Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Nghiên cứu và phê bình văn học’ Category

.

Trần Vấn Lệ

vophien_60807436705

Nhà văn Võ Phiến năm nay, 2010, 85 tuổi.  Ông viết xong cuốn Cuối Cùng năm 2007, đầu năm 2010, tại phòng Hội của Nhật Báo Viet Herald ở Nam California, ông có mặt trong buổi ra mắt sách.  Vậy là…ông còn.  Vẫn còn sống, còn tại thế.  Không ai tin điều đó với một ông già sau hai lần mỗ tim, sau gần trăm năm lam lũ (ở quê nhà Bình Định, ở sách vở văn chương, ở cơ quan Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa, ở những hãng xưởng Mỹ, ở tuổi già bệnh hoạn…). Gần ba trăm người đón chào ông Võ Phiến trong tình cảm người với người, trong sự mong được nhìn thấy một người khỏe mạnh.  Ông Võ Phiến xuất hiện trước đám đông với nụ cười, với dáng dấp dễ thương của một người già nua còn…tráng kiện.

 

Tôi không “mô tả” nhiều thêm về buổi xuất hiện của nhà văn Võ Phiến ngày Ra Mắt Cuốn Sách Cuối Cùng của ông. Tôi muốn nói về cuốn sách đó – một cuốn sách Đẹp, in đẹp mà nội dung cũng đẹp.

 

Cuốn sách được nhà xuất bản Thế Kỷ 21 in và xuất bản, năm ghi trên bìa: 2009.

 

Cuốn sách in thật đẹp, trình bày thật bắt mắt, trên giấy màu vàng nhạt, trang nhã, tính cả bìa trong, bìa bọc ngoài, cuốn sách dày 192 trang. Sách không ghi giá bán, mua tại tiệm sách chỉ mất mười lăm đô. Nếu bình thường thì mắc đấy, nhưng cầm cuốn sách trên tay, ai cũng bằng lòng và cho là còn rẻ lắm. Tác giả chắc hưởng tác quyền không bao nhiêu. Nhà in hưởng nhiều hơn hết cái công lao của nó. Nhà xuất bản nhất định là hồi hộp, không biết thu có huề vốn không…Tôi không theo dõi “diễn biến thị trường” của cuốn sách, nhưng tôi tin…ai cũng vui trong tình huống kinh tế suy sụp hiện nay. Với tên tuổi vang lừng của tác giả, với sự trang nhã của một ấn phẩm mang tầm Thế Kỷ và với sự chăm sóc tận tình của nhà xuất bản Thế Kỷ Hai Mươi Mốt, nhất định cuốn Cuối Cùng sẽ tái bản nay mai thôi…

 

*

 

Ông Võ Phiến được nhiều lớp độc giả đồng ý: Ông là nhà văn kỳ cựu. Cùng “lứa” với ông, hiện chỉ còn Hà Thượng Nhân, Phạm Cao Củng, Hoàng Văn Đức, Trần Ngọc Ninh…Chưa ai là “người muôn năm cũ” cả vì…còn sống! Những người còn sống, nói đúng là “còn sót”, theo tôi biết không ai còn “nhuệ khí”.  Nếu “còn bình thường” thì con cháu cũng không cho các Cụ đụng đến sách vở nữa. Ông Võ Phiến cũng bị “hạn chế” rất nhiều: ăn uống phải kiêng khem, đọc sách báo phải…ít thôi, con cháu ở xa thay phiên về thăm cha mẹ già phải chia phiên nhau về hoài hoài để cho ông quên lãng là mình đang hiu quạnh. Việc ông Võ Phiến có cuốn Cuối Cùng là ngoài ý muốn của ông, chính vợ và các con ông xếp đặt cho ông còn “hiện diện” qua sự gợi ý…chào hàng của nhà xuất bản Thế Kỷ 21. Những bài trong Cuối Cùng là những bài đã xong từ “hồi nảo hồi nao”. Thôi thì, đem in nghĩ cũng như mua vui cùng độc giả dẫu vài trống canh.

 

Bạn nhìn ảnh ông Võ Phiến in kèm theo sách, không thương thiệt uổng.  Ôi một ông già, sự hồng hào còn thấy được chẳng qua là màu mè chụp được bởi cái máy chụp hình. Thực tế thì ông đã xanh xao và đi đứng yếu xìu! Trẻ sao già vậy, trách ai?  Người ta cầu Trời cầu Phật cho mình mạnh khỏe, không ai cầu xin cái gì mình không muốn! Con Tạo xoay vần tới đâu thì cứ xoay, chúng ta còn ông Võ Phiến, còn đọc cuốn sách Cuối Cùng của ông là chúng ta còn Vui!

 

Ong Võ Phiến không viết hồi ký, không viết nhật ký. Cuốn Cuối Cùng của ông được coi như một tập Tạp Bút, viết đủ thể loại:  Thơ, truyện ngắn, tùy bút, biên khảo…Ông, hay “người nhà” ông gom góp lại để cho cuốn sách cái bề dày thích hợp. Những bài (đủ thể loại đó), ông viết bình thường, không nghĩ là mình còn sống có ngày sẽ chết, viết để mà “lưu chiếu hãn thanh”. Ông viết hồn nhiên, dễ thương, chỗ nào chẻ tóc làm tư được ông cứ ngồi tỉ mỉ, tủn mủn mà chẻ…cho chữ thêm dòng, giấy thêm trang.  Ông Võ Phiến có cái văn phong đẹp: không ồn ào, náo nhiệt, không hợm hĩnh, se sua. Ông sinh ra ở quê, ông vẫn quê một cục, có điều cái cục quê của ông thơm nhờ ông đi học nhiều nơi, qua nhiều trường, từng ở nhà Ông Đào Duy Anh, từng viết báo tại Hà Nội (thời tiền chiến), ông “lai” mà không “lai căng”, do đó, ông dễ thương, lẩm cẩm mà dễ thương. Ai đọc sách của Võ Phiến đều không chê, không nói “không cần”, đã đọc sách Võ Phiến là thấy mình…gần với thiên nhiên, với con người, với những cái tầm thường minh không ngờ nó chẳng tầm thường tí nào!

 

Tôi chịu Ông Võ Phiến về cái trầm tĩnh của ông trước mọi biến động của xã hội. Ông (dẫn cả nhà) trôi theo dòng đời, ông không buông xuôi, ông vẫn vững tay chèo đưa người thân của mình tới bến bờ yên ổn – ông làm việc nuôi vợ con, ông viết văn kiếm thêm chút đỉnh, ông không “sinh sự”, ông có quan tâm tới “sự sinh” và ông chép miệng thôi. Với bộ biên khảo Văn Học Miền Nam, ông khổ – khổ tâm nhọc sức đã đành còn khổ vì nhiều người không thấy được ông nhắc tới đâm ra oán thù mắng chửi ông trên báo chí. Ông Võ Phiến không khoát tay nói:  kệ dư luận.  Ông chớp mắt, nói nhẹ nhàng;  có cái tôi quên, có cái tôi muốn nhắc mà lỡ cuộc. Nhà ông, tôi thấy thờ cúng Tổ Tiên nhưng tôi ngó ngực ông tôi mường tượng những dấu đấm của chính ông dành cho ông: “Tôi có tội”.  Ai cũng có tội cả, tôi hiểu rất đơn sơ từ khi nhìn thấy tay của đứa hài nhi đánh vào mặt người sinh thành ra nó.  Từ sơ sinh con người đã ‘đắc tội”. Cha Mẹ đã không “trừng trị” nó hồi trứng nước, “nhớn” lên nó có thêm tội…cũng đành thôi!  Xin Chúa ở mãi bên con người và tha cho họ hết, rồi…gia ân bội phần cho họ vui! Đấy, sự đời, người ta nói:  “Xây chi chín đợt phù đồ,  hãy lo làm phúc cứu cho một người”.  Có ai chịu cứu một mạng người đâu?  Người ta xây chùa, xây giáo đường để cứu hàng vạn người đau khổ…hay hơn.  Người ta thích làm điều gì đó thật vẻ vang, chỉ người làm văn chương là “ẩu”, làm cái “nghề” thấp kém mà Phan Bội Châu từng than thở:  “Lập Thân Tối Hạ Thị Văn Chương”.  Ông Võ Phiến, hiền, rất hiền, ai cũng công nhận, đa số công nhận, nhưng thiểu số chưa hài lòng nên “sự sinh” là chuyện thường tình vậy!  Trong cuốn Cuối Cùng, ông Võ Phiến tuyệt đối không “di lụy” tới ai, mong ông sống còn và còn sống thật thoải mái, ngày nào ông đi được ra khỏi thế gian này…ông cứ đi, để cho tôi khóc!

 

Đọc cuốn Cuối Cùng của ông Võ Phiến, bài nào tôi cũng thích, từ thơ tới văn xuôi. Nhưng bài tôi “chịu:” nhất là bài cuối cùng trước khi tôi xếp lại cuốn Cuối Cùng.

 

Vì bài đó không dài mấy, chép lại không mỏi tay, xin chép lại dưới đây:

 

CÁI SỐNG HỮNG HỜ

 

Trên một trang báo Newsweek vào khoảng giữa năm ngoái ông Kirk Douglas – một vị lão thành (ngoại cửu tuần) – kể rằng ngày ông còn nhỏ, khi thân mẫu lâm bệnh nặng hấp hối lìa trần ông hoảng hốt chụp ôm tay mẹ. Cụ bà mở mắt nhìn con, nói câu cuối cùng: “Đừng sợ hãi, bất cứ ai rồi cũng đến chỗ này thôi, con ạ (…it happens to everyone)”.  Người con lớn lên, sống vững tâm, nhớ lời mẹ dạy; ông lại nhớ ra là: “bất cứ ai khác cũng đến chỗ này thôi ( it happens to everyone else)”.

 

Cái chết của chính mình, cái ấy khó nghĩ đến một cách nghiêm chỉnh. Khó lắm. Cứu cánh cuộc đời, ý nghĩa hiện hữu của vũ trụ, của muôn loài v.v…, về những cái này cứ tha hồ suy tưởng.  Nhưng về chỗ sự chết ngỏm của con người (và đặc biệt là của chính mình) thì đố biết. Càng nghĩ càng rối thôi.

 

Ngại rối ren bèn trốn tránh hết mình. Nhưng trốn mà thoát được à?  Vào những lúc bất ngờ nhất, tưởng mình đang an toàn thảnh thơi, có thể ta vừa ngẩng đầu lên bỗng thấy nó chình ình ngay trước mặt.  Cực kỳ sỗ sàng.

 

Bản thân tôi trước đây có lần phải vào bệnh viện chịu mổ xẻ, tôi ngậm ngùi viết những lá thư gửi lại bạn bè, nhờ một văn hữu thân tình trao giúp cho, sau khi mình…ra đi.  Hóa ra rồi sau cuộc giải phẩu tôi tiếp tục sống nhăn. Sống và ngượng ngùng vu vơ.

 

Năm tháng trôi qua. Quá bát tuần, tôi lén lút hướng một chút tưởng tượng về cái kết thúc cuộc đời của mình. Chắc là gần thôi.  Liếc mắt phớt qua tí ti, sợ gì?  Liếc qua xong rồi liếc lại, tôi ngạc nhiên không nhận thấy một xúc đọng bất thường nào xảy ra cả.  Cuộc sống đang tiếp diễn vẫn tiếp diễn đều đều.

 

Nửa năm sau, rồi một năm sau nữa, cả tôi lẫn cái quanh tôi cùng hòa đồng êm ả theo dòng thời gian.

 

Bèn cố gắng dò đoán ý định của Tạo Hóa. Và dần dần có cảm tưởng mơ hồ về một chăm sóc độ lượng, khoan hòa. Cảm tưởng rằng lúc con người trẻ trung thì được Trời cho tha hồ vung vẩy, bấy giờ nếu nghe loáng thoáng về sự vấp váp suy tàn – đặc biệt là về cái chết – thì ôi thôi…Bất khả!  Tôi bất khả!

 

Tạo Hóa có lòng lành, nhón tay khe khẻ điều chỉnh lòng người.  Tuổi người càng cao, lòng người càng bớt sôi nổi, bớt tha thiết.  Rốt cuộc còn lại sự hững hờ: Chết –  Ai mà khỏi?  Việc gì phải sợ? .  Bà cụ hấp hối nói câu cuối cùng với người con hoảng hốt trong tờ báo Mỹ nọ, chính là đã nói câu ấy.  Tạo Hóa mớm ý mớm lời cho cụ.  Cũng như mọi cụ, cả ông lẫn bà.

 

Nhân một lời trên báo Newsweek nhớ lại một lời trên báo khác (Thế Kỷ 21, số đôi: 225 & 226). Mừng Xuân mới, chủ bút Ngô Nhân Dụng nhắc lời Khổng Tử:  “Thiên địa chi đại đức, viết sinh” (Tính chất nổi bật trong trời đất là sự sống). Tiếp lời cụ Khổng, bạn Ngô tưng bừng: “Không cần một nghị quyết nào của Thiên Nhiên ra lệnh cho các cánh đồng cỏ cùng mọc lên đúng ngày đúng tháng. Sự sống tự nó biết cách sống, không cần phân tích, lý luận để quyết định vạn vật có nên sống hay không”.

 

Người nay, người xưa cùng một tưng bừng rạng rỡ. Rụp rụp, sự sống, biết cách sống. Nhưng sau sự sống, con người – mọi người –  đều sẽ có dịp gặp một sự nữa là sự chết.  Sự chết thì sao?  Liệu tự nó có biết chết một cách tử tế cho thiên hạ nhờ tí hay không?

 

Tôi âm thầm nghĩ ngợi và ngờ rằng đây là lúc xuất lộ cái từ tâm của Hóa Công.  Chúng ta không nên mè nheo đòi hỏi cho được vừa huýt sáo mồm vừa chết.  Chỉ mong những bước chân đến ngôi mộ của chính mình sẽ là những bước thong thả, hững hờ.  Đại khái thế thôi.  Và Tạo Hóa đã xếp đặt như thế.  Trước cái chết, bà cụ nọ trấn an con, chớ không phải là người con an ủi mẹ. (Santa Ana 2009).

 

*

 

Những dòng cuối cùng của cuốn sách Cuối Cùng, ông Võ Phiến viết như thế đó. Ông dùng chữ hững hờ, tôi nghĩ rằng ông muốn tỏ ra mình không quan tâm đến cái chết.  Tôi hơi buồn, sao ông thích sống mà không thích chết?  Chết cũng vui lắm chứ?  Chịu chết càng vui hơn vì…mình hoàn thành nhiệm vụ.  Nhưng ai cấm tôi…hiểu xa hơn:  khi khép lại một cuốn sách không phải là khép lại một ước mơ.  Tôi biết ông Võ Phiến đang còn sống, sự sống đối với ông, chẳng những đối với riêng ông, mà cả nhà ông, bạn bè ông, bà con ông, đều là sự cần thiết…để vui thêm ngày nào mừng ngày đó.

 

Với cái tuổi tám mươi lăm, với cái câu Trẻ Sao Già Vậy, ông đi đứng, ăn uống đang cần có người chăm sóc, ông còn sáng suốt ông để cho con cháu thấy cảm nghĩ của ông, lỡ ông có xuôi tay nhắm mắt, cái gì còn đó, thì còn đó!  Cuốn sách Cuối Cùng!  Tấm lòng Võ Phiền chưa hay không gói hết trong tác phẩm Cuối Cùng, có lẽ vì ông không khỏe. Đọc cuốn Cuối Cùng, người đọc chưa thỏa lòng thỏa dạ…vì thấy như chưa phải là tác phẩm Cuối Cùng của Võ Phiến!

 

Hi vọng rằng năm nay mưa thuận gió hòa, Ông Võ Phiến  khỏe mạnh trở lại, lắc đầu cho rơi đi cái “tiêu cực” nếu có, nếu tồn đọng, trong ông…để ít ra còn cho độc giả ái mộ ông có vài bài thơ, vài truyện ngắn, vài bài tùy bút trong cảnh lão giả an chi…/.

 

Tác phẩm Cuối Cùng của nhà văn Võ Phiến, Thế Kỷ 21 xuất bản 2009.  Bìa: Họa sỹ Nguyễn Đồng, phụ bản tranh Nguyễn Thị Hợp, Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Quỳnh, Nguyên Khai và Nguyễn Đồng…Nhật Báo Việt Herald phát hành.

(more…)

Read Full Post »

4fe0037086986

Hàn Mặc Tử bị bệnh phong khoảng năm 1933. Lúc bấy giờ, y học chưa tìm ra DDS, một loại thuốc đặc trị bệnh này. Vì thế gia đình ông đã mời các lang y đến chữa bệnh. Hầu hết các loại thuốc mà Hàn Mặc Tử uống là độc dược chế từ nọc rắn mai gầm hay rắn hổ mang. Sau một thời gian chữa bệnh, bệnh trạng ngày một nặng thêm; tuy chưa bị tàn phế nhưng toàn thân gầy yếu, da bầm đen, dấu hiệu của ngộ độc thuốc trường diễn.

(more…)

Read Full Post »

..

Vĩnh biệt Giáo sư TRẦN VĂN TOÀN

 images (1)

Chúng tôi được tin Giáo sư Trần Văn Toàn đã từ trần ngày 13.9.2014 tạị Lille, thọ 83 tuổi. Lễ tang sẽ cử hành ngày 18.9.2014.

  (more…)

Read Full Post »

Huỳnh Như Phương

Chân dung nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng

Chân dung nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng

 

Anh không về thật rồi

không tìm café bụi đời khác

chỗ ngồi đó (more…)

Read Full Post »

 

VÀI CẢM NGHĨ KHI ĐỌC TIỂU THUYẾT THẦY GOTAMA VÀ 8000 ĐỆ TỬ CỦA TRẦN NHƯ LUẬN

 Thay gotama va 8000 de tu - khong nen

Bài viết của TRẦN MINH NGUYỆT

 

Tôi có duyên lành đọc tác phẩm Thầy Gotama và 8000 đệ tử của nhà văn Trần Như Luận do nhà xuất bản Hội nhà văn phát hành.               Đây vừa là một tiểu thuyết lịch sử, vừa là một tiểu thuyết luận đề. Với lối viết phi tuyến tính xen lẫn với tuyến tính, những tình tiết cô đọng, sâu lắng, nhà văn đã dẫn tôi vào một không gian bàng bạc sương mù. Đó là sự mù mịt của một Ấn Độ cổ, nơi mà con người quá tin và quá dựa dẫm vào thần linh. Thầy Gotama đã ra đời trong bối cảnh đó. Thầy đã dẫn dắt chúng sinh vượt qua cuộc biến thiên vô tận của cuộc đời đầy ngã chấp và sự u mê ám chướng. (more…)

Read Full Post »

 

                                                    Nhà thơ Đoàn Thạch Hãn
.
t703135

 

Nếu thơ Trần Bảo Định không đủ sức gợi cho tôi những cảm xúc tuyệt vời trong tâp thơ ”Vợ tôi”, thì chắc chắn tôi không bao giờ viết những dòng chữ nầy, dẫu cho có hân tình đến mấy. Bởi lẽ, trước hết rằng, tôi viết bằng tất cả sự rung động của trái tim và cho chính mình đọc, như một người đi tìm cái thú thưởng  ngoạn trong trò chơi chữ nghĩa. Xếp lại tập thơ ”Vợ tôi” sau khi đọc xong, lòng tôi thẫn thờ và tràn  đầy cảm  xúc, một thứ cảm xúc chân  thực mà từ lâu lắm  rồi, tôi  tưởng  đã  mất. Thật ra, tập thơ  ”Vợ tôi” của nhà thơ Trần Bảo Định đã thuyết phục được tôi và buộc tôi phải viết.

Một điều rất thú vị, trong suốt dòng chảy  sinh động của thi ca Việt Nam  khi viết về vợ, thì ngày xưa cụ Tú Xương  cũng từng có  bài thơ ca ngợi sự tần tảo ngược xuôi của người vợ hiền yêu dấu, Đến thời thi sĩ Đông Hồ, ông được người đời biết đến với bài thơ ”Khóc vợ”.Rồi trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, nhà thơ Yên Thao nổi tiếng với bài thơ ”Nhà tôi”, với những câu nói về người vợ trẻ hết sức tuyệt vời …Và, còn nhiều những người làm thơ, thuộc nhiều thế hệ cũng đã viết về người bạn đời đầu ấp tay gối của mình,bằng tất cả thương yêu một cách trân trọng và tài hoa.Nhưng tựu trung chỉ có năm ba câu hoặc giả vài ba bài  mà  thôi.  Còn như cả tập thơ chỉ viết về một con người – Người vợ – với 78 bài  và lấy  luôn  cái tựa đề ”Vợ tôi”, thì xưa nay chỉ duy nhất có nhà thơ Trần Bảo Định.

Sẽ không ít người cho rằng, tình yêu đối với một nàng thơ kiều diễm nào đó mới thực sự là chất liệu mộng mơ, làm thăng hoa chữ nghĩa đến vô tận. Còn như ”vợ” nhà cũ rích – xưa như trái đất – có gì hứng thú, mà sáng tác đến  78 bài thơ?  Ắt hẳn, Trần Bảo Định là một tay khéo”nịnh vợ”và như thế, sẽ không tránh khỏi gượng ép sáo mòn Nghi vấn đó,chắc chắn sẽ được xóa tan nếu ai có trên tay tập thơ”Vợ tôi” của nhà thơ Trần Bảo Định và chỉ cần chịu khó đọc một số bài, sẽ bị cuốn hút ngay – một thứ cuốn hút say say và kỳ lạ – không thể từ chối.

Cái hay của tác giả là rất khéo bố cục một tập thơ với những bài thơ riêng lẻ được sáng  tác ở những  khoãng thời gian và  không gian  khác nhau, theo  trình tự một câu chuyện tình có trước có sau, để rồi từ đó, gửi gắm hết những yêu thương, trăn trở bên người bạn đời thủy chung, lúc son trẻ đến buổi bạc đầu.

Hồn cốt câu chuyện được xâu chuỗi xuyên suốt qua diễn tả từng bài, đã làm cho ”Vợ tôi” trở nên hấp dẫn,  không gây sự  nhàm  chán ở  người đọc, đó là chưa tính đến chất giọng thơ hồn hậu,  đặc thù âm điệu và  nguồn cảm hướng phương Nam, làm cho nó càng thêm độc đáo và đắc giá.

Giờ thì, chúng ta hãy lắng nghe nhà thơ Trần Bảo Định bắt đầu tập thơ ”Vợ tôi” với bài thơ ”Gặp em”. Ở đây, chúng ta dễ nhìn thấy rất đời thường, hai vợ chồng trong tuổi về chiều, ngồi bên nhau trìu mến, nhắc lại cái thuở ban đầu lưu luyến ấy:

” Ngập ngừng anh ngỏ ý thương

Rụt rè, em rút tay buông, thẹn thùng

Kể từ hôm ấy nhớ nhung

Bóng hình anh chạm tận cùng cõi yêu ”

Ba câu đầu chân quê lắm, nhưng đến câu thứ tư thì không – lời thơ bóng bẩy và  sâu sắc. Khi hình  bóng đã  chạm –  tác giả dùng chữ ”chạm” ở đây,  rất đắc địa – đến”tận cùng cõi yêu” rồi, thì xin thưa, không còn chữ nghĩa nào đủ để diễn đạt nữa.

Bài ”Nhận lời cầu hôn”, Trần Bảo Định tỏ ra một chút ”lém lĩnh” đáng yêu của người lính trong thời binh đao khói lửa,  đem sự sống chết nay còn  mai mất làm lợi thế với người mình yêu:

”  Chiến tranh vui ít, lo nhiều

Biết còn sống sót mà chìu chuộng nhau

Thôi thì, năm miếng trầu cau

Một chai rượu lễ có nhau trọn đời”

Thế rồi, ”Tiệc cưới” cũng được tổ chức, đã có tiệc cười thì phải có ”Đêm tân hôn” Một đêm tân hôn thời chiến nơi chốn bưng biền nào đó,không có pháo đỏ rượu nồng, không ánh đèn màu hoa chúc,chỉ có ngàn sao trời lấp lánh cùng ánh lửa bập bùng,  đủ để nhìn khuôn mặt khốn khó quê hương, nhìn  khuôn mặt tinh khôi vào độ xuân thì vừa nở, với bao hẹn thề son sắt.  Có lẽ,  đó là chất liệu , thôi thúc  Trần Bảo Định viết lên những câu thơ xuất khởi tiếng lòng:

” Gối đầu, mình gối chung lòng

Màn trời chiếu đất động phòng tân hôn”

Rồi cũng chính tình yêu, đã gia cố thêm cho niềm tin vững mạnh ở ngày mai.

” Bên anh, em nở hoa cười

Tin ngày mai xán lạn trời bình yên”

( Đêm tân hôn )

Cứ thế, Trần Bảo Định trong tập thơ ”Vợ tôi” trở thành một người  dẫn  chuyện khá nhuần nhuyễn, rất thực và chân thành.Càng đọc và đi sâu, người đọc càng thấy anh khai thác chất hồn hậu rất tự nhiên như vốn có sẵn trong máu,  mà anh không thể làm khác đi cái tính chất của mình.

Điều thành công lớn của tác giả là, đã bồi đắp cho cái hồn hậu đó những ý tứ thơ vượt qua rào cản lý tính. để hoàn toàn đến với cảm tính tâm hồn:

” Trời mù chưa kịp bình minh

Tôi còn quanh quẩn bờ kinh, vạt rừng

Bấm tay, đếm đốt áng chừng

Bây giờ có lẽ vợ mừng sinh con ”

( Vợ sinh con đầu lòng )

Có thể nói rằng, thông qua những bài thơ trong tập thơ ”Vợ tôi”, tác giả là một người chồng mẫu mực, sống có thủy có chung và hẳn nhiên rất thương vợ. Nhưng nói đi thì cũng cần nói lại, tác giả cũng là người đàn ông hạnh phúc vì được trời ban cho một nửa đời mình quá tuyệt. Không hết mình yêu thương và ngợi ca  mới là lạ!

Điểm đáng nói thêm ở tập thơ, ngoài thơ lục bát, thơ bảy chữ, một số  bài thơ năm chữ của Trần Bảo Định cũng đạt đến độ chín mùi và điêu luyện trong  câu chữ vần điệu. Theo tôi, nếu không lầm, Trần Bảo Định đã làm thơ  từ rất sớm  và có tay nghề, nên mới gặt hái kết quả tốt đẹp như ngày hôm nay. Vẫn chất giọng mộc mạc không cần trau chuốt, khoe chữ hay làm dáng, Trần Bảo Định rất dung dị đi vào thơ.

”  Mình ôm con sưởi ấm

Trong vòng tay mẹ hiền

Nơi đất trời sâu thẳm

Có lòng mẹ vô biên ”

( Đêm bịnh viện )

Dường như ở thơ năm chữ, thơ tự do, Trần bảo Định  mới hé mình bộc lộ cái chất triết lý của người có nền tảng sở học và nhiều trăn trở:

”  Con đi tìm hạnh phúc

Hạnh phúc đâu con tìm

Hạnh phúc từ trái tim

Từ nơi con đang sống ”

( Nói với con trai )

Hoặc khi nói với con gái, nhà thơ như tự sự với chính mình:

” Tiếng mẹ ru đầu đời

Dưỡng hồn con sáng tươi

Cho con tình mẫu tử

Yêu đất nước, yêu người

 

Lớn lên con sẽ hiểu

Vì sao mẹ yếu gầy

Ngày qua ngày túng thiếu

Dìu con vào tương lai!

( Nói với con gái )

Ở một số bài khác, tác giả viết với một tâm thế đầy ẩn dụ, như:

” Nắng tự do

Sau buổi chiều gió bụi

Ngày về.

Mình đơm khuy nút

Buộc ràng nhau

Thống thuộc

…………

Con đường thẳng thớm

Không tương lai

Vô nghĩa

Lầu son gác tía

Không đổi được cái bàn máy may trong tay mình

Hạnh phúc!

( Nói với vợ )

Thời chiến, chồng ở chốn sa trường, vợ ở quê nhà vò võ nhớ thương, lắm lúc:

”Chiều xa thăm thẳm nhớ người / Cò bay lạc xứ tôi thời lạc anh”,hoặc có khi người vợ ngồi tựa cửa:”Nhâm nhi lệ mặn tình yêu/Lăn dài trên má bóngchiều mênhmông” mà tác giả đã thố lộ trong bài thơ ”Bến xưa”.Chiến tranh đã làm bao chinh phụ chết lần mòn trong đợi chờ thương nhớ? Nhà thơ Trần Bảo Định đã nói thay nỗi đợi chờ thương nhớ ấy, bằng những câu thơ xuất thần, rất thơ và rất cảm.

Đọc tập thơ ”Vợ tôi” của Trần Bảo Định, tôi đọc nhiều lần nhiều lượt và tôi cũng dừng lại suy ngẫm nhiều lượt nhiều lần.Tôi chẳng hiểu vì sao? Có lẽ,sau những câu thơ, bài thơ Trần Bảo Định viết về vợ, là cả cái phong nền lồ lộ một thời của sự hiện thực xã hội từ chiến tranh chuyển sang hòa bình muôn vàn khốn khổ trong thiên tai, địch họa, bao cấp và nhiều thứ ..mà tôi đã sống và chắc tất cả chúng ta cũng đã sống.

Thơ Trần Bảo Định mang chỉ dấu và chứa nội hàm tính nhân văn rất cao, rất dày đặc. Anh là ngừơi có tấm lòng. Đọc kỹ, mới nhận ra thơ anh bình dị chứ không  bình dân.

Rất thiếu sót, nếu không nói về anh. Năm nay, anh đã bước vào tuổi 70, cái tuổi ”thất thập cổ lai hy”.Lẽ ra nghĩ ngơi,thì anh lại bắt đầu viết.Bằng hữu hỏi anh tại sao đợi đến bây giờ mới viết?Anh nói rằng chưa bao giờ anh có ý định viết,nhưng bây giờ anh phải viết những gì cần viết, vì ” bất bình tắc minh”.

Thương anh tuổi cao,sức yếu và đang mang căn bịnh hiểm nghèo, anh viết như một nhu cầu bài tiết, viết như  liệu pháp trị bịnh  và  làm giảm những cơn đau. Tuyệt nhiên, anh không có ý định tham dự vào ”trường văn trận bút”. Từ cuối năm 2012 đến nay, anh đã cho những người thân và bằng hữu đọc những tác phẩm đã in và xuất bản : Ngao du sơn thủy (2012) Mẹ.Tiếng lòng(2013)Thầy tôi (2013) Thơ lục bát (in chung Hoàng Yên Dy 2013) Vợ tôi(2014) Làng tôi (2014). Tôi không cầm được nước mắt, khi đọc những câu thơ trong bài thơ cuối của tập thơ ”Vợ tôi”, bài ”Dặn vợ”  sau khi anh vĩnh biệt trần gian:

