Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Nghiên cứu và phê bình văn học’ Category

TRẦN DZẠ LỮ

Hồi ức DỌC ĐƯỜNG VĂN NGHỆ ( Phần 60)NGÔ ĐÌNH HẢI,NHÀ VĂN RẤT SÀI GÒN

Ngô Đình Hải tốt nghiệp bằng kỹ sư Nông Nghiệp nhưng quên hỏi kỷ là anh đã thực hiện bao nhiêu công trình trên thực địa.? Mà thôi, là chuyện… nhỏ của những kỹ sư nông nghiệp .Nhưng tôi thấy Hải đã làm “thuỷ lợi” trên cánh đồng văn chương một cách cần mẫn với cả trí tuệ, trái tim… khi viết lên tâm tư mình rất người, rất đời và rất Sài Gòn bằng văn phong “tỉnh rụi” của riêng mình, có sức lôi cuốn người đọc đến lạ lùng.Giọng điệu ấy, buộc người đọc phải đọc đi đọc lại nhiều lần không chỉ truyện ngắn, truyện dài, tản văn mà kể cả thơ nữa.Anh chàng này đã từng đọc,sống và đi nhiều nên lối viết rất hiện thực, hiện sinh song không thiếu chất trữ tình, lãng mạn…của một mẫu người có tính cách như Jean-Pall Sartre, Guillaume Apollinaire và Gabri Garcia Marquez cộng lại.

Được biết trước đây, chàng từng là một thanh niên ham học và cũng “quậy” tới bến lúc biết làm thơ tặng nữ sinh.Đã từng là một Hippy Sài Gòn qua cách ăn mặc theo phong trào của thập niên 60.Có lắm nàng “mê tơi “nhưng chàng cũng có nhiều lúc thất thế trong tình trường để chìm trong men rượu…Năm 1968 Hải và Bùi Chí Vinh thành lập nhóm Hồn Trẻ -nơi quy tụ những cây viết đam mê văn nghệ của SG và lục tỉnh Nam Kỳ.Sau năm 75, chàng kỹ sư nông nghiệp trở thành giám đốc một công ty trách nhiệm hữu hạn về mua bán xe hơi.Hoạt động thường thường nên Hải không phải là tay giàu có gì.Vả lại,trong người chàng luôn có máu của họ Lục( Lục Vân Tiên )” Giữa đường gặp chuyện bất bình chẳng tha” nên chưa sạt nghiệp là may…

Tôi ưa tính bộc trực,thẳng thắn của Hải nên hay ghé 81 hay 64 Trần Quốc Thảo làm vài cốc bia hơi( thập niên 90, thời gian này 81 là nơi tụ hội anh hùng hảo hán văn nghệ thật và cũng đầy văn nghệ dỏm)Ngô Đình Hải thường giao du với các anh em: Vũ Ngọc Giao,Nguyễn Liên Châu,Châu Đăng Khoa,TuấnPolo, Thuỷ , tôi và một số anh chị em khác khi có dịp về SG.Hơn một năm qua không còn dịp gặp Hải và anh em nơi quán cà phê SàiGòn Phố nhưng trong lòng tôi luôn náo nức những buồi sum vầy như thế để ngồi nhắc nhớ ai còn ai mất sau đại dịch quái ác.Tuy vậy, tôi cũng hay liên lạc với Hải qua điện thoại và biết chàng đang viết truyện dài.Mừng thay!Chắc bạn đọc đang chờ đọc tác phẩm của Ngô Đình Hải-người rất Sài-Gòn? Xin giới thiệu truyện ngắn NGỬA dưới đây mà tôi ưa lắm.

NGỬA

Truyện ngắn Ngô Đình Hải

Đoạn đường ban đêm tối và vắng. Tối tới mức gần như đe dọa, bởi những thứ tồi tệ, nghi ngờ, được che đậy bên trong. Bóng tối khoan nhượng và không phân định tốt xấu!

Không ai thấy gì ở bóng tối. Người ta lo lắng, sợ hãi những thứ không thấy đó! Thường là vậy. Nỗi lo sợ với cái thấy được và cái không thấy, hoàn toàn khác nhau. Ở cái không thấy, sự sợ hãi mơ hồ, nhưng lan rộng, bao trùm lên mọi thứ! Nó làm người ta quên, hoặc cố tình quên, là chỉ cần một đốm lửa nhỏ, một chút sáng, soi vào đó, là bóng tối tan biến. Kẻ nhát gan không dám làm. Kẻ gian manh lợi dụng. Bóng tối, tối thêm. Con đường càng lúc càng vắng. Gian trá mãi, lợi dụng cũng cạn kiệt, bóng tối hao mòn. Người ta mới sực nhớ ra, đem trồng một ở đó một cây đèn đường. Có đèn, con đường tự nhiên bớt âm u. Xe cộ bắt đầu qua lại.

Cột đèn non trẻ tự hào vì điều này. Hắn thấy mình như đang thay mặt thượng đế, ban phát ánh sáng cho nhân loại. Như một thứ cứu tinh cho cái sự sống ban đêm của con đường. Ban ngày, khi mặt trời lên, hắn tự cho phép mình nghỉ ngơi, ngủ một giấc dài, mặc kệ thiên hạ. Thế giới của hắn là về đêm. Hắn thích thú, cố đứng thẳng và rọi thật xa. Chỗ nào có sự chiếu cố, ban phát của hắn, chỗ đó mang một hình ảnh khác. Ánh sáng của hắn có sức mạnh của một đạo quân, quét sạch đám âm binh lẩn quẩn. Hắn ngạo nghễ nhìn dòng người, hắn muốn đọc sự biết ơn trên mặt họ. Nhưng ngày qua ngày, điều này không xảy ra. Người ta theo cái vùng sáng của hắn, chui vào và thoát ra thật nhanh. Ai cũng hối hả, không ai để ý, không ai nhớ lại trước đây, khi chưa có hắn. Không ai dừng lại để ngắm, hay hỏi thăm hắn một câu. Có người còn chẳng quan tâm cái ánh sáng từ đâu ra, nói gì tới hắn.

Hắn bắt đầu thấy buồn và cô đơn. Hắn tự nhủ, không cần cái loại qua đường này, chúng thường là những kẻ vong ơn. Hắn dành thời gian để mắt tới những người ở gần hắn nhiều hơn. Những người mà hằng đêm, đi và về, luôn phải nhờ đến sự tận tâm của hắn. Hắn gồng mình chiếu sáng về phía những căn nhà. Như để gửi lời chào, tới những cánh cổng khép mở mỗi ngày và từng con người bên trong đó.

Mãi mê với những thứ này. Cây cột đèn quên mất, cái phía ngay dưới chân mình. Quên rằng hắn có thể thắp sáng cho nhiều thứ trừ… chính hắn. Chỗ chung quanh thân hắn nhập nhoạng. Vẫn còn hiện diện của bóng tối ở đây. Hắn hy vọng họ sẽ nhìn thấy sự hy sinh của hắn, thấy cái thiệt thòi và chịu đựng của hắn. Và khi những thứ hắn tưởng đó, chưa đi tới đâu, thì từ trong cái tối mập mờ chung quanh hắn. Một cặp trai gái còn rất trẻ dừng xe lại. Họ ngồi yên trên đó, thì thầm to nhỏ. Rồi họ hôn nhau, những cái hôn chặt và lâu. Hắn thích thú với vai trò che chắn của mình. Một lát sau, họ rời nhau. Người con gái đi bộ về phía trước. Chắc nhà cô ở gần đâu đây, và cô không muốn người nhà biết chuyện hẹn hò của mình. Chàng trai nhìn theo ngơ ngẩn, đến khi cô đi khuất mới đi. Được vài tối như vậy, rồi thôi. Hắn không gặp lại họ nữa.

Đêm khác, đúng lúc cây cột đèn không ngờ, không chờ đợi. Một gã say lò mò tới, tay vịn vào người hắn, tay kia tuột dây kéo quần, mùi xú uế lẫn mùi rượu bốc lên nồng nặc. Hắn rùng mình, một bên người ướt sũng. Hắn ngạc nhiên, hắn tức tối. Hắn không tin gã say có thể làm điều này với mình. Chưa hết, gã thuận tay ném luôn tờ báo đang cầm, xuống vũng nước vừa xả ra, rồi mới chịu bỏ đi. Thứ nước khai rình ngấm vào trang báo mở sẵn, làm mực nhòe đi và chữ theo đó tan dần…, tan dần. Nhiều người biết gã này. Có người chào gã là nhà thơ. Thì ra vậy. Tối nào gã cũng từ cái quán nhậu bình dân ở đầu đường, về qua đây. Cây cột đèn cũng có cảm tình với cái tướng đi chệnh choạng, bất cần đời của gã. Nhưng làm quen với nhau kiểu này thì tệ quá!

Gã nhà thơ đi khỏi được một lát. Từ bên trong những căn nhà gần đó. Một, rồi hai, ba người đàn bà thò ra, thay phiên nhau. Rất nhẹ nhàng, đặt dưới chân hắn mấy…bịch rác. Một thứ mùi hỗn hợp mau chóng lan ra trong không khí. Người đi đường tránh xa hắn thêm. Vài con chó hoang, ghé qua kiếm miếng ăn, tiện thể cũng xoạc chân, xả thẳng vào hắn không thương tiếc.

Người hắn bong tróc, ngứa ngáy và hôi hám tới mức hắn chỉ dám nhìn ra xa, chứ không dám nhìn lại mình.

Rồi nắng, rồi mưa, rồi năm tháng chất chồng. Cây cột đèn ngày càng tàn tạ. Hắn mơ hồ nhận ra một phần giá trị thực của mình.

Một tối, chàng trai trẻ ghé lại. Một mình. Chàng tần ngần ngó hắn, rồi ngóng về phía con đường lúc trước. Không có cái lưng áo phất phơ. Không còn tiếng bước chân hối hả. Chàng trai nhặt một miếng gạch bể gần đó, rồi bằng tất cả những chất chứa trong lòng, chàng mài lên hắn chữ HẬN. Cơn đau trong người chàng trai trút lên hắn. Cái chữ ám lên thân hắn. Cái chữ đầu tiên hắn mang trong đời. Cái chữ gây ngộ nhận và làm thành một cái tên, lại chẳng mảy may liên can gì đến hắn. Từ đó, người ta nói chuyện về hắn rất thản nhiên: qua khỏi cột đèn HẬN là tới…Kế bên cột đèn HẬN..

.Cái tên vận vào hắn. Giấc mơ về một sự thay đổi lớn dần. Hắn mệt mỏi và chán chường với công việc. Hắn luôn tự hỏi không biết mình còn đứng được bao lâu nữa!

Hắn chỉ còn trông chờ vào một phép lạ. Và rồi cô gái xuất hiện, với cái nhan sắc cũng bầm dập như hắn. Cô như một nhánh cây khô đã lâu không được tưới nước. Cô trôi dạt từ đâu lại không biết. Hắn chỉ nhớ cái buổi chạng vạng sau cơn mưa chiều, những vũng nước còn đọng lại dưới đường. Hắn vừa lên đèn, thì cô đã đứng tựa người vào hắn, lục tìm thỏi son trong chiếc túi nhỏ bên người, bôi lên đôi môi nhợt nhạt. Cô chải lại mái tóc, kéo chiếc áo cho hở thêm bộ ngực nhão nhoét, rồi ngóng ra đường. Cứ chiếc xe nào đi rề rề ngang, cô lại nhoài người ra đón, mời chào như gặp người thân. Không ai dừng hỏi han, cô lại lủi thủi quay vào nép sau lưng hắn. Thì ra cô làm điếm. Hắn đoán già, đoán non, chắc cô làm nghề này cũng khá lâu, trước không biết sao, chứ giờ chắc cùng đường mạt lộ, mới tới kiếm ăn chỗ này…

Vậy mà từ ngày có cô bầu bạn hắn vui. Hắn thấy mình gần với loài người hơn. Hắn chú ý đến sinh hoạt của cô nhiều hơn. Đêm nào cô ra trể, hay bắt được khách, dắt nhau vào cái nhà trọ rẻ tiền nào đó. Hắn bồn chồn, hắn trông ngóng cô trở lại. Hắn thèm được nhìn thấy nụ cười méo xệch và hiếm hoi của cô khi đếm mấy đồng tiền nhàu nát, hay khi cô cúi gằm đầu ăn tô mì gõ, rồi hắt phần nước lèo còn sót vào chân hắn. Từ ngày có cô, những túi rác tự động dời đi nơi khác. Cũng không còn ai ghé xả lên người hắn. Hắn trở lại vững chãi và tự tin hơn. Hắn thầm cảm ơn cô, vì tất cả những thứ cô mang lại, và cầu mong mọi thứ cứ mãi như thế…

Mùa mưa năm đó, có cơn bão lớn vào thành phố, mưa dầm dề từ sáng. Mặt trời lấp ló, mặt trời âm u và mặt trời tắt sớm. Gió ào ào thổi, hàng dây điện chằng chịt trên đầu hắn chao đảo, chạm vào nhau kêu í ới, lửa nhoáng lên từng chập. Hàng dây níu vào hắn, lôi hắn theo. Đất dưới chân hắn rung lên, nứt rạn. Hắn cố hết sức đứng cho khỏi ngã. Nhưng khó quá, lần đầu tiên hắn cảm thấy rõ rệt nhất, sự già nua của mình.

Cơn gió chợt dừng lại, mưa nhẹ hơn rồi dứt. Người hắn nghiêng hẵn về một bên. Chung quanh hắn tối lại, hắn cũng không còn chút ánh sáng nào để phát ra. Hắn như tê liệt. Cứ thế hắn đỗ xuống từ từ. Không biết ngày mai người ta có dựng hắn dậy, hay sẽ mang hắn đi vứt bỏ ở một nơi nào khác. Mặc kệ, đằng nào thì hắn cũng sắp chết. Hắn ngửa mặt lên nhìn bầu trời, mây đen đã tan, mặt trăng sớm còn ở xa, chiếu chút sáng vàng vọt xuống. Hắn thấy trăng đẹp vô cùng. Hắn bắt đầu cầu nguyện. Lòng thành của hắn được chứng. Nàng đang đi về phía hắn. Không ai ra ngoài vào giờ này. Chỉ có cái đói lôi kéo. Nàng nhìn hắn ái ngại, rồi nhìn ra đoạn đường vắng hoe. Hắn nghe tiếng thở dài của nàng. Ông trời chắc cũng nghe. Gã thi sĩ say rượu ngày thường đi ngang là đi một nước. Bữa nay gã chợt dừng lại, ngó nàng đăm đăm. Cô gái lên tiếng trước: “đi không?” Gã gật gật: “…mà bao nhiêu?” “Bao nhiêu cũng được”. Nàng vừa nói vừa kéo gã lại gần. Gã thọc tay vào túi quần, lôi hết mấy đồng tiền trong đó đặt vào tay nàng: “ở đây hả?”. Cả hai sát vào nhau, nhấp nhô. Nàng tựa lưng vào cây cột đèn, nửa đứng nửa ngồi. Gã say trút hết sức lực, hì hục thở. Cây cột đèn trân mình chịu đựng. Mặt trăng trốn mất dạng. Hai cái bóng dính chặt. Rồi cũng xong. Một tay kéo quần, một tay vẫn nắm chặt tiền, nàng nói: “đi…tui mời anh tô mì…” Gã say xua xua tay, rồi gập người ói thốc, ói tháo lên người hắn. Cô gái điếm vỗ vỗ lên cây cột đèn, không biết để cảm ơn hay chào từ biệt, rồi đi thẳng. Gã say ráng đứng dậy, loạng choạng đi theo sau.

Trong đống thức ăn nhầy nhụa gã vừa ói, những thứ thực sự của chính gã vừa trào ra không kiểm soát, cứ nhấp nháy những dòng chữ, thứ chữ không giống chút nào, với cái chữ trên tờ báo, trong vũng nước đái hôm nọ.May mà gã còn ói được..

NĐH

……

thơ chàng:THƠ NGÔ ĐÌNH HẢI

,

DỤ DỖ

hay là mình cứ yêu nhau đi em

để có khóc thì khóc chung một lúc

có giông bão còn nắm tay nhau được

chứ cuốn trôi rồi ai nói ai nghe

hay là mình cứ ở chung đi em

cho năm tháng cạn có nơi nương tựa

cho những đoạn đời cháy trong bếp lửa

biết đâu còn hơi ấm một nồi cơm

hay là mình cứ ngủ chung đi em

nhà còn mái che đâu mà e ngại

hong cây lá ướt cho nhau cùng sưởi

mơ thấy bên ngoài bóng một quê hương

hay là mình cứ đi chung thôi em

xa thật khuất chỗ ta đang mắc cạn

về sông cũ làm lục bình trôi dạt

hoa nở tím buồn cũng bớt cô đơn…

NHANG KHÓI

cuối năm nhớ quá , lên chùa cũ

tìm bóng em ngồi tụng Pháp Hoa

sư hỏi : ” sao không vào mà lễ ?

“thưa : ” thiếu tiếng ai kia niệm Di Đà ! “

chỗ ấy còn thơm hương Bồ Tát

mà , giang hồ bụi cứ theo chân

sợ vô tình chạm tan đi mất

lỡ một hồi kinh với mõ chuông

nam mô , tình dẫu coi như nghiệp

cũng có cho mình được chút duyên

xin gửi khói nhang trong chánh điện

người ở bên ngoài đỡ nhớ thêm .

.BỮA NHẬU GÓP

Đám bạn cũ gặp nhau rủ nhậu

Đứa nào có gì góp nấy

Một tên chìa ra chai rượu gạo

– Tao góp “nước mắt quê hương” cho nó mau say

Cho quên đi cái trống rỗng của tháng ngày

Ly rượu nhỏ lọt thỏm trong lòng bàn tay

– Tao góp mấy tiếng cười

Cho những giấc mơ thấy đường về trong đêm tối

Tên khác dốc cạn ly không nói

Lặng thinh đếm coi còn thiếu mấy chỗ ngồi

– Tao góp thời tuổi trẻ xa xô

iChiến tranh đã qua lâu mà mất mát còn hoài

– Tao góp bằng Tú Tài đôi

Công ăn học đem ra đứng chợ trời

– Tao góp những cuộc tình ngây dại

Yêu mà sợ chiếc khăn sô trên đầu người con gái

Tên khác cúi mặt không nhìn ai

Lẩm bẩm góp câu

– Lũ chúng mình sinh nhầm thời!

Tên nữa móc túi đặt lên bàn mấy tờ tiền giấy

– Tụi mày đừng ngại, trong đó toàn nước mắt và mồ hôi

Tên còn lại cho tao góp với

Cái thứ thèm uống cho trôi

Thứ không thuộc về mình lâu rồi

Thứ người ta định nghĩa là…Cuộc đời!

Có mỗi chai rượu mà chừng đó mồi Phải say thôi!..

.*TIỂU SỬ NGÔ ĐÌNH HẢIKỹ sư Canh Nông, Bắc di cư, sinh Hải Phòng, sống và lớn lên ở Sài Gòn. Nhóm thơ Hồn Trẻ với BCVinh (1968). Viết tự do. Đã xuất bản: Nhỏ ơi(thơ), Đời ơi (thơ), Ngửa (tập truyện ngắn), Còn&Mất (truyện dài).Đang in: Tôi ơi (thơ), Nghiệt (tập truyện), Phù Hư (tập truyện), Giang hồ khô nước mắt (tiểu thuyết).Tôi nghĩ và hy vọng Ngô Đình Hải còn mãi tư duy để đi,sống và viết như câu nói nổi tiếng của nhà hiền triết Descartes: Tôi tư duy nên tôi tồn tại( I think,therefore I am).Trần Dzạ Lữ( Xuyên Mộc 16.10.2021)Hình : Nhà văn NĐH

Read Full Post »

Chế Diễm Trâm

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đã giã từ dương thế vào sáng ngày 22/11/2020, hưởng thọ 100 tuổi. Đó là đại biểu cuối cùng của Phong trào Thơ mới (1932 – 1945). Nhắc đến tên nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, bạn đọc sẽ không quên dấu ấn của ông đối với Phong trào Thơ mới nói chung và với nhóm Xuân Thu nhã tập nói riêng – một trong những nhóm thơ lấy ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng làm tuyên ngôn sáng tác.  

Nhóm Xuân Thuđược tập hợp từ năm 1939, gồm nhiều lĩnh vực. Mảng thơ gồm các tác giả Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ; nhạc có Nguyễn Xuân Khoát; hoạ có Đỗ Cung. Năm 1942, Xuân Thu thư lâu xuất bản một tập sách có tên là Xuân Thu nhã tập. Từ đó tên tập sách thành tên của nhóm. Trong bài Quan niệm in trong tập sách, họ lý giải cái tên của nhóm như sau:

Một biểu tượng đương nhiên, cái nhịp của cuộc sống vô cùng. Sắc xuân và hương thu. Hai mùa quá độ, uyển chuyển trong khoảng cao, trong, nhẹ… Hai mùa thực hiện Đẹp và Thơ. Hai mùa rung động cảm thông Người với Đất Trời, Trời Đất và Người.

Năm 1943, nhà thơ Đoàn Phú Tứ lại nói đến ý nghĩa của cái tên ấy:

Sống theo cái Nhịp của Trời Đất, mà cái biểu tượng đương nhiên và tốt đẹp nhất là hai mùa Xuân và Thu luân chuyển. Nên lấy hai chữ Xuân Thu làm biểu hiện cho cái Nhạc của Vũ trụ” mà “Thơ chính là cái rung động siêu việt trong trẻo, nhịp nhàng của bản nhạc vô cùng ấy([1]).

Trong Xuân Thu nhã tập, ngoài các tiểu luận trước đó đã đăng trên báo Thanh nghị, còn có ba bài thơ của Phạm Văn Hạnh (Thư thơ, Người có nghe, Giọt sương hoa), ba bài thơ của Nguyễn Xuân Sanh (Buồn xưa, Hồn ngàn mùa, Bình tàn thu), một bài thơ của Đoàn Phú Tứ (Màu thời gian), một bản nhạc của Nguyễn Xuân Khoát phổ nhạc bài thơ Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ và một bức tranh phụ bản của Nguyễn Đỗ Cung vẽ một gốc cây đã bị đốn hết thân cành nhưng trên đó đang bừng nở những chồi biếc khỏe khoắn.

Đó là những sáng tác vừa đóng vai trò thử nghiệm vừa đóng vai trò minh chứng cho những tuyên ngôn lý thuyết đã được trình bày trong các tiểu luận. Số lượng tác phẩm tuy không nhiều, nếu không muốn nói là ít ỏi nhưng nhìn vào đây cũng có thể thấy được rằng những luận điểm tuyên ngôn sáng tạo (đặc biệt trong tiểu luận Thơ) đã được các tác giả triển khai và ứng dụng ngay trên các tác phẩm của họ.

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh có viết riêng một mục dành cho một tác giả thuộc thi phái Xuân Thu nhã tập là nhà thơ Đoàn Phú Tứ và trích đăng một bài thơ của Đoàn Phú Tứ – bài Màu thời gian. Tuy Nguyễn Xuân Sanh không có một mục riêng nhưng trong tiểu luận Một thời đại trong thi ca của tập sách nói trên, Hoài Thanh có nhắc đến Nguyễn Xuân Sanh hai lần, và cả hai lần cái tên Nguyễn Xuân Sanh đều đi liền với Bích Khê – một trong những nhà thơ tên tuổi của Trường thơ Loạn:

Từ Xuân Diệu, Huy Cận, thơ Việt Nam đã có tính cách của thơ Pháp lối tượng trưng. Nhưng còn dè dặt. Bích Khê và ít người nữa như Xuân Sanh, muốn đi đến chỗ người ta thường cho là cao nhất trong thơ tượng trưng: Mallarmé, Valéry.

Các ông Bích Khê và Xuân Sanh noi theo gương Mallarmé, Valéry không thèm gìn giữ gì hết. Trong tác phẩm của họ vẫn chừng ấy tiếng ta rất quen, nhưng thảng hoặc ta mới tìm được dấu tích những ý tứ, những tình cảm ta vẫn quen gửi vào đó. Họ chạm trổ rất tỉ mỉ, không phải những rồng những phượng như ngày trước, mà những gì chẳng ai biết tên. Những gì đó đôi khi cũng đẹp. Đôi khi hình như họ đã diễn tả được những điều sâu kín, nhưng lời thơ rắc rối quá, dầu sao phần đông chúng ta cũng đành kính nhi viễn chi.

Những nhận định trên của Hoài Thanh cho thấy Nguyễn Xuân Sanh là một trong những cây bút chủ chốt không chỉ của nhóm Xuân Thu mà còn của Phong trào Thơ mới giai đoạn từ năm 1936 trở đi, khi thơ Việt Nam một lần nữa muốn cách tân – chuyển từ chủ nghĩa lãng mạn sang ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực với tên tuổi của ba nhóm thơ tiêu biểu: Trường thơ Loạn, Xuân Thu nhã tậpDạ đài.

Xuân Thu nhã tập trình bày nhiều quan niệm về thơ, về vũ trụ và nhân sinh, về trí thức, về nhạc, vẽ,… trong đó quan niệm về thơ đáng chú ý hơn cả. Trong tiểu luận Quan niệm, Xuân Thu nhã tập đưa ra nhiều luận điểm về mối quan hệ giữa thơ – nhà thơ – người đọc thơ.

Quan niệm của Xuân Thu nhã tập thể hiện rõ tinh thần canh tân thơ ca dân tộc khi Thơ mới lãng mạn có vẻ đã quá quen. Quan niệm thơ của họ là kết quả của mối lương duyên giữa phương Tây [cụ thể là dòng thơ tượng trưng, siêu thực Pháp] và phương Đông [chất hàm súc của thơ phương Đông và sự thâm trầm của Phật giáo]:

Tìm con đường thực, nối liền nguồn gốc xưa với ước vọng nay. Gọi về những tính cách riêng của ta, để có thể xuôi chảy trong cái dòng sống thực của ta, không quanh co, lúng túng vì những ảnh hưởng ngoài”.

Mục đích cách tân của Xuân Thu thể hiện trên hai phương diện: không lặp lại cái tôi lãng mạn “dễ dãi” (từ của Baudelaire) và chống lại sự đồng hóa của phương Tây để ngăn cái họa mất gốc. Chủ trương trở về nguồn – ngăn cái họa mất gốc – nhưng Xuân Thu vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc triết học phương Tây, chủ nghĩa tượng trưng trong văn học phương Tây.

Trả lời câu hỏi “Thơ là gì?”, các tác giả Xuân Thu nhã tập phân tích bản chất thơ ở ba cấp độ. Cấp độ thứ nhất, ở tính chất phổ quát: thơ có trong các hiện tượng tự nhiên, đời sống, đặc biệt tập trung trong các trong các loại hình nghệ thuật (văn học, âm nhạc, hội họa…). Rung động là bản chất phổ quát của thơ, rung động của thơ là rung động siêu việt, không thể cắt nghĩa, giải thích. Thơ là “một cái gì” không giải thích được mà cũng không cần giải thích, khi chưa kịp hiểu nó là gì, ta đã bị nó quyến rũ, lôi kéo, xâm chiếm. Thơ được ví như “Giai nhân”, như “Đẹp”, như “Trời”:

Người ta đã thử và chưa từng giải thích được thơ. Như Giai nhân, như Đẹp, như Trời. Người ta cảm thấy một cái gì siêu thoát, ra ngoài ước lệ, ở trên lý trí, nó rung động ta theo nhịp vũ trụ, hồn nhiên, nó hòa hợp Ta trong cái Đẹp và ấp ta trong cái Thật. Vẻ man mác của cái đẹp và ý sâu sắc của cái thật. Do trong trẻo gạn nên… Nó là cái gì không giải thích được, mà cũng không cần giải thích. Nó chiếm đoạt ta tất nhiên, hoàn toàn, tức khắc. Đột nhiên như ta nhào vô lòng mẹ không cần xét suy”.  

Cấp độ thứ hai, chất thơ trong nghệ thuật thơ – thể loại thể hiện tập trung nhất tính thơ – để chỉ ra thơ khác văn xuôi như thế nào. Theo Xuân Thu nhã tập, “Văn có tính cách giãi bày, thuộc lý trí, vụ ích lợi”, “thơ không phải lúc nào cũng để chỉ bảo một cái gì, vì nó không vụ lợi ích thực tế”. Họ nhấn mạnh đặc tính nổi bật của thơ là tính hàm súc, là kết quả của sự rung động trong trẻo và thuần khiết, vốn là đặc trưng thơ phương Đông. “Tính chất của thơ là hàm súc, tĩnh mạc, tổng hợp. Ngôn ngữ, cú pháp Á Đông rất thích hợp cho thơ. Tứ thơ thường đọng lại, cốt gợi hơn là tả… Từ cuối thế kỷ trước, thơ Pháp nhờ dòng tượng trưng đã gặp thơ Á Đông ở chỗ uẩn súc, huyền ảo… Thơ phải chứa nhiều sức khêu gợi, ý ở ngoài lời…

Chính vì vậy, thơ đích thực không dễ hiểu; nói cách khác, khó hiểu là một yếu tính của thơ ca, thậm chí cần xem sự khó hiểu này như một giá trị. Theo họ, “thơ không cần lúc nào cũng rõ nghĩa, không phải lúc nào cũng sáng sủa… Nó giữ phần sâu kín, giữ phần sâu sắc; không phải lúc nào cũng theo lý luận, vì nó chịu sức chi phối của những luật vô hình… Vậy thơ là một cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thúy, cao siêu, cái hình ảnh sự khắc khoải bất diệt của muôn vật: cõi Vô Cùng ”.

Ở cấp độ thứ ba, thơ được xem xét trong tư cách là một đơn vị chỉnh thể ngôn ngữ – một bài thơ. “Tiêu chuẩn về hình thức thơ là tính-cách-độc-nhất”, bài thơ là sản phẩm độc đáo duy nhất thể hiện sự hàm súc, khêu gợi đầy bí ẩn của câu chữ, nhạc điệu, hình ảnh… Hình ảnh, ngôn từ, kết cấu, nhạc tính… tất cả được tổ chức chặt chẽ để “đọc xong bài thơ, ta bị y nguyên những câu, những tiếng của toàn bài chi phối. Hình thể, cùng lúc với hồn, sống mãi trong ta. Và ta không thể di dịch một âm thanh, một hình ảnh mà không phản bội và tàn phá”.

Về thiên chức của nhà thơ, Xuân Thu nhã tập nhấn mạnh vai trò tiên phong trong sáng tạo “tìm những cách rung động mới, những lối diễn đạt mới, bao giờ cũng ở hàng tiên phong” và phải xứng đáng với danh hiệu thi sĩ là người tạo nên cái-gì-chỉ-có-một. Do đó, hình ảnh người nghệ sĩ đích thực trong quan niệm của Xuân Thu nhã tập là “gốc cây Ta, đầy nhựa Thơ, hút nhận nhạc của Đất Trời để trổ sinh bao Điệu, thắm tươi những bông hoa Sáng Tạo dâng lên bàn thờ Đạo lý – lẽ sống của Đời”.

Việc tiếp nhận thơ cũng đòi hỏi ở người đọc những tố chất, năng lực thẩm mỹ nhất định. Theo Xuân Thu, những vần thơ đích thực “nó mê hoặc ta ngay và đặt ta vào giữa cõi thơ có thần trợ. Hay nói đúng, một cái gì trên cả âm điệu, không giải được mà chỉ cảm được thôi”. Do đó, họ đề nghị: “Hãy nằm trong thơ, dầm trong nhạc, đừng vội “hiểutrước khi xúc cảm. Rồi ta sẽ hiểu, nhất là sẽ biết, cái biết đầy đủ, trong trẻo, trọn vẹn, nhịp nhàng”. Họ đề cao trực cảm, đề cao những rung động hồn nhiên: “Đừng luận lý với thơ cũng đừng luận lý với người yêu, với giáo điều. Thấu nghĩa từng chữ, rồi những chữ ấy ở cạnh nhau sẽ nảy ra những âm thanh gì, hình ảnh gì, gợi trong trí não một vũ trụ gì tức khắc, mới mẻ”.

Đem tất cả những quan niệm ấy vào thực hành, các cây bút Xuân Thu nhã tập đã coi trọng tính “uẩn súc” của tác phẩm qua việc xây dựng các biểu tượng mang tính tượng trưng. Tính tượng trưng trong thơ của các tác giả Xuân Thu nhã tập được tạo nên bởi nhiều yếu tố mà trước hết là cách xây dựng hình ảnh giàu tính biểu tượng. Họ đặt các những hình ảnh, sự vật xa lạ cạnh nhau, trong nhiều trường hợp đã tạo nên những liên tưởng, cảm nhận đột ngột, bất ngờ.

Bài thơ Buồn xưa của Nguyễn Xuân Sanh qua bao năm tháng, có ai vỗ ngực rằng mình đã hiểu hết? Nhưng khi đã đọc bài thơ thì hầu hết đều yêu thích nó, chí ít cũng đôi câu rất nổi tiếng:

Lẵng xuân

            Bờ giũ trái xuân sa

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà

Bài thơ xuất phát từ cảm hứng nỗi sầu nhân thế khi con người đối diện với “thời gian”, với “nhịp hải hà” miên man, vô tận. Từ “buồn” xuất hiện nhiều lần (6 lần), trong đó nỗi buồn hồi tưởng (“buồn xưa”) là âm hưởng chủ đạo. Bài thơ lấy điểm xuất phát là buổi chiều nay để sống lại một/nhiều chiều thu xưa:

Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi

Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y

Rượu hát bầu vàng cung ướp hương

Ngón hường say tóc nhạc trầm mi

Lẵng xuân

            Bờ giũ trái xuân sa

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà

Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm

Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa

Buồn hưởng vườn người vai suối tươi

Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời

Môi gợi mùa xưa ngực giữa thu

Duyên vàng da lộng trái du người

Ngọc quế buồn nào gội tóc xưa

Hồn xa chĩu sách nhánh say sưa

Hiến dâng

            Hiến dâng quả bồng hường

Hoàng tử nghiêng buồn vây tóc mưa

Đường tàn xây trái buổi du dương

Thời gian ơi tưới hận chìm tường

Nguồn buồn lạnh lẽo thoát cung hơi

Ngọt ngào nhớ chảy tự trăm phương.

            Tại thời điểm “chiều” hiện tại, có “quỳnh hoa”, có “nhạc”, khúc “nhài đàn”, có “rượu”, có “lẵng xuân”, có hương “ngọc quế”,… Trong không-thời gian ấy, sao mà không “say sưa”, “du dương” cho được, nhất là bên cạnh có “trầm mi”, “tóc mưa”, “môi gợi”, “da lộng”, “ngón hường”, có “vú đôi thơm”, “quả bồng hường”… dẫn dắt, dẫn dụ?

            Từ thực tại, thực tại “say”-“buồn”-“hận chìm tường” trong “lạnh lẽo”, người ta trôi, trôi dần, trôi hẳn về quá khứ, làm sống dậy một “mùa xưa” có chàng hoàng tử “hồn xanh ngát” trong “cung ướp hương” với “dấu xiêm y”, với ngón đàn “tỳ bà” mang cả một rừng “ngọt ngào” neo lại giữa “du dương” với “say sưa”…

            Càng tìm vui, tìm quên trong quá khứ càng mất phương hướng, cái tôi đành quay lại thực tại để thấy càng sầu mênh mông trong cả hai chiều kích thời gian (“muôn đời”) và không gian (“tự trăm phương”) làm thành nỗi sầu nhân thế đã hiện hữu trong con người từ xưa đến nay:  

Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời

Ngọt ngào nhớ chảy tự trăm phương

            Bài thơ đã trộn lẫn hiện tại – quá khứ – hiện tại làm thành một thế giới nghệ thuật của nỗi u buồn không dứt. Nhà thơ đã lạ hoá từ ngữ, hình ảnh bằng cách chuyển đổi cảm giác liên tục làm nên một thế giới nghệ thuật siêu cảm giác, khó hiểu, không giải thích được như quan niệm của thơ tượng trưng mà nhóm Xuân Thu nhã tập đã dụng tâm, dụng công theo đuổi. Đó là “nhạc trầm mi”, “hồn xanh ngát”, “trái xuân sa”, “lẵng xuân”, “nhài đàn”, “tóc xưa”, “tóc mưa”, “đường tàn”,…

Nhà thơ Buồn xưa cũng phát huy tính nhạc ảo diệu của thơ tượng trưng, trong đó âm giai chính là “du dương”, huyền hồ, buồn buồn thầm kín:

Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời

            Câu thơ toàn thanh bằng (bình thanh) giống như nhạc điệu của những câu thơ của các nhà Thơ mới Xuân Diệu, Bích Khê:  

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

                        Tương tư nâng lòng lên chơi vơi (Nhị hồ – Xuân Diệu)

            Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông (Tỳ bà – Bích Khê)

            Đó là thứ nhạc thơ mang nghĩa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ tượng trưng – “Thơ là sự dao động giữa âm thanh và ý nghĩa” (Valéry) – một điệu nhạc nhẹ nhẹ, dịu dịu nhưng day dứt, ám ảnh về nỗi sầu buồn của thời đại Thơ mới.  

Toàn tác phẩm có 142 âm tiết [kể cả nhan đề] thì có 89 âm tiết mang thanh bằng (62,67%). Nhạc điệu chủ đạo chuyên chở nỗi sầu sầu, buồn buồn, thương thương, nhớ nhớ… Bởi thế, ba chữ “nhạc trầm mi” được trở đi trở lại trong khổ đầu của bài thơ như một sự nhấn nhá, nhấn mạnh trạng thái vi diệu và mơ hồ của cảm xúc, tâm trạng.

            Bài thơ Hồn ngàn mùa, Nguyễn Xuân Sanh cũng giữ nét nhạc sầu miên man đó qua một điệp khúc (có biến đổi) cuối mỗi khổ thơ:

                        …Trầm ngàn mùa nghe tóc buông xây

…Rừng ngàn mùa e ấp Dung Nhan
…Hồn ngàn mùa lạnh lẽo tay hương
…Người ngàn mùa kiếp trắng nghiêng Sông([2])

Còn trong bài thơ Bình tàn thu, tác giả phối vần liên tiếp trong mỗi khổ, và số câu trong mỗi khổ theo quy luật đan xen nhau (2 câu – 3 câu – 2 câu – 3 câu – 2 câu) cũng làm nên một điệu nhạc đặc trưng của Thơ mới – sầu muôn đời-muôn phương:  

 Bình tàn thu vai phấn nghiêng rơi
Chén vàng dâng ướp nhạc lòng đời

Sương mùa lệ héo dặm đường hương
Cung phi dăng bướm buồn Nghê Thường
Sách đàn tay xõa ái tình chương

Cổ mây người nhạc dịu vườn tươi
Da xuân mười tám tuổi buồn người

Mi thơm chanh buổi chĩu buồn da
Rượu tóc loan tháng đượm mùa ngà
Sầu chùm tơ giấy giở mưa hoa

Người ơi người nẻo ngát tường nương
Hồn Tương Giang đàn dựa buồn hường.

Tuy các nhà thơ tượng trưng Xuân Thu nhã tập vẫn tuyên ngôn về một tư duy thơ siêu thức, kín mít, bí hiểm, xoá nhoà mọi liên kết logich, mọi cách hiểu nhưng qua sự liên kết các biểu tượng, và qua cả nhạc thơ, bạn yêu thơ vẫn có thể thấu cảm ý đồ nghệ thuật của họ. Và có bài thơ nào [nhất là thơ hay] mà không có tứ thơ? Vậy nên cái khó hiểu cố tình của thơ họ vẫn có thể giải mã được. Song, vì không dễ lý giải nên những bài thơ của họ có sức hấp dẫn lớn. Từ thế hệ này đến thế hệ khác đều có thể có những liên tưởng khác nhau, làm giàu có, phong phú vẻ đẹp không tới đáy của các thi phẩm. Mà như thế, họ đã thành công! Có lẽ, ở chốn suối vàng, họ đã mỉm cười hài lòng với sinh mệnh bất tử của những đứa con tinh thần của họ.

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đã đi xa nhưng tác phẩm thì vẫn còn mãi. Nhắc đến ông, chúng ta nghĩ ngay đến nỗ lực cách tân Thơ mới thập niên 40 của thế kỷ XX với vai trò của thi phái tượng trưng mang tên Xuân Thu nhã tập. Nhận định của PGS.TS. Nguyễn Văn Long có lẽ là nhận định công tâm, công bằng nhất cho đóng góp của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh trước Cách mạng:

“Nguyễn Xuân Sanh trăn trở tìm tòi để đến với cái đẹp trong sáng tạo nghệ thuật. Ông cách tân thơ bằng sự phá bỏ tính liên tục và thay bằng tính gián đoạn, gây một âm hưởng mới lạ, có vẻ bí hiểm, làm ngỡ ngàng người đọc đã quen với sự truyền cảm của Thơ mới. Nhưng ông vẫn giữ nguyên vần, khổ, câu và cách ngắt nhịp đơn điệu, nên sự sáng tạo không được triệt để.”([3])  

Đóng góp lớn nhất của Xuân Thu, trong đó có công đầu của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh là đã khơi gợi một ý tưởng: thơ có thể khác trước, khác với thứ thơ quen thuộc mà ta vẫn biết, mở ra một hướng đi mới cho thơ: “Nghệ sĩ ngày nay phải chịu trách nhiệm tạo thành những mỹ cảm ngày sau, những xúc động sau, những tuổi sau, những vô biên mới, những vĩnh viễn ngày mai.” Quan niệm của họ đã được hiện thực hóa một cách sinh động trong sáng tác của các nhà thơ viết theo khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa sau này.

CDT


[1] Theo Wikipedia, Xuân Thu nhã tập

[2] Bài thơ Hồn ngàn mùa (Nguyễn Xuân Sanh) như sau:

            Hy-mã-lạp-sơn buồn thu đây

            Thu

                        Tóc xuân bưng đỉnh chiều đầy

            Quý dâng Hình Nhạc nẻo nghìn mây

            Trầm ngàn mùa nghe tóc buông xây

            Hoà hợp màu hương tranh thế gian

            Đất ơi hoa rót chén giời đàn

            Sen tưởng cầu thơm nguôi tiếng van

            Rừng ngàn mùa e ấp Dung Nhan

            Đền xanh cửa ngát lạc hoa thương

            Cúi đầu sao khóc bể chán chường

            Quay thuyền Lái Ngọc gửi mươi phương

            Hồn ngàn mùa lạnh lẽo tay hương

            Hoàng hôn kinh dậy đất mênh mông

            Trái đẹp sau xưa gợn gió bồng

            Vai sầu chín thuở Đức say Bông

            Người ngàn mùa kiếp trắng nghiêng Sông.

[3] Theo Wikipedia, Nguyễn Xuân Sanh

Read Full Post »

Võ Phiến

Thơ Võ Chân Cửu
 
Võ Phiến bảo trong tâm hồn một số văn thi nhân Bình Ðịnh có nét “u huyền” khó hiểu. Ông “mời họ ra cho ai nấy thử tìm hiểu”. “Họ” đều đã nổi tiếng, trừ một người, người trẻ nhất. Vì trẻ, người ấy thuộc vào “Văn Học Miền Nam”. Ðây lời mời nhà thơ Võ Chân Cửu (theo gocnhin.net)
 
Bài trích từ  Văn học Miền Nam, Tập IV – Thơ (trang 3167-3171) NXB Văn Học, California 1998:
 
 Hoài Thanh nhân đọc Yến Lan nhận thấy các nhà thơ Bình Ðịnh (Yến Lan là người Bình Ðịnh) thường bị vầng trăng ám ảnh.

            Quả cái vầng trăng ở bến My Lăng nọ là một kỳ bí. Trăng ấy gây bất an, gây đến sợ hãi. Không riêng trăng My Lăng mà thôi. Từ trăng của Yến Lan, trăng động Chua Me ở Sa Kỳ hay trăng đầy miệng của Hàn Mặc Tử, “trăng ma lầu Việt” của Quách Tấn, cho đến những “trăng ghì trăng riết cả làn da” của Chế Lan Viên…, tất cả đều là thứ trăng quái đản, làm ta rợn cả người.

             Nhưng bảo rằng ở Bình Ðịnh chỉ có cái trăng là đáng khiếp, không đúng. Có trăng, lại có ma: ma lầu Việt, ma Hời, và yêu tinh, và quỉ quái… Và cả những khi không có ma quỉ gì ráo, chỉ có mấy chiếc lá rơi, thi nhân Bình Ðịnh cũng dựng nên cảnh hãi hùng:


“Ai đổi đầu lâu trong nấm mộ,
Tiếng khu vang rạn khới đầu ta?
Có ai rên rỉ ngoài thôn lạnh
Như tiếng xương người rên rỉ khô?
Mơ rồi! Mơ rồi! ta mơ rồi!
Xào xạc chỉ có lá vàng rơi
Quanh mình bóng tối mênh mang cả
Thấp thóang đôi hồi lửa đóm soi.”
(Mơ Trăng – Chế Lan Viên)

              Chỉ có sao in đáy giếng, thi nhân Bình Ðịnh cũng ghê người:

“Sao ở đâu mọc lên trong đáy giếng
Lạnh như hồn u tối vạn yêu ma?”

                                     (Ta – Chế Lan Viên)

               Chỉ có đám mây in hình xuống dòng nước, thi nhân Bình Ðịnh trông thấy cũng làm ta nổi da gà:

“Mây chết đuối ở dòng sông vắng lặng
Trôi thây về xa tận cõi vô biên.”

                                 (Thơ Ðiên – Hàn Mặc Tử)
         
                Vậy đó. Cho nên sau này có những người lấy làm nghĩ ngợi về cái con người ở vùng đất này. Vâng, cái lạ lùng là của người, chứ không phải của trăng của ma. Không phải riêng trăng có sức ám ảnh như ông Hoài Thanh đã nói, mà cái gì cũng ám ảnh được người Bình Ðịnh: cái lá, cái sao, đám mây v.v. Mọi thứ, kể từ những thứ hiền lành nhất.
                 Ông Lại Nguyên Ân chẳng hạn, nhân bàn về Hàn Mặc Tử, ông luận luôn đến khí chất người miền Trung. Theo ông, người Việt miền Trung thì “khắc nghiệt, riết róng, quyết liệt, táo bạo, cực đoan”, thì “sôi máu, táo tợn, liều lĩnh” hơn người Việt ở cả ngoài Bắc lẫn trong Nam. Tiếng nói ở miền Bắc (kể từ ngữ âm đến từ vựng, ngữ pháp) vốn sáng và rõ. Tiếng nói miền Trung thì tối và đục, hoang dã; nó “chuyển” tải những cảm quan điên dại, siêu thực tế của con người trong những dò tìm về những cõi hư huyền, vô hình, vô ảnh trong những diễn tả về thế giới âm u”. Ngôn ngữ như thế, tồng hát cũng thế. Ngoài Bắc có chèo, ở Trung có tuồng. Ở chèo không có gươm có giáo, không có giặc giã, chính biến; trên sân khấu chèo toàn giọng nhẹ nhàng, đằm thắm, trong trẻo. Trái lại ở tuồng (hát bộ) thường có gào có thét, có giết chóc dữ dằn, rộn rịp đầy những hùng binh dũng tướng. Do khí chất mà khác nhau cả (1) .
              Đồng bào ngoài Bắc cũng như trong Nam thường xem như trên giải đất từ Thanh Hóa vào Phan Thiết mọi sự chung chung là giống nhau; giọng Huế là giọng miền Trung; ông Ngô Đình Nhu là cái thâm hiểm của miền Trung v.v.. Thực ra, suốt giải đất dài ngoằng, quá dài ấy, có nhiều dị biệt: giọng nói Nghệ Tĩnh không hề giống giọng Phan Rang Phan Rí, tính người Nam Ngãi khác hẳn tính người Trị Thiên; cha đàng ngoài, mẹ đàng trong của Xuân Diệu, mặc dù đều là người Việt miền trung cả, vẫn khác nhau rõ rệt v.v.. Cho đến nay, khó mà biết được thực ra những cái gì là đặc điểm chung cho các thể hiện tâm hồn của người miền Trung. Những điều mà ông Lại Nguyên Ân vừa nói, đại khái là chỉ hợp cho một vùng Bình Định thôi: Tuồng (hát bộ) gốc Bình Định, Hàn Mặc Tử và bạn bè trong nhóm ông hầu hết là Bình Định.
             Tất nhiên tôi không muồn giành giật với các tỉnh khác, không muốn vơ vào cho Bình Định làm gì tất cả những cái “sôi máu”, “táo tợn”, và “hoang dã”, và ối trời! cái “điên dại nữa. Làm như thế chỉ e bị bà con đồng tỉnh trách giận thôi, ích gì? Chẳng qua phần ai nấy gánh.
              Võ Chân Cửu đã gánh đủ.

              Này xem: Xa làng lâu ngày, một hôm trở về ông thấy núi thấy mây ở quê mình:

    “Bỗng nhiên lạnh cả hồn tôi
Khi trông thấy dáng núi ngồi co ro
…………………………………………
      Mười năm làng cũ không về
Ðăm đăm mây trắng lê thê mái đầu.”

                           (Ðăm đăm mây trắng)

              Trên đất nước này, bạn có từng bắt gặp cái núi ở nơi nào nó ngồi như vậy không? Bạn ngờ rằng thứ núi co ro đáng hãi nọ ngẫu nhiên là đặc cảnh địa phương chăng? Không phải vậy đâu. Không cần nhìn cảnh làng mình Võ Chân Cửu mới thấy ra vậy; ngay lúc đi giữa thành phố Sài Gòn ông cũng thấy những cái khó có người thấy:

“Ngã ba ngã bảy xe đi khuất
Cơ khí xen cùng nhịp gió mưa
Tiếng ma thiên cổ vong u uất
Vắng lặng buồn xo suốt bốn mùa.”

                                    (Sài Gòn)

             Những mây lê thê, những ma thiên cổ nọ là ở trong hồn người, không ở ngoài cảnh vật. Trong tâm hồn chàng thi sĩ trẻ tuổi người Bình Ðịnh cách xa trường thơ “loạn” một thế hệ, vẫn cứ còn chất chứa đầy những “hư huyền, âm u”.

            Cái gì đã phủ xuống cuộc sống tâm linh của nơi này màn u huyền ấy? Tôi không hiểu nổi đâu, không dám lạm bàn tới đâu. Có lúc tôi thấy quanh mình toàn thị những bà con chất phác thàn hậu. Có lúc khác lại đối diện với những con người quằn quại dị thường. Biết nói sao, ngoài việc mời họ ra cho ai nấy thử tìm hiểu, suy nghĩ?

                                                                                                              1 – 1993
——————-

(1)  Lại Nguyên Ấn- “Khí chất người miền Trung và nhà thơ Hàn Mặc Tử”, tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 1 tháng 12-1991. ọcHH

Nguồn Tạp chí Quán Văn

Read Full Post »

Viết Hiền

Chân dung Hàn Mặc Tử.

Nhà thơ Hàn Mặc Tử sinh trưởng tại Lệ Mỹ – Quảng Bình, nhưng cuộc đời và sự nghiệp của ông để lại khá nhiều dấu ấn tại Bình Ðịnh…

Nhà thơ Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí. Ông sinh ngày 22.9.1912 tại làng Lệ Mỹ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình. Gia đình Hàn Mặc Tử có 8 anh, chị em và Hàn Mặc Tử là con trai thứ 4. Từ năm 1921, khi mới 9 tuổi, cậu bé Nguyễn Trọng Trí đã cùng với gia đình theo cha vào sống tại Bồng Sơn (nay là TX Hoài Nhơn). Đến tháng 7.1926,  khi thân phụ qua đời, Nguyễn Trọng Trí cùng gia đình vào ở hẳn tại Quy Nhơn. Kể từ đó, Hàn Mặc Tử đã ghi dấu ấn tại khá nhiều địa chỉ, như: Bồng Sơn (Hoài Nhơn); thành Bình Định – An Nhơn; Gò Bồi (Tuy Phước); Tây Sơn, Cát Tiến – Phù Cát…

Dấu ấn đầu tiên của Hàn Mặc Tử trên đất Bình Định là năm 1930. Trong cuộc thi thơ do Mộng Du Thi Xã tổ chức, với bút danh Phong Trần, 3 bài thơ Thức khuya, Chùa hoang và Gái ở chùa của ông đã đoạt giải Nhất. Đồng thời, thơ của Phong Trần còn được nhà chí sĩ Phan Bội Châu khen ngợi trên báo Tràng An.

Kể từ đó, Phong Trần trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt. Nhà thơ được mời làm giám khảo một cuộc thi thơ do Collefge de Qui Nhon tổ chức. Theo Yến Lan, khoảng đầu thập niên 30 của thế kỷ XX Hàn Mặc Tử đã khá nổi tiếng, ông và Chế Lan Viên thường xuống Quy Nhơn, đến thăm nhà Hàn Mặc Tử ở số 20 đường Khải Định (tức đường Lê Lợi hiện nay). Nhà thơ Yến Lan kể: “Thỉnh thoảng có dịp đi Quy Nhơn, tôi và Chế Lan Viên thường ghé thăm anh… Mỗi khi chúng tôi đến, Tử từ căn phòng con ở sau phòng khách đi ra đón, vẻ vui mừng. Tử đưa hai đứa tôi vào nhà, mời ngồi vào bộ salon đan bằng mây… Chúng tôi trò chuyện đủ thứ rồi đọc thơ cho nhau nghe… Mỗi khi cao hứng, Tử thường ngồi xếp bằng theo kiểu kiết già, người lọt thỏm vào lòng ghế, hai tay chống trên hai gối, đôi mắt lim dim vời vợi, xa xăm, rồi đọc thơ…”. Cũng theo nhà thơ Yến Lan, chính tại 20 Khải Định đã diễn ra những cuộc trao đổi, tranh luận để rồi hình thành một trường phái thơ mang tên “Trường Thơ Loạn”.

Ngôi nhà 20 Khải Định là nơi hội ngộ, gặp gỡ của khá nhiều văn nhân, thi sĩ, như: Yến Lan, Chế Lan Viên, Hoàng Diệp, Hoàng Tùng Ngâm, Bùi Tuân, Hoàng Trọng Quy, Bửu Đáo, Trần Kiên Mỹ, Quỳnh Dao, Thúc Tề, Lê Đình Ngân… Ngoài ra, đây cũng nơi diễn ra mối tình đầu của Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc (tức Hoàng Thị Kim Cúc).

Bấy giờ, Hàn Mạc Tử làm thư ký tại Sở Ðạc Ðiền Quy Nhơn, nơi thân phụ của Hoàng Cúc là ông Hoàng Phùng làm thương tá. Nhà của Hoàng Cúc cũng nằm trên đường Khải Định, gần nhà Hàn Mặc Tử. Chính thời gian này Hàn Mặc Tử đã cho ra đời một số bài thơ tỏ tình thầm kín với Hoàng Cúc. Tiêu biểu trong số này là bài Hồn cúc và bài Vịnh hoa cúc

Ông Nguyễn Văn Xê (ngồi phía trước) trong một lần viếng thăm khu tưởng niệm Hàn Mặc Tử ở Quy Hòa.

Một địa chỉ khác nằm cách 20 Khải Định không xa là Nhà Xẹc Quy Nhơn (tức Câu lạc bộ thể thao – Cercle Sportif, đoạn gần chùa Long Khánh, đường Tăng Bạt Hổ – Quy Nhơn). Đây cũng là một địa chỉ mà Hàn Mặc Tử để lại nhiều dấu ấn. Tại đây đã hình thành và ra đời nhóm Thái Dương Văn Đoàn, với những văn sĩ, trí thức, như: Nguyễn Minh Vỹ, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên Hoàng Diệp, Nguyễn Viết Lãm, Yến Lan, Phú Sơn… Bên cạnh đó, Thái Dương Văn Đoàn còn cho ra mắt tập san Nắng Xuân. Trong tập san này, ngoài những sáng tác thơ còn có tiểu phẩm Ông nghị gật của Trật Sên (một bút danh khác của Hàn Mặc Tử)…

Ngoài ra, còn một số địa chỉ từng lưu lại dấu ấn Hàn Mặc Tử khi nhà thơ phải đi lánh bệnh, như: Gò Bồi (Tuy Phước), Xóm Ðộng, Xóm Tấn, Gò Bồi, Ghềnh Ráng, nhà thương Quy Nhơn… Đặc biệt là những dấu ấn của Hàn Mặc Tử ở Trại phong Quy Hòa. Theo người bạn đồng bệnh Nguyễn Văn Xê, thời điểm Hàn Mặc Tử vào Trại là sáng 20.9.1940, với hồ sơ mang số thứ tự 1134. Và, đến 11.11.1940, chỉ sau 52 ngày vào Trại, Hàn Mặc Tử qua đời. Điều đáng nói, trong những ngày tháng cuối cùng, Hàn đã kịp ghi dấu ấn qua 2 tập thơ Đời + Cầu nguyện và bài thơ La pureté de I’ame (Linh hồn thanh khiết)… Theo bác sĩ Trần Hữu Ngoạn, nguyên Giám đốc Bệnh viện phong Quy Hòa, Hàn Mặc Tử qua đời không phải do bệnh phong mà do bệnh kiết lỵ.

Và, dấu ấn cuối cùng của Hàn Mặc Tử trên đất Bình Định là ngôi mộ cải táng ở khu đồi Ghềnh Ráng – Quy Nhơn. Theo ông Nguyễn Bá Tín, cuộc cải táng do gia đình Hàn thực hiện vào tháng 2.1959.

Vậy là tròn 80 năm ngày nhà thơ Hàn Mặc Tử đi xa. 8 thập niên đã trôi qua, song những dấu ấn mà Hàn để lại trên đất Bình Định vẫn còn in đậm trong trái tim của những người yêu thơ. Giờ đây, Phòng lưu niệm Hàn Mặc Tử ở Quy Hòa và khu mộ nhà thơ đã trở thành địa chỉ mà nhiều văn nghệ sĩ, những “tao nhân mặc khách” và đông đảo người yêu thơ trong và ngoài nước tìm về để tưởng nhớ ông.

Nguồn Báo Bình Định

Read Full Post »

Hà Tùng Sơn

Tập truyện ngắn “Tám phút mười chín giây” của Chế Diễm Trâm, NXB Hội Nhà văn, 2020  /// Ảnh: H.T.S

Ít có tập truyện ngắn nào khiến tôi phải đọc hết từ đầu đến cuối ngay lập tức như Tám phút mười chín giây (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2020) của cây bút nữ xứ trầm hương Chế Diễm Trâm.

Tập truyện ngắn “Tám phút mười chín giây” của Chế Diễm Trâm, NXB Hội Nhà văn, 2020ẢNH: H.T.S15 truyện ngắn được in trong tập là 15 câu chuyện tình được kể bằng một giọng điệu nhẹ nhàng, tự nhiên mà sâu lắng. Và truyện nào cũng để lại cho bạn đọc những ngẫm nghĩ về tình người, tình đời.Ngay từ truyện ngắn mở đầu, Mép nước, cứ tưởng như tác giả chỉ kể lại những ký ức tuổi thơ, một tuổi thơ không giàu có nhưng sang trọng, êm đềm và đẹp đẽ. Nhân vật chính là một cô bé con sinh ra trong một gia đình hiếu học, có ông bố giỏi tiếng Anh và rất nghiêm khắc với con cái. Nhà nghèo không có của cải để lại nhưng ông đã truyền hết vốn liếng chữ nghĩa cho con. Đó hẳn là một tuổi thơ đẹp và không dễ có. Chuyện tưởng có thể dừng lại ở đấy cũng đã đủ để lọn nghĩa. Thế nhưng kết thúc của Mép nước lại là một câu chuyện tình dang dở. Hai người trẻ yêu nhau, sóng bước đêm trên bờ biển. Nàng chỉ chờ nghe chàng thốt vào tai mình ba tiếng “Anh yêu em” là sẽ có ngay một cuộc tình dọn sẵn. Nhưng điều đó đã không đến. Giống như hình ảnh một người hăm hở chạy ra biển chỉ thiếu nước nhảy ùm xuống biển bơi lặn cho thỏa thích nhưng rồi người đó chỉ dừng lại ở mép nước. “Có những giới hạn của số phận, của cuộc đời làm người ta phải từ bỏ hết, kể cả những giọt nước mắt dào lên mặn đắng...”. Cái kết đầy chất triết lý ấy của câu chuyện đã nói lên tất cả.Và câu chuyện mở đầu ấy của Tám phút mười chín giây đã như một định mệnh ám vào 14 câu chuyện tình còn lại. Chuyện nào cũng nói về tình yêu, rất đẹp, rất mộng mơ nhưng để rồi chỉ dừng lại ở cái “mép nước” của nó mà không đi đến cái gọi là hạnh phúc của hôn nhân và gia đình. Điều này khiến tôi nhớ về một bài tình ca bolero quen thuộc: Tình chỉ đẹp khi còn dang dở. Tôi đồ rằng đây là một chủ ý rất mạnh mẽ của tác giả đã viết nên những câu chuyện trong Tám phút mười chín giây.Đó là những câu chuyện kể mà hầu như không có cốt truyện. Nhưng mỗi tình tiết, mỗi mạch truyện đều được tác giả cân nhắc rất kỹ lưỡng. Bởi thế mỗi truyện ngắn của Chế Diễm Trâm trong Tám phút mười chín giây hiện lên như một cô gái có vẻ đẹp dịu dàng và quyến rũ. Cô gái đó trang điểm rất kỹ càng và khéo léo đến mức mọi người cứ tưởng đó là vẻ đẹp mộc mạc tự nhiên. Trang điểm mà như không trang điểm, ấy là sự kỳ tài của một cô gái đẹp.Người ta thường cho rằng mỗi câu chuyện tình dang dở thường để lại những xót xa và nuối tiếc. Nhưng những câu chuyện tình kiểu “mép nước” của Chế Diễm Trâm đã để lại cho bạn đọc một dư vị ngọt ngào và sâu lắng. Ế là một câu chuyện như vậy. Cố gái tên Ngân có một mối tình đẹp với anh chàng tên Phương. Mối tình sinh viên trong sáng vô ngần ấy đã dừng lại chỉ vì cha mẹ Phương chê chàng trai quê xa và nghèo túng. Phương trở thành một cô gái ế suốt từ thời phổ thông qua cả thời đại học. Đi làm cô lại đem lòng yêu người sếp của mình. Nhưng người đàn ông này dù đang rất cô đơn vẫn đang có đầy đủ vợ con. Người sếp biết Phương yêu mình và anh cũng rất yêu Phương. Nhưng nhân cách của một người đàn ông chân chính không cho phép anh đi quá giới hạn với Phương dù cô rất sẵn lòng. 30 tuổi, và Phương vẫn ế và chưa một lần mở lòng với bất cứ chàng trai nào. Đó là một love story nhiều kịch tính. Bạn đọc dõi theo số phận tình yêu của cô và cuối cùng đã thở phào vì cô không dấn sâu vào bi kịch tình yêu.

Read Full Post »

Hạ Minh
Cuộc ‘ngược dòng’ từ Việt Nam bay sang Milano, Ý những ngày tháng 3.2020 khi nước này đang là một điểm nóng tâm dịch covid 19 của nhà văn Trương Văn Dân để được chia sẻ cùng người vợ yêu quý – nhà văn Elena Pucillo Truong ngỡ là khoảng lặng đầy lo âu với cặp vợ chồng Việt – Ý này.
‘Trò chuyện với thiên thần’ và ‘Một phút tự do’ của cặp đôi văn chương Việt - Ý
Nhưng âm thầm trong những ngày đại dịch hoành hành, hai cuốn sách của họ vẫn được ấp ủ và vừa ra mắt bạn đọc tại Việt Nam như một sự song hành đầy ý nghĩa, cũng là tiếng nói mạnh mẽ cất lên từ đau thương của thế giới: Một phút tự do (tập truyện ngắn – tùy bút của Elena Pucillo Truong, Trương Văn Dân dịch) và tiểu thuyết Trò chuyện với thiên thần (Trương Văn Dân), do NXB Tổng hợp TP.HCM ấn hành quý 2/2020.
Một phút tự do của Elena Pucillo Truong đã được bạn đọc biết đến với bản in do NXB Văn hóa Văn nghệ xuất bản năm 2014, đoạt giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM 2015; và được NXB Calibano Milano xuất bản bằng nguyên tác tiếng Ý với tên Un Istante di liberta cuối năm 2019. Tác phẩm gồm những câu chuyện nhỏ, như những lát cắt thân phận, cuộc sống con người trong mối quan hệ ràng buộc gia đình – xã hội qua cái nhìn đầy cảm thông thấu hiểu, tinh tế, nhân văn, như “liều thuốc” an lành xoa dịu đau đớn, bất hạnh. Một phút tự do cũng gây ấn tượng về một tâm hồn Việt, chất văn hóa Việt trong cô dâu Ý dung dị, hòa ái

Read Full Post »

Chế Diễm Trâm

Trường ca Động hoa vàng được Phạm Thiên Thư sáng tạo năm 1971, trong khi tác giả tạm lánh bụi trần, vô Tu viện Pháp Vân (Sài Gòn) làm tu sĩ gần mười năm (1964 – 1973). Đúng như lời tác giả nói, ông vô chùa để tu theo lối riêng mình. Động hoa vàng là một trong những lối tu riêng ấy: làm Thơ để trình bày Đạo mà người đời gọi là ông “thi hóa kinh Phật”.

Động hoa vàng gồm 100 khổ thơ lục bát, mỗi khổ 4 dòng, tổng cộng 400 dòng. Có khá nhiều dòng thơ được ngắt thành hai, ba, thậm chí bốn chỗ xuống dòng:

                             Chim từ bỏ động hoa thưa

                             người từ

                             tóc biếc đôi bờ

                             hạ

                             đông (more…)

Read Full Post »

Chế Diễm Trâm

Trong con người Nguyễn Công Trứ, ta thấy hiển thị hai mẫu nhà nho: nhà nho hành đạo và nhà nho hành lạc. Giai đoạn tại triều, Uy Viễn tướng quân là mẫu nhà nho “vẫy vùng” chí anh hùng, chí nam nhi, lập công để lập danh, để khẳng định tài năng và bản lĩnh cá nhân:

Đã mang thân ở trong trời đất

            Phải có danh gì với núi sông.

(Nợ tang bồng)

Năm 1848 (70 tuổi), Nguyễn Công Trứ xin lui về trí sĩ, an hưởng nhàn lạc, xem đó là sự tự thưởng sau khi đã hăng hái sống vì đời. Mười năm cuối đời có thể xem là giai đoạn đấng tài tử sống vì mình. Công danh nam tử đã vẹn thì đây là lúc “ông ngất ngưởng” hưởng lạc với “thơ túi rượu bầu”:

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

                        Không Phật, không tiên, không vướng tục

(Bài ca ngất ngưởng) (more…)

Read Full Post »

Nhật Chiêu

Hoa thủy tiên tàn

nàng Echo im lặng

hoa làm sao dư vang

thánh ca thầm gởi hoa tàn

gió trên mặt nước còn lan sóng tình

mà sao lấy bóng bỏ hình.[1]

 

Đọc Biến Thể (Metamorphoses) của Ovid sau hơn hai nghìn năm, ta vẫn còn cảm thấy cái tươi tắn mới mẻ lạ thường của nó như thể nó viết cho ngày hôm nay hay nó viết cho bất kỳ ngày nào khi con người vẫn còn là con người, chứ chưa phải là cái máy, khi con người còn sống trong dòng biến dịch luân lưu vô tận như tư tưởng biến thể của Ovid. (more…)

Read Full Post »

Nguyễn Văn Ngọc

“Rủ nhau đi đánh bài chòi – Để con nó khóc cho lòi rốn ra”, câu ca xưa phần nào cho thấy sức lôi cuốn của diễn xướng bài chòi với người dân lao động. Bao đời nay, các thế hệ nghệ sĩ, nghệ nhân Bình Định dành nhiều tâm huyết để sáng tạo, vun đắp cho nghệ thuật bài chòi. Và hội đánh bài chòi cũng nhận được sự hưởng ứng tích cực của công chúng. Tuy nhiên, bộ bài chòi vốn vẫn được sử dụng trong hội đánh bài chòi ở Bình Định có nguồn gốc từ đâu?

viewimage (more…)

Read Full Post »

Older Posts »