Feeds:
Bài viết
Bình luận

Nơi không có thời gian

Nguyễn Đông Nhật

.

Dường như trong cuộc đời của không ít người, hiếm khi có được khoảng thời gian yên tĩnh kéo dài, dẫu chỉ vài tháng, thậm chí vài tuần chẳng hạn. Hẳn nhiên, khái niệm ” yên tĩnh ” là để chỉ một trạng thái bình an của tâm thức ở cấp độ cao hơn những diễn biến tâm lý bình thừong hằng ngày nhưng cũng rõ ràng, chưa phải đã vươn tới tầng nấc sâu xa trong khái niệm về sự tịch tĩnh , hiểu như một kết quả trong quá trình tu tập. Lan man như thế, để nói rằng, thoi gian sống của đa số người trong chúng ta thường bị tiêu phí đi khá vô ích , và cũng để nói rằng dường như tôi đã may mắn thọ nhận được niềm hạnh phúc ấy trong những ngày mùa đông năm vừa qua, dưới mái chùa Quán Thế Am, bên ngọn Kim Sơn thuộc khu vực Non Nước ( Đà Nẵng ). Trong đời, có nhiều điều đã quên đi, có những khuôn mặt lờ mờ hiện lên trong bóng tối của ký ức, có những kỷ niệm cay đắng hay ngọt ngào lướt qua trong ánh chớp của chiếc đèn kéo quân hoài niệm; nhưng hơi thở tàn đông trên rặng cây nắng chiều trước sân chùa, vầng trăng sáng ấm bên thềm núi, những trận gió đẫm mùi vị biển khơi giận dữ rung mình trên mái tôn những đêm mùa đông Trung bộ. . ., tôi biết, sẽ còn đẫm nét cho đến dài lâu, nếu như không muốn nói rằng mãi mãi, trong tôi.

Hạnh, vợ một người bạn và xem tôi như anh trai chở tôi đến chùa, hôm sau mang đến cho tôi bồ đoàn, tọa cụ và vài thứ cần dùng hằng ngày. Chưa hề quen biết ai ở ngôi chùa này, tôi đến và đã được sự đồng ý của vị tu sĩ trụ trì cho phép lưu trú hai tháng để cầu nguyện cho cha tôi , vừa mới qua đời. Như một người khách được Lòng Thương Yêu chào đón , tôi được nhận như là một người quen biết từ lâu. Tôi được tự do sắp xếp giờ giấc và công việc của mình. Suốt trong thời gian gần hai tháng ở đây, chỉ có mỗi một lần tôi cùng tham gia việc dọn dẹp phòng lụt, sau khi đến chùa mấy hôm. Đêm ấy nước lớn nhanh, dâng lên quá bậc thềm trước sân chùa. Cùng với các thầy và các chú, chúng tôi chuyển những chậu hoa kiểng và cây giống len vị trí cao hơn, đên một giờ khuya. Lại thêm một lần hiểu cái tình cảm giữa những người mới gặp nhau lần đầu nhưng dường như đã quen thân từ lâu, cái tình cảm vừa tự nhiên vừa sâu xa mà với những người đã biết nhau có khi cả vài mươi năm, vẫn không có ” điểm chung ” nào cả !

Những ngày mùa đông Kim sơn, tôi có được sự yên tĩnh để nhìn lại đời mình. Bao nhiêu năm nổi trôi theo nợ áo cơm, tôi đã đánh mất nhiều thứ. Tâm hồn bị vẩn đục dần đi, dù tôi vẫn thường xuyên chống chọi sự mài giũa vô danh của những hệ lụy đời thường. Lòng Yêu trước cuộc đời có lúc tưởng như khô cạn trước bao nhẫn tâm vẫn ngày ngày bày ra trước mắt. Trong ánh sáng héo hắt của hồi ức, những khuôn mặt bạn bè và người thân hiện về, gần và xa trong nỗi ngậm ngùi của sự đành lòng trước nỗi chia ly. Cả những người một thời từng sẻ chia bao say mê hay những người tôi dã gửi gắm thương yêu, giờ đã bước đi trên những đường khác mà tiếng gọi thầm của trái tim tôi không đủ sức kêu gọi quay về. Những giấc mơ thời trẻ tuổi đầy ảo vọng nhưng tràn trề quyến rũ đã tan biến. Những giấc mơ khác xuất hiện, dẫn tôi đi xa dần cõi quê chung mà những năm về sau này, tôi càng thấm thía hơn khi nhớ lại lời của =ức Trần Thái Tông : Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách / Nhật viễn gia hương vạn lý trình ( Khoá hư lục ). Và tôi tự dặn lòng, có lẽ công việc quan trọng nhất từ đây cho đến cuối đời, là phải thường xuyên cố gắng để trở lại, để hoà nhập từng bước sâu hơn vào cái không – thời – gian ấy. Cầu xin Đức Quán Thế Am từ bi gia hộ cho kẻ vẫn còn tràn đầy phiền não tội lỗi này.

Những ngày mùa đông Kim sơn, hồi ức chiến tranh trở lại, vừa mất hút dần đi vừa sắc nét hơn, như sự sinh nở của kỷ niệm. Đôi mắt người đồng đội trước khi khép lại vĩnh viễn van còn in bóng màu hoa lim vàng trên cao, nơi một cánh rừng Trường sơn khuất lối. Những mảnh áo quần sậm màu máu bầm đen của những nữ du kích vô danh vương vãi trong những gốc tầm vông trên vùng đất khét bom đạn Củ Chi. Những đêm mùa rét của đại ngàn Trị Thiên, nằm dưới bóng rừng thâm u, hoài công tìm giọt sao rơi qua kẽ lá. . . Tấ`t cả đớn đau và rực rỡ của những năm tháng gian khó ấy, giờ đây hiện lên đẫm nét. Ký ức không hề đào thoát và cũng chẳng là rào chắn, cứ bồi đắp dày lên mãi, cho tôi hiểu rằng, tôi không thể hủy diệt nó cho niềm an vui của riêng tôi.

Những ngày mùa đông Kim sơn, tôi thường hướng về cha tôi và những anh chị tôi đã không còn trên cõi này. Tôi biết rằng họ vẫn còn ở đâu đó và tâm thức họ vẫn hướng đến một cõi khác tốt đẹp hơn, trong vận động của một dòng sống không ngừng nghỉ. Tôi có thể làm gì đây cho họ, ngoài chút nỗ lực nhỏ nhoi trong mong cầu đem đến sự vượt thoát cho những người thân yêu của mình. Nhưng tôi hiểu rằng, cố gắng của tôi chỉ là chút tha lực yếu ớt, rằng Lòng Yêu Thương của tôi chưa đủ rộng để có thể tạo nên một chuyển dổi nào đó trong cõi u huyền kia.

Những ngày mùa đông Kim sơn, tôi có dịp để cảm nhận máu thịt hơn về cái mà tôi gọi là Niềm Yêu Rộng. Từ những tu sĩ gặp hằng ngày, từ sự chơn phác của những tiểu những điệu tuổi còn nhỏ hơn người con út của tôi. Và từ một người bạn mà tôi quen biết chưa lâu nhưng lạ thay, đã thân thiết như từng là tri kỷ. Nơi người bạn ấy, tôi học được sự dịu dàng của trái tim người và Tình Thương Rộng Lớn, vượt qua những xét đoán dung tục của thói thường. Những năm gần dây, tôi hướng sinh hoạt tinh thần của mình theo một hướng khác, rời bỏ dần những tiếng động của đời sống thường nhật. Nhưng đồng thời với việc quay tìm tiếng nói bên trong, tôi cũng buồn rầu nhận ra đấy là một hành trình gian khó ngàn lần mà dường như trên con dường ngui ngút ấy, tôi đã không còn đủ sức lực và thời gian để bước đi, bởi những sức nặng ám ảnh vẫn đè lên trái tim mình yếu ot. Bạn đã đến và nâng tôi dậy. Tấm lòng bạn đã chứa đựng tôi và dẫn tôi đi tiếp trên cung đường mới. Cho phép tôi gọi bạn là ngôi – nhà – của – những – đám – mây – tôi, đang buồn bã lang thang trong cuộc truy tìm câu trả lời cuối cùng. Nhiều đêm, người bạn tôi hiện lên trong giấc mơ với đôi mắt màu nâu sáng êm dịu, trong bóng mây trắng bồng bềnh đang chậm rãi dâng lên bầu trời xanh cao. Mây trắng, trong biểu tượng Phật giáo, là hình ảnh của giải thoát. Tôi không biết mình sẽ trôi về đâu trong mười phương vô tận ấy nhưng dường như tôi đã mơ hồ nghe được tiếng vọng của lời đáp tối hậu. Nhiều năm trước, trong một bài thơ dài viết từ một người bạn khác, tôi cũng đã nghe những âm vang ấy. Khi đó, cảm thức thi ca chiếm phần lớn trong trạng thái tâm thức ấy. Nhưng lần này thì rõ hơn, có cảm giác dường như tôi chạm được vào sự yên tĩnh kia. Lòng tôi có chút an ủi, vì chân thực hiểu rằng, mình cũng chưa đến nổi chôn chân một chỗ trong khi thời gian vật lý của xác thân này vẫn không ngừng tiến về huyệt mộ đã chờ sẵn phía trước. Và trong tôi thầm lặng dâng lên lòng biết ơn sâu xa gửi về bạn, để thêm một lần nữa hiểu rằng, chỉ với Lòng Yêu rộng lớn, con người mới có thể vượt qua sự chi phối của những cái Không Thường,

Những ngày mùa đông Kim sơn, tôi có dịp quay lại một tứ thơ đã viết cách nay mười mấy năm. Trong bài thơ ấy, ở một đọan trước, tôi cho rằng ở tuổi năm mươi, cuộc đời đẹp hơn và buồn hơn. Trong phần sau, sự thật được hóan vị đảo ngược : cuộc đời buồn hơn và cũng đẹp hơn. Tiến trình nhận thức về ý nghĩa cuộc sống lấy bệ phóng từ chỗ nhận ra sự bất định và mong manh của vạn hữu nhưng không dừng lại trong sự bế tắt của chủ nghĩa hư vô mà sự thức tỉnh đầu tiên ấy chỉ có ý nghĩa khi nó tiếp tục dẫn con người bước đi tiếp trong cuộc tồn sinh, không ohải để nói lời chia biệt với cuộc sống này mà ngược lại, quay tìm những giá trị lâu bền vốn vẫn tồn tại giữa đời này. Đến đây, tôi lại chợt nhớ câu nói của một nhà văn nước ngòai mà tôi đã đọc gần bốn mưới năm trước nhưng ngày ấy, ở độ tuổi thiếu niên, làm sao tôi co thể hiểu một cách trọn vẹn: “Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha tha thiết yêu thương trần gian điên dại này”. Giờ đây, tôi chia sẻ sâu xa hơn câu nói ấy và nếu được phép “triển khai” ý nghĩa, tôi sẽ thêm vào cái ý tưởng rằng, cuộc đời “buồn hơn và cũng đẹp hơn” vừa nói ở trên. Đẹp hơn, vì dù trái tim người có bị những ma chiết vò xé đớm đau thì nó đã được bảo bọc bằng Niềm Yêu Rộng. Như thế, cuộc đời lại hiện ra trước mắt con người trong một bình diện trí tuệ hơn, khi nó phát lộ cho chúng ta hiểu ngộ rằng, cái khái niệm ( đành phải dùng từ khái niệm này vậy ) THƯỜNG và VÔ THƯỜNG không gì khác hơn là TÂM SOI CHIẾU của con người trước vạn hữu. Cũng như thế, Hạnh Phúc chính là Khổ Đau và ngược lại. Từ bệ phóng thứ hai này ( tạm gọi như thế ), thêm một cái mốc – kêu – gọi nữa xuất hiện : ấy là cái mà kinh sách gọi là “KHÔNG DÍNH MẮC “. Tôi xin dừng lại ở đây, vì không dám rơi vào chỗ “phiếm bàn” những gì mà mình chưa trải nghiệm. Và thầm dặn lòng hãy thường xuyên nhớ đến lời chỉ dạy của bậc đạo sư vĩ đại : Đứng lại thì chìm xuống, bước tới thì dễ lầm lạc, chỉ có vượt qua, vượt qua không ngừng. Gió không ngừng thổi qua ngọn Kim sơn. Gió vẫn không ngừng thổi qua mọi niềm thịnh suy, hưng phế. Phải chăng, gió là sự vượt qua ? Để đến chốn nào. Đến với Lòng Yêu Thương ? Đến với cuộc đời này ? Đến chỗ của cái CÓ và cái KHÔNG ?, trong một hòa điệu vắng bóng mà có thực .

Để dọn mình cho sự yên tĩnh, tôi đã cho phép mình không đọc, không viết gì trong suốt thời gian ngụ ở Quán Thế Am tự. Vậy mà hôm 25/11/2004, một ngày mưa bão gào thét, đứng nhìn lá cây bay rào rạt, nhìn tượng Quán Thế Am bằng sa thạch đứng trầm mặc dưới trời u ám, tôi viết theo lối tẩu bút mấy bài đỏan cú. Sao có chép tay và gửi vào tòa sọan báo Giác Ngộ . Bên lề sổ tay chép bài thơ, không hiểu sao tôi lại mù mờ ghi thêm dòng chữ :” Loại này khó in báo Giác Ngộ; nếu in, phải chăng có cơ duyên quay lại với Ngũ Hành sơn ?”. khoảng nửa tháng sau, anh Miên Long vào tìm tôi và hỏi, anh có thơ in trên GN phải không? Ay là do anh ML “lọai suy” mà nói thế. Bởi vì cái tên Nguyễn Thiên Trung ghi trên bài thơ, giờ đây chỉ còn vài người làm công tác nghiên cứu văn học tại các đô thị miền Nam trước năm 1975 và dăm người bạn biết mà thôi. Sau đó thầy Sĩ đưa cho tôi xem tờ báo ngày 9/12/2004, có in hai bài thơ ngắn ấy.. Tôi không nghĩ là lời ghi bất chợt trong sổ tay là điều “vận” vào bản thân, bởi tôi vẫn chưa biết có dịp nào quay lại ngôi chùa đã để lại ấn tượng tốt đẹp rong tôi hay không ? Tôi vẫn còn “lênh đênh” biết bao : tôi vẫn chưa biết mình sẽ như thế nào, sẽ làm gì, đôi khi, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi ! Nhưng tôi lại ngoan cố tự an ủi rằng, có quay lại ngôi chùa này hay không, không phải là chuyện của một sự chuyển dịch cơ học bình thường. Bởi tôi hiểu rằng, dù xa xôi đến mấy, có một lúc nào đó, những gì tôi đã thọ nhận trong mùa đông Kim sơn sẽ hiện ra trong tôi như một cơ thể sống, không cần biết đến những giới hạn của thời gian hay sự ngăn cách của không gian. Bởi vì những rào cản này là không có thực, như câu thơ tôi đã viết trong ngày mưa bão vừa nói ở đọan trên : Bão đông quét vào Nam bộ / Nước giội vách Ngũ hành sơn. Mười sáu năm trước, trong một buổi chiều về lại cái thịc xã buồn thiu của những năm tháng thiếu thời, nhớ đến một người bạn gái thân mến, tôi rơi vào ước muốn vượt thóat khỏi những trói buộc dường như mỗi ngày mỗi nhấn chìm tôi, đồng thời lại hiểu rằng, mình chỉ có thể tìm thấy chút an ủi khi nhận ra tất cả sức mạnh của những rào cản : Muốn sống bên ngoài các giới hạn/ mà thời gian giăng khắp mọi miền / Bước đi giữa một hoàng hôn gió / Tiếng ghế khua bên nhánh tay mềm .” Mười sáu năm chỉ để đi được một bước ngắn ngủi như thế, cho tôi hiểu rằng, mấy mươi năm sống trên đời chỉ là một khoảnh khắc trong dòng sống miên viễn. Và thêm điều này nữa, con người vẫn còn cất lên tiếng kêu cứu không biết đến bao giờ mới chấm dứt. Nhưng đồng thời tôi lại tin rằng, lẩn trong tiếng kêu cứu nạn ấy, vẫn luôn luôn âm vang tiếng trả lời đâu đó trong hư không, trong chính từ đáy sâu lòng người, miễn là con người còn biết thức tỉnh, còn biết cất lên tiếng kêu mong muốn vượt ra khỏi cái khổ não vốn ẩn sâu trong bao kiếp đời trôi giạt. Tiếng trả lời ấy, chính là tiếng Quán Am dịu dàng mà tôi đã may mắn thêm một lần thọ nhận trong những ngày mùa đông Kim sơn.

Với riêng mình, cho tôi gọi những ngày tháng ấy và nơi ấy là, nơi không có thời gian.

Và tôi tự dặn lòng, có lẽ công việc quan trọng nhất của tôi từ đây cho đến cuối đời, là phải thường xuyên cố gắng để trở lại, để hòa nhập từng bước sâu hơn vào cái không – thời – gian ấy. Cầu xin Đức Quán Thế Am từ bi gia hộ cho kẻ vẫn còn tràn đầy phiền não tội lỗi này.

Cũng may là còn

Phạm Đươmg

.

Cũng may là còn sông Hương

để anh biết đường trở lại

những con bò bình yên gặm cỏ

chỉ lối anh về

..

những trái bí trái bầu

lớn lên lớn xuống

để anh còn một góc quê hương mà buồn

xạc xào vườn chuối ngày gió đông

không ồn ào chốn com lê cà vạt

gốc mai già trăm tuổi

để anh cúi đầu mỗi độ vàng bông

mà không thấy xấu hổ…

.

cũng may là còn sông Hương

để anh nhớ đường về

ngô đồng thẫm xanh chim phượng

à ơi chuột chạy cùng sào

ta đâu là con chuột

lũ lụt đẩy ta xa bụi trúc bụi tre

vẫn nén câu thơ ứ đầy trong ngực

muốn thét một tiếng cho vỡ giọng để còn

được thở

.

cũng may là còn sông Hương

làm chiếc lông ngỗng

cũng may là còn có thơ

để anh tát cạn vui buồn trần thế

trong mơ gặp một con bò

bình yên gặm cỏ…

Tháng ba ở rừng Tân Hạnh

Trần Thiên Thị

.

ngày có tới ba mùa

xuân đã trọng

sớm mai nói chuyện với gió bấc

bằng tiếng ho trong cổ họng

buổi trưa nưng nức nắng

còn một buổi chiều

chưa biết mưa gió gì đây

.

năm còn mới

việc vàng chưa phải vội

làng vừa u ầm tế xuân

rồi lại sắp thanh minh

gán cho gió mưa nỗi muộn phiền của mình

nên những ngày mới chần chừ

đến với nỗi lo bị ức hiếp

.

mộ còn thơm mùi nhang mới

dủ dẽ nở

những nụ cuối cùng

tháng ba

như một lằn đạn

cày lên từ tấm bia của thế kỷ trước

bây giờ còn mùi thuốc súng

.

cô gái bước ra

từ xóm nhà

sau nghĩa trang Tân Hạnh

quần jeans

áo dây

gởi lại cho oan hồn uổng tử

và những chú bò hiền

một mùi khuynh diệp rất thơm

vẫy tay chào

những vạt ruộng cuối cùng

Trần thiên thị

Gặp lại Đông Hà

Phạm Văn Phương

.

Mấy chục năm trôi, tôi về Quảng trị

Gặp lại em qua khuôn mặt bạn bè

Chiều Thạch Hãn

       Mưa lên Thành Cổ

Đêm thanh bình ướt một nhánh sông quê

.

Ôi gió cát,sim mua gần gũi

Thật rồi ư, tôi đã chạm Đông Hà

Thương nhớ ạ, giá mà em biết được

Tôi một mình nơi quán trọ đêm qua

.

Tôi lặng lẽ cùng Quán Ngang, Dốc Miếu

Em vể đâu?-Sông nhỏ bên đời…

Hoa Phượng thắp một niềm tiễn biệt

                     trong ngày không vơi

.

Thương nhớ ạ, chỉ mỗi mình em biết

Ngày hồn nhiên-hoa bướm hát bên đồi

Ngày trong vắt-trái đầu mùa dịu ngọt

Mà hương đằm còn đọng trên môi

.

Đông Hà nắng

Đông Hà mưa bất chợt

Em xa xôi mấy chục năm rồi

Tôi gặp lại trong ngày tóc trắng

       Một Đông Hà riêng tôi!

Về Ngõ Lý

Đào Viết Bữu

.

Về góc làng em

Ngõ Lý

Đối mặt hàng cau ray rứt năm dài

Mưa sang hạ mon men chân khách

Lộp độp rơi trên lá bói lòng tay

.

Về góc làng em

Áy náy

Cây gòn xuân trăm cho tuổi bên đình

Cây thu cả bao “tai trời ách nước”

Mượt giọng khách giọng nam “làm tội làm tình”

.

Về góc làng em

Điểm cốt cầm tinh

Con mèo tôi rong hoang hay xa xứ

Ơn bạn nặng tình dưỡng nuôi câu chữ

Ngẫm sâu xa nghĩa đât lạnh biết buồn.

Đậu hũ nhớ thương

Đào Thị Thanh Tuyền

.

1. Một lần, bạn bè hai thứ tóc có dịp ngồi với nhau, chuyện lan man quay về ngày thơ ấu, trong đó chén đậu hũ và cục đường tán một thời là nỗi thèm thuồng của tuổi thơ, tuổi mới lớn, cơ thể cần chất ngọt và thường trực nỗi thèm ngọt.

Cái thời, cục đường tán là món quà quê nghèo chờ mẹ đi chợ về, lục giỏ, thấy có gói đường, mở ra, nhón một cục nhưng chỉ dám bẻ một góc bỏ vô miệng. Mẹ mua về với nhiều mục đích chứ đâu phải để… phung phí “ăn sống”. Có bạn kể, thức khuya học bài thèm ngọt, xuống bếp mở chạn lấy cục đường tán không dám cắn vì sợ ngoại biết mà chỉ… mút một chút cho qua cơn buồn ngủ. Mỗi đêm như thế, cục đường tiêu tán dần dần, tất nhiên ngoại biết nhưng chẳng bao giờ nói ra. Cục đường tán hồi đó dạng như hột xoài nhỏ, có hai màu đậm và nhạt hơn chút ngoài nhiệm vụ làm nguyên liệu kho cá, thắng màu, nấu chè… còn là cục kẹo của trẻ con.

Trong giỏ của mẹ, hôm còn có cái bánh tráng nướng. Lại thêm một món quà quê đặc biệt mà phải chờ thắp nhang ông Địa xong mới được ăn. Trước đó, trong nhà có ai làm mất món gì như: chìa khóa, những thứ vặt vãnh tìm mãi không ra, thế là mẹ cầu cứu ông Địa. Hay làm sao, món đồ tìm thấy được và cái bánh tráng kèm tán đường là món quà “trả ơn”. Đừng nói chuyện tâm linh nghe to tát, chỉ là một “luật chơi” bất thành văn, vui vui thôi mà!

Từ tán đường, câu chuyện chuyển sang chén đậu hũ, món ăn vặt giấc xế. Thật khó quên từ tiếng rao cho đến cảm xúc khi bưng chén đậu trên tay và hít hà mùi gừng trong nước đường, mùi đậu non, thơm nhẹ nhàng, ấm áp.

Một đầu gánh là cái khạp sành đựng đậu hũ, được bao một lớp vải dày, đặt trong cái giỏ tre; ngoài nắp đậy, còn một lớp vải cho mục đích giữ nóng. Một đầu gánh là cái “kệ gỗ”, bên trên úp chén, ngăn giữa có xoong đường, dưới cùng là thau nước và các thứ linh tinh khác… Theo thời gian, gánh đậu hũ nhẹ dần, khạp sành được thay bằng bình nhựa giữ ấm, đầu kia là cái rổ, thau nước, bên trên có cái mâm…

Trên đời này, thứ gì tượng trưng cho sống chậm chỉ có thể là ăn đậu hũ. Vừa thong thả mà lại thanh cảnh, chậm rãi từ người bán cho đến khách ăn.

Thả đòn gánh xuống đất, bà bán hàng không vội, lấy cái nón trên đầu xuống quạt vài cái cho mát, không chỉ thói quen mà còn là “để thở” chút xíu mới bắt tay múc chén đậu cho khách. Giở cái nắp, bà cũng chưa múc đậu nếu thấy có lớp nước phía trên. Lấy cái chén, bà gạt nước cho vào chén. Nước này sẽ bỏ đi, nhưng có thể ai đó thích dùng. Nước trong, không vị nhưng dậy mùi thơm của đậu non, lá dứa…

Vài ba gạt đậu hũ là đầy chén, cho dù sẽ múc tiếp chén nữa vì có nhiều khách đang chờ, thế nhưng quen tay bà bán hàng phủ tấm vải lại. Một muỗng đường thắng, màu vàng sậm, trong, huyền phù những sợi gừng giã nhỏ thành một chén đậu hũ thơm nồng. Sống chậm là đây, không phải vì đậu nóng mà còn bởi nó mỏng mảnh, thanh tao, “cảnh vẻ” quá, khiến cho khách phải nhẹ nhàng, chậm rãi tận hưởng cho bằng hết vị ngon.

 2. Hồi mới vào Sài Gòn, ăn chén đậu hũ, có nước cốt dừa và hỗn hợp nước đường có gừng, lợn cợn những hạt bột lọc, tôi không quen, thấy nó nhàn nhạt, beo béo không như chén đậu hũ quê mùa ngày còn bé.

Buổi sáng, đi bộ ra công viên Gia Định, lúc quay về, tôi thường ngần ngừ, bước đi hay dừng lại bên xe đậu hũ, kéo cái ghế, ngồi chờ chén đậu hũ đưa đến tận tay. Nếu không thích cốt dừa và bột lọc, tôi có thể yêu cầu bà hàng gạn cho tôi phần nước đường với gừng thôi, nhưng cái ngần ngừ còn bởi, thứ nhất, ngày nào cũng ăn một chén đậu hũ có đường chưa chắc đã tốt với tuổi của tôi. Mà không đường hay ít đường thì còn gì hương vị chén đậu hũ!

Thứ nữa, tôi cảm giác nước đường có bột lọc đã khiến giảm đi ít nhiều vị ngon và không thanh như nước đường chỉ có gừng. Nhưng, tôi đâu còn chọn lựa nào khác khi bà bán hàng nói: “Ở đây khách thích ăn kiểu vậy, chén đậu hũ quê người ta chê”. Một người khách tiếp lời: “Đậu hũ có nước dừa, bột lọc mới ngon”. Đất lề, quê thói. Tôi không thể phản biện được gì khi cái gu nhà quê của tôi hoàn toàn không phù hợp với người thành phố.

Cũng như, đậu hũ mang vô thành phố không còn gánh mà bày hết trên chiếc xe đẩy hai tầng. Khạp đậu hũ thay bằng cái xoong nhôm lớn, may ra chút xưa còn lại là mớ chén sành, kiểu cũ.

Tôi kêu một chén đậu hũ có đầy đủ “lệ bộ” nước dừa và đường vừa có gừng, có cả bột lọc. Vị béo của nước dừa, “ăn hiếp” vị béo và lấy luôn mùi thơm của đậu non. Những hạt bột lọc nhỏ dai dai, sựt sựt lấn át hết trạng thái mềm, tan nhanh của đậu hũ khiến tôi càng nhớ chén đậu hũ ngày xưa.

Có lần bà bán hàng nói: “Làm bột lọc rất mất công, nhưng không có thì khách lại hỏi. Ráng chìu khách mà nuôi con. Mười năm xa quê, xe đậu hũ đưa lần lượt ba con vào đại học, ra trường. Giờ không còn nuôi ai nữa thì mình tích lũy”.

Một ông khách vui tính hỏi cắc cớ: “Đi xa vầy bỏ ổng cho ai?”. Bà bán hàng cười lỏn lẻn: “Vợ chồng già rồi mà!”.

Tôi đứng lên, trả tiền chén đậu hũ năm ngàn đồng rồi bước đi. Bà bán hàng vói theo, mai ra ăn nữa, cô nghe. Giọng miền Trung lạc lõng giữa phố người. Tôi không biết khi bán chén đậu hũ chìu khách như vậy, chén đậu hũ nhớ thương ngày xưa của bà còn hay mất theo năm tháng dài mưu sinh xa xứ!

Giao cảm

Lệ Thu

.

Hình như có anh về trong bướm trắng

Bay quanh em đôi cánh chớp nhẹ nhàng

Hình như có anh về trong gió ấm

Thoảng vai em như thể cánh tay choàng

Mắt trong suốt anh về tia nắng sáng

vờn yêu thương trên lọn tóc phai màu

Xin anh cứ trở về như thuở trước

Lửa yêu thương còn ủ tận đáy lòng

Miễn đúng là anh, trong hình tướng nào cũng được

Chỉ xin đừng hiện thành người – hư – thực… khiến em đau!

Vì sao ư ? Hẳn là anh cũng biết

Em muốn thiêng liêng giao cảm một linh hồn

Chẳng thực thể nào có thể thay anh được

Kỷ niệm huy hoàng dịu ngọt, Em – Anh

Ta không muốn lời thị phi vấy bẩn

câu chuyện tình Bỉ ngạn* mấy ngàn năm

Vì tình yêu muôn đời vẫn uy nghiêm huyền nhiệm

Khác ngoài kia tính dục thích buông tuồng

Dẫu vẫn biết tạo hoá là sinh nở

Nhưng tình yêu còn mãi chỉ trong hồn!

3.3.2023

Lệ Thu

——–

* Bỉ ngạn: Tên một loài hoa đỏ mọc trên vách đá từ vệt máu của chàng trai đã quên mình cố hái được bông hoa đẹp tặng người yêu. Hoa ấy, theo truyền thuyết, ngàn năm mới nở một lần!

Con heo đất

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Hai mẹ con Nhi lầm lũi co ro trong cái lạnh se da của gió đông vào mỗi sáng tinh mơ, khi mọi người còn yên giấc, sáng nào cũng vậy cứ đúng bốn giờ sáng là hai mẹ con rời nhà đi về hướng chợ lớn, ở đó có sạp hàng của mẹ, nguồn sống hàng ngày của mấy mẹ con, cho dù mưa bão giá rét tới cỡ nào bà Năm cũng không hề bỏ bữa chợ

Thỉnh thoảng vài con chó ngái ngủ trong các nhà dọc theo con đường hai mẹ con đi qua đi qua chạy ra sủa vang, hậm hực …rồi khi bước chân hai mẹ con đi xa …chúng lại chui vào nhà trốn mất.

Con đường đến chợ khoảng hai cây số nhưng để cho quãng đường ngắn lại, theo thói quen mỗi ngày …bà Năm luôn kể cho con gái nghe bao mẫu chuyện về cuộc đời bà, những chuyện xa lơ xa lắc đã xảy ra trong cuộc đời gian khổ đã qua, những người thân quen hay cả chuyện hàng xóm…có những câu chuyện mà bà Năm kể đi kể lại nhiều lần mà Nhi vẫn thích nghe, và những bước chân như không còn tê cóng vì gió lạnh , con đường trước mặt không còn dài ra dưới chân.

Đến chợ, hai mẹ con khiêng những thùng hàng gởi trong những lô hàng trong khuôn viên chợ, những lô hàng có cửa sắt kéo, mỗi chiểu khi tan buổi chợ hai mẹ con lại thu vén hàng hóa vào trong những chiếc thùng tôn và đem gởi lại, tiếp nối ngày qua ngày.

Sau khi bày biện đâu đó giúp mẹ và chuẩn bị rời chợ để đến lớp, bà Năm đã chuẩn bị cho con gái bữa ăn sáng mỗi ngày, có khi là tô bún cá nóng hổi, có khi là tô cháo lòng hay đĩa bánh ướt còn bốc khói.

Hôm nay trước mặt hàng của mẹ có người chạy chợ dọn một gian hàng bán những con heo đất và những tượng thờ cúng đúc bằng đất nung sơn đủ màu chói lọi.

Nhi mãi đứng nhìn một gian hàng bán những con heo đất sơn xanh đỏ rất ư là đẹp mắt, những ông thần tài bé xinh , những ông địa bụng bự được sơn vàng sơn đỏ, những bạn hàng chen vào lựa chọn vì thỉnh thoảng gia đình này tận miền Nam đem hàng hóa ra bán vài ngày ở đây rồi lại chạy chợ khác, có khi hàng năm họ chỉ đến đây một vài lần.

Mãi mê nhìn ngắm mấy con heo đất sơn đủ màu xanh đỏ, hai cái má núng nính, hai con mắt được vẽ những sợi mi dài và cái nơ trên cổ trông điệu đàng làm sao.

_Gần tới giờ vào học, con ăn mau lên kẻo trễ

_Mấy con heo đất đẹp quá, sao họ có thể làm đẹp như vậy?

_Con thích lắm sao? nhưng con heo đất là để dành tiền, con có muốn để dành tiền để sau mùa thi đi Huế hay SaiGon thi đại học không ?

_ Mẹ cũng nghĩ như con sao?

_Mẹ cũng đang lo không biết đào đâu ra tiền cho con đi thi các nơi khác khi con thi đậu.

_Thôi cứ tới đâu hay tới đó mẹ ạ, lo xa quá mệt lắm.

Trện đường đến lớp Nhi vẫn nghĩ mãi về con heo đất mũm mĩm với chiếc nơ bé xinh trên cổ…ôi sao mà nó xinh thế.

***

Ngồi trong lớp mà tâm trí Nhi cứ nghĩ mãi về con heo đất và những đồng tiền bé mọn mỗi ngày Nhi sẽ xin mẹ cho vô bụng nó mỗi ngày…Rồi sau mùa thi năm tới Nhi sẽ đập ra …Một món tiền lộ phí cho Nhi lên đường ứng thi vào trường đại học…

Trên đường từ trường đến chỗ mẹ, mấy lần suýt đâm vào những người xung quanh vì Nhi đi quá vội.

vừa đến trước gian hàng mẹ mà không còn nhìn thấy những món đồ xanh đỏ của người bán heo đất…

Lòng Nhi như chùng xuống…bà Năm nhìn con thương cảm .

_Mẹ đã mua cho con một con heo đất đẹp nhất kia rồi, màu đỏ con có thích không?

_ Cám ơn mẹ, màu nào con cũng thích.

_Từ nay mỗi buổi chiều khi ra dọn hàng con lấy chút tiền bỏ vào đó, để dành làm lộ phí cho con đi thi.

một lần bỏ ra một số tiền lớn mẹ chạy không ra.

_ Dạ, con biết rồi.

Tay mân mê hai chiếc má phinh phính của chú heo đỏ với chiếc nơ trắng xinh vẽ đơn sơ ở cồ và chiếc lỗ hình chữ nhật trên lưng mới xinh xắn làm sao…để mở hàng Nhi lựa một đồng bạc giấy còn mới , xếp vuông vức cho vào cái rãnh chữ nhật trên lưng của nàng heo con, Nhi thấy sung sướng lạ kỳ với bao niềm vui nhân rộng.

Rồi từng ngày …trước khi thu dọn hàng giúp mẹ Nhi lại cẩn thận xếp một đồng bạc thật khéo léo bỏ vào, nuôi cho heo chóng lớn nhưng cũng tùy buổi chợ, hôm nào nghe mẹ than là buổi chợ ế hay một ngày mưa dầm…ngày ấy coi như con heo nhịn đói chờ đến hôm sau.

Thường mỗi buổi sáng trước khi bước chân ra khỏi nhà , bà Năm dặn con phải đi sau, bà đi trước một quãng…

Hễ hôm nào gặp người đàn ông quét đường đi ngược chiều với bà là coi như một ngày tốt đẹp, mua may bán đắt.

Nhưng cũng có bữa gặp người đàn bà đi ngược lại với hai mẹ con …lòng bà Năm buồn lắm vì cho rằng hôm ấy sẽ không đắt hàng…

Ngày ấy Nhi cũng không tin về những điều này nhưng thấy mẹ tin tưởng như vậy nên cũng tin theo cho mẹ vui, nhưng vẫn không tin là gặp đàn bà, con gái là “Xui xẻo”.

Trong lúc đang chưng dọn hàng hóa mà có người trả mua thì giá nào cũng bán, nhiều khi chỉ huề vốn hay lời chút xíu cũng bán luôn….cốt là mở hàng cho mau mắn là cả ngày ấy sẽ đắt hàng và ngược lại.

Trong suốt những tháng năm đi bên mẹ Nhi đã được mẹ kể cho bao nhiêu câu chuyện, những thế thái nhân tình cũng có, những buồn vui trong cuộc đời mẹ đã đi qua, nhưng không mấy khi có chuyện gì vui, mà sao chỉ là những tai ương, đói nghèo cơ cực…Thỉnh thoảng Nhi phải nhắc mẹ.

_Mẹ ơi chuyện ấy buồn lắm và con đã nghe rồi.

_ Mẹ ơi, sao số mẹ cực khổ quá, không biết sau này đời con có cực như mẹ không ?

_Mẹ mà cực gì đâu con, có nhiều người còn khổ hơn mình nữa đó con, họ còn không có nhà ở, không con cái, không nơi nương tựa, không được học hành, mẹ con mình là được rồi đó con.các con là một gia tài lớn của mẹ.

_Dạ, con biết rồi, mai mốt con thi đậu…làm có nhiều tiền không cho mẹ đi buôn bán khổ cực nữa.

_Ừ , ráng học giỏi , sau này làm bàn giấy như người ta cho sung sướng tấm thân.

Trong tâm tư mộc mạc của mẹ Nhi ngày ấy là chỉ đi làm bàn giấy, tức là làm văn phòng là sung sướng no đủ, không chạy chợ , buôn bán ế ẩm là sung sướng hơn người và hy vọng sau này con của bà cũng được như vậy.

Nhưng thực tế chỉ vì vốn liếng ít ỏi nên bà Năm chỉ bán những món rẻ tiền, phục vụ cho những người nghèo nên không kiếm được những món tiền hời, nhưng nếu có nhiều vốn và buôn bán những thứ có giá trị hơn thì sẽ thu hoạch khá hơn…gánh hàng hóa thì bé xíu lại phải lo cơm gạo cho mấy đứa con ăn học, làm sao mà khá nổi với thời buổi khó khăn bấy giờ.

Nhiều lần kiểm lại số hàng hóa ít ỏi của mẹ mà sổ nợ của bạn hàng gần hết Nhi cứ thót ruột buồn lo nhưng không làm sao giúp mẹ chỉ biết ráng học và giúp mẹ trong mọi công việc.

***

Những ngày gần giáp Tết…Hai mẹ con lại ráng dậy sớm hơn để chuẩn bị bán Tết và kiếm thêm thu nhập chi tiêu trong dịp Tết…thời gian này bà Năm cho thêm những đồng tiền khá hơn cho con bỏ vào con heo để chuẩn bị cho mù hè năm tới…mỗi ngày Nhi lắc thử thấy đã nặng thêm với niềm vui …Ôi, đồng tiền góp nhặt bằng công sức của hai mẹ con.

_Chiều nay sau khi cúng tất niên xong con kiểm lại hàng còn lại cho gọn ghẽ để đem gởi nghen con.

Bao nhiêu tiền bán được mẹ mua lại số hàng tồn với giá rẻ để sang năm có bán.

_Dạ, mình nghỉ mấy ngày hở mẹ?

_Năm nào cũng tới mùng sáu là mẹ khai hàng

_Vậy con đem con heo đất của con về nhà nghen mẹ, nay nó cũng mập hung rồi.

_ Hay đem về kiểm coi được bao nhiêu rồi đổi tiền chẵn bỏ vào có chỗ bỏ tiền lẻ tiếp.

_Dạ con cũng nghĩ vậy, con cũng muốn biết hơn một năm ny con để dành được bao nhiêu?

Đêm giao thừa năm ấy Nhi đã đập con heo đất…

Những đồng bạc giấy còn mới được xếp gọn gàng chen chúc nhau trong bụng con heo đất, được mấy chị em Nhi trang trọng xếp lại và vuốt cho thẳng nếp và phân theo từng loại, đếm tới đếm lui qua tận đến giao thừa, đếm tiền mãi sang mồng một .

Không năm nào mà mấy mẹ con đón giao thừa vui nhộn như năm ấy chỉ vì những đồng tiền nhỏ nhoi góp nhặt hơn một năm với một hoài bão thật to lớn và một niềm hy vọng vô biên.

Niềm vui được nhân rộng hơn khi mấy chị em nhận những đồng tiền mừng tuổi của mẹ, tuy ít ỏi nhưng cũng được Nhi xếp vào chung với số tiền trong con heo mà Nhi đang có được…cả một gia tài mà chưa bao giờ Nhi nhìn thấy từ lúc lớn khôn…với số tiền này sẽ giúp Nhi có phương tiện ra Huế thi vào trường đại Học, vào Sài gòn ghi danh vào một trường nào mà Nhi sẽ chọn…Hay đi Đà Lạt học…V.V…và V…V…

Chỉ một chút tiền bé mọn mà Nhi đã dệt cho mình biết bao mộng đẹp trong mùa Xuân năm ấy…

Ba ngày Tết trôi nhanh …niềm vui và nỗi háo hức , chờ mấy hôm mẹ đi bán lại sẽ mua cho Nhi con heo khác và số tiền này sẽ đổi thành những đồng tiền lớn hơn hay mở một trương mục ở ngân hàng với tên trương chủ là mình….

Nhi bềnh bồng trong hạnh phúc với những mộng đẹp và nụ cười trong giấc ngủ .

Rạng sáng mồng năm….Mọi người chuẩn bị đi dự lễ mồng Năm ở Phú Phong…

Tiếng gõ cửa nhà ai hay nhà Nhi không rõ…Những tiếng gọi dập dồn…thúc hối

_Chị Năm ơi, dậy mau, chợ cháy hết rồi.

_Cháy ở đâu???

_Cháy đâu từ lúc nửa đêm, chỗ mình không còn gì nữa cả

_Không biết chỗ mình gởi hàng có sao không ?

_Tất cả chỉ còn lại một đống tro tàn, mau chạy xuống coi.

_Trời ơi, tai ương đổ xuống nữa rồi

Mấy mẹ con Nhi vừa chạy về hướng chợ, vừa khóc tỉ tê…Bao nhiêu hàng hóa gởi ở chợ là cả một gia tài bé mọn của gia đình, sau khi bán Tết, Mẹ Nhi đã mua thêm một số hàng hóa của những người bạn hàng chở từ Saigon ra chậm nên bán rẻ hơn giá thường, bà Năm đã mua sẵn và gởi ở chợ để chuẩn bị mồng Sáu Tết là khai hàng…

Nhìn quang cảnh xáo xác của ngôi chợ điêu tàn, tan tác không còn một dấu vết gì của một sự sinh tồn, những tro than và những rác rến , những đổ nát tan hoang…Mấy mẹ con ôm nhau khóc ròng và trở về nhà trong sầu thảm, đau thương.

Để ổn định lại cuộc sống, bà Năm cũng vay mượn của bà con và góp nhặt những gì có thể kiếm được để tạo lại một gánh hàng làm độ nhật…món tiền của Nhi mới dành dụm được từ con heo đất là một cứu tinh cho mẹ mà Nhi nài nỉ mẹ nhận lại để mua thêm hàng hóa…

Những ngày kế tiếp nhìn mẹ vất vả hơn vì thiếu vốn và phải chuyển bán những món hàng rẻ tiền hơn, Nhi không dám xin mẹ cho mình nuôi heo đất nữa và mùa hè năm ấy…Nhi cũng đậu Tú tài, nhưng không dám mở môi xin mẹ cho đi bất cứ vùng nào như dự tính…

Thỉnh thoảng Nhi cũng tiếc nhớ con heo đất và mộng ước không thành …nhưng cũng cam chịu và không hề đòi hỏi gì thêm vì biết mẹ cũng trăm cay ngàn đắng vì không lo được cho con đủ đầy như chúng bạn.

***

Qua bao nhiêu năm tháng trôi qua trong cuộc đời…mỗi lần nhìn thấy con heo đất bày bán trong cửa hiệu, hay các chợ trời của người Hoa, Nhi vẫn muốn mua về làm quà cho con cháu, và thương mến nó biết bao, những con heo đất luôn là món quà lập đi lập lại nhiều lần cho những người thân nhưng người nhận không hiểu vì sao ???

Những con heo đất bây giờ được tân trang bóng bẩy hơn, trên lưng vẫn có cái rãnh chữ nhật để bỏ tiền và dưới bụng lại có thêm một cái cửa sổ tròn để rút tiền ra theo ý muốn chứ không cần đập bỏ như ngày trước.

Hình thức con heo đất ngày nay trang nhã hơn con heo đất của Nhi ngày xưa, tuy hai chiếc má vẫn phinh phính dễ thương, hai má tô hồng, môi son đỏ thắm và vẫn chiếc nơ điệu đàng muôn thuở.con nào cũng xinh quá là xinh.

Trên bàn viết Nhi luôn có sự hiện diện của nó như nhắc mãi cho Nhi một mơ ước không thành và nhớ hoài về người mẹ thân yêu nay đã không còn.

Mỗi ngày Nhi đều bỏ vào con heo đất mấy đồng tiền kiếm được…như để gợi nhớ cho mình một kỷ niệm dấu yêu…Khi bỏ những đồng tiền vào con heo đất bây giờ , Nhi không nghĩ là những đồng tiền ấy để làm chi…thỉnh thoảng lấy ra gởi về quê nhà tặng các bạn bè nào cần giúp đỡ.hay mua quà cáp khi mỗi bận về thăm quê nhà.

Sau khi những đồng tiền ấy rung rinh trong bụng con heo và cần lấy ra thì cũng có những việc cần làm với những đồng tiền bé mọn ấy, cũng chỉ một chút nhỏ mọn để giúp người, gởi biếu những người nào cần giúp đỡ…cũng chính cái tâm của Nhi là giúp người , tưởng nhớ về người mẹ thân thương.

Một kỷ niệm khó quên trong cuộc đời và nhắc cho Nhi nhận ra rằng chớ nên kỳ vọng vào bất cứ điều gì quá đỗi…Khi sự việc không thành như ý nguyện lại cưu mang một nỗi thất vọng vô biên..

.Con heo đất đập ra để giúp mẹ trong cơn khó nghèo cơ cực và ngưỡng cửa trường đại học xa mờ trong cuộc đời..

.Sau đó Nhi đã lặng lẽ bước chân lên xe hoa giã từ những mơ ước đầu đời…Bước vào những “‘giông gió cuộc đời từ buổi ấy.”

Ôi tuổi thanh xuân và những mơ ước không thành làm thay đổi vận mệnh một cuộc đời …

Ôi con heo đất và những ngày tháng lặng thầm bên bóng mẹ.

Atlanta ( Tưởng nhớ Mẹ và những mơ ước ngày mới lớn)

Nguyên Hạ_ Lê Nguyễn

Nguyễn Thanh Quang

.

Với vị trí địa lý khá đặc biệt của vùng đất Bình Định, từ xa xưa nơi đây trở thành một trung gian kết nối thị trường Đông và Đông Bắc Á với thị trường Nam và Tây Á với các thương cảng: Thị Nại (TK X-XV), Nước Mặn (TK XVII-XVIII), Quy Nhơn (từ TK XIX). Từ đó, một hệ thống nguồn ở Bình Định được hình thành để quản lý, khai thác thuế và trao đổi hàng hóa. Theo Lê Quí Đôn nguồn ở vùng thượng du như là tổng ở đồng bằng.

Câu hát ru Bình Định phổ biến và lưu truyền đến ngày nay:

Ai về nhắn với nậu nguồn

Măng le gửi xuống, cá chuồn gửi lên

Một số địa phương vùng Nam Trung bộ cũng cho câu hát ru trên là của quê hương mình, nhưng không thể phủ nhận phương ngữ Bình Định: nậu/nẩu/nẫu. Lại có dị bản thay măng le bằng mít non, nhưng có lẽ măng le hợp lý hơn, vì măng le là đặc sản vùng nguồn, mít non thì nơi nào cũng có. Câu hát ru đã khắc họa hình ảnh một thời giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa miền xuôi với nguồn – nơi cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số.

Theo Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình Tịnh Paulus Của, nguồn: ngọn suối, lên nguồn: đi lên các xứ mọi ở trên nguồn [1]. Nguồn ra đời từ thời Lê sơ, dưới thời các chúa Nguyễn nguồn được xác lập với tư cách là một đơn vị hành chính cơ sở đặc biệt tại khu vực trung du và miền núi. Theo ghi chép của Lê Quí Đôn, nguồn ở vùng thượng du như là tổng ở đồng bằng: “Ở thượng lưu gọi là nguồn cũng như ở hạ huyện gọi là tổng… nguồn Cơ Sa gồm 7 thôn phường… nguồn Kim Linh gồm 8 thôn phường… ” [2]. Có thể nói, sự xuất hiện của nguồn là hệ quả của giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa các dân tộc miền núi và người Kinh ở đồng bằng.

Lê Quí Đôn trong Phủ biên tạp lục đánh giá rất cao tính vượt trội về các mặt hàng xứ Quảng mà phần lớn do phủ Qui Nhơn sản xuất như: “thóc gạo, trầm hương, tốc hương, sừng tê, ngà voi, vàng bạc, đồi mồi, trai ốc, bông, sáp, đường, mật, dầu sơn, hồ tiêu, cá muối,…” [2]. Đánh giá về sản vật của phủ Qui Nhơn, trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú cũng ghi nhận: “Sản vật có nhiều như trầm hương, tốc hương, sừng tê, vàng, bạc, đồi mồi, châu báu, sáp ong, đường, mật, dầu, sơn, cau tươi, hồ tiêu, cá, muối và các thứ gỗ đều tốt, thóc lúa không biết bao nhiêu mà kể, Ngựa sinh ra ở hang núi có từng đàn đến trăm ngàn con, người Thổ trước đi chợ cỡi ngựa là thường. Núi sông có nhiều thắng cảnh lại có đầm nước nóng bốc lên rất lạ” [3]. Dưới triều Lê, nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc chi phối, các chợ địa phương đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động nội thương, đáng chú ý là hoạt động trao đổi, mua bán ở các nguồn. Đầu thế kỷ XVII, Qui Nhơn đã nhanh chóng trở thành vùng đất trù phú của các ngành sản xuất và giữ vai trò đầu mối giao lưu hàng hóa ở khu vực.

Cư dân miền núi – cư dân bản địa vùng đất Qui Nhơn/Bình Định là các cộng đồng các dân tộc thiểu số: Bana, H’re, Chăm H’roi. Để thuận lợi cho việc cai quản địa bàn cư trú của cư dân bản địa và khai thác thuế khu vực trao đổi, mua bán miền Tây Qui Nhơn/Bình Định, các chúa Nguyễn và đặc biệt là triều Nguyễn đã thiết lập ở đây một hệ thống các nguồn. Nguồn không phải là một đơn vị hành chính chính thức, không có chức năng thực thụ của một cấp hành chính địa phương. TS. Andrew Hardy trong bài viết: ““nguồn” có ba chức năng chính. Đây trước hết là một cái chợ, nối bằng đường sông xuống đồng bằng và bằng đường mòn lên miền núi. Thứ hai, là địa điểm đánh thuế hàng hoá, nơi đây có sự hiện diện của quân đội. Cuối cùng, đây là một đơn vị hành chính, gần tương đương với một tổng ở đồng bằng: vào thế kỷ XIX, 80 sách [4] miền núi được xếp dưới sự quản lý của “nguồn” Phương Kiệu… Tuy nhiên, chức năng chủ yếu và rõ ràng là lâu đời nhất của “nguồn” là kinh tế, có niên đại từ thời Champa. Dưới thời các chúa Nguyễn, chức năng kinh tế tiếp tục làm nền tảng cho những chức năng khác: hoạt động chủ yếu của quan lại triều đình là đánh thuế hàng hoá trong khi các đồn là để bảo vệ cả hoạt động buôn bán lẫn các nguồn thuế mà nó sinh ra. Không còn chức năng kinh tế, các hoạt động khác sẽ trở thành dư thừa” [5].

Theo TS. Trương Anh Thuận trong bài viết Bước đầu nghiên cứu các hệ thống nguồn ở Bình Định trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX. Đối chiếu, so sánh các sử liệu trong Phủ biên tạp lục (soạn 1776), Đại Nam thực lục (soạn từ 1821) và Đại Nam nhất thống chí, dưới thời chúa Nguyễn, toàn bộ khu vực miền núi phủ Qui Nhơn chỉ có 6 nguồn, bao gồm: Hà Nghiêu, Trà Đinh, Trà Vân, Ô Kim, Cầu Bông, Đá Bàn, đến thế kỉ XIX, con số này đã tăng lên 18 nguồn, nhiều nhất so với các địa phương ở Nam Trung bộ lúc bấy giờ, bao gồm: An Tượng, Cầu Bông, Đá Bàn, Đồng Trí, Hà Thanh, Hà Nghiêu, Hà Náo, Hải Đông, Kiều Bông, Lộc Động, Phương Kiệu, Ô Kim, Ô Liêm, Thạch Bàn, Trà Văn (Trà Vân), Trà Bình (Trà Đinh), Trà Sơn, Trà Đính [6]. Sự gia tăng đột biến số lượng các nguồn, chia nhỏ địa hành chính khu vực miền núi phía Tây Bình Định thành nhiều nguồn khác nhau vào thế kỷ XIX, nhằm quản lý sâu sát và khai thác thuế lâm thổ sản của triều đình trung ương đương thời đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số.

Cũng theo TS. Trương Anh Thuận: trong Phủ biên tạp lục và Đại Nam nhất thống chí, cho biết, các nguồn ở Qui Nhơn/Bình Định rất giàu có về lâm, thổ sản quí. Lâm thổ sản tiêu biểu ở các nguồn như sau: An Tượng: lộc nhung; Cầu Bông: lộc nhung; Đồng Trí: lộc nhung, thuốc lá; Hà Thanh: mật ong, sáp ong, chiếu mây, bông, trám, song, dầu vừng, lộc nhung; Hà Nghiêu: lộc nhung; Kiều Bông: lộc nhung; Lộc Động: sáp ong, lộc nhung; Phương Kiệu: lộc nhung; Ô Liêm: sáp ong, mật ong, lộc nhung; Thạch Bàn: lộc nhung; Trà Vân: phong đăng (đuốc dó), sáp ong, lộc nhung; Trà Bình: ngà voi, mật ong, nhựa trám, lộc nhung; Trà Sơn: lộc nhung [7].

Dựa vào lợi thế này, chính quyền chúa Nguyễn và sau này là vương triều Nguyễn đã tận dụng và khai thác triệt để thế mạnh tài nguyên của mỗi nguồn trên địa bàn Qui Nhơn/Bình Định. Trong đó, tập trung vào một số nguồn có tiềm năng cung cấp nhiều loại sản vật khác nhau như: Hà Thanh (cách huyện Tuy Phước hơn 100 dặm về phía Tây Nam, thủ sở ở địa phận hai thôn Quang Thuận và Cảnh Vân), Trà Vân (Tây Bắc huyện Bồng Sơn, cách huyện hơn 60 dặm, giáp huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, thủ sở ở địa phận hai thôn An Đỗ và An Hội), Trà Bình (cách huyện Bồng Sơn hơn 70 dặm lệch về phía Tây Bắc, thủ sở ở địa phận thôn Hưng Nhân),… [8].

Cộng đồng các dân tộc ít người sinh sống tại các nguồn trên địa bàn Qui Nhơn/Bình Định chịu sự quản lý của triều đình trung ương và phải thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho chính quyền. Ngoài thuế đinh áp dụng cho đàn ông người dân tộc thiểu số từ 18 đến 55 tuổi và thuế sản vật dựa trên tiềm năng, thế mạnh tài nguyên của các nguồn, nhà nước còn áp dụng loại thuế nguồn đánh vào hoạt động lưu thông hàng hóa giữa miền núi và miền xuôi ở các nguồn.

Các chúa Nguyễn khoán cho quan thân cận nắm giữ thủ sở các nguồn, nộp về triều một khoản thu nhất định dựa vào mức giao dịch trao đổi, mua bán, ngoài ra các quan tự đặt ra một khoản thu khác cho mình. Việc thu loại thuế này tại một số nguồn ở phủ Qui Nhơn được Lê Quí Đôn ghi lại trong Phủ biên tạp lục như sau: Nguồn Hà Nghiêu hàng năm tiền thuế 166 quan 5 tiền, cùng thuế thổ ngơi 27 quan 5 tiền, mật ong 10 chĩnh, chiếu mây nhỏ 4 cuộn, bông 99 cân, kỳ hoa miên hoa 3 bao cân nặng 105 quan, trám 52 sọt, song 60 cây, dầu vừng 2 chĩnh, đèn lớn 3.325 chiếc, đèn nhỏ 600 chiếc, sáp ong 67 bát; Hai nguồn Trà Đinh và Trà Vân hàng năm tiền thuế 2.550 quan, trước cấp cho Ngoại tả Trương Phúc Loan, phải nộp bạc tốt 5 hốt, nguồn Trà Vân nộp đèn nhựa trám 150 chiếc; Nguồn Ô Kim hàng năm tiền thuế 749 quan 5 tiền, trước cấp cho Chưởng cơ Noãn, phải nộp bạc tốt 5 hốt; Nguồn Cầu Bông hàng năm tiền thuế 1.500 quan, trước cấp cho Chưởng cơ Khoan, phải nộp bạc tốt 10 hốt, 2 lạng 5 đồng cân; Nguồn Đá Bàn hàng năm tiền thuế 1.000 quan, trước cấp cho Chưởng cơ đạo Lưu đồn là Trường lộc hầu, phải nộp bạc tốt 8 hốt, tiền thổ ngơi 50 quan 2 tiền [9]. Sách Phủ biên tạp lục còn chép về quan tham – Ngoại tả Trương Phúc Loan: “Phúc Loan chuyên quyền hơn 30 năm, tham lam tàn nhẫn, giết chóc rất nhiều. Ăn ngụ lộc ở nguồn Sái, nguồn Thu Bồn, nguồn Trà Đinh, nguồn Trà Vân, nguồn Đồng Hương, mỗi năm thu vào 4,5 vạn” [10].

Qui Nhơn là một trong những địa phương có loại kỳ nam hương tốt nhất. Sách Thiên Nam dư hạ tập cho biết một số nguồn ở phủ Qui Nhơn hàng năm đều cống nạp kỳ nam hương: “Hai nguồn Trà Đinh, Ô Kim huyện Bồng Sơn, thôn Nha Ca, nguồn Cầu Bông huyện Phù Ly và huyện Tuy Viễn đều hằng năm đều cống kỳ nam hương” [11]. Theo thống kê Lệ thuế đầu nguồn ở phủ Qui Nhơn của Lê Quí Đôn trong Phủ biên tạp lục, ba nguồn: Cầu Bông, Trà Đinh, Trà Vân hàng năm nộp thuế tổng cộng là 4.050 quan, chiếm hơn 2/3 tổng số tiền thuế của 6 nguồn phủ Qui Nhơn lúc bấy giờ là 5.866 quan. [12].

Ngoài chức năng là một địa điểm đánh thuế hàng hóa, có sự hiện diện của quân đội và một đơn vị hành chính, các nguồn còn đảm nhận vai trò quan trọng là chợ giao thương, buôn bán giữa miền ngược và miền xuôi. Các nguồn thiết lập ở vùng miền núi, hoạt động như những điểm thu gom hàng hóa và thu thuế đối với hàng hóa di chuyển giữa miền núi và đồng bằng. Ở các nguồn thường có trường sở buôn bán hay trường giao dịch do triều đình lập ra và quản lý. Sách Đại Nam nhất thống chí có đề cập đến sự tồn tại của các trường giao dịch tại một số nguồn ở Bình Định như sau: “Nguồn Thạch Bàn: ở cách huyện Phù Cát hơn 20 dặm về phía Tây, thủ sở ở địa phận hai thôn Thạch Bàn và Hội Sơn. Lại có hai trường giao dịch ở Hà Vị. Nguồn Phương Kiệu: ở cách huyện Tuy Viễn hơn 150 dặm về phía Tây, thủ sở địa phận thôn An Khê, trước có trường giao dịch” [13]. Sách Đại Nam nhất thống chí (soạn năm Duy Tân thứ 3) chép: Các nguồn An Tượng (phía Tây huyện Tuy Viễn), Lộc Động (phía Tây Nam huyện Tuy Viễn), Thạch Bàn (phía Tây huyện Phù Cát), “Niên hiệu Thành Thái thứ 11 (1899) triệt bỏ (thủ sở), lại đặt “mậu dịch thị trường” hiểu dụ cho dân mán đến mua bán…” [14].

Hàng hóa, sản vật từ các vùng rừng núi đều được chuyển đến các nguồn này để trao đổi, buôn bán. Các điểm buôn bán – “chợ nhỏ” ở các vùng lân cận nguồn hoạt động như những điểm thu gom hàng hoá cung cấp trực tiếp cho các nguồn. Ngoài ra, còn có rất nhiều điểm để người Thượng trao đổi hàng hoá, thường là thông qua sự thương lượng không chính thức ở trong làng, phụ thuộc vào vai trò trung gian của già làng, thương nhân người Kinh dựa vào mối quan hệ cá nhân với già làng để củng cố quan hệ buôn bán của họ. Các điểm buôn bán nhỏ trên nguồn được kết nối bởi nhiều nhóm khác nhau, theo mô hình “tiếp sức”, trong đó các nhóm di chuyển hoạt động trong những địa hình mà họ quen thuộc, theo hướng Đông – Tây. Mỗi nhóm di chuyển giữa các điểm buôn bán trên một đoạn của con đường thương mại. Không có nhóm nào hoạt động trên suốt toàn bộ hệ thống, do đó con đường giao thương bảo đảm được tính đa dạng về tộc người của hệ thống buôn nguồn.

Sách Dân làng Hồ của P. Dourisboure (Les Sauvages Bahnars. P. Dourisboure de la Société des Missions Étrangères. Paris 1929) cho biết: Vào năm 1848, trong lúc triều đình đang ra sức bắt đạo dữ dội, các thừa sai phải liên tục ẩn trốn, Giám mục Cuênot Thể – Giám mục Hiệu tòa Métellopolis, Đại diện Tông tòa cai quản Địa phận Đông Đàng Trong, tìm đường đi lên Tây Nguyên rao giảng Phúc âm cho các dân tộc thiểu số, có ghi chép về An Sơn thuộc nguồn Phương Kiệu là một địa điểm trao đổi, buôn bán quan trọng giữa người đồng bằng và người miền núi ở Bình Định: “Cận ranh giới phía Tây của tỉnh này, có địa điểm An Sơn, trung tâm buôn bán lớn giữa người Kinh và người Thượng. Chính địa điểm này vào cuối thế kỷ trước, đã là nơi xuất phát của 3 anh em Tây Sơn chống chúa Nguyễn… Người Kinh buôn bán trên miền Thượng du, di chuyển khắp nơi, từ bộ lạc này đến bộ lạc khác.” [15] và “Suốt dọc ranh giới phía Tây của miền Trung Vương quốc, trong khoảng cách từ hai đến ba ngày đường, các dãy núi rừng do người Thượng cư ngụ, đều thường có thương buôn người Kinh qua lại, trao đổi hàng hóa với thổ dân” [16]. Lệ thuế đầu nguồn trong buôn bán giữa đồng bằng và miền núi chiếm một tỷ lệ quan trọng trong ngân khố để giữ vững chế độ các chúa Nguyễn Đàng Trong. Trong đó, tiền thuế thu được từ các nguồn tại tỉnh Bình Định là 6.255 quan, chiếm khoảng 8% tổng số thuế thu được từ miền núi, đầm hồ, đèo và chợ ở Đàng Trong năm 1774 là 76.467 quan 2 tiền [17].

Tại nguồn Phương Kiệu thế kỷ XVIII, Nguyễn Nhạc đã làm hai nghề: vừa buôn bán với người Thượng vừa thu thuế nguồn cho chính quyền. Nguyễn Nhạc có mối quan hệ chính trị gần gũi với người Thượng cũng như truyền thống của họ và khởi nghĩa Tây Sơn đã bắt đầu từ một trong những nguồn quan trọng ở Đàng Trong – nguồn Phương Kiệu. Địa bạ trấn Bình Định lập năm 1815 cho biết ấp Tây Sơn Nhất – khách hộ ấp thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn là quê hương các lãnh tụ Tây Sơn có ghi: “Tháng 9 năm 1819, Gia Long bắt đổi tên ấp Tây Sơn thành An Tây, sau đó lại đổi thành An Sơn” [18]. Hiện nay, ở thị xã An Khê có di tích An Khê Trường, là trung tâm đồn lũy ban đầu của ba anh em nhà Tây Sơn trong buổi đầu khởi nghiệp, An Khê Trường đã được Bộ VHTT&DL công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1991.

Theo nhân dân địa phương, trường ở đây có nghĩa là trường sở buôn bán, trường giao dịch. Hiện nay, ở phía Nam di tích An Khê Trường còn có khu ruộng trũng mang tên Rộc Trường và cây ké Rộc Trường cao 30m chu vi 4,5m. Đáng chú ý, ở cách di tích An Khê Trường 300m về phía Tây, có một gò đất cao mang tên Gò Chợ, theo nhân dân cho biết là chợ An Khê trước đây.

Đến thế kỉ XIX, mặc dù trong tài liệu do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn không thấy thống kê cụ thể về mức thuế thu được từ các nguồn ở Bình Định qua từng năm. Tuy nhiên, việc tồn tại hệ thống trạm giao dịch tại đây với sự thường trực của quân đội và quan lại triều đình như: “Nguồn Thạch Bàn ở cách huyện Phù Cát hơn 20 dặm về phía Tây, thủ sở hai thôn Thạch Bàn và Hội Sơn. Lại có hai trường giao dịch ở Hà Vị. Nguồn Phương Kiệu ở cách huyện Tuy Viễn hơn 150 dặm về phía Tây, thủ sở ở địa phận thôn An Khê, trước có trường giao dịch, lại có các đồn Trà Đình, Xuân Viên, Tam Giang, Hương Thủy, Trúc Lâm, Vụ Bản, Đài Tiền” [19], là những cứ liệu khoa học cho phép khẳng định triều Nguyễn vẫn tiếp tục duy trì hoạt động trưng thu loại thuế này đối với các nguồn trên địa bàn tỉnh Bình Định.

Qui Nhơn – vùng đất mới được xác lập vào nửa sau thế kỷ XV, nhưng với vị trí địa lý là cửa ngõ của khu vực Bắc Tây Nguyên, ưu thế về đường biển, hệ thống giao thông Đông – Tây và Bắc – Nam thuận lợi (đường thiên lý thượng đi theo chân dãy Trường Sơn, đường thiên lý hạ chạy dọc bờ biển) cùng với sự phong phú về sản vật, đã sớm tạo cho vùng đất này vừa là đầu mối giao thông liên lạc, vừa là trung tâm giao lưu hàng hóa của xứ Đàng Trong, từng là chỗ dựa cho chúa Nguyễn mở cõi về phương Nam và có nhiều đóng góp về kinh tế cho triều Nguyễn sau này, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của hệ thống nguồn ở Qui Nhơn/Bình Định.

NTQ

CHÚ THÍCH

[1] Huình Thịnh Paulus Của. Đại Nam quấc âm tự vị, Sài Gòn, Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’ Adran, 4. 1895.

[2] Lê Quí Đôn Phủ biên tạp lục, tập I. sách viết năm 1776, bản dịch năm 1964, Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 100.

[2] Lê Quí Đôn. Sđd, tr. 337.

[3] Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí, Dư địa chí, Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr. 168-169.

[4] Theo Lê Quí Đôn, nguồn (gồm nhiều sách) ở vùng thượng du tương đương với tổng (gồm nhiều xã) ở đồng bằng, như vậy về thứ bậc đơn vị hành chính sách ở vùng thượng du tương đương với xã ở đồng bằng.

[5] Andrew Hardy, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (E.F.E.O). The Nguon in the Hybrid Commercial Economy of Dang Trong, (“Nguồn” trong kinh tế hàng hóa ở Đàng Trong), bản dịch Đào Hùng và Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

[6] TS. Trương Anh Thuận. Bước đầu nghiên cứu hệ thống các “nguồn” ở Bình Định trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX.

[7] TS. Trương Anh Thuận. sđd.

[8] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí, quyển IX, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971, tr. 37-38.

[9] Lê Quí Đôn. Sđd, tr. 214.

[10] Lê Quí Đôn. Sđd,1977, tr. 336.

[11] Lê Quí Đôn. Sđd,1977, tr. 331.

[12] Lê Quí Đôn. Sđd, tr. 214.

[13] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí, quyển IX, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971, tr. 38.

[14] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí tỉnh Bình Định, dịch giả Tu Trai Nguyễn Tạo, NXB Nha Văn hóa, Bộ Quốc gia Giáo dục, tập số 20, 1964, tr. 57-58.

[15] P. Dourisboure. Les Sauvages Bahnars, P. Dourisboure de la Société des Missions Étrangères. Paris 1929 (Dân làng Hồ, Sài Gòn, 1972), tr. 7.

[16] P. Dourisboure. sđd, tr. 6.

[17] Lê Quí Đôn. Sđd, tr. 9.

[18] Nguyễn Đình Đầu. Địa bạ trấn Bình Định, tập I, lập năm 1815, tr. 476.

[19] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí, quyển IX, NXB Khoa học xã hội, 1971, tr. 38.

Quà cho Mẹ

Ái Duy

.

Hồi đó, khi còn là một cậu bé lên mười, mỗi lần có dịp trọng đại và thật đặc biệt, mẹ mới dẫn nó ra cửa hàng cho phép tự tay lựa thoải mái một món đồ chơi theo ý thích. Ở đó, chú nhóc sẽ được bơi trong một thế giới lộng lẫy với niềm đam mê bất tận, bỏ lại sách vở lý thuyết giáo điều. Bởi những cơ hội dành cho con trai của một bà mẹ đơn thân thế này không nhiều nên mẹ nó và cả cô chủ cửa hàng cũng thông cảm cho thằng nhóc tha hồ kén cá chọn canh. Sở thích của một chú bé ngày ấy thực ra chỉ quanh quẩn bên mấy con robot lắp ráp, các bộ đồ chơi mô hình, xe, tàu máy bay điện tử chạy pin. Nó rờ rẫm mân mê, cầm lên đặt xuống, phân vân suy tính, cả tiếng đồng hồ mới rụt rè chỉ cho mẹ con robot cao khoảng bốn tấc bằng nhựa xanh đỏ cao cấp. Cô chủ cửa hàng báo giá, lập tức nét hồ hởi háo hức trong mắt nó tắt lịm. Hơn một trăm ngàn, trong khi một buổi đi chợ hàng ngày của hai mẹ con đâu chừng mười ngàn thôi. Nó lắc đầu nguầy nguậy, nắm tay mẹ kéo qua góc khác. Rồi nó chỉ vào con robot khác nhỏ hơn, lớn tiếng chê bai món đồ mà nó đã kỳ công chọn ra trước đó xấu ình, mau hư, dỏm… Cho đến khi mẹ nó cương quyết giữ lại với lựa chọn ban đầu và trả tiền cho cô chủ thì nó mới thì thầm đầy có lỗi: Đắt quá mẹ ơi.


10 năm sau, vẫn còn là cậu sinh viên quèn ăn đong từng tháng, nó đưa mẹ vào các cửa hàng lớn ở trung tâm thành phố để tìm mua tặng mẹ một cái đồng hồ đeo tay hàng hiệu, cho mẹ tự chọn. Đó là khoản tiền thưởng mà nó nhận được từ một cuộc thi nhỏ và được toàn quyền sử dụng.


Hai mẹ con lượn lờ hàng buổi trời ở các cửa hàng, từ CK qua Tissot, Citizen, Gucci… Chỗ nào nó cũng kéo mẹ tới coi, xong mẹ lại kéo nó đi coi tiếp, cứ ướm vô tay liếc qua mẹ lại chê, cái thì thô kệch quá, cái thì toàn hột xoàn chói quá, hay trẻ trung quá… Cuối cùng, vì ngày đã cạn mà trời mưa quá, còn cả hai thì vừa ướt vừa lạnh vừa đói nên mẹ nó đành đồng ý lấy cái đồng hồ ở cửa hàng đầu tiên ghé vào.


Đó là món tiền lớn nhất đầu tiên trong đời mà con trai kiếm được đã dành để mua quà cho mẹ. Mẹ nó cũng không thể quên ánh sáng hân hoan tắt lịm trong đôi mắt trẻ thơ năm nào. Nên đó là một món quà tràn đầy ký ức yêu thương.