Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Hai, 2012

Thanh Nguyên

Đi qua các nẻo đường của quê hương . Từ Thăng Long về đến Bình Định. Đâu đâu tôi cũng thấy như còn in gót hài của Huyền Trân công chúa. Một lần nọ ra đi, tôi theo dấu chân của người và nhận ra ngàn ngàn tâm sự.

Nàng vốn trắng trong hồn thơ mộng. Đi, là đi theo lệnh phụ hòang, và đi cho trọn chữ hiếu, chữ tòng tự nghìn xưa. Đi rồi, mới nhận ra cái nghĩa cử vị đại nghiệp, vị non sông.

Trên đường thiên lý, tôi được nghe những lời kể từ dân chúng, tôi được nghe những câu ca dao, những bài dân ca viết về Huyền Trân rất đậm đà và trìu mến. Dân ta, nhất là dân thuộc dãi đất miền Trung, rất yêu mến và nặng ơn nghĩa với nàng. Nhưng cũng còn nhiều thêu dệt oan khiên trong dân chúng, do chính sử thiếu dữ kiện…

(I).

Xuân thì, xanh mộng chốn lầu son

Một vóc ngà thơm, thân Quế non

Một hồn trong trắng vô tư lự

Đã biết đâu mà nợ nước non.

(II).

Duyên ước phụ hòang trót lỡ tuyên

Đã đành công chúa, cũng thuyền quyên

Bến trong bến đục âu đành vậy

Một mảnh sơn hà đổi chữ duyên

Về Thăng Long, tôi như nhìn thấy nàng từ biệt kinh thành một sớm mờ sương. Bịn rịn với người thương và cảnh cũ… Thân gái rồi đây sẽ dặm trường. Chưa đi đã cảm nhận và lo sợ sự lạnh lẽo đìu hiu của nơi đến. Đọan đường sắp tới là cõi phúc hay là nẻo đọan trường đầy sầu tư và mong nhớ ?

(III).

Thăng Long bịn rịn sớm mờ sương

Từ nay đất khách một thân nương

Hòang cung tráng lệ đìu hiu lạnh

Nhung gấm huy hòang nhạt tình thương

Vượt sông Đáy, qua đất Ninh Bình, đứng trên đèo Tam Điệp, thế mà đã như xa lắm rồi cái cảnh cũ ngày thơ. Tìm xem về phía xa mờ. Có còn nữa bóng Ba Vì xanh thẳm ?

(IV).

Con đường thiên lý xuôi về đâu

Rừng núi đìu hiu mấy dáng sầu

Đèo cao Tam Điệp tìm đâu thấy

Hình bóng Ba Vì khuất chìm sâu

Qua Thanh Hóa nghe tiếng sóng thét gầm, mới biết mình đi để trả nợ nước non. Cho chiến chinh thôi hết lan tràn . Cho xương máu thôi rơi. Cho sông Mã thôi thét gầm uất  hận.

(V).

Đàn sếu sang sông buông tiếng sầu

Sông Mã thét gầm nhắc niềm đau

Việt Chăm mấy thuở chinh chiến lọan

Đi, để thanh bình mãi về sau

Qua Hà Tĩnh. Dừng ngắm chín mươi chín ngọn phủ mây mờ . Hồng Lĩnh mây tóc bạc phơ phơ, mới sực thương thân phận trẻ. Về xứ lạ sẽ trọn duyên mong ước hay sẽ tan nát cõi xuân thì ? Sứ giả, tùy tùng có biết đâu lệ đã được nuốt vào trong, cho mặt mày rạng rỡ bước vu qui, sau mảnh má hồng cố giấu nét sầu bi mà vui gượng ?

(VI).

Phận gái đâu bì chí nam nhi

Tòng phu tòng phụ phải ra đi

Bạc phơ mái tóc mây Hồng Lĩnh

Giả vui, nuốt lệ tiếc xuân thì

Bình nguyên phù sa sông Cả luyến tiếc vì không giữ được chân nàng. Hòanh Sơn những tưởng  dang cánh tay về đông là ngăn được, không cho nàng về xứ lạ. Ngăn không được. Thôi đành giữ lấy những dấu hài để ngàn năm sau nhắc nhớ …

Vùng Quảng Bình tự ngàn xưa vẫn vang vang điệu hò khoan Lệ Thủy. Kéo chài, tát nước, gì gì cũng hò khoan cho sức thêm tươi. Chân nàng qua, dân vụt tắt tiếng cười. Giọng nghèn nghẹn những câu hò đưa tiễn . Về lại chăng ? Hay sẽ là vĩnh viễn ? Những lệ trào trên sóng Nhật Lệ Giang.

(VII).

Bình nguyên luyến tiếc bước chân qua

Hòanh Sơn lưu giữ dấu chân ngà

Hò khoan nghèn nghẹn trong câu hát

Nước mắt dân lành Nhật Lệ sa

Qua Quảng Trị, vào Thừa Thiên. Đây là mảnh đất vùng biên Chăm-Việt. Địa đầu của Châu Ô châu Lý . Ở cái ranh giới quá rõ ràng từ mảnh đất mới sính dâng. Vượt một tí sẽ đi vào miền đất khách. Sứ giả, tùy tùng thôi cũng mặc !. Giấu nữa sao được? Nhưng mà giấu để mà chi ? Mặc cho giòng lệ người đi tuôn tràn. Thôi thì thôi nhé giang san. Hồn ta lịm chết can tràng quặn đau. Người thân, thôi vĩnh biệt nhau. Biết còn có một kiếp sau sum vầy ?

(VIII).

Bóng chiều nhuộm úa mấy đồi nương

Biên giới là đây hỡi quê hương

Hải Vân ngỏanh lại chùng chân bước

Lệ ứa che mờ mấy khói sương

… Sau cơn quặn thắt, người muốn hay không muốn cũng phải về với thực tại. Chân bước vào vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, lòng bỗng thấy nguôi ngoai như bước trên vùng quê hương quen thuộc. Cảnh trí non sông và đời sống dân Chăm cũng hiền hòa thân ái như chốn quê nhà. Cổ Lũy Cô Thôn cũng bóng tre, bóng dừa xanh mát. Lúa mượt mà thơm ngát vị quê hương. Cũng sáo diều hiu hắt gợi niềm thương. Cũng mái tranh khói vương chiều kỷ niệm. Cũng hình ảnh trâu cày trong hòai niệm. Cũng chợ chiều nắng lịm buổi hòang hôn. Cũng gập gềnh đường đất về xóm thôn. Cũng ngai ngái phân chuồng ven lối nhỏ. Cũng trẻ thơ nô đùa nơi đầu ngõ. Cũng trâu về giục mõ tiếng râm ran… Cũng thôn nữ bên bến nước bi bô. Cũng trai làng hiền khô theo bỡn cợt … Hình ảnh ấy một lần thôi, bất chợt. Cũng rưng rưng, rưng rức bóng quê nhà.

(IX).

Cổ Lũy Cô Thôn xanh bóng dừa

Sáo diều vi vút gọi ngày xưa

Ngày xưa nhung gấm nàng công chúa

Thơ mộng ngày xưa thương mấy vừa

(X).

Sóng biếc Sa Hùynh ngàn ngút xa

Từ đây bình lặng hết can qua

Chữ tòng tự dặn lòng chung thủy

Ấm êm bờ cõi nước non nhà

Về Đồ Bàn là người đã hòan thành những bước đi sứ mệnh. Dân chúng hai miền sẽ  được hát khúc âu ca. Đại Việt sẽ thanh bình một thuở để chuẩn bị cho công cuộc phát triển về lâu dài. Có biết đâu riêng một người con lẻ, trong hòang cung buồn tẻ tuổi xuân thì.

(XI).

Đồ Bàn thành lũy hóa khuê trung

Khóa một hồng nhan chốn muôn trùng

Đại Việt nước ơi hay chăng nhẽ

Có người con lẻ trọn niềm trung

(XII).

Non nước ngàn thu có nhớ không

Vì ai thân Quế phải long đong

Vì ai ngọc trắng vùi đất lạ

Son phấn lạt phai mảnh má hồng.

Thanh Nguyên.

VTM

(Mời các bạn clik vào link này để thưởng thức độc tấu đàn tranh của Thiên Kim trong nhạc phẩm TÌNH SỬ HUYỀN TRÂN của Vũ Thanh):

http://www.vuthanhquockhanh.com/apps/podcast/podcast/198282

Read Full Post »

Tổ yến, hắc cáy, mực tuộc, sá sùng, san hô đen, bong bóng cá đường… những sản vật ấy ngày nào là quà tặng hào phóng của đại dương, nay con người phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, thậm chí đánh đổi bằng tự do và mạng sống mới có được.

Trạm canh bảo vệ yến xây bên cạnh hang Dơi, được đầu tư đường dây điện, đường nước thật tốn kém… Ảnh: Đoàn Quý
Chon von hang yến miền Trung, bồng bềnh những “hải đoàn” thuyền thúng trên sóng nước Côn Đảo, cheo leo những lều đáy hàng khơi Đất Mũi, và xa hơn: những chuyến lặn biển nơi chân trời góc bể… tất cả những cuộc mưu sinh ấy đều thấm đẫm vị mặn của đại dương. Hay đại dương mặn vì mồ hôi của họ?
Con thuyền 115 mã lực biển số BĐ 91016TS khởi hành ra vũng Bàu vào sáng sớm ngày chủ nhật đầu tháng 11. Gió cấp 6. Tàu vừa ra khỏi cảng, vượt qua mũi hòn Khô, là đối mặt với sóng thứ thiệt, trở thành chiếc lá bé xíu giữa mênh mông nước. Con tàu bẻ lái lấy hướng, phải cắt ngang sóng, trước khi xuôi theo sóng, mũi tàu ghếch tưởng như thẳng đứng, lườn tàu đập xuống mặt nước kêu binh binh…
Tài công chuyến hải hành này là Đinh Lùn, 60 tuổi, người đã có lần buộc phải chạy tàu ra vũng Bàu khi gió cấp 8, 9, vì phải đưa xác một đồng nghiệp vào bờ. Chuyến tàu định mệnh ấy bị sóng đập bể lườn, chìm, may nhờ có điện thoại di động kịp thời gọi cho ngư dân xã Nhơn Hải ra cứu. Bởi vậy, ông mới bình thản bình về sóng cấp 6: “Như vầy còn nhỏ”.
Trên thuyền hôm ấy có cả thảy chín người, trong đó có hai người vào nghề khai thác tổ yến lâu năm nhất – cùng năm 77 thế kỷ trước là ông Lùn và Đỗ Thanh Vân, 53 tuổi. Ông Vân có mái tóc chải ngược, mũi sư tử, gương mặt vuông phong trần, vẫn ôm tiếc nuối là đứa con trai không chịu theo nghề cha. Tiếc là không đẻ thêm một hai đứa để may ra có đứa theo nghề cha. Ông yêu nghề muốn chết!
Phải mất hai tiếng đồng hồ, vì đi ngược gió, từ cảng Quy Nhơn vượt qua mũi Bát, mũi cực nam của Nhơn Lý giáp với vùng biển của xã Nhơn Hải để đến vũng Bàu. Ở mũi này thuyền một lần nữa phải cắt sóng, bị quăng quật tơi tả, vì gió ngày càng săn.
Qua khỏi mũi Bát một khoảng nữa là vũng Bàu. Mùa tháng 4 khai thác yến, vũng Bàu có lúc như tấm thảm nước phẳng phiu, vì kín gió. Nhưng mùa này, sóng vẫn đập ì ầm ngày đêm vào vách đá phía trước lăng thờ thần của dân khai thác yến ở Quy Nhơn. Neo thuyền đã kỳ công, từ thuyền xuống xỏng vào bờ kè còn kỳ công hơn nữa. Để giữ an toàn cho thuyền ông Lùn và một người phụ lái ở lại trên thuyền, phòng khi sóng gió đứt neo kịp cứu thuyền.
Ba phần tư sản lượng địa phương là khai thác từ khu vực vũng Bàu với tám hang yến lâu đời nhất (*). Nên người dân cũng lập miếu thờ thần và tiền hiền ở đây, từ những năm 1960 miếu được xây bằng gạch. Đến những năm 2000 được xây dựng to lớn như hiện nay, với móng đá.
Nghề khai thác tổ yến, đặc thù trong các hang nước ở Quy Nhơn, kéo dài không đến ba tháng, những người theo nghề này phải luân phiên nhau canh chừng hang yến quanh năm. Như ông Vân lần đầu tiên được phân về ở ngay tại Lăng, năm sau đi qua hang Đôi, rồi ở hang Cả tám năm liền…
Thế giới của hang yến tuyệt đối không có phụ nữ, ông Đặng Văn Nguyên, người đứng chủ cúng tạ tổ nghiệp ở đây khẳng định. Và rượu. Chỉ có buồn vui với biển quanh năm suốt tháng. Không ít người không trụ được với nghề. Ngày ông Vân còn trẻ, cưới vợ xong, biệt vợ ra hang yến, cô vợ trẻ lúc ấy đã khóc…
Dầu vậy, những ngày không khai thác, chỉ ở canh gác hang, thợ yến được luân phiên chia thành hai tổ ở mỗi khu vực hang để luân phiên trực. Nhóm không trực về với gia đình. Lúc đó họ mới tận hưởng được sự hoà nhập: phụ nữ và rượu, thay cho những ngày thanh cảnh.
Hàng kỳ đi nhận lương thực họ phải đi đường núi, từ dưới khu nhà Lăng leo lên đỉnh núi khá cao, rồi mới theo đường ruột dê xuống núi mất cả tiếng đồng hồ mới ra đến trạm nhận lương. Hôm ấy trời mưa, không thể đi đường bộ được, nên mới có chuyến hải trình đầy sóng gió để đến tổng hành dinh khai thác tổ yến của Quy Nhơn.
Cũng có những hang đi đường bộ tiện hơn như hang Dơi. Từ Quy Nhơn đi Nhơn Lý, rồi vượt đường bộ chừng 15 – 20 phút là đến đỉnh núi, từ đó trụt xuống chừng bảy, tám mét là đến nhà canh hang Dơi, nằm ở lưng chừng núi, quay mặt ra biển.
Phụ trách trực ở đây là Nguyễn Minh Cường, 47 tuổi, người Tuy Phước, vào nghề từ năm 1996. Cường nhỏ người, thường xuyên nở nụ cười trên miệng thật vô tư, thợ bậc 3/6. Mấy lần thi nâng bậc đều bị rớt môn lý thuyết vì múa ngòi bút không giỏi bằng múa bấy lấy tổ yến. Copy tài liệu thì nhát vì vốn tính… thật thà. Không bù được với ông Vân bậc 6/6 cách đây đã hơn 20 năm.
Con người lạc quan này dường như chấp những cái không thành đạt của mình. Ngay cả cái nhà yến ở quê đầu tư trên 1 tỉ đồng, gần ba năm nay chỉ thu được 14 tổ yến. Trong khi đó, cái nhà ở của ông Lùn trên đường Hùng Vương chỉ tốn vài triệu cải tạo thành nhà yến mỗi năm kiếm được cả chục ký tổ. Ông Nguyên bình luận: “Yến nó không thích đi kinh tế mới, chỉ thích ở thành phố thôi”. Anh Cường lại cười.
Tuy chữ nghĩa có khá hơn, nhưng khi kể lưu loát về ông tổ nghề yến là ai, đến lập nghiệp từ lúc nào, gốc gác ra sao, trước 1975 ai thầu các hang yến ở đây… ông lại có vẻ ngậm ngùi nói với đồng nghiệp trẻ tên Nam: “Các chú chữ nghĩa nhiều hơn, cần ghi chép lại tông tích của nghề để lại cho hậu thế. Tụi tui nhớ thì có nhớ, nhưng không ai viết để lại cái gì”.
Với cái nghề “ai cũng phải tụt quần” như cách gọi của ông Vân – khai thác hang yến nước như ở Quy Nhơn, lúc nào cũng phải lội nước biển, không mặc quần dài được – quanh năm đối mặt với sóng nước, họ phải đặt niềm tin vào nhiều người như Phật bà Quan Âm, tổ nghề, các bậc tiền hiền, những người đã mất ở khu vực trung tâm, mất vì nghề. Hàng năm, họ còn phải về cúng tổ chung tại Hội An vào tháng 5.
Sản lượng yến hàng năm ở Bình Định chừng 400 – 500kg, thấp hơn trước, do phải dưỡng yến, không khai thác tận diệt hết tổ trong kỳ 3 hàng năm, còn gọi là kỳ dưỡng yến, tức là cho yến đẻ ra nở đến 30%, để chúng tăng bầy. Ở Quy Nhơn có 16 hang đang được giao cho công ty cổ phần Yến Ngọc, Bình Định thầu khai thác nằm ở hai xã Nhơn Lý – 14 hang và Nhơn Hải – 2 hang.
Bình Định, theo ông Nguyên, không có yến sào huyết như ở Khánh Hoà, một loại tổ yến màu đỏ do phản ứng của nước dãi yến với địa chất đặc biệt của vách đá.
Công Khanh – Đoàn Quý – Phan Quang

 

Read Full Post »

Lê Mộng Thắng
                   Có hai vùng quê cùng mang tên Đập Đá
Mưa từ Đập Đá mưa qua
Thương o áo tím hoa cà về ngang
Chờ anh , Vỹ Dạ cùng sang
Nhìn cau trong nắng ,… thơ Hàn…mới lên.
.
Tương tư mắt lá dăm huyền
Mướt xanh cành trúc,…chữ điền,… vườn xưa
Chiều nay trời lại đổ mưa
Mà o áo tím sao chưa thấy về.
.
Trông bên nớ , ngóng bên tê
Nao nao mà cứ.. không hề chi mô !
Ước gì anh là tán ô
Che mưa cho tóc ấm bờ vai ai.
Mưa ơi, giọt ngắn giọt dài
.

Lắng sâu, như khúc Nam Ai, Nam Bằng…
Hoa cà tím áo biết chăng
Phương này ray rức mưa giăng giăng buồn. 

.

Rét dài tím cả hoàng hôn
Căm căm ngọn bấc từng cơn se mùa
Tìm đâu áo tím ngày xưa
Anh về Đập Đá nghe mưa …nao lòng.

Read Full Post »

– Khi phái đoàn của Quang Trung (giả) đến Nhiệt Hà để ra mắt Càn Long, vua Thanh đã tặng An Nam Quốc vương một viên ngọc Như ý, một tòa Ngọc phật, tặng cả đoàn một vạn lạng bạc…

Vì sao Phạm Công Trị lại về nước?

Phác họa chân dung Quang Trung trên một tờ tiền giấy.
Phác họa chân dung Quang Trung trên một tờ tiền giấy.

Việc cử “vua giả” sang chầu Càn Long là một điều bắt buộc, một sự vạn bất đắc dĩ bởi nó là sự mạo hiểm chết người đối với các nhà ngoại giao của cả hai bên. Vì vậy, việc tính toán kỹ lưỡng, chi tiết cho cho chuyến đi này là vấn đề sống còn của cả hai bên. Có ai dám chắc rằng, trong cả quá trình đi hàng mấy tháng trời qua rất nhiều địa điểm đón tiếp, không phạm phải những sơ suất mà chân tướng vua giả sẽ lộ ra?

Ai dám đảm bảo rằng, trong số rất nhiều vong thần nhà Lê, những kẻ tử thù của Tây Sơn hiện đang nhan nhản ở vùng sát biên giới (bên phía Trung Quốc) nhận diện ra Quang Trung giả? Chính vì vậy mà Nguyễn Quang Thùy chính là nhân vật chính của phương án 2, nếu phương án 1 là Quang Trung giả bị bại lộ.

Ở đây ta thấy cái tài khôn khéo của các nhà ngoại giao Tây Sơn, đó là trong giả có thật, trong thật có giả. Quang Trung là giả, nhưng con Quang Trung là Quang Thùy lại là thật. Và khi giả (phương án 1) bị bại lộ thì thực (phương án 2) sẽ thay thế, quyết không để cho công cuộc bang giao bị đổ bể. Tình huống cụ thể ở đây là, trong đoàn ngoại giao có ghi tên Phạm Công Trị (người có thực đang đóng vai Quang Trung) nhưng người mang tên Phạm Công Trị lại là một người khác (có thể chỉ là một nhân vật vô danh, một người lính chẳng hạn). Đặt trường hợp Quang Trung giả bị phát hiện là Phạm Công Trị thì tất nhiên ông phải nhận mình là Phạm Công Trị, tên tuổi ông đã được ghi rõ ràng trong danh sách ngoại giao đoàn. Lúc đó thì “Quang Trung” đành phải cáo ốm mà trở về nước, ủy thác lại cho Nguyễn Quang Thùy tiếp tục công việc. Người tháp tùng Quang Trung “giả” sẽ là Phạm Công Trị, lúc này sẽ lấy tên thật. Còn ai sẽ là Quang Trung “giả” trong vai vua ốm? Đó chính là người vô danh đội tên Phạm Công Trị lúc ra đi.

“Người vô danh” này không cần phải giống Quang Trung, bởi vì dọc đường về, do “vua” bị ốm nên sẽ ở trong xe (hoặc kiệu) được buông rèm kín không lộ diện. Tuy nhiên, điều chẳng may bị lật tẩy đó đã không hề xảy ra. Đoàn vượt biên giới Lạng Sơn vào ngày 13/4 Canh Tuất (1790). Đầu tháng 5 thì đi hết địa phận Lưỡng Quảng. Sự việc diễn ra êm đẹp. Từ đây, khi đã vào sâu trong nội địa Trung Quốc thì mối lo bị lộ tẩy do các vong thần nhà Lê hay các thế lực thù địch với Tây Sơn không còn nữa. Có nghĩa là phương án 2 không cần đến.

Lúc này, Nguyễn Quang Thùy phải trở về nước. Nguyễn Quang Thùy được phong tước Khang Công, đang lĩnh chức Tiết chế thủy bộ ở Bắc Thành (tức chỉ huy toàn bộ quân đội ở phía Bắc) ông còn nhiều việc phải làm. Phạm Công Trị trong vai Quang Trung giả cũng không có gì sơ suất, cần phải “quên” cái tên Phạm Công Trị đi. Vì vậy, “người vô danh” mang tên Phạm Công Trị trong dịp này cũng trở về với Nguyễn Quang Thùy. Như vậy, dù thực hiện phương án 1 (Quang Trung giả) hay phương án 2 (Hoàng Tử thật) thì cái tên Phạm Công Trị cũng phải được xóa bỏ trong danh sách Đoàn ngoại giao trước khi triều kiến vua Càn Long. Đó là lý do vì sao chúng ta thấy trong số những người tháp tùng Nguyễn Quang Thùy về nước lại có tên Phạm Công Trị.

Chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế

Quang Trung “giả” đã không bị bại lộ. Phái đoàn sứ bộ của ta đã thành công mỹ mãn. Vua Càn Long đã tỏ ra rất trân trọng, rất chu đáo với “Quang Trung”. Trên đất Trung Quốc phái đoàn đi đến đâu cũng được đón tiếp long trọng. Thậm chí khi Càn Long nhận được quà biếu là quả vải tươi, đã cho chạy ngựa trạm vượt hàng ngàn dặm, đem đến biếu Quang Trung lúc ấy đang trên đường đi. Xem số quả vải tươi được biếu (5 quả), trong đó vua Quang Trung được 2 quả, Phúc Khang An được 2 quả và Ngô Văn Sở được 1 quả, đủ thấy nhà Thanh quý quả vải tươi như thế nào, và tầm cỡ của người được biếu vải.

Khi phái đoàn của Quang Trung (giả) đến Nhiệt Hà để ra mắt Càn Long, vua Thanh đã tặng An Nam Quốc vương một viên ngọc Như ý, một tòa Ngọc phật, tặng cả đoàn một vạn lạng bạc, tặng Ngô Văn Sở một cái mũ san hô tam phẩm (tức công nhận Ngô Văn Sở ngang hàng quan tam phẩm nhà Thanh). Ngày 20 tháng 8 Canh Tuất (1790) vua Thanh đặt tiệc tiễn Quang Trung về nước.

Khi “Quang Trung” vào bệ kiến để từ biệt, Càn Long đã mời vào bên giường ngự, vỗ vai thân mật, sai họa sĩ cung đình vẽ một bức chân dung Quang Trung để tặng. Càn Long lại tự tay viết 4 chữ đại tự “Củng cực quy thành” (Chầu về sao Bắc đẩu với tất cả lòng trung thuận, thành thực). Sách Hoàng Lê nhất thống chí ghi chép lại: “Khi Quốc vương tới Yên Kinh, vua Thanh mừng lắm, không hề biết là Quang Trung giả. Lúc Quốc vương vào yết kiến, vua Thanh cho ăn yến với các vị thân vương, lại ban ơn đặc biệt cho làm lễ ôm gối, hệt như tình cha con trong nhà. Lúc Quốc vương lạy tạ về nước, vua Thanh sai thợ vẽ bức truyền thần mà ban cho, ân lễ rất trọng hậu, thực là một cách đối đãi khác thường từ ngàn xưa hiếm có.”

Theo Đại thanh thực lục thì số tiền nhà Thanh bỏ ra để chi tiêu vào việc đón tiếp Quang Trung trong suốt đợt đi sứ hết 80 vạn lạng bạc (con số này có thể bị khai khống lên để các quan lại địa phương có dịp bớt xén. Nhưng việc gửi quà, việc đón tiếp của Càn Long đối với Quốc vương An Nam là hết sức ân cần, chu đáo, điều đó không phải bàn cãi). Nhận xét về chuyến đi sứ này, nhà thơ Đoàn Nguyễn Tuấn, một thành viên của sứ bộ viết: “Từ trước đến nay, người mình đi sứ Trung Quốc chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế” .

PDK

Read Full Post »

Khúc Tháng Giêng

Yến Du

Tháng giêng còn tươi rói nụ cười Xuân
Ta ra phố đã mang theo chút buồn phơ phất
Nỗi nhớ hanh hanh màu nắng vàng ngọt mật.
Thoảng ngang vai mùi hương quen đi lạc rất tình cờ

Tháng giêng còn óng mượt đến non tơ
Ta ra phố thèm trải lòng hồn nhiên với gió.
Không gian vẫn ướt mềm như giọt sương long lanh đầu ngọn cỏ.
Mùa  trong ta đã khác từ thuở trót yêu người

Tháng giêng còn xanh nõn tuổi đôi mươi
Ta ra phố nghe nao nao bồi hồi trong từng nhịp thở
Bắt gặp niềm vui một thời chợt quên chợt nhớ
Thấy bóng người yêu trong dáng tháng giêng ngồi

Tháng giêng còn cong cớn cả vành môi
Ta yêu người như yêu tháng giêng hiền hoà bao dung -tháng giêng lộng lẫy
Ngang qua phố cỏ hoa thềm nhà ai vươn mình ngúng nguẩy
Tháng giêng độ lượng tháng giêng cười biêng biếc cả mùa Xuân .

Read Full Post »

Chiều trên cảng Copenhagen

Quế Sơn

Quán chiều bồng khói thuốc lá

Ngập ngụa men bia Tuborg

Chim hải âu vờn quanh cột khói đen

Còi tàu từng hồi về đâu giục giã.

.

Chiều trôi bến cảng dâng đầy nước

Người ngồi quán lạ mặt héo hon.

.

Bao năm rồi tôi chưa về Nha Trang

Nỗi ngậm ngùi nào trên đầu lưỡi vẫn chưa tan.

XXX

Tháng mười về mang theo những hẹn hò muộn màng và chụp giựt

Mặt biển và da trời xám ngắt như thây ma

Thành phố thu mình chờ cơn bão rớt

Em co ro xe đạp và chiếc áo len đỏ

Gió ngược chiều mang về anh đôi ba giọt mồ hôi hồng hào hạnh phúc.

.

Anh muốn nắm tay tình bạn tình yêu

Trong quán nhạc rộn ràng bên bếp lửa lặng lẽ

Những sáng trời mù những đêm trăng tỏ

Trong vườn cây buổi trưa trên hè phố buổi chiều

Điều giản dị tột cùng sao lòng ta mãi xốn xang!

.

Như sợi nắng mai mỏng manh cựa mình trên cánh lá

Như khói lam chiều bị nghẹn bóng hoàng hôn

Có nỗi sợ hãi nào cứ lẫn khuất sau câu cười tiếng nói

Như thể có một ngày máu chạy lạc đàng tim.

XXX

Khăn tay nhàu nát trong tay lạnh

Giọt nước nào âm thầm rơi trên ly bia.

.

Em còn đứng trên đồi nhìn máu chảy

Loang những màu trăng thuở xuân thì ?

.

Chiều chưa nghiêng mà tôi đã say mèm

Còn ai đâu nói chuyện hoài cố nhân!

XXX

Bao năm rồi tôi chưa về Copenhagen

Tiếng còi tàu chiều nao lại rúc dậy trong hồn.

Read Full Post »

Nói đến nhà Tây Sơn, người ta nghĩ ngay rằng thủ phủ của cuộc khởi nghĩa chính là vùng đất xã Kiên Mỹ, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Kỳ thực những ngày đầu ba anh em nhà Tây Sơn đã chọn vùng đất An Khê tỉnh Gia Lai để tập hợp nhân lực, đồn trữ binh lương và dựng cờ khởi nghĩa. Ngày đó vùng đất này vẫn thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, tuy nhiên ngăn cách với đồng bằng bởi dãy núi trùng điệp nên được gọi là Tây Sơn thượng đạo…

Tư liệu về Tây Sơn thượng đạo liên quan đến cuộc khởi nghĩa của 3 anh em nhà Tây Sơn gần như không được đề cập nhiều đến trong sách sử. Sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” chỉ ghi một dòng ngắn ngủi: “Năm 1771, Nhạc thiết lập đồn trại ở đất Tây Sơn thượng đạo”. Lý giải cho việc ít ỏi thông tin này, theo những lời truyền miệng của người dân ở đây, sau khi lên ngôi vua, Nguyễn Ánh đã trả thù nhà Tây Sơn một cách hèn hạ và tàn khốc. Do đó, người dân địa phương muốn thờ cũng phải giấu giếm, và tuyệt nhiên không bao giờ đề cập đến trong các sách vở. Vì vậy những gì liên quan đến ba anh em nhà Tây Sơn hiện nay còn lại chỉ qua lời kể được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Qua lời kể dân gian, những câu chuyện dần dần mang màu sắc thần thoại. Gắn với những di tích hiện có trên vùng đất này, người ta phần nào hình dung được một thời dựng nghiệp của nhà Tây Sơn. Chuyện Nguyễn Nhạc có vợ là người dân tộc Ba Na được người dân nơi đây khẳng định là sự thực.
Vị trí hiểm địa để lập căn cứ
Theo sử sách, từ thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, Tây Sơn thuộc phủ Quy Nhơn, bao gồm từ đồng bằng phía bắc tỉnh Bình Định lên đến vùng cao nguyên phía tây dãy Trường Sơn hùng vĩ. Phía đồng bằng được gọi là Tây Sơn hạ đạo, vùng đất phía tây bên kia dãy đèo Mang hiểm trở tức đèo An Khê được gọi là Tây Sơn thượng đạo, nay là các huyện An Khê, K’Bang, Kon Ch’ro của tỉnh Gia Lai. Ngày ấy, theo lời khuyên của sư phụ dạy võ Trương Văn Hiến, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ từ vùng đất Kiên Mỹ thuộc hạ đạo đã lên đây lập căn cứ địa. An Khê có đất đai phì nhiêu, có nhiều lâm thổ sản quý, có mỏ sắt, mỏ diêm tiêu, nhiều voi ngựa… Cư dân hầu hết là người Ba Na và một số nông dân miền xuôi lên khai hoang, buôn bán.
Do những điều kiện địa lý, kinh tế, chính trị trên, Tây Sơn thượng đạo nhanh chóng trở thành căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa của ba anh em nhà họ Nguyễn. Tại trung tâm lòng chảo tức thị trấn An Khê ngày nay có một con đường mang dấu tích được đắp cao, người dân gọi là “lũy ông Nhạc”, và đây chính là trung tâm, chỉ huy sở của nghĩa quân.
Căn cứ đồn lũy của nghĩa quân Tây Sơn nằm trong một vùng đất rộng khá bằng phẳng thành một lòng chảo bởi được 4 mặt che chắn: đó là quần sơn Ngọc Linh ở phía bắc tức Kon Tum, cao trên 3.000m; hai dãy núi chạy song song theo hướng Bắc Nam là đèo Mang (đèo An Khê) và đèo Mang Yang (Cổng Trời); phía đông và đông nam có dãy Trụ Lĩnh trùng điệp bao bọc với những dãy núi cao bình quân trên 400m so với mặt nước biển; kế bên đó, con sông Ba và suối Cái làm thành hai chiến hào thiên nhiên bao bọc lấy mặt tây và nam. Toàn bộ khu vực này một lần nữa lại được bao bọc bởi một vành đai núi non án ngữ ở phía đông gồm dãy đèo Mang nhiều ngọn núi cao dưới 1.000m, sườn đông dốc đứng cùng với 3 ngọn núi lớn là hòn Bình, hòn Nhược và hòn Tào tạo thành bức tường thành thiên nhiên vĩ đại.
Trong số 3 ngọn núi nhìn về phía đông, thì núi ông Bình (chỉ Nguyễn Huệ, cách gọi khác đi để che mắt nhà Nguyễn) cao nhất, đến 814m. Đứng ở đây, nghĩa quân có thể quan sát đến tận vùng hạ đạo, bờ biển Quy Nhơn. Hòn Bình nối với hòn Nhược (Nguyễn Nhạc) bằng một lũy đắp kiên cố tạo thành thế liên hoàn án ngữ phía đông và nam. Trong khi đó dưới chân hòn Tào (Nguyễn Lữ) là khu vực gò Kho, xóm Ké, nơi nghĩa quân đồn trữ binh lương.
Mặc dù được các bức tường thành thiên nhiên là núi non bao bọc bốn bên, nhưng từ Tây Sơn thượng đạo theo nhiều con đường xuyên sơn khác có thể đi ra các tỉnh phía bắc bằng con đường sang Kon Tum xuống Quảng Nam ra Huế; còn phía nam, sông Ba và các con đường mòn dọc theo các sông, suối tạo thành nhiều đường giao thông thủy bộ quan trọng, nối liền Tây Sơn thượng đạo với vựa lúa Phú Yên và các tỉnh Nam Trung Bộ. Chính vị trí và địa hình ấy tạo cho An Khê có một địa bàn chiến lược lợi hại. Có thể coi vùng này như một bậc thang quan trọng giữa đồng bằng và Tây Nguyên. Từ đây nghĩa quân có thể tiến công xuống đồng bằng và rút về phòng thủ thuận lợi.
 
Dâng hương tưởng niệm Vua Quang Trung tại bảo tàng Tây Sơn thượng đạo.
Người vợ Ba Na của Nguyễn Nhạc 
Từ thị trấn An Khê đi về phía nam thị trấn chừng 8 cây số, người ta thấy một hòn đá hình chiếc ngai nằm bên bờ con suối Chơ Ngao tại làng Đê Chơ Gang thuộc xã Phú An. Người dân Ba Na đến giờ vẫn kính cẩn gọi đó là “to mo bok Nhạc” tức “hòn đá ông Nhạc”. Lời kể của cụ Huỳnh Ngọc Chương năm nay trên 90 tuổi, có 6 đời lập nghiệp tại An Khê, kể rằng ngày ấy có một người đàn ông người Kinh thường đến vùng này mua trầu, người ta gọi ông là ông Hai Trầu. Ông Hai Trầu vẫn thường ngồi nghỉ chân tại hòn đá này, và sau này là nơi gặp mặt hội họp tướng lĩnh. Từ đời này qua đời khác, hòn đá này được coi là vật thiêng của làng. Ông Hai Trầu chính là Nguyễn Nhạc, người khởi nghiệp của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.
Tuy nhiên, nếu không có một người con gái Ba Na thông minh và xinh đẹp giúp sức thì Nguyễn Nhạc cũng khó lòng chiếm được cảm tình của người dân Ba Na nơi đây. Nàng tên là Ja Dok (đọc là Gia – Tót), con của vị tù trưởng Ba Na hùng mạnh và giàu có. Những ngày Nguyễn Nhạc lên đây buôn bán trầu, bà có cảm nhận người này không chỉ đi buôn mà đang ấp ủ một việc lớn. Cảm tấm lòng người anh hùng, bà Ja Dok nhận làm vợ của ông. Ngày nay dân làng Si Tơ, xã Tơ Tung, huyện K’Bang không những tự hào là quê hương của anh hùng Núp, mà còn tự hào là nơi đã cung cấp cho cuộc khởi nghĩa Tây Sơn một nữ nhân anh kiệt. Dưới sự giúp sức của bà, Nguyễn Nhạc đã lấy được lòng cha bà là vị tù trưởng. Bà đã vận động cha và dân trong vùng ủng hộ cho nghĩa quân Tây Sơn 300 thớt voi, 400 ngựa và hàng trăm gùi lương thực.
Kể từ đó công việc của bà gắn với hoạt động của nghĩa quân. Hiện nay dưới chân núi Ca Noong thuộc thôn Tú Thủy, xã Nghĩa An, huyện K’Bang hiện còn cánh đồng chừng 20ha, gọi là cánh đồng Cô Hầu, và một vườn khoảng 500 cây mít, vẫn còn những cây mít cổ thụ, đến mùa vẫn ra sai quả. Đây là nơi bà Ja Dok khai phá để sản xuất nuôi quân. Ngày đó từ thị trấn An Khê đi về phía nam là con đường độc đạo bé xíu, nhưng bà và Nguyễn Nhạc cũng đã đi cả trăm dặm đường vào tận làng Đê H’lang, xã Yang Nam, huyện Kông Chro, dưới chân núi Ja Prum để thuyết phục đồng bào Ba Na nơi đây đi theo cuộc khởi nghĩa.
Tại đây hiện giờ còn dấu tích của nền nhà, nhiều mảnh ngói vảy cá, một hồ nước xây bằng đá tổ ong. Mỗi khi đi qua đây, người dân tộc Ba Na vẫn bày tỏ niềm kính cẩn. Họ nói rằng đó là nền nhà của Nguyễn Nhạc. Cách nền nhà 500m, trong một hốc đá kín đáo bên bờ suối có nhiều đồng tiền xu bằng đồng, gọi là “kho tiền Nguyễn Nhạc”. Trong đợt khảo sát năm 1990, ngành văn hóa thông tin tỉnh Gia Lai sưu tầm được 15 đồng tiền xu gửi tặng Bảo tàng Quang Trung ở Bình Định.
Người dân vùng này kính trọng gọi bà Ja Dok bằng tên ngọn Ja Prum, ngọn núi cao nhất trong vùng. Sau khi bà mất đi, người Ba Na đã an táng bà trên ngọn núi cao nhất phía đông và lấy tên bà đặt cho ngọn núi, núi Ja Dok. Ngày nay dân làng Si Tơ và cả anh hùng Núp ngày còn sống, vẫn cho rằng trong làng vẫn còn dòng giống của nữ chúa.
Truyền thuyết về một thời dựng nghiệp
Tại thôn An Thượng, xã Song An, huyện An Khê, ngay trên trục quốc lộ 19 có một ngôi miếu nhỏ, gọi là miếu Xà. Chuyện tương truyền rằng, năm 1773, khi ba anh em nhà Tây Sơn xuất quân tiến xuống đồng bằng. Khi đến khúc ngoẹo Cây Khế tại đèo Mang (là khúc cua tay áo tại đèo An Khê hiện nay), bất ngờ có một con rắn đen như gỗ mun, to như cột đình ra nằm chặn giữa đường. Trong hàng ngũ tướng lĩnh và nghĩa quân có người cho rằng đây là điềm gở, đề nghị thâu quân. Nhưng Nguyễn Huệ đã tiến lên, rút kiếm chém đứt đôi con rắn, lấy máu tế cờ và hòa rượu cho binh sĩ uống. Sau đó Nguyễn Huệ cho người trèo lên cây ké phất cờ và cây cầy gần đó nổi trống làm hiệu tiến binh. Từ lần xuất quân đó, Nguyễn Nhạc đã lấy được thành Quy Nhơn.
Câu chuyện truyền thuyết về Nguyễn Huệ như người anh hùng đất Bái trảm xà khởi nghĩa, theo lời kể của cụ Đỗ Tùng ở tại thôn An Thượng, xã Song An (đã mất). Sau khi thắng trận, Nguyễn Nhạc cho lập miếu thờ rắn thần tại ngoẹo Cây Khế, nhưng do thời gian và biến loạn nên người dân đưa miếu Xà về thôn An Thượng. Riêng cây cầy và cây ké, đã qua hơn 200 năm nên không còn dấu tích.
Để có được đội binh hùng tướng mạnh, ba anh em nhà Tây Sơn thời kỳ đầu đã có những cách thuyết phục người dân Ba Na khá ngoạn mục. Chuyện rằng lúc mới lên đây, người Ba Na thấy ba anh em Nguyễn Huệ còn trẻ tuổi nên không phục. Trước mặt dân làng, Nguyễn Huệ thách ai nhấc nổi tảng đá trên trăm cân thì làm vua. Không ai nhấc nổi, chỉ có Nguyễn Huệ nhấc lên nhẹ nhàng. Nguyễn Huệ đã cho lấy mật, mỡ viết vào lá cây rừng chữ “Nhạc làm vua, Huệ làm tướng, Lữ làm quan”. Loài kiến ăn theo đó thủng lá thành chữ. Sau đó Nguyễn Huệ sai người cứ nửa đêm lên ngọn Mò O đốt lửa. Người Ba Na lên xem, tin đó là lời Giàng phán, từ đó nghe theo.
Một kỳ công khác là Nguyễn Huệ đã chinh phục đàn ngựa rừng và từ đó thu phục vị tù trưởng Xê Đăng. Hồi đó trên núi Hình Hốt (còn gọi là núi Hiển Hách) có đàn ngựa rừng rất hung hãn, thường về phá rẫy nương của đồng bào. Nguyễn Huệ cho lựa trong bầy ngựa nhà một số ngựa cái thật sung sức, thả ra. Cứ đến chiều, ông lại ra gọi bầy ngựa cái chạy về và cho ăn cỏ. Bầy ngựa rừng lâu ngày thành quen, nhập cuộc với bầy ngựa nhà và sau này, mỗi lần ông gọi cũng theo ngựa nhà chạy đến. Vị tù trưởng Xê Đăng thấy Nguyễn Huệ gọi được bầy ngựa rừng, nghĩ rằng đây là người của Giàng, từ đó quy phục và ủng hộ lương thảo, binh lính cho nghĩa quân.
Còn rất nhiều câu chuyện và dấu tích của nhà Tây Sơn tại vùng đất Tây sơn thượng đạo này. Ở phía nam huyện An Khê, vùng Bà Giang thuộc xã Bắc Giang, có một hồ cá xây bằng đá ong mang tên “hồ ông Nhạc”. Gần đấy có một đập nước lớn gọi là “sa khổng lồ”, nhân dân địa phương quen nói “sa khổng lồ, hồ ông Nhạc”. Tương truyền rằng đó là hồ nước ăn của nghĩa quân. Kế đó có Hóc Yến và núi Lãnh Lương, nơi Nguyễn Nhạc mở tiệc khao quân và phân phát lương thực.
Ngoài việc thu phục người Ba Na, tại đây ba anh em nhà Tây Sơn cũng đã thu phục được những tướng tài cho cuộc khởi nghĩa. Tương truyền rằng khi nghĩa quân còn ở đây, Trần Quang Diệu đã từ Hoài Ân, Bình Định tìm đến. Giữa đường, Trần Quang Diệu bị cọp tấn công và ông đã đánh lại. Quần nhau nửa ngày trời, Trần Quang Diệu xuống sức và may sao lúc đó Bùi Thị Xuân cũng đang trên đường tìm Nguyễn Nhạc đầu quân, nhìn thấy và  giương cung bắn chết cọp.
Cũng trên vùng đất thượng đạo này, cơ duyên đã đưa Vũ Văn Dũng đến với nghĩa quân. Một hôm ba anh em Nguyễn Huệ đi trên một con đường hiểm yếu, nghe một tiếng quát vang cả núi rừng, chim bay tan tác. Một tướng cướp vai hùm lưng gấu nhảy xổ ra và tấn công. Nguyễn Nhạc nghênh chiến. Hai bên quần nhau mấy trăm hiệp, không phân thắng bại. Nguyễn Huệ đứng ngoài xem và thấy đường võ của tên cướp rất giống những ngón đòn thầy dạy, bèn kêu dừng trận đánh lại và hỏi. Hóa ra tướng cướp tên là Vũ Văn Dũng, cùng học võ ở thầy Hiến. Nhận ra đồng môn, Vũ Văn Dũng về đứng dưới cờ Tây Sơn và sau này lập nhiều chiến công hiển hách.
Đặng Vỹ

Read Full Post »

Em đã đến với anh

Lê Xuân Phong

Em đến …

cuộc đời anh 

giữa mùa đông lạnh lẽo

Môi em cười

là hoa nở mùa xuân

Khi chúng mình

đan vào nhau trong vòng tay thân ái

anh bàng hoàng như giữa tuổi đôi mươi

 

Anh cô đơn

con chim cánh cụt

không thể nào bay

về cõi miền mơ ước của trần gian

Anh cô đơn

con tàu mắc cạn

nghe sóng vỗ

mơ đại dương trên bãi cát bồi

 

Anh 

vụng về 

khô cứng

tảng đá xám

bãi cát ban trưa

cây sầu đông lặng lẽ …

 

Em 

mùa xuân dịu dàng tươi trẻ

hạt sương mai long lanh ánh nắng

con chim bồ câu trắng

đến đậu bên anh âu yếm hiền lành

anh đang rất buồn và rất cô đơn

anh đang bồi hồi giữa bao kỷ niệm

anh đang ngập chìm trong đau khổ

 

Rất cám ơn em,

Vô cùng cám ơn em

đã đến cùng anh chia xẻ

những tháng ngày dằng dặc suy tư

một chàng trai khao khát tình yêu

 

Hãy mang đến cho anh

Trái tim dịu dàng và tha thứ, em yêu

Anh nhỏ bé và vụng về như thể

Con chim cánh cụt sống trên băng

 

 

 

Hi i’m crazy

Read Full Post »

Truyện Ngắn

Trần Minh Nguyệt

Máy điện thoại của Diệp báo là có tin nhắm mới, không cần xem cô cũng biết là của Trường. Diệp nghĩ thầm chắc cũng chỉ là lời chúc giống như bao buổi sáng thôi, lời chúc mà không cần đọc tin nhắn, cô cũng có thể đọc được: “ Chúc em một ngày mới an lành, may mắn!”. Diệp không biết câu chúc của anh có linh ứng hay không – nhưng sáng nào không nhận được tin nhắn, hay tin nhắn đến trễ là cô cảm thấy người khó chịu, không yên, như thiếu một thứ gì đó rất quan trọng. Và cả ngày hôm đó cô dường như không làm được việc gì cả. Diệp với tay lấy điện thoại bấm xem, lời dặn dò của Trường hôm nay làm cô bật cười. Lúc nào cũng vậy, anh luôn xem cô như là một đứa em gái nhỏ cần che chở. Bảo vệ và thương yêu. Ngoài câu chúc quen thuộc, còn có thêm vài dòng mới: “ Hôm nay tiết Đông chí, trời lạnh và khí trời độc lắm, em nhớ mặc ấm, xoa dầu trước khi đi làm nhé?”. Cô mỉm cười bấm nút gọi, tiếng của một cô ca sĩ nào đó hát bài “ Vầng trăng khóc”- nghe buồn não nề, và rồi cô cũng nghe được tiếng của Trường khàn khàn ở đầu dây bên kia:

–         A Lô! Chào em! Em không đi làm à?

Diệp không trả lời câu hỏi của Trường mà cười :

–         Tin nhắn của anh hôm nay giống của ba em quá!

–         Anh phải lo cho em chứ, sức khỏe của em yếu vậy nên phải cẩn thận. Em mà không khỏe thì lấy ai cằn nhằn anh bây giờ?

–         Nói xấu em rồi, em ngoan mà…

Không có tiếng trả lời chỉ có tiếng cười sảng khoái của Trường đáp lại

Cô chào anh và tắt máy, cảm thấy lòng thật ấm áp, dể chịu.Ngày mới bắt đầu…

Diệp và Trường không phải là hai nửa dành cho nhau, dây tơ hồng không buộc hai người. Trường đã có một gia đình yên ấm và hạnh phúc. Một người vợ đài các, kiêu sa, và rất dịu dàng trong đối xử. Và họ đã có với nhau hai đứa con – một trai, một gái thông minh, xinh xắn đáng yêu như những tiểu thiên thần. Còn Diệp một cô gái quê nghèo, tầm thường, cục mịch, không có gì đáng tự hào ngoài mớ kiến thức rối bòng bong trong đầu. Cô vẫn biết vin vào tình yêu với Trường là vi phạm về đạo đức, là ngoại tình, và đáng bị lên án; vậy mà Diệp cứ như đang bị lạc vào một bến mê không thể nào tìm được đường ra.

Ngày còn học phổ thông, ngồi chung lớp. Diệp và Trường được mấy bạn trong lớp gán ghép như một trò đùa về sự tương phản, một bên là cái đẹp, sự hoàn hảo; một bên là sự xấu xí, rụt rè, nhút nhát. Có mấy câu ca dao mà chúng bạn chế nhạo cô và anh lúc đó: Gỗ trắc đem bắc ván cầu,Yến sào đem nấu với đầu tôm khô “

Ban đầu khi nghe lũ bạn ghép đôi, Trường ghét cô lắm, không bao giờ Trường nhìn cô, hay nói bất cứ điều gì với Diệp cả. Nhưng sự thông minh, và am hiểu của Diệp dần dần lấy điểm cảm tình với các bạn cùng lớp, và cả với Trường nữa. Thời phổ thông, những cậu bé, cô bé ít chú ý đến nhan sắc, đến ngoại hình, mà chú ý nhiều đến sự hơn thua trong học tập, đến tài năng và thông minh của nhau mà thôi. Cũng nhờ lợi thế này mà cô trở thành bạn gái của anh sau một lần đố vui để học do trường tổ chức giữa các lớp.

Thi đấu vòng loại xong, lớp Diệp và hai lớp nữa được chọn vào thi chung kết. Đội của cô giỏi về các môn tự nhiên,  nhưng các câu hỏi về lĩnh vực này, học sinh ở các đội khác cũng trả lời được. Vì vậy số điểm được chia đều cho ba lớp, lớp của Diệp kém hai lớp còn lại 10 điểm vì khả năng phản ứng của họ nhanh hơn. Trên bảng chỉ còn lại một câu hỏi 20 điểm về lĩnh vực văn học mà lĩnh vực này cả Trường, Diệp và Nam đều không giỏi. Nét mặt buồn, thất vọng và lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt của Trường. Cả đội đều hồi họp, căng thẳng. Thầy Sanh – Người dẫn chương trình đọc to câu hỏi: “ Trong truyện Kiều có ba nhân vật phản Diện là Mã Giám Sinh, Sở Khanh và Hồ Tôn Hiến. Em hãy tìm ba câu thơ mà trong đó có chưa ba từ nói lên toàn bộ bản chất của những người này?”.

             Nghe xong câu hỏi Trường nhăn mặt lắc đầu. Hội trường im phăng phắc, Diệp nhìn sang hai đội bạn, họ cũng đang bàn luận nhưng cuối cùng vẫn không có tiếng chuông nào vang lên. Diệp từ nhỏ đã rất thích truyện Kiều, và cô lại rất thông minh, đọc vài lần thôi mà Diệp gần như nhớ hết 3254 câu. Diệp e dè bảo Trường ấn chuông và ngập ngừng trả lời câu hỏi.

Mã giám Sinh:

“ Ghế trên ngồi tót sổ sàng”, từ “ tót”

Sở Khanh:

“ Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào”, từ “ lẻn”

Với tên quan Hồ Tôn Hiến:

“ Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”, từ “ ngây”

Trả lời xong, Diệp ngước lên nhìn ban giám khảo chờ đợi. Trong thâm tâm, Diệp nghĩ mình đã trả lời đúng nhưng cô vẫn cảm thấy lo sợ. Và Diệp không phải chờ đợi lâu, Thầy Tuân trưởng ban giám khảo đứng lên chúc mừng cho toàn đội. Trường nhảy lên, quên mất cô xấu xí,  quê mùa, quên mất đang có nhiều thầy cô, bạn bè trong hội trường, ôm chầm lấy cô xiết chặt. Một cảm giác rất lạ truyền đến trong cô, cho tới bây giờ, Diệp vẫn còn nhớ cái ôm vô thức hân hoan của Trường lúc đó.

Rồi Diệp và Trường cùng tốt nghiệp Trung học Phổ Thông, và tạo hóa một lần nữa lại trêu đùa – cô và anh đều thi và đậu vào trường Đại học kinh tế. Sống xa nhà, và nhất là không bị lũ bạn trêu chọc, nên Trường quan tâm lo lắng cho cô nhiều hơn. Tuy vậy anh chưa từng nói với cô một lời yêu thương nào mà những đôi tình nhân thường dành cho nhau. Có lúc Diệp cảm thấy tình cảm mà anh dành cho cô không phải là tình yêu mà chỉ là thứ tình của một người bạn thân, của một người anh trai dành cho cô em gái mà thôi. Còn Diệp thì ngược lại, cô đã gởi trọn hồn mình cho anh cất giữ, và mơ màng hi vọng vào một ngày mai.

Sự gần gũi thân tình này kéo dài suốt mấy năm học – Trường và Diệp đều ra trường. Với vẻ bề ngoài dể nhìn, cộng với ăn nói có duyên và tài năng, anh nhanh chóng xin được một vị trí làm việc, là mơ ước của nhiều người. Diệp chạy vạy mãi, sau cùng cũng kiếm được một công việc bình thường, đủ nuôi sống bản thân, nhưng Diệp vui nhất là được ở gần công ty Trường đang làm.

Hàng tuần anh vẫn đến thăm cô, vẫn cùng cô ăn tối, cùng cô đi dạo như những người đang yêu nhau – nhưng cũng chưa một lần Trường tỏ tình, nói với cô những lời mà cô đêm ngày mong ước. Thời gian bình lặng gắn bó như vậy cứ lờ lửng trôi qua. Hai năm sau, vào một buổi chiều cuối tuần như lệ thường vẫn hẹn nhau đi ăn tối – sau bữa ăn, Trường đưa Diệp vào vào quán cà phê “Thiên Đường” quen thuộc. Sau khi gọi cho cô cốc ca cao nóng, món uống mà cô thích nhất, và cho mình li cà phê đá – anh mở lời:

–         Diệp này! Chắc là  anh sẽ không thể đến thăm em trong một thời gian…

Cô ngạc nhiên nhìn Trường

–         Anh đi công tác xa à? Đi thời gian bao lâu vậy?

–         Không phải là đi công tác – Trường bối rối. Anh phải cưới vợ, phải làm cho xong nhiệm vụ với gia đình em à. Cha, mẹ của anh muốn có cháu để bồng…

Diệp bàng hoàng, nhìn sững vào anh – đôi môi mấp máy:

–         Anh đùa à?

Trường lấy trong túi áo lạnh ra một tấm thiệp cưới, và đưa về phía cô thay cho câu trả lời. Tên anh và tên một cô gái nằm sóng đôi, Diệp thấy hoa cả mắt. Cô muốn gào lên, muốn nhiếc mắng anh, muốn hỏi anh nhiều điều, nhưng cô không thốt lên được lời nào. Diệp ngồi im – cố ghìm những giọt nước mắt đang chực trào ra. Trường cầm lấy tay cô – siết mạnh::

–         Em đừng buồn, hãy cố lên, anh chỉ không liên lạc với em hơn một tuần thôi mà.

Diệp cắn chặt môi – thầm nghĩ: “ Anh ấy chỉ xem mình như một người bạn mà thôi? Vậy mà mình đã ảo tưởng, đã mơ mộng. Một con vịt bầu xấu xí như mình làm sao có thể sánh với Thiên nga?”. Lòng tự trọng trong Diệp trổi dậy, cô cố gắng nhếch môi cười. và nhìn đứng lên mặt Trường – chậm rải nói

–         Diệp chúc mừng anh. Chúc anh hạnh phúc!

–         Em không buồn gì anh chứ? – Trường như đọc được lòng cô.

Cô nói dối:

–         Sao em lại buồn giận anh được? – Diệp khẻ cười, anh chịu làm bạn với em là đã may mắn cho em lắm rồi.

–         Đã từ lâu anh xem em giống như em gái của anh vậy – em không đẹp nhưng em dịu dàng, thông minh, có cá tính – em đáng yêu lắm – Trường chợt cầm lấy bàn tay búp măng trắng muốt của Diệp – Anh tin chắc rồi em sẽ tìm được người chân thành, thực sự yêu em…

Diệp mở to đôi mắt nhìn Trường:

–         Nếu em không xấu mà xinh như cô vợ bác sĩ sắp cưới của anh – anh có bỏ em đi cưới vợ không?

Trường im lặng – nét mặt thẩn thờ. Như vừa đau xót, vừa thương cảm.

              Trường giữ đúng lời đã hứa, sau ngày cưới một tuần, anh gọi điện cho cô và hẹn cô đi uống cà phê buổi sáng. Diệp giận anh lắm và tự hứa với lòng là sẽ không gặp lại anh nữa – cô không muốn làm kẻ thứ ba, để cho gia đình phải anh khổ – vậy mà khi nghe giọng nói bối rối, như có vẻ hối lỗi của Trường, cô quên đi lời hứa của chính mình, cô chỉ biết là cô phải gặp Trường, vì cô đã nhớ anh suốt tuần lễ qua.

Sau cuộc gặp cùng nhau uống café ở cái quán có tên ”Thiên Đường“ thân quen cũ, mọi chuyện vẫn như xưa. Nhưng Trường quan tâm tới cô hơn trước. vẫn có thời gian rảnh là đến thăm cô và nhắn tin chúc cô an lành mỗi ngày. Còn Diệp không làm sao ra khỏi cái mê lộ của chữ tình mà Trường đã bày ra   Bao lần cô đã thầm nghĩ,  mình cũng là một người con gái, cũng cần sự an ủi, thương yêu, nhưng sao đợi chờ mãi vẫn không có người thành thật tìm đến bằng trái tim yêu thương mà cô hằng mong ước. Chỉ gặp nhiều người tán tỉnh, lợi dụng và trái tim khô cằn. Vì vậy cô vẫn yêu Trường bằng thứ tình yêu cuồng si, và trái tim nóng bỏng – nhiều lần cô muốn sa ngã cùng Trường. Nhưng anh luôn tỉnh táo để cô và anh không thể tiến xa hơn tình anh em, tình bè bạn.

Bây giờ công việc của Diệp rất ổn định, không lo gì về kinh tế, nhưng trong cô vẫn một nỗi buồn khó tả thành lời. Cô nhớ lại câu chuyện cổ tích “ Ngàn lẻ một đêm” mà cô đã đọc hồi còn bé. Diệp thấy mình cũng giống như vị hung thần kia – cô cũng đợi chờ trong vô vọng nhiều năm, nhưng cuộc sống của cô vẫn không có gì tươi sáng. Trường vẫn luôn bên cô, nhưng cuối cùng Diệp vẫn không biết hết ý nghĩa mầu nhiệm của tình yêu là gì? Phải chăng nó giống như thứ tình mà Trường đã bao năm dành cho cô? Nó mong manh. Diệu vợi. Và không thể nắm bắt?

Diệp nghĩ: Đôi khi tình yêu cũng chỉ là một thứ ảo ảnh của đời sống tạm này mà thôi. Trong đầu của Diệp, Trường luôn là một người yêu đầu ấp tay gối với cô đã bao năm để được yên vui tiếp tục cuộc sống rất nhạt nhẽo này…

Read Full Post »

Thơ cho lễ tình nhân

NOBITA Mừng Valentine

Hôm nay ngày lễ_ TÌNH NHÂN_ NOBI TA chúc quanh sân một bài..
Chúc cho quí dzị sống dai,
Dzui quài, cười mãi, sái quai….đi chỉnh hình.!
Lỡ mà Nô nói linh tinh
Bà con cô bác niệm tình…lượng thứ cho..! hê..hê.

C ù Lao sóng vỗ đẹp xinh
H oa Ti Gôn đẹp người ta ngắm quài
Ú ôn lượn cùng với Kim Mai
C ao Quãng Văn hát… nên bài tình ca

M ang Viên Long nẫu quê ta
Ư ng nhìn bóng dáng Thanh Hoa nằm chờ
N hã Nguyên đưa võng ầu… ơ
G alant luồn lách đâu bờ… liu xiu

N gô Đình Hải dáng dzịt kìu
G ọi Hùngpt chơi liều hổ cao
A ó Lụa Vàng thấy nao nao
Y ến Du tung nước hất dzào Nguyễn Quy

L ê Huy _ Nguyễn Á mê li
E m nào cũng tán Nobi..ta khùng

T ú Gàn khí tức chưn run
I m nghe tiếng gió lùng bùng xả hơi
N ẫu Nhân ngẫm nghĩ cuộc đời
H oàng Kim Chi tiếc..nhớ thời ấu thơ

N guyễn Tiết lặng lẽ ơ hờ
H oa Tường Vy ước trong mơ duyên mình
A n h hùng núp…Bùi Chí Vinh
N am Thi nhập bọn quăng sình đám đông

M ai Thanh em gái chửa chồng
Ư ớc Vũ lê đức… phòng không lạnh lùng
Ơ n trời cho được sống chung
I n trong tâm trí một vùng quê xa

B a hoa nguyên soái cười xòa
Ô m bông Bá Nghĩa ta bà kháo dzui
N ị buồn ngầu khóc sụt sùi…

T hế Thành say xỉn ngậm ngùi lang thang
H ữu Duyên giở thói ngang tàng
Á n binh chận hậu phan ngang tứ bề
N ẫu Quơi đắc ý hả hê..
G ềnh Ráng nốc rượu khà khề vấn vương

H oa Phượng rơi vãi bên đường
A ó Tím thơ thẫn nhớ thương Thiên Bồng
I nh tai Mõ Gió chơi ngông

N guyễn thị Mây khóc, Lam Hồng giã say
Ă n nhiều uống ít nói hay
M inh Huy chuốc rượu Ớt Bay bái dài

H uyền Cơ Rong Biển Khảo Mai
A i trong ba nick dzua hài tiếu lâm
I m nghe cậu “cóc” trời gầm..

N ẫu Xóm Cũ bám cô năm Xóm Chùa
G ieo mầm cấy mống búa xua
A n nhiên tự tại đổ thừa Văn Dân
N ghe tin Công Mỹ bần thần

K hinh thường Thuận Nghĩa ái ân dzỏm lè
H ồng Ngọc bác sĩ răn đe
Ô ng già Mắm Ruột khò khè lưỡi câu
N íu chưn Dạ Lữ lầu bầu
G ọi Kim Loan đến giãi sầu nỗi oan

T hương chàng Ngọc Tín đi hoang
R êu phong phủ lối khoe toàn Mẫu Đơn
Ă n chơi xong lại dỗi hờn
M ột lòng hai dạ ai hơn…ta lì..

M inh Chính nhếch mép hi..hi
Ư ng xem Tu Thuc cụng ly Dzinh rùa
Ơ kìa Quang Dũng thèm chua
Í chà ! hai tháng đã mua áo bầu

H ỏi nàng Thy lảo xa xâu
A m gần không ở ra đâu cuối đèo
I m lìm Đình Thậm ăn theo

H ái hoa bắt bướm mà nghèo trắng tay
A i cần chàng có mặt ngay
P hương xa Bất Giới chờ ngày lập công
P hàn Lê Huê chúc Xuân Phong
Y ên lành hạnh phúc con đông xếp hàng

V iết Khiêm niềm nỡ hân hoan
A nh hào tầm cỡ Chulan quê mình
L ời Tuyết vân gửi Văn Hinh
E m buồn anh cứ lặng thinh thở dài
N am nhi _ chí tại dzợ hai..
T hu Hồng _ Sống Đẹp dẫu phai ân tình
I n hình Kim Bửu lung linh
N guyễn Nguyên trao đóa hoa xinh tặng nàng
E m ơi nay hội hóa trang

D ìu nhau ta đến nhà hàng uống say
A nh em cô bác xum vầy
Y a ma ha vú….ngất ngây tình nồng !

VALENTINE 14/2 XIN CHÚC CÁC ĐÔI TÌNH NHÂN
NGÀY MỘT THĂNG HOA_TRẺ MÃI KHÔNG GIÀ

.

VALENTINE 2012

Có những chiều về qua chợ cóc

Đú đởn muốn tặng em, ví dụ – một đoá hồng

Nhưng cứ đứng, bần thần, rồi ngại..

Chẳng biết vợ mình, có chọc mình không?

Bao năm rồi em nhỉ

Từ độ em theo chồng?

Chồng em như là kẻ

Có sống cũng bằng không…

Anh lặng nhìn, lũ trẻ ranh trên phố

Và thấy lơ ngơ, giữa lấp lánh đèn mầu

Chúng ngủng nguẩy, nào gấu bông, hoa đỏ..

Bỗng chợt giật mình, ta có gì cho nhau?

Ôi thời buổi, mở cửa ra là khốn đốn

Là cơm áo sáng mai, là con cái đến trường

Là nghề nghiệp chông chênh thời khủng hoảng

Là nụ cười gượng gạo, buổi nhiễu nhương.

Nhẽ nào anh, được đổ cho thời buổi?

Và được đổ cho, cơm áo gạo tiền?

Để mỗi lúc chạm vào vùng lãng đãng

Anh tự huyễn mình, cho phép được quên…?

Chiều nay, nếu về qua chợ cóc

Nhất định anh sẽ mua,ví dụ – một đoá hồng

Và cứ thế, mặt dày tặng vợ

Kệ em rằng, có chọc hay không!

.

Đại Cáo Tình Yêu nhân ngày Valentine 2012

Từng nghe Việc yêu đương cốt ở Nữ, Nam
Do yếu lòng muốn đi tìm bạn
Như nước ta từ trước
Vốn chẳng có mười bốn tháng hai
Yêu đương Nam Nữ cũng do
Cha mẹ hai bên đồng ý
Từ già, trẻ, gái, trai
Bao đời yêu bằng thề hẹn
Cùng teen tuổi dậy thì
Mỗi khi đã lớn cần yêu
Tuy thời thế có lúc khác nhau
Song thủy chung đời nào cũng có…!!!

Cho Nên:

Mị Châu dù bán nước vẫn có Đức Lang Quân
Trọng thủy giúp vua cha, vì tình cũng không còn mạng
Nào Từ Hải chết đứng do yêu
Hòn Vọng Phu mãi trông về biển lớn
Việc Xưa Xem Xét
Chứng Cứ còn ghi…!!!

Vừa Rồi:

Nhân nhà nước hội nhập vươn xa
Để trong nước nhiều phen thay đổi
Bọn dân teen thừa cơ gây loạn
Lũ Dê bò quen thói lăng nhăng
Thay người yêu như khoác áo lên người
Tỏ tình nhố nhăng nhiều phen bệnh hoạn
Dối mẹ lừa cha đủ muôn ngàn kế
Xa rời đạo sống đã mấy mươi năm
Bại văn hóa nát cả đất trời
Yêu lăng nhăng lòng chuyên lừa dối
Người vì yêu bỏ bê việc học
oằnh lưng kiếm tiền cho bạn gái
Kẻ vì yêu tự tử bao lần
Ngán thay “chết không có kiểu đẹp”
Vét gái xinh, kiếm tìm teen trẻ
chốn chốn phố đêm
Nhiễu nhân dân, nạn mại dâm
khắp nơi tràn ngập
Tàn hại cả đấng trai hùng cao cả
Nheo nhóc thay kẻ góa vợ kiếm tìm
Thằng kiếm vợ, đứa kiếm người yêu
Tán gái bấy lâu nay chưa chán
Nay đi cầu, mai kiếm gái
Con nhà ai đẻ đặng cho vừa
Nặng nề một nỗi dân teen
Tan tác cả người đi học
Ham muốn thay, kiếm người yêu trong ngày đi hội
Tự sướng sao, lễ Ven tin có bạn trai cùng
Người người đều như vậy
Trời đất chẳng ai thương

Ta đây :

Chốn Bách Khoa bức xúc
Cũng giới trẻ như người
Ngẫm giới trẻ chúng chẳng giống mình
Căm bọn chúng thề không cùng loạn
Đau lòng nhức óc, chốc đà mấy mươi năm
Muốn đổi dân teen há phải một hai sớm tối
Quên ăn vì giận, chẳng có người yêu nên nghĩ đã lâu
Ngẫm trước đến nay, nền văn hóa chúng ta đang suy bại
Những chằn chọc khi đi đường thấy
Thấy băn khoăn một nỗi đồ hồ
Vừa khi lòng muốn đổi thay
Chính lúc dân teen học đòi Lê Văn Luyện

Lại ngặt vì:

Người giống mình như sao buổi sớm
Kẻ chưa có tình như lá mùa thu
Việc cải tổ thiếu kẻ ý cùng
Đổi dân teen, hiếm người cùng luận
Tấm lòng yêu nước
Muốn nâng cao văn hóa nước nhà
Vẫn đăm đăm muốn nói với dân teen
Tấm lòng của ta
Vẫn chăm chăm muốn mọi người cùng biết

Thế mà:

Dân teen ngày càng quá đáng
Lấy ngày của các nước Tây
Chúng ta hãy phải dốc lòng
Tự giữ lấy Văn hóa muôn đời ngàn năm còn đó
Vội vã hơn cứu người chết đói
Phần vì giận dân tình đang loạn
Phần vì lo nhiều ngày lễ phát sinh
Khi Valentin cho nó của mình
Cũng ngày lễ bên tây dân ta cùng nhận
Trời thử lòng giao cho vận lớn
Dân Teen bốn cõi một nhà
Liệu mà giữ lấy gốc ta
Chớ để hóa tha xong rồi mới tiếc
Giới trẻ một lòng đồng cảm
Hòa cảnh chung mà giữ đẹp đời
Nhận ngày lễ Tây mà đừng mất gốc
Đừng để rồi tha hóa dân ta….!!! quá đáng
Lấy ngày của các nước Tây
Chúng ta hãy phải dốc lòng
Tự giữ lấy Văn hóa muôn đời ngàn năm còn đó
Vội vã hơn cứu người chết đói
Phần vì giận dân tình đang loạn
Phần vì lo nhiều ngày lễ phát sinh
Khi Valentin cho nó của mình
Cũng ngày lễ bên tây dân ta cùng nhận
Trời thử lòng giao cho vận lớn
Dân Teen bốn cõi một nh�
Liệu mà giữ lấy gốc ta
Chớ để hóa tha xong rồi mới tiếc
Giới trẻ một lòng đồng cảm
Hòa cảnh chung mà giữ đẹp đời
Nhận ngày lễ Tây mà đừng mất gốc
Đừng để rồi tha hóa dân ta….!!!

(Nguồn :sưu tầm)

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »