Feeds:
Bài viết
Bình luận

Cơn mưa

Trần Minh Nguyệt

.

trên giá sách đầy bụi

trang ngụ ngôn vừa ưỡn mình

mở ra cơn mưa

chùm lá hãy còn xanh

lay lắt

bỗng rụng đầy thềm xưa

.

cô gái cựa mình đứng lên

nàng vừa bước ra khỏi

một trang đã sờn rách

đưa tay lên cao

nàng vẽ thật nhanh

dáng hình những giọt lệ

khung cửa kính bắt đầu

đầm đìa ràn rụa

.

ngoài trời

chỗ tiếng gió đang rít

người đàn ông vẫn say giấc nồng

chàng thực sự buông tay

cho linh hồn mình

hút bởi hư không

.

bất chợt cô gái ném

những bức vẽ của nàng vào đêm đen

nỗi nhớ

từng nỗi nhớ pha lê nát vụn

ném trả nỗi đau

bay ngược về chiều

.

cơn mưa ngoại đạo

thật tội tình…

Hoàng hôn Chàm

Phạm Đương

.

Chiều nhuộm vàng những chiếc lu Bàu Trúc

từng đôi tay mềm kéo hoàng hôn về đất

xoay rồi xoay rồi xoay xoay xoay

mỗi vòng xoay để lại một kiệt tác

đất nung

không phải điệu múa Chăm

đất nung đang múa

.

giấu những bí ẩn trong từng hạt cát

không vôi vữa

bí ẩn luôn song hành với những người đàn bà

mẫu hệ

.

hoàng hôn Chàm đỗ trên đỉnh tháp Chăm

mặt trời trôi ngược gió chiều Ninh Thuận

suốt chín thế kỷ

tôi nghe đá nói với gạch:

muốn vĩnh cửu nên bí ẩn một chút!

.

Trời đất

Nguyễn Đặng Mừng

Chúng tôi dân miền Trung, lần đầu vào Nam bộ. Hồi năm bảy ba, sau hiệp định Paris “đi chiến dịch” miền Tây vui lắm. Sinh viên nửa bụi nửa thư sinh hấp dẫn mấy em lạ lùng. Nhìn mấy anh mang Apha nói chuyện tuyên truyền chính trị trong trường học không nhịn cười được. Có đứa bị nữ sinh hỏi cắc cớ, trả lời không được, cầm micro run rẩy, mắt lờ đờ chực khóc.


Minh họa của Hằng Lee

Nhóm tôi được ở nhờ một ngôi biệt thự trong vườn. Chủ nhà là một quả phụ chừng dưới bốn mươi, đẹp, quý phái, ăn nói nhỏ nhẹ và lịch sự. Tụi tôi được sắp xếp ở nhà trên, là một nhà thờ mấy đời, bàn thờ chạm khắc tinh xảo và trang nghiêm.

Đang ngồi tán gẫu dưới cây vú sữa sau vườn chợt có một em mặc áo dài trắng từ dưới xuồng bước lên ôm cặp sách cúi đầu vòng tay chào các chú ạ… Chà đẹp dữ. Cô bé vừa đi vào nhà lại có một em khác mặc bà ba đen, kẹp nón bước tới cũng chào các chú ạ. Trời đất! giống nhau như hai giọt nước. Thằng “Tùng Móm nhà thơ” lớn tuổi hơn mấy đứa nên có kinh nghiệm tán gái, nói nhỏ, “Mày con áo trắng, tau con áo đen”. Tôi OK ngay. Áo đen áo trắng cũng đẹp mờ.

Thằng Tùng nhanh nhẩu giả đò vào nhà xin lửa. Cái miệng móm và chiếc cằm dài thượt của hắn lúc làm duyên như anh chàng hề sắp diễn xuất. Hắn đi yểu điệu ra chiều nết na lắm, vào nhà dưới. Nghe giọng Quảng Nam của hắn mấy đứa tôi nín cười không chịu được: “Chào chị, em là Tùng, cho em xin chút lửa”. Không nghe ai trả lời, chỉ nghe vọng ra tiếng cười khúc khích. “Anh nói lại đi, cái gì…”. “Chút lửa”. rồi lại nghe tiếng cười và tiếng con gái: “Anh mượn cái hộp quẹt đó má, trời đất, cứ chút lựa ai mà biết lựa cái chi”.

Buổi sáng hôm sau. Em áo đen (tạm gọi là đen) chèo xuồng chở em áo trắng (tạm gọi là trắng) đi học. Chiếc xuồng êm nhẹ cùng Đen Trắng lẫn vào con kênh khuất dưới vùng xanh dừa nước.

Chúng tôi đi uống cà phê, Tùng cáo bệnh ở nhà treo võng sau vườn đọc sách.

Trưa. Tôi không đi Sài Gòn chơi với bạn bè, lặng lẽ về một mình, sợ thằng Tùng móm tán cả hai em thì nguy. Tôi đi thật nhanh trông mau về đến nhà.

Dưới cây vú sữa Tùng móm và chị chủ nhà đang ăn vú sữa. Thằng Tùng lại nhanh nhẩu: “Mi biết trái ni là trái chi không”. “Không”, “ Là trái vú sữa. Ngoài giống vú, trong có sữa, ăn đi, ngon lắm”. Chị chủ nhà không cười, nghiêm khắc nhìn Tùng. Tôi nói lảng, “Trái cây ở đây ngon mà hấp dẫn chị hè. Quê em chỉ có ổi, mà trái quắt queo, nhỏ xíu. Nhiều khi trái đang xanh, thèm quá tụi em ăn trộm chắm muối ớt”. Chị cười. Thằng Tùng có vẻ không vui. Hắn đi ra nằm lên chiếc võng treo gần đó và ngâm thơ. Giọng Quảng Nam mùi mẫn, âm hưởng bài chòi:

Tóc rậm khinh đời râu dài ngạo mạn
Ta cười mình ta ta khóc mình ta
Giang hồ mới hay gặp vầng trăng lạ
Chợt thấy mình tự tử hôm qua
Có phải rằng sầu cũng rụng hôm qua

Thiếu phụ liếc về phía Tùng cười hiền. Móm thi sĩ vờ như không thấy, ngâm tiếp.

Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà(*)

Tôi làm như không thấy cảnh hai người, cúi đầu ăn vú sữa. Những múi trắng tứa nước ngọt mềm mát rượi cổ họng. Lòng cứ nghĩ về chiếc xuồng. Giờ này các em sắp về chưa. Chiếc áo bà ba xẻ eo cao, khi cô bé rướn người chèo xuồng đẹp phải biết. Tôi sẽ gọi “… Đen ơi, chở anh đi xuồng chút cho biết, từ nhỏ anh chưa được đi xuồng nơi”. Đang mơ, tiếng lào xào lao xao của chiếc xuồng cạ vào lá dừa nước cập bờ. Vẫn Trắng lên trước, vẫn cái cặp trước ngực cúi đầu chào má chào anh con đi học về. Đen cũng thế, như hồi hôm, nhưng lần này thay vì chào chú lại chào anh, tôi sướng rơn. He he.

Chiều. Hai chị em mặc áo lụa vàng, quần đen. Nếu họ múa đôi thì không thể biết ai Đen ai Trắng, ai vàng hơn ai. Thiệt khó phân biệt. Tôi nao núng nghĩ cách gì để phân biệt. Mà chịu. Họ giống nhau lạ lùng, từ cái cười, kiểu vén tóc cho đến giọng nói. Một trong hai nói với mẹ: “Con chèo xuồng đi hái dừa về mời các anh nghe má. Khóm dừa xiêm bên vườn cộ có trái lớn rồi đó”. Mẹ bảo đi nhanh không tối. Tôi đứng lên lí nhí, “Chị cho em đi bảo vệ cô nương nghe chị”. Cô bé nhanh nhảu: “Ngồi xuồng không được nhúc nhích. Chỉ cần động đậy là xuồng lật chết rán chịu”. Tôi theo em ra bến, không quên ném lại cho Tùng thi sĩ một cái liếc trêu ngươi.

Tôi xuống xuồng trước, em vịn xuồng nói theo: “Nhớ kỷ luật đi xuồng chưa. Có biết bơi không thì nói để tui còn tính”. Tôi ngồi yên, hai tay ghì mạn xuồng, nhìn ra phía trước.

Chiếc xuồng lắc nhẹ rồi theo con kênh chui sâu vào rừng dừa nước. Không thấy ánh mặt trời, chỉ dưới nước trên lá dừa, và giữa hai sự lao chao xao xuyến ấy phải là em. Lòng tôi cứ ngất ngư theo từng tiếng khua tách tách nước. Bây giờ mới thấy mình ngu. Ngồi kiểu này sao mà nhìn em, thấy em bặm môi mỗi lần quẩy dầm rướn tới, thấy chỗ xẻ nách áo bà ba ẩn hiện chút hình tam giác khi kín khi hở đến xốn xang lòng. Tôi ngồi yên, không dám động đậy như điều lệnh của em đã dặn.

Vườn cộ có lẽ là vườn cũ. Những trái dừa xiêm lủng lẳng ngang tầm hái. Em cặp xuồng vào một gốc dừa, lên trước rồi vịn xuồng cho tôi lên cùng. Em lảy mấy trái thiệt nhanh và gọn. Tôi lớ quớ chỉ hái được một trái đã sẩy tay rơi xuống kinh. Em cười bảo dừa đang non, hái ít thôi. Tôi bảo ngoài quê tôi có câu ca dao hay lắm:

Chèo đò bẻ bắp bên sông
Bắp chưa có trái bẻ bông chèo về.

Em hỏi ý câu này là sao. Tôi bảo lên xuồng rồi nói chuyện. Lần này tôi ngồi ngược lại, chỉ cách em một tầm tay. Em quẩy dầm. Xuồng trôi nhẹ tênh. Trời tối thật nhanh, chỉ nhìn thấy em lơ mơ lờ mờ. Em lại nhắc về câu ca dao. Tôi bịa ra: “Ngày xưa chàng ở bên này sông, thiếp ở bên kia. Mấy lần chàng định qua thăm nàng mà cứ lần lữa. Cho đến ngày chàng quyết qua thì nàng đã có chồng. Em gái nàng mới mười ba tuổi dặn rằng ba năm nữa chàng qua em sẽ lớn bằng chị. Ba năm sau chàng qua nhưng cô em cũng vừa lấy chồng. Về, thất tình chàng sáng tác hai câu thơ này. Ý bảo bắp chưa chín thì bẻ ngay bông, đừng chờ”. Em cười bảo chuyện xưa hay hè, rồi cười lích nhích.

Chiếc xuồng lướt thật êm. Gió chiều thổi mạnh. Tóc dài của em quất vào má tôi như nụ hôn của trời đất. Lần đầu tôi hưởng được mùi vị con gái qua tóc dài của em. Người tôi như run lên, quên mất điều lệnh em dặn, rùng mình nghiêng theo tóc bay. Chiếc xuồng mất thăng bằng lật úp. Tôi không biết bơi, cứ vùng vẫy sặc nước. Đang giãy dụa bỗng như có ai đó cụng đầu vào bụng mình nâng lên, nâng lên rồi từng nhịp nhẹ nhàng đẩy tôi tấp dần vào bờ. Chụp được nhánh dừa nước, tôi run rẩy hoảng loạn nhìn dòng nước đang chảy lờ đờ. Từ dưới nước em trồi lên, mái tóc dài ép sát vào người. Em cầm tay tôi reo lên, anh gì ơi sống rồi, sống rồi. Tôi run run hỏi, chiếc xuồng đâu, và dừa đâu. Em cười sằng sặc, bảo “Không mất đâu, mai nước ròng ra chèo về”.

Chúng tôi lội theo đường ruộng sình lầy. Có lúc em bị lún bùn, tôi phải cầm tay kéo lên mới được. Em kêu lên, “Anh khỏe ghê”. “Dưới nước em lại mạnh hơn anh. Mai mốt hết chiến tranh anh sẽ về đây cưới em. Anh đi mầng ruộng còn em chèo xuống chở lúa”. Em nhìn chăm vào tôi, kêu lên “Trời đất!”

Tôi hỏi em tên chi, em thật thà bảo tên Nương. Còn em kia, “tên Nường”. Tôi cười to.

Tên cũng gần giống nhau. Vậy thì làm sao phân biệt được ai Nương ai Nường?

Em có cái khác.

Cái chi.

Em vén tóc lên chỉ vào vành tai, nơi có nốt ruồi son bằng hạt gạo. Tôi hoang mang: “Nhỡ em xõa tóc thì làm sao thấy”. Em cười, “Có người yêu chưa mà ngơ thế”. Tôi thành thật bảo chưa. “Chừ ta ví dụ nghen”. Em lại kêu lên, “Trời đất!” Và trời đất, gió, mùi bùn quyện lấy chúng tôi. Nụ hôn đầu của chúng tôi thơm ngát hương bùn.

Ngày chia tay ba mẹ con đứng nhìn theo. Hai xanh một vàng. Chiếc áo bà ba vàng của thiếu phụ rung rung. Chị khóc. Nường cười mà mắt đỏ hoe. Nương níu tay tôi nói nhỏ, “Nhớ nghen, giữ lời hứa nghe… anh”. Rồi úp mặt vào vai tôi thút thít. Thằng Tùng cũng khóc, thi sĩ mà. Hắn nắm tay thiếu phụ lắc lắc, như giả vờ bắt tay chào tạm biệt. Tôi nhìn ra con kênh nơi có chiếc xuồng cô đơn neo vào gốc dừa nước, lòng lao xao run theo gió xạc xào.

Chúng tôi đi băng qua cánh đồng. Thỉnh thoảng ngoái lại, cho đến lúc chỉ còn thấy ba bóng người nhỏ xíu như ba chiếc lá, hai xanh một vàng.

Năm 1985, tôi có dịp về miền Tây. Ghé vào quán nước bên đường ngồi chờ phà. Chị bán hàng bưng ra trái dừa cho người khách duy nhất là tôi. Tóc chị bới cao lộ rõ nốt ruồi son ở vành tai. Tôi ngờ ngợ, hỏi: “Chị là Nương, phải không?” Nương chăm nhìn tôi nửa ngượng ngập, nửa xúc động, reo lên: “A… anh gì đó, hả, Anh Luân đó hả, trời đất”, rồi kêu vọng vào trong: “Dượng ơi có khách quý”.

Mười mấy năm mà trông Tùng Móm như ông lão sáu mươi. Dưới cái cằm dài thượt là bộ râu vểnh ngược trông thật ngộ. Hắn không vồn vã, chỉ bắt tay rồi ngồi đối diện tôi, chậm rãi hắn nói nhỏ vừa đủ nghe: “Sau 75 thay vì về quê tau lại về đây. Tau yêu Thục, mẹ của Đen Trắng. Tụi tau đã có hai con gái sinh đôi, giống Đen Trắng ngày xưa như đúc. Đi học trưa mới về. Thục ra chợ chắc cũng sắp về. Vườn cộ vô hợp tác rồi, nhà từ đường cũng biến thành sân kho hợp tác xã. Năm 78 cả nhà chuyển ra đây, bán nước kiếm sống”. Tùng thở dài, chuốt râu mấy cái liền, nhìn chằm vào tôi hỏi: “Mi lấy vợ chưa?”  Tôi cố tình trả lời lớn, chắc nịch, “Chưa”. “Con Nương chờ mi đó. Nường lấy chồng rồi”.

Từ khi có Tùng, Nương ngồi đung đưa võng, mắt xa xôi, không góp chuyện. Khi nghe tôi trả lời tiếng “chưa”, Nương đứng bật lên, ôm chầm tôi, nói trong tiếng nấc, “Trời đất! Chưa thiệt hôn anh, thiệt hôn anh. Trời còn thương em mà, em biết mà”.

Chiếc bàn tre rung lắc, trái dừa xiêm rớt xuống lăn lông lốc. Nương kêu lên, “Vườn cộ, chèo đò bẻ bắp bên sông… Trời đất!”

Tôi bảo, “Hái dừa chớ không phải bẻ bắp. Dừa càng già cơm càng giòn mà”. Em lại thì thào, giọng nhỏ như tiếng nấc. Trời đất!

______________

(*) Thơ Phạm Hữu Quang

Trần Vấn Lệ

.

Cả tuần nay trời nắng.  Sáng, chiều, lạnh bâng quơ.  Cali rất ít mưa, chỉ mưa khi bão rớt…

Cũng thèm mưa rắc hột, mà không có thì thôi!

Chắc con chim bật cười nếu nó nghe mình nói?

Cây đang mùa kết trái, nhìn mãi thấy vui vui…Bè bạn không con ai mặn mòi thăm nhau nữa…

Mà có thăm, có hứa; hứa rồi biết làm sao?  Ngày tháng trôi qua mau, lời hứa nào cũng chậm…

Có khi lòng vẫn thắm, tình thì lại mây trôi!

*

Làm thơ mình săm soi rồi gục xuống bàn viết.  Bài thơ nào chấm hết?  Hình như chưa bài nào!

Bốn tám năm chiêm bao, ước mơ thành mộng mị!  Không ai gọi Chiến Sĩ những người trai cuối đời!

Có lúc cũng ngậm ngùi…chỉ ngậm ngùi có lúc. Mẹ Cha từng khổ cực gấp trăm lần bầy con…

Nhắc để nhớ Quê Hương, nhắc để cho còn nhớ: núi chưa mòn hơi thở, sông đi nữa vẫn dài!

Ngộ chớ chữ Trần Ai!  Ai trần ai…   ai biểu?  Công Hầu, Khanh Tướng thiếu trong tất cả bài thơ…

Em có hiểu thế chưa?  Tha nhé người lỡ cuộc. Cúi đầu trước Đất Nước, gục đầu Đất Nước đâu?

Tôi hỏi chim bồ câu, chúng giụi đầu thương mến.  Ở đây không chim én dù mùa Thu sắp về…

Ngó ra đường, vắng hoe.  Nhánh liễu buồn, gió chải… 

Đọc sách

Đào Thị Thanh Tuyền

.

Thú thật, bây giờ với tôi việc đọc sách khó như gặm… gỗ! Đếm số sách đã đọc trong khoảng thời gian mười năm đổ lại nhiều khi thấy xấu hổ và đâm tiếc nuối cái thời ham đọc sách hơn ham… ăn.

Nhớ một thời, sách là giải trí duy nhất, vớ cuốn nào đọc cuốn đó. Say sưa, quên thời gian. Ngốn cả những quyển rất khó… nhằn, vượt quá tầm của mình. Đọc mà không hiểu đọc gì chỉ vì không còn thú vui giải trí nào khác.

Lại nhớ một thời những cuốn sách (in lậu) bán lưu động ở bến xe Sài Gòn. Đi học xa nhà, mỗi lần về đều dành một khoản tiền để mua sách, lên xe có cái mà nhâm nhi cho quên đường dài. Thời mới ra trường, chờ phân công nhiệm sở làm bạn thường xuyên với tiệm sách cho thuê, cày hết cuốn này đến cuốn khác, vơi dần tiền cược sách, phải đóng thêm tiền mới.

Đọc ngốn vậy nhưng giờ hỏi lại nhiều lúc tôi chỉ nhớ tựa sách của tác giả nào, xuất bản khoảng thời gian nào, có gì nổi trội bên lề cuốn sách khi ấy… còn nội dung có khi không nhớ chút gì; giở lại một cuốn sách cũ đã đọc hồi xưa, ngỡ ngàng như… mới. Mãi thật lâu sau đó mới loáng thoáng “à, hình như đã đọc rồi”!

Nghĩ cho cùng là quy luật tự nhiên mà tạo hóa buộc con người phải quên. Nhiều chuyện xảy ra trong đời sống thực hằng ngày, câu mình nói, lời mình viết, hành động mình làm còn không nhớ thì làm sao nhớ hết nội dung những cuốn sách đã đọc; nhất là những cuốn đọc từ thời còn quá bé, vượt quá suy nghĩ của lớp tuổi, những cuốn quá khó đọc phải “cố mà ngốn”, hay những cuốn đọc lướt vì nội dung không thấy thích…

***

Không như ngày xưa, ở cái thời bao cấp những cuốn sách chữ in lem luốc, giấy xấu, bìa mỏng, tranh vẽ sơ sài, sách bây giờ in đẹp, giấy tốt, trình bày công phu, bìa bắt mắt… Tuy nhiên, có lẽ do ít còn ham sách nên mỗi lần mua sách tôi phải chọn lựa rất kỹ, ưu tiên sách phục vụ cho công việc, tra cứu.

Mỗi lần ra nhà sách, đường sách… tôi chỉ ước mình trở lại cái thời ham sách, ước cảm hứng trở về, khơi gợi cái đam mê ngày bé, cầm cuốn sách mới tinh đưa lên mũi hít hà thấy cả một thiên đường.

Nhìn những bạn trẻ say mê chọn lựa sách mà cảm thấy thèm. Nhưng nghĩ lại, gì cũng có một thời, đừng trách mình vì đam mê không còn, thay đổi là quy luật tự nhiên của cuộc sống. Và, thật ngưỡng mộ những ai qua bao nhiêu năm tháng cuộc đời vẫn còn nguyên thú ham đọc sách.

***

Vậy nên, tháng Chạp vừa rồi, thời tiết khá lạnh, ngoài đường gió bụi, tôi đóng cửa nằm nhà ôm hai quyển sách mặc cho tiếng đời xôn xao thúc giục tết gần kề. Và sung sướng làm sao khi đã đọc hết hai cuốn chỉ trong vòng một tuần. Một cuốn du ký, tương đối dễ đọc, nhiều chi tiết thú vị cuốn người đọc đi theo, chỉ bỏ sách xuống khi mỏi mắt hay cần nghỉ ngơi một chút. Một cuốn, nói khó đọc thì hơi quá, nhưng không hiểu do người chuyển ngữ bám sát nguyên bản không “biến hóa” theo cảm nhận “thuần Việt” nên có nhiều đoạn phải đọc đi đọc lại mới hiểu và tìm ra được vẻ đẹp của ngôn từ. Nhưng, nói chung là thích.

Cái cảm hứng đọc sách còn khiến tôi mở máy tính viết một lèo cái truyện ngắn. Gõ dấu chấm kết thúc, tôi không nghĩ mình viết nhanh vậy. Tất nhiên là khâu “chỉnh tinh” còn phải dụng công nhiều. Nhưng như thế là đã thắng lợi rồi, theo ý nghĩa, chữ truyền cảm hứng cho chữ.

***

Nói sách dịch lại nhớ cái thời tuổi trẻ khi mà “ổ cứng” còn chưa ghi nhiều dữ liệu, tôi cũng mày mò đọc vài cuốn nguyên tác, tất nhiên loại dễ đọc, chẳng hạn như Love Story của Erich Segal. Với tôi, đọc nguyên tác thích ở chỗ cảm nhận cái hay, thích thú của câu văn mà không tài nào dịch sang tiếng Việt được.

Với những tiện ích của công nghệ ngày nay, việc đọc nguyên tác khá thuận lợi, nhất là đọc trên điện thoại có cài ứng dụng từ điển Dict Box. Gặp từ nào không biết chỉ cần chép và cửa sổ từ điển tự động hiện lên, rất dễ tra cứu. Thế nhưng, như đã nói ở trên, cầm cuốn sách tôi còn lười huống chi là đọc ebook, khi giờ đây có quá nhiều thứ cho mình giải trí với đa phương tiện nghe, nhìn thú vị, lôi cuốn.

Chính vì vậy, phải nói rằng tôi cảm thấy khâm phục những người làm công việc biên tập sách hay báo chí. Chỉ có mấy chục chữ cái mà hết ngày này tháng nọ chìm đắm trong đó. Không chỉ việc mưu sinh mà phải có đam mê yêu nghề, yêu chữ mới trụ được công việc thầm lặng, đứng sau những buổi ra mắt sách ồn ào, đông đúc, hay lặng lẽ nhìn tác giả nhận vinh quang. “Đứa con” tuy không sinh ra nhưng có công “bà mụ” đưa đến tay độc giả.

Đọc một cuốn sách cũng giống như gặp một con người. Có người hay, người không hay, người khó, người dễ. Có người ở lại lâu, có người lướt qua mau. Có người nhiều năm sau gặp lại vẫn thấy thú vị, lại có người hoàn toàn không nhớ mình đã gặp khi nào… Đọc một cuốn sách hay, học trong đó những triết lý cho cuộc sống. Đọc một cuốn sách có nội dung không lành mạnh, ít nhiều tư tưởng cũng bị “lăn tăn” vẩn đục…

Mỗi lần đọc tin một nhà sách khai trương, một thành phố sách mới mở, tôi luôn có chút háo hức của thời tuổi hai mươi, dứt khoát phải đến một lần cho biết.

Có những bạn trẻ chăm chú đọc sách và bên cạnh cũng có không ít người coi sách như một công cụ đánh bóng cho tâm hồn – selfie tấm hình đang ở nhà sách rồi khoe lên mạng xã hội. Thật ra, theo ý tôi cũng là cách tốt để quảng cáo cho sách, cho mọi người nhớ đến sách và nhớ sách là phần không thể thiếu trong cuộc sống.

Tự đặt ra mục tiêu năm này đọc mười cuốn sách. Không nhiều với thời tuổi trẻ, nhưng quá nhiều cho cái thời phải đấu tranh giữa sách và bao nhiêu món giải trí hay ho khác.

Phải hết năm mới biết mình có đạt hay không…

Chúc thư

Lệ Thu

.

Thôi vậy nhé

rồi cũng qua đi tất cả

một đời người như gió thoảng ngoài hiên

nợ trần gian đắng cay

tôi đã trả

trái tim thương khép lại cánh ưu phiền

.

Thôi vậy nhé

rồi cũng qua đi tất cả

những buồn, vui, được, mất… có gì đâu

nợ trần gian nhọc nhằn

tôi đã trả

trái tim thơ thanh thản bước qua cầu

.

Thôi vậy nhé

rồi cũng qua đi tất cả

những chờ mong, nhớ vụng, thương thầm…

nợ tình yêu

nợ hoài không thể trả

trái tim giờ như phiến đá lặng câm!

Tiếng ve mùa hạ ấy

Nguyễn Thái Dương

.

Hoa phượng tàn, hoa phượng rụng ngẩn ngơ

Chiều lặng gió tiếng ve reo dằng dặc

Về trường xưa, lòng nhớ quay nhớ quắt

Tháng ngày ơi, kỷ niệm trốn nơi đâu?

.

Nơi tàng cây vọng tiếng lá lào xào

Ta đứng dưới cơn mưa chiều xa vắng

Người con gái đi ngang nhìn lãng mạn

Nở nụ cười… mới khó hiểu làm sao!

.

Nơi nằm ngoan những vạt cỏ ca dao

Ru đôi lứa ban trưa vào tình tự

Tuổi mười sáu riêng lòng ta lúc đó

Phải không em thầm kín đến dường nào

.

Ngày quen nhau đêm háo hức chiêm bao

Em hiển hiện, em chập chờn chiếc bóng

Hoa phượng nở bất ngờ hoa phượng rụng

Tiếng ve gần bất chợt hóa xa xôi

.

Thời gian trôi… Vẫn tàng phượng ấy thôi

Và tiếng ve, vẫn tiếng ve ngày cũ

Người bạn gái năm nào, giờ có nhớ

Như lòng mình khi về lại trường xưa?

Phương Yêu

Bùi Thanh Tuấn

.

Tặng Kagaroo Quỳnh Ca và thời thư sinh của tôi 

Nhiều năm trước anh vô tư quá đỗi 

Mơ lá ngoan về ngủ giữa tay ngà 

Gói bầu trời trong vạt áo kiêu sa 

Trải hoa vàng trên đường em đi học 

.

Nhiều năm trước mưa đầu mùa về khóc 

Gọi ” Hạ ơi!” khản cả giọng trời chiều 

Em đi mất sau mùa thi năm ấy 

Lá nghiêng mình rơi xuống giọt phượng yêu 

.

Này cửa lớp khắc tên em trên đó 

Và mùi hương nơi dãy ghế hôm nào 

Có tìm thấy trong ngăn bàn cũ kỹ 

Lời tỏ tình lần lữa chẳng dám trao? 

.

Rồi cũng đến ngày anh xa lớp học 

Áo thư sinh lưu luyến nắng sân trường 

Có chút gió thổi vào lòng biển cả 

Chút ngậm ngùi nơi khóe mắt rưng rưng… 

.

Đời xuôi ngược lãng quên câu chuyện cũ 

Nhủ lòng, thôi người cũng đã phương trời 

Trang sách khép giã từ mùa phượng nhớ 

Giữa sân trường thao thiết gọi “Phượng ơi!”

Phật Đản

Huỳnh Ngọc Nga

.

Hôm nay ngày Phật Đản sanh

Chấp tay cảm tạ ơn lành Thế tôn

Người sinh ra để mở đường

Rọi đem ánh sáng phá tan vô thường

.

Sanh, Bịnh, Lão, Tử khổ dường

Lục dục, ngủ uẫn dẫn đường khổ đau

Tham này, Sân đó, Si đây

Là dây oan nghiệt trói vòng nhân gian

.

Đản sanh Phật chuyển đạo mầu

Truyền dạy nhân thế tìm về bản tâm

Nam mô kinh lạy Phật thầy

Muôn đời còn mãi ơn này không phai

.

Trăng Rằm tỏa rực đêm đen

Tâm con còn vọng lời kinh đấng từ

HNN

01.6.23

Biển ơi

Phạm Minh Châu

.

Từ khi anh đi về phía biển

Nhớ thương ai vô cớ mỗi chiều chiều

Nắng chớm tắt sắc vàng rơi xuống sóng

Nhấp nhô buồn anh với đìu hiu

Và khi anh rời xa phía biển

Nhớ thương chi xao xác mỗi chiều chiều

Những cánh chim bay về từ phía biển

Mang nỗi buồn qua chốn cô liêu

Ngày mai anh không về với biển

Nỗi ưu tư man mác trong lòng

Yêu thương lắm một thời bên biển

Chuồn chuồn bay nghịch nắng những mùa yêu.