Nguyễn Thanh Quang
.
Trong hành trình chữ viết của tiếng Việt, từ chữ “Quốc ngữ Nôm” đến chữ “Quốc ngữ Latin”, có sự đóng góp không nhỏ của đất và người Bình Định. Đó là việc vua Quang Trung chính thống hóa chữ Nôm trong các văn bản hành chính Nhà nước; quan trấn phủ Qui Nhơn – Trần Đức Hòa và các “văn nhân” tại Nước Mặn cùng các giáo sĩ phương Tây sáng tạo, phôi thai hình thành chữ Quốc ngữ Latin – “chữ Quốc ngữ tiền Đắc Lộ” (1618 – 1622); Và Nhà in Làng Sông/Qui Nhơn là nơi phát triển, truyền bá chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX…
I. Chữ Nôm và vai trò của hoàng đế Quang Trung
Có hai đặc trưng biểu hiện cho sắc thái văn hóa của một dân tộc, đó là ngôn ngữ và chữ viết. Chữ viết có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ, nhưng không thể đồng nhất ngôn ngữ và chữ viết. Về mặt lịch sử, ngôn ngữ xuất hiện cùng thời với xã hội loài người, trong khi đó cho tới nay nhiều ngôn ngữ vẫn chưa có chữ viết. Con người có mặt trên trái đất hàng chục vạn năm, nhưng mãi tới giai đoạn phát triển cao của xã hội loài người mới có chữ viết. Về khái niệm Quốc ngữ có thể hiểu là ngôn ngữ chính thức của một Quốc gia, và chữ Quốc ngữ là chữ viết của Quốc gia đó, một loại chữ viết phổ biến, phổ thông được Quốc gia đó công nhận là chính thống.
Hiện nay, khi nhắc đến chữ Quốc ngữ, nhiều người cho rằng: chữ Quốc ngữ chỉ là tên gọi cho hệ thống chữ viết ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin, có thêm một số dấu phụ được các nhà truyền giáo phương Tây cùng với người Việt sáng tạo vào đầu thế kỷ XVII. Cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác và đầy đủ về khái niệm Quốc ngữ, vì trước khi tiếng Việt được các nhà truyền giáo sử dụng mẫu tự Latin ghi âm và sáng tạo ra hệ thống chữ viết mới, thì chúng ta cũng đã có chữ viết dùng để ghi lại tiếng nói của người Việt vào những thời kỳ trước. Đó chính là chữ Nôm. Do vậy, tiếng Việt đã từng tồn tại và trải qua hai loại chữ Quốc ngữ: chữ “Quốc ngữ Nôm” và chữ “Quốc ngữ Latin”. Chữ Nôm chính là chữ Quốc ngữ đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Chữ Nôm là chữ ghi âm tiếng Việt cổ, thuộc loại chữ khối vuông, do người Việt sáng tạo trên cơ sở chất liệu và nguyên tắc cấu tạo của chữ Hán.
Theo Phạm Huy Hổ trong Việt Nam ta biết chữ Hán từ đời nào? cho rằng chữ Nôm có từ thời Hùng Vương. Văn Đa cư sĩ Nguyễn Văn San cho rằng chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp, cuối đời Đông Hán – thế kỷ thứ 2. Nguyễn Văn Tố dựa vào hai chữ bố cái trong danh xưng Bố Cái đại vương do nhân dân suy tôn Phùng Hưng, cho rằng chữ Nôm có từ thời Phùng Hưng – thế kỷ VIII. Ý kiến khác dựa vào chữ cồ trong Đại Cồ Việt cho rằng chữ Nôm có từ thời Đinh Tiên Hoàng – thế kỷ X.
Một số nghiên cứu gần đây, các học giả căn cứ vào đặc điểm cấu trúc nội tại của chữ Nôm, cứ liệu ngữ âm lịch sử tiếng Hán và tiếng Việt, so sánh đối chiếu hệ thống âm tiếng Hán và tiếng Hán – Việt đã kết luận: âm Hán – Việt ngày nay bắt nguồn từ thời nhà Đường, nhà Tống – thế kỷ VIII – IX và chữ Nôm ra đời khoảng thế kỷ X khi người Việt thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc với chiến thắng của Ngô Quyền vào năm 938, được hoàn chỉnh dần vào các thế kỷ sau đó. Chữ Nôm được dùng trong sáng tác văn học từ thế kỷ XIII – XV, phổ biến vào thế kỷ XVIII – XIX. Về trước tác, đến thời nhà Trần mới có dấu tích rõ ràng, Hàn Thuyên là người có công lớn phát triển thơ Nôm thời kỳ này với việc mở đầu thể Hàn luật.
Tên gọi Quốc ngữ lần đầu tiên được chép trong Đại Việt sử ký tiền biên: “Tháng 8, niên hiệu Thiệu Bảo thứ 4 (1282) đời vua Trần Nhân Tông, thời có con cá sấu đến sông Lô. Vua ra lệnh cho Nguyễn Thuyên, là Hình bộ Thượng thư, làm văn rồi ném xuống sông, cá sấu tự bỏ đi. Qua việc này vua xem ông như Hàn Dũ, ban cho họ Hàn, Hàn Thuyên giỏi thơ phú Quốc ngữ. Thơ phú nước ta, phần nhiều dùng Quốc ngữ, thực là bắt đầu từ đây”.
Tuy nhiên, chữ Nôm chưa được các triều đại phong kiến công nhận là ngôn ngữ chính thống trên phương diện Nhà nước, trừ Nhà Hồ đầu thế kỷ XV (1400-1407), và đặc biệt là Nhà Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII (1788-1802) đã đưa chữ Nôm vào văn bản hành chính triều đình.
Hồ Quý Ly đã đưa chữ Nôm lên vị trí quan trọng, nhưng chỉ dừng lại ở việc dịch các tác phẩm chữ Hán ra chữ Nôm. Đến thời Tây Sơn, chữ Nôm được đưa vào văn bản chính thức của Nhà nước, tại các bài hịch, thư từ, mệnh lệnh…
Sau chiến thắng Ngọc Hồi Đống Đa (1789), vua Quang Trung gạt bỏ tư tưởng độc tôn chữ Hán trong giáo dục và khoa cử của các triều đại phong kiến trước. Để tăng cường phổ biến chữ Nôm, Quang Trung cho lập ra Viện Sùng chính vào cuối năm 1791, do Nguyễn Thiếp làm viện trưởng. Viện được đặc ở Vĩnh Dinh, trên núi Nam Hoa (Nghệ An), nơi Nguyễn Thiếp từng ở ẩn. Quang Trung giao cho Nguyễn Thiếp tuyển chọn các nhà Nho nổi tiếng cộng tác như: Nguyễn Công, Nguyễn Thiện, Phan Tố Định, Bùi Dương Lịch… dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm để phổ biến rộng rãi. Vua Quang Trung cho tu sửa Văn Miếu và Học Cung cũ của chúa Nguyễn, đặc biệt là mở rộng hệ thống trường học tới cấp xã mà các triều đại trước chưa làm được.
Trong tờ Chiếu lập học quy định, các xã đều phải lập Nhà xã học; những con nhà Nho có học và có hạnh kiểm tốt được lựa chọn làm người dạy chữ trong xã, gọi là Xã giảng dụ. Các Xã giảng dụ do xã lựa chọn và được triều đình cấp bằng công nhận.
Do chưa kịp xây dựng đủ cơ sở vật chất như chủ trương, Quang Trung lệnh cho các địa phương được sử dụng một số đền chùa làm Trường học phủ. Các thầy dạy trong các Trường học phủ phải là chức Huấn đạo do triều đình bổ nhiệm, được cử đến đảm trách.
Năm 1789, Quang Trung cho mở khoa thi Hương đầu tiên tại Nghệ An. Nguyễn Thiếp được cử làm Đề điệu trường thi kiêm Chánh chủ khảo. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, chữ Nôm được vua Quang Trung chính thức đưa vào khoa cử. Quang Trung ra qui định trong các kỳ thi, đề thi phải được ra bằng chữ Nôm và đến kỳ tam trường, thí sinh phải làm thơ phú bằng chữ Nôm.
Một số văn bản chữ Nôm của Hoàng đế Quang Trung để lại như: Chiếu truyền La Sơn phu tử, do chính Quang Trung viết; Lời phê của vua Quang Trung trong lá đơn xin tu bổ Văn miếu Thăng Long. Hịch kêu gọi quân dân đánh đuổi giặc Mãn Thanh… Hiện nay, Bảo tàng Bình Định (cũ) đang lưu giữ tập Thi kinh giải âm do Viện Sùng Chính biên dịch vào năm 1792 (bản phục chế). Chữ Nôm ra đời thể hiện ý chí độc lập, tự chủ của tinh thần dân tộc về mặt ngôn ngữ văn tự; dùng chính những nét viết chữ Hán để ghi lại tiếng nói của dân tộc, người dân đất Việt đã nói lên ý chí vươn lên độc lập cả phương diện chủ quyền lãnh thổ, lẫn các mặt tư tưởng học thuật, văn tự, văn chương. Chữ Nôm đánh dấu bước phát triển của nền văn hóa dân tộc, đồng thời cũng khẳng định vai trò, địa vị của tiếng Việt.
Trong suốt thời gian tồn tại, chữ Nôm là công cụ duy nhất, hoàn toàn của người Việt, ghi lại lịch sử, văn hóa dân tộc. Chữ Nôm ra đời bắt nguồn từ ý thức tự chủ của dân tộc chống lại xu hướng Hán hóa của phương Bắc, khẳng định tinh thần dân tộc của người Việt. Sự hình thành và phát triển của chữ Nôm mang đậm tính thuần Việt, nó được ra đời từ nhu cầu của đời sống Việt, được dân Việt chấp nhận trong nền văn hóa của mình qua rất nhiều thế hệ mà không cần một sắc lệnh ban bố nào từ Nhà nước phong kiến.
Mặc dù, còn những khiếm khuyết, nhưng chữ Nôm đã tạo nên những thành tựu rực rỡ làm phong phú kho tàng văn hóa Việt, điều mà trước đó chữ Hán không hề có được. Và trong suốt một ngàn năm tồn tại, phát triển của chữ Nôm, triều đại vua Quang Trung là nhà nước phong kiến duy nhất đưa chữ Nôm vào văn bản hành chánh Nhà nước.
Việc chữ Nôm được đưa vào văn bản hành chính của Nhà nước và chữ Nôm chính thức đưa vào khoa cử của vua Quang Trung thể hiện hoài bão muốn thoát ly khỏi sự lệ thuộc về văn hóa đối với bên ngoài, đánh dấu một bước thắng lợi của tiếng nói dân tộc trong bối cảnh xã hội đương thời khi có nhiều thế lực phong kiến đối lập.
Sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, chép: “Đời Tây Sơn, việc cai trị thường hay dùng chữ Nôm. Nhà vua muốn rằng người Việt Nam thì phải dùng tiếng Việt Nam, để gây thành cái tinh thần của nước nhà, và cái văn chương đặc biệt, không phải đi mượn tiếng mượn chữ của nước Tàu, cho nên khi thi cử thường bắt quan ra đề bằng chữ Nôm, bắt sĩ tử làm bài bằng chữ Nôm…”.
Dù còn một số phản ứng trái chiều của một số nhân sĩ ủng hộ nhà Lê và chống đối Tây Sơn, trào lưu văn hóa mới vẫn phát triển, với sự xuất hiện của nhiều nhà văn chữ Nôm xuất sắc như Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Lượng, Lê Ngọc Hân…
Đến nửa sau thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX, chữ Nôm và chữ Hán được thay bằng chữ Quốc ngữ mới – chữ ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin.
II. Đất và người Bình Định với chữ Quốc ngữ Latin
Tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ Latin ở Việt Nam từ khi khởi thảo đến khi hoàn tất khoảng hai thế kỷ. Dựa vào những tư liệu hiện có, người ta đã chia ra làm bốn thời kỳ: thời kỳ phôi thai, thời kỳ hình thành, thời kỳ phát triển và thời kỳ hoàn tất. Bình Định, vinh dự là vùng đất phôi thai, sáng tạo chữ Quốc ngữ (đầu TK XVII), truyền bá, phát triển chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ (cuối TK XIX – đầu TK XX). và là nơi “dòng sông chữ Việt” không ngừng chảy.
Chữ Quốc ngữ ra đời từ các giáo sĩ dòng Tên trong thế giới nhà thờ Công giáo, thâm nhập vào cuộc sống, xã hội như một đột phá, một cách mạng về chữ viết, được hoàn thiện dần và trở thành chữ viết Quốc gia, vai trò quyết định là những trí thức Việt Nam, những nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà khoa học, các cộng đồng cư dân, là Nhà nước Việt Nam độc lập. Chữ Quốc ngữ có tác động toàn diện và rất mạnh đến sự phát triển của văn hóa Việt Nam.
Từ Cư sở Nước Mặn
Trong địa hạt tôn giáo, các miền truyền giáo tại Việt Nam được các thừa sai dòng Tên ở Macao thuộc tỉnh dòng Nhật Bản thành lập, ở Đàng Trong vào năm 1615 [1] và ở Đàng Ngoài vào năm 1627 [2]. Đầu thế kỷ XVII, Xứ Quảng là một miền đất chung bao gồm cả Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên thuộc đạo Thừa tuyên Quảng Nam, được coi là nơi mở đầu trang sử khai đạo chính thức ở Việt Nam. Do vậy, các học giả nghiên cứu về lịch sử chữ Quốc ngữ thường cũng tính thời điểm khởi nguyên công việc sáng chế loại chữ mới này ở Việt Nam mà cụ thể là ở Đàng Trong, ở Xứ Quảng vào năm 1615, khi các nhà truyền giáo dòng Tên mở đạo ở Việt Nam và hoạt động của họ được ghi lại trong các tài liệu lưu trữ khá đầy đủ. Tuy nhiên, xét riêng về phương diện lịch sử chữ Quốc ngữ, thời điểm quan trọng nhất phải là khi thiết lập Cư sở Nước Mặn, thuộc phủ Qui Nhơn (Phước Quang, Tuy Phước, Bình Định) vào năm 1618.
Những bản dịch các văn bản Ki-tô giáo đầu tiên ra tiếng Việt có từ năm 1618 tại Cư sở Nước Mặn. Tại đây, linh mục Bề Trên Buzomi cùng hai linh mục: Pina và Borri nhờ đến sự giúp đỡ rất hữu hiệu của một văn nhân Việt Nam trẻ tuổi uyên bác về chữ Hán có tên rửa tội là Phê-rô. Bản phúc trình của Cư sở ghi: “Người ấy (một nhân sĩ thân quen với đoàn truyền giáo) có một người con trai mười sáu tuổi, là thanh niên lanh lợi và thông minh nhất trong vùng; anh này lại viết chữ Hán rất đẹp, được dân chúng hâm mộ vô cùng… Anh tên thánh rửa tội là Phê-rô, nhờ có tài hay chữ nên giúp linh mục rất nhiều trong việc dịch kinh Pater noster, Ave Maria, Credo và Mười Điều Răn ra tiếng địa phương…”[3]. Trong bức thư đề ngày 17.12.1621, Gaspar Luiz chép: “Cuốn giáo lý mà người ta đã biên soạn bằng tiếng Đàng Trong, giúp ích rất nhiều, vì không những trẻ em học thuộc lòng sách đó, mà người lớn cũng học…” [4]. Theo linh mục Léopold Cadière, quyển sách giáo lý nầy được sáng tác bằng ngôn ngữ Đàng Trong [chữ Nôm]… Ban đầu tiếng Việt được phiên âm bằng mẫu tự châu Âu để cho các thừa sai tiện dùng kèm với chữ Nôm người Việt sử dụng, dần dần bản phiên âm tiếng Việt bằng mẫu tự châu Âu trở thành hình thái đầu tiên ghi âm Latin ngôn ngữ Việt Nam, một hình thái chữ Quốc ngữ “tiền Đắc Lộ”. Chúng ta có được một số chứng từ về những hình thái đầu tiên của việc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin trong Bản tường trình của linh mục Borri [5].
Tập sách “Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong” là những ghi chép của linh mục Christoforo Borri, xuất bản bằng tiếng Ý lần đầu tiên năm 1631, chữ Quốc ngữ Borri đã sử dụng trong đó là chữ Latin hoá được ông ghi chép khi ông ở Nước Mặn với hai linh mục Buzomi và Pina từ năm 1618 đến 1621. Theo tác giả Hoàng Xuân Việt: “Ông Thanh Lãng đã đếm được trong bản dịch của Bonifacy có đến 94 từ Quốc ngữ, và trong một tài liệu viết tay, ông viết: “Có rất nhiều chữ mang hình thức hệt như ngày nay. Thí dụ: tui, biết, Macao, mọi, càn.v.v…”” [6].
Hội An là điểm xuất phát truyền giáo buổi đầu (1615), lập giáo đoàn tại Nước Mặn – Cư sở truyền giáo tiên khởi (1618) do linh mục Bề trên Buzomi cùng hai linh mục Pina và Borri đảm nhiệm, các giáo sĩ đã đi tiên phong trong việc sáng chế ra chữ Quốc ngữ. Nước Mặn, Poulo Cambi/Qui Nhơn là nơi phôi thai chữ Quốc ngữ – chữ Quốc ngữ “tiền Đắc Lộ”.
Đến Nhà in Làng Sông
Ba nhà in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam: Nhà in Nhà Chung (Sài Gòn) của giáo phận Tây Đàng Trong, Nhà in Làng Sông (Qui Nhơn) của giáo phận Đông Đàng Trong và Nhà in Kẻ Vĩnh (Hà Nội) của giáo phận Tây Đàng Ngoài.
Báo cáo tình hình giáo phận Đông Đàng Trong năm 1872, được viết năm 1873 của Giám mục Charbonnier, ghi: giáo phận có 3 nhà thuốc và 1 nhà in [7]. Báo cáo hiện tình giáo phận Đông Đàng Trong năm 1885 của Giám mục Van Camelbeck Hân, về thiệt hại nhân sự và cơ sở vật chất do Văn Thân như sau: “cơ sở vật chất bị phá hủy: 17 cô nhi viện, 10 phước viện, 4 nông trại, 2 tiểu chủng viện, 2 nhà phát thuốc, 1 nhà in,…” [8].
Căn cứ các báo cáo này, nhà in Làng Sông của giáo phận Đông Đàng Trong có trước thời điểm năm 1872, bị phá hỏng năm 1885. Có thể nhà in Làng Sông được xây dựng cùng thời với nhà in Nhà Chung của giáo phận Tây Đàng Trong (1867) [9] và nhà in của giáo phận Tây Đàng Ngoài [10]. Ấn phẩm của Mémorial Làng Sông/Qui Nhơn ra số cuối cùng vào tháng 12.1953. Một trang Mémorial thống kê sách đã in của nhà in Làng Sông năm 1910 có 36 đầu sách, trong đó 25 đầu sách chữ Quốc ngữ, số còn lại là tiếng Pháp. Chia thành 4 nội dung: Sách trường học, sách giáo lý, sách cầu nguyện – đạo đức và các sách khác. Sách học được xếp mục đầu tiên với những loại sách như: Phép đánh vần (tái bản lần thứ 5), Con nít học nói (tái bản lần thứ 3), Ấu học (tái bản lần thứ 3), Trung học, Địa dư sơ lược. Bản kê có ghi giá tiền từng đầu sách.
Trong năm 1922, nhà in Làng Sông đã in 18.000 tờ báo định kỳ, 1.000 bản sách các loại, 32.000 ấn phẩm khác, riêng Báo Lời thăm mỗi tháng hai số, mỗi số ra 1.500 bản và phát hành cả Đông Dương. Tổng cộng ấn phẩm của nhà in Làng Sông/Qui Nhơn trong năm lên đến 63.185 ấn phẩm với 3.407.000 trang in [11].
Đáng chú ý, nhà in Làng Sông đã in nhiều loại sách của các cây bút Quốc ngữ nổi tiếng ở Nam Bộ lúc bấy giờ như: Chuyện đời xưa (tái bản lần thứ 2) của Trương Vĩnh Ký; Chuyện giải buồn (2 tập) của Pierre Lục; 30 đầu sách của Lê Văn Đức gồm nhiều thể loại: Tây hành lược Ký, Đi bắt ăn cướp (tuồng), Tìm của báu (tiểu thuyết), Chúa Hài Nhi ở thành Nadarét (kịch), Du lịch Xiêm…
Nhà in Làng Sông (Qui Nhơn) cùng với Nhà in Nhà Chung (Sài Gòn), và Nhà in Kẻ Vĩnh (Hà Nội), là ba cơ sở in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam, đã có những đóng góp đáng kể trong việc phát triển, truyền bá chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ nửa sau thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX.
Hệ thống Trường Quốc ngữ của Địa phận Đông Đàng Trong
Việc chữ Hán bị bãi bỏ trong kỳ thi cử năm 1915 ở Bắc kỳ và chấm dứt trên cả nước năm 1919 ở Trung kỳ đã tạo điều kiện thuận lợi cho chữ Quốc ngữ đi vào trường học. Năm 1917, Toàn quyền Đông Dương – Albert Sarraut ký Quyết định thành lập Bộ Học chính tổng quy (Règlement général de s’Instruction publique). Năm 1924, Toàn quyền Đông Dương – Merlin ký Quyết định đưa chữ Quốc ngữ vào dạy 3 năm đầu cấp tiểu học.
Dưới thời Pháp thuộc (1924-1945), ở tỉnh lỵ và vài huyện lớn có trường Tiểu học, các tỉnh lớn có trường Sơ học hay Tiểu học dành riêng cho nữ sinh. Trung bình, mỗi tỉnh có từ 2 – 4 trường Tiểu học, mỗi trường có từ 100 đến vài trăm học sinh. Các thành phố lớn có trường Cao đẳng tiểu học, như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Lạng Sơn (Bắc kỳ); Thanh Hóa, Nghệ An, Huế, Qui Nhơn (Trung kỳ); Sài Gòn, Mỹ Tho, Cần Thơ (Nam kỳ).
Ở Trung kỳ có 3 trường thi Hương ở: Huế, Vinh và Bình Định, khi đặt ách đô hộ, thực dân Pháp cũng mở tại nơi này 3 trường công lập đầu tiên gọi là trường Collège. Trước năm 1920, Qui Nhơn có trường Pháp – Việt (Ecole Franco Annamite) từ lớp 5 (Cours enfantin) trở lên. Niên khóa 1921 – 1922, mở thêm lớp Đệ nhất niên (Cour Première année), đổi tên là Ecole plein exercice de Qui Nhơn, bắt đầu có hệ cao đẳng Tiểu học (Primaire supérieur). Sau đó, lấy tên trường Collège de Qui Nhơn, có 10 lớp cho 10 cấp học, dạy bằng tiếng Pháp, trừ môn Hán văn và Quốc văn. Trường Collège de Qui Nhơn thu nhận sĩ tử của 9 tỉnh Trung kỳ, từ Quảng Nam đến Bình Thuận và Tây Nguyên. Số thí sinh dự thi vào lớp Đệ nhất niên có đến hơn 1.000 người, trúng tuyển chỉ 50 thí sinh, trong đó có 5 thí sinh người dân tộc.
Từ năm 1910 – 1930, giáo dục Quốc ngữ được hình thành có tính chất hệ thống. Ngoài hệ thống trường công lập, còn có hệ thống trường do Giáo hội Công giáo xây dựng. Tờ Mémorial de Qui Nhơn tháng 5 năm 1924 có in bức “Thơ chung về sự thành lập trường Quấc ngữ” của Giám mục Đamianô [12]. Ngoài ra, để đôn đốc các linh mục quản xứ, Giám mục Đamianô cũng đã có “Lời riêng cùng các Cha” [13].
Theo thống kê trong Mémorial de Qui Nhơn tháng 2 năm 1927, địa phận Đông Đàng Trong có tất cả 57 trường. Trong đó, Hội An 1 trường, Quảng Nam 4 trường, Tam Kỳ 3 trường, Bồng Sơn 8 trường, Tây Bình Định 8 trường, Đông Bình Định 15 trường, Phú Yên 2 trường, Khánh Hòa 8 trường, Phan Rang 4 trường. Bình Định, chiếm hơn một nửa số lượng trường cả địa phận: 31/57 trường. Thống kê trong Mémorial de Qui Nhơn tháng 5 năm 1928, địa phận có 1.576 học sinh, trong đó Bình Định có 939 học sinh, chiếm gần 2/3 học sinh toàn địa phận; bình quân 30 học sinh/trường, riêng trường Gagelin, Kim Châu, Bình Định số lượng học sinh đông gấp 6 lần bình quân: 182 học sinh.
Và “Trường Thơ Loạn”
Văn học nghệ thuật đã góp phần quan trọng trong việc truyền bá và phát triển chữ Quốc ngữ. Tiêu biểu như: Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Của, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Tự Lực Văn Đoàn, phong trào Thơ mới…
Phong trào Thơ mới chỉ hình thành mười lăm năm (1930-1945), nhưng đã khép lại dòng văn học quy phạm, chuẩn mực. Với sự bùng nổ của ngôn từ đã đem đến một thi pháp mới, đưa thơ Việt Nam vào quỹ đạo của văn học thế giới. Nếu nói thơ mới mở ra một cuộc cách mạng trong thi ca, thì có thể xem Trường Thơ Loạn là hiện tượng độc đáo và bí ẩn nhất của phong trào Thơ mới. Khởi nguồn của trường thơ này chính là nhóm thơ Bình Định: Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn, Chế Lan Viên (Long, Lân, Qui, Phụng). Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng dòng thơ ấy đã băng qua bầu trời thi ca Việt Nam như vầng sáng, vừa rực rỡ vừa kinh dị, báo hiệu sự phát triển và phá cách của thơ hiện đại [14].
Cùng với nền giáo dục Quốc ngữ, một hệ trí thức mới được sản sinh, góp phần đáng kể vào sự nghiệp chấn hưng văn hóa dân tộc. Kể từ sau năm 1945, chữ Quốc ngữ đã trở nên không thể thay thế trong công cuộc truyền bá, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám thành công đã đưa lại địa vị ngôn ngữ chính thức của Quốc gia cho tiếng Việt – chữ Quốc ngữ. Từ đó, tiếng Việt đã phát triển nhanh chóng, toàn diện, có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các ngôn ngữ thiểu số ở Việt Nam. Và Đất và Người Qui Nhơn/Bình Định (cũ) – nơi “dòng sông chữ Việt” chảy xuyên suốt từ chữ “Quốc ngữ Nôm” đến “Quốc ngữ Latin”, từ lúc phôi thai hình thành chữ Quốc ngữ (Latin) vào đầu thế kỷ XVII đến giai đoạn truyền bá, phát triển chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ vào cuối thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX.
NTQ