Feeds:
Bài viết
Bình luận

Những đêm trắng

Trần Hoa Khá

Ảo ảnh trắng – ảnh: Hoa Khá

Đêm trắng trụi trần

Câu thơ hóa thân thức dậy

Chập chùng buồn vui không thể bất ngờ.

 

Đêm trắng mênh mông

Chảy dọc triền sông thao thức

Tiếng vạc nào loang lạnh sóng trăng sương.

 

Đêm trắng lặng thinh

Ai chong cuộc tình tự ngẫm

Vẽ nét phù hoa trên số phận đời mình.

 

Đêm trắng bờ vai

Tiếng rao khản dài góc phố

Ai bán giọt mồ hôi mua cuộc mưu sinh.

 

Những đêm trắng

Những đêm trắng nghìn trùng ký ức

Giây phút thiêng về nhóm lửa hồi sinh.

 T.H.K

Cứ đêm đêm hòn đá lại lăn lông lốc từ cửa kinh thành đến đập vào cửa nhà từng viên quan có chức sắc, từ hòn đá phát ra lời đòi mạng thống thiết
Để trở thành một địa điểm được nhiều người dân coi là linh thiêng, “hòn đá oán hờn” trong ngôi chùa Thập Tháp Di Đà (Thường gọi là chùa Thập Tháp) ở Bình Định có lẽ đã “góp công lớn” vì những truyền thuyết nửa thực nửa hư về nó được người trong vùng truyền tụng đời này qua đời khác. 200 năm đã trôi qua, hòn đá trắng lạ kỳ vẫn trơ trơ giữa sân chùa, vừa như một điểm nhấn cho cảnh quan, vừa như một chứng tích lịch sử.Chứng tích lịch sử

Ngôi chùa nằm ở phía Bắc thành Đồ Bàn, nay thuộc địa phận thôn Vạn Thuận (xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, cách TP.Quy Nhơn gần 30km và cách quốc lộ 1A khoảng 100m). Du khách đến vãn cảnh chùa nếu hỏi chuyện sẽ được các nhà sư ở chùa Thập Tháp kể cho nghe những câu chuyện ly kỳ, huyền bí liên quan đến những dấu tích lịch sử còn sót lại trong ngôi chùa cổ tự này.

Chuyện kể rằng, hơn 200 năm trước đây, khi chúa Nguyễn Ánh chiếm được thành Hoàng Đế, liền sau đó ông ta đã mở cuộc trả thù tàn khốc, nơi đổ máu đầu rơi nhiều nhất chính là chốn kinh đô xưa. Lúc ấy, Nguyễn Ánh chiêu dụ những người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn ra đầu thú với lời hứa hẹn sẽ không trả thù; ai bị trọng tội thì hình phạt cao nhất là đày vào miền Nam khai khẩn đất mới; ai có tài sẽ được trọng dụng.

Để tránh phải sống chui lủi “ngoài vòng pháp luật”, rất đông người có quan hệ dòng tộc với nhà Tây Sơn ra trình diện. Nhưng ngay sau đó, Nguyễn Ánh trở mặt nuốt lời, mang ra chém đầu bất kể già trẻ lớn bé “những kẻ thù xưa” rồi chôn tập thể.

Đao phủ của Nguyễn Ánh kỳ công đi khắp các vùng, rồi tìm được một hòn đá lớn màu trắng tinh khôi mang về dùng để kê đầu các nạn nhân. Tảng đá ấy được đặt ngay cổng thành Hoàng Đế, quân lính và đao phủ đưa nạn nhân lên đó mà chém. Hàng trăm kiếp người đã từ giã cõi đời trên hòn đá này, nỗi oán hờn của người dân với bạo chúa chất cao như núi.

Nỗi oan khất, đau đớn của hàng trăm người như lặn vào tảng đá kia khiến sau đó, khi đã xong nhiệm vụ hành hình, dù bao nhiêu quân lính cũng không thể nhích hòn đá ấy rời khỏi chỗ đã giết những người vô tội. Truyền thuyết kể lại rằng, hàng đêm người ta nghe trong tảng đá vẳng ra tiếng than khóc ai oán, người dân và cả quan quân nhà Nguyễn Ánh không ai dám đi ngang nơi cổng thành.

Hòn đá kỳ lạ chất chứa căm hờn của hàng trăm người dân đối với bạo chúa Nguyễn Ánh

Dân gian thêu dệt nên câu chuyện, cứ đêm đêm hòn đá lại lăn lông lốc từ cửa kinh thành đến đập vào cửa nhà từng viên quan có chức sắc, từ hòn đá phát ra lời đòi mạng thống thiết. Cả vùng bất ổn, không chỉ những quan lại trong triều mà người dân sống quanh thành (nay thuộc xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn) cũng sống không yên. Quan lại sợ hãi, lập đàn cầu siêu giải oan nhưng đâu lại vào đấy.

Một ngày nọ, vị cao tăng trụ trì chùa Thập Tháp đến thành xin được lập đàn cầu siêu để giải nỗi oan khuất tày trời, lấy lại sự yên bình cho người dân trong vùng. Mừng như bắt được vàng, quan quân trong triều đón tiếp vị sư rất long trọng. Sau 3 ngày đêm kinh kệ, vị sư xin được mang hòn đá kia về chùa Thập Tháp. Kỳ lạ thay, lúc này chỉ cần 4 người khiêng nhưng hòn đá được chuyển đi nhẹ tênh, khác với việc trước đó cả trăm quân lính hè nhau di chuyển đi mà đá không nhúc nhích.

Hòn đá oán hờn

Các vị sư trong chùa kể lại, hòn đá được mang về đặt cạnh cây thị cổ thụ 300 năm tuổi nằm phía Nam tường thành của nhà chùa và được đặt tên là Hòn Đá Chém. Thế nhưng đã về đến cửa Phật mà nỗi oan khiên trong Hòn Đá Chém vẫn còn vất vưởng.

Nhà sư Mật Hạnh, người đã nhiều thập kỷ gắn bó với ngôi chùa kể lại, ngày xưa khi ông mới đôi mươi, vào những đêm mùa đông, trong thời tiết âm u, có lúc ông loáng thoáng nhìn thấy một phụ nữ mặc áo cụt trắng, quần đen bước ra từ hòn đá kia rồi đi đến chỗ đặt tấm bia di tích của nhà chùa. Khi chó trong chùa sủa ran là bóng người phụ nữ kia biến mất.

Nhà sư Mật Hạnh cười: “Thực sự thì cũng không dám khẳng định đó là ma hay chỉ là ảo ảnh. Cũng có khi do nghe nhiều truyền thuyết về hòn đá quá nên tưởng tượng ra ma quái mà thôi”.

Thời gian sau, vị cao tăng trong chùa có tên Phước Huệ một lần nữa chuyển Hòn Đá Chém vào để ngay bậc tam cấp bước vào khu Phương Trượng của chùa. Đêm đầu tiên chuyển hòn đá vào chùa, nhà sư Phước Huệ đang ngon giấc thì thấy có một vị mặc trang phục võ tướng hiện hình nói rằng: “Ông ỷ là đệ tử nhà Phật nên phá nhà tôi hả?”.

Nhà sư Phước Huệ hét to một tiếng khiến tất cả sư đệ trong chùa đều nghe thấy lao đến, mới biết sư phụ mình nằm mơ. Cũng có thể đó chỉ là nội dung những truyền thuyết được nghe trong ngày, đêm đến ám ảnh cả vào trong giấc mơ.

Người trong chùa còn lưu truyền lại những câu chuyện ngày xưa, những đêm nhà chùa tổ chức cúng hành binh, hành khiến hàng năm vào lúc nửa đêm 30 tháng Chạp, rạng sáng ngày mùng 1 Tết Nguyên Đán. Bàn thờ cúng được đặt ngay chánh điện, nơi đặt Hòn Đá Chém bên dưới. Trong mỗi lần cúng, đến khi đổ 3 hồi trống chiến là tự nhiên có một dải lụa trắng, tỏa ra ánh hào quang sáng rực xuất hiện bay lượn ngang chánh điện một lần rồi biến mất.

200 năm đã trôi qua, Hòn Đá Chém vẫn còn yên vị ngay cửa khu Phương Trượng của chùa Thập Tháp, cao khoảng 40cm, dài 1,5m, rộng 1,3m, 4 góc được đẽo 4 nét hoa văn đơn giản nhưng trải qua bao nhiêu vết bụi của thời gian, những hòn đá vẫn giữ được màu trắng sáng tuyệt đẹp của loại đá trắng không tì vết. Nếu không được kể chuyện về nó, thoạt trông không ai có thể ngờ trong hòn đá hiền hậu kia đã chứa biết bao nỗi oan khuất của hàng trăm mạng người là nạn nhân của bạo chúa Nguyễn Ánh ngày xưa.

Hòn đá chứng nhân lịch sử, lại gắn liền với nhiều truyền thuyết như thế nhưng không được thờ cúng, nay giản dị làm một bậc tam cấp cho người ta bước chân qua. Những nhà sư trong triều cho biết, oan khuất rồi cũng đã đi qua.

Ngày xưa khi dời hòn đá từ cổng kinh thành về chùa, người ta cũng chỉ có mục đích mong mỏi lớn nhất là làm dịu đi những oán hờn của người oan trái chứ không có mục đích dời hòn đá về đây làm vật thờ cúng. Đá lại trở về với công dụng của đá, ngày ngày du khách bước chân qua để nhớ lại bài học ngày xưa bạo chúa Nguyễn Ánh vì nuốt lời tàn độc nên cuối cùng đã phải trả giá đắt khi vương triều lụn bại, phải nhận một cái chết tức tưởi và bị lịch sử muôn đời coi như đối tượng “rước voi về giày mả tổ”.

Hòn đá oán hờn ngày xưa nay thành hòn đá hiền hòa, thành hòn đá xinh đẹp, thành hòn đá nâng niu bước chân du khách.

Trong tất cả những ngôi chùa ở miền Trung được xây cất từ thời các chúa Nguyễn, thì chùa Thập Tháp là chùa cổ nhất thuộc phái Lâm Tế. Chùa Thập Tháp là một trong 5 ngôi chùa của tỉnh Bình Định được chép vào sách Đại Nam Nhất Thống Chí với lời đánh giá: “Chùa này cùng chùa Linh Phong đều nổi tiếng là danh thắng”.Chùa được xây dựng trên một gò tương đối rộng hình mai rùa có chu vi gần 1km gọi là Gò Thập Tháp. Tên gọi này bắt nguồn từ chỗ nơi đây xưa kia có 10 ngọn tháp do người Chàm xây để “yểm hậu” cho thành Vijaya. Vào năm Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa thứ 4 nhà Lê (1683), một ngôi chùa khang trang được hưng công xây dựng mà vật liệu chính là gạch đá lấy từ mười ngôi tháp Chàm đã bị đổ.

Cho đến ngày nay, trải qua nhiều lần trùng tu, tái tạo, cái cũ và cái mới đan xen nhưng chùa vẫn giữ được tổng thể hài hòa, tôn nghiêm cổ kính. Năm 1990, Chùa Thập Tháp được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch) công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia.

Theo Pháp luật & Thời đại
Nhiếp ảnh gia Thụy Điển Lennart Nilsson đã dành 12 năm để chụp những
 bức ảnh về việc phát triển thai nhi trong tử cung. Những bức ảnh đáng
kinh ngạc được chụp với máy ảnh thông thường với ống kính macro, nội
 soi và kính hiển vi điện tử . Nilsson đã sử dụng mức độ phóng đại hàng
trăm ngàn lần vàphải”thao tác” ngay trong bụng người mẹ. Bức ảnh đầu
tiên của bào thai
của con người đã được thực hiện vào năm 1965.

1Incredible Photos: A Child is Born

Tinh trùng xâm nhập vào vòi Fallop
Incredible Photos: A Child is Born
Trứng của người mẹ
Incredible Photos: A Child is BornChúng có hẹn với nhau chăng ?

Incredible Photos: A Child is Born

Vòi Fallop
Incredible Photos: A Child is Born
Hai tinh trùng đang tiếp cận với trứng

Incredible Photos: A Child is Born

Con tinh trùng thắng trận
Incredible Photos: A Child is Born
Tinh trùng
Incredible Photos: A Child is Born
5-6 ngày sau.
Sự kết hợp đã phát triển thành một túi phôi, có chứa nhiều tế bào hơn,
và đang bước vào tử cung
Incredible Photos: A Child is Born8 ngày tuổi.
Phôi bào đang bám vào thành tử cung 
Incredible Photos: A Child is Born
Bộ não đang phát triểnIncredible Photos: A Child is Born
24 ngày tuổi.
Lúc này bào thai chưa hình thành bộ xương.
Chỉ có trái tim đang thoi thóp lúc 18 ngày tuổiIncredible Photos: A Child is Born4 tuần tuổiIncredible Photos: A Child is Born
4.5 tuần tuổi
5 tuần tuổi: Đã dài cỡ 9 mm.
Đã phân biệt được các lỗ trên gương mặt dành cho đôi mắt , lỗ miệng và lỗ mũiIncredible Photos: A Child is Born
40 ngày tuổi.
Hình thành lá nhau.
Cơ quan này kết nối phôi vào thành tử cung cho phép hấp thu dinh dưỡng,
loại bỏ chất thải và trao đổi khí thông qua nguồn cung cấp máu của người mẹIncredible Photos: A Child is Born
8 tuần tuổi.
Phôi thai phát triển nhanh được bảo vệ trong túi nước ốiIncredible Photos: A Child is Born10 tuần tuổi.
Mí mắt khép hờ. Trong một vài ngày tới nó sẽ nhắm hoàn toàn .Incredible Photos: A Child is Born
16 tuần tuổi.
Thai nhi sử dụng bàn tay của mình để khám phá cơ thể của mình và môi trường xung quanhIncredible Photos: A Child is Born
Bộ xương bao gồm chủ yếu là các mãnh sụn mềm dẻo
Mạng lưới các mạch máu có thể nhìn thấy qua làn da mỏngIncredible Photos: A Child is Born
18 tuần tuổi: Dài khoảng 14 cm.
Thai nhi đã có thể cảm nhận được âm thanh từ thế giới bên ngoàiIncredible Photos: A Child is Born
19 tuần tuổiIncredible Photos: A Child is Born
20 tuần tuổi: Dài khoảng 20 cm.
Lớp lông tơ , bao phủ toàn bộ đầuIncredible Photos: A Child is Born
24 tuần tuổiIncredible Photos: A Child is Born26 tuần tuổiIncredible Photos: A Child is Born6 tháng.
Vẫn còn 8-10 tuần nữa, do đó bào thai đang được chuẩn bị sẵn sàng để rời khỏi tử cung.
Nó trở lộn đầu bởi vì sẽ dễ dàng sanh ra trong tư thế nàyIncredible Photos: A Child is Born
36 tuần tuổi.

Còn 4 tuần nữa, em bé sẽ thấy được thế giới bên ngoài

Nếu anh biết một điều

Phương Phương

Anh ơi! Nếu anh biết một điều

Có một người yêu em hơn anh nữa

Người ấy nhớ em như anh từng nhớ

Cũng lo đến thắt lòng khi em buồn đau

 

Em sợ chúng mình phải mất nhau

Bởi những phút giây không kìm lòng thổn thức

Cố nén con tim thôi rạo rực

Để đừng chìm vào ánh mắt dịu dàng kia…

 

Nếu anh biết rằng người ấy cũng đam mê

Dẫu biết yêu em là điều không thể

Vẫn  đớn đau ghen hờn lặng lẽ

Với khát khao muốn hái cả sao  trời

 

Em yếu mềm – em mãi là em thôi

Em vẫn về với anh – bếp lửa hồng ấm áp

Đừng để em cô đơn nguội tàn lạnh nhạt

Dửng dưng lạc mất đường về.

 

Đừng đẩy em về với bờ bến xa kia

Em sợ phía sau em sẽ là vực thẳm

Để em được nhớ anh như ngày đầu nồng ấm

Để mình mãi là cơn khát của nhau.

 

Itala Elena Pucillo Trương

Cesare Pavese- cuộc đời và tác phẩm

Sự chọn lựa  tiểu thuyết “Mùa hè tươi đẹp ” của tác giả Cesare Pavese để dịch sang tiếng Việt trước hết  do giá trị văn học[1]  của tác phẩm và sau đó là tầm quan trọng  của tác giả trong nền văn học Ý trong thế kỷ XX .

Được viết từ 1949, bối cảnh là lối sống của lớp trẻ tại miền Bắc Ý sau thế chiến II, nhưng tính đương thời (contemporaneita’) của tiểu thuyết vẫn còn đậm nét vì phản ảnh sâu sắc hoàn cảnh xã hội Việt Nam trong thời hội nhập : Cùng với tăng trưởng kinh tế là lối sống buông thả,  khởi đầu  cho sự đánh mất những giá trị đạo đức. Tính hiện thực và khả năng khai thác tâm lý nhân vật cũng được  tác giả  thể hiện qua cách viết và sử dụng ngôn ngữ khác lạ, đến nay vẫn còn giữ nguyên phong cách hiện đại.

*

Đến với các tác phẩm của Cesare Pavese chúng ta sẽ liên tục khám phá: Ngoài tiểu thuyết người đọc còn gặp nhiều bản dịch của các tác giả Anh, Mỹ và  trong cùng  thể loại  cũng luôn có  rất nhiều sự khác biệt. Sự  khác biệt này đã được tác giả tái tạo, bắt đầu từ  văn phong đa dạng, cách  xếp đặt các bối cảnh liên quan đến cách sử dụng ngôn ngữ phong phú… để người đọc khỏi nhàm chán  rồi dẫn họ nhận thức về những quan điểm khác bằng sự tế nhị và nhạy cảm của mình. Ngoài ra, có lẽ không phải là một sự tình cờ mà một trong những tác phẩm cuối cùng của ông lại là một tập thơ mang tựa đề “ Cái chết sẽ đến, nó có đôi mắt của em”, như một dự báo cho việc tự sát, một thông điệp mà cũng là lời từ biệt… đã làm tác giả nổi tiếng, và trở thành một trong những tác giả Ý được đọc nhiều nhất trong thế kỷ XX.

Trong những trang viết cũng như qua thư từ, rất nhiều lần Pavese nói về ước muốn được nổi tiếng, không chỉ riêng mình mà  còn cho  nơi ông ra đời, một ngôi làng chỉ có những túp nhà nho nhỏ và sình lầy.

Ông đã viết như thế này :

Quê  tôi  chỉ có những túp nhà nho nhỏ và bùn lầy, nhưng nó  nằm kề con đường liên tỉnh mà ngày nhỏ tôi hay chơi đùa. Xin nhắc lại, tôi là một kẻ có nhiều tham vọng, tôi muốn đi khắp  thế giới, đặt chân đến những miền đất thật xa  rồi quay lưng  và nói với người hiện diện:“ Các bạn chưa bao giờ nghe nói đến một ngôi làng chỉ có bốn mái nhà phải không? Đây, tôi đã  đến đây từ đó”.

Ngôi làng nhỏ đó có tên là Santo Stefano Belbo, thuộc vùng Langhe của tỉnh Cuneo, nơi Pavese đã chào đời vào ngày 9/9/1908. Nhưng ông đã sớm rời gia đình để sinh sống ở thành phố Torino, và trong lòng chưa bao giờ khuây khoả nỗi nhớ quê xưa.

Cha chết khi ông còn rất nhỏ và sự mất mát này đã ảnh hưởng rất nhiều đến tính cách của cậu bé, vốn nhút nhát nhưng cộc cằn và khép kín, tuy yêu sách vở và thiên nhiên nhưng luôn tìm cách cô lập mình với người khác. Sau khi chồng mất, với bản tính lạnh lùng và cẩn trọng, mẹ ông đã giáo dục con như một người cha khô khan và nghiêm khắc chứ không như một người mẹ ngọt ngào và  trìu mến.

Khi sống  và tiếp cận với  thực tại điên cuồng của một thành phố kỹ nghệ lớn và đầy sương mù như Torino, Pavese  càng biểu hiện tất cả những bất an sâu sắc về sự hiện sinh, những ám ảnh tâm lý và bắt đầu đi tìm kiếm sự chân thực.

Như tất cả những chàng trai trẻ, Pavese cũng mang trong lòng đầy mâu thuẫn và nhiều xung đột, với một sự nhạy cảm mà không giúp được gì nên ông hành động theo ý nghĩa tiêu cực và tự làm hao mòn những xác tín lên số phận của mình. Trong các bức thư của ông thường nhắc đến một thói tật vô lý, như một mời gọi cho sự tự sát, báo trước cho số phận bi thảm của mình. Có lẽ  chính vì nỗi bất an đó mà ông phải đi tìm một biện pháp khắc phục bằng cách thực hiện các thành tựu nghệ thuật, nhất là qua các tác phẩm văn học, giống như kẻ  “ Đi tìm thời gian đánh mất” của Marcel Proust.

Thiếu khả năng đối phó với cuộc sống,  ông đã gặp vô vàn khó khăn trong quan hệ giữa người và người; Sống, đối với Pavese đã trở thành một “nghề” cần phải học trong đau đớn và trong tình huống đó, nghệ thuật với ông đã trở thành một sự cần thiết nhằm thay thế sự sống. “Tôi đã học viết  nhưng chưa học sống” nên viết lách đã trở thành biện pháp duy nhất, khả năng duy nhất để ông biết mình đang sống và cảm thấy mình hạnh phúc dù chỉ trong chốc lát. Pavese viết : “ Chỉ khi viết tôi mới là người bình thường, quân bình và bình an”. Đối với văn học trong thế kỷ XX tính xác thực của thi ca được xác định bởi tầm nhìn phiền muộn của con người, được nuôi dưỡng  trong số phận đầy âu lo. Tính xác thực và cái chết với ông như đã trở thành đồng nghĩa, vì sống là “Chuẩn bị cho cái chết”.

Cùng với nhu cầu tuyệt vọng về tình yêu, khởi nguồn từ sự cô đơn và ý muốn vượt thoát sự cô độc, tự mâu thuẫn giữa những lời tuyên bố đầy kiêu hãnh về mình và ý thức về sự thiếu khả năng vui sống, Pavese  đã chọn văn học như một giải pháp nhằm giải quyết  các xung đột  nội tâm.

Tuy vậy trong các tác phẩm của ông cũng có vài lần ghi lại  hạnh phúc trong đời mình, đó là các buổi thảo luận trong các quán ăn với công nhân, với những người bán hàng rong, những con người  vô danh và tầm thường, nhưng về sau tất cả đều trở thành nhân vật trong tiểu thuyết của ông. Ông luôn có cảm giác là mình còn trẻ, được tái sinh và trong những năm cuối cùng của đại học, bởi trong đời tư của ông có sự tham gia của một người mà sau này trở thành trung tâm của linh hồn ông: “ người đàn bà có giọng khàn khàn”. Cesare Pavese như bị biến đổi hoàn toàn: Trong suốt thời gian đó lúc nào ông cũng có cảm giác là người đàn bà ấy ở bên cạnh mình, ông  bỗng trở nên tử tế, nhân bản,  trìu mến, cởi mở với mọi người. Người đàn bà đó đã  mang  đến cho ông sự say đắm của tuổi thơ, khuôn mặt của nàng “như một đám mây”, nhưng đó là một áng mây ngọt ngào  bay giữa trời xanh lơ lửng trên những ngọn đồi của quê ông.

Năm 1930,  lúc chỉ vừa 22 tuổi ông tốt nghiệp đại học với luận án  về sự lý giải  thi ca của Walt Whitman và bắt đầu cộng tác  với tạp chí “ Văn hoá ”. Ông dạy học vào buổi tối ở các trường tư thục, nhưng đồng thời cũng dịch rất  nhiều tác phẩm văn học của Anh và Mỹ  và trong thời gian rất sớm ông đã nổi danh. Dường như những năm tháng trung và đại học đã giúp cho chàng trai cô độc  tìm được những  gắn bó bạn bè:  điều này giúp  anh  hiền hơn  trong các cuộc bút chiến và phẫn nộ trong văn học.

Năm 1931, chỉ vài tháng sau khi tốt nghiệp thì mẹ mất: vì chưa có dịp tỏ bày lòng ngưỡng mộ và chứng minh tình thương cùng sự trìu mến của mình với mẹ, niềm ân hận đó đã tạo nên một đường rãnh sâu sắc và cay đắng trong tâm hồn  tác giả. Còn lại một mình, ông chuyển về sống với cô em  Maria, và ở lại bên cô cho đến lúc chết.

Cũng trong năm 1931 bản dịch đầu tiên của ông “ Ngài Wrenn của chúng ta” của tác giả Sinclair Lewis được in ở thành phố Frenze. Việc dịch thuật có một tầm quan trọng không chỉ với cuộc đời tác giả mà còn cho nền văn học Ý nữa, vì nó đã mở ra một  cánh cửa cho một thời kỳ mới  của tiểu thuyết Ý. Với những bản dịch của mình, ông đã giúp người đọc biết được các chiều kích vô cùng lớn lao của lòng khao khát tự do, cùng với ý nghĩa bi thảm, xem  cuộc đời vô ích  và đến cả động tác cuối cùng của cuộc đời, tự tử.

Năm 1933  khi nhà xuất bản Einaudi   được thành lập và vì tình bạn với Giulio Einaudi, Pavese tham gia các dự án của nhà xuất bản với sự nồng nhiệt: có lẽ đây là những năm tháng tốt đẹp nhất của tác giả  cùng với một “người đàn bà có giọng nói khàn khàn”, một trí thức tốt nghiệp toán và tham gia tích cực trong phong trào chống phát xít. Vì liên can đến người đàn bà này, ngày 15/5/1935 ông bị bắt vì tình nghi chống phát xít, bị xử tù 3 năm và giam giữ ở Brancaleone Calabro thuộc miền Nam nước Ý.  Ba năm nhưng về sau được giảm xuống ít hơn một năm nhờ đơn ân xá, ông được thả vào tháng 3- 1936, nhưng sự trả tự do này  oái ăm thay lại trùng hợp với  sự thất vọng cay đắng của đời ông:  Người đàn bà mà ông hết lòng bảo vệ đến nỗi  bị tù đày vì không chịu khai danh tánh đã bỏ ông để lập gia đình với một người đàn ông khác. Kinh nghiệm  tù đày đớn đau ( sau là chủ đề của một quyển tiểu thuyết đầu tay của ông, “Nhà tù”) cùng với  sự thất vọng về tình yêu  đã quất ông những ngọn roi tàn nhẫn và đẩy ông  ngã vào một cơn khủng hoảng trầm kha, mãi nhiều năm về sau  vẫn còn ràng buộc vào cám dỗ đau đớn và luôn xuất hiện ý muốn tự sát. Ông tự khép mình vào sự cô độc, có lẽ còn tồi tệ hơn cả quãng đời thơ ấu.

Sau khi chiến tranh thế giới lần II chấm dứt ông ghi danh vào đảng cộng sản Ý nhưng sự tham gia của ông chỉ thuần văn học : Ông viết những bài báo và tiểu luận chủ yếu về đạo đức-dân sự, ông tiếp nối công việc ấn loát, tổ chức lại nhà xuất bản Einaudi, ông quan tâm đến  truyền thuyết và nhân chủng học,  thiết lập những lý thuyết về huyền thoại, và hoàn thành  tác phẩm “Đối thoại với Leucò .”

Về sau, khi chuyển đến La Mã làm việc ông có quen với một nữ diễn viên trẻ, Constance Dowling, khởi đầu cho một tình yêu mới. Có lẽ cô diễn viên trẻ đẹp và “khuôn mặt có nhiều đóm tàn nhang” này mới đầu đã thực sự yêu người đàn ông nổi tiếng, thông minh nhưng cũng dễ xúc cảm, quan hệ này đã hâm nóng tình yêu cho tác giả, nhưng về sau cô cũng bỏ ông để trở về nước Mỹ. Trong đau đớn tột cùng, Pavese đã   sáng tác và in thành một tập thơ mang tựa đề: “ Cái chết sẽ đến, nó có đôi  mắt của em…”

Sau trận thất tình này, cộng thêm sự khủng hoảng chính trị và tôn giáo đã làm Cesare Pavese thất vọng và hoảng hốt, nó xâm chiếm tâm hồn ông mặc dù lúc này ông đạt đỉnh thành công văn học ( 1938  tác phẩm “Người bạn” đoạt giải Salento, 1949 “Mùa hè tươi đẹp” đoạt giải Strega, tập truyện “Ánh trăng và đống lửa” được xem như tác phẩm rất hay) đến nỗi sự cô đơn và cảm giác trống rỗng làm ông không biết phản ứng ra sao. Mệt  nhọc, hao mòn, dù vẫn cực kỳ minh mẫn, ông đã uống cả một tuýp thuốc ngủ để tự vẫn trong một căn phòng khách sạn Roma tại thành phố Torino. Đó là ngày 27 tháng 5 năm 1950, để lại vỏn vẹn chỉ vài hàng ngắn ngủi trên trang nhất của  tập sách “Đối thoại với Leucò” đặt trên bàn đọc sách  ban đêm: “ Tôi tha tội cho  tất cả và  xin tất cả tha thứ cho tôi. Nhưng xin các bạn đừng ngồi lê đôi mách và tán chuyện nhiều .” Năm ấy ông chỉ vừa  42 tuổi.

Tác Phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp ”

Tác phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp ”  nằm trong luồng văn học biểu tượng.

Mùa hè  diễn tả ở đây là một khoảng thời gian đầy màu sắc, được đồng nhất với ảo tưởng là sẽ có một cuộc đời khác đầy những điều mới mẻ, tình yêu, đam  mê, cùng với những mặt tích cực mà nó tượng trưng. Nhưng sau đó là mùa thu rồi mùa đông, là cái chết của niềm hy vọng và sự đầu hàng của nhân vật chính trước  sự thật phũ phàng nhưng không thể tránh khỏi  của mình.

Đây là câu chuyện kể về Ginia, một cô gái mồ côi  chỉ vừa 16 tuổi, từ miền quê chuyển về sinh sống trong thành phố Torino cùng với anh là Severino. Bối cảnh của tiểu thuyết là những năm tháng sau khi chiến tranh chấm  dứt. Tại thành phố này cô tìm được việc làm như người phụ giúp trong một tiệm may.

Ginia là một cô gái ngọt ngào nhưng không may mắn. Sự thơ ngây và trong sáng của cô hoàn toàn không đáng nhận một số phận bi đát và một sự  sỉ nhục tồi tệ trong  thành phố Torino xám xịt. Mới đầu cô bị thành  phố làm cho loá mắt vì nhịp sống của nó hoàn toàn khác với miền quê mà cô từng biết. Cô mong muốn yêu và được yêu.

Rất nhiều cô gái vào tuổi dậy thì, trong  các thành  phố cho là hiện đại, đến với tình yêu thật phiến diện, được thúc đẩy bởi tò mò nhiều hơn là bởi tình yêu. Họ đánh mất tiết trinh rất dễ dàng và mãi về sau họ mới nhận ra giá trị những gì mà mình đã mất. Và như thế  tác phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp ” không chỉ là một câu chuyện  kể đơn giản mà còn là một cảnh báo cho các cô gái  trẻ, ngây thơ và dễ dãi. Ngay chính Pavese cũng đã định nghĩa là tác phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp ”  là chuyện kể  về  sự bảo vệ tiết trinh.

Ginia đã bị lôi cuốn vào một thế giới hoàn toàn trái ngược với cô: những chàng hoạ sĩ của thành phố Torino vào những thập niên bốn mươi của thế kỷ trước. Một bạn gái đã dẫn cô vào môi trường ấy. Cô bạn này, là một người dễ dãi và chỉ biết quan tâm đến tiền, cô ta ngồi làm mẫu cho các chàng hoạ sĩ. Trong môi trường ấy Ginia  đã làm quen với Guido, cô  ngưỡng mộ và yêu anh, nhưng về sau cô mới hiểu là tất cả những gì có xung quanh thế giới hội hoạ ấy chỉ là ảo ảnh.

Tựa đề ban đầu  của tác phẩm chính là “Chiếc màn ”, nhắc lại cảnh Ginia nhận ra mình bị lừa dối, bị gạt gẫm và chế nhạo… vì khi chiếc màn dùng để chia xưởng vẽ làm hai,  mở ra, Ginia mở mắt và bỗng hiểu ra tất cả. Bởi, núp sau bức màn đó còn có Rodrigues, một hoạ sĩ khác, đang lén ngắm cô khoả thân ngồi mẫu cho Guido. Hổ thẹn, buồn cười, trong  sự thất vọng, cô ngã vào vòng tay của Amelia, lúc này đã bị nhiễm bệnh giang mai từ quan hệ tình ái với một người đàn bà; biểu tượng của cái chết. Ê chề và  tuyệt vọng, nhưng Ginia hoàn toàn không có khả năng thích ứng với trò chơi tàn ác của cuộc đời, trong đoạn kết Ginia đã nói với bạn    “ Thôi mầy hãy dẫn tao đi”.

Tiểu thuyết “Mùa Hè Tươi Đẹp ”   rất đơn giản về cốt truyện nhưng có nội dung sâu sắc: Nó tượng trưng cho xung đột giữa sự ngây thơ ( Ginia) và sự hư hỏng, thoái hoá (Guido và Amelia). Sự đánh mất hồn nhiên của cô gái chính là bước chuyển biến  từ trạng thái hạnh phúc, rất tự nhiên của tuổi dậy thì đến một trạng thái khác, sự trưởng thành. Amelia là một nhân vật tiêu cực nhưng rất cần thiết để hoàn thành bước ngoặc này. Qua cô, Pavese đã tượng trưng cho sự chết như ông đã nhìn thấy: Tham vọng, độc ác, nhưng đồng thời cũng rất cám dỗ và mời mọc, đến nỗi nó được uỷ thác để dìu dắt một cuộc đời hồn nhiên và chẳng có chút liên quan nào. Như Ginia đã nhìn Amelia, tàn ác mà quyến rũ , cuối cùng đã   lôi cô vào một thế giới chưa từng quen biết.

Văn phong

Thời gian kể truyện ngắn hơn câu chuyện, bởi vì tác giả tóm tắt nhiều ngày trong một câu ngắn, với một nhịp điệu  vừa- nhanh.

Tác phẩm này được giới phê bình xem như thuộc  trường phái “tự nhiên” của Cesare Pavese, nó liên hệ đến ảnh hưởng của môi trường và hiện thực lên đời sống nhân vật.

Trong tác phẩm của Pavese văn phong hoà lẫn với tình huống thông qua sự xếp đặt con chữ, thả trôi theo nhịp điệu cảm xúc sống động trong thực trạng nội tâm. Nhân vật phản ảnh tất cả những gì mình nghĩ, chuyển tải lên trang giấy bằng một cú pháp thiết yếu cấu tạo bởi những câu nói rất bình dân được nhặt nhạnh  từ đời sống thường nhật, từ những lối ngắt câu trong các đoạn và từ  cách dùng câu đẳng lập [2]. Cách viết của Pavese trong tác phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp ”  có thể bị ngộ nhận là nghèo nàn, nhưng đó là sự nghèo nàn biểu kiến. Bởi  nó tương xứng với trình độ văn hoá của nhân vật và ngôn ngữ đời thường của họ. Chính nhân vật đã kể lại câu chuyện và đó mới thực là văn phong của tác phẩm.

Itala Elena Pucillo Trương

( TS Ngôn ngữ và Văn học nước ngoài)

.

 

Vài nét về dịch giả TRƯƠNG VĂN DÂN
Quê ở Bình Định  Năm 1971- Du học ở Italia ngành Hoá và Công Nghệ Dược.
Từ 1980 Phụ trách về tổng hợp hoá dược và từ 1985, nghiên cứu và phát triển dược phẩm, dùng cho người và cho thú y.

Đã viết, dịch và cộng tác với các tạp chí trong và ngoài nước.
Tác Phẩm đã xuất bản :

Hành Trang ngày trở lại ( Tập truyện ngắn, Nxb Trẻ, 2007)

Bàn tay nhỏ dưới mưa ( Truyện dài, PNB-Nxb Hội Nhà Văn, 2011)

Mùa hè  tươi đep   ( Truyện  dài, dịch từ nguyên tác “ La bella estate”  của Cesare Pavese, Italia)

Tác phẩm đang in :

Những ngày đánh mất ( Tập truyện dịch, gồm 20 truyện ngắn  và một truyện vừa của Dino Buzzati, Italia)


[1] Tác phẩm đoạt giải thưởng Strega năm 1950. Giải thưởng STREGA là giải thưởng văn học quan trọng nhất của Italia. Được trao giải hằng năm cho tiểu thuyết  hay tuyển tập truyện ngắn của các tác giả Ý. Giá trị hiện vật không nhiều nhưng giá trị tinh thần và giúp việc phổ biến tác phẩm rất lớn.Các tác giả Ý nhận  được giải thưởng này có thể kể : Cesare Pavese, Alberto Moravia, Mario Soldati, Giuseppe Tomasi di Lampedusa, Elsa Morante, Giorgio Bassani, Natalia Ginzburg, Primo Levi, Umberto Eco, Claudio Magris.   Tuy nhiên cũng có những tác giả nổi tiếng sau đây lại không nhận được giải : Italo Calvino, Carlo Emilio Gadda, Leonardo Sciascia.

[2] paratassi, parataxis

Lục bát cặp

Nguyễn Thái Dương

 

 

Nuốt im lặng để giãi bày

Nén trăm năm tủi để giây phút mừng

o

Quê rằng xa, quán chẳng gần

Ghềnh che thác phủ, lòng ngân ngấn nhìn

o

Ao xóm dưới, giếng làng trên

Nhớ nhau, mặt nước bồng bềnh chao nghiêng

o

Mình đang xuôi dọc con thuyền

Sao đò người ấy trùng triềng sang ngang?

o

Gửi trôi vào lắng cũng đành

Gói hư vào thực để dành mai đây…

o

Mong tròn tháng, đợi tròn ngày

Không bằng mơ cạn một giây bất ngờ

o

Mai này mai một ngày xưa

Tiễn đưa nhau để chờ đưa tiễn mình

o

Miễu am mơ hóa miếu đền

Tường cao cổng kín nhớ phên giậu làng

o

Người chẳng nói, kẻ chẳng rằng

Lầm lì, lũ kỷ niệm giăng tơ lòng

o

Không còn có, không còn không

Khi ngơ ngác nhớ lúc thông minh buồn

o

Trời vô cảm, đất vô hồn

Cõi trần khả ố, cõi không khả ngờ

o

Kiếp nào quay tới… kiếp xưa?

Chiếc kim giây cứ… ầu ơ ví dầu!

o

Tình không thẳm, nghĩa không sâu:

Lòng không trước, dạ không sau đấy mà!

o

Ta vừa khách thể lòng ta

Lại vừa gia chủ hồn ma chưa lìa

o

Sớm ngồi mắt ngóng vào khuya

Đêm nằm hồn ngó vào bia mộ ngày

o

Vần đơn bạc, nhịp đơn sai

Câu thơ đơn chiếc thở dài tiếng kêu

o

Đò còn nợ bến chuyến neo

Ta còn ơn một đêm yêu chưa đền

o

Máu xưa chảy, ruột xưa mềm

Trời kia, cao, có nối liền đất kia?

o

Sông còn một nỗi nhiêu khê:

Xuôi ra biển? Hoặc ngược về nguồn xưa?

o

Bướm đêm ví thử khù khờ

Hương quỳnh ví thử… lẳng lơ gọi mời

o

Trăm năm bao cuộc, mặc người

Mình lưu ban suốt một đời trong nhau

o

Xanh trời quên thuở vực sâu

Nghìn trùng mới nhớ thời xao xác gần…


Kỳ vĩ Ghềnh Ráng

TTO – Những tảng đá núi nhấp nhô, ngổn ngang giữa ngàn lớp sóng vỗ; cỏ cây ướt đẫm sau những trận mưa bất chợt; mặt nước biển xanh màu ngọc bích bên dải cát mịn… Tất cả tạo nên một Ghềnh Ráng nguyên sơ, một bức tranh sơn thủy hữu tình kỳ vĩ và thơ mộng.

Câu cá ngày biển động tại bãi tắm Tiên Sa

Ghềnh Ráng là một quần thể sơn thạch của dãy núi Xuân Vân chạy đến sát chân biển phía nam thành phố Quy Nhơn, Bình Định. Điểm xuất phát lý tưởng để khám phá danh thắng này là những bãi tắm kéo dài từ đường An Dương Vương đến đường Hàn Mặc Tử – nơi có cổng chào tham quan Ghềnh Ráng.

Dọc bờ biển, khách có thể khám phá cuộc sống của người dân làm nghề chài lưới, giăng câu, hay vào những buổi trưa, chiều nằm tắm nắng trên dải cát mịn, lắng nghe sóng vỗ rì rào.

Từ cổng tham quan Ghềnh Ráng, con đường nhựa sẽ đưa du khách lên đồi Thi Nhân, viếng thăm nơi an nghỉ của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Ấy là một ngôi mộ được xây trên một gò cao, lưng dựa vào núi, mặt quay ra biển, với cỏ cây bao quanh gợi lên trang đời và sự nghiệp dang dở của người thi sĩ tài danh, bạc mệnh.

Những ai yêu thơ Hàn Mặc Tử đều biết vào những năm tháng cuối đời, thi sĩ họ Hàn đã sống cùng căn bệnh hiểm nghèo trong trại phong Quy Hòa. Và thiên nhiên Ghềnh Ráng đã tiếp thêm nguồn cảm hứng cho ông viết lên những áng thơ bất hủ trước lúc đi xa.

Ngày nay, để tưởng nhớ những đóng góp của ông, bên đồi Thi Nhân còn có khu trưng bày cuộc đời và thi ca của nhà thơ, có dịch vụ bút lửa Zũ Kha ghi lại những áng thơ nổi tiếng trên những thớ gỗ mộc như món quà tri ân với những người yêu thơ Hàn Mặc Tử.

Khung cảnh hữu tình dọc bờ biển đường An Dương Vương kéo dài đến khu du lịch Ghềnh Ráng – Ảnh: Tiến Thành
Khám phá cuộc sống của người dân bản địa – Ảnh: Tiến Thành
Mộ thi sĩ Hàn Mặc Tử nằm bình yên giữa đất trời, cỏ cây – Ảnh: Tiến Thành

Men theo con đường đất uốn lượn theo triền núi, du khách sẽ chiêm ngưỡng những tác phẩm điêu khắc mà tạo hóa đã ban tặng cho Ghềnh Ráng.

Đó là bãi tắm Hoàng Hậu với những khối sơn thạch nhiều hình dạng, kích thước khác nhau. Là bãi Ðá Trứng rộng chừng hơn 100m2 bày la liệt những hòn đá xanh hình tròn, mặt nhẵn như quả trứng đùa giỡn cùng sóng biển. Là đá Vọng Phu được sóng và gió biển tạc khắc như hình dáng người vợ ngóng chồng. Hay đá có hình sư tử dũng mãnh vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” hàng trăm năm nay trước sóng gió biển Đông…

Từ bãi tắm Hoàng Hậu, đi tiếp 1.000m nữa, du khách sẽ đặt chân đến bãi Tiên Sa. Đây cũng là điểm cuối của hành trình khám phá Ghềnh Ráng với câu chuyện đậm màu sắc huyền thoại.

Gian hàng trưng bày thơ Hàn Mặc Tử bằng bút lửa của nghệ nhân Dzũ Kha – Ảnh: Tiến Thành

Chuyện rằng, ngày xưa ở Bồng Sơn có người con gái xinh đẹp, nết na. Cô và một chàng trai trong làng đã thầm yêu nhau. Nhưng rồi tiếng đồn về nhan sắc của nàng đã lọt đến tai một viên quan hám sắc và độc ác. Hắn cho người theo dõi và tìm mọi cách chiếm đoạt nàng. Để giữ trọn lòng chung thủy với người yêu, nàng khóc lạy cha mẹ, từ biệt chàng trai rồi bỏ làng trốn vào Quy Nhơn.

Biết tin, viên quan huyện lập tức sai tùy tùng đuổi theo. Tới Ghềnh Ráng thì trời nổi dông bão, cô gái biến mất trong đêm mưa gió tầm tã. Bọn chúng lùng sục khắp nơi nhưng không tìm ra dấu vết gì nên cho rằng cô gái đã liều thân nhảy xuống biển cả, đành tức tối trở về chịu tội với quan trên.

Chàng trai mất người yêu cũng chạy vào tìm kiếm. Anh leo hết tảng đá này đến tảng đá khác cất tiếng gọi người yêu. Tiếng anh tha thiết vang động khắp núi rừng và biển cả, nhưng trong đêm tối, anh chỉ thấy hình bóng người yêu thấp thoáng ẩn hiện, khi tha thướt trên rừng, khi nhấp nhô theo sóng biển như tiếc thương, vẫy gọi.

Từ đó, mỗi khi chớp sáng trên Ghềnh Ráng, người trong vùng lại ngước tìm hình bóng cô gái thấp thoáng hiện lên. Vì vậy chốn này được gọi là Ghềnh Ráng – Tiên Sa…

Sóng biển nô đùa trên bãi Đá Trứng – Ảnh: Tiến Thành
Khối đá núi có hình thù kỳ dị tại bãi tắm Hoàng Hậu – Ảnh: Tiến Thành
Đá Vọng Phu – Ảnh: Tiến Thành
TP Quy Nhơn nhìn từ đường lên đỉnh Xuân Vân – Ảnh: Tiến Thành

Với du khách ưa thích mạo hiểm, một chuyến trekking hoặc leo lên đỉnh Xuân Vân hiểm trở nhìn bốn bề cảnh vật: phía nam với những dãy núi trùng điệp chạy dọc ven biển đến tận Quy Hòa, phía bắc là dải cát vàng chạy dọc biển và nhà cửa thành phố Quy Nhơn, phía đông và tây là biển cả và bán đảo Phương Mai, đầm Thị Nại… có lẽ sẽ không gì thú vị bằng.

TIẾN THÀN

Vài lời cho em vừa nằm xuống


Chúng tôi vừa nhận được tin:

Chị Trần Thị Ngọc Tuyết vừa từ trần ngày 2/11 tại Sài Gòn sau một cơn nhồi máu cơ tim đột ngột. Hưởng dương 47 tuổi.

Thay mặt xunau.org,chúng tôi xin chia buồn cùng anh chị Văn Công Mỹ- Trần Thị Thanh và bạn Trần Đức Hà. Cầu mong hương hồn chị Trần Thị Ngọc Tuyết sớm siêu thoát.

 

VÀI LỜI CHO EM VỪA NẰM XUỐNG

(Tuyết thương yêu)

Cũng sẽ cùng nhau về hướng đó

Sao em giành vội nửa bước chân

Thấy không ở chốn nhân gian nọ

Còn những vành tang lấm bụi trần.

.

Văn Công Mỹ

Bong bóng mưa

 

TRẦN MINH NGUYỆT

–         Tình ơi! Đi uống cà phê với bọn anh không? Em làm gì mà ngẩn ngơ ra vậy? – Tình giật mình, thì ra là anh Tuấn, trưởng phòng của cô, một người rất giỏi về chuyên môn nhưng cũng rất hài hước.

Tình cười buồn : “ Có gì đâu mà ngẩn ngơ hả anh? Em chỉ đang nghĩ về công việc thôi mà.”

–         Thôi đi cô nương, nghĩ về công việc mà sao đôi mắt rướm lệ vậy? có cần anh lau nước mắt cho không vậy?.

–         Em nghĩ về công việc thật mà – Tình ngước lên nhìn anh – với lại em có gì để suy nghĩ nữa đâu chứ?  Em lỡ tay làm dầu dính vào khóe mắt nên cay sè, nước mắt chảy thôi. Tình phân bua – vội cúi xuống giả vờ như đang tập trung vào việc đọc các văn bản trước mặt…

Thế là bỗng dưng Tình trở thành người nhàn hạ nhất ở công ty này. Nhìn mọi người sau giờ làm việc vội vã trở về nhà để lo cho cái tổ ấm bé nhỏ của riêng mình, thì Tình tháng vừa rồi đã kí xong đơn li hôn trước tòa, kết thúc một trò chơi tình yêu đầy phiêu lưu mạo hiểm. Thế là từ nay cô đã tìm lại được tự do cá nhân của chính mình, không còn phụ thuộc vào ai nữa. Lẽ ra cô vui mới phải, vậy mà không hiểu sao sau cái ngày đó lòng cô trống rỗng, chơi vơi lắm. Cô hay miên man thả hồn phiêu lãng cùng những cảm giác vui buồn hơn trước.

“Mầy vẫn không quên được cái thằng mất dạy đó sao hả con? Nó đối xử với mầy tàn nhẫn như vậy, mà mầy còn nghĩ đến nó sao?” Bà Thân – mẹ của Tình, nhìn cô lo lắng hỏi. Tình nhìn mẹ với ánh mắt thật buồn, như chực khóc – và không nói được lời nào cả. Không phải Tình còn yêu thương nhớ nhung gì Hoài mà chỉ vì cô không muốn là một người thất bại trước đồng nghiệp và mọi người. Từ  nhỏ cho đến lớn lúc nào Tình cũng là người thất bại, thất bại trong việc học –  ( cô học rất giỏi, đậu tốt nghiệp cao – nhưng thi vào đại học năm đầu tiên lại thiếu mât nửa điểm xin phúc khảo cũng không được và năm sau thi lại cô cũng chỉ vừa đủ điểm chuẩn để đậu, vì thế nên không có học bổng mà phải đóng học phí). Đến khi ra trường xin việc làm cô cũng nếm đủ mùi chua cay. Mang đơn đi nộp đủ chỗ, cuối cùng mới xin được vào làm ở một công ty liên doanh đa quốc gia có tiếng ở thành phố. Tình chịu khó và siêng năng nên việc gì đến tay cô đều có kết quả rất tốt. Hai năm sau, Tình được trưởng phòng giao cho nhiệm vụ hướng dẫn hai sinh viên đến công ty thực tập. Đóng vai trò là đàn chị, cô hướng dẫn hai sinh viên một cách nhiệt tình và đầy trách nhiệm. Nhưng đổi lại lòng tốt và sự nhiệt tình của cô là hết năm đó cô được lệnh chuyển xuống chi nhánh ở vùng sâu, nhường chổ làm ổn định, thuận lợi ở thành phố cho hai sinh viên mới ra trường mà cô đã hướng dẫn – nghe đâu họ là con cháu của sếp lớn đã gởi cho giám đốc. Quá thất vọng và tủi nhục, Tình đã làm đơn xin nghỉ việc và rời thành phố phồn hoa lắm nỗi ưu phiền để về quê nhà, xin vào làm việc ở công ty Thuận Phát này từ đó đến nay. Lúc còn là sinh viên, và khi làm việc ở thành phố, Tình cũng có một người thương yêu là kế toán trường cho công ty lắp ráp sản xuất xe hơi – hào hoa, lịch thiệp –  lại giàu có, nhưng tình yêu kia đã dần dần phai nhạt, và tan biến như những giọt sương mai khi Tình xin nghỉ việc và về lại quê nhà.

Mọi thứ đến và đi trong cuộc đời của Tình xảy ra mau chóng và nhiều khi giống như những chuyện đùa của tạo hóa vậy. Mới một năm trước đây thôi, Tình còn hạnh phúc bên người chồng mà lúc đó cô nghĩ là rất mực yêu thương cô, vì gã luôn chìu chuộng cô mọi thứ. Vậy mà chỉ một buổi sáng thôi – đúng vậy, một buổi sáng tình cờ trong đời cô còn nhớ rất rõ như nó vừa mới xảy ra: Lúc Tình đứng soi mình trước gương, sửa soạn chuẩn bị đi làm thì chồng cô bước vào nhìn cô chằm chằm và nói : “Anh thấy chúng mình sống không hợp nhau chút nào. Chúng mình chia tay được không em? ”. Những tưởng chồng nói đùa để trêu mình nên Tình quay lại lườm chống và hờn mát như mọi khi: “ Chia tay thì chia tay chứ, em đâu có sợ, vợ anh vừa đẹp vừa thông minh như thế này thiếu gì người thương yêu em chứ, chỉ sợ anh ân hận thôi mà!”. Hoài – chồng cô, nhếch miệng cười và gằn giọng: “ Em đồng ý rồi nhé, không được đổi ý đâu. Giờ anh đi làm, chiều về chúng mình tính tiếp vậy …”. Tình hơi ngạc nhiên về thái độ của Hoài, nhưng lúc đó Tình nghĩ anh ấy chỉ đùa quá trớn thôi, chẳng có việc gì hệ trọng xảy ra cả đâu. Vậy mà tối hôm đó khi đi làm về, Hoài chìa ra trược mặt Tình đơn xin li hôn đã viết sẵn – anh đã kí, và buộc Tình phải kí vào. Vì quá ngạc nhiên, và không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Tình nghĩ mình vẫn yêu thương chồng , nên cô dằn lòng không kí đơn, mà gấp đồ đạc rời khỏi nhà chồng trong đêm tối.

Những ngày sau đó chồng cô luôn điện thoại buộc cô về kí vào đơn li hôn với lời lẽ hết sức trịch thượng và vô lý. Dù cô và chồng chỉ nói qua điện thoại nhưng rất gay gắt:

–         Anh không còn yêu em nữa, hãy buông tha cho anh đi?

–         Nhưng mà em có làm gì sai đâu chứ? Em yêu thương anh và lo cho tổ ấm của chúng ta mà.

–         Em mà lo gì chứ? Anh không cần em lo, nếu còn thương anh làm ơn kí vào đơn li hôn đi, anh muốn làm lại cuộc đời.

Những lần gọi đầu Hoài còn nể nang cô đôi phần với giọng điệu nài nỉ, nhưng không làm lay chuyển quyết định ở Tình, dần dần chồng cô chửi rủa ra mặt, và không còn lời tuyệt tình nào mà gã không dùng đến:

–         Sao cô bám dai như đỉa vậy? Cô không có lòng tự trọng nữa sao?

–         Anh đừng nói vậy tội cho em mà, chúng ta dù gì cũng là vợ chồng năm năm rồi.

–         Tôi nghĩ lại thời gian qua mà thấy gai cả người vì sợ. Sống lại với cô sao? Không bao giờ, dù phụ nữ trên thế gian này có chết hết tôi cũng không quay lại với cô.

Bị xúc phạm nặng nề và quá nhiều lần như vậy, Tình cảm thấy tình  yêu dành cho chồng bấy lâu đã héo khô dần, lụi tàn dần theo những lời chửi rủa ngày một cay độc. Và, chuyện gì đến sẽ phải đến – cô đã  kí vào đơn li hôn để cùng ra tòa chấm dứt một đời làm vợ. Giữa Tình và chồng không có gì để chia nhau cả, không con cái, không tài sản, chỉ có hai tờ hôn thú là của chung nhưng sau khi li hôn tòa giữ lại làm bằng chứng. Thế là Tình quay trở lại với vị trí ban đầu, với hai bàn tay trắng – một vụ làm ăn không có lời, chỉ có lời là nỗi buồn trong cô ngày càng nhiều lên thôi.

Khi cái tin Tình li hôn lan ra, từ bà con xóm giềng đến các bạn đồng nghiệp cùng cơ quan ai cũng tròn mắt ngạc nhiên, vì có ai nghe vợ chồng cô bất hòa, xung đột nhau gì đâu mà li hôn chứ? Vậy là gặp ai Tình cũng phải giải thích, Những người ít thân quen thì dăm ba câu, còn bạn thân, đồng nghiệp thì có khi mất vài giờ đồng hồ đến cả buổi. Người thì buồn cho cô phải dở dang duyên phận, còn người khác thì bảo cô sướng vì có thể sống an nhàn, không vướng bận, không lo nghĩ gì, có thể làm mọi thứ mình thích mà không phải chìu lụy ai. Tóm lại, chỉ là những lời an ủi, chia sẻ chuyện đã rồi – không còn cách nào khác! Tình nghe, mà không hề đáp.

Tuấn là trưởng phòng của Tình, có vợ và một đứa con gái năm nay 10 tuổi. Vợ anh là một người đàn bà thành đạt, cô ấy rất xinh đẹp và giỏi giang – là tiến sĩ y khoa – đang làm  giám đốc của bệnh viện tư nhân bề thế.  Tuấn và Tình làm việc cùng một phòng nên hai anh em có dịp tiếp xúc với nhau luôn. Anh rất dịu dàng và luôn giúp đỡ cô, trước kia đã vậy, mà giờ đây trong tình trạng như thế này anh càng quan tâm đến cô hơn. Tuấn dường như thấu hiểu được những nỗi buồn, nỗi thất vọng và nhất là cái cảm giác chơi vơi trong lòng cô sau ngày cô li hôn nên vẫn thường tế nhị an ủi mỗi ngày. Cứ sau mỗi lần nói chuyện với anh, Tình cảm thấy vui hơn, an tâm và có sức sống hơn. Thường thì hai anh em nói những chuyện không đâu vào đâu, chỉ là những chuyện vui, những chuyện vô thưởng vô phạt không liên quan đến ai cả nhưng những nụ cười hồn nhiên của anh đã làm Tình an lòng.

–         Em ăn cơm chưa? Đi ăn với anh cho vui.

–         Dạ! Nhưng hôm nay anh trả luôn tiền cơm cho em nhé

–         Cũng được thôi, nhưng lí do anh phải trả tiền là sao vậy?

–         Là vì anh rủ được một người xinh đẹp như em ăn cơm chung mà

–         Em leo chi mà cao quá vậy, từ từ mà leo xuống kẻo lộn cổ bây giờ

Cả hai anh em cùng cười vui vẻ.  Tuấn có vẻ vô tư, và luôn xem cô như một cô em gái thực sự vì có lần anh đã nói : “ Em có nét mặt và dáng người hao hao giống em gái kề của anh, nhưng nó đi tắm biển và bị nước biển cuốn trôi khi nó học lớp chín. Anh thương nó nhất nhà đó vì nó là đứa hiền lành, tốt bụng và rất thương anh, chị em…”.

Lúc trước Tình cũng mến thương Tuấn như tình cảm của một cô em gái dành cho anh trai của mình, nhưng khi chỗ dựa vững chắc nhất của cuộc đời Tình bị phá vỡ, bỗng dưng cô muốn tìm một bờ vai của một ai đó để tựa vào, để được an ủi chia sẻ những vui buồn của cuộc sống. Vậy là Tuấn cứ dần dần chiếm hữu đầu óc cô, trái tim cô lúc nào cô cũng không hay biết nữa. Với bản năng của người nữ, Tình cũng ghét cay đắng sự phản bội và lừa dối trong tình yêu – không bao giờ nghĩ rằng có ngày mình sẽ trở thành người thứ ba chen vào phá vỡ hạnh phúc của người khác. Vì vậy dù Tình có cảm tình đặc biệt với Tuấn nhưng trí óc cô luôn mách bảo hãy giấu kín trong tim mình, không để lộ một sơ hở nhỏ nào cho ai biết. Hãy sống với sự thầm kín, cho dầu, đôi lúc – Tình cũng cảm thấy rất đau xót. Vì vậy ở công ty cô với Tuấn cũng chỉ là anh, em – là đồng nghiệp mà thôi. Chỉ khi đêm về  trong cõi đời riêng một mình, Tình mới sống thực với lòng mình, với tình yêu mà cô ấp ủ khôn nguôi.

Đi uống cà phê về, Tuấn không quên mang về cho cô một ổ bánh mì kẹp thịt trông rất hấp dẫn. Đưa ổ bánh mì cho cô anh làm bộ nghiêm mặt bảo: “ Tiền bánh mì mười ngàn, Tiền công mua mang về mười ngàn. Cả thảy là hai mươi ngàn. Em nhớ phải trả lại cho anh đó.” – Tình bật cười – đáp lại lời anh: “ Em không trả đâu, anh Tuấn có biết ông bà ta có câu này không vậy?

“ Bắc thang lên hỏi ông trời

                                Bánh mì cho gái có đòi được không? “

Tuấn bậm môi trợn mắt như thể đang giận dữ lắm, anh dứ dứ quả đấm về phía cô và giả bộ nói giọng gằn gằn : “ Vậy thì em trả lại bánh mì cho anh đi, cho gái thì gái nào phải đẹp chứ, còn em xấu hoắc à, ai mà thèm cho chứ ?”. Như sợ Tuấn lấy lại bánh mì, Tình vội đưa bánh mì vào miệng cắn một miếng rõ to và giấu phần còn lại ra sau lưng. Tuấn vẫn không vừa, anh lấy điện thoại ra và chụp hình cô lia lịa, anh bảo sẽ rửa ra và dán khắp cơ quan. Những chuyện đùa vui như vậy giữa cô và Tuấn  cũng thường xuyên xảy ra, khiến trái tim của cô bùng lên một ngọn lửa yêu thương nồng cháy, khó có thể mà dập tắt được.

Đã gần tới ngày 20-10, ngày phụ nữ Việt nam, Tình thấy hồi hộp lắm, cô không biết ngày hôm đó anh Tuấn tặng cho cô món quà gì đây?. Nhưng Tình đã nghĩ trước rồi, ngày hôm đó cô sẽ mời anh đến một nơi  nào đó thật yên tĩnh, thật nên thơ – và cả hai sẽ cùng nhau thong dong suốt buổi tối. Chỉ nghĩ đến đó thôi mà Tình bỗng cảm thấy mặt mình nóng bừng lên, lòng bối rối lạ lùng.

Tình đang đắm chìm trong cái cảm giác đó, thì Tuấn đã đến bên cô từ lúc nào. Anh gõ nhẹ xuống mặt bàn trước mặt Tình nhìn cô – mỉm cười : “ Lại mơ mộng gì nữa đây cô bé? Giúp anh chuyện này được không? “. Tim Tình đập liên hồi, lồng ngực như muốn vỡ tung ra, nhưng Tình kiềm chế cơn xúc động của mình lại – giọng điềm tĩnh: “ Ủa ! anh Tuấn có nhầm em với ai không vậy? Em mà giúp được gì cho anh sao? ”. Tuấn cười hiền: “ Chỉ riêng hôm nay thôi mà, trưa nay anh, em mình vào siêu thị đi, anh muốn nhờ em tư vấn cho anh mua một món quà nào thật đẹp và có ý nghĩa để anh tặng chị”. Tình cảm thấy bàng hoàng. Tim như se thắt lại và nhói đau, Cô không nói nổi một lời nào chỉ cố gắng nhìn anh và gật đầu mà thôi. Tuấn đã đi ra khỏi phòng rồi, mà những lời lẽ kia cứ lỡn vỡn, nhảy múa trong đầu óc cô. Tình nhớ rất rõ vẻ mặt đầy yêu thương, hạnh phúc và tự hào khi Tuấn nói về vợ mình: “ Em biết không? Anh thật là may mắn khi có một người vợ như chị của em. Cô ấy tài giỏi, thông minh, đảm đang và rất mực chìu chồng, yêu con. Cô ấy và con gái là những người quan trọng nhất trong cuộc đời của anh em à”.

Vậy là ngọn lửa tình si trong lòng Tình được nhen nhóm bấy lâu, bị cơn mưa mùa đông dai dẳng làm tắt ngấm không còn một chút hơi ấm nào, chỉ còn trơ lại là một bếp tro than nguội lạnh. Cô cảm thấy mình thật đáng thương, một sự ảo tưởng viễn vong xa vời mà cô biết rất rõ là mình không thể nào với tới được nữa. Nhưng giờ đây Tình đã hiểu rõ dần thế nào là tình yêu thực sự?. Thì ra tình yêu cũng có lí lẽ riêng của nó, một khi ai đó vi phạm vào lí lẽ của tình yêu, nó sẽ vỡ tan mau như bong bóng mưa vậy thôi. Những ngày sắp tới, Tình phải sống như thế nào đây? Mê cung của cuộc đời đang ở phía trước, đang chờ đón cô. Có lẽ sẽ như vậy. Tình đưa tay lau dòng nước mắt chảy dài trên má và tự hứa với lòng là sẽ tiếp tục cuộc hành trình của một đời người kì diệu…

TRẦN MINH NGUYỆT

Bốn câu chuyện về Trần Thủ Độ

Nguyễn Quang Thân

Chuyện 1: Thủ Độ tuy không có học vấn, nhưng tài lược hơn người, làm quan triều lý được mọi người suy tôn, quyền át cả vua. Bấy giờ có kẻ đàn hặc ông, vào gặp Thái Tông (Trần Cảnh) khóc mà nói rằng : ” Bệ Hạ còn thơ ấu mà Thủ Độ quyền át cả vua, xã tắc rồi sẽ ra sao”? Thái Tông lập tức ngự đến dinh Thủ Độ, bắt cả người đàn hặc ấy đem theo và nói hết những lời người ấy nói cho Thủ Độ biết. Thủ Độ trả lời: “Đúng như những lời hắn nói “. Rồi lấy ngay tiền lụa thưởng cho người ấy.

Chuyện 2: Linh từ quốc mẫu có lần ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân hiệu ngăn lại, về dinh khóc bảo Thủ Độ: ” Mụ này làm vợ ông, mà bị bọn quân hiệu khinh nhờn đến thế!” Thủ Độ tức giận, sai đi bắt, vặn hỏi trước mặt, người quân hiệu ấy cứ theo sự thực trả lời. Thủ Độ nói: “Ngươi ở chức thấp mà giữ được luật pháp, ta còn trách gì nữa”. Lấy vàng lụa thưởng rồi cho về.

Chuyện 3: Thủ Độ có lần duyệt định số hộ khẩu, quốc mẫu xin riêng cho một người (cháu) làm câu đương. Thủ Độ gật đầu, rồi ghi họ tên quê quán của người đó. Khi xét duyệt đến xã ấy, hỏi tên mỗ ở đâu, người đó mừng rỡ bảo hắn là người được quốc mẫu xin cho. Thủ Độ nói: “ Ngươi vì có quốc mẫu xin cho được làm câu đương (một chức cỡ trương tuần) không thể ví với những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt”. Người đó kêu van xin thôi mãi mới tha cho. Từ đó không ai dám đến thăm xin xỏ việc riêng nữa.

Chuyện 4: Thái Tông có lần muốn cho người anh của Thủ Độ là An Quốc làm tể tướng. Thủ Độ tâu: “An Quốc là anh thần, nếu (Bệ hạ) cho là giỏi hơn thần thì thần xin trí sĩ, nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc. Nếu anh em đều làm tể tướng cả thì việc triều đình sẽ ra làm sao?”. Vua bèn thôi. ( Trích nguyên văn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

Chuyện 1 là nói về tính thẳng thắn, minh bạch, ”nhìn thẳng vào sự thật”, đã làm gì thì chịu trách nhiệm với việc mình làm, không thèm chối dù có làm chuyện tầy đình như “lấn cả quyền vua” ( do Thái Tông còn thơ ấu). Chuyện 2 là nói về tinh thần tôn trọng pháp luật, nhất là cái pháp luật ấy lại do mình ban ra, “pháp bất vi thân”, không thể vì người thân mà vi phạm. Chuyện 3 là biện pháp trị những anh “con ông cháu cha” bất tài vô tướng, chỉ còn biết bám váy người nhà để tiến thân thì cách trị hay có lẽ là đổi bổng lộc lấy ít nhất một ngón chân, cách này Thủ Độ mới dọa thôi mà đã có hiệu quả. Nếu áp dụng thời nay thì chắc người bốn ngón đầy đường. Chuyện 4 là sự tự tin thẳng thắn về sử dụng người tài, không “gia đình trị”, giỏi thì nói giỏi, không câu nệ hay khiêm tốn giả vờ, âu cũng là bài học tốt cho nghề làm nhân sự.

Trần Thủ Độ là một nhân vật khổng lồ của lịch sử, tuy cũng bị các đời sử gia chê trách vì tàn bạo với Huệ Tông và tôn thất nhà Lý hay tội giết vua rồi lấy ngay vợ vua nên bị Ngô Sĩ Liên phê phán rất nặng nề. Nhưng ông có những phẩm chất lớn không thể thiếu của một chính khách thể hiện qua bốn câu chuyện nhỏ sử đã ghi trên.

Tiếc thay lịch sử không dạy khôn cho người thời nay được bao nhiêu!