vài bông” trong cảnh tượng đời sống ghê khiếp như ma quái “Người vất vưởng tận hang cùng cốc. Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương” vào thời gian được ghi nhận là biến loạn nhất trong hai mươi năm chinh chiến…”

Điệu vần song thất lục bát cổ điển mà viết tuyệt hay, truyền đạt được sự rung cảm tận tâm hồn sâu thẳm như thế này, duy chỉ có tài hoa, thi sỹ thượng đẳng Đặng Tấn Tới mới viết được mà thôi, như Tơ Vui:

“Tiêu dao dạo qua đồng bông trắng
Rạng hồn thâu đời nắng lừng vang
Lá hoa rung lại đôi hàng
Nghe triều thiên nhạc dâng tràn cao xanh
Vang vang tận mong manh làn gió
Trầm trầm xô ngàn cỏ sau sương
Ruổi rong chín nẻo lạc phường
Giang hà ơi một thoáng hương mơ hồ
Ta cũng đủ tung hô vạn đại
Ta cũng đành vin hái tơ vui
Trao ai đóa sáng ngậm ngùi
Một hôm trời đất ngủ vùi trên tay
Trong nửa chớp đầu mày cuối mắt
Trăm muôn đời lặng ngắt sau non
“Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào Khê nước chảy hãy còn trơ trơ”
Hôm trẩy hội trao bờ một lá
Còn hôm nay màu má như mơ
Đêm đêm sương trắng sang bờ
Làm sao ta biết được giờ nào vui
Lòng trong hội trong vùi trong tịch
Đời trong đời ngấn tích phiêu nhiên
Nước trong nước bước vô biên
Tay trong tay nắm một miền tuyệt không
Vườn mây lộng mênh mông sương tụ
Suối xanh reo thường trụ xuôi ta
Non thiêng nước biếc đâu là
Chân vui đạp dặm hồn hoa mở dồn
Thâu tất cả càn khôn một ngáp
Cười mang mang vạn pháp đầu sương
Đất thơm ta hãy lên đường
Máu reo bát ngát trùng dương tinh huyền”

  1. Khai Mở Nguồn Thơ Tuyệt Mỹ Thi Thiên

“Ta cũng đủ tung hô vạn đại
Ta cũng đành vin hái tơ vui”

Vâng, thi sỹ lang thang qua mặt đất không lời, không nói năng chi. Chỉ im lặng, vô ngôn để cảm nhận trọn vẹn, thấu triệt tuyệt đối cái linh khí của vũ trụ và nhân sinh, cái tinh túy thi ca Chân Thiện Mỹ, cái nguồn mạch tâm linh thần cảm, chạm mặt hạnh phúc lẫn khổ đau, thấu thị lẽ đất trời…

Thời kỳ đó, anh có đi dạy học trường Bồ Đề Đập Đá tại quê nhà Bình Định một thời gian, lập Thư Quán Hoàng Hạc để mưu sinh. Lấy Trang Tử, Lão Tử, Kinh Dịch, Kinh Phật, Thiền làm sách gối đầu giường. Anh dầm mình trong thế giới Thi ca Tư tưởng, kết bạn với các Thiền sư, đạo sỹ, ẩn sỹ Đông phương, dạo chơi với các triết gia, thi sỹ, nhạc sỹ, họa sỹ Tây phương…

Đồng thanh tương ứng, anh tiêu hóa rất nhanh và biến thành máu huyết, tinh túy rạt rào, trào tuôn trong lòng rỗng rang của anh…Để từ đó mà dấn bước trên con đường thênh thang sáng tạo, khai mạch suối nguồn Thi Thiên, mở ra cảnh giới vô ngần Bất Tuyệt:

“Ngồi bên hương ngát trang đời
Mở vài bông vắng lặng trời lâm ly
Bao la bến cỏ xanh rì
Niềm vui trút mộng ra đi phương nào
Bước trong buổi hội tâm bào
Nghe xương máu vọng tơ đào nguyên xưa
Thời gian thôi chẳng bao giờ
Trần gian bất tuyệt bây giờ là đây”

Bây giờ là ở đây, là thực tại hiện tiền. Cái thực tại mà Krishnamurti gọi là cái Đang là luôn luôn mới lạ, cái sát na vĩnh cửu. Thi sỹ nhắc nhở chúng ta hãy sống trọn vẹn, chú tâm vào cái Đang là này trong từng sát na, từng hơi thở để nghe Nhạc Trời:

“Đời vui ta cũng ra đi
Một chiều ngất hạn bên ly sóng trời
Xanh xanh một sớm vườn chơi
Tạ màu hoa cỏ bên người bao dung
Trao vào mộng thắm không trung
Gởi sầu tro bụi vô cùng thời gian
Ta đi chẳng đến trên đàng
Lá xanh ngần mãi tơ ngàn ngao du”

Đó là cuộc đi, cuộc lữ trong cõi giới Nội Tâm, cuộc ngao du, phiêu bồng giữa vườn Lòng mênh mông của thi sỹ, theo thể điệu Henry Miller:

“Chỉ có một cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất mà thôi, đó là đi vào bên trong tâm hồn sâu kín, thăm thẳm trong lòng mình và đi vào giữa lòng mình thì thời gian, không gian, ngay đến hành động cũng không quan trọng chi cả.”

Đi mà không chỗ đến là bước đi kỳ cùng ngay giữa thực tại của chàng trai Ngoài Ba Mươi Tuổi Vui Chơi:

“Ba mươi mấy tuổi bây giờ
Mất đi thơ dại chẳng ngờ về đâu
Sầu chung chưa ráo máu đầu
Đứng đi lênh láng trang màu thanh thiên
Một năm mở mấy cuộc điên
Một đời bày mấy trận tiền biển dâu
Trăng sao chơi với thương sầu
Đường xưa im bóng đọng màu tà huy
Gió mây thao thiết mộng gì
Ngoài ba mươi tuổi bước đi không cùng
Hẹn hò trong hội vô chung
Câu thơ sẽ thở lên khung trắng hồn”

“Một năm mở mấy cuộc điên” cho vui, vì cuộc điên ở đây là thể điệu phiêu nhiên điên chơi theo kiểu Thơ Vô Tận Vui Bùi Giáng:

“Anh điên mà vui vẻ thập thành
Còn các em tỉnh táo mà đành buồn thiu”

Đặng Tấn Tới cũng có máu điên điên như Hàn Mặc Tử:

“Bây giờ tôi dại tôi điên
Chắp tay tôi lạy cả miền không gian”

Điệu vui vẻ, rỡn đùa, điên chơi với nàng thơ trinh trắng “Hẹn hò trong hội vô chung” giữa tuế nguyệt man thiên, tuyệt cùng phương nao kỳ ngộ Bao La Kim Cổ:

“Năm nay mùa cỏ xanh tươi
Vui về bên núi em cười sau nương
Đêm đêm trăng sáng nẻo thường
Hồn thơm lá cỏ du phường sương hoa
Bao la kim cổ môi òa
Cùng ta hợp hội tấu hòa thiên nhiên”

  1. Như Bùi Giáng Nhập Hoan Hỷ Địa

Giữa trời trăng sao muôn thuở, thi nhân cùng nàng thơ “Vui về bên núi em cười sau nương” thật vô cùng đẹp đẽ. Một vẻ đẹp như thơ như mộng, bồng tênh sương khói ảo huyền, thiết tha cùng muôn loài vạn vật hòa âm trên cung bậc ngân rung vô lường Thương Cảm:

“Trời xanh xanh thẳm nơi đâu
Hồn xanh xanh bất tuyệt màu thời gian
Nghìn năm mây trắng dư vang
Giọt sương thương cảm lạnh tràn hư không”

Một niềm thương cảm giữa “Hồn xanh xanh bất tuyệt màu thời gian” đó, thi nhân bất thần nhập vào cảnh giới Hoan hỷ địa như Bùi Giáng nên nhảy múa hát ca Ta Vui:

“Sáng nay nằm giữa gió vàng
Hoa lá cỏ đỏ xanh tràn vườn không
Tâm ơi mấy sợi mây hồng
Đưa ta đến bến phiêu bồng chờ mong
Máu phai còn lại mấy dòng
Ta vui cạn rót xuống lòng bao la”

Trận hân hoan vang dậy tiếng cười ngây ngất giữa nhân sinh trường mộng, không còn phân biệt đây là thực hay mộng, nên thi nhân lịm hồn Chiêm Bao Trời Đất:

“Hỡi ơi! Trái đất chiêm bao
La đà sự thật trăng sao trên trời
Hay là mặt đất đùa chơi
Núi cao ngây ngất trận cười tràng giang”

Trận cười tràng giang, đại hải vang dài hòa chan, trộn lẫn vào cuộc thơ, cuôc mộng, cuộc hư huyền huyễn hóa hay cuộc chiêm bao mơ màng chi chi đi nữa, đối với thi sỹ thì tất cả đều diệu dụng, dung nhiếp một cách Nhiệm Mầu:

“Ca ngâm nhạt sắc cầm chương
Sóng thu vàng chảy phấn hương ra nguồn
Lạnh trời phơ phất tiếng chuông
Bờ hoa lá cỏ phai buồn sóng xanh
Người về quê trắng tan canh
Bàn chân vân bước qua ngành biển dâu
Lửa hương trao gió nguyện cầu
Đóa lòng thanh lặng nhiệm mầu ánh vui”

Khi thấy được “ánh vui mầu nhiệm” là tâm hồn thi nhân đã huyền đồng cùng Lòng Vạn Vật, Tâm Đất Trời, rực ngời ánh sáng lẽ thật Chân Như và hoát nhiên bừng tỏ ngộ cảnh giới huy hoàng, mới lạ Hoa Nghiêm giữa thiên thu vạn đại diễm tuyệt Huyền Nhiên:

“Không còn mây đâu còn đây
Đi trong vạn đại giữa giây sấm huyền
Bước vui bỏ hội thôi thuyền
Lên Đồng Tâm rạng ánh truyền Chân Như
Ra về biệt dạng thanh hư
Trăng trong sóng lộng môi cười viên dung”

Viên dung là viên mãn, một trạng thái trọn vẹn, tròn đầy nên hồn nhiên reo cười dưới trời trăng trong sóng lộng và cùng hát bản Bát Nhã, ca khúc Đại từ Tâm:

“Lá hoa chớp lộng không thì
Sáng bao la đóa huyền vi tâm vàng

  1. Thấy Trong Bọt Nước Chở Màu Thiên Thu

Chỉ một chữ Tâm thôi mà thiên kinh vạn quyển từ xưa đến nay, diễn giải chưa xong. Muốn hiểu được Tâm là gì, chúng ta phải đọc lại toàn bộ kinh điển Nguyên Thủy, Đại Thừa…Thôi thì, ở đây thi sỹ chỉ cần cảm nhận Thu Vô Cùng:

“Xôn xao nắng bướm qua cầu
Dưới sông bọt nước chở màu thiên thu”

Thấy được màu thiên thu trong một bọt nước là một cái thấy của con mắt Thiền, đã trực ngộ được cái mà thi sỹ Wiliam Blakrle đã từng thấy:

“Thấy thế gian trong một hạt cát
Và bầu trời trong đóa hoa rừng
Nắm vô biên trong lòng bàn tay
Và vĩnh cửu giữa giờ phút trôi”

Thi sỹ Đặng Tấn Tới một lần kia hoát nhiên thấy được “Dưới sông bọt nước chở màu thiên thu” là thấu rõ chân lý Nhất nguyên, Bất nhị, Phù du là Vĩnh cửu, Sát na là Thiên thu, Một là Tất cả mà trong Thiền tông thường hay nói đến. Cho nên, từ đó nhìn toàn thể cuộc đời đều cảm nhận ngây ngất trước Vô Biên Môi Cười:

“Sương rơi ngời rạng mãn thiên
Mấy trường đình lộng vô biên môi cười
Bây giờ ngây ngất trận chơi
Nói cười giữa cuộc con người lá lay
Khôn hàn vàng bước thu bay
Đi vào trùng ngộ lộ bày bạch vân
Bước ra một bước tần ngần
Cuối đường kia đã có lần phôi pha
Non phơi ánh bạc giang hà
Buồn theo mây nước ướt tà mắt xanh”

Thấy được chân tướng “vô biên môi cười” nên “đi vào trùng ngộ” cái bản lai diện mục của mình rồi. Vì thế, thi nhân thanh thản Về:

“Ta về ngọn cỏ reo xanh
Bến thành mây dựng long lanh nước trời
Tay lùa vô lượng thơm tươi
Chân vui mở lối đưa người bao la
Hồng trần thoảng giấc hương qua
Một hơi thiên cổ lạnh nhòa thu không”

Trên đường trở về, sau cuộc lữ phiêu bồng, còn nghe vang vọng những bước Hành Ca:

“Ba mươi mốt tuổi vui chơi
Theo trời đất mộng con người mang mang
Trăng đi đâu hết con đàng
Gió xanh chưa thổi cuối làn vi vu
Máu không không cả hư phù
Ai trong giọt giọt dòng thu tiếp dòng
Lượng trời mây nước tươi trong
Ta yêu không cả những lòng mai sau”

Bước độc hành ca vẫn đi theo nhịp điệu phiêu nhiên lục bát giữa đôi bờ sinh tử, hát khúc nhạc tương ngộ, tương tri Thi Thiên:

“Một mùa trái đất xanh xanh
Chở ta đi dạo mấy thành lửa mây
Thả thơ thanh thảo lừng bay
Trao về Tri Ngộ đôi ngày trần gian
Gởi qua Sinh Tử hai hàng
Bây giờ lục bát vỗ tràn lục ba
Đất trời hội mới gieo hoa
Cảo thơm lá cỏ mở tòa thi thiên
Bước chân vân thủy lên miền
Tiêu dao du xứ như nhiên phiêu bồng”

  1. Trúc Biếc Miền Tiêu Dao Vô Sở Trụ

“Bước chân vân thủy lên miền
Tiêu dao du xứ như nhiên phiêu bồng”

Phiêu bồng qua chơi bên miền Trúc Biếc cõi Tiêu dao du theo cuộc lữ Vui Chơi:

“Giữa đời chơi cuộc lữ
Đầy vơi lòng vui qua
Lửa thiêng huyền diệu xứ
Sáng hết mặt mày ta”

Giữa muôn trùng cuộc lữ, rong chơi lêu lổng, không chỗ trú cư, thi sỹ theo Trang Tử bước Tiêu dao du qua những cảnh giới huyền diệu xứ, rực ngời lửa thiêng, hiện rõ mặt mày sáng tỏ ngời chân diện mục trong cuộc Tử Sinh:

“Lăn hòn đất vô sinh
Vào ra lòng bất tử
Ôi nhật nguyệt vong tình
Ta còn ư! Mất ư!”

Mất hay còn, bây giờ đối với thi sỹ thì cũng chỉ là một cuộc chơi giữa Lòng Vũ Trụ:

“Vũ trụ hơi còn nóng
Lòng chưa dứt phong thi
Đất dâng tràn thanh khí
Trời vẫn thắm vô vi”

Trời đất tràn đầy thanh khí nên cứ mặc sức Thở Khoan Khoái:

“Thở khoan khoái đây rồi
Vào ra riêng có thôi
Thở tan hoang gốc ngọn
Tròn một bước xa xôi”

Rồi chiều phiêu dật đi vi vu Thu Thủy Thi:

“Chiều kêu trong khóm trúc
Tiếng lòng không vi vu
Sông xa tràn ánh lục
Trời rong chơi nước thu”

Trúc Biếc là tập thơ thứ 5 (1974) gồm 60 bài tứ tuyệt ngũ ngôn. Hồn thơ vẫn hoài trôi chảy theo suối tình yêu thương muôn thuở, mới mãi từng Phút Giây:

“Ta với người phút giây
Sương mai reo nắng dậy
Mới nghe và vừa thấy
Tình vạn thuở thơ ngây”

Tuy gặp nhau giây phút thôi nhưng người với ta đã là Tri Âm:

“Ngàn xa không trông được
Thấy nhau màu tâm tư
Bao la nguồn thiên tứ
Rào rạt tiếng thơ người”

Xa xôi hay gần gũi đều gặp nhau ở đây, bây giờ, ngay Hiện Tiền:

“Thở qua hơi người mới
Hồn cũ thấy nhau đâu
Đất trời thương ai đợi
Chơi trò không trước sau”

Không trước, không sau, chấm dứt ý niệm nhị nguyên, vô phân biệt thì mọi vọng tưởng đều vắng lặng, đó là lúc Tan Vọng:

“Bao nhiêu lời chưa tới
Đưa tay gió lạnh tràn
Chứa chan lòng vạn đại
Một tiếng vọng rồi tan”

Khi mọi tiếng ồn ào, động tịnh, chơn vọng đều tan biến thì vạn hữu trở lại trạng thái Như Như:

“Rồng rắn nước non chơi
Vỗ trời xa cả cười
Mắt tàn tro vẫn giữ
Niềm thanh lặng như như”

Tuy như như bất động mà thi nhân vẫn Hòa Vui:

“Cát bụi vui hòa ấy
Cho ta tình đắm say
Còn đây lòng mở thấy
Trời xanh mây trắng bay”

  1. Diệu Kỳ Người Em Nguyên Thủy Đi Về

May mắn, hy hữu thay! Người Em Nguyên Thủy hay Nàng Thơ tuyệt sắc giai nhân trong Thi Thiên, Tuyệt Huyết Ca ấy, thi nhân đã có cơ duyên diện kiến và thiết tha hồn rúng cảm từ buổi gặp đầu tiên, nên liền cảm tác làm Thơ Tình:

“Nắng mưa thấm đẫm tâm tình
Yêu em gió sớm vẽ hình trăng thâu
Đời thường bỗng lạ bên nhau
Ngấn sương trước sáng ngàn sau sóng cành
Yêu em hạt bụi long lanh
Con đường nho nhỏ vòng xanh đất trời
Dòng thơ trôi cuốn không lời
Là lời giây phút rót mời đang khi
Yêu em mặt đất cùng đi
Mặt trời giữa ngực thầm thì suối hương”

“Yêu em” là một điệp từ, dù có tụng ca đến cả nghìn lần cũng không diễn tả hết được tâm tình sâu thẳm của thi nhân dành cho nàng thơ kiều diễm, thùy mị Duy Khương hay còn gọi Thanh Ngọc Lan – Một đóa Ngọc Lan ngát hương thanh khiết, tuyệt vời của thi sỹ.

Yêu em mặt đất cùng đi với mặt trời, dìu nhau về ngồi bên lò Lửa Bát Quái:

“Ba ngàn thế giới cầm tay
Trao nhau một chiếc vòng này nhớ cho
Đời nay dẫu có lắm trò
Vẫn còn hơi ấm bên Lò Lửa Yêu”

Bát quái là 8 quẻ âm dương trong Kinh Dịch. Bát quái có liên quan đến triết học Thái cực và Ngũ hành, được ứng dụng trong Phong thủy, Địa lý, Thiên văn học, Chiêm tinh học…Ở đây, thi sỹ muốn nói đến lửa âm dương của tình yêu diệu kỳ đã thắp sáng bừng lên như ngọn lửa hồng, nhân ngày trọng đại, hai người làm lễ cưới nhau Mười Một Tháng Chín:

“Soi gương vấn tóc một mùa
Vẻ xanh còn nở hoa mưa đến giờ
Bụi trần trải hết lòng mơ
Sóng thơ bất tuyệt hôn bờ thương yêu
Nắng sương thấm đẫm bao chiều
Sớm thăng hoa cảm thấu nhiều trang khuya
Còn nhau trong bước đi về
Rượu-Bao-La đủ môi kề lượng vui

Em yêu cả Mộng Thơ Đời
Yêu em trẻ lại thơ ngời sương hoa
Lạnh nồng em đến cùng ta
Tiếp vui trùng cửu rượu hòa cúc hương
Ngày nào vấn tóc soi gương
Theo trang sách bước chung đường mang mang
Giờ nghe lại nhạc mưa ngàn
Lòng reo hội mới ngân vang tơ trời
Bên nhau bày sẵn mấy lời
Bồi hồi nhịp cốc hát mời tình xanh”

“Bồi hồi nhịp cốc hát mời tình xanh” rót tràn đầy ngày hôn lễ, đầy tràn cả nhật nguyệt, thiên thanh vào khoảng năm 1971, tại Hoàng Hạc Thư Quán giữa mùa trăng vàng An Nhơn cố xứ…

Ngày trọng đại đó, thi sỹ còn lưu lại bút tích:

  1. 9 Nhâm Ngọ
    Tặng Duy Khương

“Đã từng lúc ngọt mềm hoa cỏ
Có nhiều khi giọt nhỏ đồng tâm
Trải cơn nắng dãi mưa dầm
Chung đường vai gánh nợ tằm đa mang

Đời lấp lánh bụi vàng trang viết
Tình xanh còn bất tuyệt cho nhau
Nghe ra tơ tóc nhiệm mầu
Nhìn vào sáng cả cơ cầu thủy chung

Em nâng chén vô cùng ngang mắt
Cạn cùng nhau son sắt niềm yêu
Này đây lượng sóng dâng triều
Biển ngời chân sóng dập dìu cát vui…”

Đặng Tấn Tới (2002)

  1. Thơ Tình Và Tình Thơ Cùng Nhập Diệu Phiêu Nhiên

Từ đó, Nàng Thơ về, Người Em Yêu Dấu đến, trên bước chân mềm mại, mãi hoài nghe dưới gót ngân vang phím đàn tri âm, tri kỷ. Dáng em đi vừa yểu điệu, dịu hiền vừa quyến rũ, du dương với bao niềm nhiếp dẫn và khơi mở con đường hân hoan sáng tạo cho thi nhân Đặng Tấn Tới. Cả thi phẩm Thơ Tình Và Tình Thơ, gồm 40 bài thiết tha, da diết, riêng tặng: “Em Thanh Ngọc Lan nghiêng soi mình đất hứa. Gánh cùng ta cả Ảo và Chân…” Thi phẩm tâm đắc này, được anh viết ngay trên từng bước song hành theo nhịp tim bổi hổi, bồi hồi Mỗi Ngày:

“Mỗi ngày cát bụi còn vui
Ẩn trong mắt lá cây nuôi ánh trời
Con đường viền cỏ đôi mươi
Bước chân đi đứng bỗng vơi chợt đầy
Nắng lên vẽ đậm vòng ngày
Trăng về tô mượt nét mày non xa
Em cầm ngọn lửa hồng hoa
Đêm tình gió xỏa hiền hòa tóc hương”

Hương tóc em ồ hương Ngọc Lan bay ngạt ngào, thơm ngát cả không gian vàng óng ả, cả Trời Xanh Tháng Chín:

“Thanh hồng điểm ánh sao trong
Bao la trời chở cả lòng yêu nhau
Thời gian nhẹ đến không màu
Thẳm sâu còn lộng biếc đầu nguồn xuân
Những ngày quấn quít đôi chân
Đất đưa man mác thân gần mộng xa
Em về xanh lá chim ca
Cỏ thơm nghiêng tỏa nắng hoa trông vào
Những ngày núi trước hiên cao
Tình thơ không tiếng rạt rào em nghe”

Em nghe rạt rào bao ngày tháng những tiếng lòng thơ réo rắt, cao vút tận trời trăng sao huyền ảo rồi lặng trầm âm ba thư thả Tạ Tình:

“Yêu em hạt bụi phô trần
Giọt sương linh diệu trong ngần biển dâu
Câu thơ nghiêng cánh Phượng Cầu
Như tìm nhau thuở bắt đầu thanh âm
Cung thương dẫu trót ôm cầm
Chạnh lòng thêm nặng gánh tâm cảm này
Tạ tình chợt choáng đêm say
Với em mưa nắng những bay bổng ngày
Niềm vui rất mỏng đầu mày
Còn reo cuối mắt lá cây xanh đời”

Thơ Tình Và Tình Thơ quá đỗi tha thiết, quyện hòa như thế. Đẹp hơn cõi Thiên Đàng hay xứ Thiên Thai nào đó trong truyện cổ tích hay văn chương tưởng tượng…

Phải chăng, đó là bản tình ca diệu thường yêu thương, được sáng tác trong máu lửa và nước mắt, bởi một thi sỹ Đông phương giữa một bối cảnh lịch sử hỗn mang đầy hoang tàn, đổ nát, bị vây khổn trong cuộc chiến tranh tương tàn tương sát, tang thương đầy máu lệ…Thế mà thi nhân vẫn điềm nhiên mỉm được nụ cười tuệ trí, bi mẫn, vô ngần thương yêu và sáng tạo một cách tự tại, tự do…

Có ai trong chúng ta còn nhớ được điều này, như thi hào Hoelderlin đã từng nhớ: “Con người ngụ cư trên mặt đất như một thi nhân.” Vâng, Đặng Tấn Tới quả nhiên là một thi nhân đích thực, một thi sỹ bi tráng đi về trên mặt đất trầm trọng và đau thương này, để cất lên tiếng ca chân thiện mỹ Thi Thiên, Tuyệt Huyết Ca, Trúc Biếc, Tâm Thu Kinh, Lửa Và Hoa Bên Bờ Năm Tháng Hai Ngàn đầy hào quang bi trí rạng ngời. Vâng, chỉ còn lại tiếng hát của thi nhân là bất tuyệt Thiên Thu:

“Trăng bạc gieo tang hồ lạnh bạc
Đường thanh như ý vân hà thanh
Nắm tay máu trút hồn xiêu lạc
Mai bước giang hồ quạnh mắt xanh

Em ơi! Còn có bao giờ buổi
Em của ta hề thanh thủy ba
Ôm đuối hồn đau kề chín suối
Ta nào sống được hết đời xa

Thôi em! Lạnh gót trùng lai ấy
Xô đẩy chi nhau đắm mái đầu
Mưa cửa thiên thu mù lá dậy
Nói cười nhưng nói được chi đâu!”

  1. Một Đêm Nhớ Đời Với Đặng Tấn Tới

Giữa muôn trùng cuộc lữ, du sỹ phi vó ngựa sắt phiêu bạt giang hồ đi xuyên Việt, xuôi ngược Bắc Nam nhiều chuyến rồi. Có một chiều phiêu lãng, khoảng năm 1996, du sỹ phi ngang qua thị trấn An Nhơn, Bình Định thì trời xế bóng tà huy, du sỹ chợt nhớ Đặng Tấn Tới ở đây, nên liền tạt vô nhà thăm thi sỹ…

Cuộc viếng thăm bất ngờ, nhưng anh vẫn hoan hỷ tiếp đón, không phải bằng trà mà bằng rượu Bàu Đá. Nhà anh là Thư Quán Hoàng Hạc duy nhất ở vùng thị trấn xa mù ấy. Phu nhân là chị Duy Khương-Thanh Ngọc Lan dịu dàng, hiếu khách, niềm nở mời bữa cơm chiều. Đó là bữa cơm đạm bạc, tuy chỉ có rau lang luộc, cá kho và canh bầu thôi nhưng là một bữa cơm ngon tuyệt nhất trong cuộc đời du sỹ, vì cả ngày nhịn đói, nhịn khát chạy rong ruổi, lang thang khắp vùng ngoại ô Quy Nhơn…

Cơm nước xong, anh dẫn xuống nhà thi sỹ Nguyễn An Đình thăm chơi và tối đó, tiệc rượu Bàu Đá được bày ra ngoài sân vườn cây Sung, cùng cụng ly túy lúy cho đến tàn khuya, đúng nghĩa theo một câu thơ Tuệ Sỹ: “Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn…”

Vừa lai rai vừa kể chuyện Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện, chuyện Hàn Mặc Tử và tất nhiên chuyện Bùi Giáng. Nhắc đến Bùi Giáng thì anh cao hứng đứng bật dậy đọc thơ liền:

“Ông nói những điều chẳng nói sao
Có vì vui rất mực chiêm bao?
Từ năm Gia Tĩnh hai em gái
Lễ đạp hồn xanh máu đỏ trào

Vui rỡn lan man khắp mọi miền
Về trồng cây cỏ đọ vô biên
Hỡi ơi! Chiều gió tràn con mắt
Người múa qua đời mộng đảo điên”

Rồi trong cơn chuếnh choáng, anh đọc tiếp bài Rượu Trăm Năm tặng du sỹ:

“Rượu trời ta uống một ly
Thức rưng rưng giấc vô thì càn khôn
Rượu này ta tẩm một hồn
Men thiên thu thổi chân dồn tịch liêu
Rượu người một cốc tiểu yêu
Ôi trăm năm cháy một chiều máu ta
Em ơi! Đời ướt dương tà
Rượu trăm năm đốt hồn ma tang bồng
Một ly một thuở rồi không
Ly này ly nữa còn trông ly nào?”

Trào dâng một nguồn vui đồng thanh tương ứng, dưới ánh nguyệt rằm lấp lánh trong vườn trăng xanh, du sỹ cũng ứng khẩu đọc bài thơ Túy Lúy Cùng Thi Nhân Đặng Tấn Tới để đáp lễ:

Xế chiều ghé tạt An Nhơn
Thăm Đặng Tấn Tới ngợp hồn thi ca
Mưa Mắt Tình mát chan hòa
Thi Thiên Trúc Biếc tuyệt tha thiết tình

Tình thơ mở cuộc phiêu linh
Ta xin cạn chén rượu Bình Định say
Tuyệt Huyết Ca quá mộng đầy
Một đêm trọn vẹn bắt tay ân cần

Rượu Bàu Đá quá lâng lâng
Vài ly thôi đủ xuất thần trí khai
Hết lòng hết sức cảm hoài
Tâm Thu Kinh cảm hồn lai láng hồn

  1. Lửa Và Hoa Bên Bờ Năm Tháng Hai Ngàn

Hai nghìn năm đằng đẵng vèo qua trong chớp mắt. Vào khoảng năm1998, anh Đặng Tấn Tới bị bệnh nan y, phải vào Sài Gòn chữa trị. Vì phải thường xuyên khám bệnh, nên phu nhân anh đưa anh vào Sài Gòn ở với các con, để thuận tiện cho việc chữa bệnh. Thế là anh chị đành giã từ vườn Bonsai, giàn Phong Lan và Thư Quán Hoàng Hạc ở quê nhà với bao nỗi sầu ca, ngậm ngùi… Tuy căn bệnh trầm kha đã đến gót chân rồi, nhưng hồn thơ Đặng Tấn Tới vẫn chất ngất tận đến Ngày Sau:

“Đi vào mây nước thẳm
Còn hạt cát vu vơ
Ngày sau ai nắm được
Cảm thật đến ban sơ”

Ở đây, thơ chuyển sang cung bậc Thiền. Mỗi thân phận người là một hạt cát vu vơ thôi. Rồi tùy theo duyên nghiệp mà trôi chảy, bay qua muôn trùng nhật nguyệt, thiên địa giữa trùng trùng duyên khởi mà “Đi vào mây nước thẳm.” Để ngày sau hay ngàn năm sau nữa, tái sinh lại làm người, có nắm được, cảm được cái thuở ban sơ, cái nguyên ủy tự bao giờ? Thơ thiền chỉ nêu ra, gọi ý, hiểu sao cũng được mà không hiểu thì cũng là Thơ:

“Câu thơ
Thở hơi thiên cổ
Có gì đâu”

Có chi đâu phải không, vì bước đi của thơ là Đường Vui:

“Đi dạo
Quên ráo
Đường”

Đường không đường, không lộ. Đó là diệu pháp của Đạo hay Yếu Nghĩa:

“Trời sao
Chẳng là gì
Đạo”

“Đạo khả đạo phi thường Đạo” Lão Tử đã nói thế. Krishnamurti thì phát biểu dễ hiểu hơn:

“Cái mà Phật gọi là Niết Bàn, Chúa gọi là Thiên Đàng, chính cái ấy tôi gọi là Cuộc Sống.

Cuộc Sống không gì tốt đẹp hơn là Tình thương. Người có Tình thương mới thực là Tâm Đạo, vì Đạo chân chính, không dựng trên tín ngưỡng, giáo điều. Người có Tình yêu thương mới thực có Đạo Tâm, dù thương một người hay thương nhiều người. Tình thương là cái hiện tiền, cái tột cùng, cái không thể đo lường được…”

Tình yêu, Tình thương là điệp khúc, là bản trường ca miên viễn, bất tuyệt của thơ mà sứ mệnh người thi sỹ sáng tạo phải giữ gìn, xiển dương, làm cho phục hồi, sống dậy mãnh liệt, ý lực bừng lên huy hoàng, sáng suốt, tuôn trào vô lượng, vô biên…

Hãy đốt hồn thơ thiêng liêng, cháy rực ngời ngọn lửa cảm xúc, rung động thiên thu, để nghe nhịp thở bồi hồi giữa bầu khí hậu thanh tân, phấn chấn, hân hoan, yêu đời trong tiếng hát Đại bi tâm, như thi sỹ Saint John Perse phát biểu, trong buổi lễ tiếp nhận giải Nobel, năm 1960 tại Thụy Sỹ:

“Người thơ đã có trong con người ăn lông ở lỗ, người thơ vẫn sẽ có trong con người thời nguyên tử, vì người thơ là một phần tử bất khả phân của con người. Chính từ sự đòi hỏi của Thơ, của Tâm, làm phát sinh tôn giáo và nhờ duyên thơ mà tia lửa thiêng sống mãi trong khối đá người. Khi mọi thần thoại sụp đổ hết thì Thơ là chỗ ẩn cuối cùng của cái tối linh.”

Cái tối linh, tối thượng đó chính là nơi chốn mà thi sỹ Đặng Tấn Tới đi về thở nhẹ khói vô vi, khi thấy Đạo nằm ngay trong đời sống thường nhật…

Thơ thiền là vậy, gợi ra cả một thế giới mênh mông trong một hạt bụi, trong một giọt lệ, một nụ cười hay trong một đóa hoa Thược Dược mà nhà thơ Quách Thoại đã thấy:

“Đứng yên bên hàng giậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Sực nhìn em kinh ngạc
Vừa thoảng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu”

Chỉ một đóa hoa thôi, qua cái nhìn của thi sỹ thì quá mầu nhiệm như thế, huống chi là thấy một con người phải không? Đặng Tấn Tới cũng biết như vậy, nên rất trân trọng những giây phút Còn Nhau:

“Chút lòng trong cát bụi
Sáng ngoài hương cỏ cây
Đêm trăng tơ mền núi
Ta còn nhau ngắm mây”

Biết còn bên nhau ngắm mây, nhìn trăng, uống trà là còn cảm được Trời Đất Như Thơ:

“Không đề trang tịch mặc
Vút cánh thu long lanh
Suối để trời trong vắt
Lòng thơ đâu nước xanh”

Thanh thản, an nhiên, cảm xúc thực sự trước lẽ sinh tử là Chút Lòng Đây:

“Cuộc đau chưa dễ hết
Tình vui còn phút giây
Chén hương màu thấm máu
Khuya sớm rõ lòng đây”

Một chút lòng Chợt Cảm với thi sỹ Huy Tưởng:

“Rì rì rêu miết lạnh
Lặng lặng trăng mài xa
Giữa lòng treo núi quạnh
Nóng một bầu mai hoa”

Tha thiết với Nguyễn Tôn Nhan, Ngàn Mây:

“Trắng trưa trời cố quận
Bước qua lòng sang đâu
Thấy nhau làn mây chuyển
Ánh lộng nước không màu”

Và đặc biệt hơn nữa, bài Gởi Về Thành Gia – Tặng Nguyễn Tôn Nhan:

“Góc chợ thành Gia cách mấy năm
Am Ngu khép mở tưởng mù tăm
Lời im để nặng tình thơ nhạn
Ngày bặt thêm đau tấc ruột tằm
Cuộc lớn vẫn đi về lãng đãng
Thế cùng còn hít thở xa xăm
Hẹn nhau xanh thẳm không đâu đấy
Bước lộng tơ sao rạng ánh rằm”

(Nguyễn Tôn Nhan là bạn thơ, đồng thời là thông gia với Đặng Tấn Tới. Con trai Nguyễn Tôn Nhan cưới con gái Đặng Tấn Tới. Chữ viết thi sỹ)

Với nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, Bước Chân:

“Gẫm những cuộc chơi đùa
Chạy dài thiên cổ
Đều để lại một lỗ
Thật to”

Với thi nhân Quách Tấn, Nhân Một Câu Nhắn Gởi:

“Ai đọc thơ tôi mà hỏi thơ?
Thôi thì thơ mộng lửa trời hơ
Đất Quê sớm tối còn hơi ấm
Vẫn lộng Đường Đi điểm sáng chờ”

Đường đi của thi ca từ bao giờ đến bây giờ vẫn Tuyệt:

“Viết viết muốn chẳng viết
Tuyệt tuyệt hóa bất tuyệt
Bao giờ như bây giờ
Tinh hoa hòa tinh huyết”

Tinh cha, huyết mẹ tạo sinh ra Cha Và Con Và… là bài thơ anh dành tặng riêng cho các con mình:

“Các con như chính là ta
Vì ta cũng đã từng là các con
Một dòng máu chạy bon bon
Chỉ tim biết được lối mòn dạ đau
Biển trời nghiêng gánh xưa sau
Cảm thương lặng lẽ một màu thẳm xanh”

Anh cảm thương lặng lẽ Nhìn Con Tập Lật:

“Bấy lâu nằm ngửa ngó cao
Giờ tập nhìn thấp lật ào đi con
Cuộc đời trên dưới xoay tròn
Qua bao điên đảo vẫn còn một Tâm”

Chỉ một Tâm ấy thôi mà hoạt dụng cả cuộc đời thi sỹ và bây giờ, anh muốn truyền cái Tâm ấy lại cho các con mình, như các Thiền sư truyền tâm ấn cho đệ tử vậy.

Thi phẩm cuối cùng Lửa Và Hoa Bên Bờ Năm Tháng Hai Ngàn có hơn 300 bài thơ thiền như thế. Tuyệt thay! Bài nào cũng rốt ráo mà Đặng Tấn Tới đã làm trong những giây phút xuất thần, nhập thánh, trước khi lên xe tang chạy về thiên cổ, nhà thơ vẫn Thở Nhẹ:

“Ai người tránh khỏi bệnh đời
Bồ tát vì thế chưa rời Đường Đi
Ta dù chẳng đến vô vi
Vào ra thở nhẹ có gì nặng đâu!”

Thở nhẹ nhõm khi đối diện tử thần, thi nhân mỉm cười phất áo ra đi, chiều ngày 27. 10. 2017 (âm lịch) tại nhà riêng của anh ở Bình Thạnh, Sài Gòn. Đó là một chiều Vô Chiêu:

“Đó là tuyệt kỹ vô chiêu
Cũng là tiếng gọi trăng triều nước mây
Thế mà máu chảy nào hay
Từng giây từng phút trao tay Đất Trời
Lý nào thật lẽ gì chơi
Một vòng tròn mãi chẳng vơi chẳng đầy”

Ngày anh lên đường, ly viễn phương qua bên kia thế giới, du sỹ không về kịp, nên trầm mặc, lặng im Niệm Tưởng Đặng Tấn Tới:

Tiễn người thi sỹ lên đường
Qua chơi cõi lạ cuối phương xa mù
Khuất bên kia miền thiên thu
Vĩnh hằng trăng nước giữa phù vân bay

Ra đi gởi lại nơi này
Những bài thơ rất ngất say của mình
Tuyệt Huyết Ca Tâm Thu Kinh
Với Trúc Biếc Mưa Mắt Tình Thi Thiên

Tiếng thơ linh chiếu diệu huyền
Vang trong tâm thức bừng uyên tư nào
Xong rồi một cuộc chiêm bao
Đến đi như thị bước vào như nhiên

  1. Tinh Túy Thi Ca Đặng Tấn Tới

Đặng Tấn Tới là một thi nhân thượng đẳng, một hồn thơ sâu lắng, trầm mặc Đông phương. Hương vị thi ca đầy chất Thiền nhưng cũng đậm đà, tha thiết tình cảm. Anh sinh ra đời, không phải để làm việc quốc gia đại sự hay để cứu nhân độ thế chi chi cả mà chỉ như cánh Hoàng Hạc vàng bay qua cánh đồng rộng, sông dài, nhật nguyệt, nghiêng cánh lướt tiêu dao, dạo cung đàn thiên địa, hát khúc tử sinh trên từng phím tình tự, phiêu bồng, rong chơi và làm thơ mà thôi.

Thơ Đặng Tấn Tới mới lạ, có cách dùng ngôn ngữ rất riêng, rất đặc biệt như đại thi sỹ Bùi Giáng viết trong tác phẩm Thi Ca Tư Tưởng (1969): “Nguồn thơ Đặng Tấn Tới rất đặc biệt. Đọc mấy thi phẩm ông, tôi còn giữ lại một cảm tưởng hiu hắt. Rủi sao, tập thơ ông, tôi bỏ lạc đâu mất, nên không thể dám mạo muội viết nhận định ra đây. Xin một dịp khác.”

Nhà thơ thứ thiệt Nguyễn Đức Sơn thì nhận xét rằng: “Đặng Tấn Tới là một trong bảy, tám nhà thơ nổi bật nhất, trong vòng mười lăm năm nay” (Thư ngày 2. 7. 1969)

Học giả Nguyễn Hiến Lê cảm nhận: “…Thú thật, có bài tôi đọc mấy lần mà không hiểu nổi, những bài nào hiểu thì thường là thích, chẳng hạn bài Thơ Rời, bài Hòa Vui, bài Như Lòng…Thật là đặc biệt, thơ Đặng Tấn Tới không thấy ở các nhà thơ khác thời nay” ( Thư ngày 5. 6. 1974)

Còn Mang Viên Long, nhà văn đã xuất bản hơn 30 tác phẩm, bạn đồng hương, chí cốt Đặng Tấn Tới phát biểu chân tình:“Thơ Đặng Tấn Tới chảy dài suốt 30 năm đều thấm đẫm tư tưởng Phật giáo Thiền tông, nhưng từ lăng kính triết lý đạo Phật, dòng thơ anh soi chiếu một cách vi tế, như nhiên đến các ngõ ngách đời sống riêng chung, từ phận người, quê hương đến vạn hữu…với một phong cách bày tỏ hiện đại, bên cạnh tài năng sử dụng nhuần nhuyễn các thể thơ với nhiều cách tân, nhiều từ ngữ sáng tạo, nhạy bén, gợi cảm.

Dòng thơ nhất quán như một dòng chảy huyền nhiệm, uyển chuyển, tinh khôi, chuyên chở bao ý tình sâu thẳm, thâm thúy. Có bài như câu kệ, công án hay của giây phút thiền quán tỉnh thức xuyên qua những điều giản dị quanh đời sống, như cỏ cây, gió mây, trăng nước. Không gian thơ mở ra bát ngát, dường như gần, dường như xa, nhưng trong cái ảo diệu, linh hoạt ấy, lại có sức truyền cảm, hấp dẫn người đọc lạ kỳ…”

Đi vào thế giới thi ca Đặng Tấn Tới, chúng ta đi từ ngạc nhiên này đến bàng hoàng khác, bởi anh thường sử dụng lục bát, ngũ ngôn, song thất lục bát để diễn đạt ý thơ bát ngát của mình. Qua cách dùng nghệ thuật biểu tượng, hoán dụ, ẩn ngữ, như chọn từ đặt tên cho mỗi tập thơ Mưa Mắt Tình, Tâm Thu Kinh, Thi Thiên, Tuyệt Huyết Ca đã là một nét tân kỳ, mới mẻ, mới lạ rồi…

Quá độc đáo nguồn Thơ Tình sinh động, nhưng ấn tượng nhất vẫn là mạch Thơ Thiền tuyệt diệu. Điều đó, cho chúng ta biết, thi sỹ đã tâm chứng, cảm ngộ được mật pháp phiêu bồng, ẩn ngữ vô vi, dị ảo của ngôn ngữ thượng thừa, vô phân biệt trí…

Khi thi nhân bất thần cất giọng hát một mình “Tinh hoa hòa tinh huyết” thì có lẽ nhà thơ đã trực nhận Thấy Gì?:

“Hết lời chẳng tới vô ngôn
Thi ca rất mực chân dồn bước chân
Kia kìa rõ cái gần gần
Đuổi chơi chớ bắt cho thần thẩn thơ
Nghìn xưa soi đến bây giờ
Bóng trăng trăng bóng ai ngờ nước xanh
Nên em mới lại vin cành
Thấy gì trong vắt dưới mành mi cong”

Thấy và nghe phát xuất từ Lòng trong trẻo, Tâm thanh tịnh. Đấy là cái thấy sơ nguyên, trinh tuyền vẻ đẹp nụ cười của Người Em Nhân Loại:

“Người Em Nhân Loại còn chơi
Tâm hồn cát bụi rạng ngời cỏ hoa
Bình minh soi thấu trăng tà
Tử sinh hòa nhập Một Nhà Là Đây
Trận cười từ nổi sóng mây
Đi đi ta lại vui vầy trong nhau
Hội mùa môi ghé thơm đau
Còn xanh ngấn tích trước sau không cùng
Em về lộng lẫy bao dung
Đôi điều chưa thốt lạ lùng nghe ra
Trùng khơi mãi gọi giang hà
Triều dâng non nước lời ca giao nguồn”

Nguồn cội giao hòa nhau từ buổi bình minh khai thiên lập địa đến cuổi buổi hoàng hôn, xế bóng nguyệt tà nhân thế lâm ly, thì bất thình lình hiện ra:

“Bình minh soi thấu trăng tà
Tử sinh hòa nhập Một Nhà Là Đây”

Ồ! Ồ! “Một Nhà Là Đây” là cõi Quê Chung mà thi sỹ thượng đẳng Đặng Tấn Tới đã vạch ra cho chúng ta thấy, qua hai nguồn mạch thi ca sáng tạo lung linh Tình thi và Thiền thi thật vô cùng thú vị. Diệu kỳ thi ca là thế. Vậy thì cần chi phải hiểu tinh túy thi ca Đặng Tấn Tới làm chi nữa mà cứ thong dong để lòng mình trong veo, reo hát an lành, thanh lương như Nước Chảy Mây Trôi:

“Nước trôi mây cuốn buồn chăng?
Thưa rằng nước cuốn vui bằng mây trôi
Trời xanh đất đỏ bồi hồi
Dưới trăng đâu chẳng chỗ ngồi một khi
Hết lòng hết sức bước đi
Hỏi là nước chảy hay vì mây bay…”

Tâm Nhiên

Thi sỹ Đặng Tấn Tới và các tác phẩm của anh.

Du sỹ thắp nén tâm hương, tưởng niệm Đặng Tấn Tới, tại nhà phu nhân anh ở Bình Thạnh,, Sài Gòn, sáng 21. 3. 2026

Read Full Post »

Trương Văn Dân

           Lời ngỏ về tập thơ

             BÀI CA THẾ KỶ 21

                                ( Về thảm họa và các cuộc Chiến tranh )

                                      Canzoniere del xxi° secolo. Nxb Pace  

                                                    (Bản tiếng Ý  – 10.2025)

                                              Bài ca thế kỷ 21 nxb Thuận Hóa 1.2026

          Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”,  tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.

         Cũng trong năm đó, sự kiện Tết Mậu Thân (1968) thì thơ có thêm chủ đề thân phận và nỗi đau của con người trước cuộc chiến. Chừng vài chục bài thơ lẫn lộn được chép cẩn thận trong một tập giấy pelure nhiều màu.. cho đến cuối năm 1971 nó cũng theo tôi qua Ý du học và hơn 40 sau, năm 2008 lại cùng tôi quay về Việt Nam.

           Tất nhiên đó là những bài thơ xoàng, chỉ dành cho một vài bạn thân đọc chứ chưa bao giờ công bố.

           Năm 1973, bài thơ “Vết thương hồng trên cánh chim câu” được hội sinh viên sáng tác ở Paris đưa vào tuyển tập, tiếc là sau đó bị thất lạc. Rồi  khi làm trưởng ban báo chí của Hội sinh viên Việt Nam tại Milano, tôi viết văn xuôi, chỉ thỉnh thoảng mới lạc vào vườn thơ. Có lẽ đến năm 1987 tôi có viết bài thơ cuối cùng rồi vì công việc mưu sinh nên hoàn toàn bỏ bút.

Mãi đến 1994 được đọc truyện ngắn “Những ngày đánh mất” của Dino Buzzati tôi hiểu được ý nghĩa sâu sắc về thời gian, xưa nay cũng là nỗi ám ảnh thường trực của tôi. Xúc động, tôi  liền dịch ra tiếng việt rồi gửi  cho tạp chí Thế Giới Văn ở Mỹ. Bài được đăng và còn được chủ bút khích lệ nên từ đó tôi mới dịch rồi viết, và bắt đầu cầm bút trở lại. Nhưng chỉ viết văn xuôi.

           Tiếng thơ như đã ngủ im  từ những ngày thơ ấu bỗng một hôm thức dậy.

 Thức dậy vì cuộc chiến  Nga – Ukraine!

          Tôi viết về cuộc chiến này nhưng cũng là viết cho quê hương tôi, cho tất cả những cuộc chiến tranh từ trước đến nay ở bất cứ nơi đâu mà tôi đều cảm thấy vô nghĩa.

Tâm hồn tôi đau đớn khi nhận thấy bao nhiêu người đã chết trong cuộc chiến tranh này, với biết bao kẻ bị tàn tật và bao nhiêu gia đình mất nhà cửa. Tự dưng, như đất bằng dậy sóng, hàng vạn con người bị ném vào lò lửa chiến tranh, nhiều người trong số họ sẽ không bao giờ trở về nhà vì đã biến thành tro bụi. Nhiều người bị tàn tật và hóa điên vì những gì đã chứng kiến.

Hình ảnh hằng ngày trên TV… cùng những bài nhận định về nguy cơ chiến tranh thế giới thứ ba có thể nổ ra… đã bật trong lòng tôi những câu chữ. Nó giống như con sò đã nuốt nhầm hạt cát làm mình đau phải tự vệ bằng cách đem máu thịt của mình phủ lên và hóa thành các vần điệu “có thể gọi là thơ”. Nó cần thiết như một trị liệu pháp.

 Thơ  hay không thơ, mới hay cũ, cách tân hay không… tôi chẳng quan tâm..  và kết quả là bài thơ  “Thế chiến 12 đoản khúc” ra đời.

 Bạn Trần Ngọc Châu gọi đó là “Tiếng lòng không thể không viết. ”

Sau đó thì những bài “thơ” khác được tiếp tục viết. Nó mở đầu cho những suy tưởng về thân phận con người  trong cõi sống vào đầu thế kỷ 21.

                                              &

 Tôi không viết cho Ukraine hay Nga mà viết cho quê hương tôi, cho các các dân tộc khác đã bị  bằm nát trong thế kỷ này, từ Trung Đông cho đến Châu Á và lan sang cả Đông Âu. Như Iraq, Libya, Afghanistan, Syria, Crimea,…   Màu máu đỏ của nhân loại có khác gì máu đã  mấy ngàn năm từng nhuộm đỏ đất nước tôi?

Nhìn những đoàn người tị nạn với hành trang ít ỏi, áo quần không đủ ấm dưới nắng cháy da hay mưa tuyết…,  tôi không thể không nghĩ đến những thảm kịch tương tự mà người dân nước tôi đã từng gánh chịu.

Nạn nhân đó cũng chính là tôi và  tất cả những người từng bất lực chứng kiến những khổ đau, mất mát… Ukraine chỉ là chất xúc tác để những cảm xúc buồn đau trong tôi lan rộng, nên viết về họ cũng là viết cho tất cả những cuộc chiến đã và đang xảy ra. 

Bởi những hình ảnh chết chóc ở bất cứ nơi nào cũng giống nhau.

Những cái xác bị thiêu cháy thì da đen da vàng da trắng cũng chỉ là một khối thịt hóa thành than. Một sự bình đẳng đến nghẹn ngào và đau đớn!

                                                *

          Có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ quên hình ảnh những đoàn người gồng gánh, địu con chạy nháo nhào khỏi các vùng chiến sự ở quê tôi. Có cụ già héo quắt, đôi mắt hoảng loạn, ôm cái xác trên tay. Có đứa bé thơ day vú mẹ cạn sữa dần, khóc đến khản giọng mà không hề hay biết người mẹ đã chết thảm bên đường di tản.

Trên Tivi sáng nay tôi thấy một người cha đang vuốt ve khuôn mặt  đứa bé gái và nức nở bảo mọi người hãy nhìn xem cháu xinh đẹp biết bao. Cháu như đang ngủ nếu không có tấm vải liệm màu trắng. Trên một góc phố khác có cậu bé đang vật lộn trong mưa dầm mình trên con đường ngập lụt, cõng trên vai thi thể cứng đờ của một đứa em đã chết mà cậu chưa sẵn sàng xa nên không chịu bỏ lại phía sau.

Bỗng dưng tôi thấy trên khuôn mặt đờ đẫn của những đứa trẻ này khuôn mặt của chính tôi, của cả loài người đang quằn quại trong tuyệt vọng

Với lương tâm con người, những gì đang xảy ra ở Ukraine là không thể chịu đựng.  Để duy trì quyền lực, bán buôn vũ khí… người ta sẵn sàng chà đạp lên hàng ngàn xác chết của người già, phụ nữ và trẻ em vì tội lỗi của họ “là người Ukraine”. Cái hố sâu thù hận giữa Nga và họ đột nhiên biến thành một vực thẳm không thấy đáy và có thể sẽ tồn tại trong nhiều thập kỷ, nhiều thế hệ.

Tôi đã khóc. Dù biết tiếng khóc ấy không làm ai no, không xoa dịu được những vết thương. Không an ủi được người đau khổ.  

 Bỗng dưng tôi nhớ đến những cái tên lạ lùng của những đứa trẻ ở quê tôi.  Cha mẹ đặt tên con là gạo, là cơm, là nhà, là xóm, là làng…  với mong ước  lớn lên chúng sẽ có miếng ăn, có nhà để ở, có quê hương nguồn cội.  Các sư cô hay các “ma soeur” còn đặt tên các bé ở các trại mồ côi  là mẹ, là cha, anh, chị … để nó quên đi thân phận mồ côi, bị bỏ rơi hay được nhặt trước cổng chùa. Rồi đến tên các thôn xóm là An Lạc, Phú Hòa, Thạnh Mỹ.. với ước vọng bình an, giàu có, hiền hòa, … bởi chiến tranh đã tàn phá mọi thứ, chỉ còn lại một đống tro tàn.   

           Hơn 50 năm qua, từ khi còn là một thiếu niên mới lớn, đến giờ đã trở thành một người qua tuổi 70 nhưng nỗi đau xưa trong lòng tôi vẫn còn âm ỉ như một căn bệnh không thể chữa lành.

          Khi một người bị giết người ta luôn tìm hiểu nguyên nhân và truy lùng thủ phạm. Thế nhưng khi có hàng triệu người bị giết thì mọi người lại dửng dưng! Chẳng lẽ không ai là  kẻ sát nhân? Hay tất cả chúng ta đều là đồng phạm vì đã câm miệng, thờ ơ?            

                                                   *

Các bài thơ của tôi viết trong tập thơ Bài ca thế kỷ 21 -Thơ về thảm họa và các cuộc chiến tranh với ước mong là thế giới không còn chiến tranh, khẩn thiết kêu gọi mọi người cùng tưới mầm hòa bình, hóa giải mầm mống bạo lực, tham lam và sợ hãi. Vì chỉ do sợ hãi và nóng giận chúng ta mới chế ra bom hạt nhân, vì tham lam và mê muội nên chúng ta sản xuất vũ khí để kích động xung đột. Chiến tranh chỉ đến từ tâm trí chúng ta, nó đến từ sợ hãi, giận dữ và nghi ngờ rồi tự làm khổ mình và gây đau thương cho người khác.

Chúng ta đang sống trong một thế giới chia cắt và hận thù. Đã có nhiều người đánh mất niềm tin nên trong mùa Giáng Sinh đã đem đặt Chúa Hài Đồng giữa đống đổ nát của một trận bom.

Nhưng xin đừng bi quan mà  hãy lan tỏa tình yêu vì  đau thương và thống khổ đã có quá nhiều trên trái đất này.

Có thể câu chữ vụng về của tôi giống như tiếng gào trên sa mạc, nhưng tôi thiết tha kêu gọi những người có quyền lực và lợi ích hãy chấm dứt ngay những cuộc chiến tranh.

Tôi ước mơ được làm người, để sống với nhau, sống cùng nhau và sống cho nhau.

 Bởi chiến tranh nào giải quyết được gì?  Hơn 2500 năm trước đức Phật đã  dạy:

                      “Chiến thắng gây hận thù,

Thất bại chuốc khổ đau,

Ai từ bỏ thắng bại,

An tịnh liền theo sau”. (Tương Ưng Bộ kinh, Samyutta Nikàya I-102)

 Và những ai muốn sống an lạc tránh sợ hãi và khổ đau, hãy từ bỏ sát sanh:

“Hận thù tiêu diệt hận thù

Ðời này không thể có,

Từ bi diệt hận thù,

Là định luật nghìn thu”. (Pháp Cú, Dhammapada, 5)

                                        *

Có lẽ khi đến một tuổi nào đó, chừng 70/ 80 lòng ta đã lạnh, tim ta đã khô, chuyện gia đình xã hội, cơm áo gạo tiền sau bao năm tháng đã  không còn đè nặng trên vai, thơ như lối thoát, như cái phao giúp ta khỏi chết chìm trong biển đời trước khi bay về miền mây trắng?

          Cuối cùng, tôi muốn gửi đôi lời tới những người đã đọc tập thơ này… Xin các bạn đừng quên, dù sao trái đất này cũng là thế giới tươi đẹp của chúng ta, nó xứng đáng được chúng ta đấu tranh để bảo vệ. Thờ ơ trước cái ác và đóng cửa lương tri liệu có phải là một điều không kém phần tàn ác?     

Đời sống là một thiên đường khi chúng ta biết sống với nhau. Được sống trong một thế giới văn minh, trong một nền văn hóa có tình người rực rỡ. Bất kỳ  nguồn gốc chúng ta ở nơi đâu trên trái đất, không phân biệt màu da, tôn giáo, ngôn ngữ, thói quen hay truyền thống… Chúng ta hãy nắm tay để đi cùng nhau chống lại chiến tranh để không còn ai bị hành hạ hay bắn giết chỉ vì tham vọng của một nhóm người  và tôi tin chắc không có điều gì không làm được khi mọi người đều chung tay hành động 

Cần phải chứng minh là chúng ta đang có phương tiện tinh thần để chống lại sự tiêu diệt nền văn minh.

Chiến tranh chỉ là sự hủy diệt! Xưa nay chưa ai thấy có cuộc chiến nào nhằm khôi phục lại nhân quyền, tự do hay công bằng xã hội mà chỉ là sự tranh giành quyền lực, kẻ chiến thắng là ông chủ mới, chưa chắc tốt hơn ông chủ cũ mà nó vừa đạp đổ.

Cho dù bạn ủng hộ bên nào, bạn vẫn có thể yêu cầu ngừng bắn, thả con tin và ngừng giết chóc cũng như tiếp cận viện trợ không hạn chế.

Trong mọi quan hệ luôn có điều đúng điều sai nhưng tôi nghĩ không có lý do nào có thể biện minh cho bạo lực và chém giết. Sự hung hãn chỉ để phô bày tính yếu đuối của con người, nó chỉ đập phá chứ  không bao giờ  xây dựng được điều gì tốt đẹp. 

Tôi luôn mơ xây một bức tường in các tranh vẽ, bài thơ hay và có chủ đề chống chiến tranh ở khắp nơi trên thế giới. Đặt bên những bức tượng  ở nơi trang trọng nhất thành phố: Nó nhắc nhở mọi người đừng bao giờ quên những tội ác và đau khổ,  để chúng ta không trở thành nạn nhân trong tương lai.

Chúng ta không thể quên vì sự lãng quên ấy tạo điều kiện cho cái mầm ác trỗi dậy rồi tiếp tục chiến tranh nhân danh những điều tốt đẹp.

Tôi mong các bạn không lùi bước trước cái ác và cùng đứng lên, bên nhau và vì nhau cho đến chừng nào chúng ta còn sống. Nếu bạn còn chần chừ thì xin hãy tưởng tượng  là bạn đang sống bình yên ở một nơi nào đó rồi bỗng nhiên có một quả phi tiễn từ xa bay tới làm căn nhà đổ sập và người thân của bạn đang nằm dưới gạch đá hoang tàn . Bạn không thể chờ được nữa! Hãy cùng chúng tôi góp phần phản đối để ngăn chận chiến tranh trước khi quá muộn

Bạn ơi, nên nhớ rằng chúng ta luôn thuộc về số đông, chúng ta là một sức mạnh to lớn có thể làm thay đổi mọi thứ. “Chúng ta có thể loại bỏ chiến tranh. Chúng ta có thể nấu thép xe tăng, tàu chiến thành tàu du lịch hay gom hết vũ khí trên trái đất đúc thành những chiếc chuông nhỏ và phân phát cho tất cả mọi người, mời tham gia vào một cuộc đại diễu hành vòng quanh thế giới để kêu gọi hòa bình.

 Đồng loạt, đồng loạt những tiếng thơ trong Bài ca thế kỷ 21 – Thơ về thảm họa và các cuộc chiến tranh cũng là những tiếng chuông cùng lúc gióng lên, ngân vang trong không gian, truyền đến mọi quốc gia trên quả địa cầu để tỉnh thức tâm thiện của loài người.

               Milano  12.2022                     

Read Full Post »

Nguyễn Thanh Quang

.

Trường Lũy là một phức hợp bao gồm: lũy-bảo (đồn)-đường, hình thành từ thời chúa Nguyễn, xây dựng quy mô dưới triều Nguyễn; đi qua địa phận 3 tỉnh trước đây: Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định.

Thế nhưng chỉ cần đi qua một đoạn ngắn công trình này, phần thuộc tỉnh Bình Định (cũ) chẳng hạn, bất cứ ai mến yêu quê hương, đất nước mình cũng sẽ bùi ngùi, kính ngưỡng trái tim, khối óc, trí tuệ người xưa.

Tôi đã nhiều lần đến với Trường Lũy trong nhiều vị thế, tư cách khác nhau, lần nào cũng dâng lên niềm cảm khái.

1.

Năm 1819, triều Gia Long, Tả quân Lê Văn Duyệt (1764 – 1832) khởi công xây dựng công trình kiến trúc phòng ngự dọc theo chân Đông Trường Sơn, từ Hà Đông (Quảng Nam) đi qua các huyện phía Tây Quảng Ngãi (Trà Bồng, Sơn Tịnh, Sơn Hà, Tư Nghĩa, Minh Long, Nghĩa Hành, Ba Tơ, Đức Phổ) và các xã Hoài Sơn (Hoài Nhơn), An Hưng, thị trấn An Lão, An Tân, An Quang (An Lão). Nguyễn Tấn, vị quan chỉ huy Trường Lũy trong những năm 1860, viết trong sách Vũ Man Tạp lục thư: “Quận công Lê Văn Duyệt tâu xin xây Trường Lũy, Nam giáp ranh giới Bồng Sơn tỉnh Bình Định, Bắc giáp ranh giới huyện Hà Đông (Núi Thành) tỉnh Quảng Nam”. Các bộ chính sử của triều Nguyễn như: Đại Nam thực lục, Quốc triều chính biên toát yếu, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí… đều có ghi chép về Trường Lũy.

1bg.jpg
Các nhà khoa học khảo sát Trường Lũy. Ảnh: N.T.Q

Trường Lũy được đánh giá là một trong những công trình phòng thủ dài nhất Đông Nam Á. Tuy nhiên, việc xác định chiều dài cụ thể lại có nhiều số liệu khác biệt. Sách Đại Nam thực lục chép lũy dài khoảng 117 dặm, còn Viêm Giao trưng cổ ký thì chép 177 dặm. Sự chênh lệch này có lẽ do mỗi thời điểm ghi chép, lũy lại được nối thêm hoặc tu bổ.

Hiện nay, qua khảo sát, các nhà nghiên cứu xác định chiều dài Trường Lũy cũng khác nhau. Đoàn khảo sát của Viện Viễn Đông Bác Cổ (Pháp) tại Hà Nội và Viện Khảo cổ học Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 cho biết: Lũy có thể lên đến 300 km, trong đó riêng đoạn trên đất Bình Định dài 30 km. TS Nguyễn Tiến Đông (Viện Khảo cổ học Việt Nam) ước tính chiều dài xấp xỉ 200 km… Dù con số chênh lệch nhưng có thể khẳng định độ dài của Trường Lũy ít nhất trên 100 km. Nếu tính cả các nhánh rẽ, có thể vượt 200 km. Theo hồ sơ di tích của Bảo tàng Bình Định, đoạn lũy qua Bình Định dài 14,4 km, với 19 bảo/đồn, mỗi đồn cách nhau từ 500 m đến 1.000 m. Men theo Trường Lũy, có dấu tích con đường cổ chạy song song phía Đông Lũy, là đường thiên lý Bắc – Nam trong lịch sử.

Trường Lũy là di tích kiến trúc đa dạng về chất liệu, có cấu trúc độc đáo, được xây dựng, củng cố và mở rộng trong suốt hơn 3 thế kỷ. Xét về phương diện kiến trúc xây dựng, Trường Lũy là một trong những kỳ công của người Việt. Điểm kỳ vĩ của Trường Lũy không chỉ về độ dài, mà còn ở đặc điểm quân sự – văn hóa. Đáng chú ý, lũy không phải bức tường “khóa chặt” địa bàn miền núi với miền xuôi. Lũy cắt ngang qua nhiều con sông suối và tại mỗi điểm cắt có đồn/bảo kiểm soát. Chính thiết kế này vừa ngăn quân nổi dậy tập trung tràn xuống, vừa mở lối cho giao thương hàng hóa (lâm thổ sản, muối, vải…) giữa người Việt dưới xuôi với đồng bào H’re, Ca Dong, Xơ Đăng… ở thượng du.

Giữa hai đòi hỏi cấp bách – an ninh lãnh thổ và an ninh thương mại – Trường Lũy được coi như là một thỏa hiệp. Nếu về phương diện chính trị, Trường Lũy thực sự là sáng kiến của triều đình thì về mặt xây dựng, nó là kết quả sau cuộc thương thảo giữa Lê Văn Duyệt và các thủ lĩnh người H’re, công việc xây dựng dựa vào công nghệ truyền thống và nguồn nhân lực của cả hai cộng đồng.

GS Phan Huy Lê nhận định: Trường Lũy không chỉ là một công trình phòng thủ đơn thuần mà còn mang ý nghĩa lịch sử quan trọng, đó là giao thương giữa miền biển với miền núi. Các bảo/đồn vừa kiểm soát thu thuế, đồng thời cũng đảm bảo an ninh cho hệ thống giao thương. Điều đó có nghĩa đây là một công trình kiến trúc thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và có cả máu của tiền nhân.

Các nhà khoa học quốc tế và trong nước đánh giá cao về giá trị lịch sử, văn hóa của Trường Lũy. Cuối tháng 3.2011, đại sứ các nước Pháp, Ba Lan, Hungary, Anh, Hy Lạp, Italy cùng Phái đoàn Ủy ban châu Âu (EU) đã đến thăm di tích Trường Lũy. Các đại sứ, nhà nghiên cứu văn hóa đều có nhận định chung: Đây là công trình kiến trúc hết sức độc đáo, một di sản quý báu không chỉ của Việt Nam mà là của cả nhân loại.

2.

Tại hội thảo bảo tồn, phát huy di tích Trường Lũy gắn với du lịch tại Quảng Ngãi do UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức ngày 6-5-2011, GS Christopher Young, Hội đồng Di sản Anh, Thành viên Hội đồng Di sản thế giới, có ý kiến: Phát triển du lịch di tích Trường Lũy sẽ tạo ra cơ hội việc làm, mang lại lợi ích kinh tế bền vững cho cư dân địa phương, thông qua dịch vụ du lịch; thúc đẩy du lịch địa phương và cả miền Trung phát triển nếu tỉnh có kế hoạch bảo tồn, quản lý và khai thác có hiệu quả. Đây là điều rất quan trọng, mang tính cốt lõi cho việc bảo tồn gắn với phát triển du lịch một cách bền vững.

2bg.jpg
Bảo tàng tỉnh phối hợp với Công ty thiết kế Bảo An khảo sát Trường Lũy La Vuông đo đạc khoanh vùng bảo vệ di tích. Ảnh: N.T.Q

Theo bà Jane Brantom – chuyên gia cao cấp về du lịch Anh, người có kinh nghiệm trong việc bảo vệ lũy Hadrian ở miền Bắc nước Anh, so với lũy Hadrian thì Trường Lũy có nhiều đoạn nguyên vẹn hơn. Việc khai thác Trường Lũy phục vụ du lịch không chỉ tạo ấn tượng tốt đẹp cho du khách về văn hóa, lịch sử của một vùng đất mà còn đem lại lợi ích lớn, tạo việc làm cho nhiều người, nhất là cộng đồng dân cư sống trong khu vực di tích. Dọc Trường Lũy có cộng đồng dân tộc H’re sinh sống nên cần phục hồi một số làng văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc để khách du lịch tham quan, tìm hiểu thêm về văn hóa, ẩm thực của người dân bản địa. Có thể đón du khách về ăn nghỉ tại nhà dân theo mô hình du lịch homestay”…

3.

Tỉnh Bình Định (cũ) đã xếp hạng 153 di tích (trong đó 2 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 35 di tích cấp quốc gia, 116 di tích cấp tỉnh). Với một người gắn bó với lĩnh vực này lâu năm, tôi thấy, trong hơn 150 di tích đã được xếp hạng, chỉ có chừng 10 di tích phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch. Điều đó cho ta biết rằng, không phải tất cả các di tích được xếp hạng đều có thể phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch, có di tích phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch ngay sau khi xếp hạng, tôn tạo, có di tích sẽ phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch trong tương lai và có những di tích chỉ lưu dấu sự kiện mà không thể phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch. Bởi lẽ, để phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch, ngoài giá trị vốn có của di tích, còn phải đáp ứng những yêu cầu khác của du khách như đầu tư quy hoạch tôn tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông thuận tiện, hình thành các dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách tham quan…

them3-2.jpg
Các nhà khảo cổ học xử lý hiện trường ở lối ra vào đồn An Quang. Ảnh: N.T.Q

Năm 2024, UBND tỉnh Bình Định đã phát động cuộc thi ý tưởng thiết kế quy hoạch khu vực phát triển du lịch sinh thái La Vuông. Tháng 8-2024, TX Hoài Nhơn tổ chức Ngày hội du lịch La Vuông – Cao nguyên xanh vẫy gọi (nơi có hệ thống Trường Lũy). Đây là một cú hích nhằm giới thiệu, quảng bá vẻ đẹp thiên nhiên, văn hóa đất và người Hoài Nhơn, thu hút đầu tư phát triển du lịch. Nhưng tất cả đều thu lại kết quả rất hạn chế. Cho nên có thể nói, công tác bảo tồn di tích lịch sử – văn hóa luôn đòi hỏi “bài toán” cân bằng giữa phát triển kinh tế và gìn giữ truyền thống.

Đến hôm nay, Trường Lũy vẫn vẹn nguyên giá trị văn hóa, lịch sử, khảo cổ, mở ra cơ hội phát triển du lịch và nghiên cứu. Quản lý, bảo tồn di tích này cũng chính là góp phần khẳng định bản sắc và chiều sâu lịch sử của vùng đất Bình Định nói riêng, cũng như Việt Nam nói chung. Phát triển du lịch thông qua bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa không chỉ thu hút, đáp ứng nhu cầu của du khách mà còn góp phần lan tỏa các giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc đến với bạn bè quốc tế.

Gialai.com.vn

Read Full Post »

Nguyễn Đông A

  • .

Chiều Sài Gòn, mưa vẫn rơi. Rơi đều, lặng lẽ, dai dẳng như một nỗi buồn biết thở. Mưa phủ mờ khắp phố, len vô từng mái tôn, từng hiên nhà, từng nhịp tim người đang nghe tin: Nguyễn Quang Tấn – Hoàng tử bé của thi ca – đi rồi.

Ừ, ông đi rồi.
Đi trong lặng lẽ.
Như thể chỉ đổi một căn phòng khác để tiếp tục viết.

Con đường Nguyễn Thông chiều nay nước đọng loang loáng, xe cộ bơi qua chậm chạp. Tiếng máy nổ lẫn tiếng mưa đan vào nhau, nghe như một bản nhạc buồn của trời đất đang tiễn người thi sĩ cuối cùng của một thời viết bằng tim. Mưa lây lất, dai dẳng, như muốn níu một linh hồn còn vướng lại đâu đó giữa cõi người.

Nguyễn Quang Tấn, người sinh giữa hai miền chia cắt, lớn lên bên dòng sông Sài Gòn và cánh đồng La Ngà đầy gió. Một người nghệ sĩ không phô trương. Thơ, nhạc, tất cả trong ông chỉ là những cách để nói chuyện với đời, với lòng. Ông không tìm danh, cũng chẳng tìm tiếng. Ông chỉ mượn chữ nghĩa để giữ lại nhịp thở của một tâm hồn đã sống quá sâu, quá thật.

“Dạo khúc”, một trăm lẻ sáu bài thơ, như một cuốn kinh trầm lặng của đời ông. Mỗi bài là một nốt nhạc. Mỗi chữ là một hơi thở. Mỗi dấu ngắt là một nốt lặng của linh hồn. Thơ ông không cần ai khen, không cần ai chép. Chỉ cần người ta nghe, nghe được cái mảnh tịch liêu, cái chạm nhẹ của một trái tim từng cháy hết mình mà vẫn dịu dàng như khói hương sau lễ cầu siêu.

Ngày ông mất, trời đổ mưa khắp nơi. Mưa như thể đồng lõa, mưa như khóc. Những con đường ngập, ánh đèn vàng chập chờn trong nước, người Sài Gòn đi chậm lại, lặng. Tin về ông trôi qua mạng, qua miệng, qua những tiếng thở dài:
— “Ổng đi thiệt hả?”
Không ai nói thêm. Chỉ im.
Cái im nặng như một lời tiễn biệt.

Tôi còn nhớ lần đầu gặp ông cách nay mấy mươi năm, quán cà phê nhỏ, hẻm Nguyễn Thông, bàn gỗ, ly cà phê đen quánh. Ông ngồi viết trong yên lặng, tàn thuốc rơi mà không hay. Mắt nhìn xa, hiền mà buồn. Khi nói chuyện, giọng ông ấm, mộc, có chút hóm hỉnh của một đứa trẻ mãi không chịu lớn.


Người ta gọi ông là Hoàng tử bé. Ừ, đúng là vậy. Một hoàng tử lạc giữa trần gian, cầm bút thay gươm, lấy thơ mà chống chọi với nỗi cô độc của chính mình.

Ông từng nói: “Thơ không phải để nổi tiếng. Thơ là để còn lại.”
Câu nói tưởng nhẹ như khói mà nặng như đời.
Cái “còn lại” ấy, giờ đang thật. Nó còn trong lòng người đọc, trong trí nhớ bạn bè, trong từng buổi mưa như chiều nay. Ông đi, mà chữ vẫn ở lại, vẫn rưng rưng, vẫn hát trong im lặng.

Tôi ngồi nhớ.
Nhớ cái dáng ông ngồi co vai nghe mưa, mà như nghe tiếng đời.
Nhớ cái nụ cười hiền, ánh mắt lơ đãng mà sâu.
Nhớ cái cách ông sống – chậm, yên, nhẹ như hơi thở, mà sâu như một dòng nước ngầm.

Gia sản của ông, chỉ có mấy quyển sổ, cây đàn cũ, vài tấm hình, căn nhà nhỏ ở La Ngà. Vậy mà giàu. Giàu hơn cả những người sống giữa ánh đèn mà quên mất mình. Vì ông còn lại cái tâm hồn chưa bị tắt.

Bây giờ, trời vẫn lâm râm.
Sài Gòn còn đọng vũng.
Tiếng còi xe xa xa nghe như tiếng chuông đưa linh.


Tôi ngồi bên cửa sổ ở tận trời Tây, nhìn giọt nước nhỏ, lạnh đọng lại trên mép kính mà tưởng tượng bên kia La Ngà, có ai đang đốt nén nhang cho ông không? Có ai còn giữ những bản chép tay của “Dạo khúc”? Có ai còn nghe tiếng cười khẽ của ông, như một nốt nhạc còn sót lại sau bài ca nhân thế?

Chắc có.
Chắc nhiều lắm.
Vì người như ông, đi rồi mà vẫn ở.

Một đời, ông sống như thể không cần gì. Không giành giật. Không toan tính. Không phô trương. Chỉ âm thầm viết, âm thầm thương, âm thầm đau. Vậy mà người ta thương ông. Thương cái hiền, cái thật, cái lặng của một người chỉ muốn làm thơ mà không cần ai biết tên.

Nguyễn Quang Tấn, người thơ không cần hoa, không cần bảng hiệu.
Giờ ông yên nghỉ rồi.
Nhưng “Dạo khúc” của ông – vẫn còn.
Vẫn ngân nga trong lòng người.
Vẫn vang nhẹ giữa những buổi chiều mưa.
Vẫn sống, như chính ông từng tin:
“Ngày sau sống lại – sẽ tìm nhau.”

Rồi tôi mở lại “Dạo khúc 27”.
Đọc để tiễn biệt ông, một người anh, một người thi sĩ đã hóa vào hư không.
Tiếng thơ ông vẫn run rẩy trong từng câu chữ, như một làn khói mỏng chưa tan:

“Tiếng hồn ông như đang ngân,
Vẫn còn vọng ngân mãi…”

Ừ.
Ngân mãi.
Trong lòng người còn biết thương,
và trong những chiều mưa chưa dứt ở Sài Gòn kia.

Dạo khúc 27

Ở chỗ mà chúng ta buông tay rơi vỡ chiếc bình
long lanh giọt nước tình duyên
nơi đó sau này thành sông thành biển
ai đã chèo thuyền vào cõi vô biên

ở chỗ mà hương thơm của làn hơi thở
làm nở bừng tất cả những bông hoa
chiều nay là mây viễn xứ
một mai là gió giang hà


ở chỗ mà chiếc chìa khóa vàng
rơi từ đỉnh tháp xuống mù tăm
tôi một mình cúi xuống
từ vực sâu lời gọi âm thầm


ở chỗ mà chúng ta buông tay rơi vỡ chiếc bình
long lanh giọt nước tình duyên
nơi này thành sông thành biển…

nơi này anh đã yêu em.

( Nguyễn Quang Tấn )

Rồi tôi tiếp tục đọc:

Dạo Khúc 58

Những lời hai kẻ yêu nhau chưa kịp nói với nhau
Thì ngày đã tắt
Nắng đã phai mầu
Thời gian phơi thành muối trắng
Rơi xuống vũng sâu
Biển đã mặn lại càng thêm mặn
Bầy cá ngỡ ngàng chẳng hiểu vì đâu…


Những lời em nói bên anh trong lần gặp gỡ ban đầu
Bây giờ biêng biếc ánh sao
Đêm hè xanh ngắt
Muốn rơi như nước mắt em ngày nào
Lòng anh chẳng hiểu vì đâu

( Nguyễn Quang Tấn )

NGUYỄN QUANG TẤN – TIẾNG GỌI CỦA HAI BỜ LINH HỒN

Thơ đôi khi không còn là chữ, mà là hơi thở, một thứ nhịp tim kéo dài trong cõi khác. Đọc “Dạo khúc 27” và “Dạo khúc 58” của ông, tôi có cảm giác như nghe được hơi thở cuối cùng của một linh hồn vừa kịp nói điều chưa kịp nói. Mọi thứ đều lặng mà vang. Như thể ở đâu đó, ông vẫn đang mỉm cười nhìn lại những câu thơ của chính mình, để chúng tiếp tục sống, tiếp tục thở, trong tiếng gọi của hai bờ sinh – tử.

Những dòng thơ này không đi bằng con chữ, mà trôi theo mạch ngầm linh cảm. Chúng đến từ nỗi cô tịch, từ khoảng thở dài chưa kịp hóa lời. Thơ Nguyễn Quang Tấn, nhất là trong “Dạo khúc 27” và “Dạo khúc 58”, là nhịp sóng lặng mà sâu, là những cung ngân của tâm thức biết lắng nghe âm vang của hư vô, của mất mát, của tình yêu và cõi sau. Đọc hai bài thơ ấy, tôi như bước vào một “điệp khúc hồi sinh” của linh hồn, nơi từng giọt nước, từng hạt muối, từng làn gió đều hóa thân thành nhịp điệu của cái Đẹp thiêng liêng, siêu thực.

Trong “Dạo khúc 27”, ông mở đầu bằng hình ảnh giản dị mà lung linh tầng nghĩa:

“Ở chỗ mà chúng ta buông tay rơi vỡ chiếc bình
long lanh giọt nước tình duyên.”

Câu thơ nhẹ mà rơi sâu, như một tiếng “vỡ” không chỉ đến từ vật thể, mà đến từ chỗ rạn nứt vô hình của duyên kiếp. Từ láy “long lanh” đặt đúng vào điểm mong manh nhất, khiến “giọt nước tình duyên” không còn là nước mà là ánh sáng đang thở, là giọt linh hồn đang rung lên giữa thực và mộng. Cái tài của ông là để cho “ánh sáng” và “nước” tan vào nhau, khiến hình ảnh trở nên mờ ảo mà tinh khiết, lung linh mà cụ thể.

“Chiếc bình vỡ” ấy, ở tầng sâu hơn, là biểu tượng của đời người, của những cuộc tình không trọn vẹn. Nhưng điều kỳ diệu là, từ chỗ đổ vỡ ấy, ông lại nhìn ra được sự sinh sôi:

“Nơi đó sau này thành sông thành biển
Ai đã chèo thuyền vào cõi vô biên.”

Điệp âm “thành sông thành biển” cùng cụm từ gần âm vận “vô biên” làm câu thơ bung nở trong một trường cảm xúc mênh mông, thăm thẳm. Từ “chiếc bình vỡ” mà hóa “biển”, hóa “sông”, ấy là hành trình biến tan thành tồn tại, từ cái vỡ thành cái trọn. Nguyễn Quang Tấn không nói về cái mất, mà về cái còn, cái còn trong một dạng khác, tinh khôi và linh diệu hơn.

Bút pháp của ông trong bài này mang hơi hướng siêu thực nhưng đượm chất thiền học. Điệp cú “ở chỗ mà…” vang lên như một tiếng mõ, như một vòng thiền xoay chậm. “Hương, hoa, gió, mây, tháp, vực sâu”, tất cả hóa thành ẩn dụ cho những cõi tầng tâm linh. Khi “chiếc chìa khóa vàng rơi từ đỉnh tháp xuống mù tăm”, đó là lúc thi sĩ đánh rơi ánh sáng, đánh rơi niềm tin. Và ông, một mình, cúi xuống, nghe “lời gọi âm thầm” vang lên từ vực sâu của chính mình. Ở đó, con người không mộng mị, mà là kẻ chiêm nghiệm, đang lần mò tìm lại bản thể tình yêu trong cõi lặng.

Sang “Dạo khúc 58”, âm sắc thơ thay đổi. Trầm hơn. Mặn hơn. Già dặn như muối ướp vào năm tháng. Nếu “Dạo khúc 27” là bản giao hưởng của nước – tan, trôi, thì “Dạo khúc 58” là khúc độc tấu của muối – kết tinh, lưu giữ:

“Những lời hai kẻ yêu nhau chưa kịp nói với nhau
Thì ngày đã tắt
Nắng đã phai màu.”

Ba câu thơ mà như gói trọn một đời. Cái “chưa kịp nói” là một vết thương muôn đời, nơi thời gian không chịu dừng lại, để hai kẻ yêu nhau kịp thốt một lời. Cụm từ ngắn “phai màu” được đặt bên “nắng” làm hiện lên sự tàn phai của ký ức, của cảm xúc, của nhân duyên. Nhịp thơ ngắt quãng, hụt hơi, nghe như hơi thở dốc của một trái tim vừa đánh rơi chính mình.

“Thời gian phơi thành muối trắng
Rơi xuống vũng sâu.”

Một phát hiện lộng lẫy. “Muối trắng”, kết tinh của nước mắt, của biển, của nỗi đau. Khi “rơi xuống vũng sâu”, muối ấy hóa thành ký ức, nằm lại nơi lòng người. Nguyễn Quang Tấn làm được điều kỳ diệu: biến cảm xúc thành vật chất, rồi lại tan vật chất thành linh hồn. Một thứ thi ca siêu nghiệm, nơi tâm và vật hòa làm một.

Rồi khi “biển đã mặn lại càng thêm mặn”, ta nghe thấy trong câu chữ tiếng ngân của định mệnh, nơi tình yêu, dẫu đã hóa tro, vẫn còn vị mặn nơi đầu môi ký ức. Cái “ngỡ ngàng” của bầy cá cũng chính là cái ngỡ ngàng của thi sĩ trước sự vô lý tuyệt đẹp của tình yêu: càng xa càng nhớ, càng mất càng thương.

Giữa hai bài thơ là một mạch vô hình: từ “giọt nước tình duyên” đến “muối trắng của thời gian”. Nguyễn Quang Tấn đã đi từ “nước mềm” đến “muối cứng”, từ “trôi chảy” đến “kết tinh”. Đó là hành trình của tình yêu qua cõi trầm luân, từ tan để hóa bền, từ biến để hóa thật.

Những câu thơ của ông được dệt bằng âm thanh của khoảng lặng. “Ở chỗ mà…” trong “Dạo khúc 27” là tiếng ngân của chuông thiền; còn “Thì ngày đã tắt / Nắng đã phai màu” trong “Dạo khúc 58” lại là tiếng khép cửa của hoàng hôn. Giữa hai cung ấy là nhịp thở của thời gian – lúc lên, lúc xuống, lúc ngân, lúc tắt. Câu thơ không chỉ là chữ, mà là hơi thở. Mỗi ngôn ngữ láy, “long lanh”, “biêng biếc”, “mù tăm”, “ngỡ ngàng”, như hạt âm long lanh trong bản nhạc buồn của kiếp người.

Ông không viết thơ, mà chơi thơ. Không tạo hình, mà tạo hồn. Từ “chiếc bình vỡ” của “Dạo khúc 27” đến “hạt muối” của “Dạo khúc 58”, ngôn từ đã thành nhạc, âm thanh đã thành ánh sáng, nỗi buồn, cuối cùng đã thành thiền.

Và khi khép lại, người đọc bỗng lặng người, như đứng trước một khúc kinh của biển. Cái buồn trong thơ Nguyễn Quang Tấn không rũ rượi, không bi lụy. Nó là thứ buồn triết học, buồn vì hiểu, buồn vì thấu, buồn như gió thổi qua biển muối: trong veo, mặn mòi, lặng thẳm.

Chiếc bình ấy, dẫu vỡ, vẫn chứa cả đại dương. Hạt muối ấy, dẫu tan, vẫn lưu lại vị đời. Nguyễn Quang Tấn, người đã đi xa, để lại sau lưng mình không chỉ thơ, mà là tiếng vọng. Tiếng vọng của hai bờ linh hồn, nơi những “Dạo khúc” vẫn ngân, vẫn thở, vẫn tiếp tục gọi tên cái đẹp, cái buồn, và cái vĩnh hằng của tình yêu.

Tôi lại đọc

Dạo khúc 24

Từ cửa sổ nhìn ra nghĩa trang
Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại
Kể cả những người đàn bà quên trang điểm trước giờ hấp hối
Hay những thai nhi – chưa sinh ra – đã lìa đời.

Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại
Kể cả những tình nhân chết đêm vượt biển
Xác đàn ông nằm im dưới đáy
Xác đàn bà chẳng biết trôi đâu
Ngày sau sống lại – sẽ tìm nhau.

( Nguyễn Quang Tấn)

DẠO KHÚC CỦA NHỮNG LINH HỒN TRỞ VỀ — KHÚC NGUYỆN TRONG ÁNH MƯA CHIỀU

Cửa sổ hé mở, khung cảnh ngoài kia là nghĩa trang,  không gian tĩnh mịch, lặng yên nhưng lại như một vết dao cắt thẳng vào khoảng cách giữa hai thế giới: sống và chết. Cảnh tượng ấy không chỉ là hình ảnh, mà là sự hiện diện của ranh giới mỏng manh nhất, nơi thời gian ngừng trôi, và linh hồn bắt đầu cất tiếng gọi.

Trong Dạo khúc 24, ông không đơn thuần là một thi sĩ đối thoại với cái chết, mà là người kể chuyện giữa niềm tin và nghi hoặc, giữa thân xác mục rã và linh hồn bất diệt. Lời thơ ông nhẹ nhàng, âm vang trong cái tĩnh lặng như có hơi thở.

“Từ cửa sổ nhìn ra nghĩa trang”, câu mở đầu ngắn gọn, mộc mạc, như một tiếng gõ vào cánh cửa vô thức. Cửa sổ vốn là cánh cửa của ánh sáng, của sự sống, thế nhưng ông lại chọn nhìn về nghĩa trang, chốn của người khuất, một cái nhìn ngược dòng, nghịch hướng sinh tồn. Chính từ đó, bài thơ kéo ta vào một chiều không gian khác: chiều sâu của tâm linh.

“Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.”

Câu ấy như một lời kinh, trang nghiêm, chân thành. Sự lặp lại của cụm từ “Tôi tin” như tiếng tim đập xuyên suốt, vừa là nhịp điệu, vừa là trục xoay tâm hồn bài thơ. Niềm tin trong thơ ông không giáo điều, mà là trải nghiệm, là sự bền bỉ giữ lấy cái bất tử giữa đời phù du.

“Kể cả những người đàn bà quên trang điểm trước giờ hấp hối.”

Một chi tiết giản đơn nhưng thấm thía vô cùng. Cái chết không chỉ là kết thúc, mà là sự bỏ quên những điều mỏng manh cuối cùng của cuộc đời, cái phấn, cái son, dấu vết của nữ tính. Từ láy “hấp hối” vỡ ra như tiếng thở gấp, âm “hối” ngân dài, giục giã, vừa khép lại, vừa mở ra một cõi khác, nơi niềm tin được cứu chuộc.

“Hay những thai nhi – chưa sinh ra – đã lìa đời.”

Như một nhát dao cắt ánh sáng tắt lịm, cụm từ ngắn “lìa đời” nhẹ nhưng sắc, mang theo bi kịch lặng thầm của những sinh mệnh chưa kịp gọi tên. Nguyễn Quang Tấn không chỉ tin vào sự hồi sinh của người từng sống, mà còn với những sinh linh chưa từng hiện hữu. Một niềm tin bao dung, thiêng liêng vượt ra khỏi sinh học, chạm đến bản thể sự sống bất tử.

Khổ thơ thứ hai vang lên như một bài kinh được thầm niệm lại:

“Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại / Kể cả những tình nhân chết đêm vượt biển.”

Chỉ vỏn vẹn ba chữ “đêm vượt biển”, mà mang trọn bi kịch của lịch sử, ký ức dân tộc. Xác đàn ông “nằm im dưới đáy”, xác đàn bà “chẳng biết trôi đâu”, sự tương phản giữa “im” và “trôi” dựng lên hai hình thái mất mát khác biệt: chôn vùi và lưu lạc. Từ đơn “im” tưởng chừng đơn giản, nhưng là tiếng vọng thăm thẳm của biển sâu, của vô vọng, của vĩnh hằng.

Rồi lời thơ vang lên như tiếng chuông trong bóng tối:

“Ngày sau sống lại – sẽ tìm nhau.”

Câu thơ giản dị đến tận cùng mà sâu thẳm không bút nào tả xiết. Dấu gạch ngang trong câu tạo nên khoảng thở, như hơi dừng để linh hồn kịp quay về, kịp nhận ra nhau. “Ngày sau” không chỉ là thời gian, mà là không gian tâm linh, nơi cái chết không chấm dứt, mà chỉ là dấu phẩy tạm ngừng.

Bài thơ cấu thành từ hai khổ đối xứng, mỗi khổ bốn câu, mở đầu bằng câu niềm tin: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Ẩn sau đó là một phép chiếu nhân sinh quan đậm đà nhân bản – thi sĩ không rao giảng giáo lý, mà cứu chuộc chính mình, cứu chuộc những phận người ông yêu thương. Niềm tin trở thành hành động kháng cự trước sự lãng quên, như ngọn đèn le lói trong đêm đen.

Nhịp thơ thở, gấp, dãn. Câu dài ngắn đan xen, dấu gạch ngang nhấn nhá, kéo giãn cảm xúc, tạo nhạc điệu riêng biệt. “Ngày sau sống lại – sẽ tìm nhau” là một hơi thở dài, một nốt lặng cho tâm hồn. Người đọc không chỉ nhìn, mà phải nghe bằng tim. Mỗi khoảng trống là nơi để ta đặt vào hơi thở riêng mình.

Nguyễn Quang Tấn vốn là nghệ sĩ đa chiều, thơ, nhạc hòa quyện. Trong Dạo khúc 24, ta nghe được tiếng requiem lặng lẽ, gam trầm u uẩn của ngôn ngữ ngắn như “xác loài người”, “nghĩa trang”, “lìa đời” xen lẫn ánh sáng hy vọng của “sống lại”, “tìm nhau”. Ông không để những gam màu ấy triệt tiêu nhau, mà để chúng giao thoa, tạo ra ánh sáng mờ ảo như khói nhang trong buổi chiều cúng thất.

Từ láy và cụm từ ngắn gần âm vận trong bài, dù ít ỏi, nhưng trúng ý, đắt giá:

“Hấp hối” – âm đầu lặp lại, vang vọng như hơi thở cuối cùng run rẩy, dập dềnh.
“Lìa đời” – âm “l” trơn, lạnh, kéo dài cảm giác rời xa sự sống.

Chúng không chỉ mô tả trạng thái, mà còn là nốt nhạc trầm vang vọng mãi trong tâm khảm.

Ẩn sâu trong từng câu chữ là triết lý thi ca thuần phương Nam: không giáo điều, không triết luận suông, mà thấm thía, nhân hậu như lời người xưa thì thầm. Từ niềm tin tôn giáo, nhà thơ chuyển hóa thành niềm tin nhân thế, tin vào sự hồi sinh của yêu thương, của ký ức, của những linh hồn bị bỏ quên, bị lãng quên. Những phận nhỏ bé ấy được gọi tên, được phục sinh bằng chữ nghĩa, được tái sinh trong ánh sáng của lòng nhân.

Nơi nhiều thi nhân khác né tránh cái chết bằng sợ hãi, Nguyễn Quang Tấn nhìn nó bằng ánh mắt hiền từ, thấu triệt. “Từ cửa sổ nhìn ra nghĩa trang”, cái nhìn ấy không bi lụy, mà là sự hòa tan vào dòng chảy luân hồi. Thơ ông vừa mang sắc thái phật tính vừa đượm công giáo tính: vừa thiền, vừa lễ, vừa buông, vừa giữ.

Khi bài thơ khép lại, không là chấm hết. Bởi niềm tin là hành trình không điểm dừng. Dù thân xác ông đã nằm lại dưới đất Sài Gòn ẩm ướt, tiếng thơ ấy vẫn còn run rẩy, vẫn còn sống lại,  tìm nhau trong ký ức những ai còn nhớ.

Dạo khúc 24 – bài thơ ngắn như hơi thở, mà đủ sâu để ôm trọn một kiếp người. Nó không chỉ nói về sự phục sinh, mà chính nó là một cuộc phục sinh – của cái đẹp, của lòng tin, của thi ca. Một nốt nhạc ngân dài giữa khoảng trầm của nhân thế, một làn khói mong manh mà sáng, soi qua bao nhiêu u tối của phận người.

Nguyễn Quang Tấn, người Hoàng tử bé của thơ ca, đã biến nỗi chết thành khúc hát, biến im lặng thành âm vang. Cái chết đối với ông không phải là dấu chấm hết, mà chỉ là một khúc nghỉ giữa bản nhạc dài. Một nốt dừng để linh hồn kịp thở, kịp ngân, kịp đi tiếp vào cõi sáng.

DẠO KHÚC CUỐI TRỜI MƯA – VĨNH BIỆT HOÀNG TỬ BÉ NGUYỄN QUANG TẤN

Giờ này, Sài Gòn vẫn mưa lâm râm.
Mưa như thể không nỡ dứt, cứ nhỏ hạt hoài trên mái nhà, trên lối phố.
Huế, Hà Nội – những con đường vẫn còn ngập nước.


Ánh đèn vàng chao chát trên mặt đường, loang loáng trong nước đục, như ánh linh hồn vừa rời khỏi thân xác mà chưa kịp bay cao.

Ông đi tối 01 tháng 11.


Âm thầm. Nhẹ như gió.
Chẳng cần đưa tiễn, chẳng cần huyên náo.
Chỉ cần một cơn mưa làm nền,
một nén hương nhỏ,
một tiếng đọc thầm: “Ngày sau sống lại – sẽ tìm nhau.”

Vĩnh biệt ông – Nguyễn Quang Tấn,


người Hoàng tử bé của thi ca,
người đã chọn rời đời bằng tiếng thơ,
để cái đẹp vẫn còn ở lại.

Mưa vẫn rơi.
Rơi đều, dịu dàng, trầm mặc.
Như khúc tiễn đưa không lời,
như thơ ông – giản dị, mà sâu thẳm vô cùng.

Maryland, khuya 01.11.2025
Nguyễn Đông A

_____________

Nguồn Tạp chí Thế Kỷ Mới

Read Full Post »

Tuấn Trần

.
Rơi ra từ căn phòng bài trí trang trọng của một tòa lâu đài cổ kính. “HẠT BỤI” kia đã chọn kiếp “LÊNH ĐÊNH” để rồi một ngày lưu dấu hồn trần nơi “quê người đất khách”. Hẳn là trong sự lựa chọn “nghịch thường” đó, hàm chứa một điều lớn lao địa cửu thiên trường nơi thân mệnh mong manh cánh chuồn. “HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH” – ngay từ nhan đề… đã cho thấy sắc tính Á Đông thông dụng. Điều đặc biệt ở đây. Nó được viết bởi ELENA PUCILLO TRƯƠNG một nhà văn, một nhà Khoa học/ học giả Ngữ Văn của Tây Phương – Ý.

Thế nhưng, không nên hiểu nhan đề như sự mô tả/ minh họa thông thường. Đó không phải là bước đời nổi trôi đau đáu về nghìn trùng xa cách, tháng năm thương thầm tiễn biệt. Mà là cái “lênh đênh” để kiếm tìm, để bám chạm, cầm nắm, ôm nâng, “xẻ xan”…. Để thấy trước mắt mình và sau lưng người “Một cuộc đời không bao giờ có những giây phút “không – tình- yêu”. Thế thì tuyệt diệu biết bao!”.

“HẠT BỤI” đã kiên nhẫn, ân cần bén rễ vào cảnh tình, môi sinh, kiến tạo mối cộng sinh đặc biệt – như đã từng trong lịch sử Danh nhân – “Giữa Mạc Tự Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh”. Phải chăng đây là “đóa bách hợp” giữa trời thu hòa bình…

Trên sân khấu Văn chương nước nhà – đương đại, sự góp mặt của nữ văn sĩ Elena Pucillo Truong, đã như một “hạt nắng”, tuy nhỏ nhoi nhưng đủ rọi tin rằng: Tiếng Việt, Văn chương Việt, có khả năng lớn lao chạm cảm đến tận chân trời. Đó là sự tự cất lời, là khả năng thẩm thấu, giao kết, ăn bắt bền chặt của chính bản thân chữ nghĩa – Tiếng Việt, mà ta cứ tưởng quá đỗi gian nan khi ra biển rộng, tạo ra những thách thức hằn hộc trong chuyển ngữ. Nhưng thực tế, Văn chương đâu phải thế, rào cản của nó là ở tâm hồn và trái tim, không phải chờ những phương tiện chuyên chở/ bợ đỡ như truyền thông hay dịch thuật…

Nơi mảnh đất mà nỗi đau thành thực róng riết hơn bất cứ đâu trên địa cầu này, thì việc đồng điệu với những thân phận lòng riêng khi soi tìm để ôm vỗ đôi bờ trong nhau là điều không khó. Và có lẽ, sâu trong tâm thức “áng tóc vàng trữ tình” đó, có đeo mang một nỗi niềm thân phận như “hạt mưa sa”, như “chẽn lúa đòng đòng”, như “bảy nổi ba chìm”… Ấy thế mới có sự cộng hưởng, song trùng cho cùng Tiếng Việt, để rung ngân những sợi đàn lòng trong tỉnh thức: “Sự quên lãng chính là thứ quà tặng quý báu, vì sau nhiều ngày hôn mê, khi tỉnh dậy, bé không còn nhớ gì về những việc đã qua… Thế rồi cuộc đời nó như được tái sinh, khởi đầu bằng sự đón nhận bình yên và thanh thản cùng với gương mặt dịu hiền…”.

Quả thật! cuộc đời của “HẠT BỤI” cũng côi cút, truân chuyên như bao phận nữ nhi thường tình nơi “Cửa Khổng sân Trình” hay một kiếp đời hiu hắt sinh ra trong bối cảnh tử chiến. Tương đồng mật thiết nhất là với tuổi thơ của “Bông hồng nơi chiến hào” (Xuân Quỳnh). “Cô gái tóc vàng” cũng vậy – qua lời tự bạch trầm mặc thấm thía: “Tôi là một đứa bé mồ côi, bị bỏ rơi nơi góc đường trong một thành phố nhỏ… Có ai đó đã nhặt tôi lên và cho tôi ăn uống… Và có lẽ một điều gì đó kinh khủng đã xảy ra và tôi bị đưa vào trại trẻ mồ côi”. Không khuất nhục trước số phận, thiếu nữ bất hạnh kia đã học và học rất giỏi để mong rằng một ngày trở lại với ngôi nhà đầy hương hoa oải hương – nơi mà cô đã được ai đó nhặt lên, chăm nuôi và có những khoảng sống hạnh phúc hiếm có trong một đời người… Đến đây bạn đã hiểu phần nào về sợi dây phép màu đã kết bện mối nhân duyên tưởng “nghịch chiều” này rồi chứ!

Và tất nhiên, quy luật của cuộc sống là quy luật của tình yêu – Bởi “Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi” (Quote: Lưu Quang Vũ). Nên mối lương duyên nặng nghĩa này không thể nằm ngoài hai chữ “yêu nhau”. Những lời “chất vấn ngào ngọt” trào dâng từ dòng chữ thư tay… Tình cảm của “họ” cũng như bao chàng trai, cô gái cùng thời đại, nó được bắt đầu từ những bức thư. Bức thư của “anh” gửi đến nhiều hơn một lần, cùng những lời ân cần và thành thật chính là “căn cứ” xác tín để cho cô gái trẻ “đang chìm trong sự trĩu buồn của thân phận” quyết định “dâu bể xứ người”… Từ khoảnh khắc “…trái tim ngừng đập trong giây phút đôi môi rụt rè đã thấy nhau”, hai số phận đã cùng sang trang…

Có thể nói rằng tình yêu đôi lứa đã trở thành “duyên cớ” để cho cô gái Italia yêu đất, yêu người Bình Định (quê hương của phu quân) – yêu đất yêu người Việt Nam. Tình yêu của Elena Pucillo Truong mang màu sắc hoài cổ, và đó cũng chính là sắc màu chủ đạo của tình yêu Việt Nam. Yêu nét đẹp văn hóa, yêu những mùa qua, yêu giọt cà phê, nữ sĩ đi tìm tình yêu trong tiếng nói người xưa nơi đỉnh núi thiêng, nơi ngôi chùa cổ, qua những cuộc chuyện trò ngõ vắng, lắng nghe thanh âm mưu sinh máu thịt… “Cô gái Italia” kể chuyện rất đôn hậu, tỉ mỉ và đong tình đậm nghĩa về những “cử chỉ” đẹp trong trong đời.

Những đoản khúc ân tình hiện ra chân thực, mang nhân sinh quan nhân văn, nhân bản của người con Lạc Việt. Có thể nói Elena Pucillo Truong đã huyền hòa thẩm sâu trong điệu hồn dân tộc này, mới thể hiện được ánh nhìn bản sắc đậm đà nơi chữ nghĩa đó: “Tôi không thể nào quên cuộc gặp gỡ với bà lão bán nhang… cụ cầm bàn tay tôi ấp giữa hai tay mình… sau đó bà đặt bàn tay bà lên trái tim tôi và sau đó lên trái tim bà… Tôi đáp lại nụ cười của bà bằng một vòng ôm thân thiện và từ ngày đó tôi thường mang theo mình cái cử chỉ che chở ấy trong những lúc gặp khó khăn trong đời”.

Tiếng Việt mà Elena dùng để bộc lộ tình yêu với người Việt rất giản dị, hồn hậu mà thấm lắng sâu sắc. Hòa lẫn trong đó cái “hồn nhiên” như để “yếm thế” nỗi buồn “góc bể chân mây”, nỗi ưu uất phận người bạc lãnh bể dâu: “Đó là cảm giác tuyệt vời mà có lẽ tôi chưa bao giờ được trải nghiệm! cái cảm giác mình vô địch thật hết sức sinh động. Vô địch mà không cần chiến tích, không cần tham gia những trận tranh đua, không cần phải mang trên người chiếc mặt nạ, xa rời cái thế giới mà con người chỉ biết phán xét hay đánh giá vì vẻ ngoài, vì những thứ phô trương, sở hữu chứ không phải nhờ giá trị như mình thực sự có”.

Với giọng trung dung giữa Tự sự và trữ tình tản mạn. Có thể gọi “HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH” là những lời tâm sự tỉnh thức khơi mạch nguồn từ “tình yêu”: Tình yêu “chàng”, rồi yêu đất, yêu người và yêu nhân loại. Tình yêu đó được xây dựng từ cốt lõi của đạo lớn/ của đức hạnh rất mực Đông Phương, đã bằng cách nào đó ngẫu nhiên tương phùng với chủ thể – một người phụ nữ tóc vàng, da trắng, mắt xanh. Chị không mang trong mình dòng máu đất Phật nhưng đã sớm trở thành “đồng lõa” của thế giới “Người vẫn ngọt bùi qua muôn nỗi đắng cay” này! Và đi trong ánh sáng “tuệ nhãn”… Để rồi:

Những trang viết của Elena thấm nhuần triết lý Buddha về vô thường và vô ngã – vô sở cầu. Nhận thức được rằng mọi thứ đều mong manh, chóng vánh. Hạnh phúc, nỗi buồn, thậm chí cả ký ức. Tất cả rồi sẽ tan biến như hạt bụi trong đời “tai bay vạ gió”. Nhưng chính vì thế, chị đã học cách yêu thương ngay khi còn có thể. Đó là bước đầu giác ngộ của một tâm hồn đã từng quạnh quẽ. Một tâm hồn không bi lụy, không than van, mà biến sự mong manh thành động lực sống trọn vẹn: “Tiếng nói của một người lạ mặt đã cho tôi cái sức mạnh mà trước đây tôi cứ tưởng là mình không còn nữa. Âm thanh đó còn cho tôi biết là trên đời này tôi không còn cô độc. Nghĩa là tôi cũng có thể có một phần hạnh phúc, tôi phải tin như thế”.

Đọc “HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH”, ta không hề tuyệt vọng. Trái lại, cảm giác bình thản, an ủi lan tỏa. Elena nhìn thẳng vào sự “tạm bợ”, “oải mục” kiếp số để đánh thức hi vọng. Biết rồi đây mình cũng sẽ tan biến. Nhưng trước khi hóa hư vô, ta muốn sống như hạt bụi trong nắng – nhỏ bé mà sáng trong. Có phải đó là điều Elena muốn nói… Là triết lý sống đẹp, khích lệ bạn đọc không buông xuôi trước sự vô thường.



Khi đặt tác phẩm trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện đại, ta nhận thấy nó góp thêm một tiếng nói cần thiết. Văn học hôm nay đang tìm kiếm những tác phẩm có tầm vóc nhân văn, có triết lý sâu xa mà vẫn dung dị, đời thường – “… trên đường phố không thiếu những người nông dân quang gánh trên vai, chiếc nón lá trên đầu và nụ cười hiền hậu thường trực trên môi”.

“HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH” với “dung lượng tinh thần”, không phức tạp về kết cấu, nhưng nhờ chiều sâu tư tưởng và sự đồng cảm rộng rãi, nó đã trở thành một tác phẩm đáng để đọc. Đọc để trở về với chính ta, một thế giới nội tại hoàn kết – trong sự im lặng tĩnh tại “… mở ra cánh cửa của vùng trí tuệ tiềm ẩn, không phán xét và cũng không phân biệt, chỉ đơn giản giúp ta nghe được chính ta, ngoại cảnh và kẻ khác. Đó chính là khám phá được kho tàng giống như lời Phật dạy: “Ai từ bỏ thế giới thì sẽ nghe được âm thanh của niết bàn”.

Đó là một hành trình chiêm nghiệm về thân phận, một lời nhắc nhở về sự vội vã hữu hạn của thời gian trong một đời người đồng thời giục giã yêu thương. Một lần nữa, trước sự thật: chúng ta chỉ là những hạt bụi, bé nhỏ, lênh đênh. Elena ngọt ngào cất tiếng: Nhưng cũng chính vì thế – nhỏ bé và lênh đênh mà ta càng cần yêu, cần sống, cần sẻ chia cho ngay bây dừ…

Không ồn ào, không phô trương, chân phương mà bền vững, như chính hạt bụi – nhỏ nhoi mà bất diệt, gió dập sóng vùi vẫn muôn đời đồng hiện cho cùng cái đẹp…: “Nhiều lần anh nói đùa là anh đã cưới em vì em đã dạy anh nhìn những ánh sao trên bầu trời hay lắng nghe tiếng rì rào của biển và chuyển động của thủy triều, còn em thì nói yêu anh vì sự bền bỉ, tính kiên trì và bằng cách mà chúng ra đã gần gũi và chia sẻ cùng nhau trong từng cảnh ngộ vui buồn”. Trân trọng!

Tuấn Trần

Read Full Post »

Những vệt đen biết thở

Lê Trọng Nghĩa

“Có những vết nứt không bao giờ là vết thương. Chúng là cánh cửa, là ký ức, là tiếng thở nhỏ nhoi của điều đã sống – và chưa từng được gọi tên.”

Những vệt đen biết thở - ảnh 1

Tôi đặt tay lên bức tường đá của ngôi tháp cổ. Đá lạnh, nhưng đó không phải cái lạnh của vật chất, mà là cái lạnh của thời gian – của những thế kỷ đã trôi qua, lặng lẽ đọng lại trong từng thớ gạch, từng khe nứt, từng đường vân bị bào mòn. Ngón tay tôi như chạm vào một tầng ký ức đã hóa thể, kết tinh thành im lặng.

Giữa khe nứt mảnh như vết dao khắc vào da thịt đất đá, có một vệt đen. Nó không đứng yên. Tôi cảm nhận nó đang chuyển động, như dòng chảy vô hình, ẩn mình dưới lớp thời gian.

Vệt đen ấy bò quanh mép gạch, men theo rãnh đá, rồi lẩn khuất vào những chùm rêu lặng lẽ bám bên tường. Dưới ánh sáng xiên qua tán cây già, vệt đen ấy bỗng lóng lánh, không rực rỡ mà nhức nhối – như ánh nhìn cuối cùng của một người sắp rời đi.

Tôi nghĩ về một vương triều đã sụp đổ – Chămpa, những thành quách nhuốm màu đất đỏ, những vì thần và những câu chuyện tình yêu bỏ quên trong tro bụi.

Có thể, nơi này từng có một người con gái Chăm đi chân trần trên bậc thềm đá lạnh, tay ôm đàn đá, mắt ngóng về cánh rừng, chờ một người không bao giờ trở lại.

Khi chiến mã kéo về chân tháp, khi lửa thiêu sáng cả triều đại, tình yêu ấy vẫn còn, nhỏ như hạt bụi, nhưng bền bỉ như vết đen kia – không bao giờ biến mất.

Tôi đứng đó, giữa tàn tích im lặng, thấy vệt đen ấy như một sinh thể đang sống – một dòng mực ký ức chảy ngang qua lịch sử, viết tiếp những điều chưa từng được gọi tên.

Những vệt đen ngoằn ngoèo quanh các hốc gạch, rồi hòa mình trong những rễ cây, len lỏi xuống lòng đá, như dòng suối ngầm không bao giờ cạn. Không ai thực sự thấy chúng, nhưng ai cũng đã từng cảm nhận được sự có mặt của chúng, như tiếng thì thầm trong lòng, rất khẽ, nhưng không thể làm ngơ.

Những vệt đen biết thở - ảnh 2

Bầu trời phía trên vòm tháp như cũng trĩu nặng. Một cánh chim thần từ cánh tháp bất ngờ xao xác lướt qua, không phải âm thanh của cánh bay, mà là tiếng chạm mỏng tang giữa trời và ký ức. Âm thanh ấy làm không gian chao đảo, để lại dư vang như sợi chỉ vô hình nối liền quá khứ và hiện tại, giữa linh hồn và hình thể.

Ở góc tường, những ngón tay của phù điêu cổ vươn lên, động đậy dưới ánh chiều tà – như cố níu lấy điều gì đang tan ra. Tôi nghe tiếng gió rít qua các vòm trống, như tiếng Shiva vừa thức giấc.

Em – không rõ từ đâu đến – đứng bên tôi, ánh nhìn mờ xa như đã qua nhiều kiếp. Tôi chạm tay em, chỉ chạm vào lớp khói mỏng, thơm hương trầm. Em là hiện thân của những người từng yêu trong im lặng, từng đợi trong mù sương, từng tan vào đá.

Tôi cảm nhận như từ sâu trong lòng tháp có một trái tim già nua, nứt chảy ra những vệt đen – không phải của nỗi buồn, mà là dấu ấn của những câu chuyện chưa kể, những khát khao chưa được thấu hiểu.

Tình yêu trong tôi lúc đó không có tên, không có lời hứa, nhưng có hình: hình một vệt đen lặng lẽ bám vào tường đá cổ. Tôi không biết tình yêu ấy bắt đầu từ ai, kết thúc ở đâu, nhưng nó tồn tại – không cần người chứng, không cần lễ nghi.

Nó là thứ âm nhạc không vang thành tiếng, chỉ rung lên trong lồng ngực mỗi khi ta chạm vào một điều từng thiêng liêng.

Tường đá lúc này không còn là vật thể. Nó là bản nhạc chưa có người diễn. Mỗi vết nứt, mỗi vệt đen là một dòng ký âm trầm. Khi ánh sáng tan qua lớp rêu, tôi nhìn thấy: không chỉ là vết sẹo thời gian, mà là linh hồn còn đọng lại. Và trên những vệt rêu lóng lánh bất chợt nhìn thấy những đóa hoa xanh bung nở.

Tôi áp tay vào đá lần nữa, không để tìm hiểu, mà để im lặng cùng. Và trong sự im lặng ấy, tôi nghe được một nhịp thở, không phải từ ngôi đền, mà từ bên trong chính tôi.

Một phần sâu xa mà tôi đã từng đánh mất – giờ đây, đang trở về, cùng với em, cùng những vệt đen lóng lánh trên nền cổ xưa.

Chúng tôi, và tình yêu ấy, đã hòa vào mênh mông.

Read Full Post »

Hà Tùng Sơn

.

Sống và viết ngay trên quê hương xứ Nẫu, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trần Xuân Toàn đã chọn Bình Định làm không gian nghiên cứu để từ đó anh có hàng trăm bài báo, bài tham luận về văn hóa, văn nghệ dân gian Bình Định được công bố trong hàng chục năm qua. Trên cơ sở đó, anh đã tập hợp, biên soạn, chỉnh lý để cho ra cuốn Dạo bước vườn văn xứ Nẫu dày 530 trang (NXB Dân trí ấn hành tháng 12.2024). Đây là một thành quả đáng kể của Trần Xuân Toàn trên con đường nghiên cứu và sưu tầm văn hóa, văn chương xứ Nẫu – Bình Định, vùng đất được xem là văn võ song toàn.

Dạo bước vườn văn xứ Nẫu- Ảnh 1.
Sách Dạo bước vườn văn xứ Nẫu của tác giả Trần Xuân Toàn

Cuốn sách gồm hai phần. Phần I: Hương sắc dân gian Bình Định gồm những bài viết liên quan đến chủ đề văn hóa, văn nghệ dân gian trên dải đất Bình Định. Phần II: Chân dung và tác phẩm, lànhững bài viết chân dung văn học về các tác giả, tác phẩm, các nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian gắn kết với Bình Định từ xưa đến nay. Với bố cục đó, tác giả Trần Xuân Toàn khiêm tốn xem mình như một lữ khách dạo bước qua vườn văn xứ Nẫu, Bình Định. Nhưng trên thực tế, đây đều là những tiểu luận nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về tác giả, tác phẩm tạo nên một diện mạo đầy đủ và nghiêm túc về một vùng văn hóa và văn học. Thực sự đó là một vườn hoa nhiều hương sắc về vùng đất võ, xứ văn chương Bình Định.

Bình Định như một Việt Nam thu nhỏ về sự đa dạng của văn hóa và văn học từ dân gian đến hiện đại. Lịch sử hình thành và phát triển của xứ Nẫu, Bình Định gắn với lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của văn hóa, văn học địa phương này trong sự thống nhất và đa dạng. Đó là tiền đề để tác giả Trần Xuân Toàn dày công nghiên cứu và cho ra tác phẩm Dạo bước vườn văn xứ Nẫu

Với công trình này, tác giả muốn gửi đến bạn đọc thông điệp: “Cũng như con người, văn hóa và văn chương luôn mang đậm tính vùng miền như một thuộc tính tất yếu”. Chính thuộc tính ấy tạo nên sự đa dạng, đa sắc và cá tính với tất cả sự hấp dẫn của nó. Với con mắt của nhà nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra được sự khác biệt, sự đặc sắc và đa dạng của văn hóa, văn học Bình Định.

Chẳng hạn khi nói về văn học dân gian miền biển Bình Định, anh đã khẳng định: “Ở đâu có con người ở đó sẽ ra đời một nền văn học dân gian”. Cư dân miền biển Bình Định cũng vậy, suốt một dải bờ biển dài hàng trăm km từ Hoài Nhơn vào đến Quy Nhơn, nơi đâu cũng dày đặc những làng chài với những con người ngày ngày bám biển để sống, để làm giàu từ biển. Cũng từ đó, các làng chài Bình Định hình thành nên một nền văn hóa, văn nghệ dân gian độc đáo và đa dạng như con người vùng biển nơi đây – mộc mạc mà thắm thiết, chân tình mà mãnh liệt. Chỉ có người con gái biển Bình Định mới bộc lộ tình yêu với chàng trai biển bằng nỗi lo đau đáu mỗi khi người yêu dong buồm ra khơi đánh cá:

“Nồm nam, bấc chướng sóng lượn ba đào

Anh đi câu. Biết chừng nào anh vô”

Đó là câu ca dao ở vùng biển Bình Định mà Trần Xuân Toàn đã sưu tầm được trong những chuyến anh đi điền dã.

Các kết quả nghiên cứu văn học hiện đại của Trần Xuân Toàn trong Dạo bước vườn văn xứ Nẫu đã chỉ ra rằng, phong trào Thơ mới có nhiều thi nhân nổi tiếng bắt đầu từ phố biển Quy Nhơn. Lưu Trọng Lư, tác giả của bài thơ Tiếng thu nổi tiếng, từng diễn thuyết cổ xúy cho phong trào Thơ mới tại nhà Học hội Quy Nhơn từ tháng 6.1934. Trong số 45 tác giả có tên trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân thì Bình Định đóng góp đến 5 gương mặt trong đó nổi bật là Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn…

Ngoài Thơ mới, cuốn sách Trần Xuân Toàn cũng cho độc giả biết Quy Nhơn – Bình Định còn là vùng đất quê hương của hàng trăm văn nhân, thi sĩ, nghệ sĩ đang sinh sống và hoạt động nghệ thuật trên khắp mọi miền đất nước. Đồng thời, đó cũng là vùng đất mà rất nhiều văn nhân, thi sĩ trên khắp cả nước đã tìm đến với rất nhiều cảm hứng sáng tạo để từ đó kết thành duyên nợ văn chương với Quy Nhơn. Và đó là niềm tự hào của người xứ Nẫu, Bình Định được tác giả đề cập khá nhiều trong cuốn Dạo bước vườn văn xứ Nẫu. Anh xem đó là một thành tựu lớn của văn hóa, văn học Bình Định.

Với Trần Xuân Toàn, nghiên cứu về văn hóa, văn học Bình Định xưa và nay là một trong những hướng tiếp cận mà anh dành nhiều tâm huyết. Từ những trang viết của anh trong Dạo bước vườn văn xứ Nẫu, những gương mặt văn chương Bình Định thời hiện đại và đương đại thêm một lần được tỏa sáng. Đó là các văn nhân, nghệ sĩ nổi danh sống và viết trên đất Bình Định như Yến Lan, Vương Linh, Lệ Thu, Cao Duy Thảo, Thanh Thảo, Thu Hoài, Ngô Thế Oanh, Nguyễn Thanh Hiện, Đinh Xăng Hiền, Từ Quốc Hoài, Hà Giao, Lê Văn Ngăn… Đó còn là những cây bút trẻ sung sức với sức sáng tạo mãnh liệt và rất thành công như Nguyễn Thị Tư, Cao Chư, Trần Thị Huyền Trang, Nguyễn Thanh Mừng, Nguyễn Đăng Vũ, Phạm Đương, Mai Thìn… Đó là một nền văn học đương đại mà như Trần Xuân Toàn nói là “tràn căng sức trẻ”. Phản ánh một cách sinh động về những tác giả và tác phẩm văn chương Bình Định thời đương đại như trên cũng là một thành công lớn của Dạo bước vườn văn xứ Nẫu.

Là một nhà nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian đồng thời cũng là một giảng viên văn học dân gian của Trường đại học Quy Nhơn, Trần Xuân Toàn đã viết các tiểu luận và cảm nhận văn học trong Dạo bước vườn văn xứ Nẫu một cách nghiêm túc, điềm đạm. Các luận chứng, luận điểm anh đưa ra đều dựa trên thực tiễn điền dã với đầy đủ các chứng cứ và ngữ liệu. Viết về văn chương nhưng văn chương của Trần Xuân Toàn rất thật thà và giản dị bởi anh là một nhà giáo dạy văn làm nghiên cứu văn học. Điều đó đã mang đến sự thành công của anh qua Dạo bước vườn văn xứ Nẫu.

Read Full Post »

Kiệt Tấn

Tháng mười năm nay, 2024, người viết nhận được món quà quý giá và thân thiện đến từ Trương Văn Dân, tác giả tập truyện ngắn và tản văn “Gia đình – những nỗi đau ngọt ngào”. Sách dày hơn 370 trang, chia làm 29 tựa.

Tập truyện mà các bạn đang cầm trên tay có chủ đề về những mối quan hệ trong gia đình và tình nghĩa vợ chồng. Tác giả đã minh định như vậy ngay từ đầu, trong Lời ngỏ. Rồi viết tiếp:

“Gia đình là một tế bào rất quan trọng (…) Gia đình giống như một vũ trụ nhỏ, nơi chúng ta học cách trở thành thành viên của xã hội lớn”. “Cuộc sống gia đình có thể trở thành là thiên đường cũng có thể là địa ngục. Tấn kịch trong gia đình có lẽ là tấn kịch đáng sợ nhất trong kiếp sống của loài người”.

Người đọc đã được cảnh báo trước, phải cẩn thận thắt dây an toàn lên người, trước khi khởi sự đọc truyện viết đầu tiên của tác giả. Và quả nhiên, 29 câu chuyện của Trương Văn Dân đã diễn tiến y chang như trong Lời ngỏ. Bên cạnh những thương yêu đùm bọc ấm áp trong gia đình và giữa vợ chồng, còn có những màn vô cùng bỉ ổi vì tranh chấp quyền lợi, tiền bạc và nhứt là gia tài – dĩ nhiên. Rồi từ đó tác giả đưa ra những nhận định bao quát như những bài học để đời. Những bài học này có khi là những lời tạc dạ ghi ơn hoặc khen ngợi sự tận tâm và hy sinh cao cả của cha mẹ, anh em. Rất cảm kích! Nhưng cũng có khi là những lời cảnh cáo, đại loại “Các em nên lấy đó làm gương mà giữ mình” như trong sách Quốc văn giáo khoa thư.

Cái thiện ý của Trương Văn Dân rất rõ rệt, rất đáng được cổ võ. Và dường như tác giả viết truyện cũng chỉ nhằm có mỗi một mục đích đó. Những bài học để đời. Truyện kể chỉ là ẩn dụ, như một cái cớ để từ đó tác giả rút ra những bài học thâm thúy. Bài học là chính, văn chương là phụ. Rạch ròi, phân minh. Rất luân lý và thực tiễn. Đáng được tán thưởng.

Tuy nhiên, nếu viết chỉ nhằm đưa ra những suy gẫm (nát óc) của mình, thiết tưởng các thể loại như tùy bút, tiểu luận, phiếm luận,… có lẽ thích hợp hơn. Bởi lẽ đó là sân chơi của đủ loại ý tưởng. Nơi đó, tha hồ mà tuôn xả, mà lai láng, mà múa may, vặn vẹo, khóa tay bẻ chưn nhau. Còn người đọc thì cũng đã biết trước những gì đang chờ đợi mình để khỏi bị dị ứng.

Khi cầm bút lên để sáng tác, người viết nào cũng đã từng đặt cho mình câu hỏi then chốt: “Viết như thế nào đây?”. Nhân dịp được Quán Văn mời viết về chủ đề Elena  (Ôi! Hoàng hậu yêu dấu của lòng ta!), đấng lang quân chung tình đã hạ bút:

“Mình sẽ viết những gì…

…..

…không tuân theo một thứ tự thời gian”.

Hay lắm! Tốt lắm! Nhưng đó chỉ mới là bước đầu: Ý thức. Bước gay go kết tiếp là làm thế nào để thể hiện ý thức đó, khi cầm bút lên và viết thực sự. Khi viết, hầu hết các tác giả đều gầm đầu đưa đẩy ngòi bút tùy theo tâm tính và cách nhìn đời của mình. Mà những điều thuộc nội tâm này, không dễ gì mà chế ngự và hướng dẫn chúng hoàn toàn theo ý muốn của mình cho được. Bởi lẽ đó, những lúc hứng khởi, tác giả thường gầm đầu mà phóng bút theo cảm hứng của mình, không bỏ qua một chi tiết nào, thừa thắng xông lên, thao thao bất tuyệt, một mình múa gậy vườn hoang. Và người đọc đã bị bỏ quên! Rồi có thể đâm ra chán nản và bỏ cuộc luôn, vì không còn theo dõi được những gì mà tác giả đang viết. Người đọc cảm thấy mình không còn dính dáng gì với câu chuyện kể nữa hết. Nhưng nếu viết mà không còn người đọc thì sao? Bởi lẽ đó, khi sáng tác, thỉnh thoảng tác giả nên dừng lại. Rồi đặt mình vào địa vị người đọc mà đọc lại những trang mình vừa viết. Xong tự hỏi: “Liệu người đọc có theo dõi được và có thích thú chăng?”

Như vậy, phải viết như thế nào đây để cả hai bên, người viết lẫn người đọc, đều tìm được thú vị cho mình. Phần giải đáp câu hỏi éo le, thúc hối, nhức nhối cái đỉnh cao trí tuệ này, xin nhường lại cho người trong cuộc: Trương Văn Dân! Dựa theo ý thức của chính mình, Trương Văn Dân sẽ tự suy gẫm (tư duy tóe khói) và vạch lấy cho mình một phong cách riêng biệt để dựng truyện và một bút pháp thích hợp để diễn tả nó, sao cho độc giả của mình có thể theo dõi, tham dự và chia sẻ cùng tác giả. Điều này quan trọng hàng đầu. Được như vậy,  tùy theo truyện viết của mình, tác giả tha hồ mà tung ra những suy gẫm sâu xa (coi chừng hết biết đường ra!) và những bài học để đời (coi chừng u đầu!). Người đọc sẽ không cảm thấy mình bị thất lạc trong khu rừng văn chương đang trút lá ào ào từ bốn phía. Một điều hiển nhiên: Không có người đọc, sẽ không có tác phẩm. Cũng như một tuồng diễn mà không có người coi.

Phải nhìn nhận Trương Văn Dân là người tha thiết và đam mê văn chương tột bực – đam mê hơn nữa là chết liền! Và chính điều này mới quả thiệt là đáng quý, trong cái thời buổi kỹ thuật số, internet và thông minh nhân tạo này. Ngày đêm, ai nấy đều mê mệt dán mắt trên đủ loại màn ảnh lớn nhỏ, vĩ đại, tí teo. Đọc sách? “Còn khuya! Bà tưởng tui cù lần hả?” Thế còn viết? “Đâu có hưỡn!” Bàn tay năm ngón xanh xao cứ lăng xăng khều chết bỏ trên cái smart-phone của mình, kiểu mới nhứt! Cũng may là cái smart-phone không dẫy tê tê mà cười ha hả “Nhột quá! Nhột quá” Có lẽ sợ bị nhốt vô nhà thương điên.

Trước cảnh chợ chiều rã đám buồn thiu, hoàng hôn phủ kín mít chân trời tím, người cầm bút năm xưa bèn ngửa cổ lên trời khóc ba tiếng, cười ba tiếng mà than rằng: “Ôi thôi! Văn chương phú tục chẳng hay/ Trở về làng cũ học cày cho xong” Khóc xong bèn rút khăn kleenex ra mà lau lệ.

Nghe theo lời khuyến dụ của người xưa, Trương Văn Dân, tay cầm bút bi mạ vàng le lói, vai đeo ba lô trĩu nặng tư tưởng, hồ hởi quay gót trở về làng cũ le lói của mình miệt Bình Định. Không phải để học cày. Mà là để học võ Bình Định. Và múa bút Sài Gòn: “Hãy xê ra cho người ta cứu nước!” Rồi kể từ đó, các sáng tác đầy ắp những suy gẫm về cuộc đời của Trương Văn Dân theo nhau ra mắt độc giả đều đều…

Cuộc chơi văn chương mài miệt đó của Trương Văn Dân, giới điệu nghệ gọi là:

“Chơi xả láng!”

Kiệt Tấn

Paris, tháng 12.2024

Ghi chú: Vào thời điểm mà đám nhân loại khốn khổ này sắp kéo nhau hết xuống địa ngục để … ỉa, bằng cái “đỉnh cứt trí tuệ” của con người. Trong viễn ảnh thế chiến thứ ba hạch nhân, do lòng sân hận của lũ người gây ra: “Trời tru, đất diệt!”.

Thủ bút Kiệt Tấn :

Read Full Post »


[*] Tập truyện ngắn gồm 17 tác phẩm, được NXB Hội Nhà văn ấn hành, năm 2019.

Đỗ Văn Minh (Gia Lai)

.

Nhắc đến văn chương của Hoàng Thanh Hương, chúng ta nghĩ ngay đến một thế giới nghệ thuật vừa mang những nét đặc trưng rất riêng biệt, lại vừa có những hướng khai thác phù hợp với khuynh hướng sáng tác mới, không những nhằm để bắt kịp với giọng văn thời đại mà còn để nhà văn khẳng định phong cách, cá tính sáng tạo, đem “vân chữ” (chữ của nhà thơ Lê Đạt) của mình sánh bước trên con đường/tiến trình phát triển của văn học nước nhà. Bên cạnh thế mạnh của nhà văn là sử dụng chất liệu từ lớp trầm tích văn hoá dân gian thì việc làm quen với các thủ pháp nghệ thuật, tư duy và cảm thức thẩm mĩ mới cũng phần nào giúp những tác phẩm của chị đứng vững trên văn đàn và lưu giữ trong tâm hồn thế hệ độc giả hữu duyên. Một trong số đó, không thể không kể đến dấu ấn hậu hiện đại và cảm thức hiện sinh rõ rệt, có phần xuyên suốt trong tập truyện Mở mắt ngày đã trôi.

Nhà văn Hoàng Thanh Hương được biết đến với chất văn dung dị, chút đau đáu nhân sinh trong giọng điệu, kết cấu linh hoạt, nghệ thuật trần thuật lôi cuốn, hệ thống các nhân vật đa dạng nhưng liền mạch và có hệ thống, sử dụng tương đối phong phú các thủ pháp sáng tác. Hoàng Thanh Hương là nhà văn quê gốc ở Phú Thọ, hiện sống và làm việc tại Gia Lai, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội VHNT các DTTS Việt Nam. Ngoài là một nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, chị còn là cây bút chuyên về thể loại thơ ca (với 3 tập thơ Tự cảm, Lời cầu hôn của rừng, Mùa gió hát) và văn xuôi, với 5 đầu sách văn xuôi đã được ra mắt công chúng, và có những thành tựu đáng kể. Đây là tác giả có sức sáng tạo mãnh liệt, có đóng góp nhất định trong dòng chảy văn chương nước nhà ở một số phương diện, mà tiêu biểu trong số đó là phải kể đến việc dấn thân và thể nghiệm trên các thủ pháp sáng tác, phương pháp tư duy thẩm mĩ riêng lạ, có sự kết hợp nhuần nhị giữa chất liệu văn hoá dân gian/vùng miền vừa đem lại cho người đọc một không gian nghệ thuật đầy cá tính và sáng tạo.

Đến với tập truyện ngắn Mở mắt ngày đã trôi, chị đã mở ra một mô hình thế giới nghệ thuật khiến chúng ta phải suy ngẫm với những phận đời/phận người đầy éo le, trắc trở, ngang trái đến nghiệt ngã. Trong văn chương của chị nói chung, mà cụ thể qua tập truyện ngắn trên, chúng ta thấy những đặc trưng có ý nghĩa xuyên suốt ở một vài phương diện/chiều kích như: chất liệu gắn liền với với sinh hoạt, văn hoá, tín ngưỡng bình dân bản địa hiện diện dày đặc trong cảm thức phồn thực mang hơi hướng của chủ nghĩa phân tâm học, với việc bóc tách các giá trị trong tầng tầng lớp lớp trầm tích văn hoá; chú trọng kết cấu ngẫu nhiên và bất ngờ trong nghệ thuật trần thuật; điểm xuyết thêm vào là yếu tố liên văn bản, cảm thức phi lý (dấu ấn của khuynh hướng sáng tác hậu hiện đại), và phải kể đến lối thông diễn mang màu sắc đậm nét của chủ nghĩa hiện sinh. Cái hay, cái lạ trong văn của Hoàng Thanh Hương là dấu ấn hậu hiện đại và cảm hứng/thái độ/cảm thức hiện sinh được bộc phát một cách tự nhiên/vốn có, như là một nhu cầu tự thân trong sáng tác/làm mới văn bản văn học. Khác hoàn toàn với sự dụng ý sâu xa của các nhà văn chuyên sử dụng các phương pháp theo khuynh hướng hậu hiện đại như là một cứu cánh/đích đến (kể ra như: Hồ Anh Thái, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê,…). Cho nên, độc giả/siêu độc giả phải tinh ý mới nhận ra. Nhờ vậy mà, văn chương của chị không rơi vào sự khô khan, thuyết lý, diễn giải; mà toát lên vẻ mượt mà, lãng mạn, trữ tình.

Thứ nhất, chúng ta nhận diện một vài phương diện cơ bản trong tác phẩm văn xuôi của chị có yếu tố/thủ pháp/khuynh hướng hậu hiện đại. Dấu ấn đó được thể nghiệm thông qua yếu tố liên văn bản, thủ pháp của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo gắn liền với các yếu tố phi lý.

Như đã đề cập, đổi mới là một nhu cầu tự thân trong hoạt động nghệ thuật. Không đổi mới đồng nghĩa là tự đào thải, chết khi đang sống. Cho nên, yếu tố liên văn bản trong văn chương Hoàng Thanh Hương cũng được nhận diện đúng bản chất như vậy. Dù cố tình hay vô ý thì việc hiện diện các yếu tố đó có tác dụng kích thích sáng tạo của nhà văn và đón nhận từ độc giả. Tuy nhiên, trong tập truyện trên, nhà văn sử dụng các yếu tố liên văn bản một cách ngẫu hứng qua nghệ thuật trần thuật, tự do trong kết cấu các sự kiện, sự việc, và qua giọng điệu tung tẩy/vô tư/tự nhiên/mượt mà, chậm chất trữ tình. Yếu tố liên văn bản của chị không bao giờ rời xa cảm hứng, chất liệu dân gian. Chị nhặt nhạnh, nâng niu các câu cửa miệng, khẩu ngữ, có khi là tục ngữ, thành ngữ dân tộc: “Thiên hạ độc mồm, thối mồm: “Cây độc không trái, gái độc không con”” (Nơi chốn). Việc vận dụng yếu tố liên văn bản ngẫu hứng, tự nhiên đến mức độc giả sẽ không nhận ra dụng ý của nhà văn, các nhân vật được người kể chuyện tọc mạch về mình, hoặc các nhân vật tự kể về cuộc đời chính họ, và họ bất ngờ cất lên lời ca tiếng hát đầy bất ngờ, thảng thốt: “Lòng ta có khi, tựa như vắng ai/ Nhiều khi đã vui cười, nhiều khi đứng riêng ngoài”, trích lời ca của Trịnh Công Sơn (Nơi chốn), một đoạn văn khác trong tác phẩm trên thì nhân vật lại ngẫu hứng thả hồn vào bài hát Chị tôi của Trần Tiến. Hay như tác phẩm Ngày bình thường trở lại, nhà văn để nhân vật Nàng ngân nga khúc hát bằng một chất giọng ru êm để như tự tình như ai oán về phận đời/phận người trái ngang. Cũng có đoạn thì, nhà văn tái hiện các mô típ lãng mạn trong phim ảnh Hàn Quốc bằng ngôn ngữ văn chương nhằm đối lập, làm nổi rõ số phận nhân vật. Như phân tích trên, văn chương của chị hiện diện khá rõ nét dấu ấn hậu hiện đại về phương diện thủ pháp, hình thức. Còn về bình diện nội dung thì văn chương hậu hiện đại đề cao tính dân tộc trong việc thể nghiệm đề tài, chủ đề, tư tưởng. Điều này, trong văn xuôi của chị lại càng rõ nét hơn bao giờ hết. Bởi với tư cách là một nhà nghiên cứu văn hoá dân gian thì cảm hứng văn hoá, yếu tố và chất liệu dân tộc được chị đặt lên hàng đầu. Tính cách và tinh thần dân tộc Việt được bộc bạch qua điểm nhìn của nhân vật Chị trong tác phẩm Nơi chốn, nhân vật Nàng trong Ngày bình thường trở lại, nhân vật người mẹ (nàng) trong Điều ước,…

Văn chương hậu hiện đại được xác lập rõ ràng nhất thông qua chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Nói như TS. Phan Tuấn Anh: “quá trình tiếp/thừa nhận chủ nghĩa hiện thực huyền ảo ở Việt Nam ngoài những ý nghĩa tự thân, còn có vai trò quan trọng trong việc khẳng định sự tồn tại của chủ nghĩa hậu hiện đại[i]. Đặc biệt, trong tập truyện ngắn này, dấu ấn của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo gắn liền mật thiết với yếu tố phi lý. Chúng liên kết, đan xen đến mức nhuần nhị với nhau, khó tách bạch ra được trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu. Chẳng hạn, trong tác phẩm Điều ước, cuộc gặp gỡ định mệnh có phần hoang đường, kì ảo, như chỉ tồn tại trong giấc mơ/hoang tưởng lại làm cho độc giả phải chạnh lòng, cảm thông sâu sắc. Thông qua dấu ấn của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và yếu tố phi lý, nhà văn muốn truyền tải thông điệp nhân sinh: Hạnh phúc khi con người dám mơ, cho dù giấc mơ ấy có hoang đường đi chăng nữa; hạnh phúc của con có khi đến từ việc điên rồ của người mẹ: “Mọi người mẹ trên thế gian đều có thể làm những điều điên rồ miễn sao con mình hạnh phúc, an toàn dẫu chỉ chốc lát”. Chính những yếu tố phi lý đầy rẫy trong cuộc sống mà điều ước mới có cơ hội tồn tại và khẳng định. Đối với Hoàng Thanh Hương, chỉ có những điều phi lý trong cuộc sống mới đáng được đưa vào văn chương; bởi ở một góc độ nào đó, những điều phi lý lại có giá trị hơn trăm ngàn điều nghĩa lý, chỉ có nó mới giải quyết được những bất ổn, đau thương trong cuộc sống hiện đại, “Đứa trẻ nào cũng phải lớn, cũng phải già dặn gai góc theo thời gian nhưng nàng cứ ước mãi những điều phi lý” (Điều ước).

Ngoài ra, nhà văn sử dụng các yếu tố phi lý (như là một dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại, kiểu dẫn dắt đầy ma mị, và ám ảnh của Franz Kafka) kết hợp với thái độ hiện sinh đã tạo nên hiệu ứng tích cực, nhằm đi sâu giải thích, khám phá các chân lý nhân sinh quan, nhờ vậy mà, tác phẩm của chị luôn hấp dẫn độc giả. Có thể ví dụ ra, niềm vui và nỗi đau luôn đồng hành, đan cài, giải thích cho nhau trong Nơi chốn; tình yêu và chia li như mèo vờn chuột trong Gió ngàn; hay“cái kiểu nàng bấu thờ ơ vào lưng anh khi anh đang yêu nàng như điên” trong Ngày bình thường trở lại. Yếu tố phi lý như làm tiền đề/gợi hứng/bệ đỡ cho những thái độ hiện sinh (một trong những dấu hiệu cơ bản, mang tính triết luận của chủ nghĩa hiện sinh). Sự phi lý dẫn đến thái độ ấm ức, bất bình: “Đảng viên thì không được có thai à?” (Nơi chốn), phi lý dẫn đến thái độ, cảm giác bất lực ngay trong nội tại bản thân: “nàng không thể quên anh, không muốn rời xa anh. Nhưng anh nhất định muốn rời xa nàng. Nàng không hiểu nổi bản thân” (Ngày bình thường trở lại), xưa nay ai cũng bảo cảm xúc là chân thật, nhưng không: “Ôi đến cảm xúc cũng cần phải nhanh, phải dối gian thế ư?” (Ngày bình thường trở lại). Trong tác phẩm liền trên, có những câu văn so sánh, tưởng chừng phi lý nhưng nó đang hiện hữu ngay trong cuộc sống của chúng ta: “Cố mà không vô cảm. Con người hiện đại vô cảm gần bằng máy móc cũng nên”.

Thứ hai, trong trang văn của Hoàng Thanh Hương, chủ nghĩa hiện sinh chưa bao giờ lại nổi bật và xuyên suốt đến thế. Có thể nói, chủ nghĩa hiện sinh như là cứu cánh cho tình thế văn chương Việt Nam; cũng như một tín hiệu tích cực, mang nhiều ý nghĩa và giá trị phản ánh qua văn xuôi của chị. Đúng như GS. Huỳnh Như Phương từng nhận định: “Giờ đây, những ray rứt hiện sinh trong khung cảnh một đời sống hoà bình với nhiều nghịch cảnh đã trở lại bằng con đường hình tượng[ii] bằng việc trần thuật các đề tài, chủ đề, nội dung chạm khắc vào nỗi cô đơn, lạc loài, vô vọng, dấn thân, đau thương, phi lý, nổi loạn,… được chị thể nghiệm gần như trọn vẹn qua các tập truyện ngắn đã xuất bản.

Trước hết, chủ nghĩa hiện sinh trong tập truyện Mở mắt ngày đã trôi được thể hiện qua những khắc khoải về phận đời/phận người. Đây là nội dung, đề tài mang tính bản chất không riêng gì của chủ nghĩa hiện sinh, mà cả chủ nghĩa hiện thực, và chủ nghĩa hiện thực phê phán. Nhưng trong văn của Hoàng Thanh Hương, phận người được khắc khoải, trăn trở như là mệnh lệnh của con tim nhà văn, nên nó càng dằn vặt, đau đáu, không thể nào nguôi ngoai, ám ảnh đến rùng mình: “Chị quá ba mươi rồi, chị thèm phát rồ cái cảm giác được ễnh bụng uể oải, nặng nề, đau thắt đáy lưng, thèm cái cảm giác ôm ấp, ngấu nghiến hôn hít đứa con do mình hoài thai sinh nở, cái cảm giác đó ám ảnh chị hết năm này qua năm khác, khiến chị cộc cằn, héo hắt” (Nơi chốn). Đối với nữ nhà văn Hoàng Thanh Hương, những nỗi đau thể xác, những khắc nghiệt của hiện thực chưa là gì so với những quằn quại, dằn vặt, chất chứa, tổn thương từ bên trong tâm hồn. Nó được nhà văn đi sâu khám phá bên trong nội tâm nhân vật, những ám ảnh, uẩn ức, khao khát của người phụ nữ mang dáng dấp của yếu tố phân tâm học: “giấc mơ nào cũng là hình ảnh anh. Một khu vườn có những khóm trúc nhật nở hoa tím, có những bụi bóng nước hồng theo mùa, và hoa păng xê chị thích, con gái chạy tung tăng, váy trắng bồng bềnh như thiên thần” (Nơi chốn).

Thái độ hiện sinh trong từng trang văn của chị còn nhận ra ở giọng điệu trần thuật mang một nỗi buồn vời vợi trước biến thiên vô thường của quy luật nhân sinh và vũ trụ. Xưa nay, con người luôn tìm cách trốn chạy, lảng tránh cái chết. Lão giáo bỏ công tìm phương thức để trường sanh bất tử. Khổng giáo lại khuyên con người nên lập danh, lập ngôn để đời. Phật giáo hướng con người thoát ra khỏi những tục luỵ để giác ngộ, hạnh phúc. Nhưng mấy ai có thể làm được điều đó. Bởi thế, trong văn Hoàng Thanh Hương, các nhân vật của chị luôn khắc khoải, lo âu trước cái chết không chừa một ai, chết do ung thư, chết bởi trầm cảm được nhắc đến trong tác phẩm Nơi chốn, Ngày bình thường trở lại,…  Hay trong thơ của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Trương Đăng Dung cũng thế, cõi chết/cái chết luôn hiện diện khắp nơi để nhắc nhở con người rằng, cuộc đời ngắn ngủi, vô thường, nên phải sống gấp, sống lạc quan, và có ý nghĩa. Cũng vậy, sau cái đăm chiêu nhân tình thế thái, nhân vật Chị trong Nơi chốn lại mạnh mẽ, rực rỡ và kiêu hãnh: “Chị đã chuẩn bị sẵn sàng cho mùa sinh nở của riêng mình”. Đăm chiêu về cái chết là để tự nhủ lòng phải sống tốt hơn: “Cứ sống tốt đi đã để ngày mai có chết đi sẽ khỏi thấy mình cô đơn và lãng phí thời gian” (Ngày bình thường trở lại). Bởi sự sống quá mong manh, vô thường, nên phải chăng “hạnh phúc là khi đang còn thở và sống cuộc đời mình đang sống” (Ngày bình thường trở lại), và chỉ khi nhân vật nàng trong Ngày bình thường trở lại chứng khiến cái chết đột ngột của người bác sĩ từng thương thầm nhớ trộm mình thì nàng mới chợt nhận ra cuộc sống thật đáng trân trọng, hơi thở đáng quý biết bao nhiêu.

Tính chất hiện sinh trong văn của chị luôn được đẩy lên cao trào, đỉnh điểm qua các tình tiết, sự kiện đan cài nhau, có “thắt nút” mà không có “mở nút”, số phận của họ éo le như một vở kịch không hồi kết. Tình yêu của cô gái Mường với anh công an tên Thanh tưởng chừng sẽ đón nhận cái kết đẹp, nhưng rốt cuộc lại “Rõ chán, yêu nhau như thế mà chả đến bờ đến bến. Vô lý” (Gió ngàn); hay niềm mong ước vẫn mãi mông lung, cao vời, khó chạm tới trong Điều ước. Cũng từ đó, thái độ hiện sinh được bộc lộ rõ ràng nhất, cao nhất. Để các nhân vật hướng đến lối sống tốt/tích cực/ý nghĩa thì “con người hãy nhận thức chính mình” (Socrates). Trước tiên là hiểu bản tính con người xung quanh ta: “Người với người ngồi sát nhau mà âm mưu thủ đoạn ngập bụng, bao lừa lọc, bon chen, giành giật được kín đáo giấu che sau tóc, sau môi”, “Biển sâu dò được chứ lòng người làm gì có đáy”, “đàn bà dễ chết say những ngọt ngào đàn ông phát ra từ miệng, mà nhiều khi những ngọt ngào đấy chả bắt đầu từ tim” (Nơi chốn). Mà trong nhận thức chính mình, không gì bằng hiểu được cảm xúc, hành động bản thân; bởi ý nghĩa triết luận của chủ nghĩa hiện sinh nằm ở cảm nhận, hành động của nhân vật trước tình trạng mất định hướng, khả năng giải quyết trước cuộc sống. Ví như, nhân vật vợ Tùng trong Ngày bình thường trở lại từ xa lánh tránh mặt mẹ chồng đến gần gũi, yêu thương, đồng cảm khi hiểu được quá khứ, con người thật của bà; và nàng càng hiểu chuyện bao nhiêu càng thương mẹ ruột của mình bấy nhiêu bởi nàng đã cảm nhận, ngộ ra: “Mẹ bảo đời mẹ khổ đau mãi rồi, nhất định đời con phải sung sướng”, “Những đứa con gái thường gánh trên vai ước mơ chưa thành của mẹ”. Sau cùng, nhân vật nàng (vợ Tùng) đã nhận ra, hạnh phúc chính là mình đang khóc, đang cười, đang thở, và những chân lý từ sự giản đơn: “Những giọt nước mắt khi rỏ ra một mình là chân thật nhất”. Bởi trong tư duy nghệ thuật tiếp nhận/ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh thì con người cần được kéo/đưa/nhận diện về đúng bản chất vốn có của nó, nhiều khi đến mức nghiệt ngã, ám ảnh, xót xa: “sung sướng nhất đời người có lẽ là ở quãng trẻ con”, “cuộc đời có những sự việc chẳng ngờ”, “thiên hạ giàu nứt đố đổ tường còn mẹ con nàng nghèo rớt mồng tơi” (Điều ước).

Khép lại trang văn của Hoàng Thanh Hương, ta có thể nhận ra rằng, đằng sau những phận đời/phận người éo le, nghiệt ngã, đó là một sự hướng đạo cho lối thoát của con người hết sức nhân văn, ý nghĩa. Đây mới là tinh tuý, cốt lõi của văn chương nói chung và dấu ấn hậu hiện đại, chủ nghĩa hiện sinh trong tập truyện ngắn trên nói riêng. Truyện càng trở nên có sức hút với độc giả bởi cách thể hiện điểm nhìn trần thuật linh hoạt, lời người kể chuyện và lời nhân vật liên tục được thay ngôi đổi vị. Kết cấu tự nhiên đến bất ngờ, ngẫu nhiên đến mức tất yếu, phi lý đến mức có lý. Giọng điệu vừa trầm lắng, nhẹ nhàng vừa nhiễu nhại, phê phán sâu cay. Thái độ hiện sinh luôn song hành, trở thành kim chỉ nam cho nghệ thuật trần thuật đó. Cũng như trong các tác phẩm của Franz Kafka, văn xuôi Hoàng Thanh Hương có chút cảm hứng mỉa mai. Nhưng có điểm khác là, nếu như trong mô hình thế giới nghệ thuật của Franz Kafka, các nhân vật đều có cái nhìn không mấy lạc quan thì các nhân vật trong truyện ngắn của chị lại có cá tính mạnh mẽ, thường “đạp lên” dư luận mà sống, và sống rất kiêu hãnh. Mang chút hơi hướng của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, chút cảm hứng từ thủ pháp liên văn bản, giã vào thật nhiều vị sâu cay của dấu ấn/thái độ hiện sinh, thêm chất mượt mà/lãng mạn/trữ tình qua nghệ thuật trần thuật đầy biến ảo và ngẫu nhiên, lại được hướng đạo bởi giá trị nhân đạo của tác phẩm, tất cả tạo nên một bữa tiệc văn chương khó cưỡng lại khi đọc những trang văn của nữ nhà văn đến từ vùng đất cao nguyên đại ngàn – Hoàng Thanh Hương./.

                                                                                                                       Đ.V.M


[i] Trích Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong tiến trình tiếp nhận văn học phương Tây ở Việt Nam, đăng trên Website Khoa Ngữ văn, Trường Đại học KHXH và NV, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh.

[ii] Dẫn theo Sự hiện diện của cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986 của Trần Nhật Thu, đăng trên Website Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học – Huế.

Read Full Post »

Older Posts »