Feeds:
Bài viết
Bình luận

Tình yêu “lì xì”

           Ngô Đình Hải      

                                  Ngày đó khi em nói :

                                 Không cần gì hết ngoài tôi
                                 Là lúc em đang bước vào bóng tối
                                 Tự giẫm lên chân mình bằng những bước lạc loài
 .
                                 Ngày đó khi tôi phải nói
                                 Với em : về những người đàn bà trong đời
                                 Là lúc tôi tự đào huyệt chôn vùi
                                 Những chuyện tình mong manh nông nỗi
 .
                                 Ngày đó khi em nói :
                                 Cho dù ngày vui ngắn ngủi
                                 Chấp nhận thiệt thòi bên cạnh tôi
                                 Là lúc em buộc tôi quay lại
                                 Với những ràng buộc tất nhiên của một con người
 .
                                  Ngày đó khi tôi kể với em :
                                  Những lần yêu vội
                                  Từ cảm xúc của trái tim chứ không phải bằng lời nói
                                   Là lúc tôi đang đắp đường ngăn lối
                                   Không còn chỗ nào cho em và tôi
 .
                                  Ngày đó khi em khóc với tôi
                                   Sau những lần gặp gỡ mệt nhoài
                                   Cuộc tình này
                                   Lẽ ra không nên tồn tại
                                   Có còn gì đâu để cho em chờ đợi
                                   Bởi quay mặt đi rồi tôi phải trở lại với tôi thôi !
 .
                                    Ngày đó khi em nói :
                                    Em không đòi hỏi
                                    Chút luyến lưu nào trong phần đời còn lại
                                    Đâu biết tôi vì ai mà trở thành gian dối
                                    Tự nguyền rũa mình sao không sớm chia tay
 .
                                    Ngày đó hình như
                                    Tôi có xin em nghe lần cuối
                                    Còn có nhau đây là đã sẵn những mất mát rồi
                                    Đừng bao giờ đem yêu thương trao đổi
                                    Lấy hạnh phúc nửa vời
                                    Tình yêu cho không
                                    Muôn đời
                                    Là tuyệt vọng ! em ơi !
                                         

Quán cũ

TRẦN QUANG KHANH


Hai mươi năm trước, chẳng hiểu vì sao sáng sáng chúng tôi lại chọn ngồi ở đó. Quán cà phê vườn bé nhỏ, bên đường, không có tên. Cây chanh sau cánh cổng nhỏ cứ bị mé nhánh dần để khỏi bị vướng vào khách càng trở nên khẳng khiu, cao lêu nghêu được chúng tôi mượn danh đặt tên cho quán. Quán Cây Chanh! Mà có lẽ cái tên ấy cũng chỉ dành riêng cho chúng tôi; chỉ của nhóm nhà báo, nhà thơ, họa sĩ… sáng sáng gọi tên và tụ tập.

Quán giản đơn với vài bộ bàn ghế nhựa cũ, cái bình trà sức vòi, cái tách trà mẻ miệng. Chủ quán là hai chị em gái cập kê không xấu và hiền lành; cà phê pha không dở nhưng cũng chẳng quá ngon. Vậy mà lạ, đám văn nghệ sĩ trẻ hoạt náo chúng tôi cứ chọn, cứ ngồi đồng sáng sáng hằng năm này qua năm khác. Câu chuyện mỗi sáng cũng chỉ là những thông tin trên báo, trong giới, rồi chuyện tiếu lâm, chuyện gái trai… Và những tràng cười vô tư lự. Đôi lúc cuộc tụ tập còn để nhà báo đặt bài cho nhà thơ viết báo hay nhà thơ phẩm bình nhà báo làm thơ. Sự tụ tập thường xuyên và sự thân thiết của nhóm bạn tụ tập đến nỗi có kẻ tò mò rình rập, hóng hớt…

Rồi nhóm bạn tụ tập ở quán cứ thiếu hụt dần… Người bận bịu, kẻ đi xa?… Và cũng chẳng nhớ tự lúc nào những người cuối cùng trong nhóm bạn cũng thôi ngồi cái quán ấy. Cũng chẳng ai hay cây chanh sau cổng quán bị bứng đi, bị sâu đục hay ngã chết từ lúc nào. Thỉnh thoảng đi ngang qua quán cũ, mỗi người trong nhóm bạn lại ngoái nhìn vào cổng quán thiếu sự hiện diện của cây chanh như nhìn vào khoảng trống của ký ức mình…

 

Rồi một chiều sau bao lần hẹn không thành, vài người trong nhóm bạn lại kéo nhau vào quán cũ. Vẫn những bàn ghế cũ, cái bình sức vòi, cái tách mẻ miệng… song đã thấy trên mỗi chiếc bàn có thêm cái dĩa nhựa ghi hàng chữ nguệch ngoạc trên giấy đè bên trên là lớp keo trong “dĩa đựng nước thừa”; chiếc ghế đệm bây giờ được phủ lên lưng ghế tấm vải mùng vàng ố màu cháo lòng… Mọi thứ khập khiễng…

Chủ quán vẫn là hai chị em. Họ cùng khu vườn nhỏ đã đón ngàn ngàn lượt khách đến uống cà phê. Song với ngôi nhà phía trong thì chưa hề một lần đón bóng đàn ông. Hai cô gái vẫn chưa có chồng! Nhìn lại họ sau hai mươi năm mới thấy sức tàn phá ghê gớm của thời gian với tuổi thanh xuân.

Chúng tôi gọi cà phê. Rất lâu cô chủ (là em) mới mang ra cái bình trà, mấy cái tách. Rồi lại rất lâu cô chủ (là chị) mới mang ra mấy ly cà phê có cái phin nhôm xỉn màu ở phía trên… Họ nhìn chúng tôi nụ cười héo hắt…

Tôi cảm nhận sự khác xa quá đỗi của quán Cây Chanh hai mươi năm trước.

Hai cô chủ quán đã chậm chạp rồi!

Và cả chúng tôi cũng khác. Cả bọn ngày xưa, điểm danh lại đã mất đi hẳn vài người. Bởi người thì vĩnh viễn đi xa, người thì “quay lưng” đến nỗi không thể ngồi chung bàn với người bạn cũ…

T.Q.K

Hé lộ 7 kỳ quan thế giới mới

(Dân trí) – Trong đợt kiểm phiếu đầu tiên vào ngày 11/11/11, tổ chức New7Wonders đã công bố danh sách tạm thời 7 kỳ quan tự nhiên mới của thế giới, trong đó có Vịnh Hạ Long của Việt Nam.

Theo trang web New7Wonders, theo kết quả cuộc kiểm phiếu đầu tiên, 7 kỳ quan thế giới mới bao gồm rừng rậm Amazon ở Nam Mỹ, Vịnh Hạ Long của Việt Nam, thác Iguazu ở Argentina và Brazil, đảo Jeju – Hàn Quốc, công viên quốc gia Komodo – Indonesia, dòng sông ngầm Puerto Pricesa – Philippines và núi Bàn -Nam Phi.

Kết quả trên được xếp theo thứ tự chữ cái, không phải theo thứ tự được bầu chọn.

Theo trang web này có thể sẽ thay đổi giữa những kỳ quan giành chiến thắng tạm thời trên, cũng như kỳ quan giành chiến thắng chung cuộc.

Hiện công tác kiểm phiếu bầu đang được kiểm tra, phê chuẩn và xác minh một cách độc lập. Kỳ quan chiến thắng cuối cùng sẽ được công bố vào đầu năm 2012, trong lễ công bố chính thức.

Rừng rậm Amazon

Hé lộ 7 kỳ quan thế giới mới
Rừng nhiệt đới Amazon, hay còn được biết đến với tên gọi Amazonia, rừng rậm Amazon hay Lòng chảo Amazon, trải rộng 7 triệu km2, mặc dù bản thân diện tích rừng chiếm khoảng 5,5 triệu km2. Rừng rậm Amazon nằm trên 9 quốc gia, chiếm hơn một nửa tổng rừng nhiệt đới trên toàn hành tinh và là rừng nhiệt đới lớn nhất, chứa đựng nhiều loài quý hiếm nhất trên thế giới. Sông Amazon cũng là dòng sông lớn nhất thế giới xét về lượng nước, với tổng dòng chảy lớn hơn top 10 dòng sông khác trên thế giới. Nó chiếm xấp xỉ 1/5 tổng dòng chảy của các dòng sông trên thế giới và có lưu vực thoát nước lớn nhất hành tinh. Không có một cây cầu nào được bắc qua sông Amazon, do nó quá rộng.
Vịnh Hạ Long
Hé lộ 7 kỳ quan thế giới mới
Vịnh Hạ Long nằm ở tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam. Vịnh có hàng ngàn núi, đảo đá vôi, với nhiều kích thước, hình thù. Vịnh trải trên 120km dọc bờ biển, và rộng khoảng 1.553km, với 1969 đảo. Rất nhiều đảo rỗng, với những hang lớn. Cũng không thể không nhắc tới các làng chài nổi trên các đảo này, với ngư dân tận dụng các vùng nước nông để nuôi trồng cá và các loại động vật thân mềm.  Một đặc điểm đặc biệt khác của Vịnh Hạ Long là vịnh có vô vàn hồ bên trong các đảo đá vôi.
Chòm Thác Iguazu

Hé lộ 7 kỳ quan thế giới mới

Chòm thác Iguazu trên sông Iguazu nằm trong những thác nước lớn nhất thế giới. Các thác này trải dài 2.700m, theo hình vòng cung. Trong số 275 thác cấu thành nên chòm Thác Iguazu, “Họng của quỷ” là tác cao nhất, cao 80m. Thác Iguazu nằm ở biên giới bang Paraná của Brazil và tỉnh Misiones của Argentina và được bao quanh bởi 2 công viên quốc gia (BR/ARG). Cả hai đều là những khu rừng cận nhiệt đới, với hàng trăm loài động, thực vật quý hiếm.

Đảo Jeju

Hé lộ 7 kỳ quan thế giới mới

Đảo Jeju là đảo núi lửa, nằm cách bờ biển phía nam của Hàn Quốc 130km. Đây là đảo lớn nhất nhưng là tỉnh nhỏ nhất Hàn Quốc. Đảo có diện tích nổi là 1.846km2. Trung tâm của đảo là Hallasan, ngọn núi cao nhất Hàn Quốc và là ngọn núi lửa không hoạt động. Núi vươn cao tới 1950m trên mực nước biển. Tổng cộng có 360 núi lửa vệ tinh quanh ngọn núi chính này.

Công viên quốc gia Komodo

Hé lộ 7 kỳ quan thế giới mới
Công viên quốc gia Komodo của Indonesia gồm 3 đảo lớn Komodo, Rinca và Padar cùng rất nhiều đảo nhỏ, trải rộng trên diện tích 1.817km2. Công viên quốc gia được thành lập vào năm 1980, nhằm bảo vệ loài rộng Komodo. Sau đó, công viên cũng có nhiệm vụ bảo vệ các loài khác, trong đó các động vật biển. Các đảo trong công viên đều có nguồn gốc núi lửa.

Sông ngầm Puerto Princesa

Hé lộ 7 kỳ quan thế giới mới
Công viên quốc gia Sông ngầm Puerto Princesa nằm cách thành phố Puerto Princesa, Palawan, Philippines, khoảng 50km. Công viên nổi tiếng với cảnh đẹp núi đá vôi và một dòng sông ngầm bên dưới dài 8,2km. Đặc điểm nổi bật của dòng sông là nó chảy qua một chiếc hang trước khi chảy trực tiếp vào Biển Đông. Công viên cũng có rất nhiều hang động rộng lớn, với nhũ đá đẹp mắt. Phần thấp hơn của dòng sông phụ thuộc vào ảnh hưởng của thuỷ triều. Đây là dòng sông ngầm dài nhất thế giới.
Núi Bàn

Hé lộ 7 kỳ quan thế giới mới

Núi Bàn là một biểu tượng của Nam Phi và là địa điểm tự nhiên duy nhất trên hành tinh có chòm sao được đặt tên theo nó, Mensa, có nghĩa là “bàn”. Ngọn núi với đỉnh bằng này đã đứng vững qua 6 triệu năm xói mòn. Đây cũng là vương quốc hoa phong phú nhất trên trái đất, với hơn 1.470 loài hoa. Núi Bàn còn tự hào là nhà của rất nhiều loài quý hiếm. Địa danh nổi bật nhất của Núi Bàn là Cape Town, cửa ngõ vào châu Phi, sở hữu những đỉnh núi bằng độc đáo, cao 1.086m trên mực nước biển.

Phan Anh

Theo New7Wonders

Bài hát ngày về

Ta ngồi lại soi xuống dòng suối rách
Vốc nước lên kỳ cọ mặt mày
Hồi ta ra đi hai bàn tay trắng
Giờ ta trở về trắng hai bàn tay
Giá như người xưa…gác gươm sườn đá
Tháo đôi giày cỏ thả trôi
Cởi áo vắt vai cười ha hả
Vời trông bốn hướng đất trời
Ta, một kẻ hèn – kẻ hèn đời mới
Hèn, không đáng mặt kẻ hèn
Đức bạc tài sơ, bảy chìm ba nổi
Sao còn vất vả đua chen ?
Dãy đồi bên kia là lau là cỏ
Có cây đa già tỏa mát trăm năm
Giá như người xưa … cùng bầy trẻ nhỏ
(Mặc áo Huyền Đoan đội mũ Chương Phủ)
Múa ca vui với trăng rằm
Ta còn gì chăng ? Trái tim nguội lạnh
Ta còn gì chăng ? Khối óc rỗng không
Tầm mắt yếu không đủ nhìn cuối dặm
Đâu bóng con trâu nhòa nhạt giữa đồng
Mặt sạm da mồi tóc râu ngã bạc
Ta trở về quê lỡ thợ lỡ thầy
Muốn theo Lão Tiều non Du hái củi
Sợ lưỡi rìu làm chảy máu thân cây

.

BÀI HÁT NGÀY VỀ CỦA TRẦN HUIỀN ÂN

CUỘC HÀNH TRÌNH THẦM LẶNG TRỞ VỀ CHƠN TÂM
            TÔI  có duyên được đọc thơ Trần Huiền Ân từ những sáng tác đầu tiên trên tạp chí Bách Khoa, tập thơ đầu tay THUYỀN GIẤY, cho đến những sáng tác đều đặn, những tập thơ vừa được xuất bản trong vài năm gần đây. Bên cạnh cái duyên thơ ấy, tôi cũng được có cái duyên quen biết, thân tình với anh (và cả gia đình) trong những năm tôi về dạy học tại Tuy Hòa, Phú Yên. Chính vì nhờ hai “trợ duyên” đặc biệt, thâm sâu ấy tôi rất hiểu anh và thơ anh… Bài thơ “Bài hát ngày về” đã thực sự làm cho tôi thấy được cái mới, cái chuyển hóa tâm thức trong anh đang nẩy mầm, đang có chiều hướng về tâm linh, về bản chất hồn nhiên – về cái sinh hoạt nhiệm màu mà theo tư tưởng Đạo Phật gọi là  “Phật Tánh”, và nhà Thiền gọi là  “Bản lai diện mục” của chính mỗi con người, mà  với cái tâm điên đảo, lăng xăng dính mắc… không thể hiểu và tìm thấy ra được.
          Nhà thơ đã bắt đầu có giây phút (hay chỉ vài “sát na” thôi) nhìn lại nội tâm, nhìn lại “cái đích thực là mình,  tuy rằng cái tâm (hay dòng sông dòng suối tâm linh) có vì bao đổi thay, bao gian truân của cõi đời vô thường bị gần khô cạn:
Ta  ngồi lại  soi  xuống dòng suối rách
Vốc nước lên kỳ cọ mặt mày.
          Đúng là anh đã có giây phút tuyệt vời mà không phải ai cũng có thể làm được. Có ai trong chúng ta có giây phút nhìn lại tận cội nguồn của chính tâm ta, để tự xét, tự hỏi một cách trung thực, nhi nhiên như thế chăng ? Kỳ cọ mặt mình cũng chính là kỳ cọ Tâm mình.
          Anh cũng đã nhận ra, sau khi cái Tâm đang dần trở lại trong sáng qua cái sát na “đốn ngộ” tự tâm: Rằng đời người là quá ngắn ngủi, trăm năm ở cõi ta bà cũng chỉ như “mộng, huyễn, bào, ảnh”, con người đến với cõi trần với hai tay trắng và lúc trở về với hư vô, cũng chỉ có từng ấy mà thôi ! Đó là  “Tánh KHÔNG”, cốt lõi của Phật giáo.
          Tôi cho giây phút chánh niệm ấy vô cùng quý báu bởi vì, tu sĩ quên cả đời học tập kinh sách, qua bao giới luật khổ hạnh, cũng chỉ mong “tự chứng” được như thế : Lòng từ bi chân chánh cũng bắt nguồn từ đó.
          Bắt nguồn từ cái “thức tỉnh” (hay nói theo Đạo Phật là giác ngộ ban đầu) nhà thơ đã ngược dòng thời gian (thời gian của tâm linh) để tự vấn lòng mình:
                             Giá như người xưa … gác gươm sườn đá
                             Tháo đôi giày cỏ thả trôi
                             Cởi áo vắt vai cười ha hả
                             Vời trông bốn hướng đất trời…
          Lại có chút lòng tự sám hối :giá như người xưa”. Nếu “người xưa” (một hình ảnh phân thân của tác giả ở quá khứ) sớm tỉnh giác, sớm hiểu ra cõi đời là “xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàn”, là “vô thường và vô ngã”, tất cả pháp hữu vi đều giả tạm (Kinh Kim Cang Bát Nhã : “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Kinh Đại Thừa Kim Cang : “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ diệc, như điệm”), thì đã sớm trở về với cội nguồn trong sáng, an tịnh của Tâm mình rồi. Đã “cởi áo vắt vai… vời trông bốn hướng…”.
          Nhưng thực tế thì không được như vậy. Hay nói theo triết lý nhà Phật thì nhà thơ đã bị “bức màn vô minh từ muôn ngàn kiếp” che phủ… Rồi phải tranh giành, bon chen, được mất, thành bại… Cuối cùng, khi chợt tỉnh “giấc mộng Nam Kha” ấy thì “Ta một kẻ hèn”. Ý chữ “kẻ hèn” ở đây phải được hiểu : Ta đã mù quáng vì vô minh, tham ái, sân si, nên không hiểu ra được cái Tâm thanh tịnh bản nhiên, hằng có, hằng sáng trong ta đã bao lâu, để không xứng đáng với “con người đích thực” như gã cùng tử con nhà giàu sang quyền quý đã “quên hạt châu vô giá trong thân” để đi lang thang sống đói khổ trong “Phẩm Thí Du” của “Kinh Pháp Hoa” vậy.
                             Ta, một kẻ hèn – kẻ hèn đời mới
                             Hèn, không đáng mặt kẻ hèn
                             Đức bạc tài sơ, bảy chìm ba nổi
                             Sao còn vất vả đua chen ?
          Tôi đã rất kinh ngạc và thích thú, khi được nghe lời tâm sự (cũng là lời tự thú, lời sám hối) quá đỗi khe khắt, nghiêm túc, tận cùng nỗi “tỉnh thức” của mình. Đúng như lời các vị Thiền sư đã từng nói : “Có giác mới có ngộ”. Không giác thì chẳng bao giờ ngộ được. Ấy là lẽ huyền nhiệm không thể lấy lời lẽ, ngôn từ mà bàn luận vậy ! Có thể gọi đó là “Trí tuệ vô lậu”.
          Sau giây phút “phản tỉnh” với tâm mình một cách rất trung thực, rất can đảm (vì không phải ai cũng dễ làm), nhà thơ đã lóe sáng niềm vui, niềm an lạc – có thể gọi là “Pháp hỉ” (nhờ hiểu theo Phật pháp mà có niềm vui, hạnh phúc).
                             Dãy đồi bên kia là lau là cỏ
                             Có cây đa già tỏa mát trăm năm.
          Kinh Phật có dạy : “Biển khổ mênh mông, quay đầu là bén”. Bên này là vô minh, bên kia là giác ngộ. Chỉ biết hướng về, quay lại – hay vượt qua “bên kia đồi” là sẽ có an vui, thanh tịnh, sẽ không còn quay lăn trong sinh tử luân hồi, không còn “hơn, thua, được, mất”, không còn có khổ đau, phiền não do tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến quấy nhiễu …
          Ở đây, qua đến giai đoạn tâm thức đã có chút lóe sáng, chút thanh tịnh hồn nhiên, mà nhà thơ vẫn hãy còn bị ray rứt, áy náy, hoang mang về “cái nghiệp” cũ của mình một cách hết sức đáng trân trọng :
                             Giá như người  xưa … cùng bầy trẻ nhỏ
                             (Mặc áo Huyền Đoan đội mũ Chương Phủ)
                             Múa ca vui với trăng rằm.
          Nếu như (lại nếu như) thuở xưa sớm tỉnh giác, sớm hiểu “tất cả các hành đều vô thường và khổ đau” (Kinh Pháp cú), mặc áo Thiền, đội mũ Lão Trang vui với thiên hiên, hoa lá, với “ánh trăng rằm” tròn đầy chưa từng thiếu mất của Phật Tánh, thì đâu có nỗi trầm luân, đâu còn sinh tử luân hồi nữa? Hình tượng “Trăng Rằm” trong từ ngữ Phật giáo Đức Phật thường chỉ cho “bản tâm, chơn như” của mỗi con người. Vui với cái “chơn như” hằng hữu trong sáng, tròn đầy ấy – thì có niềm vui nào lớn hơn đâu?
          Lại có sự soi xét, nhìn lại thấu đáo từ chính con người mình, chính sinh hoạt tâm linh đã từng dính mắc, nhiễm ô với danh lợi bấy lâu, để tuổi già gần kề, sự vô thường biến đổi đang tiến đến hủy diệt thân tâm, mới chợt biết :
                             Ta còn gì chăng ? Trái tim nguội lạnh
                             Ta còn gì chăng ? Khối óc rỗng không
                             Tầm mắt yếu không đủ nhìn cuối dặm
                             Đâu bóng con trâu nhòa nhạt giữa đồng?
          Cái “” và cái “không” ở đây phải hiểu là có phước đức, trí huệ, và không có phước đức, trí huệ, chứ chẳng phải là sự “có không” thường tình (được tính theo tiền bạc, tài sản, địa vị …). Đây là một cách “phản quan tự kỷ” nghiêm khắc thấu đạt tôn chỉ Thiền. Tự nhận mình là “đức mỏng tài hèn” hay “không có gì cả”, lời thơ tuy có hơi cường điệu (mà tính chất cuả thi ca là vậy) nhưng cho người đọc biết, nhà thơ đã có giây phút trực nhận của “trí huệ vô lậu”, đã theo cách nhìn của Đạo Phật, là nhà thơ đã “có” từ cái “không” rồi vậy!
          Hình ảnh “bóng con trâu” đã nói lên rõ nét sự quay lại, trở về, tìm kiếm chân tâm bị phủ lấp, lu mờ, nhưng buồn tiếc thay – nhà thơ đã phân vân chưa thấu rõ “đâu bóng con trâu nhòa nhạt giữa đồng”. Trong nhà Thiền, người tu Phật (hay chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo) đều phải biết mười bức tranh tu Thiền nổi tiếng “thập mục ngưu đồ”. Kẻ chăn trâu (là chính ta) đi tìm trâu, chăn giữ trâu, hàng phục trâu và đồng nhất với trâu (Tâm) là con đường đi đến giải thoát, an lạc, mà có lẽ tất cả chúng sanh đều ao ước. Tuổi đã về già, sức yếu, mắt mờ… nhà thơ đâu tìm thấy “bóng trâu” rõ ràng nữa để mà chăn giữ, hàng phục, hòa nhập với bản tâm thanh tịnh? Đây là một biểu tỏ thâm tình, chân thực nhìn nhận sự bất lực của chính mình, chứ không khoa trương, lộng ngôn, tự cho là mình đã chứng đạt.
          Đoạn cuối bài thơ làm sáng tỏ lên tâm từ, tâm bao dung, tâm hỉ xả – đây chính là cái còn lại quý báu của con người: “Sợ lưỡi rìu làm chảy máu thân cây”. Tuy nhà thơ không còn gì, có gì, nhưng quả thật anh đã có cái rất lớn, đó là tấm lòng yêu thương bao la đến muôn loài, ngay cả với cỏ cây :
                             Mặt sạm da mồi tóc râu đã bạc
                             Ta trở về quê lỡ thợ lỡ thầy
                             Muốn theo Lão Tiều non Du hái củi
                             Sợ lưỡi rìu làm chảy máu thân cây…
          Chúng ta đã hiểu nhà thơ muốn tâm sự điều này: “Đối với cỏ cây xưa nay được coi là vô tri vô giác, nhưng đã không nỡ “làm chảy máu” chúng – thì với cõi đời, với mọi người, làm sao anh không yêu thương, gắn bó, kiến tạo chúng cho tốt đẹp, để tất cả đều được hạnh phúc, an vui”. Quan yếu là ở cái Tâm từ bi chân chính ấy, chứ không phải ở những khoe trương, thủ đoạn, gian dối để mãi trôi nổi trong sinh tử khổ đau muôn ngàn kiếp.
          Tuy vẫn hiểu rằng từ thơ ca đến đời sống thực là một quãng đường dài, có nhiều đổi thay cách trở – nhưng qua cái phút giây tự vấn, tự soi lại tâm mình của nhà thơ cho ta một niềm tin yêu, rằng anh còn có những thời khắc can đảm, tỉnh giác như tếh trong cuộc đời để rèn luyện tâm mình theo dõi từng bước chân tìm về với chơn tâm, sống trong cuộc đời vô thường ngắn ngủi nhưng vẫn phải làm được đôi điều có ích cho số đông, cho quê nhà…
          Bài thơ thắm đượm sâu sắc tư tưởng Phật giáo, có chút âm hưởng của Lão Trang, là một sự hòa điệu rất vi tế, như cùng một dòng sông. Tóm lại, Bài ca ngày về của Trần Huiền Ân đã cho ta có được giây phút quý báu, để có thể tự nhìn lại đời mình, cõi tâm luôn luôn giao động của mình, để sống cho hữu ích một kiếp người vậy.
                                                         Huệ Thành –MANG VIÊN LONG                                                                                 Quê nhà

Nhớ nhà

TUTHUC (Cao Đình Thục )

Nhớ lúc tha hương nhớ cảnh nhà
Mây giăng đỉnh núi mịt mù xa
Bản làng giữ được hình trù phú
Dặm liễu còn chăng dáng thướt tha ?
Man mác nỗi niềm hồn lảng tử
Mênh mông hồi tưởng cánh Thiên Nga
Hành trang ký ức còn mang nặng
Bất chợt vui buồn chuyện đã qua.

Ngày Lập đông – 2011.nhớ nhà

Xem những bức tranh do Hitler vẽ

Các quan chức ngành tư pháp người Thụy Điển đang chuẩn bị bán đấu giá các bức tranh được cho là do chính tay trùm phát xít Adolf Hitler vẽ.

 

Theo hãng tin Pravda (Nga), tiền thu được từ buổi đấu giá các bức tranh này sẽ được dùng để trang trải cho các khoản nợ của gia đình địa phương. Tên tuổi của “chủ nợ” này không được tiết lộ. Trong trường hợp chứng thực các bức tranh này do chính tay Hitler vẽ, họ có thể thu về 15.000 USD cho mỗi bức.

Trong khi đó, cộng đồng Do Thái tại thủ đô Stockholm đã bày tỏ sự phẫn nộ liên quan tới buổi đấu giá. “Thật là không hợp lý chút nào khi có ai đó có thể kiếm được tiền từ việc bán các vật phẩm như vậy” – David Lazar, người phát ngôn của cộng đồng này, lên tiếng.

Các quan chức cho rằng họ có thể không đặt vấn đề đạo đức trong việc cân nhắc giải quyết các tranh cãi liên quan tới các khoản nợ lớn.

Khi còn sống, Hitler đã không được Viện Hàn lâm nghệ thuật Vienna chấp thuận. Khi còn trẻ, trùm phát xít này từng kiếm tiền bằng cách vẽ tranh quảng cáo và bưu thiếp.

Hồi tháng Tư năm nay, 13 bức tranh vẽ tay khác của Hitler đã được bán đấu giá tại Anh. Những người bán đấu giá thu về trên 95.000 Bảng Anh. Theo trang Zeenews, bức tranh đắt tiền nhất được bán với giá 10.000 Bảng là một bức tự họa của Hitler.

Phong cách vẽ tranh của Hitler khá đa dạng, nhưng chủ yếu là với sơn dầu và màu nước nên rất khó để kiểm chứng tính xác thực về tác giả.

Sự trong sáng và bình yên trong các bức tranh của Hitler khiến cho người ta không thể hình dung ra tác giả lại là người gây nên cuộc chiến tranh Thế giới thứ 2 thảm khốc.

Ai cũng chỉ có thể tự hỏi là tại sao một người phải chịu trách nhiệm cho cái chết của hàng triệu người lại có thể vẽ nên những bức tranh phong cảnh thanh nhã, màu sắc rực rỡ và những nhà thờ đẹp đến vậy.

Một số bức tranh khác của Hitler

Đức mẹ Mary và người con trai thần thánh Jesus Christ

   


Quách Tấn

 

 

Hàn Mặc Tử rất chú trọng về âm nhạc và màu sắc. Đó chính vì tâm hồn Tử có nhiều trạng thái cá biệt, nhiều khi rất bí ẩn u huyền; để diễn tả, phải dùng màu sắc, hình ảnh và âm nhạc–nhất là âm nhạc, vì chỉ có âm nhạc mới diễn tả nổi những cái sâu xa, thầm kín, những cái tế nhị, u ẩn của một tâm hồn.

Nhiều khi Tử phải bỏ nghĩa thông thường của chữ, bỏ cả văn phạm của câu, để cho thanh âm tiết tấu phù hợp với những biến chuyển, những rung động, những xao xuyến của tâm hồn–một tâm hồn mênh mông và đối với chúng ta có phần xa lạ–mà văn tự chính xác nhiều khi không diễn tả được thấu đáo, không diễn đạt đúng ý muốn của người thơ. Cho nên xem thơ Hàn Mặc Tử, nhiều khi không nên chấp ở chữ mà hại lời, không nên chấp ở lời mà hại ý. Và muốn nhận thức tình ý trong thơ được đầy đủ, thì phải thưởng thức nhạc thơ trước nhất, vì trong thơ Tử, nhạc đi trước mà ý theo sau, và có khi ý không ở trong lời mà ở trong nhạc.

Trong tâm hồn Tử, không có những bức thành kiên cố ngăn cách tôn giáo của mình và tôn giáo của người, nhất là đối với Phật giáo. Vì không có những bức thành kiên cố ngăn cách giữa tôn giáo mình và tôn giáo người, nên Tử đã đi tìm nguồn cảm hứng trong Đạo Bồ Đề. Và mặc dù tự xưng mình là “Thi sĩ của đạo quân Thánh Giá”, Tử vẫn không ngần ngại đem những từ ngữ, những hình ảnh của Phật giáo và dùng trong văn thơ mình, dùng cả vào trong những bài có tinh thần Thiên Chúa giáo nhiều nhất. Như bài Thánh Nữ Đồng Trinh là một.

Bài này Là những lời Tử dâng lên Đức Maria để ca ngợi “ơn phước cả”, mà Thánh Nữ đã ban cho Tử trong “cơn lâm lụy”. Trong bài có những chữ “Từ Bi”, “ba ngàn thế giới”, là chữ của nhà Phật, dùng một cách sướng khoái:

Lạy Bà là Đấng tinh truyền thánh vẹn

Giàu nhân đức, giầu muôn hộc từ bi

Tôi ưa nhìn Bắc đẩu rạng bình minh

Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới

 

Hai chữ “Từ bi”, còn thấy dùng trong nhiều bài khác:

Thơ tôi thường huyền diệu

Mọc lên đạo từ bi

(Cao Hứng)

Trời từ bi cảm động ứa sương mờ

Sai gió lại lay hồn trong kẽ lá

(Hãy Nhập Hồn Em)

Nhiều từ ngữ khác của Phật giáo, như “hằng hà sa số” “mười phương” cũng thường gặp trong thơ Tử:

Mây vẽ hằng hà sa số lệ

Là nguồn ly biệt giữa cô đơn

(Cuối Thu)

Đóng cửa mười phương lại

Dồn ánh sáng vào đây

(Điềm lạ)

Trời như hớp phải hơi men ngan ngát

Đắm muôn nghìn tinh lạc xuống mười phương

(Nguồn thơm)

Nhưng đó chỉ là những dấu tích bên ngoài. Trong thơ Hàn Mặc Tử có nhiều bài chịu ảnh hưởng cả hình thức lẫn tinh thần Phật giáo:

Bay từ Đao Lỵ đến trời Đâu Suất,

Và lùa theo không biết mấy là hương.

(Phan Thiết)

Trở lại trời tu luyện với muôn đêm,

Hớp tinh khí lâu năm thành chánh quả.

(Phan Thiết)

Ngoài những ngôn ngữ phổ thông của nhà Phật, như “thành chánh quả”, “sông Hằng”, Tử vãi tung thơ lên tận sông Hằng (Phan Thiết). Ngoài những hình ảnh đẹp đẽ của trời “Đao Lỵ”, trời “Đâu Suất” – những cõi Phật xa xăm, đầy nhạc, đầy hương, đầy ánh trăng–chúng ta nhận thấy trong bài Phan Thiết, thuyết nghiệp báo và thuyết luân hồi được thi vị hóa một cách tài tình: con chim Phụng Hoàng vì Sân Si mà phải đoạn, và khi trở lại trời tu luyện thành chánh quả rồi, mà vì tập khí chưa tiêu trừ trọn vẹn, nên phải trở xuống trần gian, “nơi đã khóc đã yêu đương da diết” để mà “chôn hận nghìn thu” và “sầu muộn ngất ngư”.

Trong bài Phan Thiết, chúng ta còn nhận thấy rằng Hàn Mặc Tử đã nhìn đời bằng con mắt giác ngộ: những hiện tượng trong cõi đời này đều là những tuồng ảo hóa:

Sao tan tành rơi xuống vũng chiêm bao,

Trăng tan tành rơi xuống một cù lao

Hoá đại điện đã rất nên tráng lệ

(Phan Thiết)

Và cõi đời này–mà Phan Thiết là tượng trưng–là nơi đau khổ, là nơi “chôn hận nghìn thu”, là nơi “sầu muộn ngất ngư”. Vì nhận biết cõi đời là giả tạo, là nơi khổ lụy, Tử đi tìm nơi giải thoát và đã tìm thấy Cực Lạc Quốc Độ của Phật A Di Đà.

Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền

(Ngoài vũ trụ)

Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc

Rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác

Rất phương phi trên hết cả anh hoa

(Ra đời)

Vì muôn kinh dồn dập cõi thơm tho,

Thêm nghĩa lý sáng trưng như thất bảo

(Đêm xuân cầu nguyện)

Những “ánh sáng vô cùng” “sáng láng cả mọi miền”, những tiếng “nhạc thiêng liêng dồn trỗi khắp hư linh”, những điệu nhạc “rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác” những “cây bằng gấm và lòng sông bằng ngọc”, ở trong Tử là vang bóng của “vô lượng quang” của “thiên nhạc”, của “hoa sen đủ màu sắc và đủ hào quang mọc trong ao Thất bảo” trên thế giới Cực Lạc mà Tử đã nhìn qua kinh A Di Đà.

Tinh thần Phật giáo còn ảnh hưởng trong nhiều văn thơ của Tử, nhưng nhiều khi hoặc quá tiềm tàng, hoặc bị hình ảnh thơ lấn đi, nên chúng ta không thấy nếu chúng ta không chú ý, không lưu tâm. “Ôi trời hạo nhiên đây không phải là công trình châu báu của Người sao? Lòng vô lượng đây không phải do phép màu nhiệm của Đấng Vô Thỉ Vô Chung?” (bài tựa Xuân Như Ý). Đó chẳng phải là chữ Tâm được thi vị hóa bằng những hình ảnh tượng trưng? Hàn Mặc Tử đã xác nhận tính chất vô thỉ vô chung của Tâm (lòng vô lượng), mà biểu hiện mầu nhiệm là Mùa xuân thơm tho, trong đẹp, tràn lan khắp không gian (trời muôn trời) chen lấn vô tận hồn tạo vật, và tồn tại cùng thời gian (năm muôn năm). Nhưng vì là một tín đồ Thiên Chúa Giáo, Tử đã quan niệm cái Tâm bất sanh bất diệt là Đấng Vô Thỉ Vô chung, và coi những hiện tượng do “lòng vô lượng” đã “đưa ra” kia là “công trình châu báu” của Đức Chúa Trời, nên Tử “cao rao danh Cha cả sáng”. Như thế Hàn Mặc Tử có phải là một nhà thơ của đạo Thiên Chúa? Nghĩa là Tử phải có một tín đồ dùng thơ để phụng sự tôn giáo mình? Thưa không phải. Tử tìm vào Đạo – Đạo Thiên Chúa cũng như Đạo Phật chỉ để tìm nguồn cảm hứng, để tìm nguồn an ủi khi bị tình đời phụ rẫy hoặc thể xác dày vò. Lý tưởng chính của Tử là Thơ. Tôn giáo chỉ là những yếu tố phụ vào để làm cho thơ thêm giầu sang và trọng vọng. Do đó nhiều khi bị hứng thơ lôi cuốn, Tử đã thốt ra những lời có thể gọi là “phạm thượng” đối với những Đấng Thiêng Liêng mà Tử phụng thờ. Ví dụ đương quỳ trước Thánh Nữ Maria để ca ngợi ơn cứu nạn, mà Tử dám nói:

Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ;

Dòng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ

Bút tôi reo như châu ngọc đền vua

Thật chẳng khác nào đứng nói cùng một người ngang hàng ngang lứa hoặc Nàng Thơ! Thậm chí trong khi cầu nguyện lúc đêm xuân, mà chàng vẫn để tứ thơ ngang tàng theo hứng:

Ta chắp tay lạy quỳ hoan hảo,

Ngửa trông cao cầu nguyện trắng không gian,

Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân

Nở một lượt giàu sang hơn Thượng Đế

(Đêm xuân cầu nguyện).

Nghĩ đến những gì “giàu sang hơn Thượng Đế”, Tử biết là một tội lỗi lớn, nên tiếp đó chàng van lơn thầm nguyện:

Tôi van lơn, thánh nguyện Chúa Giêsu

Ban ơn xuống cho mùa xuân hôn phối

Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi

Lời xưng tội vẫn không thật nghiêm trang thành kính! Trong khi viết những lời tạ tội, Tử đã nghĩ đến thơ nhiều hơn nghĩ đến Chúa, mặc dù Tử luôn luôn thờ Chúa trên thơ.

Còn đối với Đạo Phật? Hàn Mặc Tử đi vào Đạo Từ Bi không phải để tu, mà cũng không phải để tìm hiểu những gì cao siêu huyền diệu. Tử vào Đạo Từ Bi cũng như một lãng nhân vào vườn hoa nghìn hương muôn sắc. Vào không phải với mục đích của nhà vạn vật học hay nhà làm vườn, mà vào với tấm lòng con nhà nghệ sĩ khoáng đạt phong lưu. Vào để thưởng thức những cái Đẹp khác thường vừa giàu sang vừa thanh thoát. Hoa có bao nhiêu hương giống, cũng không cần biết. Vườn hoa có tự bao giờ và rộng đến đâu, cũng không cần biết nốt. Mà chỉ biết rằng có nhiều hương lạ, nhiều sắc lạ, và chỉ biết trải lòng mênh mông. Rồi những gì đã thấm vào tâm khảm thỉnh thoảng trào ra ngọn bút những lúc Thơ về, khi thì đượm đà, khi thì phảng phất, khi thì hiển hiện, khi thì ẩn tàng và tràn ra một cách tự nhiên, khiến lắm lúc nhà thơ rưởng rằng đó là do mình sáng tạo ra chớ không ngờ rằng mình đã chịu ảnh hưởng,

Và tất cả những gì đã thâu nhập được trong tôn giáo, trong Phật giáo, cũng như trong Thiên Chúa Giáo – một khi đã vào thơ Tử thì không còn giữ nguyên chất, vì đã bị tâm hồn Tử biến thể, pha trộn theo quan niệm và sở thích của mình. Tử thường nói cùng bạn rằng: “Tôi lợi dụng văn chương và triết lý nhà Phật để làm thơ mà thôi. Tôi dung hòa cả hai thể văn và tôn giáo: Thiên Chúa và nhà Phật. Đó chính là muốn làm giầu cho nền văn chương chung.”

Bởi vậy, khi đọc Hàn Mặc Tử, chúng ta nên mở tấm lòng cho rộng rãi, đừng chấp về mặt tư tưởng cũng như về mặt ngôn từ, thì mới dễ cảm động cùng con người thơ phức tạp, mới tận hưởng được tất cả những gì sâu kín ẩn khuất dưới những hàng mây ráng lung linh.

(Nha Trang, mùa xuân Tân Sửu, 1961)

Cảm xúc thu về

    Nguyễn Thị Tiết

Thu đã về rồi phải không anh

Phố Thu xao xác lá trên cành

Sương Thu giăng nhẹ như hơi thở

Phảng phất hương nồng nụ hôn xanh

.

Đêm Thu man mác em nhớ anh

Trăng Thu bàng bạc chiếu qua mành

Em nghe tiếng gió ngoài song cửa

Ru giọt sương buồn rơi long lanh

.

Vọng tiếng ve sầu đón gió Thu

Lao xao mặt nước dưới sương mù

Thuyền tình neo bến chờ lữ khách

Đêm tàn vẳng tiếng nhạc vi vu

.

Thu về lòng em chợt ngẩn ngơ

Mưa Thu giăng mắc – dáng Thu chờ

Bóng anh theo gió- hồn Thu nhớ

Dệt mộng Thu vàng- những đường tơ.

8 – 2011

Ấm lạnh xứ người

Sương Nguyễn

Sáng nào bà Năm cũng dậy thật sớm , lo cho các con ăn sáng . Khi thì một chảo cơm chiên lạp xưởng, khi thì nồi bún riêu . Bà được con bảo lãnh qua hơn một năm rồi . Lúc mới qua , bà buồn lắm , con cái đi làm hết , bà mở cửa lớn nhìn hai bên hàng xóm , nhà nào nhà nấy cửa đóng im ỉm, không một bóng người đi qua đi lại . Con bà trước khi đi làm có dặn bà là không được mở cửa cho người lạ vào nhà , không được chạy qua nhà hàng xóm để nói chuyện . Ở bên nầy nhà người nào ngừơi nấy ở , tuyệt đối không được chạy qua chạy lại nhà họ như ở VN . Con bà có dặn bà cũng dư thừa , có biết tiếng Anh ,tiếng u gì đâu mà nói chuyện với người ta .Riết rồi cũng quen, bà ra sức trổ tài nấu nướng cho các con ăn , thì giờ còn lại bà làm bạn với những cuộn phim bộ Đại Hàn , cười cười, khóc khóc với những nhân vật trong phim .

Năm 1980 bà bán cái nhà cho thuê ở gần chợ Tân Định , gom được một số vàng cho bốn đứa con đi vượt biên . Nhờ ơn trời Phật phù hộ và phước đức ông bà để lại , chuyến đi trót lọt và hai năm sau đó ,các con bà được định cư ở Mỹ . Khi thằng Hai đã yên bề gia thất , các em nó đã ra trường, có việc làm ổn định , chúng nó hùn tiền lại mua một căn nhà lớn , 5 phòng ngũ , lúc đó chúng mới nghĩ đến chuyện bảo lãnh cho bà qua sum họp một nhà . Cũng may là bốn đứa con đều có công ăn việc làm ở gần nhà , không thôi bà phải khăn gói nay ở với đứa này vài bữa, mai ở với đứa khác vài bữa . Khổ lắm !

Xem xong một tập phim, khóc gần hết nước mắt vì mũi lòng với tình cảnh người cha trong phim . Thấy hai cô con gái khổ sở vì nghèo túng phải đi cầu cứu sự giúp đỡ của người cha giàu có của mình , bị cha đuổi ra khỏi nhà và rốt cuộc bị tai nạn chết dọc đường, bỏ lại hai cô con gái còn nhỏ bơ vơ, không nơi nương tựa . Bà xem đồng hồ , đã quá hai giờ , đến giờ nấu cơm cho các con . Bà lấy cá thịt, rau, trái cây bỏ trên quầy nhà bếp , chuẩn bị nấu cơm tối và làm bánh trái cây tráng miệng cho chúng .

Thằng Hai về trước tiên, kế đến con vợ nó . Chúng nó chun mũi lại, hít lấy hít đễ :

– Mẹ nấu cái gì mà thơm quá vậy mẹ ? Bữa nay mẹ cho chúng con ăn món gì vậy ?

-Mẹ đang làm bánh trái cây , bữa nay mẹ um lươn với bắp chuối, thịt sườn kho rim và canh chua cá bông lau .

Con Đào với thằng Kiên , Tuyền cũng vừa bước vào :

-Nhất mẹ rồi ! không ai nấu nướng ngon bằng mẹ của con .Từ ngày mẹ qua đến giờ con không có tốn tiền ăn vặt ở ngoài đường nữa .

Bà ngồi nhìn các con ăn mà thương chúng vô cùng . Đã lớn đầu mà còn ăn uống ham hố như hồi còn nhỏ . Gặp món gì ngon là chúng chỉa ngay món đó ăn trước và ăn ràu ràu như tầm ăn dâu . Không ai nuôi con dễ như bà , đồ ăn vừa nấu xong để trên bếp , quay qua quay lại là hết sạch, không đợi dọn lên mâm lên bàn . Con bà lúc nào đi học về cũng kêu vang đói bụng và lấy tô ăn ngay trên bếp . Bởi vậy, chúng cao lớn , dềnh dàng như người ngoại quốc , chúng nó bảo với bà nhờ vóc dáng như vậy vào làm việc chung đụng với người ngoại quốc , không bị họ ăn hiếp . Bà tuy buồn vì xa quê hương đất tổ, xa bà con hàng xóm láng giềng nhưng bù lại được sống gần gũi con cái là bà vui rồi . Ngày ngày chỉ mong chúng tan sở sớm về nhà để thưởng thức những món ăn mà bà đã bỏ cả ba bốn giờ để sửa soạn và nấu nướng công phu bằng lửa riu riu để cho đồ gia vị thấm vào thịt hay cá.

Nấu những món ăn thuần túy quê hương và có một hương vị độc đáo là sở trường của bà , bà muốn truyền nghề lại cho con Đào, nhưng con gái bà chả muốn học , nó dành hết thì giờ của nó để o bế cái vóc dáng bên ngoài . Bà thở dài , sang bên này,cái gì cũng ngược lại quê nhà , con gái chỉ chú trọng đến sắc đẹp và quần áo, tụi nó không chú trọng gì đến cái nết na thùy mị , đoan trang hay học nấu ăn ,làm bánh để chuẩn bị làm vợ , làm mẹ như thế hệ bà ngày xưa .

Bà cảm thấy mệt mỏi sau khi coi xong hai tập phim bộ liên tiếp, bà đứng dậy hé màn nhìn ra bên ngoài . Đường sá vắng ngắt, không một bóng người . Xứ sở gì kỳ cục ! Lạnh lùng như nước đá , giá như nhà hàng xóm có người chết trong nhà , nhà sát bên cạnh cũng không hề hay biết gì . Nếu không có đám con nít sau giờ học, chạy nhảy la hét rân bần ở sân trước , khu nhà tĩnh mịch trông giống như một khu nhà hoang vào buổi sáng .

Bà vào phòng lấy quần áo, chuẩn bị tắm rửa trước khi sửa soạn nấu bữa cơm tối cho các con . Bận quần áo xong , bà bước trệch ra ngoài miếng thảm lót, chân dẫm lên vũng nước ở ngoài bồn tắm, bà mất thăng bằng ,trợt té xuống, đầu đập mạnh lên thành bồn . Bà hôn mê bất tĩnh, không còn biết chi nữa .

Khi vợ chồng Lâm , Đào , Kiên và Tuyền về đến nhà , thấy bếp núc lạnh ngắt . Biết có chuyện chẳng lành, họ hốt hoảng chạy tuôn vào phòng tìm mẹ . Thấy mẹ nằm dài trong buồng tắm còn thở thoi thóp , Lâm gọi xe cứu thương nhưng đã trễ ,bà Năm đã biến thành người bán thân bất toại , nằm một chỗ, không tự lo cho mình được .

Sau khi xuất viện về nhà, bà Năm trở thành một gánh nặng cho các con bà . Chúng xin đổi ca làm , thay phiên nhau ở nhà để săn sóc cho bà . Khổ nhất là vấn đề làm vệ sinh cho mẹ , thật là khó khăn khi phải tắm rửa, gội đầu hay thay tả cho mẹ . Cuối cùng chúng đi đến quyết định là đem bà vào viện Dưỡng Lão . Dù nói không được, bà nhìn các con van lơn , nước mắt chảy dài , muốn nói

-Mẹ không muốn! Mẹ không muốn ! mẹ là người quê mùa, chất phát người ta sẽ khinh mẹ . Mẹ không ăn được đồ Mỹ ,các con hãy tìm người về nhà săn sóc cho mẹ .

Nhìn nước mắt mẹ chảy dài , các con bà Năm hiểu bà Năm muốn gì , nhưng chúng giả vờ như không hiểu vì chúng nó còn trẻ, còn yêu đời . Chúng không muốn mỗi ngày đi ra đi vào thấy một xác chết chưa tắt thở, nằm hiu hắt trên giường bệnh . Đưa bà vào viện Dưỡng Lão là xong chuyện

Đêm đầu tiên ở Viện Dưỡng Lão , bà Năm ngủ không được . Đèn mở suốt đêm ở ngoài hành lang, người bạn già người Mỹ ở chung phòng,khuôn mặt nhăn nhúm , đôi mắt buồn da diết , chốc chốc lại khóc nấc lên :

– Michael ơi ! sao con không vào thăm mẹ ? Michael ơi !

Bà cũng nhớ con nhưng bà khóc trong âm thầm lặng lẽ . Bà oán trách trời xanh cay nghiệt đã làm cho bà thân tàn ma dại , không cho bà cùng với các con đi trọn suốt đường trần .

Đến sáng họ dọn trước mặt bà một tô cereals với sữa và một ly nước cam . Bà thều thào ra dấu với người nữ y tá : cháo ! cháo ! nhưng cô ta không hiểu ý bà muốn nói gì . Bà uống cạn ly nước cam trong khi bụng đói làm cho bao tử bà cồn cào, khó chịu thêm lên .

Giữa trưa , cô y tá bưng một khay thức ăn đặt trên giường bà với một ly sữa . Bà ngồi nhỏm dậy nhìn mâm thức ăn , rồi lại nằm xuống . Đói lả người mà ăn những thứ đó ăn cũng không vô . Ai đời mà cho người già cả và bệnh nhân ăn đồ sống sít : rau dền Mỹ sống , nấm trắng cắt mỏng sống, một lát meatloaf ăn xảm lơ . Ít nhất họ cũng phải biết cuống họng người già không được bình thường, dễ bị sặc , chỉ ăn được những đồ mềm như cháo , cá, yogurt , soup hay khoai tây tán nhỏ . Bà vói tay lấy ly sữa uống sạch thay cho bữa trưa . Một giờ sau cô y tá quay trở lại , thấy mâm đồ ăn còn y nguyên, nghiêm khắc nhìn bà lắc đầu rồi đem đổ mâm đồ ăn vào thùng rác .

Ngày qua ngày , bà càng ngày càng tiều tụy . Tháng đầu tiên con bà vô thăm thường xuyên , mỗi lần thấy con , bà nắm lấy tay nó mà hai hàng nước mắt lăn dài . Bà ra dấu với nó là bà muốn về nhà . Chúng vỗ về .

-Má cứ ở đây ! người ta săn sóc cho má chu đáo . Họ có những dụng cụ y khoa đặc biệt có thể tắm rửa cho má dễ dàng . Về nhà tụi con bận phải đi làm , làm sao các con có thì giờ lo cho má được .

Họ lo cho má chu đáo lắm với những khuôn mặt lạnh lùng , không cảm xúc . Không dỗ , mớm đút mỗi khi người già trở chứng , không chịu ăn . Bỏ người già trần truồng trên xe lăn, cột chặt lại. rồi quây tròn dưới vòi nước , dùng bàn chải lớn thoa xà phòng , kỳ cọ khắp người họ , mặc cho mấy bà già la chói lói vì sợ nước , vì tia nước ra đầu tiên bao giờ cũng lạnh cóng , làm cho họ run lẩy bẩy . Đa số người Mỹ không thương hại người già yếu , họ chỉ quan tâm đến con cái hay con mèo, con chó nuôi trong nhà mà quên đi mất mình còn cha hay còn mẹ đang chờ chết trong viện Dưỡng Lão .

Trường hợp bà Năm không ngoại lệ . Đến tháng thứ hai , thỉnh thoảng chúng nó mới vô thăm bà mặc cho bà buồn tủi vì nhớ nhung các con . Bà gầy ốm thấy rõ vì không ăn được đồ ăn Mỹ . Ăn được hay không được , con bà chẳng quan tâm vì chúng đang hò hẹn, chuẩn bị xây tổ ấm mới và dọn ra ở riêng .

Liên gọi cho Đào : Cuối tuần nầy mình không làm thêm giờ phụ trội . Đào dẫn mình đi thăm bác gái đi .Từ ngày nghe tin bác bệnh tới giờ, mình không rảnh được một ngày để đi thăm bác .

-Mình có hẹn sáng mai đi biển với anh Luân rồi . Hay là bồ đi một mình đi, dễ tìm lắm . Từ Freeway 10 đi đường North Gessner qua khỏi Kempwood thì viện Dưỡng Lão nằm bên trái , phòng số 42 .

Thấy Liên bước vào phòng, bà Năm nhìn ngóng ra cửa, tưởng Đào đưa Liên vào thăm bà . Hiểu ý, Liên nói dối với bà .

-Đào bận làm thêm giờ cuối tuần, không đi với con được , con đi một mình .

Nghe tôi nói xong, bà rơm rớm nước mắt , không biết là vì tủi thân hay là vì biết tôi nói dối . Tôi lấy khăn lau nước mắt cho bà , xót xa nhìn bà gầy còm , da bọc xương . Tôi lột vỏ nho, lấy hột , đút cho bác ăn .

-Sao bác xuống cân nhanh quá như vậy ? Bác sĩ bảo bác chỉ bị tê liệt nửa người, cơ thể bác rất khỏe mạnh, không có bệnh gì khác .

Bác thều thào ra dấu : Đói ! không ăn được đồ Mỹ . Bác thèm canh chua , cá kho tộ, thịt kho .

Tôi hứa với bác ,lần sau vào thăm sẽ đem lén cho bác một ít và nấu thật mềm . Lời hứa của tôi đã không thực hiện được . Hai tuần sau đó tôi được tin bác mất trong viện Dưỡng Lão .

Tôi bước chân vào nhà quàn Thiện Tâm , trầm hương nghi ngút. Có các vị thượng tọa và các ni cô đang tụng kinh cho hồn bác được siêu thoát .Bác nằm thật an bình ,chung quang bác là những vòng hoa huệ ,cúc và hoa hồng trắng thơm ngát . Các con bác trong bộ đồ tang, nước mắt lưng tròng , sì sụp lạy trả những người khách đến thăm viếng . Khách thầm thì to nhỏ . Bác thật có phúc ! được con cái lo chu đáo như thế kia . Lần đầu tiên tôi thấy một đám tang có nhiều hoa như vậy ! Chắc cái hòm đó mắc tiền lắm thì phải ? Không một ai trong đám khách biết là người nằm trong hòm chết vì đói .

SƯƠNG NGUYỄN

Phận bạc


Truyện ngắn của Nguyễn Quang Quân

 

          Ở vùng Sông Tình, có người con gái họ Nguyễn xinh đẹp và nết na. Sinh ra trong một gia đình nho giáo, nàng cũng theo đòi đèn sách. Cha là một học sanh, học rất giỏi, lúc mười bảy tuổi đã vào trường Giáo phủ Tuy Viễn, mỗi năm hai kỳ sát hạch, văn tài của ông thường được các giáo thụ khoa bảng xếp hạng ưu. Nhưng học tài thi phận, dự hai khóa thi hương cũng chỉ vào được trường nhì. Tự nghĩ mình không có số khoa bảng, ông về nhà mở trường dạy học. Vì là người học rộng, tuy không đỗ đạt gì, nhưng được kẻ sĩ hàng phủ huyện nể vì, học trò thụ giáo rất đông. Người anh cả cũng được tiếng thông minh học giỏi, năm hai mươi tuổi trúng tuyển làm học sanh trường Đốc tỉnh, được các thầy ngợi khen và tin tưởng tương lai sẽ là ông Cống, ông Nghè của tỉnh, tiếc thay ông thất lộc sớm vì bạo bệnh, trong lúc tiền đồ đang rộng mở. Chỉ ba hôm sau, vợ ông cũng đi theo để lại trên đời một đứa con trai mà ngay lúc còn thơ ấu đã bộc lộ tư chất thông minh dĩnh ngộ.

          Tuy là thân con gái, nhưng từ nhỏ nàng lộ rõ vẻ thông minh, sáng láng, đã theo học chữ Nho từ cha, rồi anh cả mình trực tiếp chỉ dạy. Học đâu nhớ đó, tuy không đọ sức nơi trường thi, nhưng chữ nghĩa đủ hiểu sách vở thánh hiền, đối đáp văn chương linh lợi.

          Một hôm, nàng qua nhà anh cạnh đó để nghe lóm giảng sách. Thấy nhà còn đóng cửa, mà đám học trò thì đang bàn tán xôn xao. Nàng hỏi qua mới biết, học trò đến học, thấy nhà đóng cửa mà bên trong thì nghe có tiếng rúc rích và tiếng giường kêu ọt ẹt, các trò bấm nhau cười. Thầy nghe thế liền ra câu đối, bảo nếu đối được thì mới mở cửa cho vào học :
” Sĩ đáo ngoại gia, thầm bất thầm, thì bất thì, thầm thì thầm thì”.

          Các anh học trò trên tuổi nàng bí quá không biết đối sao. Nghe thế, nàng mỉm cười, hồn nhiên bảo: Thầy thương các anh nên chỉ ra một câu đối quen thuộc của dân gian. Thế thì các anh dùng câu này đối lại :

        ” Sư ngọa trung phòng, ọt bất ọt, ẹt bất ẹt, ọt ẹt ọt ẹt!”

          Quả nhiên, câu đối vừa đọc lên, đã nghe tiếng khen của thầy: “Được lắm!” và hai cánh cửa rộng mở, học trò mừng rỡ ùa vào phòng học.

          Đến tuổi cài trâm, nàng như một bông hoa đồng nội thơm nức sắc hương, bao nhiêu chàng trai nhìn ngó quanh nhà, bao đôi mắt dõi nhìn khi nàng bước chân ra khỏi cổng. Nhiều công tử nhà giàu trong phủ, ngoài huyện đánh tiếng mối mai, nhưng nàng vẫn thờ ơ, từ chối.

          Hôm đó, có công tử con nhà thế gia trong huyện, bạn học của anh nàng đến thăm. Hai người ngồi nhà trên luận bàn thi phú. Anh nàng muốn giới thiệu cô em gái giỏi giang của mình cho bạn, nên đã dặn trước vợ mình nhờ em lo trà nước tiếp khách. Nàng vừa bưng nước lên, rót trà mời anh và khách, thì khách đã sỗ sàng cất tiếng:

– Này, nghe tiếng cô em hay chữ, nhờ cô giải giúp chữ này nhé!

Nói xong, anh ngâm nga:     

Lưỡng Nhật, bình đầu nhật.
Tứ Sơn, điên đảo sơn.
Lưỡng Vương, tranh nhất quốc.
Tứ Khẩu, tung hoành gian.

          Đó là chữ gì vậy cô?

          Nàng lễ phép thưa:

         – Các anh là người tài cao, học rộng, hà cớ hỏi em chi? Nhưng thầy đã hỏi thì em xin đáp: Đó là chữ Điền.

         – Cô giải thích rõ xem sao!

         – Có gì khó hiểu đâu! Đó là chuyện cụ Trạng Mạc Đĩnh Chi đối đáp sứ Tàu. Câu đố có thể diễn giải như sau: Hai hình chữ nhất để bằng đầu, sóng hàng nhau – các cạnh của nó tạo ra chữ Điền. Bốn trái núi, điên đảo. Bốn chữ Sơn sắp ghép theo hai chiều, dọc – ngang, cũng tạo thành chữ Điền. Hai ông vua tranh nhau một nước. Hai chữ Vương ghép lại trên, dưới – cũng thành chữ Điền. Bốn cái miệng ở trong khoảng dọc, ngang – bốn chữ Khẩu ghép lại cũng tạo thành chữ Điền.

          Thì ra cô đọc sách nhiều, kiến văn rộng, biết được giai thoại này, nên có thể giải ngay một câu đố khó đã làm cả vua tôi nước Nam lúng túng.

          Chàng công tử ngẩn người ra nhìn cô gái, một mối xúc cảm dậy lên trong lòng: Cô ấy thật xinh đẹp và tài hoa, tiếng đồn quả chẳng sai! Sau lần gặp, chàng đã phải lòng cô gái, mấy tháng sau, chàng thưa chuyện với cha mẹ, xin hai thân hỏi cưới cô gái ấy cho mình. Hai nhà đều là thế gia trong huyện, môn đăng hộ đối, kết sui gia với nhau cũng tốt. Nhưng rồi….

          Lúc ấy gia đình nàng rơi vào cơn quẫn bách. Vợ chồng anh cả qua đời, để lại đứa con côi mà cha mẹ nàng phải nuôi dưỡng. Rồi cha buồn cảnh nhà cũng mất sớm. Gia đình trong cơn khủng hoảng, lâm vào hòan cảnh khó khăn, túng thiếu. Là thân con gái lớn, nàng phải trực tiếp săn sóc mẹ già, đứa cháu côi và đàn em bốn đứa sau mình.

          Bao nhiêu việc nhà, ruộng nương, vườn tược, một tay nàng quán xuyến. Thế là tuổi cập kê qua đi nhanh chóng. Quanh năm suốt tháng đầu tắt, mặt tối lo toan công việc gia đình, không làm dung nhan tàn phai, ngược lại nhan sắc nàng ngày càng ngời ngợi, rực rỡ như ánh trăng rằm, mười sáu sáng rỡ. Ba, bốn năm sau, nhờ đôi tay thu vén của nàng, cảnh nhà đã trở lại phong lưu, thóc lúa đầy kho, của ăn của để sung túc. Mẹ già nhìn đứa con gái lớn mỉm cười tự hào, nhưng lòng vẫn đau đáu niềm riêng. Sao con lại phải muộn chồng?

         Năm nàng mười chín tuổi, vâng lời mẹ và anh, nàng nhận lời kết duyên với một chàng thư sinh tân học, làm thư ký công sở, con ông Chánh làng bên. Ngày thành hôn, chú rể đau nặng phải võng đến nhà gái run rẩy làm lễ. Về nhà chồng, nàng một thân cáng đáng mọi việc, chăm sóc cha mẹ tuổi già và nuôi chồng đau yếu. Bệnh ông mỗi ngày một nặng, bao nhiêu thuốc thang cũng không chữa khỏi. Mấy tháng sau ông qua đời, chưa kịp động phòng với người vợ mới cưới!

         Cha mẹ chồng khóc thương con trai đầu xanh ra đi, thôi đành phận số. Nhìn đứa con dâu hiếu nghĩa đủ đường, lại càng áo não hơn. Ông bà vẫn khuyên nàng quên đi đau buồn, đi thêm bước nữa.

         Sau ba năm, nàng tái duyên với một ông học vấn tầm thường, nhưng tốt tính. Từ trước, ông vẫn mến mộ nàng, nhưng không dám hỏi. Lần này, trớ trêu thay, ngày cưới nàng đau liệt giường. Võng hoa cô dâu là võng đưa người bệnh, người nhà cố gắng dìu đỡ nàng làm lễ. Từ đó, ông chăm sóc người vợ đau yếu của mình hết lòng, cho đến ngày bà mất. Duyên số trêu phận má hồng đến cay nghiệt!

         Nghe đâu, đến phút lâm chung, nàng vẫn gượng cầm lấy tay ông, mắt nhòa lệ mà như mỉm cười, đọc câu thơ tuyệt mệnh:

                  Hai chồng, em vẫn còn trinh

          Phận sao bạc đến duyên tình trống không!

 

12.3.2011