Feeds:
Bài viết
Bình luận

Nguyên sơ

Nhật Chiêu

Nguyên sơ

Sau ái ân,nàng nằm nhắm nghiền mắt.thả mình trong một dư cảm nguyên sơ,thì bỗng nhiên từ cửa sổ vọng lên tiếng rên dữ dội,anh ơi em chết mất,một tiếng rên tội lỗi hoàn hảo phát xuất từ một con vẹt xanh đang đu đưa trong lồng.

Bầu trời

Sau khi bay xa mặt đất,Diều tự bứt giây để lên cao hơn nữa,thế nhưng bầu trời lại đảo lộn bất ngờ

Ma mỹ nữ

Khi Don Quixote chết,cô gái xấu xí từng trú trong mộng của chàng như một giai nhân tuyệt thế quyết định chết theo chàng để có thể biến thành ma mỹ nữ

Mây

Từ cửa sổ trong bóng đêm,đôi khi tôi thấy nàng bay qua tựa như một áng mây nhỏ, đôi khi tôi thấy áng mây bay qua tựa như nàng và tôi bám theo hư ảnh đó như một đứa bé bò theo một quả bóng đang từ từ lên không.

Chí Tôn

Gặp cóc,Trời xin từ nhiệm vì không muốn làm Trời nữa.Cóc khuyên giải ” Cháu bắt chước con người làm gì,như ta đây là Cậu của Trời phải cai quản mưa,nếu ta từ nhiệm thì cả thiên hạ đành chết khát, Cóc và Trời là không thể thay thế,vậy mới là Chí Tôn ! “

Nếu được

Truyện ngắn Nguyễn Hữu Duyên

Khi tôi dừng xe, anh chủ nhà ra ngõ chào tôi và nhìn tôi có vẻ thảng thốt trong một thoáng chốc rồi quay lưng đi về phía đường luồn sát hông nhà, bảo tôi đi theo ra chuồng heo. Như đã thống nhất thời gian, giá cả giữa vợ anh và vợ tôi lúc sáng, tôi xách rọ bước vào chuồng. Một tay tôi đưa rọ vào chận trước đầu, một tay cầm đuôi đẩy nhẹ thì con heo đã vào rọ gọn gàng. Anh chủ nhà phụ tôi khiêng con heo ra trước sân, nơi có cái cân treo và một khúc tre dài, thẳng để sẵn. Khi cân, dù cái đòn cân còn đang chổng lên, anh không kéo trái cân ra nữa, mà anh lại nói với vợ anh đang đứng một bên: 55 ký. Thực sự là tôi bị bất ngờ, bởi cái móc trái cân nằm ở vạch 58 ký. Đây là lần đầu tiên tôi gặp phải trong nghề bắt heo. Tôi không tin vào tai của mình. Tôi nhìn vào mặt anh như để tìm câu trả lời. Như để tránh ánh mắt thắc mắc của tôi, bởi anh tin chắc như vậy, anh thản nhiên bước vào nhà, còn chuyện tiền nong thì vợ tôi tính với vợ anh.

Tối về, tôi mới nhớ ra anh là học viên lớp 7 bổ túc văn hóa ban đêm ở trung tâm thị xã, còn tôi là giáo viên môn ngữ văn của lớp ấy gần 15 năm về trước. Có lần, trong một tiết học ngữ pháp, tôi gọi anh lên bảng, bảo anh viết một câu có thành phần trạng ngữ chỉ nguyên nhân. Anh lên bảng, sau một thoáng suy nghĩ, anh nhìn tôi rồi quay sang, viết: “Vì muốn có thêm tiền, nên thầy đi dạy thêm bổ túc văn hóa ban đêm”. Và, anh lên mô hình câu chính xác từ thành phần trạng ngữ đến cụm chủ – vị. Tôi thật sự bất ngờ vì câu ví dụ này của anh. Lúc đó tôi lúng túng và chỉ biết mời anh về chỗ với nụ cười gượng gạo. Anh đã xúc phạm tôi. Tôi không còn nhớ là mình dạy cái lớp bổ túc văn hóa ban đêm này được bao lâu, nhưng qua bữa đó, tôi báo cáo với người phụ trách là tôi không thể tiếp tục được nữa với lý do vì nhà tôi cách chỗ dạy gần 10 cây số mà đường đi lại về đêm trong thời điểm đang mùa mưa nên khá là vất vả. Tôi không muốn phân bua cùng anh học viên đó về nội dung của câu ví dụ từ cách nhìn của anh. Bởi làm sao anh hiểu tôi thích cái nghề dạy học như thế nào? Anh đã chạm vào nỗi đau của tôi. Hồi còn học vỡ lòng, tôi học giỏi nhất lớp, nên thầy giáo tin tưởng giao cho tôi sửa, chấm bài cho cả lớp, khi thầy mắc tiếp khách hay bận một công việc nào đấy. Mới chỉ năm, sáu tuổi mà đã làm công việc của một ông thầy, thật thích. Lũ bạn cùng lớp biết thế nên thường hay đem trái cây của vườn nhà “hối lộ” tôi. Đứa nào không có thì tôi ngang ngay sổ thẳng. Đứa nào đưa cái khế thì tôi sửa lại một phần chỗ sai và cho 7 điểm, còn ổi thì 8 điiểm, mà xoài tượng thật ngon thì 9 điểm, 10 điểm…Đặc biệt là không đứa nào dám hó hé với thầy, bởi sợ tôi thù vặt thì ngồi mãi cái lớp vỡ lòng. Cái cảm giác vui sướng được làm thầy của tôi bắt đầu từ đó. Nghe những người lớn tuổi trong làng thường nói với nhau, “mồng một tết cha, mồng ba tết thầy”, tôi lại càng khoái trong bụng, cứ nghĩ mai này mình sẽ làm thầy thì oai biết chừng nào. Lên lớp ba, tuy vẫn học ở trường làng, nhưng tôi may mắn gặp một người thầy có kiến thức rất rộng, dù chỉ là một giáo viên tiểu học. Hình ảnh của thầy thật đạo mạo và sang trọng, chân đi giày xăng – đan, áo sơ mi trắng bỏ trong quần tây được ủi thẳng tắp, túi áo có hai cây bút, một cây nguyên tử màu đỏ dùng để sửa bài, chấm điểm, một cây pilot màu xanh dùng để soạn bài, ra bài tập. Và, tôi mê cái nghề dạy học bắt đầu từ đó. Nhưng người ta thường nói, mơ ước là một chuyện, thực tế lại là một chuyện khác. Sau ngày giải phóng, tôi được điều về công tác tại phòng thống kê của thị xã, ngày 8 tiếng bù đầu với những báo cáo, con số, dự báo, và ước mơ làm thầy càng ngày càng lùi xa. Năm này tháng nọ trôi qua. Đến những năm đầu của thập niên 80, do biết tôi thích nghề dạy học, anh bạn rủ tôi đăng ký dạy bổ túc ban đêm, vừa thỏa mãn sự ham thích, vừa có tiền phụ thêm vào cuộc sống sinh hoạt của gia đình…
Đúng là trái đất tròn! Ngày ấy tôi gặp anh trên cương vị thầy trò, tôi kiểm tra bài, cho anh điểm 9; ngày nay, sau gần 15 năm, anh là người bán heo, anh tặng tôi, người mua heo 3 ký heo hơi. Nếu không có cái ngày tôi rời khỏi cơ quan nhà nước vì nằm trong danh sách giảm biên thì có lẽ tôi và anh không gặp nhau trong cảnh kẻ bán người mua chẳng dễ chịu tí nào này. Dù sao tôi cũng cảm ơn anh vì đã nghĩ một chút nghĩa ngày xưa tôi từng  đứng trên bục giảng truyền đạt những kiến thức cơ bản góp một phần nhỏ để anh có thể viết được một câu tròn trịa, ít lỗi chính tả trong báo cáo công tác của cơ quan gửi lên cấp trên. Ngày ấy hay bây giờ cũng thế, tôi không hề trách anh, bởi thực tế có rất nhiều thầy cô giáo phải làm thêm nhiều việc để sống vì đồng lương quá ít ỏi, không thể kham nổi, đến nỗi họ phải bán thuốc lá cho học sinh khi đến nhà mình học thêm, và bí quá, họ nhảy tàu Bắc – Nam để mua bán hàng lậu, khi được nhiều, khi trắng tay. Anh bạn tôi dạy phải môn sử địa, không buôn lậu, không bán thuốc lá cho học sinh, cũng chẳng ai đến học thêm để mà dạy kèm, nên chuyển sang bốc vác đường bột ở chợ để chia sẻ với vợ con, lo toan cuộc sống gia đình trong thời buổi khó khăn. Riêng tôi thì nghề dạy học là nghề tôi yêu thích nhất từ hồi còn bé nên tôi đến với cái lớp bổ túc văn hóa ban đêm ấy như là một sự hiếu kỳ pha lẫn một chút thích thú muốn khám phá cái công việc mà từ nhỏ tôi yêu thích, chứ  không phải vì muốn kiếm thêm tiền, bởi tôi đang là cộng tác viên thường xuyên, có uy tín với đài tỉnh, nhuận bút hàng tháng tôi nhận còn khá hơn nhiều. Nếu ngày ấy anh hiểu được tôi, chắc anh không đưa ra câu ví dụ làm tổn thương tôi, và vô tình anh đã đẩy tôi ra khỏi cái lớp bổ túc văn hóa ban đêm ấy…
Sáng hôm sau, sau khi chở thịt ra chợ, tôi xuống nhà anh vừa là thăm vừa là để cùng nhau chia sẻ, giải bày chuyện của hôm qua và chuyện của gần 15 năm về trước. Vừa thấy tôi, anh ra mở cửa:
   
–         Như vậy là thầy nhớ tôi rồi, phải không? – Anh vừa cười vừa bắt tay tôi, dắt vào nhà.
–         Chuyện đã qua lâu rồi. Bây giờ hai đứa gọi anh qua anh lại là được.– Tôi nhìn anh nói một cách chân tình.
Anh lại tủ lạnh lấy một chùm nem Chợ Huyện và vào phòng trong lấy một chai rượu đặt lên bàn sau khi đã lau sạch bụi bám một cách kỹ càng.
 – Rượu Bàu Đá, lão tửu đó! Thầy…ờ mà… anh là khách đặc biệt nên hôm nay tôi mới đem ra, tôi chôn dưới đất cũng cả năm rồi.
Tôi chỉ nhìn anh cười, chưa kịp nói gì thì anh đã  tiếp:
–         Tôi nhớ một hôm anh giảng về Nguyễn Khuyến, anh say sưa phân tích hai câu: Rượu ngon không có bạn hiền / Không mua không phải không tiền không mua.- Anh vừa nói vừa rót rượu vào hai ly nhỏ, sóng sánh, trong vắt, vun hạt cườm, thơm lựng.
–         Bữa nay anh phải uống say với tôi một bữa nhé! Không mấy thuở đâu!
–          Chắc cũng trên năm mươi độ, phải không anh?
–         Chắc vậy. Uống ly rượu này tôi xin tạ tội cùng anh vì ngày ấy tôi đã làm anh bị tổn thương.
–         Thôi bỏ đi, chuyện đã qua lâu rồi. Hơn nữa do anh bức xúc thực trạng giáo dục lúc đó mà!
Rồi tôi kể cho anh nghe, hồi tôi còn bé, ông ngoại tôi cứ nửa tháng hay 20 ngày là lên thăm nhà tôi. Ông rất thương tôi, có lẽ do tôi là cháu ngoại trai duy nhất, bởi các dì của tôi lúc đó đều sinh con gái. Ông hay giúp tôi làm thủ công như: cày, bừa, cuốc, đũa, rổ…Tối tôi ngủ với ông và ông hay đọc cho tôi nghe các câu ca dao, tục ngữ, rồi giải thích cặn kẽ cho tới khi nào tôi hiểu, hoặc là buồn ngủ thì ông mới thôi. Có lần ông hỏi tôi, sau này lớn lên cháu thích làm nghề gì, tôi nói ngay là tôi rất muốn làm thầy giáo. Nghe tôi nói vậy, ông rất vui và bảo rằng, đó là những kỹ sư tâm hồn, mà để thực hiện được chức năng đó, không phải ai cũng làm được. Phải học thật giỏi và phải đọc sách thật nhiều, tất nhiên là phải có năng khiếu và đam mê nữa. Nghe lời ông, tôi cố gắng học và giảm đi một ít thời gian đánh trổng, thả diều cùng lũ bạn để có thời gian đọc sách nhiều hơn. Cũng may là thời ấy trong xóm có một nhà gần như có đầy đủ các loại sách truyện Tàu, thấy tôi mê đọc sách, nên cho mượn, chỉ có điều là phải giữ cẩn thận. Biết tôi vậy nên mỗi lần có công việc đi Quy Nhơn hay đi Sài Gòn, ba tôi đều mua cho tôi rất nhiều sách. Sau này lớn lên, tôi tiếp tục xây dựng một tủ sách khá đầy đủ, nhất là hai lĩnh vực văn học và lịch sử. Đặc biệt là tôi chuẩn bị khá đầy đủ về những bài hát thiếu nhi và phương pháp, nội dung sinh hoạt tập thể. Ngoài ra, tôi còn tập thắt châu chấu bằng lá dừa, làm lồng đèn ông sao để sau này hướng dẫn học trò tham gia sinh hoạt cộng đồng…Nhưng oái ăm thay, nghề thống kê lại chọn tôi. Bây giờ tôi không lý giải được vì sao nên cứ nói là do số phận. Vì vậy, cái lớp bổ túc văn hóa ban đêm ấy là niềm an ủi còn lại của tôi. Khi nghe tôi kể đến đây, dường như không thể nào chịu đựng được nữa, anh chồm người  ôm lấy tôi, nói trong nước mắt:
–         Thầy ơi, sao tôi lại dốt thế? Đúng là tôi ngu như heo, thầy ơi! Tội tôi lớn quá, thầy ơi!
–         Anh say rồi! – Tôi vừa nói vừa dìu anh lại cái phản gõ kề bên để anh nằm nghỉ. Khi đâu vào đấy, anh kéo tôi ngồi một bên:
–         Sao anh lại chọn cái nghề bắt heo? Tôi nói điều này có thể là anh không vui, nhưng nhờ có “thuốc gan”, nên nghĩ sao tôi nói vậy. Cái anh “Bảy Đáp” là cái anh vai u thịt bắp, còn anh thì khác, thế sao anh lại chọn cái nghề này để mưu sinh. – Tôi cười và nói:
–         Nghề nó chọn mình mà anh. Hồi nãy thì anh say, bây giờ thì anh sai rồi! Nghề nào cũng có cái khó riêng của nó. Không có học thì không làm tốt được. Theo tôi được biết thì xưa nay chỉ có một người không biết chữ mà làm nên nghiệp lớn, đó là Trần Thủ Độ. Ông đã dựng nên Vương nghiệp nhà Trần – 3 lần chống quân Nguyên với những chiến công hiển hách trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.
–         Đ ã  n h ậ u…mà anh nói…giống như giảng bài vậy. – Anh lè nhè, mắt thì nhắm riết
Rồi tôi nói thì nói mà anh thì ngáy khò khò tự lúc nào, nhanh thật. Tôi bước xuống khỏi phản gõ, lững thững bước ra sân trước. Tôi hiểu sự suy nghĩ của anh, và đâu phải chỉ riêng anh. Cái anh xách cái rọ đi mua heo thì có mấy ai tôn trọng. Lớn hay nhỏ gì đi nữa thì người ta cũng gọi là thằng mua heo, ăn nói không thiệt, gian xảo trong coi cân, tính ký, trả tiền…Ngày xưa tôi cũng nghĩ vậy nên khi vợ tôi đặt vấn đề làm nghề mua heo, ban đầu thì tôi phản đối, nhưng “cơm áo không đùa với khách thơ” mà, sau rồi cũng phải chấp nhận, bởi hai đứa con đang sức ăn sức lớn, tiền học phí, tiền xây dựng trường, tiền học thêm ở lớp, ở nhà thầy, cô bộ môn, vân vân và vân vân…Hơn nữa, tôi nghĩ điều quan trọng là chuyện đúng sai, gian xảo hay không đều do bản thân của mỗi người tự quyết định lấy chứ đâu phải do cái nghề, mà làm gì có nghề nào là sang, nghề nào là hèn. Thế là tôi chọn nghề mua heo, mổ  lấy thịt cho vợ tôi bán. Đúng là có vô cuộc thì mới hiểu. Cái nghề đi mua heo cũng lắm chuyện buồn vui. Người bán heo luôn cho ăn no để bán, chứ không đời nào để heo đói cả. Nếu đến chuồng để ngã giá khi heo quá đói thì dù có trả đến rách miệng người ta cũng không bán. Nhất là khi đến gần ngày tết hoặc ngày lễ, mua heo no, heo lưng lửng về mổ để bán là điều không thể tránh khỏi. Bởi mình không mua thì người khác cũng mua. Dân mua heo chuyên ngiệp thường mua bộ chứ không mua cân. Mà quần qua quần lại, họ cũng mua được, vẫn có lời. Tôi vào nghề cũng được ba, bốn năm, nhưng cái khoản ấy thì đành chịu. Có một lần, tôi cũng tập tò mua bộ một cặp heo, về cân lại mới biết bị hố, mất đến 10 ký, lỗ nặng, tối về vợ tôi chỉ biết khóc. Một anh mua heo biết chuyện nên mới kể cho tôi nghe câu chuyện thế này: Hôm đó, anh gặp một con heo rất đẹp, chủ nhà là một phụ nữ khoảng trên 60 tuổi. Bà sợ mấy thằng mua heo vặn cân bẻ móc léo lận nên chỉ bán bộ mà không bán cân. Vì cái chuồng sâu nên bà nghĩ con heo nhỏ chỉ độ 65 ký là cao nhất, nhưng dưới cặp mắt nghề nghiệp của anh thì con heo phải đến 75 ký. Lúc ấy giá thị trường một ký heo hơi là chín ngàn. Qua năm bảy lần định ký của con heo, anh gút lại, 70 ký. Anh nhân luôn: bảy lần chín là năm mươi ba, tức năm trăm ba chục ngàn đồng. Anh trả tiền và xúc heo vào rọ. Thế là kẻ bán người mua đều vui vẻ. Và, hôm sau, người phụ nữ bán heo ngày trước chận đường anh và bảo rằng:
–         Hôm qua anh nhân sai rồi. Con gái tôi bảo, chín lần bảy là sáu mươi ba, tức sáu trăm ba chục ngàn, chớ không phải năm trăm ba.
–         Con chị có học, nó khác. Còn tôi nhân chia đâu đã rành. Hơn nữa, tôi mua bộ, chị đồng ý bán, chứ có tính cân tính ký gì đâu mà nói chuyện nhân đúng nhân sai.
Khi kể xong câu chuyện, anh nhìn tôi và nói như đinh đóng cột:
–         Tôi ở gần anh nên tôi biết, anh không thể tồn tại với cái nghề này đâu. Đã cầm cái rọ đi bắt heo thì phải mua heo chết, heo bệnh với giá rẻ như cho, mới có lời nhiều. Nhưng anh lại áy náy lương tâm vì sợ ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng. Thế anh coi, người chăn nuôi vẫn bán được hết đấy. Và, ngoài chợ đến chiều tối có còn miếng thịt heo nào đâu…Ngay cả gặp con heo đẹp, anh không có thế để bắt, làm gãy một hay hai chân, thậm chí là bốn chân của nó, thì chỉ có đường lỗ vốn, chứ không có đường huề. Thôi, anh hãy kiếm chuyện khác mà làm. Tôi không hiểu sao anh lại chọn cái nghề này?
Hai người, một bán heo, một mua heo, cũng đều có một câu hỏi dành cho tôi. Cái anh bán heo vì sĩ diện cho tôi, bởi dù sao tôi cũng là người đã từng làm thầy. Còn anh bạn đồng nghiệp thì cho rằng tôi sẽ thất bại bởi tâm thế của tôi không say mê với cái nghề xách rọ đi mua heo. Riêng tôi, nghề mua heo cũng bình thường như bao nghề khác. Bởi ngay từ còn học lớp 8, tôi chịu ảnh hưởng sâu sắc sự nhận thức “làm quan không lấy làm vinh, làm lính không lấy làm nhục” của Nguyễn Công Trứ. Vấn đề là đừng làm điều gì trái với đạo lý ở đời là được. Nếu làm thầy mà cứ tìm cách trù dập, moi tiền của học trò, cứ chạy sô như ca sĩ thì có đáng được tôn trọng không?
Vợ tôi thường hay hỏi, liệu tôi có kham nổi cái nghề này. Tôi bảo, việc gì cũng phải có thời gian, rồi sẽ quen thôi. Vợ tôi cười, rằng tôi có thể quen với sự nặng nhọc, nhưng không thể quen với mặt trái có tính đặc thù của nghề này. Bởi bao năm chung sống với nhau, vợ tôi hiểu tôi sống ở đời có những nét giống như sống với những nhân vật điển hình tốt đẹp trong phim ảnh, trong tiểu thuyết vậy. Vợ tôi còn bảo, có khối người mới đó chỉ lớp 5, lớp 6, thậm chí viết một câu, giải phương trình một ẩn cũng chưa nên mà nay đã có bằng tốt nghiệp phổ thông, bằng đại học, đâu cần có thời gian…Tôi im lặng. Vợ tôi còn tiếp đòn, mấy người ra nghề sau tôi nhưng tay nghề của họ, nay có thể nói là bậc thầy trong làng mua heo. Họ cất nhà tầng, xe máy loại xịn, nội thất không thiếu gì…Còn vợ chồng mình thì sao? Vẫn ở nhà của thiên hạ, hết chỗ này đến chỗ khác, không một tấc đất cắm dùi…
 Khi nghe những lời như vậy, tôi nhìn vợ tôi, mắt tôi như căng cứng, cay rát như muối ớt xát vào…Tôi bước ra đường, đi như người say rượu. Trước mắt tôi như một khoảng không vô định. Tôi chua xót với chính mình. Tôi cũng đã đọc sách hướng dẫn về cách nhìn, cách đo chiều dài vòng bụng, chân dài ngắn… của con heo để xác định trọng lượng. Anh em mua heo còn mách nước, con heo nằm ở chuồng cao, khi nhìn cứ tưởng  là nhiều ký nhưng thực ra không như vậy, người mua bộ dễ bị đánh lừa. “Thức đêm mới biết đêm dài”, đó chỉ là lý thuyết. Phải có cái nhìn mẫn cảm sau nhiều năm tích lũy kinh nghiệm về mua bộ thì phần sai lệch sẽ rất nhỏ. Ngoài ra, việc nhìn con heo nạt hay mỡ cũng vậy, phải tìm hiểu kỹ càng nhà đó thường cho heo ăn thức ăn gì, giống heo được mua về từ đâu, nước da thế nào, cái lông ra sao, nếu không thì nhìn con heo mỡ mà cứ cho rằng nạt thì chỉ có đường chết…Nếu sai sót là lần đầu tiên thì vợ con cũng chỉ buồn mà không nói gì, nhưng lần 2 lần 3 thì chì chiết, nói những lời khó nghe, thậm chí xúc phạm nặng nề: “ Ông học lớp này lớp kia làm chi mà tính không ra cân ra ký, hơn nữa ông đâu có mù mà nhìn con heo mỡ thành nạt vậy.” Thật là đau xót khi nghĩ lại mới ngày nào đó, cái hồi mới yêu nhau còn anh anh em em, còn tặng hoa ngày sinh nhật, tặng một nụ hôn dịu ngọt, nồng nàn ngày 8/3…Thế mà bây giờ mọi cái đã thay đổi. Bi kịch. Nhưng vẫn phải sống với nhau. Một sự thật tàn nhẫn. Và tôi cứ ngẫm nghĩ mãi câu nói của Tô Đông Pha: “Bình sinh ngũ thiên quyển / Nhất tự bất cứu cơ”.
–         Nhìn anh từ nãy giờ, tôi biết anh đang hoài niệm, nhưng anh ơi, mọi cái đã qua rồi. Như sáng nay anh xuống, giờ thì đã trưa. – Một vòng tay nhẹ nhàng ôm lấy vai tôi. Thì ra, anh chủ nhà đã tỉnh rượu và đang đứng bên cạnh tôi – Anh biết không, tôi thoát ly năm 17 tuổi. Chiến tranh kết thúc, tôi là thương binh hạng 2/4. Gần 10 năm sau, tôi được phân công làm giám đốc công ty xây dựng, một công việc vượt quá khả năng của tôi cả về chuyên môn lẫn văn hóa. Tôi phải học bổ túc văn hóa từ lớp 3, cố gắng đến hết lớp 9. Tôi dừng lại ở đó vì vết thương cũ tái phát hành hạ, cứ vài ngày lại phải nằm viện để điều trị. Và, điều quan trọng là tôi không kham nổi cái việc được phân công. Trong đơn vị, cứ bàn tán nói vào nói ra, bảo tôi là dân thoát ly, lại là thương binh, có thành tích trong kháng chiến, nên mới được làm giám đốc, chứ thực ra…Dù biết họ nói không sai, nhưng tôi thấy mình bị xúc phạm. Và thế là tôi xin nghỉ, hưởng chế độ mất sức, về nhà nuôi heo, làm ruộng, như ngày xưa ba má tôi vẫn làm, sống thanh nhàn cùng bà con lối xóm.
–         Phải chi anh còn làm, chắc sẽ khá hơn nhiều!
Anh cười hiền.
 – Và, bây giờ tôi muốn hỏi anh, nếu có kiếp sau thì anh thích làm thầy giáo hay thích đi mua heo?
–         Nếu được, tôi cũng chỉ thích xin như Nguyễn Công Trứ đã từng xin:                                                                     
     Kiếp sau xin chớ làm người        
     Làm cây thông đứng giữa trời mà reo!
N.H.D

Bài thơ tặng vợ

Cao Quảng Văn

Nụ cười tươi đôi môi
Dù mùa xuân mùa hạ
Mặn nồng em thắp lửa
Cho ấm mãi tình anh

Mắt em nhìn long lanh
Bao đau buồn khát vọng
Muôn vì sao lấp lánh
Anh thêm yêu cuộc đời

Những vì sao vẫn mọc
Giữa tháng ngày chúng ta
Rực rỡ và thơ mộng
Rất gần. Dù rất xa…

Dù ngày mưa ngày nắng
Dù năm dù tháng trôi
Đường xa nào chẳng tới
Khi có em bên đời!

Nụ cười tươi đôi môi
Dù mưa đông nắng hạ
Mắt em nhìn xanh quá
Bao ước vọng chân trời

Màu chan hòa yêu mến
Suốt đời anh tìm kiếm
Ơi bến bờ không nguôi…

Lê Đức Vũ

Nhân tiện ngày giỗ má tôi,cả nhà tôi vợ chồng con cháu về quê đầy đủ,đặc biệt là dzới sự cho phép của bà Phó giám đốc,tôi sẽ nói nguyên nhân nào mà bỗng dưng nghĩ dạy rồi ra sản xuất loại bánh độc đáo này

Đầu tiên,phải nói trứơc ,do ở trong hẻo sâu nam bộ lâu ngày nên tôi nói chuyện kiểu “tưng tửng” như bác Ba Phi,chứ khôngcòn kiểu nói chuyện “chát bụp” như anh em nẫu mình thường nói. Phải nói trước như vậy để anh em mình không phàn nàn sao cha này cứ …cà rề,cà rà…

Hồi nhỏ tôi ham học đánh bi da,học đờn ca hơn học chữ nên mãi vẫn không qua được tú tài một;phứơc chủ may thầy nhà nước bỏ thi tú tài một,và tôi nghiễm nhiên đựơc lên lớp mười hai .Rồi lệnh đôn quân tôi được mang quai chảo (chuẩn uý) và đóng quân tại Bến tre. Sau nhiều lần di chuyển ,tôi được cho chốt cầu Bà em dưới cầu Chẹt sậy. Trung đội trưởng nắm mưòi lăm em giữ cầu Chẹt sậy còn tôi mang hai em qua chốt cầu Bà em, cách cầu Chẹt sậy gần hai cây số

Nghe đồn cầu này do ngừơi chủ đất ở bên kia cầu tự làm thay cho cầu khỉ, nhưng ở xứ này cầu mà xe đạp chạy qua được thì với ngừơi dân ở đây cho là hoành tráng lắm; khi mới về tôi có qua nhà ,trước là làm quen và sau là đánh tiếng xin mấy ổng đừng có đánh sập cầu. Các bạn có biết bà chủ đất nói sao không?-“tui sợ mấy ông phá thì có chứ ở đây có ai dám phá đâu”

Thế là như cá gặp nước ,tôi đóng quân cho tới ngày giải phóng,vẫn mang quai chảo luôn tù tì ba năm.

Trước ngày giải phóng, bà chủ đất có động viên tôi đừng làm gì và cũng đừng đi đâu; tôi có nói “má cứ yên tâm, gần ba năm , ba anh em chúng con ở đây đâu có thù oán gì với ai, và cũng chưa bắn phát súng nào”. Bà chỉ ừ rồi bỏ đi

Thống nhất đất nước, tôi được cải tạo tại chỗ, việc cũng lai rai, hết đào mương lại trồng dừa quanh xã Lương Quới . Ốc hết ngày này qua tháng nọ

Một hôm má tôi vào thăm và có cho mấy ràng bánh tráng nước dừa của xứ mình, phải nói là quá …đã vì xứ này có thứ này đâu

Thường gần cuối chiều anh em bao việc cho tôi; còn tôi thì đi kiếm mấy bặp dừa khô đốt lửa nấu ấm nước, nướng bánh tráng, khi nướng bao giờ tôi cũng chừa góc tư bánh nướng cho cháy, bỏ vào ấm nước thay trà

Trời xui đất khiến thế nào, hôm đang nướng bánh, ông trưởng trại đi kiểm tra ngang qua, ổng kêu

-“đứa nào nướng cái dzì mà thơm dzữ ta”,

tôi chưa kịp dọn dẹp thì ổng đã đứng sau lưng , tôi lúng túng chưa biết tính sao thì ổng nói luôn

-“dzụ này mới à nghen! thôi làm tiếp cho xong, chút nửa xong nhớ kêu tui tham gia dzới nghen”

Hú hồn…tưởng phen này tiêu đời, ai ngờ…

Khi anh em tụ tập ,ăn bánh uống nứơc “trà” tôi kể lại nguồn gốc bánh tráng dừa xứ nẫu , ổng chưng hửng vì Bến tre cũng xứ dừa mà hổng thấy món này, đặc biệt là món trà… bánh tráng dừa

Được vài hôm thì cô quản giáo cũng tham gia…” sinh hoạt cuối chiều”. Ban đầu thì chỉ ăn bánh uống trà, riết rồi bảo tôi bày cách nứơng bánh ,pha trà…bánh tráng dừa , thế là tôi phun toàn bộ…bí kiếp, và nhanh chóng gửi thư về nhà xin má tôi vài chục ràng bánh

Thế là sau đó tôi đương nhiên làm “sư phụ”, việc nướng bánh pha trà đã có “đệ tử” lo liệu

Tôi còn một bài dạy cho “đệ tử” nữa là nằm ngữa trên nước, một việc mà ngoài mình hình như ai cũng làm được mà ở đây coi như một hiện tượng lạ

Chuyện gì đến sẽ phải đến…

Hơn tháng sau, ông trưởng trại kêu tôi lên văn phòng cho học một bài…giáo huấn; nào là quan điểm, nào là nguyên tắc, nào là…trời ơi nhiều quá làm tôi lùng bùng lỗ tai không nhớ nỗi…Cuối cùng ổng cho tôi nói một câu (và chỉ một câu thôi), tôi nhận hết nhưng chuyện của tôi với cô quản giáo thì tôi không đồng ý vì tôi có làm gì mà phải mang tiếng dụ dỗ…

“-Đúng là ông tên Dzụ thiệt mà, tên nào tính ấy”

( Má ơi! ông này đổi tên con rồi! )

-“Thưa , tôi tên Vụ là …con quay chứ không phải là dụ dỗ”

-“Tên gì mà nói muốn trẹo quai hàm, thôi thì trong nam này “vụ” hay “dzụ” cũng như nhau, mà nói nhỏ này, cuối tuần mang nải chuối, con gà dzới chai rượu qua nhà bà chủ đất xin đổi tên đi”

Tưởng ông này …kiếm chuyện , nhưng tôi vẫn răm rắp thi hành

Khi qua nhà bà chủ đất  tôi mới chưng hửng, các bạn có ngờ rằng ông trưởng trại là chồng và cô quản giáo là con của bà chủ đất ?

Thế là nải chuối, con gà và chai rượu được bày ra làm lễ sửa tên và cho phép tôi được dạy “đệ tử” thoải mái…

Cũng nên nói rõ hơn về “cô quản giáo” một tí để các bạn dể hình dung.

Ông trưỏng trại khi chuẩn bị rút vô sâu thì bà chủ đất đang có bầu, thế là ổng làm cây cầu trong vòng một tháng với sự giúp đỡ của anh em trong họ và bạn học, hai ngày sau khi cầu xây xong thì “cô quản giáo” ra đời

Nghe kể lại rằng , thiên hạ khi sinh ra ai cũng khóc, nhưng lạ là từ lúc sinh cho tới đầy tháng cô này chẳng khóc tiếng nào, khi nào đói thì ọ ẹ một tiếng bà chủ đất biết ý mà cho …bú…

Lớn hơn một tí thì toàn chơi với con trai , toàn những trò bạo lực làm nhiều khi bà chủ đất chịu không thấu vì bị hàng xóm sang mắng vốn (sau này cổ chỉ chơi với những ai đồng ý giao ứơc “có chơi-có chịu”)

Mười hai tuổi, cổ nói với bà chủ đất cho đi với tía, bà chủ đất nói kiểu nào cũng không đựoc, đuối lý bà hỏi môt câu

-Dzậy chớ mầy đi rồi tao lấy cớ gì nói dzới thiên hạ đây?

– Thì …má cứ nói con theo… trai rồi, mà chiều nay má ra đầu cầu la lớn dzí thiên hạ là con mới ti tuổi đầu mà đã …yêu đương rồi má hén! (trời đất…đúng là gan lỳ tướng quân…)

Sau bửa làm lể “sửa tên” của tôi xong, cổ có giao ứơc rằng thương cổ rồi thì cấm , chớ léng phéng, cổ mà biết đựoc là…thiến. Cô nào mà xớ rớ là cho ăn dao ngay, tù cũng chịu…

Có một chuyện là hồi tôi đang dạy ở trường cấp 1, có một cô phụ huynh đến năn nỉ tôi cho roi cho vọt với thằng con ngổ ngáo, ba nó đã chết và không ai dạy được, nó chỉ phục ông thầy mà nó cho là… thần tượng …ấy là tôi. Nói thế nào cũng không được , đến khi tôi tiễn cô ấy về thì bỗng dưng cô ấy nắm tay tôi … năn nỉ tiếp…ngờ đâu bên kia cổng trường…cô quản giáo nhìn thấy được …thế là một pha náo loạn trước hiên…trường…tôi kéo tay cô phụ huynh chạy trước, cô quản giáo cầm dao rượt theo sau, thầy hiệu trưởng và học sinh chạy sau rốt hò reo vang cả một góc trời…(và sau đó gia đình tôi nổi tiếng khắp tỉnh, nghe nói chuyện còn được đăng báo…nhưng tôi nào mà còn tâm trí để đọc)

Cô quản giáo của tôi cũng không đến nỗi nào, so với hoa hậu chắc cũng…kẻ tám lạng người nửa…phân, nhưng với tôi là…nhất hạng. Nói vậy chứ chưa thấy ai chắc dạ, môt…một….hai…hai như cổ, chuyện gì mà thấy nằm ngoài khuôn phép là chúng tôi đều xin phép nhau trước; cứ ừ với nhau một tiếng trước rồi hãy làm. Tôi dám khẳng định rằng ở đây không ai sướng bằng tôi, cơm nước, rượu chè, bè bạn, giổ quảy đều một tay cổ lo liệu, tôi đi làm về chỉ lo dạy dỗ hai thằng con, chăm sóc mảnh vườn cho đàng hoàng là đủ. Ừ thì cũng kể thêm một chuyện nửa để các bạn biết rõ về cổ

Năm rồi,mấy đứa bạn hồi còn học phổ thông, kiếm cớ để anh em gặp nhau chương trình đó có tên là “Cường Để Qui nhơn 1234567…” , hổng tin mấy bạn cứ dzô google gõ là thấy liền, các cô là bạn bè chung lớp còn mấy tay kia đa phần là lớp dưới , tôi xin phép cổ đồng ý rồi, mấy hôm sau thì có thiệp đám cưới của đứa cháu ở trên Pleiku cũng cận ngày, thế là tôi năn nỉ cổ thế nào cũng không chịu đi, viện cớ là “ không có tui , đám cưới cũng không mất dzui, chứ họp mặt mấy bạn của ông mà có tui thì…rách …dziệc…”;  bửa đó sau khi lo liệu xe cộ, áo quần tiền bạc , quà cáp…khi tiễn tôi lên đường cổ còn cười tươi làm tôi muốn kéo cổ lên xe đi luôn, đến khi cổ liết mắt một cái làm tôi nổi cả dza gà…mới chịu dzọt ga…

Đó, hai thằng con của tôi đó , hồi nhỏ cũng chơi đùa phá phách uýnh lộn u đầu sứt trán, máu me tơi bời ban đầu còn về mét mẹ, bị phán cho một câu “có sức chơi, có sức chịu đứa nào mét là bị đòn à nghen!”, đến giờ thành đạt ,vợ con đầy đủ, ra đường nói thiên hạ nghe răm rắp nhưng về đây vẫn vòng tay thưa tía thưa má nghiêm chỉnh

Mà tôi cũng chưa thấy ai thông minh, siêng năng mà ham học như cổ: hồi mới giải phóng cổ chưa xong lớp bốn mà tôi làm “sư phụ” có một năm, cổ thi đậu luôn trung học cơ sở, (và cũng bắt tôi học rồi tốt nghiệp phổ thông năm đó), rồi vác bụng bầu lên thành phố học ở trường Bổ túc Công nông tận Thủ đức; thằng Lán ruồi mới đầy tháng ,gửi nhờ bà ngoại trông chừng để lên thành phố ,thi đậu luôn phổ thông .Sau đó hai vợ chồng đùm túm nhau lên thành phố tôi vào học ở Đại học Sư phạm còn cổ học bên Học viện Hành chánh; nào chồng nào con mà học hành ngon ơ

Còn đây mới là cái hay nè! Khi tôi tốt nghiệp xong, trong thời gian chờ chuyển trường mới cho đúng bằng cấp , cổ rủ tôi – “thôi anh trả xong nợ rồi bây giờ anh dẫn tui dzí thằng Lán ruồi dzìa báo cáo dzới xứ …Nậu”. (Trời !!!  có thằng chồng nào mà không đồng ý?)

Thăm xứ …Nậu về thì cổ sắm  luôn lu, vại, chảo lớn rồi bắt tôi nghâm gạo, nạo dừa…còn cổ làm bánh tráng …Dzừa; thì ra về xứ Nẫu có năm hôm mà cổ đã ra tận Tam quan ăn cắp bí truyền làm bánh tráng dừa

Và cũng nhờ nghề tay trái này mà mấy năm bao cấp, nhà tôi có của ăn, của để…

Hì…hì… thì để từ từ tôi nói rõ…thời đó còn ngăn sông cấm chợ nên gạo xứ này cũng dư…ăn, mà bánh phồng thì làm bằng nếp chứ có ai làm bằng gạo đâu; cho nên làm bánh tráng dừa không đụng…hàng, làm xong, gửi xe đò mang lên thành phố cho mấy chú sinh viên bán, sướng cái là mang gạo thì coi chừng bị mấy ông quản lý thị trường tịch thu, chứ bánh tráng thì…dzô tư đi…Các bạn thấy cổ tính tài không? Lâu lâu cổ gửi mấy bánh cho hàng xóm, rồi cho bạn bè nói là đặc sản của má chồng gửi dzô ăn lấy… thảo…Ai mà biết được; có ai ngờ bánh tráng dừa Tam quan được …sản xuất ở Bến tre đâu. Mỗi lần có ai muốn có hàng …độc thì chạy tới năn nỉ cổ để lại, có bao giờ cổ tính tiền đâu, bạn bè của nhà tôi mỗi lần đến thăm hay nhậu nhẹt , đầu tiên phải ăn miếng bánh tráng dừa nướng, uống ngụm “trà” bánh tráng dừa, phải nói là “dzô địch thiên hạ” không đâu ở xứ này có…

Còn hai thằng con của tôi nữa; hồi có bầu đứa lớn, ai cũng bảo là con gái, nên cả nhà đều nhất trí là đặt tên Lan như tên cổ, hôm gần sinh hai vợ chồng rủ qua lán thăm “ông trưởng trại” , ngồi chưa nóng chỗ thì cổ la mắc đẻ…may mà lúc ấy có cô mụ gần bên chứ gặp lúc nước ròng, ghe mà chở lên được đến bệnh viện tỉnh gần mười cây số thì …toi; lúc sinh ra không biết ruồi ở đâu mà bu dữ quá , thế là ổng phán luôn: – “tưởng mày là con gái thì đặt tên Lan , chứ mày là con trai, lại sinh nhằm trong lán của tao, sinh ra lại có ruồi đến chúc mừng, thôi thì tao phán luôn, mày tên là Lán, biệt danh là …Lán ruồi…Hà…hà…tên này độc à nghen!!!”

Thằng thứ hai thì đã có tên Biển, trai gái gì cũng không sợ đổi tên, vậy mà khi ổng tới thăm, ruồi ở đâu tới bu vào mặt thằng nhỏ, -“bệnh viện mà cũng có ruồi thì khỏi nói, tao cho mày cái tên Ruồi biển luôn…”

Hai thằng nhỏ nghịch như quỷ, không sợ ai- ngoài má nó với “ông trưởng trại”- nhưng lại thích chơi với ông ngoại hơn vì ổng cho chúng thoải mái, một bửa chơi thế nào mà ổng kêu thằng Lán lại ,bắt đứng nghiêm rồi hỏi:

-“Mày kêu tao là gì mà tao nói mày không nghe , hả!!!”

Thằng nhỏ đứng nghiêm, mếu máo trả lời:

-“Dạ…ông…Kẹ…”

Trời đất…ổng cưòi như chưa bao giờ được cưòi, và từ đó cả nhà tôi kêu ông trưỏng trại là…ông Kẹ

Thôi, bây giờ dzô chuyện chính đi…

Năm kia , cô quản giáo nghỉ hưu, mới chân ướt chân ráo thôi việc ở chính quyền chưa được mấy ngày; cổ bàn với tôi mở công ty sản xuất… bánh tráng dừa xuất khẩu. Tôi hết hồn vì bánh tráng dừa mà xuất khẩu thì xưa nay chưa có ai làm, xứ mình ai có bà con ở nước ngoài gửi cho người ta ràng bánh đã là khó khăn, chưa nói tới việc tiêu thụ như thế nào, sản xuất kiểu thủ công như ngoài mình mà đòi xuất khẩu thì có mà ăn…cám

Các bạn biết cổ giải thích làm sao không?

-“Anh không để ý, để tứ gì hết. Đây là trăn trở của anh trên bàn…nhậu; em thấy anh có lý nên mới tìm tòi nghiên cứu, kinh nghiệm làm bánh nướng thì mình có rồi, kinh nghiệm làm bánh phồng thì Bến tre ai cũng làm được, em có nhờ mấy bạn làm sao cho nó mềm để dể chuyên chở và bảo quản thì cũng được luôn, rồi quy cách đóng gói như anh muốn, trứơc mắt mình sản xuất hai loại bánh, cứng và mềm quy cách như bánh qui Kinh Đô hoặc mấy loại sẵn có, trên bao bì mình in giới thiệu luôn kiểu bánh truyền thống nhưng nhỏ hơn để ngưòi ta tìm hiểu vì xứ người ta đâu dễ tìm lò nướng nên phải nướng trên lò vi sóng, để ai muốn thì mình sản xuất, em có nói chuyện với tía má, ổng bả ủng hộ cho mình lấy lán làm xưởng lấy nhà làm văn phòng, hùn vốn làm ăn, còn chuyện quảng bá thương hiệu thì hôm trước anh Hai làm tham tán bên Mỹ về chơi, em đem chuyện ra bàn , ảnh ủng hộ hết mình hứa sẽ hổ trợ ở Mỹ rồi nhờ mấy người bạn bên Anh giới thiệu vào món trà trưa…,Ảnh còn dẫn lên tỉnh uỷ giới thiệu, ai cũng ủng hộ cả. Trứơc mắt, vốn mình còn ít thì chỉ sản xuất qua Mỹ thôi, khi nào đủ sức thì làm lớn kể cả sản xuất trong nứơc cạnh tranh với bánh Tam quan ; hai thằng Lán với Biển cũng đồng ý nghĩ việc để về cùng làm ăn. Bây giờ chỉ còn anh ,gật đầu là em tiến hành liền. Anh tính sao?”

Trời đất!!! tôi quá sức sửng sốt vì chuyện lớn như vậy mà bấy lâu cổ âm thầm làm một mình, bây giờ gần như hoàn hảo mới nói một mạch rồi cho tôi …quyền quyết định. Mà còn sững sốt hơn vì gần bốn mươi năm chung sống, đây là lần đầu tiên cổ anh…anh…em…em…với tôi ngọt x…ớ…t…

-“Em là nhất hạng , em tính hay quá rồi! anh không thấy chỗ nào thiếu, thôi thì em cho anh nghĩ hưu sớm rồi cho anh tham gia cái dzụ này dzới nghen!!!”

Cổ ôm hun tôi cái chụt thật kêu rồi tựa đầu vào ngực tôi và gật đầu

Thế là tôi tổ chức đại hội cổ đông…gia đình, rồi lập luôn công ty như ngày nay…

Thằng Lán thằng Biển đâu!!! Má bây chắc là mắc cở rồi; thôi thì hai đứa lấy bánh ra đãi quý Chú quý Bác đi mấy con!!!

 

 

Nắng quái

phiêu thạch ba

                                            Một hôm nắng xế qua đồi

                                                      Biết không còn kịp nữa rồi giấc mơ.

                                                                              Thanh Nguyên

 

Nắng đã quái rồi ư?

Sao không gian vàng vọt.

Đêm qua ta còn toan bẻ nạng[1]

Mà bây giờ

              nắng đã quái rồi ư?

.

Hy Hoàng. Hy Hoàng[2]

Dừng roi chờ một nhịp

Lá ngưng vàng

                ta sẽ kịp lao thân.

Thỏa nguyền nguyện trước hóa công

Nhân gian thôi hận thuyền không theo người

.

Hy Hoàng. Hy Hoàng

Đừng trách ta thuở trước

Giục thời gian cho mơ ước tuôn trào

Vợi trông nghĩa cử tầng cao

Nghe như thiên mệnh xôn xao đổ về

.

Hy Hoàng. Hy Hoàng

Sao càng giục giã

Sao càng vội vã

Sóng xô trời sau từng giải mây đen.

Sao bôn ba

Gieo ưu phiền

Gập ghềnh tôn giả

Gió nghiền thư hoa

.

Chiều xám

Trời xám

Hơi lạnh hắt khô môi

Trơ trơ mắt xé đỉnh đồi.

Hy Hoàng khuất bóng

Thôi rồi giấc mơ.

    


[1]  Nửa thành ngữ Bẻ Nạng Chống Trời

[2]  Theo truyền thuyết trong Ly Tao của Khuất Nguyên, Tôn Giả Hy Hoàng là người đánh xe cho thần mặt trời

Chơi với đàn kiến

Nam Thi

ÔNG Phương cột xong chiếc võng vải giữa hai thân cây bạch đàn, thẩn thờ nhìn theo ba người đồng hành đang tìm đường leo lên đỉnh núi Chóp Vàng. Họ đã vượt dốc núi 45 độ cách chỗ ông dừng lại vài trăm mét và sẽ vòng sang sườn phía Nam thoải hơn để lên đỉnh. Họ gồm ba người: cô Minh, học trò cũ của ông ở trung học mấy chục năm trước, nay là chuyên viên khảo cổ; Hùng, con trai ông, kỹ sư tin học và ông Ba Xuân, nông dân địa phương, người dẫn đường, bạn thiếu thời của ông.

Gieo mình xuống võng, ông cố điều hòa hơi thở nhưng vẫn thấy đau nhoi nhói ở vùng ngực trái. Từ lâu bác sỹ đã cảnh báo tim ông có vấn đề và ông thường xuyên uống thuốc phòng ngừa mỗi sáng. Cũng là chuyện bình thường của người trên sáu mươi. Ông cảm thấy yên tâm vì trước khi lên đường ông đã uống một viên natrilix. Nằm trên võng ông có thể nhìn bầu trời xanh xuyên qua những cành lá bạch đàn thưa thớt không đủ che ánh mặt trời buổi sáng dọi xuống. Khi nhoài người qua thành võng để lấy chai nước, ông thấy một đàn kiến đen từ trong đám lá ủ bò ra. Ông thoáng ngạc nhiên vì không hiểu lũ kiến đánh hơi thấy mùi gì mà kéo đến nhanh thế, trong khi không rơi vãi bất cứ thứ gì chúng có thể ăn được do ông và các bạn đồng hành mang đến. Hay giản đơn chỉ là mùi người. Ông hơi chột dạ khi nhớ lại lũ kiến rừng đã ăn sạch những xác chết của người và và thú vật ở những bãi chiến trường mà ông đã đi qua thời trai trẻ, chỉ chừa lại những bộ xương trắng hếu.

Ông nhận ra một con đầu đàn với hai cái râu dài như hai cái antenne đang dò đường. Rồi thêm mấy con đầu đàn khác. Có thể dễ dàng phân biệt chúng với lũ kiến thợ vì chúng to con hơn, đen hơn. Chỉ một lát sau, theo tín hiệu của những con đầu đàn lũ kiến bu lại ngày càng đông quanh cái áo gió ông còn vất dưới đất. Ông vói tay lấy cái áo lên giũ cho sạch kiến. Chợt nhớ kinh nghiệm thời chiến, ông chu miệng phun nước bọt để làm mất phương hướng đàn kiến vì nước bọt làm nhòe những tín hiệu hóa học do những con đầu đàn để lại (1). Lũ kiến nháo nhác chạy lung tung nhưng rồi chúng lại tập hợp theo những lộ trình mới. Ông lại tiếp tục phun nước bọt. Nhưng nước bọt của ông ngày càng ít và loãng nên mất dần tác dụng. Vả lại ông cảm thấy mệt nên không muốn tiếp tục chơi trò vờn nhau với chúng. Ông nằm im trên võng nhìn những đám mây trắng lướt qua bầu trời xanh mặc cho lũ kiến nhung nhúc dưới đất…

Lúc nãy, lên tới lưng chừng núi, có lẽ ở độ cao hơn 200 m, ông cảm thấy mệt lã, hụt hơi, mồ hôi vã ra, … Thấy ông tụt lại, Hùng quay lại dìu ông tiến lên. Cuối cùng, ông biết mình không thể tiếp tục theo đoàn vì phía trước triền núi ngày càng dựng, nếu ông có bề gì thì phiền phức cho cả đoàn. Tuy thất vọng, nhưng ông còn đủ tỉnh táo chấp nhận sự bất lực của mình. Từ khi có ý định leo lên đỉnh núi nầy, ông đã chịu khó tập đi bộ mỗi sáng, tăng dần thời gian từ 30 phút đến 90 phút. Nhưng ông không lường trước sự khác nhau giữa đi bộ trên đường làng bằng phẳng và leo núi cao chớm chở. Ông cứ nghĩ rằng mình thừa kinh nghiệm leo núi vì trong thời chiến tranh, ông đã từng vượt bao đèo cao, núi thẳm còn cheo leo hơn hòn núi Chóp Vàng chỉ cao hơn 350m so với mực nước biển.

“ Tôi không leo nổi nữa – ông nói với đoàn. Nhưng các bạn cứ leo tiếp. Tôi nằm lại đây chờ…”. Hùng muốn ở lại chăm sóc cha nhưng ông biết con trai ông từ lâu muốn có dịp lên đỉnh núi nầy, có lẽ do sự tò mò thôi thúc khi nghe ông nói về sự tích (2) rằng trên đỉnh Chóp Vàng có dấu vết thành Uất Trì của người Chăm, nơi nhân vật huyền thoại Chàng Lía chọn làm nơi trú ẩn sau khi chạy khỏi Truông Mây, nên Uất Trì cũng được gọi là thành Chàng Lía. Truyền thuyết còn kể rằng Lía đã từ đỉnh núi ném một cái mâm đồng làm điểm tựa để phi thân, cõng theo xác mẹ  về chôn ở một đỉnh núi trên thượng nguồn sông Côn…Ông Ba Xuân tình nguyện dẫn đường và quả quyết ông đã mấy lần lên tới đỉnh Chóp Vàng, tận mắt thấy những viên gạch Chăm và những cây ăn trái. Một số người dân quê ông cũng nói như vậy.

Ông Phương giục con tiếp tục leo lên đỉnh vì nghĩ rằng mình không thực hiện được ước mơ thì con trai ông phải thay ông đặt chân lên đó rồi mang về cho ông vài tấm ảnh, mấy mẩu gạch vỡ…coi như ông đã đạt sở nguyện. Hơn nữa, không thể vì ông mà  Minh bỏ lỡ cơ hội khám phá một di chỉ do chính ông giới thiệu. Trong mấy năm qua, sau khi nghỉ hưu, quay về sống ở quê nhà, Minh đã hướng dẫn ông nghiên cứu tài liệu khảo cổ học và đưa ông đi điền dã dài ngày ở nhiều nơi. Đó là niềm vui mới của ông. Trước kia ông là thầy dạy chữ của Minh nhưng sau nầy Minh lại là cô giáo của ông về môn khảo cổ. Họ đã chia sẻ với nhau niềm vui khi đào bới các lớp đất, phát hiện những cái rìu đá, những miểng sành, những mảnh xương, những vỏ sò… lưu lại từ hàng nghìn năm trước. Căn nhà cổ của ông bên bờ Bắc Sông Côn trở thành một bảo tàng nho nhỏ của họ. Từ hiên nhà,  Minh và ông bao lần nhìn lên đỉnh Chóp Vàng mây phủ buổi sáng mùa Đông, vàng hực nắng chiều mùa Hạ. Ngọn núi và những truyền thuyết về nó đã nối kết ước mơ của họ, thúc giục họ phải cùng nhau lên tận đó…

Nhiều lần ông nghĩ rằng leo lên đỉnh núi đó là mục tiêu phấn đấu cuối cùng của đời ông sau khi đã hoàn thành những mục tiêu cho bản thân, gia đình và xã hội. Con người luôn đề ra những mục tiêu để theo đuổi, thiếu vắng mục tiêu cuộc sống sẽ hụt hẫng, nhàm chán. Đó không chỉ là mục tiêu mà còn là mơ ước của ông từ tấm bé. Ông vẫn thường mường tượng những nền tháp hoang phế, những viên gạch vỡ lẩn khuất trong đám cỏ tranh, những cây xoài hoang trái nhỏ chua lét,…Hồi còn trai trẻ, ông có thể dễ dàng leo những ngọn núi còn cao hơn Chóp Vàng nhưng thời ấy không ai dám đi sâu vào núi vài km từ quốc lộ 19, hơn nữa ông đã bỏ quê vào Nam đã lâu…

Thế mà giờ đây ông đành chấp nhận dừng lại ở lưng chừng núi. Trước khi chia tay, Minh kề sát tai ông bảo nhỏ, “ Em thay anh lên đó và sẽ mang về cho anh một món quà đặc biệt…”. Đó là lần đầu tiên Minh xưng anh-em với ông, thay cho “thầy-em” từ ngày họ gặp lại. Từ khi vợ ông qua đời ông chưa được nghe tiếng anh-em từ một người phụ nữ nào, vừa ngọt ngào vừa nồng nàn, vừa quen thuộc lại vừa lạ lẫm như nghe nhịp tim của mình thì thầm trong lồng ngực…

TỐT nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn năm 1971, ông được bổ về dạy ở Trường Nữ Trung hoc tỉnh và Minh là học trò của ông ở lớp Đệ Ngũ. Sau “mùa hè đỏ lửa”1972, có lệnh tổng động viên. Vốn là một sinh viên tranh đấu ở Sài Gòn, thời thế buộc ông phải chọn lựa cầm khẩu súng nào. Ông đã trở lại Sài Gòn liên hệ với bạn bè cũ mà ông biết là người của MTDTGP, rồi thoát ly. Hòa bình lập lại, ông trở lại với nghề giáo. Trai thời loạn thì phải cầm súng, hết giặc là “giã từ vũ khí”, trở về với đời thường. Sau mấy mươi năm đứng lớp, ông về hưu và quay về sống ở căn nhà tổ tiên  bên bờ sông Côn. Các con ông đã thành gia thất, chỉ có Hùng vẫn còn độc thân lại làm nghề “tự do” nên thường về quê thăm ông khi vài ba hôm, khi vài tuần. Ông bảo các con rằng khi nào ông thấy không còn tự lo được ông sẽ về Sài Gòn để các con tiện chăm sóc. Khi còn đủ sức khỏe, ông muốn sống quãng đời còn lại không bị ràng buộc, câu thúc nào.

Về quê được ít lâu thì Minh và vài học trò cũ khác tìm đến thăm ông. Minh đã là mẹ của hai con gái đang học đại học ở Sài Gòn. Chồng Minh là một chủ lò gạch, không may bị tử nạn giao thông. Minh phải từ nhiệm ở Viện Khảo cổ nhưng vẫn làm cộng tác viên không ăn lương. Minh vừa điều hành công việc kinh doanh của chồng vừa tiếp tục theo đuổi ngành khảo cổ. Ngoài thời gian đi điền dã, Minh còn dự những hội nghị, hội thảo chuyên ngành. Ông giúp Minh chuẩn bị tài liệu báo cáo, tham luận như một phụ tá cần mẫn. Minh thường nấu thức ăn tự tay hoặc sai người nhà mang đến cho ông. Đôi khi hai người cùng ăn cơm với nhau. Sự có mặt của Minh khiến cuộc sống của ông đàng hoàng hơn, vui tươi hơn.

Công việc thường trực ở lò gạch Minh  nhờ cậu em chồng giúp. Không biết làm thế nào Minh có thể phân thân cho hai công việc tréo ngoe như thế; việc nầy thì cạnh tranh, tính toán lời lỗ chi ly, việc kia thì tĩnh lặng, phi lợi nhuận. Càng gần Minh, ông càng hiểu rằng trong kinh doanh Minh kiếm tiền nhưng không đam mê, ngược lại Minh theo đuổi ngành khảo cổ chỉ vì đam mê. Minh đã truyền sự đam mê cho ông. Sâu xa hơn, Minh đem lại sự ấm áp cho mùa Đông của đời ông…Ông không muốn phân biệt đó là tình yêu hay nhu cầu có nhau. Chắc là cả hai. Và ông cảm nhận Minh cũng thế, dẫu rằng họ chưa bao giờ đả động gì về tình cảm.

“Em thay anh lên đó và sẽ mang xuống cho anh một món quà đặc biệt…”. Lời thì thào của Minh làm ông xao xuyến. Ông dường như còn nghe văng vẳng bên tai khi nhìn theo bóng Minh mất hút ở sườn núi phía Nam. Ông mỉm cười một mình.

Ông lấy áo khoác phủ lên mặt để che nắng và chợp mắt.

KHI Minh, Hùng và ông Xuân quay xuống chỗ ông Phương nằm, lũ kiến đã bu đen kín mặt đất dưới chiếc võng; chúng  leo lên hai thân cây bạch đàn và theo dây võng bò lên khắp thân thể lạnh ngắt của ông, nhiều con bám vào mặt, mũi và đôi mắt khép kín của ông.

– Anh ơi!…Tiếng Minh thảng thốt nghẹn ngào vang vọng rừng bạch đàn.

Minh chưa kịp trao cho ông Phương “món quà đặc biệt” như đã hứa lúc chia tay…Ngoài Minh, vĩnh viễn không ai biết đó là thứ quà gì.

Chiều đã ngã bóng trên đỉnh Chóp Vàng.*

Nguyên Tiêu- Nhâm Thìn (06-02-2012)

(1)   Hóa chất pheromone

(2)“Nước Non Bình Định”- Quách Tấn.

   Trần Dzạ Lữ

Vá ngày lại thủng qua đêm

Vá thương sang nhớ , để chuyên chở tình…

Vá lòng đã rách ten ben

Em ơi! buồn cũ thắp đèn tìm nhau!

Vá nỗi vui,níu mộng đầu

Vá môi má đã rưng màu từ ly

Vá luôn chiều lỗi câu thề

Áo xưa nhàu bởi người đi không về.

Vá dùm em mảnh trăng kia

Chìm trong sương muối tư bề không anh!

Vá hồi chuông nguyện thị thành

Chúa ơi! Con chúc an lành người xưa…

Vá làm sao trọn cơn mơ

Yêu người bới lược, gương chờ mối ai?

 


( SàiGòn tháng 2 năm 2012 )

– Một ngày chớm xuân, còn gì tuyệt hơn khi đắm mình trong một không gian văn hóa đậm chất làng quê Việt. Nhấp một ngụm Bàu Đá, nhắm miếng nem Chợ Huyện, để những luồng gió làng phả vào da thịt, lắng nghe tiếng trống tuồng lúc xa lúc gần…

 
Ven sông Gò Bồi, nơi từng có cảng thị Nước Mặn một thời tấp nập – Ảnh: Uyên Thu

1. Buổi sáng. Xuất phát ở Quy Nhơn, theo quốc lộ 19, khoảng 20 phút bạn đã có mặt ở thị trấn Tuy Phước. Xuôi theo hướng đông khoảng 3km là đến vạn Gò Bồi (xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, Bình Định), nơi gắn bó suốt tuổi thơ của “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu.

Nếu yêu thơ ông, hẳn bạn sẽ nhớ khổ thơ này: Ngủ không được bởi gió nồm thổi từ biển lên cứ nhắc/ Khi má anh sinh ra/ Anh đã thở hơi nước mắm của vạn Gò Bồi/ Nên tới già thơ anh càng đậm đà thấm thía hơn (Đêm ngủ ở Tuy Phước). Có mấy ai đưa nước mắm vào thơ nhẹ nhàng và thi vị như thế không? Có đến vạn Gò Bồi, thả những bước chân trần trên con đường đất mới hiểu được vì sao Gò Bồi cứ nhấp nháy suốt đời trong thơ Xuân Diệu.

Ngồi ở một quán ven sông, nghe tiếng gió tan trong ly cà phê, dõi mắt theo những chiếc sõng câu xuôi dòng bên bờ tre ken dày, bạn sẽ bất ngờ khi biết trăm năm trước, nơi mình đang ngồi từng tấp nập cảnh trên bến dưới thuyền đông vui nhất nhì xứ Đàng Trong.

Vào thế kỷ 16-17, nơi đây đã hình thành cảng thị Nước Mặn với những chiếc thuyền buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Trung Quốc, Nhật Bản… và từng có mặt trên những hải đồ mậu dịch thế giới. Đến thế kỷ 18, phù sa sông Kôn bị bồi lắng, tàu thuyền không tiến sâu vào nội địa được, cảng thị Nước Mặn chìm dần vào quên lãng. Trong ngày đầu xuân, nỗi hoài cổ và suy ngẫm về sự bất tận của thời gian khiến bạn thấy thời khắc mình đang sống thật đáng tận hưởng.

 
Cụm tháp Bánh Ít ở Tuy Phước – Ảnh: Wikipedia
 
Cổng làng Vinh Thạnh cổ kính rêu phong – Ảnh: Uyên Thu

2. Đình làng Vinh Thạnh (xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước) là kiến trúc cổ nhất trong số những ngôi đình còn lại trên đất Bình Định. Đình chỉ mở cửa mỗi năm hai lần vào dịp Tết Nguyên Đán và ngày giỗ hậu tổ tuồng Đào Tấn (ngày rằm tháng bảy). Với mỗi người Vinh Thạnh, ngôi đình là cái neo tâm linh, là hơi ấm len lỏi trong tim những ngày xa xứ sở.

Thả những bước chân trên con đường làng với những hàng cây xanh mát. Bồi hồi bước qua cổng làng cổ kính rêu phong. Tiếng vọng từ ngàn xưa như đang đuổi nhau trên những mái ngói cũ ánh lên sắc xanh kỳ ảo. Bất chấp quá trình đô thị hóa đang ồ ạt xâm lấn nông thôn, người Vinh Thạnh vẫn giữ được nét thuần Việt của mình.

Đường làng lối xóm tinh tươm. Những hàng rào duối, chè tàu được cắt tỉa tỉ mỉ. Lối đi không chỉ đơn thuần là lối đi nữa mà còn là một thú chơi rất tao nhã của người dân nơi đây. Làng Vinh Thạnh cứ vậy, khiêm nhường và quyến rũ bằng nét riêng không thể trộn lẫn của mình.

Trưa đến thật nhanh. Hãy ghé vào một quán nhỏ nằm khiêm nhường dưới bóng cây gòn trăm năm tuổi, thưởng thức món nem Chợ Huyện ở nơi ngày xưa từng là trung tâm của phố thị Gò Bồi.

Chiếc nem nhỏ xíu vậy mà công phu lắm. Bí quyết làm nem Chợ Huyện là công đoạn giã thịt. Thịt nạc đùi được giã hai lần, lần đầu chừng 20 phút, xong nêm gia vị rồi giã tiếp thật đều tay. Khi nào nghe tiếng chày “ngọt” thì thịt mới thơm, giòn, sợi dài mà không bị vụn. Nem được “mặc” bằng một lớp lá ổi, sau đó bọc bên ngoài lớp lá chuối vừa để lên men, giữ độ ẩm vừa tăng tính thẩm mỹ cho chiếc nem.

Nem Chợ Huyện dai mà giòn, hương thơm đủ làm mê hoặc thực khách. Nem ngon lại có chén rượu Bàu Đá cay nồng… Thật là buồn ngủ mà gặp chiếu manh! Đến Bình Định dịp này, bạn đừng ngạc nhiên khi những cây ổi đương mùa xuân đều trơ trụi lá!

 
Nem Chợ Huyện – đặc sản Bình Định – Ảnh: Uyên Thu

3. Chiều rơi chầm chậm. Tiếng trống tuồng lúc xa lúc gần rạo rực lòng người. Đi xem tuồng với hương rượu còn phảng phất đầu môi, bạn có cảm giác xứ này như gần gũi từ kiếp nào! Sân khấu tuồng rất đơn sơ, những “diễn viên nông dân” đêm đến hóa thân thành Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân, Huyền Trân công chúa, Đào Tam Xuân, Phạm Công – Cúc Hoa…

Càng về khuya, tiếng trống tuồng càng thêm xao xuyến lòng người. Người nới ra, người lại vào bên trong chiếu. Có người vào hàng quán ăn tạm cái bánh rồi lại xem cho hết vở, có khi cũng phải đến nửa đêm.

Vãn tuồng, đường làng nhộn nhịp hẳn lên. Tiếng mọi người bình luận về các nhân vật trong vở diễn, về lòng trung nghĩa, về luân thường đạo lý. Và hình như mỗi người dân nơi đây đều mang trong mình một chút hào hiệp, bao dung của những nhân vật họ vừa xem vở…

Cũng chẳng cần phải ngủ nữa đâu, chẳng mấy chốc bình minh lại lên trên những cánh đồng xanh màu lúa đang thì. Gió ban mai đầu xuân đang thì thầm những cuộc hò hẹn để về với những vùng đất xa xưa trên quê hương Bình Định.

PHẠM UYÊN THU

__________

(*) Ai về Vinh Thạnh quê em
Ăn nem Chợ Huyện, xem đêm hát tuồng
(ca dao Bình Định)

Thơ xuân tặng bạn

 Nguyễn Quy
Tết…đi câu
(Tặng các ông bạn già của tui !)

Ngày xuân xách cần câu cá
Trời xanh. Sông xanh. Cây xanh
Chọn chỗ móc mồi quăng xuống
Ngồi chờ, ngồi đợi … tin lành

Ngày xuân xách cần câu … tình
Nước nghiêng chao phao rung rinh
Cá không mắc lừa rỉa rỉa
Tình không duyên phận – thôi đành

Cá có thể câu cầu âu
Tình đâu mà chờ mà đợi
Một lần chậm – nửa cuộc đời
Ngày xuân xách cần đi … chơi !


Rằng thưa

(Tặng anh Mỹ & chị Thanh-Sông Trăng)


Rằng thưa : Xin cảm ơn đời
Đã cho ta được khóc cười trăm năm
Rằng thưa : Xin cảm ơn em
Đã chọn anh – còn tặng thêm – rượu này

Chưa nhấm môi mà muốn say
Say giả bộ – say loay hoay – say hiền
Này em xin hãy lặng im
Trời mưa đất chịu, đất mềm trời thua

Thưa em anh muốn … them ưa
Một đời anh thích rằng thưa – một lời
Khoanh tay thưa với ông trời
Xin cho anh được đứng ngồi cùng em

Và …nằm thì chờ đến đêm !!!


Xuyên Mộc, Tết Nhâm Thìn 2012
             NGUYỄN QUY

Trưa ngày 14 tháng Giêng năm Nhâm Thìn, 2012, NSƯT Ngọc Cầm đã trút hơi thở cuối ở quê nhà, hưởng thọ 85 tuổi. Ngôi sao cuối cùng của “Tứ đại danh ca” hát bội Bình Định đã tắt nhưng sự nghiệp rạng rỡ của bà với những vai diễn để đời: Liễu Nguyệt Tiêm, Lữ Bố, Địch Thanh… sẽ còn sống mãi trong công chúng yêu nghệ thuật hát bội.

 
Ngọc Cầm bắt đầu nổi tiếng với vai Lữ Bố trong tuồng “Lữ Bố hí Điêu Thuyền”. Trong ảnh: Ngọc Cầm trong vai Lữ Bố (trái) – ảnh chụp năm 1995 (Tư liệu của VŨ NGỌC LIỄN).

Theo cha, anh đi hát từ năm lên chín, lên mười, sân khấu và khán giả, những câu nam câu khách đã sớm ám nhập và đeo đẳng trọn đời Ngọc Cầm những vinh quang và cay đắng, đơn độc của một kiếp cầm ca. Bà đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý – Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) – cùng những danh ca một thời: Hoàng Chinh, Long Trọng, Tư Cá… Đây là những tưởng thưởng vừa đặc biệt vừa tượng trưng. Đặc biệt và tượng trưng vì danh tiếng họ quá vang dội trong hát bội Bình Định chứ không phải theo quy chuẩn thành tích thông thường.

Con nhà nòi

NSƯT Ngọc Cầm tên thật là Võ Thị Ngọc Cầm sinh năm 1927, quê An Hòa 2, Phước An, Tuy Phước. Bà là con Chánh ca Võ Đựng, và là em gái Bầu Thơm, một tài danh để đời với vai diễn không thể thay thế: Phàn Định Công trong “Sơn hậu”! Một gia đình tài danh nức tiếng của hát bội Bình Định.

Mới mười sáu, mười bảy tuổi, Ngọc Cầm đã thực sự nổi tiếng với vai Lữ Bố (trong “Lữ Bố hí Điêu Thuyền”). Vóc dáng cao, gương mặt sáng rỡ…, nói chung và các yếu tố thanh, sắc, thục, tinh, khí, thần đều hội đủ cho một khẳng định tài năng. Cũng như nhiều nghệ sĩ hát bội khác thời đó, bà rất giỏi võ. Người viết bài này từng hỏi chuyện và nghe bà kể tường tận chuyện thứ tự đánh ngã bốn thanh niên chận đường khiến “đại ca” cầm đầu nể phục để bà gánh hàng đi. Yếu tố biết võ là tiêu chuẩn đầu tiên mà thầy Đào Tấn xưa kia nhận học trò cho trường dạy nghề “Học bộ đình”. Võ giúp thực hiện được phần vũ đạo đặc chủng của nghệ thuật này đạt tới tầm tinh diệu.

Thời kỳ Ngọc Cầm bắt đầu nổi danh là thời kỳ hát bội cũng lao đao “cuộc chiến” giành khán giả với cải lương. Theo nhà nghiên cứu sân khấu Vũ Ngọc Liễn, những vở cải lương đầu tiên “chuyển thể” từ hát bội sang: “Sơn hậu”, “Phụng nghi đình” đã có chỗ đứng. Vậy là nghệ thuật này nhanh chóng xuất hiện hàng loạt các kịch bản có tính cạnh tranh mạnh: “Tái sanh kỳ ngộ”, “Cánh buồm trắng, cánh buồm đen”, “Trái tim xẻ nửa”…, những vở diễn “ăm dầm nằm dề” Trường hát Trung Hoa ở Quy Nhơn lúc đó. Hát bội “đói” dài nên các nghệ sĩ trẻ đã mạnh dạn nghĩ cách cải tổ cách hát, diễn và đã có những cuộc tranh luận nảy lửa giữa các thế hệ trước và lớp trẻ.

Ngọc Cầm lặng lẽ vào Sài Gòn xem nghệ sĩ cải lương Phùng Há diễn vai Lữ Bố. Lặng lẽ xem để học thêm cách diễn. Không chỉ tài năng và khổ luyện, Ngọc Cầm còn một phẩm chất nữa là chịu học, khao khát khẳng định mình. Tài năng giúp nghệ sĩ nhanh chóng được nhiều người biết đến. Nhưng để đạt tới một đỉnh cao, nghệ sĩ phải nỗ lực và sáng tạo lớn. Ngọc Cầm thuộc số này và bà đã có những Lữ Bố, Địch Thanh, Liễu Nguyệt Tiêm… để đời trên lộ trình tất yếu đó.

 
Nghệ sĩ ưu tú Ngọc Cầm.

Vinh quang

Trước Cách Mạng Tháng Tám, Bình Định có đến 13 Trường hát bội. Và bất kỳ đâu, chốn công cộng của làng xã hay vườn nhà, chỉ cần một ngày là đội dựng rạp chuyên nghiệp dựng xong một sân khấu cho hát diễn. Dù hát bằng “thanh” thật hay qua mi-cờ-rô, hát với ánh đèn mẻ dầu, măng-xông hay đèn điện, nghệ sĩ Ngọc Cầm cũng sáng rực trên sân khấu.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc liễn, những đêm gió nam, dù hát tận Trường Gò Bồi, từng lúc ở Vũng Bấc (Nhơn Lý) cũng nghe vọng tiếng hát của Ngọc Cầm! Bà là diễn viên đắc “sô” và luôn được các ông bầu tranh nhau mời. Tất nhiên rồi, còn nhiều đào khác cũng rất nổi tiếng nhưng đặc điểm của hát bội Bình Định là tên đào kép thường mặc định với vai diễn trong công chúng. Hát “Lữ Bố hí Điêu Thuyền” mà không có Ngọc Cầm dân không chịu. Cũng vậy, tên bà thường được đặt điều kiện khi ký hợp đồng hát “Địch Thanh ly Thợn” hay “Phụng Nghi đình”… Vai Địch Thanh còn vài kép nam sắm xuất sắc nhưng đào đóng kép giỏi như bà có cái hay riêng.

Những năm sau 1954, bà cùng các tên tuổi danh tiếng khác: Hồng Thu, Lệ Suyền, Hoàng Chinh, Long Trọng, Tư Cá… làm nên một thời kỳ vàng son mới cho hát bội Bình Định. Những đêm diễn thâu canh. Những tiếng trống chầu trống chiến, thúc giục rồn ràng xuân kỳ thu tế, những dịp hội hè. Những câu hát nam hát khách lay động. Những tiếng quân ó xa ó gần dồn vọng lớp lớp.  Tất cả thường bắt đầu bằng phần “ra tuồng” tạo cảm xúc thật lớn, thật ấn tượng đến khán giả. Sân khấu đã làm được cuộc kích động cao độ sự phấn khích và mỹ cảm, và cái ngây ngất đón đợi của công chúng, roi chầu thúc, những khay thẻ “thướng” như những quầng sáng là hiệu ứng người xem đáp lại cũng tạo nhiều hưng phấn cho nghệ sĩ những phút giây xuất hóa.

Bà là một phần của “những đêm diễn” như thế. Từ nông thôn đến thành thị, trong tỉnh và ngoài tỉnh, sắm đào hay làm kép. Và làm thành “Tứ đại danh ca”, cùng các NSƯT Hoàng Chinh, Long Trọng, Tư Cá!

Sau năm 1975, NSƯT Ngọc Cầm không có nhiều đất diễn ở Nhà hát tuồng Đào Tấn, đơn vị nhà nước. Phần kịch bản mới không hợp, phần đã có thế hệ đào kép mới tài năng thay thế. Bà vẫn sống với sân khấu trong dân các huyện, xã. Và rèn dạy học trò.

Và cô đơn

Cách đây vài năm, người viết bài này có dịp nghe bà đối ca cùng ông Vũ Ngọc Liễn. Trước đây ông cũng là diễn viên nên hai người làm cái trích đoạn rất có không khí. Là theo gợi ý của ông, đoạn hồn Giả Thị về gặp Hoàng Phi Hổ trong “Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan”. Nghe bà hát câu nam rợn người: “Ái tía tỏ lời sinh tử/ Kể khôn cùng để sự thê lương”. Và câu tán: “Hồn lai phong lâm thanh phiêu phiêu hề di thế/ Giang tâm thu nguyệt bạch diếu diếu hề tương vong”. Câu này tôi nghe nhà nghiên cứu khen nhiều lần, và dịch nghĩa rằng, ‘‘hồn về rừng thông xanh chơi vơi trong cõi thế, trăng rọi lòng sông buốt hai cuộc đời tiêu tan’’. “Kể không cùng để sự…”, ừ đúng, đây là câu của hồn ma, nó vọng rợn, nó ám đến lạnh lưng.

Nói là NSƯT Ngọc Cầm được sinh ra để ca hát không phải là quá. Cũng vì thế mà bà, tuy cũng có gia đình, chồng con nhưng không phải là mẫu người phụ nữ của gia đình. Sau những hào quang những ánh đèn sân khấu, sau những phấn son và các thói quen ca kỹ, thường là một khoảng trống thật lớn. Tuổi càng cao khoảng trống càng hun hút.

Không riêng gì bà. Nhiều nghệ sĩ cải lương phía Nam trước đây có đêm thu vài cây vàng giờ cũng trắng tay, sống nhờ những giúp đỡ của bạn bè nghệ sĩ.

Hơn mười năm trước qua đề nghị của Nhà hát tuồng Đào Tấn và Sở Văn hóa, tỉnh cũng đã ưu ái tạo điều kiện cho bà có một lô đất ở Quy Nhơn. Rồi bán. Sòng sành mấy lúc lại hết veo. Đâu có lương hưu, bà sống dựa vào con cháu khi Quy Nhơn, lúc Gia Lai, và nhờ bạn bè, những người quen thân cũ, những người mến mộ. Long đong, thiếu hụt và buồn. Những tháng gần đây bà yếu hẳn và người thân đưa về lại quê nhà, trong một ngôi nhà xây tuềnh toàng. Và cuối cùng, sau ngần ấy năm đi và hát khắp vùng miền, bà về với đất ngay nơi làng quê mình.

Tôi đã làm tư liệu về bà từ cách đây mấy năm nhưng không thể viết bài. Vì không muốn tình cờ bà đọc được đoạn không thể không viết rằng, đích thực bà là người của cầm ca, và là một ngôi sao cô đơn. Cuộc sống hiu hắt cuối đời đã mỏi mệt, nghĩ không muốn để bà nặng lòng thêm.

Giờ viết như một nén hương dâng bà, một tài danh sáng chói của hát bội Bình Định. Chỉ còn vọng lại vùng hồi quang đọng hẳn trong ký ức, trong lòng người mến mộ những Liễu Nguyệt Tiêm, Lữ Bố, Địch Thanh…

Ngôi  sao cô đơn, ngôi sao sáng cuối cùng của “Tứ đại danh ca”, đã tắt!

  • LÊ HOÀI LƯƠNG (nguồn  baobinhdinh.com)