Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Hai, 2011

TTCT – Đập Đá (Bình Định) được mệnh danh là đất kinh đô các vương triều cũ, nổi tiếng với thành Đồ Bàn, thành Hoàng Đế…

 

Xe ngựa chở khách đi chợ, mỗi người vài ngàn đồng. Quần quật chở thêm hàng hóa, mỗi ngày thu nhập trung bình 100.000 đồng

Như còn vương lại từ những rêu phong xưa cũ, không biết từ bao giờ, một ngã ba ở thị trấn Đập Đá “chết danh” với cái tên Bến Xe Ngựa. Sáng tinh mơ hay chiều tà, những chuyến xe ngựa chở hàng hóa, người đi chợ, trẻ đến trường gõ lộc cộc trên những con đường làng, trên lối mòn thành cũ. Tiếng nhạc leng keng rung lên giữa làn sương mai, trong màu nắng chiều hôm trên thành Hoàng Đế là âm thanh du khách khó thể nào quên.

Tham quan khu quần thể di tích, văn hóa xưa ở Đập Đá, ngồi trên xe ngựa leng keng không khỏi xốn xang niềm hoài cổ: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” (*).

Trước kia, mỗi ngày Bến Xe Ngựa có hơn cả trăm xe thường xuyên đứng bến, phân tổ chở khách, hàng hóa đi khắp nơi trong khu vực, nhất là người đi chợ tờ mờ sáng. Rồi bị những phương tiện thuận lợi hơn như xe ba gác, xe thồ, taxi thay thế, Bến Xe Ngựa dần vắng bóng xe. Chỉ còn một số xe vẫn gõ nhịp lốc cốc theo tình yêu của chủ nhân. Họ giữ nghề vừa để kiếm sống vừa giữ lại cho mình một niềm đam mê xe ngựa.

Mưu sinh trên xe ngựa bấp bênh, những ngày chợ phiên chạy được vài chuyến chở người dân đi chợ, chở hàng về làng và học sinh kiếm 100.000-200.000 đồng/ngày, ngày thường ít khách, một thời hoàng kim thổ mộ đã dần qua.

Ông Phạm Sáu, 70 tuổi, đã có hơn 50 năm chạy xe ngựa ở đây, trăn trở: “Vì mưu sinh nhiều người đã khóc khi bỏ xe ngựa chuyển sang nghề khác, họ đau buồn lắm. Xe ngựa khác với những xe chở hàng, nó biết yêu thương, gắn bó với chủ. Tôi và một số người bạn ở đây quyết giữ nghề cho đến hết thế hệ này. Chẳng lẽ bến xe ngựa lại không có ngựa?”…

Nguyễn Tiến Lợi, 17 tuổi, người trẻ nhất chạy xe ngựa ở bến này, tâm sự: “Không chỉ chở hàng, đi chợ, xe ngựa bây giờ còn làm được du lịch, quảng bá hình ảnh quê hương nên tôi nghĩ nếu mình biết khai thác thì nghề xe ngựa rất hấp dẫn và có thu nhập tốt”.

 

Xe ngựa “đổ xăng” bằng cỏ, chủ luôn chở theo dưới xe một thùng cỏ để khi nghỉ ngơi ngựa lót dạ. Chân ngựa bao giờ cũng được đóng đế bằng sắt để tạo độ bám khi di chuyển
Khách hàng thân thuộc nhất của xe ngựa là những người đi chợ phiên
Xen lẫn với phương tiện vận tải hiện đại, xe ngựa vẫn giữ một giá trị khó thay thế
Chủ rất yêu quý ngựa, xem ngựa như bạn bè. Để ngựa đẹp hơn, chủ phải tắm rửa, cắt tỉa lông, chăm sóc ngựa hằng ngày
Những chuyến xe ngựa đợi khách ở Bến Xe Ngựa. Xe ngựa cũng được quy định xuất bến theo thứ tự
Nam thanh nữ tú rất thích thú khi đi xe ngựa

TRƯỜNG ĐĂNG

__________

 

Read Full Post »

Độc thoại

Cao Văn Tam
Tuổi thơ ta một góc vườn Vĩnh Lộc
Bẹ chuối hiên nhà võng nhỏ đu đưa  
Bông bụt đỏ xôn xao con giồng giộc  
Cánh chuồn bay cao tít hội ban trưa 
.
Tuổi thơ ta trong khu rừng Cấm nhỏ 
Cánh phượng hồng khao khát tiếng ve ran  
Chú dế nhỏ ngủ yên trong bờ cỏ  
Gió nồm lên con sáo vội sang ngang
.
Ta lớn lên cũng đua đòi chữ nghĩa  
Đi làm Thầy dạy học ở Thuận Ninh 
Xa lắc xa lơ mái đình Nhơn Nghĩa 
Quê mẹ nghèo thao thức gọi bình minh
.
Đã có lúc không nghe lời tường tận  
Cũng thị thành ,cũng yêu ghét áo cơm… 
Rất này nọ và nhiều khi lỡ vận 
Mỏng cánh chuồn – ta mặc áo hình rơm
.
Ta có lúc muốn say mà chẳng được  
Bỡi em yêu không có ở nơi này  
Nâng cốc rượu ta là người say trước  
Đợi em về đâu chỉ một đêm nay…

Read Full Post »

Nhiều người thường hỏi: “Không biết bánh hỏi có từ lúc nào. Và tại sao người ta lại đặt tên là bánh hỏi ? ”. Theo người Bình Định, bánh hỏi có từ rất lâu đời. Cũng là thứ bánh làm từ bột gạo như nhiều loại bánh truyền thống khác, nhưng thứ bánh hỏi của “ Xứ Nẫu ” vẫn cứ là lạ. Lúc đầu mới làm ra loại bánh lạ nầy, ai thấy cũng… hỏi là thứ bánh gì? Cái tên bánh hỏi có lẽ đã được khai sinh từ đó?! Còn theo nhiều chuyên gia ẩm thực, bánh hỏi chính là “biến thể” của bún tươi, có ở nhiều vùng miền nước ta. Người dân Đất Võ thấy sợi bún lớn nên đã chế biến làm cho sợi bún nhỏ lại. Từ đó tạo ra món bánh hỏi.Nếu so sánh, bánh hỏi và bún có cách chế biến gần giống nhau, cùng chất liệu bột gạo, song làm bánh hỏi công phu và tỷ mỷ hơn. Đại thể, quy trình làm bánh của người Đất Võ , như sau: Gạo vo sạch, ngâm một đêm (khoảng 10-12 giờ). Xong, vớt ra đem xay nhuyễn bằng cối đá (sau này xay bằng máy xay bột). Cho nước bột gạo sền sệt vào chiếc bao vải sạch, để ráo nước. Đem hấp bột vừa đủ chín, nhồi và chia bột thành từng khối chừng nửa ký gọi là “giảo” bột – giống cách làm bánh canh. Tiếp theo, lại đưa vào khuôn, ép thành bánh. Khuôn bánh hỏi ở trên to, đáy khoan những lỗ li ti nhỏ. Bí quyết nghề làm bánh hỏi là nhờ chiếc khuôn. Lỗ khuôn quá nhỏ, bột không chạy qua. Lỗ quá lớn, sợi bánh sẽ lớn như sợi… bún.

Các khối bột đã nhào nặn sẵn, người ta bỏ vào khuôn, dùng một khối gỗ vừa lòng khuôn ép cho bột chảy ra. Bột khá đặc, lỗ lại nhỏ cần sức ép lớn nên người thợ phải dùng đến hệ thống đòn bẩy. Sức ép trên mặt khuôn rất lớn, một người ép một người bắt bánh. Mỗi lần ép đòn bẩy xuống là những vòi bột loăn xoắn tuôn ra ở đáy khuôn. Người thứ hai dùng tay ngắt ra từng đoạn nhỏ, đưa vào nồi hấp cách thủy một lần nữa mới đem ra thị trường tiêu thụ.

Bánh hỏi thời nay

Người dân Đất Võ có câu:
‘’Mưa lâm râm ướt dầm lá hẹ ,
Em thương một người có mẹ không cha ,
Bánh xèo bánh đúc có hành hoa ,
Bánh hỏi thiếu hẹ như ma không kèn…’’.

Lá hẹ ăn với bánh hỏi rất ngon. Hẹ tuy cùng họ với hành, tỏi nhưng lá nhỏ và xanh hơn, hương lá hẹ lại không gắt như lá hành tươi nên rất hợp với bánh hỏi.

Ngoài việc dùng xì dầu làm nước chấm rất ngon, bánh hỏi cũng có thể chấm với nước mắm pha loãng với gia vị là ớt, tỏi, đường, chanh, bột ngọt …

Khi ăn bánh, người Bình Định thường cho thêm chút dầu phộng hoặc dầu dừa đã khử hành chín. Dầu ăn trộn với lá hẹ xắt nhỏ, tẩm lên từng miếng bánh làm cho hương vị bánh hỏi rất lạ, kích thích khẩu vị. Khi ăn chỉ cần một làm chén xì đầu với ớt, tỏi, đường giả nhuyễn, vắt thêm miếng chanh tươi là có ngay món điểm tâm sáng thật tuyệt.

Bánh hỏi đi đôi cháo lòng, đấy là món khoái khẩu của người đất võ. Cháo lòng nấu hơi loãng với huyết heo ninh nhừ, thịt nạc băm nhuyễn, thêm chút gia vị tiêu, hành, bột ngọt cho vừa ăn. Cũng vì cách ăn này mà thỉnh thỏang ở các vùng miền khác của cả nước, quán ăn nào có bán bánh hỏi, thường cũng phục vụ kèm thêm đĩa lòng heo, dạ trường, gan, dạ dày, dồi heo … rất tuyệt.

Người Bình Định khi cúng giổ, cưới hỏi, lễ lạt đều có món bánh hỏi. Các làng nghề làm bánh hỏi truyền thống, ngon nổi tiếng vùng này có ở Quy Nhơn, Tây Sơn, An Nhơn, Tuy Phước … Mỗi ngày, các lò bánh có thể bán ra thị trường hằng trăm kilôgam.

Ở Bình Định, bánh hỏi được bán rất phổ biến. Nhưng ngon nhất là ở khu vực ngã ba Phú Tài ( TP. Quy Nhơn). Có hàng chục quán ăn với món cháo lòng – bánh hỏi, món điểm tâm dễ ăn mà cũng rất hấo dẫn với nhiều du khách phương xa.

Thực đơn bánh hỏi ở Bình Định hiện có khoảng đến… 10 món ; như: bánh hỏi chả giò, bánh hỏi lòng heo, bánh hỏi thịt nướng, bánh hỏi chạo tôm, bánh hỏi tôm càng, bánh hỏi thịt bò nướng, bánh hỏi gà nướng…

Cùng với bánh tráng , bánh ít lá gai, bún song thằn…, món bánh hỏi từ lâu đã trở thành đặc sản riêng của vùng Đất Võ. Một món ăn tuy rất đỗi bình dân nhưng lại có sức quyến rũ lạ kỳ.

Du khách phương xa nếu có dịp đến vùng đất này, cũng nên thử qua một lần cho biết! Kinh nghiệm cho thấy, nhiều người đến đây, thưởng thức món đặc sản này xong thường cũng lại hay thắc mắc: “Bánh hỏi là bánh gì?”.

Hỏi xong rồi lại muốn ăn thêm…

Theo báo Du lịch

 

Read Full Post »

Chia Tay Hẹn Hò

     Yến Du

Chia tay anh – đâu phải là chia tay mãi mãi
Mà đường em về bỗng hun hút với đơn côi
Có tiếng lá rơi bâng khuâng trong chiều tà gió thổi
Như tiếng ta chào nhau buông thả rất khẽ khàng

.

Quay lưng rồi buồn chạm gót thở than
Em bước đi dọc theo chiều dài nỗi nhớ
Anh không bên em mà vẫn nghe đâu đây nồng nàn hơi thở
Khoảng trống trong em chợt cô quạnh đến nao lòng

.

Chiếc bóng một mình tan loãng giữa mênh mông
Lối em qua có nụ hôn vương trên môi theo về ray rứt
Có vòng tay yêu thương anh cho còn ấm nồng ngang ngực
Sao lại xa rồi – Sao ngăn cách thế anh ơi ….

.

Hạnh phúc mong manh nhưng hạnh phúc vẫn tuyệt vời
Chia tay anh – nắng chiều tan vùi mình trong cỏ
Hẹn hò như còn nguyên nên hẹn hò ngậm ngùi đứng ngó
Chỉ riêng em về- chao đảo đờii mình một dáng hình anh ….

Read Full Post »

Chị Tư Rô

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

Không biết tôi đã quen biết chị từ lúc nào ….Từ khi rời thành phố HONOLULU đến định cư,ở vùng đất mới này thì tôi đã thấy chị …Hàng ngày chị đon đả mời chào tất cả mọi người ,đi đâu tôi cũng gặp chị ,ngày ấy tôi biết rõ tên thật của chị là : Phạm Thị Tư …ngày gia đình tôi đi làm thẻ xanh,  tôi gặp chị cùng đến làm …Mấy năm sau gặp chị ở nhà thờ Việt nam, Chị tỏ ra rất ngoan đạo , ngày nào chị cũng đi… ,chị bảo là mới vào Quốc tịch  Mỹ và đã đổi tên Mỹ là “ROSE ” chị đưa cho mọi người xem những tấm hình lúc chị đang tuyên thệ, lúc ấy tôi mới biết là khi ấy cũng cần phải chụp hình … Con người từ một quốc gia nghèo nàn thấp kém, nay đột nhiên bước chân vào một thế giới văn minh giàu có nhất hành tinh : Chụp hình để đánh dấu kỷ niệm và khoe khoang với bạn bè là đúng rồi…
Tôi hân hoan chúc mừng chị và được chi hướng dẫn cách nộp đơn sao cho nhanh gọn …không có chị chắc là tôi quên mất ngày tháng nào tôi hiện diện trên đất nước này …
Cứ vài hôm tôi lại gặp chị , lúc nào cũng đon đả, thân mật với tất  cả mọi người …Mỗi lần gặp chị, tôi lại biết thêm một vài việc xảy ra trong cái cộng đồng nhỏ bé của người Việt Nam : nào là ,ngày mai bầu  Chủ tịch Cộng dồng …Ngày kia họp hội Đồng hương Bình Định, tháng sau họp Hội Đồng hương  Huế…lần nào cũng nhét vào tay tôi vài mảnh giấy mời có địa chỉ ,cùng mấy lời dặn dò : nhớ đi nhen, mình làm em xi với ông…nào nào đó, những tên tuổi mà tôi chưa hề quen biết .
…Rồi mau chân chạy đến người khác thông báo tiếp …Một lần đi chợ Việt Nam,tôi lại gặp chị ,Vẫn gọn gàng, nhanh nhẹn , chân sáo đến chỗ tôi đưa cho tôi một bì thư và nói là thứứ Bày tới sẽ đến tận nhà đón tôi đi dự cuộc thi hoa hậu và Dạ vũ, tổ chức tại CHAMBLEE, cách chỗ tôi ở 1 tiếng lái xe …Rồi chị lai chạy đến nói chuyện huyên thuyên với người khác …
Sau nhiều ngày qua sự kháo nhau của mấy người bạn, sau lưng chị họ nói về chị đủ mọi câu chuyện không mấy tốt lành, tôi thường điềm nhiên nghe mà không thêm ý kiến vì biết rằng chút nữa đây , khi vắng mặt tôi hay ai đó, thì họ cũng có những câu chyện làm quà cho nhau như vậy….
Không nhiều chuyện, không phải Việt Nam, trong những mẫu chuyện vô thưởng vô phạt, những người đem làm quà cho nhau, thường hay phóng đại nhưng đôi lúc cũng là một cơ quan tuyên truyền nhanh nhất ,tuy không chính xác nhưng lại nhanh lẹ và độc đáo …
Được biết chị đang sống với một Ông , với danh nghĩa vợ chồng …Quen nhau trên chuyến tàu xuyên Đại Dương…Khi ở trại tị nạn phải ghép thành một cặp vì ông nọ trước là sĩ quan của chế độ cũ …có vợ và hai con, nhưng trong chuyến ra đi vợ con đã lạc và phải kẹt lại ở quê nhà ….thời gian trước ngày đi ,chị ngồi bán thuốc Tây Chui ở một vỉa hè Sài Gòn, ngày ấy, bao nhiêu lớp người từ các vùng miền , đổ xô về thành phố kiếm sống, không có việc gì làm để có miếng ăn ngày ba bữa, họ thường tụ tập ở những đầu chợ, từng nhóm người …gặp ai đi qua thì hỏi nhỏ ” có gì bán hông ??, những cái chợ di động này thường bị giải tán khi nhác thấy người giữ trật tự từ xa, họ gom tấm giấy nylon và sạp hàng của họ dấu vào một xó xỉnh nào đó, thường là mấy hộp thuốc Tây ,vài cái quần áo cũ ,dăm ba cái dao kéo,muổng nỉa, những thứ gì mà người ta kiếm thấy được ở nhà, họ đem ra và có người mua ngay với giá cả thương lượng, dần dà công việc này thành chuyên nghiệp và biến những đường phố Saigon Hoa lệ ngày nào, thời gian ấy bỗng có nhiều cái chợ chồm hổm.
            Lúc bấy giờ nơi này cũng là để người ta có chỗ để liên lạc thông tin cho nhau những tin tức sốt dẻo nhất về những chuyến vượt biên bằng ghe tàu, môi giới và hẹn nhau giờ giấc…
Họ gồm nhiều thành phần, nhiều giai cấp trong chế độ cũ, họp nhau ở đó kể cho nhau nghe lại những dư âm của một thời dĩ vãng mới đó mà bay xa , bấy giờ chỉ còn cách phải đi xa ,thì may ra mới tìm lại những quá khứ vàng son của những ngày quá vãng …
Trong số đó có chị, một hôm chị đang trải miếng Nylon xuống lề đường chuẩn bị đặt vào đó mấy cái hộp thuốc tây không để chào hàng, thì có người đến rỉ tai là : có chỗ đi mà không cần trả tiền trước, qua bển trả ” nghe một tin quá ngon lành, chị vội vàng quăng vội miếng nylon trải bán ở lề đường quày quả ra đi theo người dẫn đường mà không cần suy nghĩ là phải giã từ ai trước khi lìa xa quê hương đất tổ.
Chị là một người  may mắn nhất trong nhũng người ra đimà không tốn đồng xu cắc bạc nào mà đã đến Trại tị nạn một cách suông sẻ ….
Qua những lời kháo với nhau sau lưng chị, thì chị không hề làm cái công việc: qua bển trả vì qua được rồi là nhờ ơn chúa . chứ nào phải do aichỉ cần mỗi ngày đến nhà thờ đọc mấy câu kinh Kính mừng ,mấy lời tạ ơn là sạch tội .

Mặc dù đã muốn quên đi quá khứ  ,lấy mốc từ lúc đổi  đổi quốc tịch  thành một cái tên MỸ đầy lãng mạn và sắc màu là “ROSE” ,nhưng không mấy người VIET NAM gọi chị bằng cái tên ấy ,tất cả đều gọi chị là bà “TƯ RÔ “…Nghe thật là mạnh mẽ và đượm chút hài hước và châm biếm  ….Ai muốn gọi sao cũng được ,chị vận hớn hở và tự tin , ,hết thời gian học ESL, vào làm cho một ngân hàng , mọi người không ai biết là chị làm cái công việc gì ở đó ….và điều chắc chắn là khi trở về quê nhà : Đương nhiên là sẽ biến thành ,Thư ký , Giám đốc ,  ,hay chủ ngân hàng cũng không chừng ..
Qua cách chưng diện và phong cách của một Việt kiều  mang tên Mỹ …Thời gian trôi nhanh …khi ở Hải ngoại  bắt đầu nổi lên phong trào “Nhà nhà làm thơ, ,người người làm thơ “..Những tờ báo Tuần, ,báo tháng của người VN . rải ở các chợ, mỗi khi  đi chợ tôi thường lấy về đọc cho đỡ buồn, tôi thường thấy những bài thơ tự do, vô thưởng vô phạt …ký tên Phạm Thị Hoa Hồng …
Sau này mới rõ , chính những tác phẩm này là của Chị Tư Rô….THời gian sau phong trào net đa dạng, khi buồn tôi tìm đọc ở các trang mạng khắp nơi .tôi đều thấy tên chị , đôi lúc tôi cũng thầm cảm phục chị ở sự cố gắng và sự cố gắng vượt bực này ,,,có lần chị nói với tôi ,ngày xưa chị chỉ mới học hết lớp Đệ Tứ …mà chị cũng làm được những bài thơ đọc cũng xuôi tai, những bài viết ,ý không có gì độc đáo nhưng cũng được với trình độ của chị .

Sau nhiều lần rủ tôi đến những nơi có tổ chức họp Đồng Hương hay Ra mắt các nhà thơ, tôi thường không đi vì lúc bấy giờ tôi bận đi làm 2 job . nên không có thời gian …sau khi các con tôi đã lớn khôn tôi đã có một chỗ ngồi ổn định …chị thưởng xuyên đến chỗ tôi và tôi coi chị như một người thân trong gia đình ,chị thường tâm sự về chị ,về gia đình ,một cách vô tư và tự tin  về đường tình ái, ,nhưng về sự nghiệp chị vẫn như xưa …Một ngày chủ nhật  đẹp trời , chị nhất định đến chở tôi đi dự buổi ra mắt tập Thơ  của chị …nể tình chị tôi đi với chị đến buổi ra mắt này : cũng có ban nhạc ,, vài  ca sĩ địa phương ,vài ca sĩ mời ở CA. dến , khoảng 50 người tham dự ,có người giới thiệu chương trình ,có phục vụ Ẩm Thực …Sau lời mở đầu …những bài thơ của chị được ngâm bỡi chị, được phổ nhạc và ca sĩ địa phương hát …cuối cùng là dạ vũ …các ca sĩ chuyên nghiệp hát liên tiếp nhiều bài …Tôi thấy chị lăng xăng đến mời hết người này ra Sàn nhảy ,đến rỉ tai kẻ khác …chị vào thay áo hai ba lần , giống hệt các cô dâu trong ngày cưới …Tôi lùng bùng hao tai vì tiếng nhạc quá to và ánh đèn chớp lóe …đến bài thứ 3 ,là một bản Slow mùi ,mới có vài  cặp  sàn  , tất cả toàn các nhân vật đều ngoài sáu bó …
Trong đó có chị và một ông chồng của một bà bạn chị , bà ta cũng đang ngồi cạnh tôi, bà ta cảm thông nỗi khổ của chị lúc bấy giờ nên đành hy sinh cho chồng bà  khai mạc với chị …sau dó cũng có nhiều người ra nhảy, những điệu nhảy chậm chạp, gượng gạo, gợi nhớ những ngày xưa xa lắc, tôi thấy cũng không có gì nổi trội …lòng tôi chùng xuống với những âm thanh chát chúa ..
.    Chị Tư Rô  vẫn vui vẻ, chạy tới chạy lui, rỉ tai người này, nói nhỏ với kẻ nọ ….Bỗng nghe tiếng chị nói khẽ bên tai tôi :”người sắp ra với tôi là một ông trung tá không quân  “…rồi chị và một ông già tuổi ngoài 7 bó, dáng thanh mảnh, hàm răng hơi  nổi cộm ,  .dìu nhau ra sàn với điệu Slow .dìu dặt …nụ cười chị thật hạnh phúc và mãn nguyện … .hai người sàng qua sàng lại trước mặt mọi người một cách vô cùng sảng khoái ..
Tôi nghe một tiếng cạch … khô khốc và mạnh mẽ, một vật gì rơi xuống từ bạn nhảy của chị Tư Rô... ….khi bản nhạc kết thúc. Tôi thấy Ngài Trung tá đang lồm cồm kiếm tìm trên sàn nhãy , vật lạ  vừa mới vuột ra khỏi hàm trên của người .. khi đèn bật sáng, tôi thấy ông trở thành một con nhười khác ….Sau này tôi mới nghiệm ra đó chính là hàm răng giả  …Trong lúc quá hưng phấn  ,đã vượt ra rào cản của răng  miệng  ,và lạc mất giữa chốn đông người ….sau này tôi có kể lại câu chuyện này cho một đứa bạn có con là nha sĩ  ,nó bảo rằng ngày nay có cách làm răng mới , cắm một cột móc sâu vào thịt  …không bao giờ xảy ra tình huống này …Bây giờ mỗi lần gặp lại chị Tư Rô .Tôi bỗng nhớ lại sự việc này và chỉ mỉm cười vu vơ …không biết ngày ấy:  thủ phạm là cái mũi giày ” …Nhưng là của ai??? Đố các bạn nào đọc qua trang này biết được ????[nhớ cho nhận xét ]

Read Full Post »

Ngọc Hằng

Trăng nửa canh

Chong đèn đọc thơ thi sĩ

Hàn Mặc Tử

Tôi toát mồ hôi-Lặng ngưng hơi thở

Hóa cùng người bay giữa đêm thanh

Trăng xanh trăng xanh

Người là ai

Tôi kẻ hậu sinh

Xin chia cùng thống khổ

Trói cuộc đời trong giấc mơ điên

Thể phách tinh anh

Vũ trụ không-hình

Lấy cô đơn làm người tri kỷ

Read Full Post »

Những Bông Hoa Tím

Hồ Ngạc Ngữ

mỗi khi nhớ em
anh đi qua ngôi nhà có những bông hoa tím
buồn bã như nỗi đợi chờ một điều gì không thực
thấp thoáng đâu đó những bóng hình kỷ niệm
một làn hương tóc giấu trong nụ hôn nồng nàn
một bờ vai ngoan tựa vào lồng ngực
cơn gió lạnh tràn vào lưng anh một vòng tay ấm
lấp lánh ánh sao đêm
trong đôi mắt thắp lên  bao nỗi dịu dàng

mỗi khi nhớ em
anh vẫn biết tình yêu là điều có thực
đưa chúng ta về một hành tinh xa lạ
một thiên đàng không có mặt trời
không có nỗi khổ đau ngăn cách
nơi những hồi chuông bất tận thì thầm từ trái tim mình
ngợi ca và vinh danh tình yêu của con người
bằng ngôn ngữ loài hoa

lặng lẽ trong ánh nắng ấm nồng
những bông hoa tím
mang vẻ nhẫn nại của một tình yêu cuối cùng
trước khi chúng ta chia tay mặt đất

Read Full Post »

Tường Rêu

NAM THI

 

Cuối cùng, ông Minh cũng phải đi đến quyết định cho đập bỏ bức tường Đông rêu phủ để xây lại. Ngay từ khi bàn chuyện đại tu căn nhà cổ, con trai ông cũng đã thưa với ông ý định đó. Cảnh, con trai ông, trình bày: “ Nhà mình xây đã hơn bảy mươi năm rồi, tuy đã sửa chữa nhiều lần, nhưng chỉ làm phần mái và dặm vá tường, nền. Theo con, lần nầy chủ yếu gia cố nền móng và xây tường, vì nhiều chỗ bị sụt lún và nứt bể. Phần nhà trên không thay đổi gì, giữ nguyên hai gian ba chái, bây giờ người ta quý nhà cổ như nhà mình. Nhưng con xin xây lại nhà dưới, đưa bếp lên phía Tây, chỗ nhà bếp hiện nay xây một phòng ngủ mới để có chỗ cho con cháu về thăm dịp giỗ, Tết…”. Nghe con trình bày ông thấy hợp lý nhưng còn đắn đo: “ Ba đồng ý phương án sửa chữa của con đối với nhà trên, nhưng phần nhà dưới để ba nghĩ thêm…Dời bếp là chuyện hệ trọng về phong thủy, hơn nữa không nên tốn kém nhiều…”.

Căn nhà của ông trải qua nhiều đời cha truyền con nối, tính từ thời ông cao đến ông đã bốn đời, trước nữa thì ông không rõ. Nay đã đến lúc bàn giao cho con trai ông tức thế hệ thứ năm. Tre già măng mọc. Vả lại con trai ông đã gần bốn mươi, cũng làm giáo chức như ông, là hiệu trưởng một trường trung học ở một huyện khác trong tỉnh. Lẽ ra ông có thể giao cho con lo liệu mọi việc nhưng ông muốn giữ nguyên trạng căn bếp với bức tường Đông. Căn bếp do cha mẹ ông xây, còn lưu năm tháng chạm trên đầu tường: Juillet, 1937. Tường được xây bằng gạch thẻ, tô bằng loại hồ truyền thống là hỗn hợp vôi tôi trộn với chất nhờn của lá bông bụt quết nhuyễn và mật đường mía. Lớp hồ nay bị bóc từng mảng lớn và nhiều viên gạch bị thối rữa vì ngấm nước mưa trong hàng mấy thập kỷ. Khoảng năm 1967, chiến trận lan tới làng nầy, ông Minh đưa cha mẹ, vợ con lên sống ở quận lỵ, nơi ông đang dạy học. Mái nhà bị sạt một góc vì trúng đạn cối, riêng bức tường Đông của căn bếp thì lỗ chỗ vết đạn tiểu liên. Chính những vết thương ban đầu ấy làm bức tường ngày càng lở lói trầm trọng, đến nay thì không còn cứu vãn được. Khi hồi cư, sửa laị nhà ông Minh đã không dặm vá bức tường một phần vì muốn lưu lại dấu vết chiến tranh nhưng lý do chính là ông không muốn dùng ciment hiện đại. Ông có ý định mua vôi tôi, mật mía làm hồ để bức tường không bị “lai” nhưng lần lữa chưa kịp làm thì không còn tìm đâu ra mật mía vì sau nầy người ta trồng mía dọc hai bờ sông Côn chỉ để bán cây cho nhà máy đường, không còn nấu đường truyền thống nữa. Ông viện ra chuyện phong thủy và tốn kém chỉ để hoãn binh thôi. Thật lòng, ông muốn giữ lại bức tường. Còn nước còn tát.

Trên một mảng tường lở cách mặt đất gần một mét, có mọc một cây bồ đề gần hai mươi năm tuổi rồi, nếu lâu lâu ông không tỉa bớt cành chắc nó đã sum sê lắm. Lúc đầu ông Minh định chặt bỏ nhưng ông nghĩ nó vô hại, chỉ sống ké phần ngoài của tường. Kể từ đó ông cắt tỉa, tạo dáng cho cây như đối với hàng chục cây bonsai đủ loại của ông. Gốc cây bồ đề ngày càng lớn, bộ rễ tua tủa, có cái to bằng ngón chân cái. Cây bồ đề đó có đủ ba yếu tố của nghệ thuật cây kiểng là “cổ, kỳ và Mỹ”. Nó đã được hơn hai mươi năm tuổi nên cũng khá “cổ”. Nó mọc trên tường, từ vết thương chiến tranh thì hẳn là “kỳ” rồi, còn “mỹ” tức cái đẹp là do bàn tay ông chăm sóc, cắt tỉa, tạo dáng.

Dưới chân tường là một hang chuột, có từ ngày gia đình ông hồi cư vào cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Bao nhiêu cố gắng xóa bỏ cái hang chuột nầy đều bất thành vì nó được lũ chuột láu lỉnh đào âm dưới đất chân tường, luồn vào trong nhà, thông ra ngoài bằng nhiều ngách, lấp cửa hang nầy thì hôm sau chúng trổ cửa khác, đổ hàng thùng nước cũng không ăn thua. Cuộc chiến giữa chuột và người kéo dài hàng chục năm, lũ chuột chịu nhiều tổn thất nhưng chúng vẫn bám trụ ở đó qua nhiều thế hệ. Cho đến nay, ông Minh đành chấp nhận sống chung với chúng. Hằng ngày ông vẫn thấy hai con chuột cống ra vào kiếm ăn ngay cả khi ông ngồi uống trà hay nằm tòn teng đọc sách, báo trên võng mắc dưới gốc cây xoài quỳ cạnh nhà. Quen dần, chúng giống như con chó, con mèo ông nuôi trong nhà, như cặp cu đất trưa nào cũng gáy trên đọt xoài, có khi ông còn vất ít cơm thừa cho chúng ngay trước miệng hang.

Từ khi về hưu, trừ những khi mưa dầm, lụt lội hằng ngày ông Minh quanh quẩn dưới bóng cây xoài quỳ, cành che phủ một góc bức tường Đông. Một bộ bàn ghế đá rửa để ông thù tạc với bạn bè. Một cái võng trân đã cũ móc giữa gốc xoài và trụ bê-tông hàng rào B40 để ông nghỉ lưng sau khi tưới vườn rau, cắt tỉa cây kiểng…Ông ngắm bức tường thay đổi theo mùa mưa nắng. Mùa khô hạn, thảm rêu biến mất, để lại những mảng, vệt màu xanh xám đậm nhạt khác nhau, nhìn kỹ sẽ lộ ra những bức tranh thủy mặc. Chỗ nầy là dòng sông chảy, núi xa mờ trên nền trời lớp lớp mây vần vũ. Chỗ kia là biển khơi dậy sóng, chỗ nọ là hình một đạo sỹ với tà áo bay bay… Bắt đầu cuối thu, khi có những trận mưa đầu mùa là thảm rêu hiện ra mịn màng như nhung, bắt đầu từ chân tường lan rộng lên, nối kết nhiều mảng nhỏ, rồi màu xanh biên biếc phủ gần nửa bức tường… Lá cây bồ đề hình trái tim cũng chuyển từ màu vàng nhạt sang xanh ngắt. Những sợi rễ đâm dài xuống tận mặt đất để hút no nước và chất dinh dưỡng dự trữ cho mùa khô hạn năm sau. Bầy chuột đông hơn, chiều tối kéo ra vườn kiếm ăn. Nếu chúng không tách bầy, hoặc bị dịch bệnh hay săn bắt có lẽ dân số đã tăng cả đàn cả đống.

Hồi còn học trung học ở Quy Nhơn, hễ đến nghỉ hè là ông tụ tập lũ trẻ lối xóm để kèm ôn tập bài vở và chơi với nhau đủ trò từ sáng đến chiều. Chỗ cây xoài quỳ bây giờ hồi đó là gốc vú sữa tán rộng sum sê bị bão làm trốc gốc. Đó là sân chơi của ông và lũ trẻ: đánh vụ, đánh đáo, chơi ô, đánh nẻ…Vợ ông sau nầy là một trong những đứa trẻ đó. Khi ông đã ra trường đi dạy mấy năm thì bà cũng vào trường Sư phạm Quy Nhơn, nơi ông từng theo học. Bà ra trường thì lấy ông. Dường như họ chưa từng nói một lời yêu đương vì tình yêu của họ đã có tự bao giờ, có bức tường làm chứng. Họ cưới nhau mà chẳng cần một lời tuyên bố hay đính ước. Bức ảnh đầu tiên của họ sau ngày cưới chụp trước bức tường xanh rêu ấy. Sau nầy, bức ảnh chụp với dâu, rể, cháu nội ngoại cũng lấy bức tường làm phông. Bức ảnh cuối cùng ông chụp chung với vợ trước ngày bà mất sáu tháng mười hai ngày. Bà được giải phẫu ung thư vú hơn sáu năm trước, sống thêm được gần hai năm thì mất. Hai vợ chồng đứng cạnh nhau trước bức tường rêu như hồi mới cưới, nhưng lần nầy có cây bồ đề làm cảnh. Ngay cả bây giờ, mỗi khi nằm trên võng ngắm bức tường rêu ông còn thấy hình ảnh vợ như mới hôm qua: bà chơi ô khi còn bé ở góc kia , bà mặc đồ bộ điểm hoa cà tim tím đi ra sau giếng khi mới về làm dâu …

Vợ mất, các con ở xa, ông sống một mình nhưng không cảm thấy cô đơn. Đối diện với bức tường , ông tìm thấy lại những gì đã trải qua trong gần bảy mươi năm cuộc đời của mình. Những đêm trăng sáng, ông thường ngồi trên ghế đá chơi đàn, tiếng đàn guitar của ông  dội vào bức tường loang loáng ánh trăng, rồi vang vọng mãi tận dòng sông trước nhà. Bức tường dường như lúc nào cũng lắng nghe và thấu hiểu như vợ ông thuở nào.

Ngày bức tường bị hạ, từ sáng sớm ông Minh bỏ đi thăm bạn ở làng bên. Trước khi đi ông dặn Cảnh cố cạy mảng vôi tường có khắc chìm năm tháng cha ông xây dựng nhà, Juillet 1937, để gắn lại khi tô tường mới. Cảnh biết cha mình cố tình lánh mặt để anh tự do xử lý công việc. Tuy anh không biết hết những nỗi niềm sâu kín của cha mình nhưng anh hiểu ông gắn bó với những kỷ niệm về căn nhà nầy mà bức tường rêu là gần gũi với ông nhất. Chính anh, ở tuổi bốn mươi, đã bắt đầu biết tha thiết với căn nhà tổ tiên nên đã chắc chiu mấy năm nay để về giúp cha tu sửa nó. Nhiều lần anh đã nghĩ một ngày nào đó anh sẽ trở về đây và không bao giờ muốn lìa xa nữa…

Chiều tối ông Minh đạp xe về nhà. Căn bếp đã được tháo dỡ. Bức tường Đông đã bị đập quá nửa, gạch vôi ngổn ngang trên mặt đất.

–  Sao không đập hết bức tường, làm không kịp à? Ông Minh hỏi con.

–  Không, ba. Con chừa lại đó… Cảnh đáp. Con sẽ cho thợ dùng máy cắt phần tường cũ cho thẳng , giữ lại khoảng 1,5m, cắt bớt  cho thấp xuống, rồi gia cố phần móng và xây trụ ốp hai bên cho chắc để làm kỷ niệm. Tường mới sẽ xây tụt vô trong 1,2m để làm hành lang, phần tường cũ sẽ làm bức bình phong. Con đã cho cắt cẩn thận phần tường có khắc năm ông nội xây nhà, tuy vậy nó cũng bể ra mấy mảnh nhưng có thể sắp lại như cũ khi gắn phía ngoài bình phong.

–  Thế à …Lòng ông Minh thoáng vui nhưng ông cố giữ không để lộ ra. Ông hỏi tiếp- Còn cây bồ đề?

–  À, cái nầy thì dễ mà. Con bứng nguyên gốc, rễ để ba làm cây bonsai. Thứ nầy dễ sống…

–  Còn lũ chuột? Vừa hỏi con xong, ông Minh tự thấy mình lẩm cẩm nhưng dẫu sao Cảnh cũng đã nghe. Anh cũng thoáng ngạc nhiên nhưng cố lấy giọng bình thường tường thuật lại:

–  Bức tường đổ làm động ổ, hai con chuột cống tung ra chạy, một con bị anh thợ đập chết tại chỗ, còn con kia chạy thoát. Anh giấu việc mấy chú thợ trẻ đã nướng con chuột để nhậu lúc nghỉ trưa.

–  Thế à…

Ông Minh lẩm bẩm: “ Thật tội nghiệp…”, nhưng tiếng ông nhỏ đến nỗi con trai ông đứng bên cạnh cũng không nghe được ông nói gì*

* NAM THI

06-10-2011

Read Full Post »

Trước khi đi, người thanh niên nhắn với bà lão: “Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến chiều con về qua con lấy!”.Không ai ngờ, vì chờ đợi người thanh niên đến lấy rau, bà lão đứng dầm mưa suốt buổi chiều, bị cảm rồi mất.  Câu chuyện về bà lão bán rau đang gây xôn xao trên mạng xã hội Facebook.

– Ăn rau không chú ơi?

Một giọng khàn khàn, run run làm gã giật mình. Trước mắt gã, một bà cụ già yếu, lưng còng cố ngước lên nhìn gã, bên cạnh là mẹt rau chỉ có vài mớ rau muống xấu mà có lẽ có cho cũng không ai thèm lấy.

– Ăn hộ tôi mớ rau…!

Giọng bà cụ vẫn khẩn khoản. Bà cụ nhìn gã ánh mắt gần như van lơn. Gã cụp mắt, rồi liếc xuống nhìn lại bộ đồ công sở đang khoác trên người, vừa mới buổi sáng sớm. Bần thần một lát rồi gã chợt quay đi, đáp nhanh: Dạ cháu không bà ạ! Gã nhấn ga phóng nhanh như kẻ chạy trốn. Gã chợt cảm thấy có lỗi, nhưng rồi cái cảm giác ấy gã quên rất nhanh. “Mình thương người thì ai thương mình” cái suy nghĩ ích kỷ ấy lại nhen lên trong đầu gã.

– Ăn hộ tôi mớ rau cô ơi! Tiếng bà cụ yếu ớt.

– Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về mà cho lợn!

Tiếng chan chát của một cô gái đáp lại lời bà cụ.

Gã ngoái lại, một cô gái cũng tầm tuổi gã. Cau mày đợi cô gái đi khuất, gã đi đến nói với bà:

– Rau này bà bán bao nhiêu?

– Hai nghìn một mớ. Bà cụ mừng rỡ.

Gã rút tờ mười nghìn đưa cho bà cụ.
– Sao chú mua nhiều thế?

– Con mua cho cả bạn con. Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến chiều con về qua con lấy!

 
Bức ảnh được đăng tải cùng câu chuyện trên Facebook gây xôn xao

Rồi gã cũng nhấn ga lao vút đi như sợ sệt ai nhìn thấy hành động vừa rồi của gã. Nhưng lần này có khác, gã cảm thấy vui vui.

Chiều hôm ấy mưa to, mưa xối xả. Gã đứng trong phòng làm việc ngắm nhìn những hạt mưa lăn qua ô cửa kính và theo đuổi nhưng suy nghĩ mông lung. Gã thích ngắm mưa, gã thích ngắm những tia chớp xé ngang trời, gã thích thả trí tưởng tượng theo những hình thù kỳ quái ấy. Chợt gã nhìn xuống hàng cây đang oằn mình trong gió, gã nghĩ đến những phận người, gã nghĩ đến bà cụ…

– Nghỉ thế đủ rồi đấy!

Giọng người trưởng phòng làm gián đoạn dòng suy tưởng của gã. Gã ngồi xuống, dán mắt vào màn hình máy tính, gã bắt đầu di chuột và quên hẳn bà cụ.

Mấy tuần liền gã không thấy bà cụ, gã cũng không để ý lắm. Gã đang bận với những bản thiết kế chưa hoàn thiện, gã đang cuống cuồng lo công trình của gã chậm tiến độ. Gã quên hẳn bà cụ.

Chiều chủ nhật gã xách xe máy chạy loanh quanh, gã vẫn thường làm như vậy và có lẽ gã cũng thích thế.

Gã ghé qua quán trà đá ven đường, nơi có mấy bà rỗi việc đang buôn chuyện.

Chưa kịp châm điếu thuốc, gã chợt giật mình bởi giọng oang oang của một bà béo:

– Bà bán rau chết rồi.

– Bà cụ hay đi qua đây hả chị? Chị bán nước khẽ hỏi.

– Tội nghiệp bà cụ! một giọng người đàn bà khác.

– Cách đây mấy tuần bà cụ giở chứng cứ ngồi dưới mưa bên mấy mớ rau. Có người thấy thương hỏi mua giúp nhưng nhất quyết không bán, rồi nghe đâu bà cụ bị cảm lạnh.

Nghe đến đây mắt gã chợt nhòa đi, điếu thuốc chợt rơi khỏi môi.

Bên tai gã vẫn ù ù giọng người đàn bà béo kia…

Gã không ngờ……..

Read Full Post »

Khất thực

Từ Sâm

Trên  con  đường

đốm nón tròn như chùm electron nhiều màu

bắn

từng vệt đường tốc độ

như mũi tên lao về nơi  không  đích

vỉa hè cài bẫy

hố tử thần không đáy

một nhà sư  khất thực 

áo nặng trĩu nắng chiều

đầu tròn  đá cuội

chầm chậm  trôi

như dấu lặng trên bản giao hưởng

đồng tiền không nơi trả giá

sự hào nhoáng không chiêm ngưỡng

mùi đời  vẩn vơ quanh bình bát

sự lặng yên độc diễn

nhà sư  khất thực

chân hôn vào đất

tôi

nương bóng cà sa

khất thực nhà sư 

.

nha trang 12/2010


Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »