Feeds:
Bài viết
Bình luận

Đêm trăng tháng Tám

Huỳnh Ngọc Nga ( Torino Ý)

.

Cơm chiều chưa xong chồng tôi đã vội vả hối cả nhà:

– Ăn mau đi để mình còn đặt viển vọng kính ngắm trăng nửa chứ.

Thằng con lớn của chúng tôi ngạc nhiên:

– Mình mới ngắm trăng mấy hôm trước đây mà ba.

Em gái nó cười, làm ra vẻ hiểu biết hơn anh mình:

– Anh không nhớ hôm nay là ngày gì sao? Trăng hôm nay đặc biệt lắm đó, anh hỏi lại má thử xem.

– Ngày gì vậy má? Con trai tôi quay sang hỏi tôi.

Nhìn vẻ mặt ngớ ngẩn của cậu quý tử, tôi mỉm cười:

– Con thì có nhớ gì ngoài mấy trò chơi điện tử của con đâu, phải không? Hôm nay là ngày Rằm tháng Tám, tức này lể Nhi Đồng ở các xứ miền viển đông như Việt Nam của má hay còn gọi là ngày Tết Trung thu. Má đã kể bao nhiêu lần cho hai đứa nghe về ngày Tết này, con quên hết rồi hả? Cái lồng đèn bằng giấy má xếp cho con hồi nhỏ con còn giữ không?

– A, con nhớ rồi, ngày này ở VN người ta ăn bánh Trung thu, con nít xách đèn lồng, người lớn uống trà thưởng trăng phải không má?

Con gái tôi lanh chanh chen vào:

– Còn thiếu nhiều thứ lắm….

– Thiếu cái gì nửa? Em lúc nào cũng lộn xộn. – Thằng anh bực bội gắt em.

– Thiếu Hậu Nghệ – Hằng Nga, thiếu chú Cuội và Thỏ ngọc, thiếu Dương quý phi và Đường minh Hoàng vào ngày Trung thu sao anh không kể vô luôn.

Con trai tôi cười ngất, giọng chế giểu:

– Cô nương lại nói chuyện huyền hoặc nửa rồi. Anh tưởng em phải kể là thiếu ba phi hành gia Amstrong, Collins, Aldrin của phi thuyền Apollo 11 thám hiểm mặt trăng năm 1969 mới đúng chứ.

Chồng tôi đã ăn xong, đứng dậy, lên tiếng:

– Thôi, đừng tranh cải nửa, ba đi chuẩn bị viển vọng kính đây, hai đứa có muốn học hỏi lắp ráp loại kính này thì đến coi ba làm. Nhanh lên, đừng để trăng nghiêng qua khỏi nóc chung cư nhà mình.

Tôi vừa thu dọn bàn ăn vừa nghe ba cha con lăng xăng chuyện lắp ráp viển vọng kính, chiếc kính mà chồng tôi mới mua với giá rẻ của một siêu thị vừa mới khai trương. Đây không phải là lần đầu cả nhà tôi chuẩn bị cho một cuộc khảo sát thiên văn, vì ngay từ ngày mới mua loại kính nầy chồng tôi đã đem sử dụng liền và chúng tôi tha hồ suýt xoa bàn tán khi tận mắt thấy khá rõ ràng những hình ảnh tuyệt vời của các vì tinh tú trên bầu trời đêm. Hôm đó, trong lấp lánh của ngàn sao, ánh sáng huyền dịu của vầng trăng quyến rũ nhiều nhất sự quan sát của cả nhà chúng tôi. Và dù biết đàng sau màu trắng thanh khiết đó chỉ là những lồi lõm xấu xí của một nơi mà sự sống còn đang là dấu hỏi để các nhà khoa học phải cất công tìm kiếm, vậy mà con gái tôi vẫn không dấu đuợc sự thất vọng khi nhìn thấy sự thật phủ phàng. Nó bảo sao mặt trăng giống như một nàng ca kỷ tuy tuổi đã xế chiều nhưng trong đêm vẫn đẹp lộng lẫy kiêu sa với phấn son mượt mà và viễn vọng kính giống như chiếc gương thần soi thấu lớp phấn son đó để phơi bày những tàn phá của thời gian. Trái ngược lại với cô em gái, con trai tôi thích thú nhìn thấy mặt thật của một vệ tinh chung thủy nhất với địa cầu và chồng tôi nhân cơ hội đó đã giảng giải tận tình cho chúng tôi biết thêm về tính chất của chị Hằng, một tính chất khô khan không bầu khí quyển để chuyền tia sáng mặt trời vào bên trong, vì thế nơi đó chỉ có màn đêm, ánh sáng của vầng trăng mà bao thi nhân ca tụng chỉ là ánh sáng phản chiếu của mặt trời từ đó dội xuống địa cầu.

Với chồng và con trai tôi, chuyện quan sát vầng trăng là chuyện tìm hiểu thêm về khoa học, về những minh chứng mà tất cả chúng ta đã học hỏi từ trường học, báo chí, Tivi, …..Với con gái tôi, đàng sau mặt viển vọng kính là cả một sự sụp đổ những chuyện thần kỳ phương đông mà tôi đã kể cho nó nghe vào những mua trăng sáng, nhất là những đêm thu tháng tám nơi quê ngoại xa vời. Con bé nói với tôi, dù biết sự thật không đẹp như cổ tích nhưng nó vẫn mơ hoài dáng tiên nơi cung Quảng hay chú Cuội dưới gốc đa già hoặc đâu đó phất phơ điệu múa của Dương quý phi khi Đường minh Hoàng du nguyệt điện.

Riêng tôi, những mùa trăng luôn là mùa gợi nhớ với đầy ấp bao kỷ niệm của những ngày xa xưa cũ, nổi nhớ đó hiện diện từ khi tôi sống đời tha hương viễn xứ để biết niềm đau của một áng mây vì cơn gió xôn xao trôi về phương khác, hóa nước thành mưa khóc kiếp lạc loài. Những mùa trăng của tôi mang từng tên gọi nhớ, trăng tháng giêng nhớ Tết Nguyên Tiêu; trăng tháng hai, tháng ba rộn ràng nhớ Tết Thanh Minh của nàng Kiều bạc hạnh; chị Hằng tháng tư hân hoan chào mừng ngày Phật Đản; trăng tháng năm đến vấn vương chút vị hương mùa tết Đoan Ngọ mồng năm tháng năm vừa mới bước qua; trăng tháng sáu yên ả không tên để chuẩn bị nổi nhớ gọi mời mùa trăng lễ hội Vu Lan tháng bảy; và đây, nàng trăng tháng tám của Tết Trung thu đang đeo đẳng theo tôi mỗi năm bằng những hoài tưởng mênh mông.

Trăng thu tháng Tám với tôi không có những bước chân đầu tiên của con người trên mặt nguyệt bằng phi thuyền vũ trụ Apollo 11 lừng danh lịch sữ, cũng không có những mộng mơ của tuổi dậy thì để vớ vẫn nhớ chuyện Hậu Nghệ – Hằng Nga, Dương phi – Đường đế, Thỏ ngọc -Cuội già…. Nổi nhớ của tôi không bay bỗng về hướng trời cao mà cô đọng trên mặt địa cầu, có tôi ngày thơ rước đèn cùng lủ bạn của xóm Chánh Hưng hiền lành mộc mạc đi diễu hành từ đầu làng đến cuối ngỏ. Những chiếc đèn lồng bọc giấy kiến trong suốt màu xanh, đỏ, vàng với đủ dạng hình tôm, cá, rồng, sao. v.v….mà chưa đầu tháng tám (Âm lịch) các tiệm bánh trung thu khắp mọi nẻo đuờng đã bày bán chung với những chiếc bánh nướng, bánh dẽo thơm tho như mời mọc sự háo hức của trẻ con lẫn người lớn.

Tôi không bao giờ quên những ngày cận tết trung thu ba má tôi thường dắt tôi và cô em kế của tôi vào Chợ Lớn để coi sự nhộn nhịp mua bán của mùa lễ nầy, lúc đó các em khác của tôi chưa chào đời, và cuối cùng bao giờ chị em tôi cũng sung sướng khi về nhà với mỗi đứa một chiếc đèn lồng trên tay, năm nào tôi cũng luôn chọn đèn lồng con cá trong khi Yến, em tôi, lại thích đèn ngôi sao, con voi hay đèn phi cơ. Vài năm sau, lớn hơn một chút, lên lớp nhì, lớp nhất bậc tiểu học, tôi lại thích những chiếc đèn do chính tay mình làm. Trước những ngày trăng thu đến, tôi đi xin những nẹp tre của những vựa chằm lá trong xóm để kết thành những chiếc đèn ngôi sao mà tôi đã khổ công học hỏi cách làm từ một chiếc đèn cũ để dành trong mùa hội thu năm trước vì chỉ có loại hình này là dễ làm đối với tôi. Xong phần khung, tôi xin tiền ba má tôi đi mua giấy kiến về dán vào nẹp tre để hoàn thành chiếc đèn ngôi sao. Đôi khi để thay đổi hình thức cho vui, tôi mua loại giấy màu đục hơn giấy kiến, loại giấy màu dùng để bao các bìa tập rồi xếp thành đèn trống quân. Những lần kết đèn như vậy phải qua nhiều công đoạn chuốt tre, kết nẹp, cắt giấy, dán hồ. Chiếc đèn hoàn tất là cả một công trình và với cái nhìn ngây thơ của tuổi nhỏ, với bàn tay chế tạo của chính mình, tôi thấy hình như chiếc đèn sao đó đẹp hơn cả những chiếc lồng đèn treo bán của phố tiệm Chợ Lớn – Saigon.

Có những chiếc lồng đèn rồi lại phải nôn nao chờ ngày Rằm tháng tám vì ngày này là ngày vui đặc biệt của lũ trẻ chúng tôi. Chiều hôm đó chúng tôi đuợc ăn cơm sớm để chuẩn bị “ra quân”. Đèn đường vừa hiu hắt những tia sáng nhạt nhòa, trăng chưa lộ hẳn khỏi ngọn cây me bên hè nhà ông bà Ba lối xóm là tôi và em tôi đã đâu đó sẳn sàng, đèn cầy được gắn chắc trong lồng đèn lung linh cháy, chao đảo theo từng ngọn gió thu, đong đưa trên những bàn tay non trẻ. Chúng tôi đứng đợi đám con nít gần cả trăm đứa đi từ các xóm Mũi Tàu, Miểu Vạn, bến Nguyễn Duy…. tất cả kéo về hướng nhà tôi, vừa đi vừa hát vang rân bài Rước Đèn Tháng Tám. Chị em tôi nhào ra nhập bọn để đi dần về Bến ba Đình của con kinh Tàu Hủ, có bãi đất trống rộng lớn của Lò Than chú Hía – một ông chủ ba tàu giàu sụ – đuợc dàn dựng cho ngày lễ hội này. Sát với vách tường của vựa than là một sân khấu “dã chiến” bằng ván sơ sài có đèn điện đuợc kéo dây điện từ nhà ông chủ vựa, đèn “câu” không đủ để làm rực sáng cả khuôn sân nên Ban Tổ chức treo thêm nhiều đèn măng-xông hổ trợ. Bà con trong xóm trước, xóm sau đã tự động xách ghế nhà đem ra để chật sân nhưng vẫn chừa đủ chổ cho lủ con nít kéo đèn đi qua. Trên sân khấu có ampli, micro đầy đủ. Sân khấu có hai cầu thang, bên phải để bước lên và bên trái để bước xuống. Ở một góc sân, có một bàn để đầy các hộp bánh trung thu và bánh dẽo.Tôi lúc đó không cần tìm hiểu bánh ở đâu mà có, chỉ cần biết là đứa bé nào có lồng đèn là đuợc một cái bánh dẽo nhỏ hoặc nữa cái bánh trung thu, chỉ đuợc lên lảnh bánh một lần thôi chứ không đuợc lên hai hoặc ba lần, nhưng cũng có đứa “ăn gian” tới lui “thiếm xực” lần thứ hai. Sau nầy lớn lên tôi mới biết đó là tiền quỹ của cơ quan địa phương xuất ra cho trẻ em vui đón tết trung thu. Có bánh xong, chúng tôi lẩn quẩn ở đó chờ vài cơ quan chức việc trong xóm lên phát trình cảm tưởng để vổ tay theo tiếng vổ tay của người lớn và coi văn nghệ do các ca sĩ cổ nhạc khá nổi tiếng của đài phát thanh Saigon thuở đó được mời đến giúp vui như nghệ sĩ Thành Công, Sáu Thoàn, Chín Sớm, cô Lệ Liễu , cô Ba Trà Vinh, v.v…

Sau hai tiếng đồng hồ thì cuộc vui chấm dứt, chúng tôi lục tục kéo nhau về, đi đứng lộn xộn hàng ngủ chứ không trật tự như lúc đầu hôm, có đứa lồng đèn vẫn cháy sáng lung linh, có đứa chỉ có lồng mà không thấy đèn đâu hết. Nhưng cần gì đèn của lủ nhỏ chúng tôi, cũng không cần đèn điện trên đường mờ ảo gần giữa đêm khuya, kia kìa, trên cao chót vót “ông trăng” đang tỏa một ánh sáng dịu dàng soi đường cho mọi người về sau đêm lể hội, “ông” ở trên cao mà như gần gủi vì ánh sánh trong thanh đó hoà trong gió thu đêm như mơn trớn, ve vuốt làn da mọi người đang mau bước về nhà tìm giấc ngủ an lành. Mà an lành thật, sự an lành của một không gian không ô nhiễm môi trường, cũng không xe cộ ồn ào động cơ quấy nhiểu và không có cả hận thù chinh chiến của những năm sau nầy bằng tiếng súng, tiếng đại bác vang rền mỗi đêm từ xa vọng về với ánh hỏa châu chập chờn trên nền trời xa thay cho ánh nguyệt. Không gian và thời gian của những mùa trăng thu thơ trẻ của tôi là thế đó. Tiếc rằng những năm sau, khi tôi vào trung học, vùng Chánh Hưng được tân trang đổi mới, không còn vựa lá, lò than, thay vào đó là bến xe buýt, xe lam, chợ búa, hàng quán mọc lên khắp chốn, tất cả đồng lỏa với nhau xoá dần nhũng êm ả ngày xưa, bãi đất trống dành cho những buổi hội diễn văn nghệ không còn, những đêm rước đèn chỉ còn lại trong ký ức mọi người, các đứa em khác sau nầy của tôi không biết đuợc niềm vui của những đêm rước đèn trung thu như tôi nửa.

Tuy nhiên, truyền thống rước đèn cho trẻ nhỏ vẫn còn ở những miền thôn dã và đặc biệt trong đêm hội trăng thu dinh Độc Lập (hay dinh Tổng thống lúc bấy giờ) luôn tổ chức trọng thể buổi lễ rước đèn, tặng quà bánh cho trẻ em khắp nơi tụ về, những hình ảnh vui tươi đó đuợc chụp hình lên báo truyền đi khắp nơi trong toàn lãnh thổ miền nam bấy giờ..

Tôi vào đời đi làm ở tuổi mười chín tại Hoàn Cầu Bảo Hiểm Công ty. Phải nói rằng tôi may mắn ngay từ những bước khởi đầu vì đó là một cơ sở đang phát triển tốt và lối làm việc gần như có tính cách gia đình với ba ông giám đốc như ba vị cha già lúc nào cũng tận tình lo lắng cho các nhân viên, đó là các ông Lý Anh Hiền, Bàng Ốc Minh và Nguyễn Phát Tài. Trong ba người, chỉ có ông Tài là người Việt còn hai ông kia là người Hoa. Chỉ cần nghe tên các ông người ta cũng đủ mường tượng thế nào là uy tín của Hoàn Cầu Bảo Hiểm Cty, một Cty có đủ người hiền, tài và minh chánh mà. Dĩ nhiên đám nhân viên chúng tôi cũng được hưởng lây sự thịnh vượng của Cty, ngoài tiền lương hậu hỉ chúng tôi còn luôn đuợc tiền thuởng vào những dịp cuối năm hay những lúc kết toán chia lời cho cổ đông. Nhưng đặc biệt nhất và cũng là điều làm tôi nhớ nhiều về Cty khi mùa trăng thu đến, đó là những hộp bánh trung thu thơm ngon thượng hạng mà Cty dành tặng đồng đều cho từng nhân viên không biệt phân cấp bậc. Những cái bánh không chỉ nói lên sự phát đạt của Cty mà còn nói lên cái tình giữa nhân viên và ban Giám đốc, ngày vui chung hưởng, ngày làm chung lo. Bây giờ vật đổi sao dời, Hoàn Cầu Bảo Hiểm là cái tên đã lùi vào dĩ vãng nhưng tình cảm cũ vẫn còn mãi trong tâm của những ai đã một thời làm việc lãnh lương của Cty nầy.

Gió đưa trăng lênh đênh khắp chốn như biến chuyển dòng đời đưa đẩy chúng tôi trôi giạt trời xa. Trăng trôi rồi lặn biến khi ánh dương lên, tôi trôi rồi mịt mùng thương nhớ khi ngồi nhớ lại những mùa trăng năm cũ. Quê chồng tôi có mấy ai hoài niệm những đêm trăng, ở đây bốn mùa đèn đường, đèn hàng hiệu sáng choang rực rỡ. Ánh trăng những đêm Rằm bị “luốt” đến ngượng ngùng phải ẩn nấp dưới lớp khí bụi bao phủ khắp cả bầu trời. Lớp bụi khí do chính con người tạo ra để tự hại chính mình và bây giờ con người đang tìm cách “giải trừ” nó, không phải để cứu vản vầng trăng mà để tự cứu lấy cả thế gian nầy. Vào mùa thu, nơi đây thiên hạ đã bắt đầu quấn aó, choàng khăn khi những cơn gió heo may, những cơn mưa bụi đầu mùa lất phất bay, có ai chịu khó chờ đêm trung thu ra ngoài ngắm trăng, nhâm nhi miếng bánh, nhấm nháp chung trà? Chỉ có chồng tôi tội nghiệp vợ nhà khoắc khoải nhớ những đêm trăng xưa, các con tôi thương mẹ nhớ quê hương như chú Cuội ôm gốc cây đa ngóng hoài về mặt đất nên mỗi năm đến thời gian nầy tất cả thường chịu khó ngồi nghe tôi nhắc hoài chuyện rước đèn trong xóm, lãnh bánh ở Cty.

Kể hoài chuyện dưới đất sợ “cha con nó” chán nghe, tôi kể thêm chuyện trên trời nên con gái tôi mới biết “ông trăng” còn biến “giống” để thành chị Hằng Nga có chồng là Hậu Nghệ, một ông chồng tài ba xuất chúng cung thủ tuyệt vời, bá phát bá trúng bắn rơi chín mặt trời để cứu nguy hạn hán chốn trần gian, đươc dân chúng tôn sùng cho lên ngôi báu. Ông vua Hậu Nghệ nầy quên thuở hàn vi, quen mùi phú quý sinh ra hư hỏng, bạc đãi vợ hiền, tàn ác với thần dân khiến Hằng Nga buồn tủi nắm lấy đuôi tên thần bay về tuốt cung trăng, bỏ Hậu Nghệ ở lại và bị “đảo chánh” mất hết quyền hành để cuối cùng chết trong thương nhớ vợ hiền.

Đó là ông trăng mang danh chị Hằng “hoàng hậu”, tôi kể thêm một “ông trăng” khác, ông trăng nầy tên chú Cuội, giống đực đàng hoàng, làm nghề thợ săn, đi rừng tình cờ thấy cọp mẹ nhai lá đa làm thuốc chửa bịnh cho cọp con nên Cuội hái nhánh đa đem về trồng trước nhà thành cây để chờ dịp cứu đời. Duyên trời đưa đẩy, có cô con gái ông phú hộ trong vùng mắc bịnh trầm kha và Cuội nhà ta nhờ lá đa mà chửa bịnh cho cô nên đuợc phú ông gả con gái đền ơn đáp nghĩa. Cuội rước vợ về nhà, ngôi nhà nho nhỏ trước cổng có cây đa thần dược. Cuội dặn vợ đừng làm ô uế gốc đa để đa sống an, tăng trưởng tốt. Nhưng vợ Cuội sau cơn bệnh trở nên lãng trí hay quên, vô tình làm trái lời dặn của chồng khi Cuội vắng nhà. Thế là giông tố nổi lên, thân đa chuyển động vừa kịp lúc Cuội đi săn được thỏ ngọc về nắm lấy gốc đa cùng bay về cung quế. Từ đó cứ đến những đêm rằm, nhìn lên trời cao người ta thấy giữa mặt trăng tròn có mập mờ hình dáng cây đa và với đôi mắt đi sau cái trí tưởng tượng phi phàm của người nhân thế, mọi người bảo có cả chú Cuội nhà ta ngồi dưói gốc cây ôm thỏ ngọc nhìn về dương gian tiếc nuối hiền thê.

Thấy như chưa đủ những hoang đường về “ông trăng” sáng, tôi đem kể chuyện tình lãng mạn vương giả của ông vua Đường Minh Hoàng và nàng quý phi Dương Ngọc Hoàn. Quý phi nầy là một trong Tứ Đại Mỹ Nhân bên Tàu, đẹp đến nổi con nuôi của vua là tướng An Lộc Sơn đem lòng say đắm, sanh tâm chiếm đoạt “mẫu hậu” nên làm loạn đánh chiếm kinh đô khiến vua tôi phải dắt díu nhau bỏ hoàng cung lánh nạn. Trên đường đào thoát, các quân tướng chịu nhiều gian khổ để bảo vệ vua và hoàng tộc, họ đổ lổi cho nhan sắc khuynh thành của quý phi là nguyên nhân gây ra binh biến và ra điều kiện với nhà vua rằng phải giết quý phi thì mọi người mới hết lòng chiến đấu với loạn quân để đưa vua trở lại kinh đô. Lúc giậu đổ thì phải để bìm leo, vua quặn ruột thắt gan hạ lịnh “tam ban triều điển” (*) ái thê cho vừa lòng ba quân tướng sĩ, nhờ vậy mà cuối cùng loạn tướng bị thua và vua hồi cung với trái tim tan nát. Nhớ người ngọc, nhớ cả những đêm trăng bên nhau một thời say sưa yến tiệc, mùa trung thu sau ngày Dương Phi mất, vua nhờ đạo sĩ phù phép hóa giải lụa đào thành đường mây nối liền trần thế với cung hằng cho vua ngự giá đi tìm cố nhân để người đời sau truyền nhau sự tích Đường vương du nguyệt điện.

Những chuyện trên như hoa mầu tưới thắm nền văn học đông phương cho dù mọi người đều biết đó chỉ là huyền thoại viễn vông . Với cái nhìn nào thì trăng cũng là biểu tượng của sự dịu dàng, trong sáng và cứ đếm số lượng bao tác phẩm văn học, nghệ thuật mà các văn, thi, nhạc, họa sĩ tạo tác về trăng thu từ xưa đến nay khắp cùng thế giới sẽ đủ hiểu trong các mùa trăng thì trăng thu được con người ưu ái nhất.

Ngoài bao lơn chồng con tôi đang hỉ hả huyên thiên bình phẩm đủ điều về tên những vì sao qua viển vọng kính, con trai tôi đang tìm sao Hỏa, chồng tôi xoay trở mọi chiều ống kính để xem có thể phát hiện ra một ngôi sao chổi mới nào không, con gái tôi hớn hở thấy được sao Vệ nữ rất gần và rât giống với mặt trăng tuy nhỏ hơn một chút. Tôi cũng dọn dẹp xong buổi cơm chiều đúng lúc chồng tôi gọi vói vào nhà, kêu :

– Mình, ra ngắm trăng thu của mình đi.

Con gái tôi liếng thoắng:

– Phải chi từ ống kính nầy mình thấy được trăng VN bây giờ thì hay biết mấy hén má.

Đang dợm bước chân ra tôi bỗng khựng lại khi nghe con bé nhắc đến trăng VN, có một cái gì đó làm lòng tôi chùng xuống khi nhớ đến lần về thăm quê hương vài tháng trước đây, hình ảnh phố xá Saigon với những dòng xe cuộn chảy không ngớt khói bụi mịt mù như hiện ra trong tâm trí tôi. Không biết trách nhiệm về ai nhưng các thành phố lớn của VN đều như thế đấy. Xe lớn, xe nhỏ thi nhau nhập vào một đất nước mà trước kia người dân chỉ quen thong dong đi lại bằng những chiếc xe đạp hiền hòa. Kinh tế thời đổi mới khiến người dân như chóa mắt chạy theo thị trường, chạy bằng mọi cách trong việc kiếm ra tiền và chạy bằng cả những chiếc xe Nhật, xe Hàn, xe Tàu không cần kiểm soát việc thanh lọc khói xe, tất cả cặn bẩn đuợc phun ra để người dân tha hồ hít thở và các bịnh viện tha hồ gia tăng số bịnh nhân tìm đến bởi vô số các chứng bịnh vì ô nhiêm môi trường. Người cỏi thế bịnh thì trăng trên cao cũng chẳng “khỏe” được bao nhiêu, sao đêm thôi không lấp lánh, chị Hằng cũng buồn vì bị “luốt” bởi những áng mây đen do bầu khí bẩn tạo thành. Tôi thở dài nói với con:

– Chắc đêm nay trăng Saigon không đẹp như ở đây đâu, con không nhớ khói bụi giao thông bên đó trong lần về hôm nào sao? Khói bụi đó phủ che trăng Rằm của má rồi.

Con trai tôi nói như an ủi tôi:

– Cùng là một vầng trăng mà má.

Ừ, thì cùng là một vầng trăng thu nhưng nơi đây trăng cười, bên kia trăng thẹn vì những áng mây che. Tôi nghe lòng xót xa khi nhớ lại hình ảnh người dân nghèo ngụp lặn giữa không gian bụi khói trong cái nóng như lên cơn sốt miền nhiệt đới. Tiếng chồng tôi lại giục thúc:

– Mình, ra đây nhanh lên, trăng sắp chuyển hướng rồi kìa.

– Thôi, năm nay em không ngắm trăng nửa, chờ năm tới đi anh.

– Sao vậy? Chồng tôi ngạc nhiên hỏi.

Tôi cười không đáp, chàng làm sao biết được nổi lòng nguời xa xứ khi để tâm tư một thoáng nhớ về cố hương và chợt dưng tôi nghe mình hững hờ với đèn trăng tháng tám. Hằng Nga có giận, chú Cuội có buồn tôi đành chịu, nhưng đó là tất cả những gì tôi muốn chia xẽ cùng quê hương tôi trong phút giây hồi tưởng nầy. Ước mong sao cho nơi đó ngày mai trời quang gió mát trước khi trăng thu chỉ còn rơi lại nữa vầng nguyệt khuyết.

HUỲNH NGỌC NGA

—————————————————————————-

GHI CHÚ : (*) Tam ban triều điển : Một án lệnh tử hình ngày xưa trong cung vua dành cho hậu, phi, cung tần. Tội nhân được chọn một trong ba cách để chết : độc dược, lụa đào dùng để thắt cổ và dao găm để tự xử.

Con ve sầu hát thêm vào mùa thu

Trần Thiên Thị

Con ve sầu hát thêm vào mùa thu

1

những con quạ ngủ quên nơi nào bên kia bến sông ?

người con gái

còn chờ nhau bên kia bến sông ?

một nhịp cầu

mùa ngâu trời chẳng làm ngâu

vỗ vào đêm xanh mà hát

rượu một mình chẳng nguôi nhớ nhau

2.

nụ cười đã trở thành một ám dụ mới

không chỉ dành riêng cho niềm vui

cũng như rượu bây giờ

không chỉ dành riêng trên bàn thờ hiến tế

chiều nay ta uống và nguyền rủa

nhớ gì hay nhớ mưa

mùi đất nâu thơm buồn tức ngực

3.

chim khách kêu sau hè

mẹ bảo nhà có khách

ta chờ như thể đã trăm năm

chợ chiều đông sợ em về lạc lối

hoa cỏ đã gieo sợ mưa về vô công

lòng trãi chiếu hoa sợ mùa thu mất lòng

cuôi cùng

chỉ còn biết giận con chim rừng hót xằng bờ tre

4.

mùa đã trễ rồi

không trồng được cây gì

thương mãnh vườn già cất công đi dọn cỏ

thơ chẳng cất công

chữ già xơ cứng

con ve sầu ngủ quên suốt mùa hè

cất tiếng ri ri giữa chiều lạc lõng

một ngày thu trời như lữa bỏng

cứ muốn hát thêm

lời ca cuối cùng

trần thiên thị

Bây chừ

Mộc Miên

.

Nhân gian bây giờ là tháng mấy

Sao ngày dài hơn cả con sông

Mắt ai hoang dã như rừng vậy

Ngước lên thăm thẳm đến muôn trùng

.

Nhân gian bây giờ là tháng mấy

Sao buồn đầy trong những mênh mông

Môi ai hay có là đốm lửa

Cháy lên đốt trụi những khôn cùng

.

Ta đến tàn đêm vây bủa quanh

Em ngồi sương khói ở chung quanh

Nhìn qua da thịt trăm gai nhọn

Tay chạm vào đâu cũng lạ lùng

Phan Trường Nghị

Tháp Thầy Bói tọa lạc trên một cụm đá nổi lên giữa đầm Thị Nại, từ lâu đã là một danh thắng của TP Quy Nhơn. Xung quanh nguồn gốc địa danh này có nhiều giả thuyết khác nhau. Cùng với đó cũng có một số thông tin lịch sử thiết nghĩ rất nên nhắc lại để ít nhất có thể tăng thêm phần thú vị cho du khách khi đến tham quan nơi này.

1. Trong tác phẩm Nước Non Bình Định, Quách Tấn viết: “Trong đầm ở phía Tây, gần phía Qui Nhơn nổi lên một cụm đá rộng, chừng một vài sào và cao chỉ trên mặt nước chừng một thước, một thước rưỡi khi thủy triều lên. Người ta gọi là tháp Thầy Bói. Không hiểu tại sao lại gọi thế. Có người bảo rằng xưa kia có một bốc sư bói hay như thần, xây một tòa tháp tại đó. Ai muốn hỏi phải chịu khó đi thuyền ra. Sau khi bốc sư qua đời, tháp không có người coi ngó bị sóng gió phá hoại. Hiện trên mỏm đá có một miếu nhỏ do anh em ghe thuyền lập để thờ thủy thần”…

Tháp Thầy Bói. Ảnh: QUỐC TUYÊN

Nhưng khoảng trăm năm trước đó, quãng năm 1870, sách Đại Nam Nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn khi mô tả đầm Biển Cạn – một tên gọi cổ xưa của đầm Thị Nại – đã chép như sau: “Nước đầm đổ vào cửa Thị Nại, trong đầm có một núi nhỏ tục gọi Tháp Thầy Bói, phía tả là Gành Hổ, phía hữu là Bãi Nhạn. Lại phía tả có Vũng Tàu, Gành Triều, là Bãi Sò, là Mũi Cổ Rùa, phía Bắc có thôn Huỳnh Giản”.

Điểm dễ nhận ra là ở khu vực quanh tháp Thầy Bói có một số địa danh có tên: Bãi Nhạn, bãi Sò, gành Hổ, mũi Cổ Rùa… cho thấy những địa danh quanh đây hầu như đều gắn liền với tên các con vật. Có con sống trên cạn (hổ), con dưới nước (sò), con ở trên không (nhạn), có con vừa ở đất vừa ở nước (rùa). Thế nên địa danh tháp Thầy Bói còn có thêm một cách giải thích khác, theo đó rất có thể đã trùng lặp với tên một loài chim là chim thầy bói, còn gọi là chim bói cá – loài chim thường tụ ở các gành đá để bắt mồi. Cụm đá nhô lên giữa đầm Thị Nại trông như ngọn tháp mà thành tên. Xem ra nó hợp lý hơn là chuyện có ông thầy bói trú ngụ ở am giữa đầm mà rồi thành tên địa danh.

Vậy cái am/miếu xây dựng trên cụm đá giữa đầm có từ lúc nào? Tục thờ cúng thần vật của người Việt đã có từ ngàn xưa, ngư dân quanh đầm Thị Nại sống nhờ vào con tôm con cá đâu chỉ mới gần đây. Chuyện dân gian tự xây một cái am để thờ thủy thần, cầu cho suôn sẻ hằng năm mưu sinh là chuyện thường có. Có lẽ từ khi có người định cư và lấy sông, biển đầm làm chốn mưu sinh, am/miếu cũng đã có ngay sau đó không lâu.

2. Vào thời Tây Sơn, có một sứ đoàn người Anh đến Quy Nhơn xin yết kiến vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, đặt vấn đề bang giao, thông thương, trao đổi hàng hóa. Trưởng đoàn sứ đoàn này Charles Chapman sau đã tường trình lại chuyến đi này cho Toàn quyền Anh và Công ty Đông Ấn thuộc Anh ở Bengal, trong đó có đề cập việc vua Thái Đức Nguyễn Nhạc đã tổ chức một buổi hiến tế ở vịnh Quy Nhơn hôm 26 tháng 7 năm 1778. Đoạn tường thuật như sau: “Trên đường từ triều về chúng tôi gặp nhà vua vượt qua. Nhận được vài tin xấu về lực lượng thuyền chiến ở Đồng Nai, ông sắp sửa cử hành nghi thức hiến tế tại một ngôi miếu ở trong vịnh nơi tàu của chúng tôi neo đậu” (British Mission to CochinChina). 

Charles Chapman kể: “Sau đó chúng tôi trông thấy ông vượt sông và cập bờ tại đền thờ. Ông ở trong một chiếc thuyền có mái che, cùng tham dự có 5 hoặc 6 thuyền chèo với chừng 200 người”.

Thử hình dung nơi vua Thái Đức tổ chức hiến tế là một ngôi đền ở giữa vịnh Quy Nhơn, thì đó có lẽ không thể khác hơn chính là cái am/miếu trên cụm đá giữa đầm Thị Nại. Nói cách khác tháp Thầy Bói với đời sống, sinh hoạt tâm linh đã xuất hiện trong thời Tây Sơn. Đoạn tường trình trên cũng hé ra thêm một chi tiết vua Thái Đức Nguyễn Nhạc “nhận được tin xấu ở Đồng Nai”, nói cách khác chính là sự biến liên quan đến đội quân Tây Sơn ở Gia Định.

Nguyên tháng 2 năm Mậu Tuất 1778, vua Thái Đức Nguyễn Nhạc sai Tổng đốc Chu, Tư khấu Uy (Oai) từ Phiên Trấn (Gia Định) đánh phá ra các địa phương ven sông, phái Hộ giá Phạm Ngạn từ Quy Nhơn vào Bình Thuận, đem thủy sư đánh lấy Trấn Biên (Biên Hòa). Bấy giờ Nguyễn Ánh xưng vương, được quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn hỗ trợ, tổ chức phản công. Tin tức xấu khiến một ông vua phải cử hành một nghi thức như thế phải tương đối lớn, trong khung thời gian ấy chính là việc tổn thất thủy binh và Tư khấu Oai bị quân Đông Sơn chém chết trong chiến trận Bến Nghé tháng 5 năm Mậu Tuất. Và như thế có thể thấy rằng từ thời Tây Sơn, am/miếu trên cụm đá giữa đầm Thị Nại – nơi mà ngày nay ta quen gọi là tháp Thầy Bói, đã có vị trí không hề tầm thường.

3.Tháp Thầy Bói hiện nay chưa là di tích tâm linh, nhưng ngoài ngôi miếu xưa nay đã được sửa sang lại, một vài công trình nhỏ khác mang dáng dấp kiến trúc tín ngưỡng đã mọc lên. Những công trình trên cụm đá giữa đầm không còn mang ý nghĩa cầu an cho việc mưu sinh sông nước, để ngư dân thêm niềm tin khi vượt qua đầu sóng ngọn gió; chúng cũng không phải là nơi ghi nhớ cho biết bao xương trắng trầm lắng dưới đáy đầm từ những cuộc lửa binh giữa hai phe Nguyễn Tây Sơn và Nguyễn Gia Miêu. Cũng không mấy người nhớ đến việc vua Thái Đức Nguyễn Nhạc từng thực hiện nghi thức hiến tế, nhang khói tưởng nhớ cho binh lính của ông nằm xuống ở Gia Định năm 1778. Một điểm đến thu hút nhiều du khách có lẽ nên được hoàn chỉnh thông tin giới thiệu để tránh việc vẽ vời ly kỳ hóa, hoặc dị đoan hóa một danh thắng ở sát bên trung tâm TP Quy Nhơn.

PHAN TRƯỜNG NGHỊ

Nguồn Báo Bình Định

Cánh chim di

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

Những ngày tháng hạ rồi cũng qua nhanh khi những đứa bé được cha mẹ chuẩn bị cho những bộ quần áo mới, những tập vở tinh khôi để bước vào niên học mới.

Tháng Tám luôn bắt đầu niên học mới ở nơi này, khác với quê tôi ngày xưa niên học mới bắt đầu thừ tháng Chín…

Sáng hôm nay con đường quen thuộc mọi ngày lại có thêm bóng dáng của người đàn bà mặc chiếc áo màu xanh lá mạ non đứng chỉ đường cho đám nhỏ tung tăng trở lại trường..

.Mùa hè đã qua nhanh vậy sao???các cháu tôi đã trở lại trường sau hai tháng Hè ngơi nghỉ.

Buổi sáng nào , tôi vẫn còn nhìn thấy con chim Robin đàng sau nhà vẫn chạy ra vào bên chiếc nhà gỗ sơn màu xanh đỏ, vẫn hót vang bên ngôi nhà bé xíu mà chủ nhân đã dọn dẹp sẵn chào đón chim trở về sau mùa đông giá, những con chim màu vàng nâu, có một mảng yếm màu hoàng yến đeo trước ngực như dải yếm đào của cô gái Bắc quê tôi…

.Mỗi buổi sáng ngồi bình yên bên ly cà phê sángsau khu vườn nhà còn đẫm sương , hình ảnh thân thương nhất trong tôi vẫn là hình dáng nhỏ nhắn của con chim Robin mà tôi đã nhìn thấy nó từ hai năm qua…

Khi tôi dọn đến căn nhà này, hình ảnh thân thương nhất cho tôi mỗi buổi sáng vẫn là nó, nhảy nhót líu lo, cất tiếng ríu rít như mời gọi những bạn bè thân quen , nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng con chim nào khác bay về…

Qua mùa sau, tôi bắt đầu để ý đến nó như một thân quen không thể thiếu, tôi tìm mua một cái nhà lớn hơn, sơn màu thắm tươi hơn….Và hàng bao sáng ngồi chờ bóng chim về mỏi mắt, tai chờ , dạ trông ngóng.

Niềm vui đến với tôi khi một buổi sáng nào chợt nhận ra đôi chim đã trở về của đầu mùa hè năm ấy, không phải một con mà là hai con…thật là tuyệt vời khi nhìn thấy hai cái trứng màu xám nằm giữa mấy mảnh rơm khô giữa bộn bề những sợi lông óng ả…

Một gia đình bé nhỏ thành hình, một niềm vui nhân rộng trong âm hưởng của một bản đồng ca khi mỗi sáng lặng thầm trong niềm vui sẻ chia ấm áp bốn con chim làm bầu bạn trong những sáng tinh khôi.

Rồi những ngày chớm Thu, khi những đợt gió heo may về ve vuốt bờ cỏ úa, khi ngọn gió thu làm rơi rớt những chiếc lá phong trên bờ cỏ, khi những con sóc vẫn tung tăng nhặt những trái chín của cây hồng giòn sau nhà…gia đình chim đã biến mất tự bao giờ, chúng ra đi mà không hề báo cho người bạn già thinh lặng ngắm nhìn sẻ chia với chúng từng viên thóc, hột đậu be bé mỗi ngày, không cả một lời giã biệt…thật thế sao chim ?

Tôi lặng thầm đem cất chiếc nhà bé con của gia đình chim vào một xó, chuẩn bị cho mùa nắng ấm năm sau….gia đình chim không biết bay về trốn lạnh ở nơi đâu???xứ sở nào cho chim đến, phố phường nào đón bước chim di.

Sáng hôm nay vẫn một ngày bắt đầu bằng ly cà phê lặng thầm buổi sáng, lười nhác lãng quên, tiếc nuối bâng quơ, nhớ man mác tiếng chim kêu ríu rít, chỉ còn chăng chút gió heo may xua đuổi những cánh chim đi tìm nơi trốn lạnh, chỉ còn gió và sự trống vắng lặng thầm trong nỗi xáo xác khôn nguôi

Thời tiết thay đổi, tuổi già chất chồng cũng thay đổi theo trời nắng bỗng mưa sa…những cơn ho khan tìm về và hai bàn tay lạnh cóng…tôi nằm miệt mài giữa chăn gối bộn bề…và he hé bên trong cửa sổ nhìn ra khu vườn mỏi mắt….

Gió về đâu sau những cánh chim di

Hình hài em tôi không sao kịp nhớ

Giấu vào tim cùng ánh mặt trời

Buổi sáng nào

Ly cà phê một mình ngọt đắng

Chợt trời chiều khuất nẻo nắng xưa

Những con đường nửa quên nửa nhớ

Cánh chim di không nhớ tuổi tên

Chim đi không gởi một câu chào

lặng thầm tôi nhắn lời hỏi chim

Biết chăng vườn cũ kẻ ngóng tin

Chờ nghe tiếng hót …mong tin trở về

Rồi từng năm khi bắt đầu cơn nắng hạ, nắng chói chang, mặt trời vút lên cao…

Tôi lại sẽ hoan hỉ treo lên ngôi nhà nhỏ đón đôi chim thân quen về trú ngụ, vẫn ríu rít khúc hoan ca mỗi sáng cùng nắng mai, nhưng không thể nào nhận ra em…

Có phải là em của mùa năm trước, không thể nào phân biệt khuôn mặt của những bóng chim di.

Tôi vẫn hằng mong cho mùa hạ qua thật chậm cho những ngày nắng nóng mãi thật dài ra để mỗi ngày được nhìn gia đình chim ấm áp trong ngôi nhà thầm lặng, cho buổi sáng nào tôi cũng được dõi bóng đôi chim tự tình bên nhau, mong cho mùa Thu chậm trở về và mùa Đông giá thôi quay lại,

Tôi muốn thay đổi cả thời tiết của bốn mùa mưa nắng, không còn muốn nhìn thấy một chớm Thu về và lạnh giá của mùa Đông.

Trong cái huyễn hoặc của tiết trời trở gió, trong sợi heo may, tôi chợt ngậm ngùi thương xót và bỗng nhớ mãi cánh chim di, có phải là những cánh thiên di trong truyền thuyết, bay bổng giữa trời xa tránh cái lạnh mùa Đông ở nơi đây…có phải chim bay về nơi cố xứ trong sự mong ước , hoài niệm của một hồi ức nhỏ nhoi.

Chim bay về bến sông xưa

Đò chiều gát mái

cát vàng buồn tênh

Lặng thầm con nước triều lên

Chim về cõi ấy

Trốn cơn gió cuồng

Những mùa hạ trở về, những cánh chim lại quay về nơi nắng ấm xưa…nhưng có một thời gian chờ mỏi mòn mà chim không trở lại, ngôi nhà chim bé nhỏ vắng mãi bóng chim di…những cánh chim di bây giờ cũng giống con người…vẫn yếu hèn và trốn chạy, hững hờ và lạnh lẽo tựa mùa đông giá đến từng năm…và trong sâu thẳm của tâm linh, chim có biết rằng cũng có một sinh linh đang lặng thằm trong nỗi nhớ bóng chim di với tâm tình sâu lắng một tình thâm.

Bóng thiên di dãy chết giữa trời đông khi không đủ sức bay qua hết đại dương để tránh cơn cuồng nộ, buồn thương thay cánh chim di đơn lẻ giữa cuồng phong. bóng chim thì mịt mù xa thẳm cõi nhân gian.

Con người khi đã bay xa …có mấy ai tìm về chốn cũ…còn bóng chim thì biết nẻo tìm về ???

Tại sao và tại vì sao??? Tôi bỗng chợt so sánh giữa con người và những cánh chim trong nỗi buồn man mác vào một sáng chớm thu nơi chỗ của mình.

Atlanta( Những ngày tháng Tám)

NGuyên Hạ_ Lê Nguyễn

Sài Gòn

Âu Thị Phục An

.

Sài Gòn

điếu thuốc lá trên môi

ly cà phê đắng nghét

sáng,

lần thứ mười lăm

ta ngồi đợi

ồn ào ngày lên

bụi bặm bay lên

xe cộ hồn nhiên

trưa,

ghế đá công viên

thả giấc ngủ giữa quẩn quanh định mệnh

giữa ngàn ngàn giọt nắng vô tư

bên nhà thờ đức bà

trái tim ta cầu nguyện

sài gòn nồng nàn

ướt át bờ môi con gái

rượu

sóng sánh ánh đèn đêm

honey honey

khóe mắt nhung mềm

thơ dại

gọi lòng

ta hớn hở

yêu em

rồi bỏ lại nhiều ngày điên

bên triền dốc tối

ẩm ướt thu

rộn ràng

giông bão đi qua

cuốn theo

mùa đã hết

con thú già chợt quên

và ngủ

vùi trong ký ức

sài gòn đêm

hoan lạc

Lâm Bích Thủy

.

Cuộc gặp định mệnh giữa ba tôi và Hàn Mặc Tử

Tôi không tin tạo hóa sinh ra trái đất thì đấng thiêng liêng tối cao nào đó định cho chỗ này là địa linh nhân kiệt, chỗ kia là đất dữ. Nhưng tôi lại tin lời người xưa nói “nếu có duyên với nhau thì sẽ tụ lại”. Nói đâu xa; đấy chính Bình Định quê tôi là đất của sự tụ nhân, tụ thủy, là địa linh nhân kiệt với danh xưng là “Đất võ trời văn” thật 100% . Được như vậy người Bình Định luôn mang ơn sự đóng góp nhân tài từ các tỉnh bạn như Nghệ An với họ Hồ đã đưa người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ – Quang Trung; quê Hà Tĩnh với duyên kỳ ngộ cha Đàng Ngoài mẹ ở Đàng Trong đã cho quê tôi nhà thơ tình Xuân Diệu”; và cảm ơn đất Quảng Trị đã đưa đến một Chế Lan Viên với những sáng tạo mới mẻ, hiện đại nhất trong bút pháp”. cảm ơn đất Quảng Bình đã tặng một Hàn Mặc Tử để rồi có cuộc gặp gỡ giữa ba tôi-nhà thơ Yến Lan và Hàn Mặc Tử định mệnh làm nên nhóm thơ “Bàn Thành tứ hữu” đã mang đến những giá trị nhân văn sâu sắc làm rạng danh cho quê hương Bình Định…:

Cuộc gặp mặt này được ba tôi kể lại:

– Một sáng chủ nhật, khoảng giữa năm 1930, tôi đang chép lại bài thơ mới làm hôm qua, thì nghe tiếng gọi ngoài cổng chính.

Tôi nghĩ: chắc là có khách lạ muốn đến thăm đền (vì người quen tất phải biết ngõ phụ luôn mở rộng ở phía Bắc của góc tường thành) Tôi bước ra, nghe tiếng của hai trang nam tử. Biết là người xa đến vãn cảnh, tôi chào, rồi chỉ hướng cho họ vào đền. Khách mặc âu phục sang trọng: Một, hơi lớn tuổi, nói giọng Bắc, rất chỉnh tề trong bộ Tropical, một là thanh niên mặc nguyên bộ tơ De-ligaon, đội mũ Panama. Đang đi, người trẻ tuổi bỗng ngoặc sang phải, lối hàng rào chè, rẽ sang một góc sân. Ở đó có cây lựu lớn đang nở hoa đỏ rực. Anh níu bẻ một nụ rồi tặng cho người bạn đồng hành, miệng đọc câu Kiều:

Ngoài hiên quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập lè đơm bông

Rõ ràng là những vị khách thuộc loại hào hoa, ít gặp ở đây. Vừa lúc ấy cha tôi bước ra, hướng dẫn họ đến bên tấm bia đá và mở cửa mời vào chính điện. Tôi trở lại tràng kỷ, làm tiếp công việc bỏ dở. Được một chốc hai người đi xuống. Cha tôi đưa họ vào nghĩa tự, mời ngồi trên tràng kỷ và đưa mắt bảo tôi xuống nhà lấy bộ bình trà bằng sứ chuyên dùng tiếp khách quí. Có lẽ tờ giấy mà tôi còn bỏ ngỏ trên bàn có những dòng chữ và cách trình bày giống dạng một bài thơ đã làm cho người trẻ tuổi chú ý. Anh hỏi tôi:

– Cậu đang chép thơ à? Tôi bẽn lẽn gật đầu:

– Dạ, vâng.

– Thơ của bác hay thơ của cậu đấy?

– Dạ thơ của tôi. Im lặng một chốc, anh lại hỏi:

– Cậu làm thơ lâu chưa? Đã đăng ở đâu chưa?

– Tôi mới võ vẽ, cũng có bài được đăng báo.

– Cậu lấy bút danh là gì?

– Tôi ký Xuân Khai. Người trẻ tuổi vui hẳn lên, anh cười:- Vậy tôi với cậu là đồng nghiệp với nhau. Xin tự giới thiệu, tôi là Phong Trần, là Hàn Mặc Tử. Anh quay sang người trung niên, vẻ quí trọng:

– Vị này là nhà văn, tác giả “Kép Tư Bền”, tập truyện ngắn vừa mới xuất bản đang được cả nước hoan nghênh. Tôi thốt lên một tiếng “À” vui vẻ:

– Hóa ra ông là nhà văn Nguyễn Công Hoan. Tôi đã đọc và đã biết nhiều về ông, nhất là trong cuộc bút chiến với báo Phong Hóa, Ngày Nay về tập chuyện dài “Lá ngọc cành vàng “của ông

Lúc ấy nhà văn Nguyễn Công Hoan như tự nhiên có thêm những cảm xúc không ngờ. Ông nhìn tôi một cách triều mến.

Hàn Mặc Tử thì gật đầu thích thú, anh tiếp lời:- Nhân đây ông làm một cuộc viễn du từ Bắc vào Nam để tạ lòng ủng hộ của tác giả mà mình hâm mộ. Hôm nay tôi đưa ông lên thăm một vài cảnh đẹp ở đây, rồi sẽ lên Phú Phong, mảnh đất lịch sử của quê ta. Nhân dịp này ta làm quen với nhau vậy. Tôi đang sống với gia đình tại 20 đường Khải Định-Qui Nhơn. Có đi Qui Nhơn mời cậu ghé chơi, chúng ta là đồng nghiệp với nhau mà.

Chúng tôi gắn bó với nhau từ buổi ấy. Tôi kể chuyện này với Chế. Chế cho biết đã quen với Tử rồi và cũng muốn có dịp nào đó sẽ giới thiệu tôi với anh.

Sống giữa lòng Bình Định, những chiều hiu hiu nắng quái, tôi và Chế Lan Viên thường lên lầu cửa Đông mà hai đứa tôi gọi là lầu tư tưởng, phóng tầm mắt nhìn bao quát thị trấn, rồi vọng đến những chân trời xa tắp, lòng ngậm ngùi cho mảnh đất quê hương đã trải qua lắm cuộc đổi thay. Có lúc chúng tôi nghĩ xa hơn đến các triều đại của quá khứ, từng nối tiếp nhau đến sự thăng trầm biến thiên của lịch sử, rồi bàn nhau cùng viết về cảnh điêu tàn, những cuộc đời dâu bể. Hoan đi sâu vào sự đau thương, tàn tạ, thịnh vượng, làm sống lại những lễ hội, sinh ca của các hệ tộc quyền quí, rồi binh biến máu lửa thay cho một thuở thanh bình. Tập thơ của Chế, tên “Điêu tàn”.

Thành Đồ Bàn cũng thôi không nức nở

Trong sương mờ huyền ảo lắng tai nghe

Từ một làng xa xôi bao tiếng mõ

Tan dần trong im lặng của đồng quê..

Tập thơ của tôi là “Giếng loạn”. Nghe tôi đôi lần đề cập đến “Giếng loạn” Tử rất muốn xem (lúc này anh đang bệnh). Tôi mang xuống cho anh. Khoảng một tuần sau, Tử đưa trả bản thảo và nói:- Tôi đã xem hết tập thơ rồi. Có một số xúc cảm nên cố làm một bài riêng tặng cậu. Anh lấy ở túi áo ra trao cho tôi và trân trọng nói: – Đây cứ coi như một bài bạt sơ khảo; mà tôi thấy cái nhan đề không ổn. Sao cậu không viết là “Giếng lạng” lại viết là “Giếng loạn”? Tôi đáp: “Có vấn đề về ngôn ngữ tôi muốn thảo luận với anh đấy.”

Rồi tôi và Tử bàn nhau hồi lâu, sau cùng thống nhất là “Giếng loạn”. Loạn ở đây là loạn lạc, đầy đủ ý nghĩa hơn, lạng là bỏ hoang. Bài thơ Tử tặng tôi chính là bài “Trăng tự tử” mang dáng dấp của một bài bạt cho cả tập thơ. Tôi đã có chủ ý sẽ in nó vào tập “Giếng loạn” khi xuất bản. Nhưng bản chép tay ấy với cả tập thơ bị thất lạc, lúc đi sơ tán, ngày Pháp mở chiến dịch Át-lăng đánh vào Qui Nhơn. Bản in trên các sách hiện nay là bản lưu từ trong xấp di cảo do anh Quách Tấn giữ.

Buổi sáng hôm ấy, tôi nhớ dường như sáng 28 Tết âm lịch, năm 1938. Tôi và Chế Lan Viên đến thăm anh. Khi ấy bệnh Tử đã nặng! Mới bước vào cổng nhà, tự dưng tôi có cảm giác căn nhà hiu quạnh quá. Thấy chúng tôi, mẹ Tử bước ra thềm hè, rơm rớm nước mắt:

-Trí đi rồi các anh à! Cò bót không cho nó ở nhà nữa, vì sợ lây bệnh, bắt phải đưa vào Qui Hòa, Tết nhất đến nơi rồi, nếu đưa nó vào trong ấy thì tội lắm. Nhà cập rập quá, nên lén gửi tạm nó vào trong xóm Động. Các anh có đi thăm thì em Hành đưa đi. Nó vừa chạy đâu đó.

Đợi lâu không gặp Hành, hai đứa tôi hỏi thăm vào xóm Động. Đấy là cái xóm nhỏ của những người lao động nghèo, nằm trên một bãi cát rộng mênh mông, khoảng khu VI Qui Nhơn bây giờ. Nhà ở chỉ là những túp lều dựng tạm bợ trên cát, không có nền. Đồ đạc, giường, tủ, bàn, ghế cứ đặt nguyên trên cát. Đường đi vào cũng quanh quất cơ hồ khó tìm ra.

Chúng tôi vào một cái chòi lợp tranh nhỏ hơn một cái chái bếp. Nóc chòi được chống lên bằng hai cây cột tre. Một tấm phên ngắn dọc theo chiều dài của nóc, ngăn chòi làm hai: nửa trước sinh hoạt bình thường, nửa sau hình như có đặt một chiếc chõng tre với lỉnh kỉnh những thúng mủng..

Trước tấm phên là cái bàn ọp ẹp, chỉ còn lại một chân trước nối với một khúc củi đẻo từ chảng ba, hai chân sau cột vào hai cọc tre chống mái nhà, Tử đang ở trong ấy (đây là nhà của một phu kéo xe). Nghe tiếng chúng tôi, Tử chậm rãi bước ra, vẻ mệt nhọc:

– Hai cậu vào tới đây sao…?

Hoan và tôi ngồi trên ngạch cửa làm bằng một khúc tre, xoay lưng ra ngoài, trò chuyện với anh. Tử gầy, trông hốc hác lắm Anh không vui như mọi khi.

Đang nói chuyện thì có bà cụ đem cho anh hai quả keo chín, Tử nhìn hai đứa tôi:- Thứ này mình thích lắm. Mấy năm còn khỏe, mình thường xách ná cao su đi bắn. Có khi đạn rớt vào nhà Tây, mình ba chân bốn cẳng chạy nhanh như sóc. Thế mà bây giờ .!.Anh thở dài.

Chúng tôi nói chuyện cho tới giờ tan tầm, thì có một bé trai xách làn cơm vào (chắc là em Hành) Khi cái xách cơm đặt nghiêng nghiêng trên bàn, em lẫn ra phía sau. Tử vẫn giữ cái vẻ thản nhiên, gợi thêm một vài ý nhỏ về thi ca sách vở. Sợ anh mệt và cũng quá giờ chúng tôi đứng lên tạm biệt. Tử nhìn, đôi mắt anh buồn vời vợi

Sau này, mới biết sau cái Tết ấy, gia đình còn cố giấu anh ở mấy nơi nữa rồi mới vào Qui Hòa.

Khi Tử mất, mỗi lần nhớ tới anh, tôi lại ngậm ngùi đọc “Những giọt lệ” của anh

Trời hởi! Bao giờ tôi chết đi

Bao giờ tôi hết được yêu vì

Bao giờ mặt nhật tan thành máu

Và khối lòng tôi cứng tựa si?

Họ đã xa rồi khôn níu lại

Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa

Người đi, một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ xuống trời sâu

Sao bông phượng nở trong màu huyết

Nhỏ xuông lòng tôi những giọt châu!

Tôi không biết anh viết bài thơ này để nói đến một tình huống nào. Có người bảo là anh viết để than thở về một mối tình trong bao nhiêu mối tình dang dở của mình. Nhưng tôi cứ nghĩ cảm xúc đó bắt nguồn từ buổi sáng hôm ấy, buổi sáng mà tôi và Hoan còn ngồi bên Tử, trong túp lều đơn sơ ở xóm Động…

Quả thật tôi không ngờ, lần chia tay ấy là lần vĩnh biệt.

Giả dụ

Hồ Tịnh Văn

.

Giả dụ lòng anh hình chữ nhật

Em sẽ đem chiều rộng cộng chiều dài

Nếu anh bảo chu vi là sở thích

Em sẽ dùng tổng thể để nhân hai

Giả dụ lòng anh là quyển vở

Chữ viết lên tha thiết những trang lòng

Em sợ lắm nhìn lâu không dám mở

Bởi lo rằng giấy có thấm tình không?

Giả dụ một đêm mùa khô hạn

Lòng em khát cháy những ngọt ngào

Anh là mưa tưới tâm hồn lãng mạn

Cho trái tim yêu dào dạt những dâng trào

Lòng em chín mời lòng anh thưởng thức

Trái thơm ngon em vẫn để dành

Rồi một ngày em mang ra mời mọc

Hai đứa mình tan biến giữa mông mênh.

CÀ PHÊ VÀ NỖI NHỚ

Cà phê một mình

Giữa phố phường đông đúc…

Em nhớ anh!

Ly cà phê Sài Gòn và nỗi nhớ xanh

Hàng phi lao trước biển

Nơi em đến

Là nơi không anh.

Thêm một đêm

em trằn trọc!

Thêm một đêm

thiếu giấc mộng lành!

Chỉ có dáng hình anh án ngữ

Chỉ có đôi mắt anh xoay tròn nỗi nhớ

Chỉ có cặp môi tình khao khát trao anh!

Đêm nay

Em lại nhớ anh

Cơn mưa rả rích

Cơn gió lay rụng tấm chân tình

Chỉ còn em và nỗi nhớ

Tròng trành

Cõi không anh…

Gọi

Phạm Minh Châu

Sự giằng co ở giữa khoảng không

chỉ gió, mây và hơi nước

những thực thể được coi là vi sinh vật

đã ngấm đầy thời gian

dòng nước trôi đi, mây trôi đi

bởi vận hành của gió

sự nghiêng đã tạo thành độ dốc

cho dòng chảy không thôi

.

Phiến đá trầm ngâm

đối diện

Không nhận ra

trong thế giới con người

còn ẩn đó đây chất của loài quỷ dữ

hành trình triệu năm chỗ thiếu, chỗ thừa

thành bão nổi

xin một phút ăn năn và thú tội

để lòng thanh cao

xin ước mơ bay đến những vì sao

dẫu biết là xa lắm

Gọi những linh hồn còn chút cơ may

còn được chở che trong vòng tay ấm

được hiện thân

.

Xin gửi ngày mai

phảng phất vô hình

lời giải bày thánh thiện

xin chữ lành

dài như sông, như biển

như lòng mẹ bao dung

bởi cuộc đời có có, không không

để thanh thản hướng về phía trước

sự nhắm mắt cho người nhận thức

nghiền ngẫm nhân sinh

.

Nếu không có chiến tranh

thì chẳng có khái niệm hòa bình

và thế giới chỉ có màu xanh thơ, nhạc

anh và em cùng nắm tay ngân nga câu hát

ca ngợi sự mềm mỏng của tình yêu

để tháng ngày được sống bên nhau

để tồn tại cuộc đời là không vô nghĩa

đêm mùa đông

dậy,

thắp cho nhau một chút lửa

Chờ…

nắng lên./

Thơ Cao Hoàng Từ Đoan

.

1-

ráng chiều

rớt xuống thinh không

nắng mong manh quá,

tang bồng nơi đâu??

tôi còn

khép nép bên cầu

căng khung vẽ trộm mắt màu hoàng hôn

.

2-

rối lòng , em mượn thơ làm rượu

rải trên sóng mắt mà đưa hương

anh ạ! một ngày vừa ghé đến

bình minh là cổng, mở thiên đường ..

.

3-

à chia tay nhau rồi đó

mà,

chiều lạ nhỉ

con gió im thinh!?

chẳng níu dang dở chúng mình

để ta,người ấy..

bóng hình mờ phai

là chia tay nhau hở ai…

gió sao không nhắn

chờ mai

hẹn ngày..

chưa kịp nhờ gió tỏ bày

chiều nay chan lệ,

ơ hay!

một người..

.

4-

ước là cơn mưa nhỏ

rơi bên hiên, vội vàng

hồn nhiên như hoa cỏ,

nheo mắt cười mà thôi..

.

ngang qua con đường nắng

thấy mùa hạ đến gần

ngang qua bậc thềm vắng

hoa lòng rụng đầy sân..

.

chiều rưng rưng cánh khói

nghe sao nhớ một người!

có nhũng điều khó nói

hồn như một bài thơ

.

5-

đê𝚖 𝚋𝚞ô𝚗𝚐 𝚖ộ𝚝 𝚝𝚒ế𝚗𝚐 𝚝𝚑ở 𝚍à𝚒

𝚌𝚑ừ𝚗𝚐 𝚗𝚑ư 𝚗ỗ𝚒 𝚗𝚑ớ 𝚛ơ𝚒 𝚗𝚐𝚘à𝚒 𝚑𝚒ê𝚗 , 𝚖ư𝚊..

𝚕á 𝚖ù𝚊 𝚝𝚑𝚞 𝚕ạ𝚌

𝚗𝚐õ 𝚝𝚑ư𝚊

𝚑𝚊𝚢 𝚊𝚗𝚑 𝚖ộ𝚗𝚐 𝚟ớ𝚒 𝚗𝚐ườ𝚒 𝚡ư𝚊 𝚝𝚑ì 𝚝𝚑ầ𝚖!?

𝚝𝚑á𝚗𝚐 𝚋ả𝚢 𝚟ề 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 𝚝𝚑𝚊𝚗𝚑 â𝚖

𝚎𝚖 ươ𝚖 𝚗ố𝚝 𝚑ạ𝚝 𝚝ừ 𝚝â𝚖 𝚗𝚐𝚞𝚢ệ𝚗 𝚌ầ𝚞

𝚝𝚑ô𝚒 𝚊𝚗𝚑 đừ𝚗𝚐 𝚗ữ𝚊

â𝚞 𝚜ầ𝚞

𝚗𝚐ủ 𝚗𝚐𝚘𝚊𝚗 𝚗𝚑e 𝚖ộ𝚗𝚐

𝚋𝚊𝚗 đầ𝚞,

đầ𝚞 𝚝𝚒ê𝚗..

.

6-

“𝚗𝚐ủ đ𝚒 , 𝚗𝚐ủ 𝚗𝚑ữ𝚗𝚐 𝚟ầ𝚗 𝚝𝚑ơ

𝚗𝚐ủ 𝚌𝚑𝚘 𝚜𝚊𝚢 𝚖ộ𝚗𝚐 𝚖𝚘𝚗𝚐 𝚌𝚑ờ 𝚝𝚛ă𝚖 𝚗ă𝚖”

( NBV)

.

từ thơ tôi hoá điên rồ

ôi người dành dỗ ngôn từ

ghi ơn!

mai về cắn nát nỗi hờn

mà thôi buồn đã từng cơn chín già.