”  Đừng báo tin buồn, đừng tiếc thương

Ngủ yên, mình ngủ giấc vô thường

Chiều trăng tiễn biệt anh về đất

Một cõi nhân gian thế đã xong! ”

Rồi anh dặn vợ mình không điếu tang, không nhận vòng hoa, không kèn trống, tử là táng, đưa anh về nơi chôn nhau cắt rốn, đắp mộ đất, trồng cỏ và hoa, để:

” Sáng rạch Bà Tàu nghe gió hát

Chiều sông Bảo Định sóng tình ca

 

Vĩnh biệt mình, vĩnh biệt các con

Khói sương giăng kín phố Sài Gòn

Thân tâm thanh thản rời dương thế

Rũ sạch việc đời, việc nước non!

( Dặn vợ )

 

 

Nhưng thôi, Trần Bảo Định là Trần Bảo Định. Bạn trẻ gọi anh là ” ông lão yêu thơ,làm thơ”. Còn tôi, anh là đứa con miền châu thổ, là hạt phù sa bồi lắng – bồi lắng – và bồi lắng mãi cho ruộng đồng màu mỡ. Anh là chiếc xuồng ba lá, bơi qua từng con kinh  cái rạch  chằng chịt, nghe  câu  vọng cổ  mà ai đó  ngẫu hứng hát giữa  đêm trăng ở chốn quê nhà.Thơ anh buồn, một cái buồn chưa đủ độ quặn sâu, nhưng cũng đủ men làm cho người đọc chạnh lòng bâng khuâng, man mác. Chất thơ như hương  hoa đồng cỏ nội, thở bằng hơi thở vừa tha thiết ân tình, vừa ngang tàng khí phách còn sót lại từ thời ông cha đi mở cõi.

Tập thơ ”Vợ tôi” của nhà thơ Trần Bảo Định, biểu tượng cho dòng thơ rặc

Nam Bộ, không vay mượn mà chính là nguyên chất, dám làm cái chuyện mà xưa nay

chưa ai dám làm: Thể hiện sự yêu thương vợ qua 78 bài thơ thành tập thơ ”Vợ tôi”,

rất dễ thương, rất ”xịn”, và đặc biệt rất hồn hậu Theo tôi, Trần Bảo Định dũng cảm

cái dũng cảm vốn có của người lính – dứt khoát mở cánh cửa riêng – rất riêng –

chững chạc bước vào thi ca Nam Bộ bằng chính sự độc đáo của mình.

Tôi tin tập thơ ”Vợ tôi” của anh, sẽ sống mãi với thời gian trong sự độc đáo ấy !

 

(more…)

Read Full Post »

 

untitled

 

NGUYÊN QUÂN

Từ Nhỏ Ơi! đến Đời Ơi!

.

Buổi sáng, quán café 64, tôi chờ và rồi để được cầm trên tay tập thơ mới của Ngô Đình Hải, một xuất bản phẩm do tủ sách Văn Tuyển in ấn. (more…)

Read Full Post »

..

Mọi nỗi đau khổ của con người bắt nguồn từ một điều duy nhất: anh ta không thể ngồi yên lặng trong phòng mình (Pascal)
đặng châu long
paul_auster
 
Ngày 20-06, khi về Búng thăm anh chị Lê Vĩnh Thọ, anh Thọ tặng tôi 2 quyển sách, một của Hermann Hesse, một của Paul Auster. Hermann Hesse thì đã quá quen thuộc với tôi từ thuở học sinh với những tác phẩm: Những người bạn, Sói đồng hoang, Narziss và Goldmund, Hành trình về phương đông, Câu chuyện giòng sông… Nhưng thú thật Paul Auster thì đây là lần đầu. Đã vậy, anh Lê Vĩnh Thọ còn dặn thêm: “tôi cũng chưa đọc, nhưng chắc sẽ khó khăn cho những người quen đọc truyện bình thường, chịu khó đọc chậm thôi…”

(more…)

Read Full Post »

 

Nỗi niềm chinh phụ

(Đọc tập thơ Vợ Tôi của Trần Bảo Định)     

3831500129_49e4f7c94b_z

      triệu từ truyền

“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên (more…)

Read Full Post »

 

Chế Diễm Trâm

to_hoai

1. “Tô Hoài là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại” (Trần Hữu Tá)(1), là cây bút sắc sảo và tài hoa trên nhiều lĩnh vực: truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, hồi ký, chân dung văn học, truyện và kịch cho thiếu nhi, kịch bản phim… (more…)

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »