Feeds:
Bài viết
Bình luận

Ngày Không Anh

  Yến Du

Phố thênh thang là ngày phố vắng anh
Nắng thả mình trầm tư cùng cây lá
Vạn nỗi buồn treo thành chùm mọng quả
Gió ngây ngô thổi trái chín sai mùa

Góc vườn yêu nở nụ hồng góa bụa
Khóc một mình giữa gai góc cô đơn
Con chim sâu trên mái ngói dỗi hờn
Không còn hót hồn nhiên
như ngày anh chưa xa phố

Mây trời cao như phông nền loang lỗ
Vẽ mặt người định hình nỗi nhớ nhung
Ngày không anh ngày chậm đến vô cùng
Như cỏ dại sầu lên xanh rất mướt

Bước chân em vô tình lại đi ngược
Ngược con đường ngược nắng gió tìm anh
Phố buồn tênh bờ vai nghiêng lành lạnh
Anh – anh ơi anh hãy vội quay về …..

Nụ cười thần thánh

 

Vũ Thế Thành

Ngành du lịch VN đã có thời chọn nụ cười làm biểu tượng của “Việt Nam- Điểm đến của thiên niên kỷ mới”. Cô người mẫu “Nụ cười Việt Nam” sau này đã quay sang kiện Tổng cục Du lịch vì đã sử dụng hình ảnh của cô tùy tiện và vi phạm quyền nhân thân.

Kampuchia mới đây cũng chọn nụ cười làm biểu tượng cho ngành du lịch. Họ không chọn nụ cười của những thiếu nữ xinh đẹp làm mục tiêu thu hút, mà chọn nụ cười của …thần thánh (cho chắc ăn, khỏi lo “vi phạm quyền nhân thân”), mà du lịch Kampuchia gọi đó là “Nụ cười Angkor” (Smile of Angkor).

Angkor là 1 quần thể kiến trúc gồm 2 khu đền chính: Angkot Wat (Đế Thiên) và Angkor Thom (Đế Thích). Chưa cần nói đến sự hùng vĩ của kiến trúc đền đài, chỉ với nghệ thuật điêu khắc trên đá cả hàng ngàn tượng vũ công apsara và các vị thần, cũng là điều khó tưởng tượng nổi. Từng khuôn mặt, từng dáng điệu của cả ngàn bức tượng đó không hề trùng lắp nhau. “ Nụ cười Angkor” là một trong những khuôn mặt đó.

Chỉ riêng trong đền Bayon, thuộc khu Angkor Thom, có đến 54 ngọn tháp với 216 khuôn mặt vị thần được điêu khắc ở bốn mặt mỗi tháp, nhưng chỉ duy nhất có một khuôn mặt đang cười, một nụ cười thanh thoát, độ lượng. Ý nghĩa của nụ cười đó đến nay vẫn còn là điều bí ẩn. Có người cho rằng nó mang dấu ấn thiền định của Phật giáo. Vị thần nào đã mang nụ cười siêu thoát đó cũng là điều bí ẩn. Những nhà nghiên cứu Khmer tin rằng đó là hình ảnh của vua Jayavanman VII, người đã cho xây đền Bayon.

Angkor đã từng là kinh đô của Khmer cách đây cả ngàn năm, ghi dấu những năm tháng vàng son, hùng mạnh, trình độ văn minh vượt trội, mà người ta gọi đó là “thời đại Angkor”. Cũng không ngạc nhiên khi UNESCO xếp di tích Angkor vào trong danh sách những kỳ quan thế giới.

Không chỉ xem nụ cười Angkor là biểu tượng du lịch,  Kampuchia, giữa năm 2011 đã đi xa hơn nữa khi cho trình diễn trên sân khấu 3D, với kỹ thuật hình ảnh và âm thanh hiện đại, các show diễn mang đậm tính sử thi, tái tạo lại thời kỳ vàng son của thời đại Angkor

Show diễn kéo dài 75 phút, gồm 6 chương. Mở đầu là chương “ Đối thoại với thần linh”, một thiếu niên Khmer hỏi vị thần về ý nghĩa nụ cười, và chương kết thúc cũng lại là: “Nụ cười Angkor”. Ấn tượng!

Du lịch Thái Lan cũng có show diễn giới thiệu về lịch sử và văn hóa như thế tại nhà hát Alangkarm (Pattaya), với tên gọi đầy tính… marketing: “ Thai Extravaganza Show”, nhưng công phu, kỹ thuật hơn, voi đi ngựa hí, súng thần công chen lẫn gươm dáo,… Chương trình xen lẫn cả những pha tấu hài, thành ra… tạp kỹ. Các tour du lịch Việt Nam đến Thái thường bỏ qua chương trình này.

Hoành tráng hơn nhiều phải nói đến show “ Tống Thành” ở Hàng Châu (Trung Quốc) với banner quảng cáo “Cho tôi một ngày, sống lại ngàn năm”. Nhà hát xây dựng trong một khu du lịch, với nhà cửa quán xá tái tạo lại sinh hoạt thời nhà Tống. Thời lượng lịch sử trong show diễn chỉ độ mươi phút, gói gọn trong câu chuyện bi tráng của Nhạc Phi (mà công tội của Tần Cối hiện nay vẫn còn là điều tranh cãi). Còn hầu hết là những chuyện huyền thoại, Thanh Xà Bạch Xà, Lương Sơn Bá/ Chúc Anh Đài, hay cả một buổi thiết triều với cả trăm cung tần mỹ nữ xinh đẹp, vũ điệu tha thướt, tưởng như thời thái bình thịnh trị, khi quân Kim đang áp lực phía Bắc. Nghệ thuật và kỹ thuật của show diễn có thể nói là hoàn hảo nhưng đầy tính…phô diễn.

Ở mức độ hoành tráng, kỹ thuật và nghệ thuật trình diễn thì  “Nụ cười Angkor” thua xa “Thai Extravaganza Show” và càng không thể so với “Tống Thành”, chẳng hạn chuyển đoạn các chương hồi còn gượng ép, diễn viên múa chưa chuyên nghiệp, có khi còn cười giỡn trên sân khấu, còn phải vay mượn những pha múa dẻo (xiếc) với diễn viên của Trung Quốc,.. nhưng rõ ràng show diễn “Nụ cười Angkor” mang đậm tính sử thi hơn nhiều, mà nơi đó, một sự ngưỡng mộ và luyến tiếc đã chạm được tới tâm hồn người xem.

Show “ Nụ cười Angkor” còn quá mới, và theo thời gian họ sẽ phải hoàn thiện kịch bản và  nghệ thuật diễn nhiều hơn. Show “Tống Thành của Trung Quốc đã ra đời cả chục năm cũng thế. Tôi đã xem show này 2 lần, cách nhau 3 năm, họ vừa cho trình diễn, vừa thay đổi và nâng cấp theo thời gian

Angkor đã trở thành hoang phế trong rừng sâu cả vài trăm năm khi quân Xiêm xâm lấn Khmer đầu thế kỷ 15. Nhiều người cho rằng chính người Châu Âu đã khám phá ra phế tích này khi di cảo của nhà tự nhiên học Henri Mohout (Pháp) được ấn hành tại Paris và London năm 1863. Nhưng Claude Jacques, một giáo sư người Pháp, dạy và nghiên cứu lịch sử Khmer, trong tác phẩm “Ancient Angkor” đã bác bỏ điều này, cái mà ông gọi là quan điểm cái gì cũng lấy Châu Âu làm tâm điểm (Eurocentric). Ông khẳng định, người Khmer không bao giờ quên sự hiện hữu của Angkor, cho dù hồi đó nhiều đền đài có thể bị bỏ hoang, nhưng Angkor Wat lúc nào cũng có người và là nơi thiêng liêng thờ phượng.

Angkor là kỳ quan của thế giới, một thời vàng son, một thời hoang phế. Bây giờ đang sống lại với “Nụ cười Angkor”, là niềm tự hào của Khmer, thế nhưng thông điệp quảng cáo trên mạng bằng tiếng Anh lại khiêm tốn, nhẹ nhàng (tạm dịch): “ 90% vũ công trong “Nụ cười Angkor” là người Kampuchia, trong số đó, có em là trẻ mồ côi, có em là con cháu của nạn nhân bị bẫy mìn. “Nụ cười Angkor” đã tạo việc làm cho các em, đã huấn luyện các em thành vũ công, và rồi các em sẽ trở thành di sản của văn hóa Kampuchia. “Nụ cười Angkor”cũng cộng tác với hai trường mồ côi để tài trợ cho các em học sinh. Hãy đến với “Nụ cười Angkor”, bạn không chỉ thưởng thức nên văn hóa đích thực của Kampuchia mà còn giúp đỡ người dân Kampuchia nữa”. Quảng cáo thế này, ai mà ngó lơ cho nổi !

Thống kê cho biết, 7 tháng đầu năm 2011, số du khách quốc tế đến Kampuchia là 1,6 triệu (so với Việt Nam cùng kỳ là 3.425.820).

“ Nụ cười Angkor” đã có khởi điểm, đã bước chân vào cuộc đua, và có cái để nâng cấp. Vài ba năm nữa, chắc chắn nó sẽ hoàn thiện và sẽ là show diễn đậm tính sử thi nhất.

Xin nhái lời của Neil Armstrong, người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng để nói về “Nụ cười Angkor” : Đây là bước chân nhỏ bé của một đất nước đang phát triển, nhưng là bước tiến vĩ đại của một dân tộc vừa thoát khỏi nạn diệt chủng.

Trông người lại ngẫm đến ta !

Vũ Thế Thành

Qui Nhơn hay Quy Nhơn – Qui hay Quy ?

Thái Minh Quang

 

Tạp chí “Xưa và Nay”, số 62B (2037), 1999

Người am hiểu khá sâu tiếng Việt, thường phàn nàn với bạn bè về việc đổi Qui Nhơn từ “i ngắn” thành “y dài”. Từ điển Larousse năm 1969 (in tại Ý) (Atlas moderne Larousse) xuất bản tại Paris, trang 24 phần Index des noms (tức phụ lục địa dư các địa danh trên thế giới) ở cột 4, dòng 2 tính từ dưới lên có ghi: Qui Nhơn. Người nước ngoài cần giao dịch, ký hợp đồng, chuyển gạo tiền nong hàng hóa… chỉ căn cứ vào từ điển Larousse. Nếu một đơn vị hành chính hay doanh nghiệp nào đấy chuyển tiền hay hàng hóa ghi chữ Quy Nhơn… tất đối tác nước ngoài không nhận được (Đúng hơn là không được nhận) và ngược lại. Biết bao phiền toái, tổn thất trong chuyện i ngắn với y dài này. Nếu có khách du lịch, cầm trong tay một từ điển danh tiếng Larousse (hay các từ điển, sách hướng dẫn du lịch các nước, chắc phải dựa vào từ điển người Pháp về Việt Nam) họ sẽ khó khăn thế nào khi cố gắng tìm đất Qui Nhơn mà có khi họ đang ở tại đất này! Họ sẽ không thể nào hiểu được khi hai chữ viết khác nhau mà lại là một trong đầu họ. Đấy là 2 địa danh, 2 nơi chốn khác nhau?

Trong bối cảnh ấy, tôi tìm đến các văn bản có liên quan đến hai chữ Qui Nhơn. Tôi đã đọc và ghi chép lại các từ điển sau đây:

Từ điển Việt-Pháp (J.F.M Genibrel NXB Tân Định, 1898)

Đây là từ điển lâu nhất mà tôi có. Từ điển này do các nhà ngôn ngữ học đã để ra 14 năm (1884-1898) để biên soạn: chuyển tiếng Việt từ tự dạng chữ Nôm sang tự dạng La tinh. Trang 639 ghi: Qui: lại, về… hội tụ… Cũng trang 639 ghi: Qui (con rùa – Tortue).

Như vậy, với từ điển này Qui với nghĩa là qui tụ hay qui theo nghĩa Hán tự (con rùa) cũng viết như nhau: “i ngắn”.

Hán Việt Tân tự điển (Nhà sách Khai Trí-Sài Gòn, tháng 4 – 1975).

Trang 558 ghi Quy Nhơn: quay về với điều nhân đức – tên một tỉnh ở trung phần Việt Nam.

Trong từ điển này không có chữ Qui (i ngắn)

Từ điển tiếng Việt (NXB Khoa học Xã hội Hà Nội – 1988)

Trang 839: Xem: qui, quỉ, quì, quĩ, quí, quị v.v.. như quy, quỳ, quỷ, quỹ, quý, quỵ… Tức i như y (nghĩa như nhau và song song tồn tại).

Từ điển Việt – Hán (NXB Giáo Dục-1996-GS Đinh Gia Khánh hiệu đính – in lần thứ 5 có sửa chữa và bổ sung) trang 896, 897 ghi qui là rùa và qui là quay trở lại (hồn qui, vinh qui)… Từ điển tiếng Việt (NXB Mũi Cà Mau, 1997 – Phan Canh).

Trang 929: Qui = rùa, và cách 3 dòng ghi: Qui = về, trở về (qui chính, qui định, qui hàng, qui hoạch, qui hướng, qui hồn…) không có chữ quy.

Từ điển tiếng Việt (Trung tâm tự điển – NXB Đà Nẵng – 1995)

Trang 784 không có chữ qui.

Từ điển Việt – Pháp (Dictionnaire Vietnamien- Francaise- NXB Thanh Hóa 1996 – Lê Phương Thanh).

Tất cả đều y (dài) (trang 644- 645)

Hán Việt từ điển (Đào Duy Anh – NXB TP Hồ Chí Minh- 1994)

Trang 163: Qui bản, Qui Nhơn (165) tỉnh lỵ tỉnh Bình Định.

Từ điển tiếng Việt thông dụng (NXB Trẻ –1997- Nguyễn Văn Xô).

Không có chữ Quy mà có (trang 363) Qui: (1) con rùa, (2) về (sinh ký tử qui), (3 )phép tắc định trước.

Những từ Việt Hoa thông dụng (NXB Đồng Nai- 1997- Vương Bình).

Qui: rùa (363)

Qui: về (394) không có chữ Quy.

Từ điển Hán thông dụng (NXB trẻ-1997, Lâm Hòa Chiến, Lý Thị Xuân Cúc, Xuân Huy)

Quy (1) rùa (2) về (trang 820)

Cũng tác giả Lâm Hòa Chiến trong từ điển Việt Hoa (NXB trẻ – 1998), không nói đến qui là rùa, trang 323 lại nói qui thuận (Như vậy, một tác giả hai cuốn từ điển viết khác nhau, có lẽ quan điểm tác giả thấy hai chữ có thể thay thế nhau tùy từng trường hợp cụ thể).

Nhìn lại 13 cuốn từ điển mà tôi đã mô tả ở trên ta thấy gì? Rõ ràng đấy là sự không thống nhất. Chưa có thể kết luận: khi viết qui (i ngắn) tức là rùa và quy (y dài) mới là quy tụ. Các nhà từ điển học khi viết sách đều có quan điểm riêng trước những hiện tượng ngôn ngữ còn tìm tòi, cải tiến, tranh luận. Hẳn họ quá biết, từ khi có “chữ quốc ngữ” bao nhiêu cuộc tranh luận với tinh thần khoa học và yêu đất nước đã xẩy ra. Trong đó không ít cuộc tranh luận và giấy mực bàn về i (ngắn), hay y (dài). Có ý kiến cho rằng từ nào có vần bằng thì i (ngắn), (so bì, lì xì, lui cui). Từ nào có vần trắc thì y (dài) (tỷ mỷ, sơn thủy, cô giáo Thúy…). Nhưng trên thực tế lại không đơn giản như vậy.

Tóm lại không thể đưa ra quan điểm dành riêng cho qui (i ngắn) là rùa và quy (y dài) là quy tụ. Tuy rằng trong chữ Hán, đồng âm nhưng tự dạng khác nhau. Trên thực tế không ai hiểu Qui Nhơn (i ngắn) tức là đất chỉ có rùa và người hay người như rùa! Cũng không có cơ sở khoa học để nói nếu viết i ngắn chữ qui sẽ đọc thành chữ (u…i…ui).

Trong sự không thống nhất ấy buộc ta phải thống nhất những điều cơ bản:

1- Đây là danh từ riêng. Không ai có quyền bắt nhà thơ Hồ Dzếnh phải bỏ chữ Z trong tên ông. Là danh từ riêng, khi mới ra đời thế nào, nay để vậy, “Nhất thành bất biến”.

Ông Đào Duy Anh trong đất nước Việt Nam qua các đời (NXB Thuận Hóa, 1994) trang 99 mục trấn Quảng Nam ghi: “Thái tổ Gia dụ Hoàng đế năm thứ 46 (1602) đổi phủ Hoài Nhơn làm phủ Qui Nhơn.” Hay tìm lại văn bản hành chính trước đây: đều ghi là Qui Nhơn (Collège de Qui Nhơn – trường Quốc Học Qui Nhơn) v.v..

Muốn thay đổi một địa danh phải :

+ Có hội thảo khoa học và sự nhất trí.

+ Phải thông báo chính thức (được Quốc Hội thông qua) trong và ngoài nước.

Không thể tùy tiện.

Chúng ta còn nhớ vụ kiện khắp thế giới đều biết: Nữ văn sĩ Pháp Françoise Sagan viết cuốn: Buồn ơi! Chào mi (Bonjour tristesse) bị một công dân kiện vì đã đưa họ, nói xấu họ trong cuốn sách nói trên. Tòa án gọi nữ văn sĩ. Nữ văn sĩ đã không hầu tòa vì chữ “Françoise” của tòa thiếu một nét: dấu Cédille ở dưới chữ C. Tòa đành chịu

2- Trong khi chờ đợi một quyết định khoa học, trên phương diện hành chính nên giữ nguyên chữ cũ: Qui Nhơn.

Bởi liên quan đến cuộc sống, giao dịch, ngoại giao… cần hết sức thận trọng.

THÁI MINH QUANG

Lục bát viết ở B’Lao

Văn Công Mỹ

Bốn Câu Cho B’Lao

Cái rừng cái ná cái chim

Cái nương rẫy gói trái tim con người

Cái lau lách trắng nụ cười

Cái sông suối nối cái đời ngây thơ.

 

Ở B’Lao Nhớ Biển

Buổi anh bỏ phố lên rừng

Ngóng  mây cố xứ mơ trùng dương xa

Thưa em một tiếng thật thà

Chút tình năm cũ đã nhòa nhạt chưa?

 


Đôi tay buồn

Nguyễn Thị Phụng

Phải xin lỗi đôi tay buồn quờ quạng
Cuốc kêu chi khắc khoải giữa đêm trường
Trăng cuối tuần sương giá buốt đoài non
Đêm chập chững lối mòn nghiêng ngã

Phải xin lỗi đôi tay buồn mới lạ
Mùa đi qua năm ngón lại hao gầy
Trái đất tròn say mãi phải lăn quay
Ôi thương quá đôi tay buồn thao thức!

Vợ chồng Mèo…

Trần Thanh Thiện

Meo… eo…èo eo…Tôi lên lan can lầu một và cất tiếng gọi con mèo cưng về. Từ rất xa,  tôi nghe tiếng nó đáp lại ngay và theo tiếng meo dồn dập càng lúc càng gần, tôi biết nó đang phóng như bay, lên xuống qua nhiều mái nhà và chẳng mấy chốc nó đã uốn éo đến bên tôi, cọ cọ cái đầu xinh đẹp và thân hình óng mượt lên chân tôi. Vậy là cu cậu đang rong chơi chứ không đang theo “mèo gái”rồi.

Sau thủ tục chào đón, nó nằm lăn ra thềm gạch, trở bên này, trở bên kia để tận hưởng cảm giác ấm áp quen thuộc, rồi nó nằm yên sưởi nắng, mắt lơ đảng nhìn những con thằn lằn trắng nhởn đang thơ thẩn kiếm ăn trên tường. Vô phúc con nào bám không chắc rơi xuống là mèo ta nhảy phóc tới đớp ngay trước khi con mồi tiếp đất.

Nó được con trai tôi lượm về khi đang nằm thoi thóp bên bờ rào, chỉ chừng vài ba ngày tuổi  và sắp chết đói. Vậy mà chỉ 3 ngày sau, nó đã vươn vai đứng dậy đi lẩm chẩm trong nhà và sau đó nó lớn nhanh như thổi. Đó là một chú mèo đực. Càng lớn nó càng “đẹp trai”và oai vệ. Với thân hình dài, to, cao và cái đuôi dài nghểu nghện rất đẹp; với cái đầu bự, đôi mắt to như có lữa, cái miệng nghiêm nghị và bộ ria mép rất bảnh; với dáng đi và bô lông vằn vện  đen pha vàng và trắng xám như cọp, nó làm con chó Tô cao to hiền lành của tôi tự động “xuống hạng” ngay từ đầu không cần “thử lữa”.

Tôi chưa thấy con mèo nào sạch sẽ như nó. Ăn xong nó liếm chung quanh miệng thật lâu, rồi liếm sạch 2 bàn chân trước thật kỹ. Rảnh rỗi nó thường ngồi sưởi nắng, vừa làm vệ sinh thân thể. Nó dùng lưỡi liếm toàn thân. Chỗ nào xa quá lưỡi “vói” không tới thì nó liếm ướt 2 bàn chân trước rồi lau khắp thân mình. Bởi vậy bộ lông tam thể của nó bao giờ cũng óng mượt và thơm tho

Vậy mà nó lại không có được một cái tên riêng! Thật là một sự đảng trí tai hại và bất công. Ngay từ ngày đầu nó mới về nhà, mỗi lần kêu nó tôi lại kêu meo…èo… eo. Nó đã quá quen với tên gọi đó mất rồi. Thật chẳng khác gì kêu cả họ hàng nhà mèo của nó.

Khi nó bắt đầu trưởng thành, sợ nó rủ rê hết lũ mèo trong xóm tới quần nát mái nhà, tôi nghe lời xúi dại lấy dây thun cột 2 tinh hoàn nó lại để “nó teo và tự rụng” (?) Nó ra vào gầm gừ rên rỉ mấy ngày làm con trai tôi phát giác “âm mưu đen tối” của mẹ:

-Mẹ đừng làm vậy tội nghiệp nó mẹ ơi! Để cho nó lấy vợ đẻ con nữa chứ!

và nó tự tiện tháo dây thun ra. Được giải thoát, mèo ta mừng rở phóng như bay đi tìm “bạn”.

Chắc chắn tôi là “người”bạn thân nhất của nó. Rảnh rỗi tôi thường ra salon ngồi. Không đợi tôi gọi, nó đã nhảy phóc lên ngồi chễm chệ trên đùi tôi, khoan khoái gù nhè nhẹ. Đây có vẻ là vị trí nó khoái nhất, vì hể con Tô mon men đến gần là nó vội nhe nanh múa vuốt đuổi đi. Tôi có can thiệp thì Tô tội nghiệp mới được ngồi yên bên chân tôi. Đôi lúc Tô cũng nổi khùng muốn tát cho nó mấy cái nhưng vừa giơ chân lên thì nó đã nhanh tay tát dứ mấy cái làm Tô co vòi vì bàn chân Tô đâu có vuốt nhọn hoắc như nó.

Là mèo nên đương nhiên nó phải cào. Bởi vậy lớp simili bọc nệm salon bị rạch nham nhở. Có bữa tôi bực mình bấm hết mấy vuốt của nó. Tội nghiệp! Sáng hôm sau nó về nhà với thương tích đầy mình, máu me đầy mặt. Tôi quên bén rằng vuốt là vũ khí chiến đấu của nó. Có lẽ đây là lần đầu tiên nó bị thảm bại như vậy.

Đêm nó thường lang thang đi đâu khuya lắt khuya lơ mới rón rén về, rồi rất nhẹ nhàng không một tiếng động, nhảy phóc lên đầu giường, nằm cuộn mình giữa đầu giường và đầu tôi, ngủ ngon lành không kêu một tiếng. Sáng sớm tôi thức dậy đã nghe nó rục rịch trên đầu nằm. Khi nghe tôi “good morning, meo…eo…”Nó mới meo một tiếng rõ to rồi nhảy xuống giường vươn vai uốn éo đi ra khỏi phòng.

Mèo cưng của tôi chắc thuộc giống mèo “ưu việt” nên thịt cá, ngay cả mỡ để trên bàn nó cũng không bao giờ để mắt đến. Nó chỉ xơi những gì để trong dĩa nó mà thôi. Nhưng khẩu phần ăn phải đàng hoàng đấy nhé! Không cao lương mỹ vị gì, nhưng không được tệ lắm. Bữa nọ sau khi cả nhà ăn cơm xong, bỗng nghe nó vừa đi tìm tôi vừa la ỏm tỏi, giọng giận dữ và rất cấp bách, con Tô lẽo đẽo sau đuôi. Đứng trước mặt tôi nó ngoác miệng meo meo một cách giận dữ. Tôi biết là có kiện cáo gì đây .

-Lành ơi cho mèo chó ăn chưa?

-Dạ cá còn ít con sợ chiều nhà ăn không đủ nên trộn xương thôi nên tụi nó chê không ăn.

Trộn cá vô xong hai con đứng ăn êm ru!

Thế nhưng khi thức ăn ngon, nó vừa ăn vừa khen “ngon ngon”.Thật ra có thể đó chỉ là âm thanh gây ra do nó đưa thức ăn quá nhiều và quá nhanh vào mồm mà thôi. Nhưng tôi vẫn thường châm chọc nó như thế.

Ngán nhất là mùa động dục của họ nhà mèo. Chúng rượt nhau rần rần trên mái nhà, con nào cũng vừa chạy vừa đánh vừa la với đủ cung bậc âm thanh hổn loạn làm náo động không gian đêm yên tĩnh : gầm gào, rú rít, dọa nạt, con nào dính đòn đau thì la thất thanh. Có cả tiếng rên xa dần, đau đớn và giận dữ của những con bại trận cúp đuôi chạy. Hậu quả tức thì của những trận thư hùng nảy lữa giành giựt người đẹp đó thường là những vết thương trên thân thể các cậu mèo sáng hôm sau còn rướm máu. Mèo cưng của tôi tuy thuộc loại “có đẳng cấp”cũng không tránh khỏi những lần dính đòn đau, nằm bẹp cả ngày. Và hậu quả lâu dài là …những cái bầu.

Một hôm tôi nghe tiếng nó kêu hơi lạ. Tôi nhìn lại thì thấy có con mèo mướp nhỏ nhắn đi sau nó. Nó ngước nhìn tôi và meo meo rồi nhìn lui con mèo kia. Tôi thích thú kêu to:

-Anh ơi mau tới coi con mèo đem vợ nó về ra mắt mình nè!

Khi chồng tôi tới nó cũng đang kêu nho nhỏ, vợ nó đứng sau đuôi. Lát sau hai đứa cùng lững thững đi ra, mèo chồng đi trước mèo vợ theo sau. Thật là vui và bất ngờ. Trông chúng rõ là đẹp đôi. Nhìn đôi vợ chồng mèo đi khuất dần sau cánh cửa, chồng tôi đùa:

_Bà lo chuẩn bị sẵn sàng để nuôi cháu đấy nhé!

2/5/2011

Công dân tượng trưng thứ 7 tỷ của thế giới đã chào đời tại Philippines đêm ngày 30/10. Chắc chắn ra đời sau em sẽ có liên tiếp các bé khác, bởi vì dân số trên hành tinh này đang tăng với tốc độ chưa từng thấy.

 

Một em bé sơ sinh.

Một số chuyên gia tin rằng, tốc độ tăng trưởng này có thể là một triển vọng khá sợ. Bởi vì gấp đôi số người giờ đây đang chia sẻ các nguồn lực hữu hạn của thế giới so với hồi những năm 1960. Và số người trên hành tinh này đã tăng thêm 1 tỷ người kể từ năm 1999.

Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc ước tính, dân số thế giới sẽ lên tới hơn 9 tỷ người vào năm 2050.

Vậy con số đó có ý nghĩa như thế nào đối với tương lai của hàng nghìn đứa trẻ được sinh ra ngày nay? Chúng ta có thể đối phó với toàn cảnh như thế nào? Và thế giới có thể bị tác động ra sao?

Lý do

Mãi thế kỷ 19, thế giới mới đạt một tỷ người đầu tiên và gần một 100 năm sau đạt 2 tỷ người. Một tỷ người nữa chào đời chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm. Và dân số thế giới tăng thêm bốn tỷ người trong vòng 60 năm qua.

Nhà nghiên cứu sinh vật học Steve Jones cho rằng, khả năng sản xuất nông nghiệp đảm bảo lương thực cho chính chúng ta đã khiến cho dân số thế giới tăng nhanh đến như vậy.

Có đủ chỗ?

Các chuyên gia tại Hội Địa lý Quốc gia Mỹ chỉ ra rằng, 7 tỷ người có thể dồn đủ vào thành phố Los Angeles rộng gần 500 dặm vuông (1,290.6km2) – nếu chúng ta đứng sát vào nhau. Nhưng thật may, chúng ta có 57,5 triệu dặm vuông của trái đất này để tản ra khắp nơi sinh sống.

Nghiên cứu cho thấy, khi dân số phát triển thì tốc độ đô thị hóa cũng tăng. Năm 1950, có khoảng 730 triệu người là cư dân thành thị. Con số này vào năm 2009 là 3,5 tỷ và đến năm 2050 có vẻ như sẽ là 6,3 tỷ.

Chúng ta ở đâu?

Hầu hết dân số thế giới tập trung ở châu Á, lục địa có hơn 4 tỷ cư dân.

Chỉ riêng Trung Quốc đã có khoảng 1,3 tỷ người còn Ấn Độ có 1,2 tỷ người. Tính chung, hai nước đã chiếm hơn 1/3 dân số thế giới. Tuy nhiên, châu Á không tăng trưởng nhanh bằng châu Phi, nơi dân số 1 tỷ người đang tăng ở mức 2,3%.

Châu Âu có xấp xỉ 800 triệu dân. Con số này ở Mỹ Latin là 600 triệu, ở khu vực Caribbe, Bắc Phi là 500 triệu và ở châu Đại Dương là 35 triệu.

Phần lớn dân số thế giới tập trung tại châu Á.

Chúng ta là ai?

Tỷ lệ nam và nữ trên thế giới gần như bằng nhau. Tuy nhiên, khi y tế được cải thiện, đặc biệt ở các quốc gia phát triển, dân số ngày càng già đi.

Theo thống kê về dân số thế giới của Cục Điều tra Dân số Mỹ, có khoảng 390.000 người ở tuổi 100 hoặc cao hơn, gần 13 triệu người trên 90 tuổi và 1,5 tỷ người trên 50 tuổi.

Ước tính vào năm 2030, hơn 1/3 số dân ở một số nước sẽ quá tuổi 65, gây sức ép nặng nề lên hệ thống chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ hưu trí.

Chúng ta có đủ thức ăn và nước uống?

Theo các chuyên gia nghiên cứu của Liên Hợp Quốc, sản xuất lương thực cần phải tăng tới 70% mới nuôi đủ 9 tỷ người dự kiến vào năm 2050.

Đầu tư vào nông nghiệp không theo kịp với tăng trưởng dân số và một tỷ người đang phải chịu đựng cảnh thiếu đói.

Việc sử dụng nước cũng tăng gấp 2 lần tỷ lệ dân số trong thế kỷ qua và sẽ tăng lên 50% vào năm 2025 ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên, ngày nay, có hơn 1 tỷ người vẫn chưa được tiếp cận với nước sạch.

Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon đánh giá chúng ta đang sống trong một “thế giới trái ngược”.

“Lương thực thừa mứa, nhưng vẫn có một tỷ người phải đi ngủ với cái bụng đói mỗi đêm. Nhiều người hưởng thụ lối sống xa hoa nhưng không ít người vẫn đang nghèo khổ”.

Dân số cứ thế tăng?

Có thể không. Có nhiều dự đoán khác nhau nhưng đa số cho rằng dân số thế giới sẽ chạm đỉnh 9-10 tỷ vào khoảng năm 2070 và sau đó giảm xuống.

Năm 2001, nhà nghiên cứu Wolfgang Lutz người Áo cho rằng, tỷ lệ sinh con giảm sẽ làm chậm tăng trưởng dân số.

“Có một sự nhất trí cao giữa các nhà khoa học dân số rằng mức sinh ở các nước đang phát triển sẽ giảm xuống bằng với ở các nước công nghiệp hiện nay”.

Hiện tại ở châu Âu, chúng ta có ít trẻ con hơn so với 50 năm trước.

Thanh Hảo (Theo Mirror)

Tình Thơ

 Đặng Tấn Tới

Tặng D Kh

 

Đâu đó khu vườn thơ bỡ ngỡ

Lối về nắng lụa, gió hương vây

Lược trăng rẽ lệch đường ngôi tóc

Nhật nguyệt nồng reo, máu cuộn ngày

 

Bàn tay đan ấm thời gian ấy

Bay bổng tình đôi theo cánh chim

Ta dẫu nhỏ hơn đời cát bụi

Em nào ra khỏi suối mơ tìm

 

Luôn thắp cho lòng bông lửa đỏ

Bên rào thiên cổ, cuối xanh thâu

Xôn xao biển mắt, ngàn sao gọi

Lặng lẽ trào dâng sóng bạc đầu


Ta đang chung bước, chi mà vội?

Lịu địu hành trang biêng biếc sau

Ngõ sớm, đường khuya, chân bối rối

Môi kề tơ cỏ, cắn thương đau

Lâm Bích Thủy

Ngày tôi còn học ở Hải Phòng, lúc nào xuống  thăm, người cha thi sĩ này cũng đem cho tôi vài tập thơ mỏng, bìa có họa tiếc đơn giản trang nhã, như   “Nắng Ba Đình”, hay thơ viết cho thiếu nhi của chú Phạm Hổ và tập “Hướng Điền căm thù” của ông (tập thơ này không còn tồn tại). Tôi thích lắm. Quanh tôi, tràn ngập thơ là thơ.

Nhưng thập niên 80-90 của thế kỷ 20, tôi vào Sài Gòn; có mấy ai xem trang thơ trên báo. Họ chỉ chú ý   mục kinh tế và cách làm ra cái ăn, cái mặc. Khi có cái ăn rồi thì trước hết lo đủ lượng chứ không cần đủ chất; chẳng ai phí thời gian vàng ngọc để đọc mấy vần thơ của các thi sĩ nghèo. Họ bảo “nhà thơ nghèo là phải, suốt ngày chỉ thơ với thẩn làm sao ra tiền”. Và thế là tôi suy ra thời vàng son của thơ đã lùi vào dĩ vãng “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ

Nhưng dù ở đâu, thời nào cũng vậy. Ba tôi lại vẫn trung thành với thơ. Trong không gian hẹp, tại một thị trấn hẻo lánh, ông yêu cuộc sống thể hiện qua thơ đến dường nào. Ông không chấp nhận sự an nhàn, Khổng Tử đã dạy “Nhàn cư vi bất thiện” Vì thế, dù dưới góc độ nào, cái đích cuối cùng ba tôi hướng tới là giá trị chân, thiện, mỹ của lẽ sống ông ghi lại vào thơ. Ông biết rằng “Chiến tranh con người sẽ mất đi, còn thơ sẽ sống mãi với đời”.

Chúng tôi cằn nhằn “Thời đại này mà ba còn làm thơ, ai xem! Nghĩ cho khỏe óc đi ba.”. Nghe vậy,  Huy Nhuận phản đối tôi “Cái bà Thủy này suốt ngày chỉ nói đến tiền, tiền. Chị biết gì về thơ mà nói.” Đúng! tôi đang lo cho cuộc sống của cái tổ ấm cỏn con của tôi tồn tại được ở thời cơ chế thị trường đã.

Vì vậy, nhiều nhà thơ, về hưu, tuổi cao sức kiệt, ít ai còn có cảm xúc để sáng tác. Còn ba tôi làm thơ cả khi trên giường bệnh.. Chẳng thế mà, có người nhận xét “Càng về già thơ Yến Lan càng hay:

Những bài thơ cuối đời của ông là những bài thơ hay, tìm nhiều phương diện của nghệ thuật thơ ca, chứa nhiều hình ảnh đẹp, giàu tưởng tượng. Chỉ có sự tinh tế của tâm hồn thì nhà thơ mới làm cho hiện thực ngoài đời trở nên sống động được như vậy

Tại sao có điều ngược như vậy nhỉ? Theo ba tôi, ông được sống trên mảnh đất ông tự chọn, ông không phải dè chừng, cẩn thận với người ở cạnh mình như trước. Ở đây, có những ngọn gió mang hương đồng cỏ nội từ cánh đồng lúa, ngô khoai thổi vào đời ông thật mát mẻ và trong lành. Hè về cỏ cây, hoa lá, con sông, con cá, con chim v.v..  tất cả miên man trong tầng sâu của bất tận, với tư cách là nhà thơ, trong cái nhìn sâu xa đã tìm ra những thông điệp mấu chốt để lại cho đời. Dù đời sống quê ông còn nhiều nỗi nặng lo, song, ông đã tìm được niềm vui trong cái giản dị của miền sơn cước, của những chứng tích ẩn chứa bao điều mà con người chưa giải mã được, để ông sống và sáng tác hay hơn .

Chiều qua Tháp Cánh Tiên

Nghi ngút mô hình ngọn khói lên

Mờ trong gờn gợn nếp sương in

Khá thương mảnh đất trần gian mỏi

Còn nán trên đời phẩm thiết tiên

12/1989

 

Trước đây, mẹ tôi đã làm cái việc “Kiến tha lâu đầy tổ” sưu tầm, giữ gìn kỷ vật của ba để lại. Giờ tôi học tập bà việc này. Tôi có may mắn hơn, bạn bè gần xa, hễ có tin gì liên quan đến người cha thi sĩ của tôi thì lập tức họ bỏ thư, gửi tặng. Nhà tôi đủ tư liệu có thể giúp cho sinh viên nào cần để làm luận văn về ông. Vì từ trước đến nay, ở các Thư viện của hai thành phố lớn, tư liệu về Yến Lan hầu như hiếm hoi vào bật nhất so với các nhà thơ cùng thời.

Trên thực tế, ba tôi được nhiều bạn đọc yêu mến, ngưỡng mộ. Nếu bất chợt gặp mà biết tôi là con gái Yến Lan, thì người hâm mộ bỗng như gặp hân hạnh. Thế rồi họ giải bày tâm sự bằng đọc ra những vần thơ của ba tôi mà họ tâm đắc nhất. Qua đó, tôi mới biết rằng ba tôi không mất đi trong lòng mọi người. Những lúc như thế tôi cảm thấy tự hào về cha mình. Bài thơ “Bến My Lăng” được nhiều người nhắc đến nhiều nhất. Tôi cảm nhận được tình cảm của họ qua cách hỏi ngọt ngào, tha thiết “Cô là con gái “ông lái buồn để gió lẻn mơn râu đấy ư ?”, hay có người hóm hĩnh lái ý nghĩa của câu “hàng rong gặp hàng rong/liếc nhìn nhau qua mẹt bánh”, tôi đã đọc được  cảm giác của anh bạn trẻ khi xướng bốn câu của bài  “Cầm chân em-cầm chân hoa”, “Khi chị đi lấy chồng” và “nàng Vân giả dại” v.v..

Nhờ vào những dịp tiếp xúc đó, tôi ý thức hơn đối với việc sáng tác và giá trị đích thực thơ của cha tôi.

Tôi tìm hiểu đời ba tôi qua thơ ông. Đúng là ông đã truyền cho tôi mầm mống của tình yêu: yêu đất nước, con người, cuộc sống, và niềm tự hào được sinh ra trên đất nước Việt Nam này. Ông cho tôi thấy đời là sợi dây ràng buộc giữa người và thiên nhiên. Con người không bơ vơ, trơ trọi khi nhìn ra ý nghĩa của mình giữa cuộc đời để chia bùi, sẽ ngọt.   

Ngọt và đắng

Ô môi vàng ruộm, khổ qua-xanh

Em hái nhờ trao, gọi đáp tình

Không dặn nhưng ta đà rõ ý

Ngọt bùi cho bạn, đắng cho anh.

Ông còn dạy tôi cách nhận ra nợ đời. Biết nợ để trả, để tự thanh lọc mình sống tốt hơn, ý nghĩa hơn.                             “Nợ”

Nhà không vườn, không gác, không sân

Tôi nợ đời rau trái tôi ăn

Nợ hàng xóm trưa hè bóng mát

Nợ em cài bên cửa một vầng trăng

Nhận xét của tôi trước đây “Người Sài Gòn không mặn mà với thơ”, giờ  đã thay đổi. Một ngày nọ, tôi phát hiện người Sài Gòn trở nên yêu thơ đến là lạ. Nhiều câu lạc bộ thơ ca ở các phường ra đời; các thi hữu gọi nhau bằng những từ rất kêu  “Nhà thơ” này , nhà thơ nọ v.v.  Thơ bỗng dưng đơm hoa kết trái. Các thi hữu làm thơ, tự bỏ tiền in, tặng bạn. Thơ lại trở về nguyên vẹn với chức năng của nó “Nhất sĩ nhì nông” Thơ là nơi sẻ chia vui, buồn là mạch nguồn cho những bài ca, là tiếng nói chung của con người…

Có dịp nhắc tới vở kịch thơ “Bóng giai nhân”. Đây cũng là một vấn đề nan giải. Vở kịch thơ này từ khi mới lọt lòng đã mang tên hai tác giả là Nguyễn Bính và Yến Lan. Nhưng thật ra người chắp bút chỉ là ba tôi. Nếu như không có sự hiểu lầm rằng tác giả chính là Nguyễn Bính thì không có vấn đề gì xảy ra.

    Trong hơn 60 năm theo nghiệp thi ca, ba tôi bị mất  rất nhiều những đứa con tinh thần. Một trong những cái mất đó là sự nhập nhằn tên tác giả của “Bóng giai nhân”. Tôi xin bày tỏ mối quan tâm về tác quyền của nó. Có thể nói, tôi cố gắng để để bản chất sự thật được giải tỏa, đem lại công bằng cho cha mình.  Trước đây, ba tôi không có ý tranh chấp, ông luôn tôn trọng những gì lịch sử ghi lại. Nhưng không thể được. Nhà thơ Hoàng Cầm đã cảnh báo cho ba tôi “Ngay bây giờ, anh Yến Lan nên tìm cách cho đôc giả biết anh là tác giả vở kịch thơ, kẻo về sau rầy rà, khó xử. Giờ đây còn chúng ta mà đã có sự nhập nhằng, sau này lớp người của chúng ta không còn thì càng khó xử hơn !

Thấy ba tôi cứ lần khân, nhà thơ Hoàng Cầm đã viết   “Ai là tác giả chính của vở kịch thơ Bóng giai nhân” để bạn đọc hiểu cặn kẻ vấn đề một cách đúng đắn. Với bài viết này cũng chẳng phân giải được vấn đề. Nơi để trút bầu tâm sự của ba tôi là chú Đinh Tấn Dung-nhà nghiên cứu văn học hiện tại.

(Chúng tôi xin chuyển đến quý bạn bức thư riêng của Nhà Thơ Yến Lan viết ngày 13/3/1988 gửi cho Anh Đinh Tấn Dung; sau bài viết của Nhà Thơ Hoàng Cầm (bản thảo viết tay chưa được công bố); để mong rằng giới hữu trách quan tâm, có “Ý kiến kết luận sau cùng” về sự “nhầm lẫn” khó nói ra này. Sự thiên vị, mờ ám, và không công bằng – trước sau gì cũng phải nhường chỗ cho “Sự Thật”. MVL)

 

  Bình Định, ngày 13- 3 -1988

Kính gửi : Anh Đinh Tấn Dung (Khổng Đức)

Bức thư bảo đảm của anh đến hôm 1/3/1988. Tôi đọc dẫn đến cuối ngày 2/3. Bài viết về “Thơ Yến Lan” của anh tự nhiên đặt nhiệm vụ tôi phải đọc kỹ và nghiêm túc cho xứng với tâm sức và thịnh tình anh đối với tôi. Có những lúc cần giở tập thơ ra đối chiếu, tình cờ thấy ở dưới nhiều bài có ghi “Nhân kỷ niệm sinh nhật”. Thì nhớ ra hôm ấy là ngày sinh nhật của tôi. Nói và viết thế, chứ từ trước đến nay tôi chưa thiết bày một ngày lễ nào sinh nhật của tôi cả. Cả hôm tôi đúng 70 tuổi, Hội cũng có dự định, nhưng cũng không làm được. Sau đó gửi quà. Nhớ ra là đang ngày sinh nhật – thực ra thì 2 – 3 là ngày của âm lịch năm Đinh Tỵ. Nhưng hồi ấy ông thân sinh tôi khai ở trường lúc xin tôi “nhập môn”, nhà trường ghi vào hồ sơ tính theo dương lịch, nên vẫn giữ như thế. Tra cứu kỹ, chắc ngày ấy nhằm đâu chừng khoảng 20.4 hay 22 gì dương lịch ấy. Thôi, chẳng có gì quan trọng. Tôi nói thế là để nói lên một sự trùng hợp lý thú: Gặp ngày sinh nhật, được đọc chương bình phẩm của cả một quá trình trở lui về trước cuộc đời làm thơ, do một người bạn đã hầu như quên lãng trong số bao nhiêu tri ngộ.

Dường như gặp nhau hôm ấy, tôi đã nói đến cái chuyện này với anh. Mà nào chúng ta có học thói vô tình!

 Gặp lại anh rồi, từ lúc ấy tôi cứ nhớ mãi, những kỷ niệm cũ được nâng tầm theo kỷ niệm mới, rõ nét dần lên . Thế rồi giữa cái ngày 2/3 này, tôi làm một số tuyệt cú. Xin chép anh đọc cho vui; mặc dù còn cần nhiều sửa chữa :

Bài chị

Tháng giêng âm lịch, tháng tư dương

Xáo trộn tâm tư biếng dõi chừng

Hỏi vợ mới hay sinh nhật đến

Lệ từ năm trước lại rưng rưng.

Bài em

Âm lịch còn giêng – dương, tháng ba

Bộn bề sách vở chửa phân ra

Lật nhằm thơ cũ mừng sinh nhật

Văng vẳng dường ai nhắc ở xa.

 

 Bây giờ xin tiếp tục câu chuyện vừa đứt quãng ở trên.  Xem xong “Đọc thơ Yến Lan” của anh, cảm xúc đầu tiên của tôi là : đó là một bài tiểu luận công phu vươn đến chỗ thấu đáo những gì còn tiềm tàng trong thơ của YL mà bao lâu nay những ai nói đến đều chưa đạt. Như đoạn nhắc đến Bến My Lăng, nhưng cái chính là dựa vào “tất định thuyết”.

 Ở đoạn: thơ tồn tại hay không… ngược lên trên, theo tôi nghĩ là cũng không cần thiết, vì muốn cho một tiểu luận nhằm hoàn toàn đề cập đến cái chân nghệ thuật của một hồn thơ – ở đây khiến người ta nghĩ đến một đời thơ – thì việc phát hiện và phân tích thơ cần gì đá động đến cái việc “tổ chức” thuộc về công tác quản lý của các giới chạy vòng ngoài của nghệ thuật. Chính trong công việc điều hành của nó nhiều khi lại làm vật cản cho tài năng – Cả đoạn kết thúc cũng thế. Khách quan đọc thấy nặng nề.

 Nói chung lại, những phát hiện của anh ở tập thơ, tôi đều tâm đắc. Chỉ còn một số chi tiết, tiếp tục đọc thêm sẽ bàn sau. Về khía cạnh ứng dụng thật có thừa sự hàm súc, nhưng văn ngôn, có cũ đi chăng?

À, kịch thơ “Gái Trữ La” tôi viết năm 1943 (sau “Bóng Giai Nhân” (quãng giữa 1941 – 1942) – Gái Trữ La diễn ở Thanh Hóa lần đầu – Và “Bóng Giai Nhân” ở Huế.

 Nhân nhắc đến “Bóng Giai Nhân” tự nhiên đối với anh, tôi không thể không nói. Hôm qua tôi đã viết cho Chế Lan Viên cả một bức thư dài về câu chuyện có liên quan. Nó là như thế này:

   Tình cờ tôi đọc trên số báo Nhân Dân ra ngày Chủ nhật 28/2/1988 – ở hàng cột cuối trang 4 có ghi một tin ngắn dưới cái titre: xuất bản tác phẩm của Nguyễn Bính, có ghi , đại khái như sau : Để kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Nguyễn Bính, Sở Văn hóa và Hội Văn nghệ Hà Nam Ninh đã xuất bản… sẽ tiếp tục in những vở kịch thơ của Nguyễn Bính

  Điều này làm tôi tự nhiên bỗng nghĩ đến những cái không may thường xảy đến trong đời làm thơ của bản thân, khi nhớ đến đoạn tiểu sử về Nguyễn Bính và chỗ giới thiệu tác giả chính in lên trên lời tựa của Tô Hoài mở đầu “Tuyển tập thơ Nguyễn Bính” (do Nhà xuất bản Văn hóa và Nhà Xuất bản Long An tái bản năm 1986).

– Ở đoạn tiểu sử ghi: Vở kịch “Bóng Giai Nhân” Nguyễn Bính soạn theo phác thảo ban đầu của Yến Lan (1942)… Ở phần tác phẩm chính ghi chỉ một tên Nguyễn Bính.

  Trong việc sáng tác một tác phẩm, cái phác thảo ban đầu quyết định được gì trong việc hoàn thành tác phẩm ấy? Mà sao lại dám khẳng định ở ngay “tuyển tập”–một công trình dù thế nào đi nữa–vẫn cứ được mặc nhiên dành được ưu thế thuyết phục, thiếu gì kẻ lười nhác trong việc sưu tầm và giới thiệu tiếp sau, sẽ vin vào đó làm căn cứ tối hậu tổng kết. Tôi chưa rõ ngoài “Bóng Giai Nhân”, Nguyễn Bính có viết “được” và “nêu” một vở kịch thơ nào khác nữa không ? Vậy thì nay mai các nhà xuất bản trên kia in nó ra–tôi nghĩ còn có mục đích khác quan trọng nữa là lợi nhuận – vì sách sẽ chạy – thì các quyền lợi của tôi bị tước bỏ. Ngay cả quyền lợi thiêng liêng là cái danh nghĩa chính đáng làm tác giả. Từ trước đến nay “Bóng Giai Nhân” đã phải mang tên hai tác giả (là do lúc viết – ra ở Huế, tôi và Nguyễn Bính ở chung một nhà, cả Vũ Trọng Can) – để cho đủ tên 2 nhà thơ để cho hấp dẫn – Giá lúc ấy Vũ Trọng Can lại là nhà thơ nữa thì có khi có cả tên vào đó. Nhiều tài liệu đã nêu, như Từ điển Văn học  tập II của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Lịch sử kịch nói Việt Nam (trước cách mạng) Nhà xuất bản Văn học do Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý (1978) – và nhiều tác phẩm, tiểu luận khác. Ngay hiện nay ở nhà, tôi vẫn còn giữ một tập đánh máy từ ngày viết xong để trình kiểm duyệt và rã cả vai–có đề tên cả 2 ngườ  tập ấy tôi gửi một bạn gái rất thân ở Hà Tiên nhân khi sắp diễn, và nhắn chị ấy chuyển cho anh Đông Hồ và chị Mộng Tuyết đọc. Sau này định diễn ở Thanh Hóa, tôi gửi thư vào mượn lại. Về Bình Định mang theo rồi gửi anh Quách Tấn giữ cho đến khi giải phóng trở về.

 Tôi đang có một dự định nhằm làm cho sáng tỏ – Báo cho các nhà xuất bản trên cần lưu ý vấn đề này.

 -Viết nhờ Báo Văn nghệ đăng mấy dòng cải chính, và báo cho Hội Nhà văn–Nhưng chỉ sợ họ cho là “đã có lửa đâu mà lo cháy” –Yến Lan chỉ xông khói lên thôi. Có thể lắm chứ.

 

-Viết một hồi ký về Huế (trong ấy xoay quanh những sự việc và xúc cảm về “Bóng Giai Nhân”,nhân đó mà nói rõ sự thật. Năm ngoái, Biên tập Sông Hương có mời tôi tham gia, giờ mà có bài thì họ đăng thôi. Và tôi đã viết một hồi ký gần 6.000 chữ. Mấy hôm nay đánh vật với nó và đọc lại thì cần điều chỉnh lại cho tế nhị, dịu dàng hơn. Thế là hiện giờ thì đang treo mà tôi đã mệt.

 

Tôi nghĩ, ngoài cái hồi ký ấy, giá có một nhà nghiên cứu nào viết theo chủ đề: đại khái như: Nhân cái tiểu sử ở đầu một tuyển tập, nghĩ đến trách nhiệm và tính chính xác, chính chân thật của việc nghiên cứu và giới thiệu.

Anh nghĩ “Bóng Giai Nhân” có thể là một vụ án Văn học không? Theo tôi thì có, nhưng già rồi, lực tận thế cô cũng đến bỏ cuộc thôi.

Thư viết lung tung, bút xấu mực nhạt, xin anh thông cảm. Chúc gia quyến anh vạn sự tốt lành.

Nay, ký tên

Đấy, đâu phải ba tôi không muốn mọi người hiểu được sự thật. Nhưng vấn đề này sao có vẻ khó khăn quá. Nghe đâu, Lâm Huy Nhuận, em trai tôi cũng đã có đặt vấn đề này với Hội Nhà Văn thì được trả lời “Thôi lịch sử văn học thế nào cứ để như thế”

Là con của tác giả, con có quyền tự hào những gì ông cha để lại. Có điều phải biết tôn trọng sự thật;  Má tôi cũng bực mình về chuyện này và bà mong ai đó nên hiểu vấn đề hơn.

Phải chăng, do bức xúc vấn đề này, bà Mộng Tuyết, khi gặp lại ba tôi, nghe dư luận tranh cải tác giả kịch thơ “Bóng Giai Nhân”. Bất luận là cả Nguyễn Bính và Yến Lan đều là chỗ thân tình, bà vẫn chân thành khuyên “Anh nên viết, nếu không nhiều thì cũng vài dòng cho mọi người biết rõ sự thật. Sự thật sẽ làm mất lòng người, nhưng mất lòng trước sẽ được lòng sau ”.

Ba tôi đã viết khoảng 6.000 từ với  tên “Chiều chiều mây kéo về kinh” kể tỉ mỉ quá trình sáng tác “Bóng giai nhân” của ông…

 

  Chiều chiều mây kéo về kinh

 

  Sau một chuyến đi dài vào mảnh đất tận miền Tây Tổ quốc, tôi trở về quê, lòng chưa ráo nỗi nhớ đường, nhớ sá, thì trời đã chớm sang thu. Khắp khu đất nội thành Bình Định mênh mông, mùa gòn đang tách vỏ. Những tiếng ve sầu còn sót lại, vẳng lên khí đìu hiu. Lòng tôi cũng lơ lửng như những múi bông gòn trên chớp nóc nhà dân xiu vẹo, trên những mái cong dinh thự rêu phong. Thư viết cho bè bạn, lúc nào cũng nói đến nỗi ray rứt muốn được tiếp tục đi xa.

Một buổi sáng tôi nhận được bức thư của người bạn gái, quen nhau hôm ở Hà Tiên, do chị Mộng Tuyết giới thiệu. Vì là bạn thân, chị biết tôi đang sống khó khăn, hàng ngày đối phó với một bà dì ghẻ khó tính, những sự vụn vặt ngày thường choán hết hứng khởi sáng tạo. Chị tán thành và khuyên tôi nên thay đổi không khí. Bức thư kèm theo giấy chuyển tiền đủ chi dùng cho một cuộc đi dài và nếu lâm vào cảnh lữ thứ, có thể sống trong vài tháng. Thế là tôi chuẩn bị một cuộc ra đi, cũng chưa rõ là đi đâu. Tiếp đến hôm sau thì tôi nhận được một bức của Vũ Trọng Can.

Lâu nay Can vẫn thường viết cho tôi, nhất là những ngày Can ở trong tòa soạn “Tiểu thuyết thứ năm”, từ Hà Nội. Bức thư này lại từ Huế, đại khái như sau: Báo chết rồi, bọn Can đang chuyển sang hoạt động sân khấu. Đang thành lập một Ban kịch với chương trình sẽ đi biểu diễn từ Bắc vào Nam. Hiện “Cập bến Bông Hương”. Nếu Yến Lan thích cuộc sống lưu động để tiêu sầu này, thì ra gia nhập với bọn mình…”

Đọc thư, tôi ngồi tưởng tượng… tưởng tượng… bao nhiêu kỳ thú, sôi động, hào nhoáng và mê ly… Cả một cuộc sống lan tỏa hoa đăng… cả một kho dự trữ và luyến ái và thi tứ. Và tôi quyết định nhập cuộc. Nhưng cũng phải đề phòng, nếu đó chỉ là câu chuyện bốc đồng? Nhưng lòng muốn ra đi luôn luôn thôi thúc, tự nhiên tôi nghĩ đến cái phương châm “đến đâu hay đó” khi nhỡ ra là những chuyến tàu suốt vào Nam ra Bắc hàng ngày đều tránh nhau ở ga Bình Định. Và tôi nghĩ: hãy lên ga cái đã – hễ tàu ra bán vé trước thì ta ra, và ngược lại…

Hôm ấy tàu ra đi trước, vừa khi lên tàu, tôi nhờ một người bạn đưa chân, đánh điện cho Can.

Tôi đến Huế vào khoảng hơn 8 giờ đêm. Cả “Ban kịch” đều ra đón tôi, gồm có Vũ Trọng Can, Nguyễn Bính và một chàng thanh niên. Sáng hôm sau tôi mới biết chàng trai này thuộc về loại đi theo điểu đóm. Ngoài ra, không còn gì nữa.

Lần đầu tiên mới gặp Nguyễn Bính – trước thì cũng chưa có thư từ, quan hệ gì. Chúng tôi nắm tay, bá cổ nhau, chào mừng rối rít. Và Huế… Huế, vừa mới chạm lên vài sải bước chân, sao đã nghe thấy dậy trong lòng nỗi êm dịu, ngọt ngào khó tả.

Bốn chiếc xe tay do Nguyễn Bính chỉ dẫn, đưa bốn người chúng tôi từ cửa ga đến tận Gia Hội, đỗ ở trước một hiệu ăn khá lớn. Cơm, rượu no nê, bốn chiếc xe lại đưa chúng tôi về nhà trọ ở bên kia cầu Tràng Tiền, cách Đập đá chẳng bao xa.

Ông chủ nhà trọ ra mở cửa, dáng điệu bực bội và khi nhìn thấy tôi, thốt những câu gì làu bàu, không rõ. Tôi tinh ý, biết ngay là có sự phiền hà.

Nhà trọ đây không phải là lữ quán chứa tạm khách lai vãng một vài hôm. Nó là một căn nhà thờ họ, người kế thừa nhận cho trọ lâu dài và nấu cơm tháng.

Phòng trọ chứa nửa của “Ban kịch”, nhưng khi có tôi thêm càng chật ních. Đêm ấy tôi nằm bên Vũ Trọng Can, thao thức mãi vì cứ nghĩ lan man.

Tôi đâm ra trách người rồi trách cảnh. Huế ơi, sao trước đây vài giờ, qua những bước đầu tiên tôi đặt xuống sân ga, Huế hồn nhiên, kiều lệ, dồn lên tâm hồn tôi bao nhiêu êm dịu, ngọt ngào, thế mà giờ đây, một không khí phiền hà, lãnh đạm đang chập chờn phủ tới.

Tôi đem nỗi dằn vặt ấy hỏi, Vũ Trọng Can thì thầm:

– Cũng là điều đáng quan tâm, nhưng không can gì cái việc thường tình ấy. Ngày mai chúng ta sẽ tìm cách giải quyết, chúng mình đang thiếu ông chủ nhà một tháng tiền cơm, giờ thấy có thêm cậu nữa. Ờ mà thôi, rồi sẽ có cách… khẩn trương đấy, chiều nay ông chủ trọ đã báo là ngày mai sẽ cắt và đề nghị bọn mình dọn đi.

Nhân đó, tôi hỏi: Thế thì Ban kịch của cậu đâu? Hoạt động ra sao rồi? Can cố dấu cái thở dài, nuốt nghẹn ở cổ:

– Ban bệ, kịch cợm gì đâu. Bọn mình chán Hà Nội, nên rủ nhau đi du ngoạn một chuyến với ý định sẽ thành lập một ban kịch để làm cứu cánh về mặt tài chánh. Nghĩ đến cậu đang nằm khoèo ở tỉnh lẻ, mình viết thư gọi cậu ra chơi cho đỡ buồn.

Nghe xong tôi cũng nghẹn ngào ở cổ. Biết tôi không thích liều lĩnh – Can trấn an bằng cả một thôi dài tâm sự: Can đã nghĩ ra nhiều biện pháp xoay sở cho ra tiền. Can đã có ý định diễn kịch đảm nhiệm phần dàn dựng, quảng cáo, bán vé và thu tiền rồi chi cho nhau chỉ tiêu phần trăm quy định. Can cho biết cụ thể, việc Can đã tìm gặp và trao đổi với Hà Xuân Tế thư ký riêng của Nam Phương Hoàng hậu (thay chân cho Nguyễn Tiến Lãng đã đi nhận chức phủ thừa). Hà Xuân Tế lại là chủ tịch của Hội A.A.A (gọi là hội 3 chữ A) tên gọi tắt của một hội hoạt động thể thao thể dục. Thực ra nó là của ông Hoàng bà Chúa chọn riêng một môn quần vợt, cùng giao hữu với hạng công chức cao cấp. Can còn phải làm sao cho ra kịch bản và diễn viên là phần được phân nhiệm. Cuối cùng Can hỏi:

– Cậu còn bao nhiêu?

– Vừa tiêu phí nội ngày hôm nay, chỉ còn đủ trả một tháng cơm bình dân.

– Thế thì tốt. Ngày mai ta sẽ lấy tiền ấy tạm ứng cho ông chủ. Rồi sẽ vui vẻ cả thôi.

Sáng hôm sau, với tâm trạng một người “lỡ bước” tôi bỏ cuộc đi chơi núi Ngự, đã hẹn với Nguyễn Bính lúc ở tiệm ăn Gia Hội đề nghị khẩn trương họp nhau lại bàn qua chuyện diễn kịch. Chúng tôi ngồi lại trên mấy cố vấn trần, nghiêm chỉnh thảo luận. Qua sự trình bày của Vũ Trọng Can về mấy phác thảo các vở kịch nói Can định viết từ hôm rời Hà Nội đi vào, thì còn xa với yêu cầu đang đặt ra. Bàn sâu, tính rộng mãi, chúng tôi đi đến nhất trí: diễn thuật mới mà Huế là nôi thể nghiệm đầu tiên. Thực ra đó chỉ là những lời khoác lác để cười với nhau, chứ mục tiêu chính là ở chỗ cố làm sao cho hấp dẫn để có được khoảng thu kha khá, trang trải nợ nần và còn ung dung thưởng ngoạn. Để cho thật hấp dẫn, chúng tôi nghĩ đến những câu chuyện ly kỳ ở các huyền thoại, nhất là ở “Đông chu liệt quốc”, dựa vào dã sử hoặc hư cấu ra cốt truyện theo không khí dã sử. Nhân vật sẽ là những con người cá biệt cực đoan, tình huống phải thật éo le, tâm tư luôn dằn vặt. Và cũng để cho vở kịch đưa ra một giải đề gì về mặt nội dung, chúng tôi nghĩ ngay đến cái tư tưởng hủ bại đang còn ngự trị trong tầng lớp thượng lưu, luôn luôn tôn sùng quyền thế, chạy theo danh vọng mưu cầu một cuộc sống “Võng long xênh xang” đang còn nhan nhản ở Huế. Một điển hình người sẽ hiện lên sân khấu, xách gươm báu đi săn đuổi giật lấy vinh quang, đã thủ tiêu ân tình, phản bác đạo lý và tiêu ma cái đẹp. Đó là phác thảo đầu tiên do tập thể ba người góp nhau trong một buổi sớm. Cơm xong, tranh thủ bỏ giấc trưa, bàn tiếp luôn các chi tiết: Bí quyết làm cho gươm thêm thiêng (cái điều kiện duy nhất đưa đến vinh quang của một tráng sĩ cuồng ngông) là phải tôi gươm lần nữa vào máu ba người tình cờ gặp trên đường đi–theo lời thần mộng. Việc phác thảo này như một cuộc múa gậy trong phòng–Nhân vật nhất thiết phải lệ thuộc số người có sẵn, mà ngoài chúng tôi thì chắc gì có thể nhờ vào được ai? Loại trừ em thanh niên sẽ chạy vòng ngoài, cả ba thằng nhà văn, nhà thơ chúng tôi phải lãnh vai mà đóng. Thế thì vở kịch chỉ có ba nhân vật sao? Và toàn là nam giới cả thì còn đâu cái nhưng cái nhị của sự hấp dẫn? Biểu tượng của cái đẹp bị tiêu ma trong kịch sẽ là nhan sắc của một người con gái thùy mị, đoan trang.

Nguyễn Bính tả và kể ra những em Đào, em Lý, cô Mừng, cô Thương với khá nhiều thiếu nữ, thiếu phụ mà anh từng gặp trên các nẽo đường phố của Huế…

Vũ Trọng Can cũng tả và kể ra những em Đào, em Lý, cô Mừng, cô Thương của mình, nhưng phải kết luận: có trời mà vận động cho các gia đình ở đây người ta đồng ý cho con, em mình tham gia lên sân khấu. Nhất là con gái. Thế là lâm vào thế kẹt.

Trước đó không lâu, Nguyễn Bính có sáng tác một bài thơ, nhan đề “Xóm Ngự viên”. Đó là bài thơ hay, được tán thưởng. Bính đã chép lại trên một tờ giấy nguyên khổ, giấy in báo, nét chữ to, bay bướm, treo trên tường trước mặt. Tình cờ tôi ngước lên, liền hỏi với một ý nghĩ bâng quơ:

– Xóm Ngự viên ở phía nào nhỉ. Hôm nào vào đấy xem cho biết.

Vũ Trọng Can bổng nhảy người lên

-Ngự viên, Ngự viên–đúng rồi. Ừ nhỉ, sao mình quên bẵng đi.

Rồi đột ngột Can đứng lên:

– Mình với Nguyễn Bính sẽ vào đó, có một cô gái lai Pháp, mồ côi từ nhỏ. Hiện bán chè rao nuôi mẹ. Nhất định sẽ thuyết phục được. Cô ta sẽ là nhân vật biểu tượng xứng đáng cho cái đẹp trong vở kịch.

Rồi hai người lội bộ ra đi. Mấy giờ sau tin về, phấn khổi, cô gái rất đẹp, không đề ra điều kiện khó khăn nào, duy có một điểm làm cho tôi ngẩn ngơ giây lát, là cô ta mù chữ. Sau việc báo tin đến việc bàn biện pháp khắc phục. Đành sử dụng sắc đẹp của cô gái thôi, và sắc đẹp cần gì phải thốt lên lời mới gây được đắm say, mới quyến rũ. Một vẻ buồn của Tây Thi xưa cũng đủ khiến nghiêng thành, nghiêng nước. Chính vì vậy mà vai người đẹp trong vở kịch không thốt một lời nào. Trong các luận bàn, tội là người hăng say nhất, vì mình thế thôi thúc: đã đến Huế rồi, phải tạo điều kiện để ở cùng Huế cho đã cơn khát Huế, dù chỉ là bằng những ngụm nước vốc lên từ mặt sông Hương. Không có sự phân công, không có cuộc tranh phần, mặc nhiên tôi thành người chấp bút.

Chẳng cần phải tra cứu, đối chiếu gì. Nó như được sắp xếp lớp lang sẵn ở một bản nháp, giờ chỉ có việc chép lại, nên vở kịch hoàn thành vào cuối buổi sáng hôm sau. Buổi chiều đưa bản thảo ra duyệt, bổ sung và có gì cần thì tập thể chỉnh lý. Vừa mới bắt đầu đã thấy Chu Ngọc bước vào. Ngọc là người am hiểu nhiều về sân khấu. Anh vốn là đạo diễn và từng làm trưởng Ban những ban kịch nói thỉnh thoảng xuất hiện vào mùa kịch ở Hà Nội, vở kịch được thông qua nhanh. Chỉ có đôi lúc nảy ra vài cuộc cãi cọ giữa tôi và Nguyễn Bính về phong cách và ngôn ngữ. Bính chê văn ngôn quá Tây bắt chữa lại mấy chỗ. Tôi tự ái, bỏ đi cùng Chu Ngọc ra hóng mát cầu Tràng Tiền. Chiều về, không có bàn cãi gì về vở kịch nữa. Vũ Trọng Can bàn với tôi là rủ đi ngay đến Hà Xuân Tế và được hẹn sáng mai sẽ trả lời, vì còn cần đọc.

– Vì có Hoàng Đế dự xem. Nếu vở kịch thêm một vài đoạn có tính cách tôn vinh thì nhất định sẽ nhiều đặc ân cho các hoạt động sau này. Các anh mang và bổ sung cho khéo léo một chút. Tôi biết đây là một xảo thuật trong nghề làm quan, vị thư ký riêng của Hoàng hậu này ứng dụng nhạy bén cho tiền đồ. Thì cứ để anh ta như nguyện, có gì xúc phạm đến nghệ thuật, đến mình đâu mà chối từ. Tôi liền vui vẻ nhận lời, nhưng không đợi đến lúc về nhà, tới ngay bàn làm việc, loáy hoáy một thôi, thêm được chục câu thơ mang tính cách tôn xưng chung chung, hướng về một ông minh quân đó.

Hai hôm sau thì giữa lòng Huế xôn xao lên vì những áp phích, những tờ quảng cáo cho vở kịch, dán ở các công trình công cộng và các mặt tường nhà thoáng rộng. Nhất là ở các ngã tư đại lộ, những biểu ngữ bằng nguyên súc vải trắng, được dán lên những hàng chữ đỏ viết bằng tiếng Pháp:

                Bóng giai nhân

Bi tráng kịch bằng thơ của Yến Lan và Nguyễn Bính

Sẽ trình diễn ở Accueil vào các đêm…

Dưới quyền chủ tọa của Hoàng đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu.

Mặc dù đã trải qua những cơn hồi hộp vì hạnh ngộ ban đầu khi được nêu dưới những bài thơ đăng trên báo chí, tôi vẫn cảm thấy phấn khổi đến dạt dào. Riêng Nguyễn Bính thì anh lại hồ hởi với những ý nghĩ cuồng nhiệt trong vẻ cợt đùa nói tếu:

– Vua ông đi xem, vua bà đi xem, thế thì tam cung lục viện cũng đi xem. Rồi sáu bộ cũng tháp tùng. Chà, chà, cả Huế đều đi xem tất. Thế thì tiền vé để đâu cho hết. Chuyến này phải thả lên sông Hương sáu con đò két lại làm một khách sạn nổi… Ba con làm phòng ngủ, ba con chở theo bàn đèn, bia, rượu, nem, chả, chè, cháo… tha hồ mà lạc hưởng

Đấy là chuyện đùa vui, không có sự bàn cãi.

Trong mấy ngày tập luyện, tôi vẫn đến nhà Lành đạo diễn cho đến thuần thục, dù sao tôi vẫn tiếc, giá như Lành biết chữ, thì nhất định tôi sẽ cố gắng viết lại màn kịch thành chương tuyệt tác, điều ấy đòi hỏi ở tôi một cố gắng vượt bậc, nhưng xứng đáng với Huế, với một nhan sắc yêu kiều.

Cuộc biểu diễn đêm đầu–và cũng là đêm kết thúc không thu được kết quả như lòng tôi mong muốn. Diễn xuất có vẻ vội, không đạt tới mức chứa và tầm nâng của lời thơ. Về mặt tổ chức, Hội A.A.A bỏ rơi diễn viên trong cái thế chơi vơi của một khoang đồ thủng đáy. Không có một bàn tay tháo vát xếp đặt, bỏ sân khấu trống trơ giữa bốn cánh gà và lá màn hậu, mặc dù chúng tôi yêu cầu trang trí hết sức giản đơn theo lối tượng trưng. Cả một chiếc hòm to đựng các đồ lễ, vũ khí, mũ giày mượn từ trong nội cung ra, cũng không đáp ứng được yêu cầu. May mà bọn diễn viên chúng tôi không hiện ra sân khấu với những trang phục quá cỡ, tả tơi, meo mốc, nhờ biết đề phòng đã chạy trước từ sáng hôm ấy, đến nhà Nguyễn Tiến Lãng, mượn các Kimônô anh mang từ Nhật Bản về, nhân lúc tháp tùng theo phái đoàn ngoại giao của tên toàn quyền khâm sai Yue Chatel. Nhất là khoảng tiền thu: một hội trường có sức chứa gần ba nghìn người đã chật ních – Giá vé thấp nhất, năm hào, mặc dù đêm ấy Bảo Đại không đến xem vì có sự kiện đột xuất, chuẩn bị Bắc tuần, cả Nam Phương, cả viên Khâm sứ Pháp đều theo, nhưng cũng gởi đến gọi là “Ban tứ” cho đêm diễn, mỗi vị 15 đồng, cộng với số tiền quảng cáo cho cuộc xổ số Đông pháp cũng chừng 15 đồng, tiền vé 20 đồng.

Sau này người ta đổ cho việc lạm phát giấy mời. Chúng tôi vở mộng–nhất là Nguyễn Bính với viễn cảnh sáu con đò… Nhưng có một điều an ủi mà cho đến bây giờ, mỗi lần nhắc đế, tôi vẫn không quên được từng chi tiết, dù là thoáng qua: Giữa lúc màn kịch cuối cùng hạ nhanh, khán giả sắp lưng vào phía sân khấu chen nhau cuồn cuộn như một dòng nước thoát ra phía cửa, thì các anh Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh và vài bạn nữa vượt lên sân khấu, đến cầm tay siết chặt từng người. Anh Lư nói bằng tiến Pháp “Tuyệt, tuyệt, tuyệt vời” không biết anh khen ngợi một pha nào trong lúc diễn xuất, hay khen vở kịch, về tình huống đầy kich tính, về bút pháp bay bướm văn chương, mà lúc ấy đang là những năm vừa mới thoát ra sự phôi thai của nền thơ mới Việt Nam.

Khi rạp đã trở lại vắng vẻ “Bóng giai nhân” đã biến đi lúc nào không hay, Nguyễn Bính cũng đi rồi. Tôi và Vũ Trọng Can thu nhặt hết các dụng cụ, đồ trang phục cho vào chiếc hòm gỗ to, và..

Mỗi người nâng lên một quai hòm, hai chúng tôi ì ạch kéo lê bốn cẳng chân rời rã, mỏi mệt, dầm dưới cơn mưa đêm cuối hạ của Huế, lần bước cho đến khuya mới đến cửa nhà trọ. Ông chủ ra mở cửa, thò tay nâng cho chiếc quan tôi đang xách, như đã cảm thông tất cả nỗi niềm đang đè nặng lòng tôi.

Sáng hôm sau, tôi ra An Cựu tìm gặp lại người bạn học cũ ở Bình Định, tình cờ gặp nhau giữa đường hôm nọ, tôi hỏi vay hai đồng bạc – số tiền vừa đủ cho xuất vé và đĩa cơm trong chuyến tàu suốt vào Nam, sẽ trả tôi về với cái không khí cô liêu cố hữu từ xưa, ngày ngày nghe vẳng lên một câu hát ru con, không biết do tình huống nào mà có, giờ lại nhằm đúng vào tâm trạng của tôi:

Chiều chiều mây kéo về kinh

Ếch kêu giếng loạn thảm tình đôi ta.


Ca nguyện

    Nguyễn Như Tuấn

 

                 Chùm thơ viết tặng riêng người

                   Người thương được tặng – rạng ngời mắt mô…i

  Đọc tiếp »