Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Nghiên cứu và phê bình văn học’ Category

Võ Phiến

Thơ Võ Chân Cửu
 
Võ Phiến bảo trong tâm hồn một số văn thi nhân Bình Ðịnh có nét “u huyền” khó hiểu. Ông “mời họ ra cho ai nấy thử tìm hiểu”. “Họ” đều đã nổi tiếng, trừ một người, người trẻ nhất. Vì trẻ, người ấy thuộc vào “Văn Học Miền Nam”. Ðây lời mời nhà thơ Võ Chân Cửu (theo gocnhin.net)
 
Bài trích từ  Văn học Miền Nam, Tập IV – Thơ (trang 3167-3171) NXB Văn Học, California 1998:
 
 Hoài Thanh nhân đọc Yến Lan nhận thấy các nhà thơ Bình Ðịnh (Yến Lan là người Bình Ðịnh) thường bị vầng trăng ám ảnh.

            Quả cái vầng trăng ở bến My Lăng nọ là một kỳ bí. Trăng ấy gây bất an, gây đến sợ hãi. Không riêng trăng My Lăng mà thôi. Từ trăng của Yến Lan, trăng động Chua Me ở Sa Kỳ hay trăng đầy miệng của Hàn Mặc Tử, “trăng ma lầu Việt” của Quách Tấn, cho đến những “trăng ghì trăng riết cả làn da” của Chế Lan Viên…, tất cả đều là thứ trăng quái đản, làm ta rợn cả người.

             Nhưng bảo rằng ở Bình Ðịnh chỉ có cái trăng là đáng khiếp, không đúng. Có trăng, lại có ma: ma lầu Việt, ma Hời, và yêu tinh, và quỉ quái… Và cả những khi không có ma quỉ gì ráo, chỉ có mấy chiếc lá rơi, thi nhân Bình Ðịnh cũng dựng nên cảnh hãi hùng:


“Ai đổi đầu lâu trong nấm mộ,
Tiếng khu vang rạn khới đầu ta?
Có ai rên rỉ ngoài thôn lạnh
Như tiếng xương người rên rỉ khô?
Mơ rồi! Mơ rồi! ta mơ rồi!
Xào xạc chỉ có lá vàng rơi
Quanh mình bóng tối mênh mang cả
Thấp thóang đôi hồi lửa đóm soi.”
(Mơ Trăng – Chế Lan Viên)

              Chỉ có sao in đáy giếng, thi nhân Bình Ðịnh cũng ghê người:

“Sao ở đâu mọc lên trong đáy giếng
Lạnh như hồn u tối vạn yêu ma?”

                                     (Ta – Chế Lan Viên)

               Chỉ có đám mây in hình xuống dòng nước, thi nhân Bình Ðịnh trông thấy cũng làm ta nổi da gà:

“Mây chết đuối ở dòng sông vắng lặng
Trôi thây về xa tận cõi vô biên.”

                                 (Thơ Ðiên – Hàn Mặc Tử)
         
                Vậy đó. Cho nên sau này có những người lấy làm nghĩ ngợi về cái con người ở vùng đất này. Vâng, cái lạ lùng là của người, chứ không phải của trăng của ma. Không phải riêng trăng có sức ám ảnh như ông Hoài Thanh đã nói, mà cái gì cũng ám ảnh được người Bình Ðịnh: cái lá, cái sao, đám mây v.v. Mọi thứ, kể từ những thứ hiền lành nhất.
                 Ông Lại Nguyên Ân chẳng hạn, nhân bàn về Hàn Mặc Tử, ông luận luôn đến khí chất người miền Trung. Theo ông, người Việt miền Trung thì “khắc nghiệt, riết róng, quyết liệt, táo bạo, cực đoan”, thì “sôi máu, táo tợn, liều lĩnh” hơn người Việt ở cả ngoài Bắc lẫn trong Nam. Tiếng nói ở miền Bắc (kể từ ngữ âm đến từ vựng, ngữ pháp) vốn sáng và rõ. Tiếng nói miền Trung thì tối và đục, hoang dã; nó “chuyển” tải những cảm quan điên dại, siêu thực tế của con người trong những dò tìm về những cõi hư huyền, vô hình, vô ảnh trong những diễn tả về thế giới âm u”. Ngôn ngữ như thế, tồng hát cũng thế. Ngoài Bắc có chèo, ở Trung có tuồng. Ở chèo không có gươm có giáo, không có giặc giã, chính biến; trên sân khấu chèo toàn giọng nhẹ nhàng, đằm thắm, trong trẻo. Trái lại ở tuồng (hát bộ) thường có gào có thét, có giết chóc dữ dằn, rộn rịp đầy những hùng binh dũng tướng. Do khí chất mà khác nhau cả (1) .
              Đồng bào ngoài Bắc cũng như trong Nam thường xem như trên giải đất từ Thanh Hóa vào Phan Thiết mọi sự chung chung là giống nhau; giọng Huế là giọng miền Trung; ông Ngô Đình Nhu là cái thâm hiểm của miền Trung v.v.. Thực ra, suốt giải đất dài ngoằng, quá dài ấy, có nhiều dị biệt: giọng nói Nghệ Tĩnh không hề giống giọng Phan Rang Phan Rí, tính người Nam Ngãi khác hẳn tính người Trị Thiên; cha đàng ngoài, mẹ đàng trong của Xuân Diệu, mặc dù đều là người Việt miền trung cả, vẫn khác nhau rõ rệt v.v.. Cho đến nay, khó mà biết được thực ra những cái gì là đặc điểm chung cho các thể hiện tâm hồn của người miền Trung. Những điều mà ông Lại Nguyên Ân vừa nói, đại khái là chỉ hợp cho một vùng Bình Định thôi: Tuồng (hát bộ) gốc Bình Định, Hàn Mặc Tử và bạn bè trong nhóm ông hầu hết là Bình Định.
             Tất nhiên tôi không muồn giành giật với các tỉnh khác, không muốn vơ vào cho Bình Định làm gì tất cả những cái “sôi máu”, “táo tợn”, và “hoang dã”, và ối trời! cái “điên dại nữa. Làm như thế chỉ e bị bà con đồng tỉnh trách giận thôi, ích gì? Chẳng qua phần ai nấy gánh.
              Võ Chân Cửu đã gánh đủ.

              Này xem: Xa làng lâu ngày, một hôm trở về ông thấy núi thấy mây ở quê mình:

    “Bỗng nhiên lạnh cả hồn tôi
Khi trông thấy dáng núi ngồi co ro
…………………………………………
      Mười năm làng cũ không về
Ðăm đăm mây trắng lê thê mái đầu.”

                           (Ðăm đăm mây trắng)

              Trên đất nước này, bạn có từng bắt gặp cái núi ở nơi nào nó ngồi như vậy không? Bạn ngờ rằng thứ núi co ro đáng hãi nọ ngẫu nhiên là đặc cảnh địa phương chăng? Không phải vậy đâu. Không cần nhìn cảnh làng mình Võ Chân Cửu mới thấy ra vậy; ngay lúc đi giữa thành phố Sài Gòn ông cũng thấy những cái khó có người thấy:

“Ngã ba ngã bảy xe đi khuất
Cơ khí xen cùng nhịp gió mưa
Tiếng ma thiên cổ vong u uất
Vắng lặng buồn xo suốt bốn mùa.”

                                    (Sài Gòn)

             Những mây lê thê, những ma thiên cổ nọ là ở trong hồn người, không ở ngoài cảnh vật. Trong tâm hồn chàng thi sĩ trẻ tuổi người Bình Ðịnh cách xa trường thơ “loạn” một thế hệ, vẫn cứ còn chất chứa đầy những “hư huyền, âm u”.

            Cái gì đã phủ xuống cuộc sống tâm linh của nơi này màn u huyền ấy? Tôi không hiểu nổi đâu, không dám lạm bàn tới đâu. Có lúc tôi thấy quanh mình toàn thị những bà con chất phác thàn hậu. Có lúc khác lại đối diện với những con người quằn quại dị thường. Biết nói sao, ngoài việc mời họ ra cho ai nấy thử tìm hiểu, suy nghĩ?

                                                                                                              1 – 1993
——————-

(1)  Lại Nguyên Ấn- “Khí chất người miền Trung và nhà thơ Hàn Mặc Tử”, tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 1 tháng 12-1991. ọcHH

Nguồn Tạp chí Quán Văn

Read Full Post »

Viết Hiền

Chân dung Hàn Mặc Tử.

Nhà thơ Hàn Mặc Tử sinh trưởng tại Lệ Mỹ – Quảng Bình, nhưng cuộc đời và sự nghiệp của ông để lại khá nhiều dấu ấn tại Bình Ðịnh…

Nhà thơ Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí. Ông sinh ngày 22.9.1912 tại làng Lệ Mỹ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình. Gia đình Hàn Mặc Tử có 8 anh, chị em và Hàn Mặc Tử là con trai thứ 4. Từ năm 1921, khi mới 9 tuổi, cậu bé Nguyễn Trọng Trí đã cùng với gia đình theo cha vào sống tại Bồng Sơn (nay là TX Hoài Nhơn). Đến tháng 7.1926,  khi thân phụ qua đời, Nguyễn Trọng Trí cùng gia đình vào ở hẳn tại Quy Nhơn. Kể từ đó, Hàn Mặc Tử đã ghi dấu ấn tại khá nhiều địa chỉ, như: Bồng Sơn (Hoài Nhơn); thành Bình Định – An Nhơn; Gò Bồi (Tuy Phước); Tây Sơn, Cát Tiến – Phù Cát…

Dấu ấn đầu tiên của Hàn Mặc Tử trên đất Bình Định là năm 1930. Trong cuộc thi thơ do Mộng Du Thi Xã tổ chức, với bút danh Phong Trần, 3 bài thơ Thức khuya, Chùa hoang và Gái ở chùa của ông đã đoạt giải Nhất. Đồng thời, thơ của Phong Trần còn được nhà chí sĩ Phan Bội Châu khen ngợi trên báo Tràng An.

Kể từ đó, Phong Trần trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt. Nhà thơ được mời làm giám khảo một cuộc thi thơ do Collefge de Qui Nhon tổ chức. Theo Yến Lan, khoảng đầu thập niên 30 của thế kỷ XX Hàn Mặc Tử đã khá nổi tiếng, ông và Chế Lan Viên thường xuống Quy Nhơn, đến thăm nhà Hàn Mặc Tử ở số 20 đường Khải Định (tức đường Lê Lợi hiện nay). Nhà thơ Yến Lan kể: “Thỉnh thoảng có dịp đi Quy Nhơn, tôi và Chế Lan Viên thường ghé thăm anh… Mỗi khi chúng tôi đến, Tử từ căn phòng con ở sau phòng khách đi ra đón, vẻ vui mừng. Tử đưa hai đứa tôi vào nhà, mời ngồi vào bộ salon đan bằng mây… Chúng tôi trò chuyện đủ thứ rồi đọc thơ cho nhau nghe… Mỗi khi cao hứng, Tử thường ngồi xếp bằng theo kiểu kiết già, người lọt thỏm vào lòng ghế, hai tay chống trên hai gối, đôi mắt lim dim vời vợi, xa xăm, rồi đọc thơ…”. Cũng theo nhà thơ Yến Lan, chính tại 20 Khải Định đã diễn ra những cuộc trao đổi, tranh luận để rồi hình thành một trường phái thơ mang tên “Trường Thơ Loạn”.

Ngôi nhà 20 Khải Định là nơi hội ngộ, gặp gỡ của khá nhiều văn nhân, thi sĩ, như: Yến Lan, Chế Lan Viên, Hoàng Diệp, Hoàng Tùng Ngâm, Bùi Tuân, Hoàng Trọng Quy, Bửu Đáo, Trần Kiên Mỹ, Quỳnh Dao, Thúc Tề, Lê Đình Ngân… Ngoài ra, đây cũng nơi diễn ra mối tình đầu của Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc (tức Hoàng Thị Kim Cúc).

Bấy giờ, Hàn Mạc Tử làm thư ký tại Sở Ðạc Ðiền Quy Nhơn, nơi thân phụ của Hoàng Cúc là ông Hoàng Phùng làm thương tá. Nhà của Hoàng Cúc cũng nằm trên đường Khải Định, gần nhà Hàn Mặc Tử. Chính thời gian này Hàn Mặc Tử đã cho ra đời một số bài thơ tỏ tình thầm kín với Hoàng Cúc. Tiêu biểu trong số này là bài Hồn cúc và bài Vịnh hoa cúc

Ông Nguyễn Văn Xê (ngồi phía trước) trong một lần viếng thăm khu tưởng niệm Hàn Mặc Tử ở Quy Hòa.

Một địa chỉ khác nằm cách 20 Khải Định không xa là Nhà Xẹc Quy Nhơn (tức Câu lạc bộ thể thao – Cercle Sportif, đoạn gần chùa Long Khánh, đường Tăng Bạt Hổ – Quy Nhơn). Đây cũng là một địa chỉ mà Hàn Mặc Tử để lại nhiều dấu ấn. Tại đây đã hình thành và ra đời nhóm Thái Dương Văn Đoàn, với những văn sĩ, trí thức, như: Nguyễn Minh Vỹ, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên Hoàng Diệp, Nguyễn Viết Lãm, Yến Lan, Phú Sơn… Bên cạnh đó, Thái Dương Văn Đoàn còn cho ra mắt tập san Nắng Xuân. Trong tập san này, ngoài những sáng tác thơ còn có tiểu phẩm Ông nghị gật của Trật Sên (một bút danh khác của Hàn Mặc Tử)…

Ngoài ra, còn một số địa chỉ từng lưu lại dấu ấn Hàn Mặc Tử khi nhà thơ phải đi lánh bệnh, như: Gò Bồi (Tuy Phước), Xóm Ðộng, Xóm Tấn, Gò Bồi, Ghềnh Ráng, nhà thương Quy Nhơn… Đặc biệt là những dấu ấn của Hàn Mặc Tử ở Trại phong Quy Hòa. Theo người bạn đồng bệnh Nguyễn Văn Xê, thời điểm Hàn Mặc Tử vào Trại là sáng 20.9.1940, với hồ sơ mang số thứ tự 1134. Và, đến 11.11.1940, chỉ sau 52 ngày vào Trại, Hàn Mặc Tử qua đời. Điều đáng nói, trong những ngày tháng cuối cùng, Hàn đã kịp ghi dấu ấn qua 2 tập thơ Đời + Cầu nguyện và bài thơ La pureté de I’ame (Linh hồn thanh khiết)… Theo bác sĩ Trần Hữu Ngoạn, nguyên Giám đốc Bệnh viện phong Quy Hòa, Hàn Mặc Tử qua đời không phải do bệnh phong mà do bệnh kiết lỵ.

Và, dấu ấn cuối cùng của Hàn Mặc Tử trên đất Bình Định là ngôi mộ cải táng ở khu đồi Ghềnh Ráng – Quy Nhơn. Theo ông Nguyễn Bá Tín, cuộc cải táng do gia đình Hàn thực hiện vào tháng 2.1959.

Vậy là tròn 80 năm ngày nhà thơ Hàn Mặc Tử đi xa. 8 thập niên đã trôi qua, song những dấu ấn mà Hàn để lại trên đất Bình Định vẫn còn in đậm trong trái tim của những người yêu thơ. Giờ đây, Phòng lưu niệm Hàn Mặc Tử ở Quy Hòa và khu mộ nhà thơ đã trở thành địa chỉ mà nhiều văn nghệ sĩ, những “tao nhân mặc khách” và đông đảo người yêu thơ trong và ngoài nước tìm về để tưởng nhớ ông.

Nguồn Báo Bình Định

Read Full Post »

Hà Tùng Sơn

Tập truyện ngắn “Tám phút mười chín giây” của Chế Diễm Trâm, NXB Hội Nhà văn, 2020  /// Ảnh: H.T.S

Ít có tập truyện ngắn nào khiến tôi phải đọc hết từ đầu đến cuối ngay lập tức như Tám phút mười chín giây (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2020) của cây bút nữ xứ trầm hương Chế Diễm Trâm.

Tập truyện ngắn “Tám phút mười chín giây” của Chế Diễm Trâm, NXB Hội Nhà văn, 2020ẢNH: H.T.S15 truyện ngắn được in trong tập là 15 câu chuyện tình được kể bằng một giọng điệu nhẹ nhàng, tự nhiên mà sâu lắng. Và truyện nào cũng để lại cho bạn đọc những ngẫm nghĩ về tình người, tình đời.Ngay từ truyện ngắn mở đầu, Mép nước, cứ tưởng như tác giả chỉ kể lại những ký ức tuổi thơ, một tuổi thơ không giàu có nhưng sang trọng, êm đềm và đẹp đẽ. Nhân vật chính là một cô bé con sinh ra trong một gia đình hiếu học, có ông bố giỏi tiếng Anh và rất nghiêm khắc với con cái. Nhà nghèo không có của cải để lại nhưng ông đã truyền hết vốn liếng chữ nghĩa cho con. Đó hẳn là một tuổi thơ đẹp và không dễ có. Chuyện tưởng có thể dừng lại ở đấy cũng đã đủ để lọn nghĩa. Thế nhưng kết thúc của Mép nước lại là một câu chuyện tình dang dở. Hai người trẻ yêu nhau, sóng bước đêm trên bờ biển. Nàng chỉ chờ nghe chàng thốt vào tai mình ba tiếng “Anh yêu em” là sẽ có ngay một cuộc tình dọn sẵn. Nhưng điều đó đã không đến. Giống như hình ảnh một người hăm hở chạy ra biển chỉ thiếu nước nhảy ùm xuống biển bơi lặn cho thỏa thích nhưng rồi người đó chỉ dừng lại ở mép nước. “Có những giới hạn của số phận, của cuộc đời làm người ta phải từ bỏ hết, kể cả những giọt nước mắt dào lên mặn đắng...”. Cái kết đầy chất triết lý ấy của câu chuyện đã nói lên tất cả.Và câu chuyện mở đầu ấy của Tám phút mười chín giây đã như một định mệnh ám vào 14 câu chuyện tình còn lại. Chuyện nào cũng nói về tình yêu, rất đẹp, rất mộng mơ nhưng để rồi chỉ dừng lại ở cái “mép nước” của nó mà không đi đến cái gọi là hạnh phúc của hôn nhân và gia đình. Điều này khiến tôi nhớ về một bài tình ca bolero quen thuộc: Tình chỉ đẹp khi còn dang dở. Tôi đồ rằng đây là một chủ ý rất mạnh mẽ của tác giả đã viết nên những câu chuyện trong Tám phút mười chín giây.Đó là những câu chuyện kể mà hầu như không có cốt truyện. Nhưng mỗi tình tiết, mỗi mạch truyện đều được tác giả cân nhắc rất kỹ lưỡng. Bởi thế mỗi truyện ngắn của Chế Diễm Trâm trong Tám phút mười chín giây hiện lên như một cô gái có vẻ đẹp dịu dàng và quyến rũ. Cô gái đó trang điểm rất kỹ càng và khéo léo đến mức mọi người cứ tưởng đó là vẻ đẹp mộc mạc tự nhiên. Trang điểm mà như không trang điểm, ấy là sự kỳ tài của một cô gái đẹp.Người ta thường cho rằng mỗi câu chuyện tình dang dở thường để lại những xót xa và nuối tiếc. Nhưng những câu chuyện tình kiểu “mép nước” của Chế Diễm Trâm đã để lại cho bạn đọc một dư vị ngọt ngào và sâu lắng. Ế là một câu chuyện như vậy. Cố gái tên Ngân có một mối tình đẹp với anh chàng tên Phương. Mối tình sinh viên trong sáng vô ngần ấy đã dừng lại chỉ vì cha mẹ Phương chê chàng trai quê xa và nghèo túng. Phương trở thành một cô gái ế suốt từ thời phổ thông qua cả thời đại học. Đi làm cô lại đem lòng yêu người sếp của mình. Nhưng người đàn ông này dù đang rất cô đơn vẫn đang có đầy đủ vợ con. Người sếp biết Phương yêu mình và anh cũng rất yêu Phương. Nhưng nhân cách của một người đàn ông chân chính không cho phép anh đi quá giới hạn với Phương dù cô rất sẵn lòng. 30 tuổi, và Phương vẫn ế và chưa một lần mở lòng với bất cứ chàng trai nào. Đó là một love story nhiều kịch tính. Bạn đọc dõi theo số phận tình yêu của cô và cuối cùng đã thở phào vì cô không dấn sâu vào bi kịch tình yêu.

Read Full Post »

Hạ Minh
Cuộc ‘ngược dòng’ từ Việt Nam bay sang Milano, Ý những ngày tháng 3.2020 khi nước này đang là một điểm nóng tâm dịch covid 19 của nhà văn Trương Văn Dân để được chia sẻ cùng người vợ yêu quý – nhà văn Elena Pucillo Truong ngỡ là khoảng lặng đầy lo âu với cặp vợ chồng Việt – Ý này.
‘Trò chuyện với thiên thần’ và ‘Một phút tự do’ của cặp đôi văn chương Việt - Ý
Nhưng âm thầm trong những ngày đại dịch hoành hành, hai cuốn sách của họ vẫn được ấp ủ và vừa ra mắt bạn đọc tại Việt Nam như một sự song hành đầy ý nghĩa, cũng là tiếng nói mạnh mẽ cất lên từ đau thương của thế giới: Một phút tự do (tập truyện ngắn – tùy bút của Elena Pucillo Truong, Trương Văn Dân dịch) và tiểu thuyết Trò chuyện với thiên thần (Trương Văn Dân), do NXB Tổng hợp TP.HCM ấn hành quý 2/2020.
Một phút tự do của Elena Pucillo Truong đã được bạn đọc biết đến với bản in do NXB Văn hóa Văn nghệ xuất bản năm 2014, đoạt giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM 2015; và được NXB Calibano Milano xuất bản bằng nguyên tác tiếng Ý với tên Un Istante di liberta cuối năm 2019. Tác phẩm gồm những câu chuyện nhỏ, như những lát cắt thân phận, cuộc sống con người trong mối quan hệ ràng buộc gia đình – xã hội qua cái nhìn đầy cảm thông thấu hiểu, tinh tế, nhân văn, như “liều thuốc” an lành xoa dịu đau đớn, bất hạnh. Một phút tự do cũng gây ấn tượng về một tâm hồn Việt, chất văn hóa Việt trong cô dâu Ý dung dị, hòa ái

Read Full Post »

Chế Diễm Trâm

Trường ca Động hoa vàng được Phạm Thiên Thư sáng tạo năm 1971, trong khi tác giả tạm lánh bụi trần, vô Tu viện Pháp Vân (Sài Gòn) làm tu sĩ gần mười năm (1964 – 1973). Đúng như lời tác giả nói, ông vô chùa để tu theo lối riêng mình. Động hoa vàng là một trong những lối tu riêng ấy: làm Thơ để trình bày Đạo mà người đời gọi là ông “thi hóa kinh Phật”.

Động hoa vàng gồm 100 khổ thơ lục bát, mỗi khổ 4 dòng, tổng cộng 400 dòng. Có khá nhiều dòng thơ được ngắt thành hai, ba, thậm chí bốn chỗ xuống dòng:

                             Chim từ bỏ động hoa thưa

                             người từ

                             tóc biếc đôi bờ

                             hạ

                             đông (more…)

Read Full Post »

Chế Diễm Trâm

Trong con người Nguyễn Công Trứ, ta thấy hiển thị hai mẫu nhà nho: nhà nho hành đạo và nhà nho hành lạc. Giai đoạn tại triều, Uy Viễn tướng quân là mẫu nhà nho “vẫy vùng” chí anh hùng, chí nam nhi, lập công để lập danh, để khẳng định tài năng và bản lĩnh cá nhân:

Đã mang thân ở trong trời đất

            Phải có danh gì với núi sông.

(Nợ tang bồng)

Năm 1848 (70 tuổi), Nguyễn Công Trứ xin lui về trí sĩ, an hưởng nhàn lạc, xem đó là sự tự thưởng sau khi đã hăng hái sống vì đời. Mười năm cuối đời có thể xem là giai đoạn đấng tài tử sống vì mình. Công danh nam tử đã vẹn thì đây là lúc “ông ngất ngưởng” hưởng lạc với “thơ túi rượu bầu”:

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

                        Không Phật, không tiên, không vướng tục

(Bài ca ngất ngưởng) (more…)

Read Full Post »

Nhật Chiêu

Hoa thủy tiên tàn

nàng Echo im lặng

hoa làm sao dư vang

thánh ca thầm gởi hoa tàn

gió trên mặt nước còn lan sóng tình

mà sao lấy bóng bỏ hình.[1]

 

Đọc Biến Thể (Metamorphoses) của Ovid sau hơn hai nghìn năm, ta vẫn còn cảm thấy cái tươi tắn mới mẻ lạ thường của nó như thể nó viết cho ngày hôm nay hay nó viết cho bất kỳ ngày nào khi con người vẫn còn là con người, chứ chưa phải là cái máy, khi con người còn sống trong dòng biến dịch luân lưu vô tận như tư tưởng biến thể của Ovid. (more…)

Read Full Post »

Nguyễn Văn Ngọc

“Rủ nhau đi đánh bài chòi – Để con nó khóc cho lòi rốn ra”, câu ca xưa phần nào cho thấy sức lôi cuốn của diễn xướng bài chòi với người dân lao động. Bao đời nay, các thế hệ nghệ sĩ, nghệ nhân Bình Định dành nhiều tâm huyết để sáng tạo, vun đắp cho nghệ thuật bài chòi. Và hội đánh bài chòi cũng nhận được sự hưởng ứng tích cực của công chúng. Tuy nhiên, bộ bài chòi vốn vẫn được sử dụng trong hội đánh bài chòi ở Bình Định có nguồn gốc từ đâu?

viewimage (more…)

Read Full Post »

 

Đỗ Trường

 

.

Nếu không có gần nửa thế kỷ sống xa quê, xa Tổ Quốc, thì có lẽ, chưa chắc Trương Văn Dân đã dính vào cái nghiệp văn chương, viết lách. Những năm tháng chia ly ấy, như một sự thiếu hụt trong tâm hồn, luôn làm cho ông chông chênh và trống trải. Để lấp đi khoảng trống đó, Trương Văn Dân phải độc thoại trên từng trang viết của mình. Sự tìm tòi và sáng tạo ấy, không chỉ vơi đi nỗi nhớ thương, mà còn giúp ông tìm lại một nửa linh hồn của mình, dường như vẫn còn ở lại nơi quê nhà. Do vậy, có thể nói, cũng như Trần Trung Đạo, Phạm Tín An Ninh, hay Cao Xuân Huy, nhà hóa học Trương Văn Dân đến với văn thơ một cách ngẫu nhiên, bởi hoàn cảnh cuộc sống, và trái tim thúc bách, chứ hoàn toàn không có sự chuẩn bị để trở thành một nhà văn. Văn thơ Trương Văn Dân, tuy không vụt sáng lên, song nó góp phần không nhỏ cho sự tiếp cận, giao thoa giữa hai nền văn học Việt – Ý (Italia). (more…)

Read Full Post »

 

CHẾ DIỄM TRÂM

          Mãi đừng xa tôi (nguyên tác bằng tiếng Anh: Never let me go, Trần Tiễn Cao Đăng chuyển ngữ) là cuốn tiểu thuyết của nhà văn Anh gốc Nhật Bản Kazuo Ishiguro. Tác phẩm được sáng tác năm 2005, được tạp chí Time Magazine xếp vào danh sách 100 cuốn tiểu thuyết Anh hay nhất từ năm 1923 đến năm 2005, đưa Ishiguro đến vinh quang giải Nobel Văn chương năm 2017.

Tạp chí Time đã nhận định bảo chứng cho cuốn tiểu thuyết này như sau: “vừa hấp dẫn vừa xúc động lòng người… một tiểu thuyết kỳ tài, với sự căng thẳng thắt gút và với nỗi đớn đau chôn chặt”. Lời nhận định nửa kín nửa mở ấy trên bìa gấp cuốn sách gây tò mò cho bạn đọc đến mức không thể không xông pha vào ma trận ngôn từ đầy ẩn ý và biểu tượng của tác phẩm. (more…)

Read Full Post »

Older Posts »