Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Nghiên cứu và phê bình văn học’ Category

Ban Mai

 

Elena Pucillo Truong sinh ở Napoli thuộc miền Nam nước Ý, nhưng từ 3 tuổi chị cùng gia đình chuyển sang sống ở thành phố Milano thuộc miền Bắc nước Ý và học đại học tại đây.

 

Milano là thành phố chính của miền Bắc nước Ý, một trong những đô thị phát triển nhất Châu Âu, trung tâm kinh tế, tài chính, thời trang, văn hóa và bóng đá nổi tiếng thế giới, với nhiều người nước ngoài sinh sống, nó được mệnh danh là thành phố quốc tế. (more…)

Read Full Post »

 

Mang Viên Long

Đầu tháng 6-2002 tôi có dịp được bà Yến Lan cho xem tập “Di cảo thơ Yến Lan” do bà sưu tầm, chọn lọc và ghi chép trong nhiều tháng qua. Theo dự tính thì tập Di cảo này gồm 250 bài thơ chưa được in trong một tác phẩm nào. Bà còn cho biết, hiện đang sưu tập, sắp xếp, cố gắng giới thiệu cùng độc giả trong vài tháng tới…. (more…)

Read Full Post »

Đặng Phú Phong

     ( Ông bà Võ Phiến với những tháng ngày thong dong.)

Ông Võ Phiến gọi Nguyễn Mộng Giác là một người “thàng”(hậu). Ông Nguyễn Mộng Giác cũng gọi Võ Phiến là “thàng”. Và, hai ông định nghĩa thàng như sau:

Nguyễn Mộng Giác: “Thàng” không phải là hiền. “Thàng” là một chữ định hình, chứ không định tính. Người thàng, là người ít nói, tránh né những tranh chấp rắc rối, sẵn sàng chịu phần thua thiệt để giữ hoà khí, cố giữ bề ngoài đơn giản lùi xùi để không bị ai xem là kẻ quan trọng. Người thàng có thể hiền lành vì không dám làm việc dữ. Nhưng người thàng cũng có thể có những phản ứng bất ngờ dữ dội khi đột nhiên không thể chịu đựng được mãi sự thua thiệt. Người ta bảo người thàng hay cộc.” (Đặc san Tây sơn –Bình Định,1999) (more…)

Read Full Post »

Chế Diễm Trâm 

Có lẽ không mấy ai không biết câu văn giản dị nhưng thấm thía xúc động mở đầu truyện ngắn Tôi đi học của nhà văn Thanh Tịnh: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường.

Câu văn mở đầu ấy như một bài thơ nho nhỏ, xinh xắn bởi cái tứ hoài niệm bồi hồi, bởi giọng điệu nhẹ nhõm, bay bổng, lâng lâng… Và cái “thi cảm” ấy có được nhờ nhiều yếu tố, như tiết tấu êm êm (nhịp 6 – 5 – 9 – 14), thanh điệu hài hòa (18 âm tiết mang thanh bằng trong tổng số 34 âm tiết), vần điệu uyển chuyển (sự hòa phối thanh bằng – trắc của những âm tiết chỗ ngắt nhịp, “thu” (B) – “nhiều” (B) – “bạc” (T) – “trường” (B). Ngoài ra, chúng ta không thể không chú ý đến ba từ láy: “bàng bạc”, “nao nức”, “mơn man” rất biểu tả và biểu cảm. (more…)

Read Full Post »

 

CHẾ DIỄM TRÂM

Một buổi sáng trung tuần tháng tám, trời đất Phan Rang vốn được tôn danh là “sa mạc Đông Dương” lại chợt mát mẻ như vừa bước ra từ giấc mơ êm ái. Con đường trắng sữa chạy giữa hai hàng cây xanh khoảng chừng bốn chục cây số đưa chúng tôi đi tìm nghệ nhân làm đàn và tấu lên giấc mơ Chapi.

Nghe, chắc đến gần trăm lần, bài hát Giấc mơ Chapi mà chưa hề chạm mặt cây đàn nổi đình nổi đám của nhạc sĩ Trần Tiến. Nên khi Đài Phát thanh – Truyền hình Ninh Thuận đánh tiếng qua anh Đình Hy – Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Ninh Thuận, chúng tôi gồm một số nhà văn, nhà thơ đang tham gia Trại sáng tác Văn học các tỉnh Nam Trung Bộ 2014 lên đường đến thôn Do, xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn để tận mục sở thị nghệ nhân người Raglai Chamaléa Âu tạo tác cây đàn Chapi. (more…)

Read Full Post »

Nguyễn Thị Thanh Xuân

Có ai đó nói: nhà văn là người biết kể chuyện. Ý đó chắc nhiều người tán đồng, bởi những tác phẩm khởi nguyên của mọi nền văn chương đều tựa vào lối kể. Văn chương kể sẽ còn sống mãi, bởi con người luôn có nhu cầu được kể và nghe kể.
Bạn muốn nghe kể, hãy đến với Vàng trên biển đá đen của Elena Pucillo. Ở ngoài đời, nhà văn người Ý làm dâu Việt Nam này nói líu lo khi gặp bạn, nhưng trên trang viết, bà lúc rộn ràng, lúc âm thầm tiết chế.
Elena Pucillo đã lại mang đến cho chúng ta những mẩu chuyện về nhân thế trong Vàng trên biển đá đen. Cảm thức hương xa (exotique) về một miền Châu Á gió mùa nhiệt đới đã hòa trộn cùng nỗi niềm thân thuộc từ chốn quê chồng mà bà đã chọn để sống và viết lâu nay, kết tủa thành dung nham sáng tạo. (more…)

Read Full Post »

Chế Diễm Trâm

Năm 1936: năm định mệnh trong đời người, đời thơ Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) khi ông phát hiện bị mắc bệnh phong, một trong những căn bệnh hiểm nghèo thời bấy giờ, nhất là mặc cảm bị ghê sợ, bị xa lánh. Nàng Mộng Cầm, người yêu của Hàn Mặc Tử, bỏ đi lấy chồng. Bao khổ đau ập xuống, chồng chất… Nhưng dường như trong tận cùng bất hạnh, “thiên tài Tử bộc phát, thơ Tử mở ra một chân trời mới lạ hẳn.”([1]) (more…)

Read Full Post »

.

 

Nguyễn An Đình

 

 

          Lời tác giả: Như vậy là anh Đặng Tấn Tới đã ra đi trưa ngày 14 tháng 12 năm 2017 tại Sài Gòn.

Dù đã biết trước sức khỏe của anh mỗi ngày thêm yếu dần. Nhưng khi nghe tin anh mất, lòng tôi bỗng thấy nặng đi với bao nỗi ngậm ngùi.

Tôi bị đau tim từ 10 năm nay, ngày ngày phải uống thuốc đều đặn, thì làm sao từ quê nhà An Nhơn, Bình Định này vào được Sài Gòn để đốt cho anh nén nhang lần cuối cùng.

Thôi thì xin gợi lại chút kỷ niệm xưa cũ từ hơn 30 năm về trước ở quê nhà Bình Định cho vơi đi bớt nỗi niềm.

Tôi may mắn được đọc tập bản thảo gồm 41 bài “ Thơ ca hoa lá và Máu xương ” thơ của Đặng Tấn Tới, tháng 01 năm 1983. Đọc xong tôi thích thú lắm, nên hai đêm liền tôi đã tản mạn cảm nhận đôi điều về thơ Đặng Tấn Tới, đến nay đã trên 30 năm rồi.

Bài tản mạn có tựa: “ Giậu cúc năm nào rụng hết bông ”. Nay xin được chia sẽ, tâm tình cùng bạn đọc trang Xứ Nẩu Bình Định quê nhà.

 

(more…)

Read Full Post »

Một lối viết dung dị, cách kể chuyện gần gũi. Những đối thoại, chân dung ta gặp đâu đó mỗi ngày.

Bùi Việt Quý

Những góc khuất số phận lóe lên phút chốc rồi lại chìm vào bóng tối. “Ngửa”, tập truyện ngắn của Ngô Đình Hải – NXB Hội Nhà văn, 2017 – sau 4 tập thơ đã xuất bản, cho thấy một giọng điệu riêng, hài hước mà thâm thúy, gai góc mà nặng tình.

Tác giả cất lên tiếng nói lạ mà quen, có khi như nhát dao cắt ngọt, có khi như hồi chuông dịu lòng, có khi như sấm chớp, cảnh báo tai ương. Sự trải đời, chiêm nghiệm, những ẩn dụ và hình ảnh biểu trưng dễ ở lại với độc giả. Nếu như “Bụi đường” bất ngờ với cơn nôn ói của anh tài xế tuổi 30 sau khi “gần” chị chủ ở căn phòng khách sạn vùng biên thì “Cái giếng nước” là câu chuyện về nỗi cô đơn, về tình yêu từ thuở hoa niên đến lúc lìa đời và cái giếng là chứng nhân, là cứu vớt cho những bi kịch của người trong cuộc và cả cái hồ đồ, nghi ngại, đa đoan của người đời. Truyện “Chó” không chỉ là câu chuyện về người và vật nuôi mà còn là thông điệp về số phận, nỗi ám ảnh của nhân sinh; còn “Vũ khúc đen” bày ra tấn tuồng mỗi người sắm vai, bất chấp thủ đoạn để đạt mục đích chiếm đoạt, đôi chỗ đọc gai người… Với “Tuồng”, “Lâm toilet”, “Hoàn thi sĩ”, “Danh họa”, Ngô Đình Hải cười vào thói đời một cách sâu cay nhưng ý nhị tình người.

Mảng truyện viết về thân phận con người cùng những đẩy đưa của số phận và những bi kịch được tác giả khắc họa thành công. “Ngửa” cũng là hiện thân của sự cô đơn, bất hạnh qua chiếc cột đèn, chứng nhân đời sống thị dân. “Về nhà” là lát cắt hiện thực, ông giáo già từ giã cõi đời quá nhiều kẻ gian lọc lừa người ngay. “Cơm đường, cháo chợ, vợ người ta” thấm đẫm tình người. “Thôi, bỏ đi” có đủ hỷ nộ ái ố, cái đau tột cùng, cay đắng tột cùng đều được giải thoát trong cái kết để trút bỏ oán hờn, dằn vặt…

Tình yêu trong tập truyện này đẹp và buồn, cứ nhói đau và chực rơi nước mắt với “Khuôn mặt” và “Con đường có bao nhiêu lối rẽ”. Chỉ là một lần gặp trên đường, suốt mấy chục năm Dũng mang theo và anh thương quý Chi bởi cô cùng tên và có khuôn mặt giống người con gái ấy. Một chuyện tình học trò đẹp như thơ đến cuối đời vẫn cứ đẹp như người con gái, người đàn bà ấy, dù qua bao nhánh rẽ đau buồn vì đó là tình yêu đích thực: “Rốt cuộc chỉ có ông là không bỏ tôi”…

Nhận xét về tập truyện, nhà văn Nguyễn Trí cho rằng: “Văn chương trong “Ngửa” như một dòng suối ào ạt qua bình nguyên vào mùa lũ, băng băng trôi vào hồn người thưởng ngoạn. Những con chữ được chắt chiu, lạ và độc đáo”. Chừng đó là quá đủ với một đời văn.

(more…)

Read Full Post »

Lê Ngân

 

Triều Tây Sơn kể từ vua Thái Đức đến hết Cảnh Thịnh tồn tại được 24 nǎm (1778-1802).Tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn nhưng công lao của Tây Sơn đối với lịch sử là rất vĩ đại.Hiếm có một triều đại nào trong lịch sử Việt Nam lập được nhiều chiến tích hiển hách đến thế!.Nổi bật trong ba anh em Tây Sơn là Quang Trung-Nguyễn Huệ với tài năng kiệt xuất.Hầu hết chiến thắng của Tây Sơn gắn liền với tên tuổi của ông.Từ cuối thế kỷ 18 tên tuổi các danh tướng Tây Sơn đã được Hoàng Lê Nhất Thống Chí ghi chép đầy đủ dù nhiều danh tướng chỉ có tên kèm chức vụ Đô đốc như:Đô đốc Lộc,Đô đốc Bảo,Đô đốc Long…không kèm dòng họ quê quán.Cũng từ ngày đó trở về sau số danh tướng Tây Sơn vẫn ổn định chưa phát hiện thêm.Đến thập kỷ 20 thế kỷ 20 dưới triều Nguyễn vốn duy trì chủ trương “tận diệt mọi di sản của ngụy triều (Tây Sơn)”giới sử học biết đến hai tác phẩm chép về Tây Sơn hiếm hoi ra mắt công luận:”Tây Sơn lương tướng ngoại truyện” của Nguyễn Trọng Trì và “Tây Sơn thuật lược” (khuyết danh).”Tây Sơn lương tuóng ngoại truyện” đã được biết đến rộng rài cho đến nay.Riêng về “Tây Sơn thuật lược”gần như thất truyền cho đến ngót nửa thế kỷ sau mới được “sống lại”qua tác phẩm biên dịch của Tạ Quang Phát ấn hành ở Sài Gòn từ 1968-1971.”Tây Sơn thuật lược” là tác phẩm lịch sử duy nhất giới thiệu bổ sung một danh tướng Tây Sơn quê ở Thăng Long chưa một sách sử nào chép!           (more…)

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »