Feeds:
Bài viết
Bình luận

Khúc Tháng Giêng

Yến Du

Tháng giêng còn tươi rói nụ cười Xuân
Ta ra phố đã mang theo chút buồn phơ phất
Nỗi nhớ hanh hanh màu nắng vàng ngọt mật.
Thoảng ngang vai mùi hương quen đi lạc rất tình cờ

Tháng giêng còn óng mượt đến non tơ
Ta ra phố thèm trải lòng hồn nhiên với gió.
Không gian vẫn ướt mềm như giọt sương long lanh đầu ngọn cỏ.
Mùa  trong ta đã khác từ thuở trót yêu người

Tháng giêng còn xanh nõn tuổi đôi mươi
Ta ra phố nghe nao nao bồi hồi trong từng nhịp thở
Bắt gặp niềm vui một thời chợt quên chợt nhớ
Thấy bóng người yêu trong dáng tháng giêng ngồi

Tháng giêng còn cong cớn cả vành môi
Ta yêu người như yêu tháng giêng hiền hoà bao dung -tháng giêng lộng lẫy
Ngang qua phố cỏ hoa thềm nhà ai vươn mình ngúng nguẩy
Tháng giêng độ lượng tháng giêng cười biêng biếc cả mùa Xuân .

Chiều trên cảng Copenhagen

Quế Sơn

Quán chiều bồng khói thuốc lá

Ngập ngụa men bia Tuborg

Chim hải âu vờn quanh cột khói đen

Còi tàu từng hồi về đâu giục giã.

.

Chiều trôi bến cảng dâng đầy nước

Người ngồi quán lạ mặt héo hon.

.

Bao năm rồi tôi chưa về Nha Trang

Nỗi ngậm ngùi nào trên đầu lưỡi vẫn chưa tan.

XXX

Tháng mười về mang theo những hẹn hò muộn màng và chụp giựt

Mặt biển và da trời xám ngắt như thây ma

Thành phố thu mình chờ cơn bão rớt

Em co ro xe đạp và chiếc áo len đỏ

Gió ngược chiều mang về anh đôi ba giọt mồ hôi hồng hào hạnh phúc.

.

Anh muốn nắm tay tình bạn tình yêu

Trong quán nhạc rộn ràng bên bếp lửa lặng lẽ

Những sáng trời mù những đêm trăng tỏ

Trong vườn cây buổi trưa trên hè phố buổi chiều

Điều giản dị tột cùng sao lòng ta mãi xốn xang!

.

Như sợi nắng mai mỏng manh cựa mình trên cánh lá

Như khói lam chiều bị nghẹn bóng hoàng hôn

Có nỗi sợ hãi nào cứ lẫn khuất sau câu cười tiếng nói

Như thể có một ngày máu chạy lạc đàng tim.

XXX

Khăn tay nhàu nát trong tay lạnh

Giọt nước nào âm thầm rơi trên ly bia.

.

Em còn đứng trên đồi nhìn máu chảy

Loang những màu trăng thuở xuân thì ?

.

Chiều chưa nghiêng mà tôi đã say mèm

Còn ai đâu nói chuyện hoài cố nhân!

XXX

Bao năm rồi tôi chưa về Copenhagen

Tiếng còi tàu chiều nao lại rúc dậy trong hồn.

Nói đến nhà Tây Sơn, người ta nghĩ ngay rằng thủ phủ của cuộc khởi nghĩa chính là vùng đất xã Kiên Mỹ, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Kỳ thực những ngày đầu ba anh em nhà Tây Sơn đã chọn vùng đất An Khê tỉnh Gia Lai để tập hợp nhân lực, đồn trữ binh lương và dựng cờ khởi nghĩa. Ngày đó vùng đất này vẫn thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, tuy nhiên ngăn cách với đồng bằng bởi dãy núi trùng điệp nên được gọi là Tây Sơn thượng đạo…

Tư liệu về Tây Sơn thượng đạo liên quan đến cuộc khởi nghĩa của 3 anh em nhà Tây Sơn gần như không được đề cập nhiều đến trong sách sử. Sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” chỉ ghi một dòng ngắn ngủi: “Năm 1771, Nhạc thiết lập đồn trại ở đất Tây Sơn thượng đạo”. Lý giải cho việc ít ỏi thông tin này, theo những lời truyền miệng của người dân ở đây, sau khi lên ngôi vua, Nguyễn Ánh đã trả thù nhà Tây Sơn một cách hèn hạ và tàn khốc. Do đó, người dân địa phương muốn thờ cũng phải giấu giếm, và tuyệt nhiên không bao giờ đề cập đến trong các sách vở. Vì vậy những gì liên quan đến ba anh em nhà Tây Sơn hiện nay còn lại chỉ qua lời kể được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Qua lời kể dân gian, những câu chuyện dần dần mang màu sắc thần thoại. Gắn với những di tích hiện có trên vùng đất này, người ta phần nào hình dung được một thời dựng nghiệp của nhà Tây Sơn. Chuyện Nguyễn Nhạc có vợ là người dân tộc Ba Na được người dân nơi đây khẳng định là sự thực.
Vị trí hiểm địa để lập căn cứ
Theo sử sách, từ thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, Tây Sơn thuộc phủ Quy Nhơn, bao gồm từ đồng bằng phía bắc tỉnh Bình Định lên đến vùng cao nguyên phía tây dãy Trường Sơn hùng vĩ. Phía đồng bằng được gọi là Tây Sơn hạ đạo, vùng đất phía tây bên kia dãy đèo Mang hiểm trở tức đèo An Khê được gọi là Tây Sơn thượng đạo, nay là các huyện An Khê, K’Bang, Kon Ch’ro của tỉnh Gia Lai. Ngày ấy, theo lời khuyên của sư phụ dạy võ Trương Văn Hiến, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ từ vùng đất Kiên Mỹ thuộc hạ đạo đã lên đây lập căn cứ địa. An Khê có đất đai phì nhiêu, có nhiều lâm thổ sản quý, có mỏ sắt, mỏ diêm tiêu, nhiều voi ngựa… Cư dân hầu hết là người Ba Na và một số nông dân miền xuôi lên khai hoang, buôn bán.
Do những điều kiện địa lý, kinh tế, chính trị trên, Tây Sơn thượng đạo nhanh chóng trở thành căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa của ba anh em nhà họ Nguyễn. Tại trung tâm lòng chảo tức thị trấn An Khê ngày nay có một con đường mang dấu tích được đắp cao, người dân gọi là “lũy ông Nhạc”, và đây chính là trung tâm, chỉ huy sở của nghĩa quân.
Căn cứ đồn lũy của nghĩa quân Tây Sơn nằm trong một vùng đất rộng khá bằng phẳng thành một lòng chảo bởi được 4 mặt che chắn: đó là quần sơn Ngọc Linh ở phía bắc tức Kon Tum, cao trên 3.000m; hai dãy núi chạy song song theo hướng Bắc Nam là đèo Mang (đèo An Khê) và đèo Mang Yang (Cổng Trời); phía đông và đông nam có dãy Trụ Lĩnh trùng điệp bao bọc với những dãy núi cao bình quân trên 400m so với mặt nước biển; kế bên đó, con sông Ba và suối Cái làm thành hai chiến hào thiên nhiên bao bọc lấy mặt tây và nam. Toàn bộ khu vực này một lần nữa lại được bao bọc bởi một vành đai núi non án ngữ ở phía đông gồm dãy đèo Mang nhiều ngọn núi cao dưới 1.000m, sườn đông dốc đứng cùng với 3 ngọn núi lớn là hòn Bình, hòn Nhược và hòn Tào tạo thành bức tường thành thiên nhiên vĩ đại.
Trong số 3 ngọn núi nhìn về phía đông, thì núi ông Bình (chỉ Nguyễn Huệ, cách gọi khác đi để che mắt nhà Nguyễn) cao nhất, đến 814m. Đứng ở đây, nghĩa quân có thể quan sát đến tận vùng hạ đạo, bờ biển Quy Nhơn. Hòn Bình nối với hòn Nhược (Nguyễn Nhạc) bằng một lũy đắp kiên cố tạo thành thế liên hoàn án ngữ phía đông và nam. Trong khi đó dưới chân hòn Tào (Nguyễn Lữ) là khu vực gò Kho, xóm Ké, nơi nghĩa quân đồn trữ binh lương.
Mặc dù được các bức tường thành thiên nhiên là núi non bao bọc bốn bên, nhưng từ Tây Sơn thượng đạo theo nhiều con đường xuyên sơn khác có thể đi ra các tỉnh phía bắc bằng con đường sang Kon Tum xuống Quảng Nam ra Huế; còn phía nam, sông Ba và các con đường mòn dọc theo các sông, suối tạo thành nhiều đường giao thông thủy bộ quan trọng, nối liền Tây Sơn thượng đạo với vựa lúa Phú Yên và các tỉnh Nam Trung Bộ. Chính vị trí và địa hình ấy tạo cho An Khê có một địa bàn chiến lược lợi hại. Có thể coi vùng này như một bậc thang quan trọng giữa đồng bằng và Tây Nguyên. Từ đây nghĩa quân có thể tiến công xuống đồng bằng và rút về phòng thủ thuận lợi.
 
Dâng hương tưởng niệm Vua Quang Trung tại bảo tàng Tây Sơn thượng đạo.
Người vợ Ba Na của Nguyễn Nhạc 
Từ thị trấn An Khê đi về phía nam thị trấn chừng 8 cây số, người ta thấy một hòn đá hình chiếc ngai nằm bên bờ con suối Chơ Ngao tại làng Đê Chơ Gang thuộc xã Phú An. Người dân Ba Na đến giờ vẫn kính cẩn gọi đó là “to mo bok Nhạc” tức “hòn đá ông Nhạc”. Lời kể của cụ Huỳnh Ngọc Chương năm nay trên 90 tuổi, có 6 đời lập nghiệp tại An Khê, kể rằng ngày ấy có một người đàn ông người Kinh thường đến vùng này mua trầu, người ta gọi ông là ông Hai Trầu. Ông Hai Trầu vẫn thường ngồi nghỉ chân tại hòn đá này, và sau này là nơi gặp mặt hội họp tướng lĩnh. Từ đời này qua đời khác, hòn đá này được coi là vật thiêng của làng. Ông Hai Trầu chính là Nguyễn Nhạc, người khởi nghiệp của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.
Tuy nhiên, nếu không có một người con gái Ba Na thông minh và xinh đẹp giúp sức thì Nguyễn Nhạc cũng khó lòng chiếm được cảm tình của người dân Ba Na nơi đây. Nàng tên là Ja Dok (đọc là Gia – Tót), con của vị tù trưởng Ba Na hùng mạnh và giàu có. Những ngày Nguyễn Nhạc lên đây buôn bán trầu, bà có cảm nhận người này không chỉ đi buôn mà đang ấp ủ một việc lớn. Cảm tấm lòng người anh hùng, bà Ja Dok nhận làm vợ của ông. Ngày nay dân làng Si Tơ, xã Tơ Tung, huyện K’Bang không những tự hào là quê hương của anh hùng Núp, mà còn tự hào là nơi đã cung cấp cho cuộc khởi nghĩa Tây Sơn một nữ nhân anh kiệt. Dưới sự giúp sức của bà, Nguyễn Nhạc đã lấy được lòng cha bà là vị tù trưởng. Bà đã vận động cha và dân trong vùng ủng hộ cho nghĩa quân Tây Sơn 300 thớt voi, 400 ngựa và hàng trăm gùi lương thực.
Kể từ đó công việc của bà gắn với hoạt động của nghĩa quân. Hiện nay dưới chân núi Ca Noong thuộc thôn Tú Thủy, xã Nghĩa An, huyện K’Bang hiện còn cánh đồng chừng 20ha, gọi là cánh đồng Cô Hầu, và một vườn khoảng 500 cây mít, vẫn còn những cây mít cổ thụ, đến mùa vẫn ra sai quả. Đây là nơi bà Ja Dok khai phá để sản xuất nuôi quân. Ngày đó từ thị trấn An Khê đi về phía nam là con đường độc đạo bé xíu, nhưng bà và Nguyễn Nhạc cũng đã đi cả trăm dặm đường vào tận làng Đê H’lang, xã Yang Nam, huyện Kông Chro, dưới chân núi Ja Prum để thuyết phục đồng bào Ba Na nơi đây đi theo cuộc khởi nghĩa.
Tại đây hiện giờ còn dấu tích của nền nhà, nhiều mảnh ngói vảy cá, một hồ nước xây bằng đá tổ ong. Mỗi khi đi qua đây, người dân tộc Ba Na vẫn bày tỏ niềm kính cẩn. Họ nói rằng đó là nền nhà của Nguyễn Nhạc. Cách nền nhà 500m, trong một hốc đá kín đáo bên bờ suối có nhiều đồng tiền xu bằng đồng, gọi là “kho tiền Nguyễn Nhạc”. Trong đợt khảo sát năm 1990, ngành văn hóa thông tin tỉnh Gia Lai sưu tầm được 15 đồng tiền xu gửi tặng Bảo tàng Quang Trung ở Bình Định.
Người dân vùng này kính trọng gọi bà Ja Dok bằng tên ngọn Ja Prum, ngọn núi cao nhất trong vùng. Sau khi bà mất đi, người Ba Na đã an táng bà trên ngọn núi cao nhất phía đông và lấy tên bà đặt cho ngọn núi, núi Ja Dok. Ngày nay dân làng Si Tơ và cả anh hùng Núp ngày còn sống, vẫn cho rằng trong làng vẫn còn dòng giống của nữ chúa.
Truyền thuyết về một thời dựng nghiệp
Tại thôn An Thượng, xã Song An, huyện An Khê, ngay trên trục quốc lộ 19 có một ngôi miếu nhỏ, gọi là miếu Xà. Chuyện tương truyền rằng, năm 1773, khi ba anh em nhà Tây Sơn xuất quân tiến xuống đồng bằng. Khi đến khúc ngoẹo Cây Khế tại đèo Mang (là khúc cua tay áo tại đèo An Khê hiện nay), bất ngờ có một con rắn đen như gỗ mun, to như cột đình ra nằm chặn giữa đường. Trong hàng ngũ tướng lĩnh và nghĩa quân có người cho rằng đây là điềm gở, đề nghị thâu quân. Nhưng Nguyễn Huệ đã tiến lên, rút kiếm chém đứt đôi con rắn, lấy máu tế cờ và hòa rượu cho binh sĩ uống. Sau đó Nguyễn Huệ cho người trèo lên cây ké phất cờ và cây cầy gần đó nổi trống làm hiệu tiến binh. Từ lần xuất quân đó, Nguyễn Nhạc đã lấy được thành Quy Nhơn.
Câu chuyện truyền thuyết về Nguyễn Huệ như người anh hùng đất Bái trảm xà khởi nghĩa, theo lời kể của cụ Đỗ Tùng ở tại thôn An Thượng, xã Song An (đã mất). Sau khi thắng trận, Nguyễn Nhạc cho lập miếu thờ rắn thần tại ngoẹo Cây Khế, nhưng do thời gian và biến loạn nên người dân đưa miếu Xà về thôn An Thượng. Riêng cây cầy và cây ké, đã qua hơn 200 năm nên không còn dấu tích.
Để có được đội binh hùng tướng mạnh, ba anh em nhà Tây Sơn thời kỳ đầu đã có những cách thuyết phục người dân Ba Na khá ngoạn mục. Chuyện rằng lúc mới lên đây, người Ba Na thấy ba anh em Nguyễn Huệ còn trẻ tuổi nên không phục. Trước mặt dân làng, Nguyễn Huệ thách ai nhấc nổi tảng đá trên trăm cân thì làm vua. Không ai nhấc nổi, chỉ có Nguyễn Huệ nhấc lên nhẹ nhàng. Nguyễn Huệ đã cho lấy mật, mỡ viết vào lá cây rừng chữ “Nhạc làm vua, Huệ làm tướng, Lữ làm quan”. Loài kiến ăn theo đó thủng lá thành chữ. Sau đó Nguyễn Huệ sai người cứ nửa đêm lên ngọn Mò O đốt lửa. Người Ba Na lên xem, tin đó là lời Giàng phán, từ đó nghe theo.
Một kỳ công khác là Nguyễn Huệ đã chinh phục đàn ngựa rừng và từ đó thu phục vị tù trưởng Xê Đăng. Hồi đó trên núi Hình Hốt (còn gọi là núi Hiển Hách) có đàn ngựa rừng rất hung hãn, thường về phá rẫy nương của đồng bào. Nguyễn Huệ cho lựa trong bầy ngựa nhà một số ngựa cái thật sung sức, thả ra. Cứ đến chiều, ông lại ra gọi bầy ngựa cái chạy về và cho ăn cỏ. Bầy ngựa rừng lâu ngày thành quen, nhập cuộc với bầy ngựa nhà và sau này, mỗi lần ông gọi cũng theo ngựa nhà chạy đến. Vị tù trưởng Xê Đăng thấy Nguyễn Huệ gọi được bầy ngựa rừng, nghĩ rằng đây là người của Giàng, từ đó quy phục và ủng hộ lương thảo, binh lính cho nghĩa quân.
Còn rất nhiều câu chuyện và dấu tích của nhà Tây Sơn tại vùng đất Tây sơn thượng đạo này. Ở phía nam huyện An Khê, vùng Bà Giang thuộc xã Bắc Giang, có một hồ cá xây bằng đá ong mang tên “hồ ông Nhạc”. Gần đấy có một đập nước lớn gọi là “sa khổng lồ”, nhân dân địa phương quen nói “sa khổng lồ, hồ ông Nhạc”. Tương truyền rằng đó là hồ nước ăn của nghĩa quân. Kế đó có Hóc Yến và núi Lãnh Lương, nơi Nguyễn Nhạc mở tiệc khao quân và phân phát lương thực.
Ngoài việc thu phục người Ba Na, tại đây ba anh em nhà Tây Sơn cũng đã thu phục được những tướng tài cho cuộc khởi nghĩa. Tương truyền rằng khi nghĩa quân còn ở đây, Trần Quang Diệu đã từ Hoài Ân, Bình Định tìm đến. Giữa đường, Trần Quang Diệu bị cọp tấn công và ông đã đánh lại. Quần nhau nửa ngày trời, Trần Quang Diệu xuống sức và may sao lúc đó Bùi Thị Xuân cũng đang trên đường tìm Nguyễn Nhạc đầu quân, nhìn thấy và  giương cung bắn chết cọp.
Cũng trên vùng đất thượng đạo này, cơ duyên đã đưa Vũ Văn Dũng đến với nghĩa quân. Một hôm ba anh em Nguyễn Huệ đi trên một con đường hiểm yếu, nghe một tiếng quát vang cả núi rừng, chim bay tan tác. Một tướng cướp vai hùm lưng gấu nhảy xổ ra và tấn công. Nguyễn Nhạc nghênh chiến. Hai bên quần nhau mấy trăm hiệp, không phân thắng bại. Nguyễn Huệ đứng ngoài xem và thấy đường võ của tên cướp rất giống những ngón đòn thầy dạy, bèn kêu dừng trận đánh lại và hỏi. Hóa ra tướng cướp tên là Vũ Văn Dũng, cùng học võ ở thầy Hiến. Nhận ra đồng môn, Vũ Văn Dũng về đứng dưới cờ Tây Sơn và sau này lập nhiều chiến công hiển hách.
Đặng Vỹ

Em đã đến với anh

Lê Xuân Phong

Em đến …

cuộc đời anh 

giữa mùa đông lạnh lẽo

Môi em cười

là hoa nở mùa xuân

Khi chúng mình

đan vào nhau trong vòng tay thân ái

anh bàng hoàng như giữa tuổi đôi mươi

 

Anh cô đơn

con chim cánh cụt

không thể nào bay

về cõi miền mơ ước của trần gian

Anh cô đơn

con tàu mắc cạn

nghe sóng vỗ

mơ đại dương trên bãi cát bồi

 

Anh 

vụng về 

khô cứng

tảng đá xám

bãi cát ban trưa

cây sầu đông lặng lẽ …

 

Em 

mùa xuân dịu dàng tươi trẻ

hạt sương mai long lanh ánh nắng

con chim bồ câu trắng

đến đậu bên anh âu yếm hiền lành

anh đang rất buồn và rất cô đơn

anh đang bồi hồi giữa bao kỷ niệm

anh đang ngập chìm trong đau khổ

 

Rất cám ơn em,

Vô cùng cám ơn em

đã đến cùng anh chia xẻ

những tháng ngày dằng dặc suy tư

một chàng trai khao khát tình yêu

 

Hãy mang đến cho anh

Trái tim dịu dàng và tha thứ, em yêu

Anh nhỏ bé và vụng về như thể

Con chim cánh cụt sống trên băng

 

 

 

Hi i’m crazy

Sự dối trá ngọt ngào

Truyện Ngắn

Trần Minh Nguyệt

Máy điện thoại của Diệp báo là có tin nhắm mới, không cần xem cô cũng biết là của Trường. Diệp nghĩ thầm chắc cũng chỉ là lời chúc giống như bao buổi sáng thôi, lời chúc mà không cần đọc tin nhắn, cô cũng có thể đọc được: “ Chúc em một ngày mới an lành, may mắn!”. Diệp không biết câu chúc của anh có linh ứng hay không – nhưng sáng nào không nhận được tin nhắn, hay tin nhắn đến trễ là cô cảm thấy người khó chịu, không yên, như thiếu một thứ gì đó rất quan trọng. Và cả ngày hôm đó cô dường như không làm được việc gì cả. Diệp với tay lấy điện thoại bấm xem, lời dặn dò của Trường hôm nay làm cô bật cười. Lúc nào cũng vậy, anh luôn xem cô như là một đứa em gái nhỏ cần che chở. Bảo vệ và thương yêu. Ngoài câu chúc quen thuộc, còn có thêm vài dòng mới: “ Hôm nay tiết Đông chí, trời lạnh và khí trời độc lắm, em nhớ mặc ấm, xoa dầu trước khi đi làm nhé?”. Cô mỉm cười bấm nút gọi, tiếng của một cô ca sĩ nào đó hát bài “ Vầng trăng khóc”- nghe buồn não nề, và rồi cô cũng nghe được tiếng của Trường khàn khàn ở đầu dây bên kia:

–         A Lô! Chào em! Em không đi làm à?

Diệp không trả lời câu hỏi của Trường mà cười :

–         Tin nhắn của anh hôm nay giống của ba em quá!

–         Anh phải lo cho em chứ, sức khỏe của em yếu vậy nên phải cẩn thận. Em mà không khỏe thì lấy ai cằn nhằn anh bây giờ?

–         Nói xấu em rồi, em ngoan mà…

Không có tiếng trả lời chỉ có tiếng cười sảng khoái của Trường đáp lại

Cô chào anh và tắt máy, cảm thấy lòng thật ấm áp, dể chịu.Ngày mới bắt đầu…

Diệp và Trường không phải là hai nửa dành cho nhau, dây tơ hồng không buộc hai người. Trường đã có một gia đình yên ấm và hạnh phúc. Một người vợ đài các, kiêu sa, và rất dịu dàng trong đối xử. Và họ đã có với nhau hai đứa con – một trai, một gái thông minh, xinh xắn đáng yêu như những tiểu thiên thần. Còn Diệp một cô gái quê nghèo, tầm thường, cục mịch, không có gì đáng tự hào ngoài mớ kiến thức rối bòng bong trong đầu. Cô vẫn biết vin vào tình yêu với Trường là vi phạm về đạo đức, là ngoại tình, và đáng bị lên án; vậy mà Diệp cứ như đang bị lạc vào một bến mê không thể nào tìm được đường ra.

Ngày còn học phổ thông, ngồi chung lớp. Diệp và Trường được mấy bạn trong lớp gán ghép như một trò đùa về sự tương phản, một bên là cái đẹp, sự hoàn hảo; một bên là sự xấu xí, rụt rè, nhút nhát. Có mấy câu ca dao mà chúng bạn chế nhạo cô và anh lúc đó: Gỗ trắc đem bắc ván cầu,Yến sào đem nấu với đầu tôm khô “

Ban đầu khi nghe lũ bạn ghép đôi, Trường ghét cô lắm, không bao giờ Trường nhìn cô, hay nói bất cứ điều gì với Diệp cả. Nhưng sự thông minh, và am hiểu của Diệp dần dần lấy điểm cảm tình với các bạn cùng lớp, và cả với Trường nữa. Thời phổ thông, những cậu bé, cô bé ít chú ý đến nhan sắc, đến ngoại hình, mà chú ý nhiều đến sự hơn thua trong học tập, đến tài năng và thông minh của nhau mà thôi. Cũng nhờ lợi thế này mà cô trở thành bạn gái của anh sau một lần đố vui để học do trường tổ chức giữa các lớp.

Thi đấu vòng loại xong, lớp Diệp và hai lớp nữa được chọn vào thi chung kết. Đội của cô giỏi về các môn tự nhiên,  nhưng các câu hỏi về lĩnh vực này, học sinh ở các đội khác cũng trả lời được. Vì vậy số điểm được chia đều cho ba lớp, lớp của Diệp kém hai lớp còn lại 10 điểm vì khả năng phản ứng của họ nhanh hơn. Trên bảng chỉ còn lại một câu hỏi 20 điểm về lĩnh vực văn học mà lĩnh vực này cả Trường, Diệp và Nam đều không giỏi. Nét mặt buồn, thất vọng và lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt của Trường. Cả đội đều hồi họp, căng thẳng. Thầy Sanh – Người dẫn chương trình đọc to câu hỏi: “ Trong truyện Kiều có ba nhân vật phản Diện là Mã Giám Sinh, Sở Khanh và Hồ Tôn Hiến. Em hãy tìm ba câu thơ mà trong đó có chưa ba từ nói lên toàn bộ bản chất của những người này?”.

             Nghe xong câu hỏi Trường nhăn mặt lắc đầu. Hội trường im phăng phắc, Diệp nhìn sang hai đội bạn, họ cũng đang bàn luận nhưng cuối cùng vẫn không có tiếng chuông nào vang lên. Diệp từ nhỏ đã rất thích truyện Kiều, và cô lại rất thông minh, đọc vài lần thôi mà Diệp gần như nhớ hết 3254 câu. Diệp e dè bảo Trường ấn chuông và ngập ngừng trả lời câu hỏi.

Mã giám Sinh:

“ Ghế trên ngồi tót sổ sàng”, từ “ tót”

Sở Khanh:

“ Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào”, từ “ lẻn”

Với tên quan Hồ Tôn Hiến:

“ Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”, từ “ ngây”

Trả lời xong, Diệp ngước lên nhìn ban giám khảo chờ đợi. Trong thâm tâm, Diệp nghĩ mình đã trả lời đúng nhưng cô vẫn cảm thấy lo sợ. Và Diệp không phải chờ đợi lâu, Thầy Tuân trưởng ban giám khảo đứng lên chúc mừng cho toàn đội. Trường nhảy lên, quên mất cô xấu xí,  quê mùa, quên mất đang có nhiều thầy cô, bạn bè trong hội trường, ôm chầm lấy cô xiết chặt. Một cảm giác rất lạ truyền đến trong cô, cho tới bây giờ, Diệp vẫn còn nhớ cái ôm vô thức hân hoan của Trường lúc đó.

Rồi Diệp và Trường cùng tốt nghiệp Trung học Phổ Thông, và tạo hóa một lần nữa lại trêu đùa – cô và anh đều thi và đậu vào trường Đại học kinh tế. Sống xa nhà, và nhất là không bị lũ bạn trêu chọc, nên Trường quan tâm lo lắng cho cô nhiều hơn. Tuy vậy anh chưa từng nói với cô một lời yêu thương nào mà những đôi tình nhân thường dành cho nhau. Có lúc Diệp cảm thấy tình cảm mà anh dành cho cô không phải là tình yêu mà chỉ là thứ tình của một người bạn thân, của một người anh trai dành cho cô em gái mà thôi. Còn Diệp thì ngược lại, cô đã gởi trọn hồn mình cho anh cất giữ, và mơ màng hi vọng vào một ngày mai.

Sự gần gũi thân tình này kéo dài suốt mấy năm học – Trường và Diệp đều ra trường. Với vẻ bề ngoài dể nhìn, cộng với ăn nói có duyên và tài năng, anh nhanh chóng xin được một vị trí làm việc, là mơ ước của nhiều người. Diệp chạy vạy mãi, sau cùng cũng kiếm được một công việc bình thường, đủ nuôi sống bản thân, nhưng Diệp vui nhất là được ở gần công ty Trường đang làm.

Hàng tuần anh vẫn đến thăm cô, vẫn cùng cô ăn tối, cùng cô đi dạo như những người đang yêu nhau – nhưng cũng chưa một lần Trường tỏ tình, nói với cô những lời mà cô đêm ngày mong ước. Thời gian bình lặng gắn bó như vậy cứ lờ lửng trôi qua. Hai năm sau, vào một buổi chiều cuối tuần như lệ thường vẫn hẹn nhau đi ăn tối – sau bữa ăn, Trường đưa Diệp vào vào quán cà phê “Thiên Đường” quen thuộc. Sau khi gọi cho cô cốc ca cao nóng, món uống mà cô thích nhất, và cho mình li cà phê đá – anh mở lời:

–         Diệp này! Chắc là  anh sẽ không thể đến thăm em trong một thời gian…

Cô ngạc nhiên nhìn Trường

–         Anh đi công tác xa à? Đi thời gian bao lâu vậy?

–         Không phải là đi công tác – Trường bối rối. Anh phải cưới vợ, phải làm cho xong nhiệm vụ với gia đình em à. Cha, mẹ của anh muốn có cháu để bồng…

Diệp bàng hoàng, nhìn sững vào anh – đôi môi mấp máy:

–         Anh đùa à?

Trường lấy trong túi áo lạnh ra một tấm thiệp cưới, và đưa về phía cô thay cho câu trả lời. Tên anh và tên một cô gái nằm sóng đôi, Diệp thấy hoa cả mắt. Cô muốn gào lên, muốn nhiếc mắng anh, muốn hỏi anh nhiều điều, nhưng cô không thốt lên được lời nào. Diệp ngồi im – cố ghìm những giọt nước mắt đang chực trào ra. Trường cầm lấy tay cô – siết mạnh::

–         Em đừng buồn, hãy cố lên, anh chỉ không liên lạc với em hơn một tuần thôi mà.

Diệp cắn chặt môi – thầm nghĩ: “ Anh ấy chỉ xem mình như một người bạn mà thôi? Vậy mà mình đã ảo tưởng, đã mơ mộng. Một con vịt bầu xấu xí như mình làm sao có thể sánh với Thiên nga?”. Lòng tự trọng trong Diệp trổi dậy, cô cố gắng nhếch môi cười. và nhìn đứng lên mặt Trường – chậm rải nói

–         Diệp chúc mừng anh. Chúc anh hạnh phúc!

–         Em không buồn gì anh chứ? – Trường như đọc được lòng cô.

Cô nói dối:

–         Sao em lại buồn giận anh được? – Diệp khẻ cười, anh chịu làm bạn với em là đã may mắn cho em lắm rồi.

–         Đã từ lâu anh xem em giống như em gái của anh vậy – em không đẹp nhưng em dịu dàng, thông minh, có cá tính – em đáng yêu lắm – Trường chợt cầm lấy bàn tay búp măng trắng muốt của Diệp – Anh tin chắc rồi em sẽ tìm được người chân thành, thực sự yêu em…

Diệp mở to đôi mắt nhìn Trường:

–         Nếu em không xấu mà xinh như cô vợ bác sĩ sắp cưới của anh – anh có bỏ em đi cưới vợ không?

Trường im lặng – nét mặt thẩn thờ. Như vừa đau xót, vừa thương cảm.

              Trường giữ đúng lời đã hứa, sau ngày cưới một tuần, anh gọi điện cho cô và hẹn cô đi uống cà phê buổi sáng. Diệp giận anh lắm và tự hứa với lòng là sẽ không gặp lại anh nữa – cô không muốn làm kẻ thứ ba, để cho gia đình phải anh khổ – vậy mà khi nghe giọng nói bối rối, như có vẻ hối lỗi của Trường, cô quên đi lời hứa của chính mình, cô chỉ biết là cô phải gặp Trường, vì cô đã nhớ anh suốt tuần lễ qua.

Sau cuộc gặp cùng nhau uống café ở cái quán có tên ”Thiên Đường“ thân quen cũ, mọi chuyện vẫn như xưa. Nhưng Trường quan tâm tới cô hơn trước. vẫn có thời gian rảnh là đến thăm cô và nhắn tin chúc cô an lành mỗi ngày. Còn Diệp không làm sao ra khỏi cái mê lộ của chữ tình mà Trường đã bày ra   Bao lần cô đã thầm nghĩ,  mình cũng là một người con gái, cũng cần sự an ủi, thương yêu, nhưng sao đợi chờ mãi vẫn không có người thành thật tìm đến bằng trái tim yêu thương mà cô hằng mong ước. Chỉ gặp nhiều người tán tỉnh, lợi dụng và trái tim khô cằn. Vì vậy cô vẫn yêu Trường bằng thứ tình yêu cuồng si, và trái tim nóng bỏng – nhiều lần cô muốn sa ngã cùng Trường. Nhưng anh luôn tỉnh táo để cô và anh không thể tiến xa hơn tình anh em, tình bè bạn.

Bây giờ công việc của Diệp rất ổn định, không lo gì về kinh tế, nhưng trong cô vẫn một nỗi buồn khó tả thành lời. Cô nhớ lại câu chuyện cổ tích “ Ngàn lẻ một đêm” mà cô đã đọc hồi còn bé. Diệp thấy mình cũng giống như vị hung thần kia – cô cũng đợi chờ trong vô vọng nhiều năm, nhưng cuộc sống của cô vẫn không có gì tươi sáng. Trường vẫn luôn bên cô, nhưng cuối cùng Diệp vẫn không biết hết ý nghĩa mầu nhiệm của tình yêu là gì? Phải chăng nó giống như thứ tình mà Trường đã bao năm dành cho cô? Nó mong manh. Diệu vợi. Và không thể nắm bắt?

Diệp nghĩ: Đôi khi tình yêu cũng chỉ là một thứ ảo ảnh của đời sống tạm này mà thôi. Trong đầu của Diệp, Trường luôn là một người yêu đầu ấp tay gối với cô đã bao năm để được yên vui tiếp tục cuộc sống rất nhạt nhẽo này…

Thơ cho lễ tình nhân

NOBITA Mừng Valentine

Hôm nay ngày lễ_ TÌNH NHÂN_ NOBI TA chúc quanh sân một bài..
Chúc cho quí dzị sống dai,
Dzui quài, cười mãi, sái quai….đi chỉnh hình.!
Lỡ mà Nô nói linh tinh
Bà con cô bác niệm tình…lượng thứ cho..! hê..hê.

C ù Lao sóng vỗ đẹp xinh
H oa Ti Gôn đẹp người ta ngắm quài
Ú ôn lượn cùng với Kim Mai
C ao Quãng Văn hát… nên bài tình ca

M ang Viên Long nẫu quê ta
Ư ng nhìn bóng dáng Thanh Hoa nằm chờ
N hã Nguyên đưa võng ầu… ơ
G alant luồn lách đâu bờ… liu xiu

N gô Đình Hải dáng dzịt kìu
G ọi Hùngpt chơi liều hổ cao
A ó Lụa Vàng thấy nao nao
Y ến Du tung nước hất dzào Nguyễn Quy

L ê Huy _ Nguyễn Á mê li
E m nào cũng tán Nobi..ta khùng

T ú Gàn khí tức chưn run
I m nghe tiếng gió lùng bùng xả hơi
N ẫu Nhân ngẫm nghĩ cuộc đời
H oàng Kim Chi tiếc..nhớ thời ấu thơ

N guyễn Tiết lặng lẽ ơ hờ
H oa Tường Vy ước trong mơ duyên mình
A n h hùng núp…Bùi Chí Vinh
N am Thi nhập bọn quăng sình đám đông

M ai Thanh em gái chửa chồng
Ư ớc Vũ lê đức… phòng không lạnh lùng
Ơ n trời cho được sống chung
I n trong tâm trí một vùng quê xa

B a hoa nguyên soái cười xòa
Ô m bông Bá Nghĩa ta bà kháo dzui
N ị buồn ngầu khóc sụt sùi…

T hế Thành say xỉn ngậm ngùi lang thang
H ữu Duyên giở thói ngang tàng
Á n binh chận hậu phan ngang tứ bề
N ẫu Quơi đắc ý hả hê..
G ềnh Ráng nốc rượu khà khề vấn vương

H oa Phượng rơi vãi bên đường
A ó Tím thơ thẫn nhớ thương Thiên Bồng
I nh tai Mõ Gió chơi ngông

N guyễn thị Mây khóc, Lam Hồng giã say
Ă n nhiều uống ít nói hay
M inh Huy chuốc rượu Ớt Bay bái dài

H uyền Cơ Rong Biển Khảo Mai
A i trong ba nick dzua hài tiếu lâm
I m nghe cậu “cóc” trời gầm..

N ẫu Xóm Cũ bám cô năm Xóm Chùa
G ieo mầm cấy mống búa xua
A n nhiên tự tại đổ thừa Văn Dân
N ghe tin Công Mỹ bần thần

K hinh thường Thuận Nghĩa ái ân dzỏm lè
H ồng Ngọc bác sĩ răn đe
Ô ng già Mắm Ruột khò khè lưỡi câu
N íu chưn Dạ Lữ lầu bầu
G ọi Kim Loan đến giãi sầu nỗi oan

T hương chàng Ngọc Tín đi hoang
R êu phong phủ lối khoe toàn Mẫu Đơn
Ă n chơi xong lại dỗi hờn
M ột lòng hai dạ ai hơn…ta lì..

M inh Chính nhếch mép hi..hi
Ư ng xem Tu Thuc cụng ly Dzinh rùa
Ơ kìa Quang Dũng thèm chua
Í chà ! hai tháng đã mua áo bầu

H ỏi nàng Thy lảo xa xâu
A m gần không ở ra đâu cuối đèo
I m lìm Đình Thậm ăn theo

H ái hoa bắt bướm mà nghèo trắng tay
A i cần chàng có mặt ngay
P hương xa Bất Giới chờ ngày lập công
P hàn Lê Huê chúc Xuân Phong
Y ên lành hạnh phúc con đông xếp hàng

V iết Khiêm niềm nỡ hân hoan
A nh hào tầm cỡ Chulan quê mình
L ời Tuyết vân gửi Văn Hinh
E m buồn anh cứ lặng thinh thở dài
N am nhi _ chí tại dzợ hai..
T hu Hồng _ Sống Đẹp dẫu phai ân tình
I n hình Kim Bửu lung linh
N guyễn Nguyên trao đóa hoa xinh tặng nàng
E m ơi nay hội hóa trang

D ìu nhau ta đến nhà hàng uống say
A nh em cô bác xum vầy
Y a ma ha vú….ngất ngây tình nồng !

VALENTINE 14/2 XIN CHÚC CÁC ĐÔI TÌNH NHÂN
NGÀY MỘT THĂNG HOA_TRẺ MÃI KHÔNG GIÀ

.

VALENTINE 2012

Có những chiều về qua chợ cóc

Đú đởn muốn tặng em, ví dụ – một đoá hồng

Nhưng cứ đứng, bần thần, rồi ngại..

Chẳng biết vợ mình, có chọc mình không?

Bao năm rồi em nhỉ

Từ độ em theo chồng?

Chồng em như là kẻ

Có sống cũng bằng không…

Anh lặng nhìn, lũ trẻ ranh trên phố

Và thấy lơ ngơ, giữa lấp lánh đèn mầu

Chúng ngủng nguẩy, nào gấu bông, hoa đỏ..

Bỗng chợt giật mình, ta có gì cho nhau?

Ôi thời buổi, mở cửa ra là khốn đốn

Là cơm áo sáng mai, là con cái đến trường

Là nghề nghiệp chông chênh thời khủng hoảng

Là nụ cười gượng gạo, buổi nhiễu nhương.

Nhẽ nào anh, được đổ cho thời buổi?

Và được đổ cho, cơm áo gạo tiền?

Để mỗi lúc chạm vào vùng lãng đãng

Anh tự huyễn mình, cho phép được quên…?

Chiều nay, nếu về qua chợ cóc

Nhất định anh sẽ mua,ví dụ – một đoá hồng

Và cứ thế, mặt dày tặng vợ

Kệ em rằng, có chọc hay không!

.

Đại Cáo Tình Yêu nhân ngày Valentine 2012

Từng nghe Việc yêu đương cốt ở Nữ, Nam
Do yếu lòng muốn đi tìm bạn
Như nước ta từ trước
Vốn chẳng có mười bốn tháng hai
Yêu đương Nam Nữ cũng do
Cha mẹ hai bên đồng ý
Từ già, trẻ, gái, trai
Bao đời yêu bằng thề hẹn
Cùng teen tuổi dậy thì
Mỗi khi đã lớn cần yêu
Tuy thời thế có lúc khác nhau
Song thủy chung đời nào cũng có…!!!

Cho Nên:

Mị Châu dù bán nước vẫn có Đức Lang Quân
Trọng thủy giúp vua cha, vì tình cũng không còn mạng
Nào Từ Hải chết đứng do yêu
Hòn Vọng Phu mãi trông về biển lớn
Việc Xưa Xem Xét
Chứng Cứ còn ghi…!!!

Vừa Rồi:

Nhân nhà nước hội nhập vươn xa
Để trong nước nhiều phen thay đổi
Bọn dân teen thừa cơ gây loạn
Lũ Dê bò quen thói lăng nhăng
Thay người yêu như khoác áo lên người
Tỏ tình nhố nhăng nhiều phen bệnh hoạn
Dối mẹ lừa cha đủ muôn ngàn kế
Xa rời đạo sống đã mấy mươi năm
Bại văn hóa nát cả đất trời
Yêu lăng nhăng lòng chuyên lừa dối
Người vì yêu bỏ bê việc học
oằnh lưng kiếm tiền cho bạn gái
Kẻ vì yêu tự tử bao lần
Ngán thay “chết không có kiểu đẹp”
Vét gái xinh, kiếm tìm teen trẻ
chốn chốn phố đêm
Nhiễu nhân dân, nạn mại dâm
khắp nơi tràn ngập
Tàn hại cả đấng trai hùng cao cả
Nheo nhóc thay kẻ góa vợ kiếm tìm
Thằng kiếm vợ, đứa kiếm người yêu
Tán gái bấy lâu nay chưa chán
Nay đi cầu, mai kiếm gái
Con nhà ai đẻ đặng cho vừa
Nặng nề một nỗi dân teen
Tan tác cả người đi học
Ham muốn thay, kiếm người yêu trong ngày đi hội
Tự sướng sao, lễ Ven tin có bạn trai cùng
Người người đều như vậy
Trời đất chẳng ai thương

Ta đây :

Chốn Bách Khoa bức xúc
Cũng giới trẻ như người
Ngẫm giới trẻ chúng chẳng giống mình
Căm bọn chúng thề không cùng loạn
Đau lòng nhức óc, chốc đà mấy mươi năm
Muốn đổi dân teen há phải một hai sớm tối
Quên ăn vì giận, chẳng có người yêu nên nghĩ đã lâu
Ngẫm trước đến nay, nền văn hóa chúng ta đang suy bại
Những chằn chọc khi đi đường thấy
Thấy băn khoăn một nỗi đồ hồ
Vừa khi lòng muốn đổi thay
Chính lúc dân teen học đòi Lê Văn Luyện

Lại ngặt vì:

Người giống mình như sao buổi sớm
Kẻ chưa có tình như lá mùa thu
Việc cải tổ thiếu kẻ ý cùng
Đổi dân teen, hiếm người cùng luận
Tấm lòng yêu nước
Muốn nâng cao văn hóa nước nhà
Vẫn đăm đăm muốn nói với dân teen
Tấm lòng của ta
Vẫn chăm chăm muốn mọi người cùng biết

Thế mà:

Dân teen ngày càng quá đáng
Lấy ngày của các nước Tây
Chúng ta hãy phải dốc lòng
Tự giữ lấy Văn hóa muôn đời ngàn năm còn đó
Vội vã hơn cứu người chết đói
Phần vì giận dân tình đang loạn
Phần vì lo nhiều ngày lễ phát sinh
Khi Valentin cho nó của mình
Cũng ngày lễ bên tây dân ta cùng nhận
Trời thử lòng giao cho vận lớn
Dân Teen bốn cõi một nhà
Liệu mà giữ lấy gốc ta
Chớ để hóa tha xong rồi mới tiếc
Giới trẻ một lòng đồng cảm
Hòa cảnh chung mà giữ đẹp đời
Nhận ngày lễ Tây mà đừng mất gốc
Đừng để rồi tha hóa dân ta….!!! quá đáng
Lấy ngày của các nước Tây
Chúng ta hãy phải dốc lòng
Tự giữ lấy Văn hóa muôn đời ngàn năm còn đó
Vội vã hơn cứu người chết đói
Phần vì giận dân tình đang loạn
Phần vì lo nhiều ngày lễ phát sinh
Khi Valentin cho nó của mình
Cũng ngày lễ bên tây dân ta cùng nhận
Trời thử lòng giao cho vận lớn
Dân Teen bốn cõi một nh�
Liệu mà giữ lấy gốc ta
Chớ để hóa tha xong rồi mới tiếc
Giới trẻ một lòng đồng cảm
Hòa cảnh chung mà giữ đẹp đời
Nhận ngày lễ Tây mà đừng mất gốc
Đừng để rồi tha hóa dân ta….!!!

(Nguồn :sưu tầm)

Thơ cho người mong gặp

Trần Mai Hường.

Có một ngày đá bỗng thấy nhớ nhung,nỗi nhớ vu vơ từ nơi nào xa lắm,mây như mướt hơn khoe trời ngọt nắng,ngọn gió mềm lay khẽ phím non tơ.

Ngỡ qua rồi những run rẩy xa xưa,thời phấn trắng bảng đen tươi nguyên màu áo, tình yêu ngàn đời vẫn trái tim mách bảo,thuở tinh khôi lại chập chững tìm về.

Em rưng rưng đón nhận đam mê, khẽ lùa tay chặn tim mình lỗi nhịp,có phải anh thực hư hư thực, giăng mắc này mặc định những đa đoan.

Đêm trống đêm em hờn giận thời gian mà thời gian thích đùa dai đến lạ,em như chấm buồm nhỏ nhoi giữa trùng trùng biển cả,nào biết dưới biếc xanh kia ẩn chứa những gì.

Chợt bàng hoàng khi khép nhẹ hàng mi,ẩn hiện bóng hình người em mong gặp, biết đâu… biết đâu… ở một nơi xa lắm, anh cũng như mình…lặng lẽ…biết đâu…

 

Con gái rượu

Vũ Thế Thành

Như con hổ già trong gánh xiếc bỗng nhiên nhớ rừng, người già thường cô đơn, dễ tủi. Họ cần sự cảm thông và chia sẻ, mỏng manh trước những bất cần. Tiện nghi vật chất hờ hững. Thế giới tâm linh trở nên gần gũi hơn…

Tôi gặp cha con họ  trong một quán phở gần nhà thờ Ba Chuông, hồi năm 80 hay 81 gì đó.

Tối đó trời mưa. Đi chơi về khuya, tôi táp vào quá phở. Quán vắng khách, chỉ có 2 người: ông già và cô gái. Họ đang uống rượu, thủ thỉ nói chuyện. Hơi lạ!

Tô phở đã kết thúc mà mưa chưa dứt. Sàigòn mưa tháng bảy nhì nhằng bất kể lúc nào, tối khuya hay nửa đêm về sáng cũng chẳng chừa.

“Chú em qua đây làm một ly cho ấm bụng”, ông già nâng ly nói vói qua. Đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh. Mưa rả rích thế này, đang thèm rượu, mà uống một mình, cay ai chịu nổi. Không khách sáo, tôi bước qua bàn ông và cạn ly.

Ông chỉ qua cô gái với chút hãnh diện: “Đây là con gái tôi. Nó làm ở tổ hợp đan lát. Hôm nay nó lãnh lương, rủ bố đi nhậu”. Cô gái trạc hai mươi, tóc ngắn, có da thịt, trông có vẻ quyết đoán.

Ông tự giới thiệu là họa sĩ. Trước năm 75, có triễn lãm tranh ở nhiều nơi, kiếm tiền rủng rỉnh, tay chơi một thời. Bây giờ chẳng ai mua tranh, đi vẽ thuê  panô, áp phích qua ngày. Tôi dốt hội họa bẩm sinh, dốt thời đi học, và bây giờ vẫn dốt, nên không hào hứng lắm với chuyện tranh ảnh, nhưng nghe ông kể cuộc đời lãng tử của ông, chuyện văn nghệ sĩ Sàigòn cũng thấy vui vui. Chuyện vãn tôi đoán ông khoảng ngoài năm mươi, tóc dài chấm vai, thưa, nhiều sợi bạc, mắt hõm sâu, tinh anh, mặt gầy, xương xẩu, áo sơ mi đuôi tôm rộng thùng thình. Trông ông có vẻ già hơn tuổi nhiều.

Tô mồi gân bò còn hơi đầy, nhưng xị rượu gần cạn. Có vẻ như cha con họ uống nhiều, nói nhiều và nghe nhiều hơn là ăn. Tôi gọi thêm xị rượu: “ Xin phép chú, từ chai này cháu tính, mời chú và cô em…”. Ông xua tay, hơi to giọng: “ Chú em gọi rượu được, tính tiền được, nhưng không được gọi tôi bằng chú, phải gọi là anh, mình là dân nghệ sĩ…”. Ông già chơi thế mới…nghiệt. Tôi hơn cô gái chừng năm, sáu tuổi chứ nhiêu, lỡ cỡ… Tôi rót rượu mời ông, mời cô gái. Cô chỉ nhấp môi, lí nhí : “ Cám ơn…chú”. Lỡ cỡ là ở chỗ đó! Ông già cười ha hả: “ Con này nó chỉ đá mồi”.

Rượu ngấm qua bờ môi… Bỗng nhiên ông đứng dậy, lảo đảo, một tay vịn mép bàn, ông hát:

“Ngày mai lênh đênh trên sông Hương.

Theo gió mơ hồ hồn về đâu?

Sóng sầu dâng theo bao năm tháng.

Ngóng về đường lối cũ tìm em…”

Tiếng hát không cần nhịp, lúc ngắn lúc dài, khi hát khi nói, lúc nhỏ lúc to,… Lưng ông còng, khom người xuống, tay phải áp vào tim, dang ra diễn đạt, trông ông còng đến thảm hại. Ông hát không cần người nghe, ông hát cho chính ông, hát để trang trải nỗi lòng. Rồi ông thẳng người lên:

“ Thương em thì thương rất nhiều,

mà duyên kiếp lỡ làng rồi.

Xa em, lòng anh muốn nói….”.

Giọng ông khàn, gào lên như tiếng con gà bị cắt tiết. Tôi nhìn sang cô gái, mắt cô chăm chăm nhìn ông. Tôi buột miệng: “ Mẹ đâu?”. Mắt cô vẫn không rời cha, môi mím chặt: “ Bỏ đi rồi!”. Tôi thấy khóe mắt cô có giọt nước…

Những năm tháng đó, lòng người đổ vỡ nhiều, kẻ đi người ở, tâm trạng lao đao, nhân tình thế thái. Giọng hát của ông họa sĩ dở nhất trên đời, nhưng nghe ông hát, nhìn ông diễn mới cảm ra được số phận thế nào. Tiếng hát không đi vào lòng người thì đi về đâu? Ánh mắt của cô con gái nhìn cha đã ám ảnh tôi cả một đoạn đường dài.

Cách đây không lâu, tôi có đọc một truyện ngắn của một cô gái kể về cha mình. Cha cô là một người đàn ông có trách nhiệm, nghiêm khắc, thương con. Từ ngày qua Mỹ, ông làm quần quật để lo cho các con ăn học. Mục tiêu của ông là thế, rồi dựng vợ gả chồng. Mẹ cô tiếng Anh kém, nên chỉ ở nhà nội trợ. Đến tuổi, mẹ cô lãnh tiền già, ba cô lãnh lương hưu. Mẹ cô bỗng đổi tính đổi nết, ăn nói ngang ngược, suy diễn lung tung. Ba cô trở nên ít nói, suốt ngày trong phòng, niềm vui duy nhất là đứa cháu ngoại. Rồi một hôm, cha cô bỏ đi, để lại mảnh giấy nhắn, đừng  lo cho ông và cũng đừng tìm ông. Cô lo lắng, dọ hỏi khắp nơi. Không ai biết tin về ông.

Một hôm cô nhận được thiệp mừng sinh nhật của ông, không phải cho cô, mà cho con gái cô. Ba cô nhớ cháu ngoại. Thư không có địa chỉ người gửi. Theo dấu bưu điện, cô biết ông ở thành phố, cách chỗ cô cả ba ngàn cây số. Cô xin nghỉ phép, bay đến đó, hỏi thăm người quen của ba cô ở gần thành phố đấy. Cũng không ai biết. Tuyệt vọng, cô đi bay về, thì ba cô đến tìm cô ở khách sạn. Hai cha con ra quán cà phê. Cô mời ông về nhà để cô chăm sóc, các cháu nhớ ông ngoại. Ông từ chối. Ông nói, ông đang trông cửa hàng cho một người bạn, hồi còn đi học. Bà ta đã góa chồng, hiện ở với đứa con gái trạc tuổi cô. Cả hai rất quý ông, và ông cảm thấy thoải mái khi ở đó. Trông cha cô khỏe ra, vui hơn, cô thấy yên tâm. Dặn ông nhớ viết thư thường để cô đỡ sốt ruột. Nhưng rồi cô cũng chẳng biết địa chỉ nơi cha cô ở. Ông không nói.

Bốn năm sau, ông quay về thăm nhà. Mẹ cô cạnh khóe, ông lại trở nên ít nói. Ba hôm sau, ông bị đột quỵ, rồi mất ở bệnh viện vài ngày sau đó. Ở nghĩa trang, mẹ cô cũng than khóc như bất cứ bà vợ mất chồng nào khác. Bỗng nhiên, cô thấy xa xa, hai người phụ nữ mặc đồ đen, một già, một trung niên, lặng lẽ đứng dưới gốc cây.. Linh cảm cho cô biết họ là ai. Cô muốn bước đến nói lời cám ơn họ đã chăm sóc cha cô những năm tháng cuối đời. Một trong hai người đang dùng khăn chậm nước mắt. Cô chợt hiểu, họ đã làm thay cô hơn cả những gì gọi là chăm sóc, điều mà lẽ ra cô nên làm. Nhưng họ đã quay lưng đi về phía cổng nghĩa trang. Cô cảm thấy có điều gì đó ân hận và nuối tiếc… Chuyện chấm dứt ở đây.

Cô thương cha, cô muốn phụng dưỡng, chăm lo ăn uống, săn sóc sức khỏe cho cha. Cô cũng hiểu cha cô buồn bực, khổ tâm vì những lời nói ngang ngược của mẹ. Là con, cô cảm thấy mình khó xử, biết làm gì bây giờ? Cô muốn cha vui. Nhưng có thể cô chưa hiểu, người già như cha cô, khi xong nghĩa vụ với con cái, lo cho chúng yên bề, họ thường có xu hướng quay về với quá khứ, với những ước mơ thời trẻ, không phải để thực hiện hay nuối tiếc, mà để sống với nó, đắm chìm với nó như một níu kéo mà phần lớn cuộc đời, vì cơm áo gạo tiền, vì trách nhiệm với gia đình họ không dám phiêu lưu.

Thức ăn trở nên nhạt, sức khỏe là điều miễn cưỡng. Người già thấm thía số phận hơn người trẻ. Con cái quan tâm đến cha mẹ già như một đối tượng khách quan, chữ hiếu được làm tròn bằng sự chăm sóc duy ý chí với những kiến thức khoa học hiện đại. Đó có phải là những thứ người già cần?

Như con hổ già trong gánh xiếc bỗng nhiên nhớ rừng, người già thường cô đơn, dễ tủi. Họ cần sự cảm thông và chia sẻ, mỏng manh trước những bất cần. Tiện nghi vật chất hờ hững. Thế giới tâm linh trở nên gần gũi hơn.. Khi cha mất, cô chợt hiểu ra nhu cầu tinh thần của ông. Cô biết ơn người đàn bà đã chăm sóc, đã mang lại chút niềm vui cho cha cô lúc cuối đời. Người đàn bà lặng lẽ ở nghĩa trang đã làm cô hiểu ra điều đó. Cô hiểu, nhưng chưa thấu được những giọt nước mắt “không chính danh” của người phụ nữ kia đã phải nuốt ngược vào tim. Tử Kỳ mất rồi, cây đàn Bá Nha còn để làm gì? Cô chưa với tay được tới tri âm.

Chưa với tay được, có lẽ vì cô chưa bao giờ ngồi… nhậu với cha cô. Không khí bàn nhậu thường làm tâm hồn người ta chùng lại, đôi khi nói với khoảng không, nói mà như không nói, … Trong những khoảng khắc đó, cô có thể bắt gặp được cha cô. Chữ “nhậu” ở đây mà hiểu theo nghĩa cụng ly chan chát, thì buồn chết.

Tôi không có duyên để gặp cha con ông họa sĩ lần thứ hai. Chẳng biết bây giờ họ ra sao. Nếu gặp lại, có thể tôi vẫn nhận ra ông. Ông không thể già hơn được nữa. Còn cô gái, bây giờ cũng xấp xỉ 50, nếp nhăn trên khóe mắt, và còn biết bao biến đổi khác. Chỉ một lần gặp, rồi ba mươi năm trôi qua, làm sao có thể nhớ được khuôn mặt. Nhưng nếu gặp nhau ở quán rượu, chỉ cần bắt gặp ánh mắt của cô nhìn cha, có thể tôi sẽ nhận ra. Đó là ánh mắt xót xa thương cảm vô bờ, rõ ràng là ánh mắt của người mẹ, không phải của đứa con. Chắc chắn tôi sẽ nhận ra.

LỘC XUYÊN ĐẶNG QUÝ ĐỊCH

Từ năm 1965, Quách Tấn biên soạn tập Nước non Bình Định1, có viết Tổ mộ họ Trần ở Hoài Ân: “Mộ nằm trong ấp Vạn Hội thuộc xã Ân Tín. Trên một nấm gò cao trước mộ, dựng một tấm bia xây bằng đá, mặt khắc chìm bốn đại tự TRẦN GIA TỔ CƠ. Đó là ngôi tổ mộ của Trần Quang Diệu, theo lời con cháu họ Trần ở Hoài Ân… Truyền rằng người nằm dưới mộ là một vị Thượng thư quán Hoài Ân… Mộ phát đến ba đời quan lớn, Trần Quang Diệu là đời cuối cùng.

 
Bia Tổ mộ họ Trần ở Ân Tín, Hoài Ân.

 

Nhà Tây Sơn bị diệt, nhà Nguyễn lên ngôi Cửu Ngũ. Nhà họ Trần sợ, đốt hết giấy tờ thời trước. Tập Gia phả phái họ Trần ở Bình Định cũng thành mây khói. Tuy vậy, con cháu họ Trần không bị nhà Nguyễn làm tội, suốt mấy triều vua từ Gia Long đến Khải Định, mỗi năm nhà họ Trần cứ mùa Thu thì tảo mộ và mùa Xuân thì cúng kỵ. Mỗi lần cúng, hạ một trâu, hai bò và bốn heo…

Năm 1987, Tiến sĩ Vũ Minh Giang đã đến tận xã Ân Tín, huyện Hoài Ân để xác minh: “Quả thực, địa phương này còn có một họ Trần khá lớn. Dòng họ có từ đường riêng, có gia phả và còn mộ tổ, trên bia có khắc bốn chữ TRẦN GIA TỔ CƠ. Tuy nhiên, dòng họ Trần ở đây không hề biết tới Trần Quang Diệu và trong các tài liệu của gia đình không hề chép đến một người nào đó tên như vậy. Qua điều tra đối chứng và xác minh tại chỗ có thể loại trừ khả năng quê Trần Quang Diệu ở ấp Vạn Hội thuộc xã Ân Tín…

Và năm 1978, Giáo sư Phạm Văn Diêu ở TP. Hồ Chí Minh có cho chúng tôi biết con cháu Trần Quang Diệu và người tộc trưởng còn giữ gia phả (có ghi chép về Trần Quang Diệu) hiện sinh sống ở thôn Tú Sơn, xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, tỉnh Nghĩa Bình, chúng tôi đến tận địa phương này trong đợt khảo sát tháng tư năm 1987…

Qua điều tra nghiên cứu ở Tú Sơn (xã Đức Lân, huyện Mộ Đức) có thể thấy rằng Trần Quang Diệu quê ở thôn Kim Giao, xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Nghĩa Bình. Dòng họ này đến đời thứ 4 (ông Trần Văn Chẩn) mới dời đến Tú Sơn khai khẩn đất ruộng, sinh cơ lập nghiệp (về mặt địa dư, tuy Đức Lân và Phổ Thuận nay thuộc hai huyện khác nhau nhưng cách nhau không  xa). Họ Trần ở Kim Giao và Tú Sơn thường xuyên qua lại với nhau và cùng thờ Trần Quang Diệu 2.

Mùa xuân năm Tân Mão (2011), ông Trần Văn Qui ở thôn Vạn Hội 2, xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, tự nhận là hậu duệ Tây Sơn Danh tướng Trần Quang Diệu, mang tập TRẦN TỘC GIA PHẢ bằng chữ Hán đến nhờ tôi phiên dịch. Tập Gia phả này có thể không xưa bằng các tập Gia phả họ Trần ở Quảng Ngãi như ông Vũ Minh Giang đã viết nhưng được viết từ năm 1891, cách nay (2011) 120 năm. Tôi xin sơ bộ giới thiệu tập Gia phả như sau:

 

Tập Gia phả có 28 tờ, gấp đôi thành 56 trang.

Tờ 1: Phiên âm:

TRẦN TỘC GIA PHẢ

Đệ nhất phái phụng thủ

Dịch nghĩa:

GIA PHẢ HỌ TRẦN

Phái thứ nhất kính giữ

Tờ 2a: Phiên âm:

Hoàng triều Thành Thái tứ niên

Trọng Xuân kỷ phả

Dịch nghĩa:

Triều nhà Nguyễn Gia Miêu,

niên hiệu Thành Thái thứ 4 (1892),

tháng 2, chép Gia phả.

Tờ 2+3: Phiên âm:

Tộc phả nguyên tự

Dịch nghĩa:

Bài Tựa nói nguyên do viết phả họ.

Cuối bài Tựa cho biết họ tên, tự, hiệu người trùng tu cựu phả và tục biên tân phả, phiên âm: Hậu sanh, Hoài Ân châu tri châu, Lương Khê, Huệ, Địch Cát Phủ, đốn thủ cẩn chí, bài thư vu lị xá.

Dịch nghĩa: Kẻ sinh sau là (Trần Văn) Huệ, tự Lương Khê, Địch Cát Phủ, chức Tri châu châu Hoài Ân, cúi đầu lạy, kính cẩn viết tại nhà riêng ở nơi làm việc.

Tờ 4: Phàm lệ (có 5 điều)

Từ tờ 5 đến hết tờ 28: Phả họ

Phả họ chép từ ông Cao tổ Trần Văn Tuấn, chức Thượng thư Bộ binh, tước Hằng Đức hầu.

Trong bài Tựa (tờ 2+3), ông Trần Văn Huệ đã viết, tôi dịch như sau:

Họ Trần ta vốn dĩ là người ở huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Kể từ lúc chúa Tiên Nguyễn Hoàng được vua Lê cho giữ từ đèo Ngang trở vào Nam (từ năm 1558) thì ông Thủy tổ họ Trần ta, tước Vân Long hầu, đã theo phò Tiên chúa Nguyễn Hoàng mở mang bờ cõi. Ông Vân Long hầu họp dân khai phá từ ải Hải Vân đến các nơi đồi cao, chân núi, lập tình làng xóm, tức xã Vân Khuất, nay thuộc tỉnh Quảng Nam. Xã ta (Vân Khuất) thờ ông Vân Long hầu làm Tiền hiền, làm Thành hoàng, làm ông tổ đầu tiên khai lập đất này.

Ông tổ đời thứ ba kế thừa tổ nghiệp.

Cho đến đời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738 -1765) thì ông Cao tổ Trần Văn Tuấn, tước Hằng Đức hầu, theo mẹ vào Nam, đến nơi đất tốt là huyện Bồng Sơn thuộc phủ Hoài Nhơn (huyện Bồng Sơn thời ấy nay là ba huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân, An Lão; phủ Hoài Nhơn thời ấy, nay là vùng đất thuộc tỉnh Bình Định, L.X. chú). Từ ấy đến nay, trong họ Trần ta đời nào cũng xuất hiện những người làm quan nổi tiếng danh thần, làm tướng nổi danh lương tướng, làm nên thành tích vĩ đại, công cán to lớn, tên chép trong sử xanh, người trong châu khen ngợi “ông ở ngụ” và xưng tụng họ Trần ta là “cự tộc” (họ lớn).

Về ông Trần Văn Tuấn, gia phả chép ở trang 5b, tôi dịch như sau:

Ông Cao tổ họ Trần, tên kiêng cữ là Tuấn, chức Thượng thư Bộ Binh, tước Hằng Đức hầu.

Sanh năm Tí. Mất năm Mùi, tháng chạp ngày 7.

Phu nhân: Cao Thị Mè.

Ông tuổi thơ cha chết, theo mẹ vào Nam. Thời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), làm quan đến chức Hàn Lâm tri chế cáo, mông ơn chúa biết tài thăng đến chức Đại Tư mã (tức Thượng thư Bộ Binh dưới thời nhà Nguyễn Gia Miêu). Đến đời Định vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1775), năm Giáp Ngọ (1774), tháng 10, chúa Trịnh Sâm sai Hoàng Ngũ Phúc đem quân thủy bộ hơn ba vạn vượt sông Gianh vào đánh xứ Đàng Trong. Ông vâng mệnh đem quân chống cự nhưng quân Trịnh quá mạnh, Thuận Hóa thế cô nên bị bại. Ông vâng mệnh đến bản doanh Hoàng Ngũ Phúc cầu hòa nhưng không xong bèn mật tấu lên Định vương rồi hộ vệ chúa lánh vào Quảng Nam. Chính dinh Phú Xuân bị quân Trịnh chiếm. Sau đó, ông hộ vệ chúa theo đường thủy vào Gia Định…

Sinh hạ:

Trưởng nam: Trần Văn Trạc

Trai thứ hai: Trần Văn Bạt

Trai thứ tư: Trần Văn Đức (mất sớm)

Trai thứ năm: Trần Văn Điện

Nữ: Thị Nhân, Thị Hảo.

Ngụ quán của ông Trần Văn Tuấn là ấp Vạn Hội huyện Bồng Sơn, nay là thôn Vạn Hội I và thôn Vạn Hội II, xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Mộ ông tại thôn Vạn Hội I. Trước mộ có bia đá khắc bốn đại tự TRẦN GIA TỔ CƠ. Có Từ đường tại thôn Vạn Hội I do tộc trưởng Trần Sử giám phụng. Con cháu họ Trần rất đông, đều ở trong xã Ân Tín.

Tờ 6 chép về Trưởng nam của ông Trần Văn Tuấn là ông Trần Văn Trạc. Ông Trạc phò chúa Nguyễn vương Phúc Ánh lập nhiều công lớn, từng làm chức Tham tri Bộ Hình, rồi làm Trấn thủ dinh Quảng Nam. Đại định rồi, Nguyễn vương lên ngôi vua Gia Long. Năm 1802, triều đình lập 6 Bộ, ông là người đầu tiên làm Thượng thư Bộ Lại, Bộ quan trọng nhất triều đình. Ông mất năm Gia Long thứ 8 (1809), được tặng chức Tham Chánh. Cho đưa quan cữu về mai táng ở Vạn Hội, cấp tự điền và mộ phu.

Tờ 7a chép về trai thứ hai của ông Trần Văn Tuấn là Trần Văn Bạt. Ông Bạt phò Hoàng Tôn Dương vào Gia Định. Sau đánh nhau với quân Tây Sơn, Hoàng Tôn Dương bị bắt rồi bị giết, ông chết tại trận được tặng Thị Độc học sĩ.

Tờ 7b chép về trai thứ ba của ông Trần Văn Tuấn là Trần Văn Hiên. Ông Hiên phò Nguyễn vương Phúc Ánh, làm chức Tham mưu. Ông nhận mật lệnh của Chúa về vùng Tây Sơn chiếm đóng mà tổ chức nghĩa quân rồi đem nghĩa quân đến nơi Chúa Nguyễn đóng quân mà giúp Chúa. Cơ mưu bị tiết lộ, ông bị quân Tây Sơn giết, sau Gia Long truy lục công thần, con cháu ông được miễn thuế thân.

Tờ 8a chép về trai út của ông Trần Văn Tuấn là Trần Văn Điện, phiên âm: Binh bộ công chi quý tử: Đệ tứ phái, Hiển tằng tổ xử sĩ Trần húy Điện. Sanh niên …, Tốt niên … nhị nguyệt thập nhật. Vi nhân thất tường. Thê …

Nam: Văn Kê, Nam tử nhất nhân.

Dịch nghĩa: Con trai út của ông Thượng thư Bộ binh Trần Văn Tuấn là ông cố họ Trần, tên kiêng cữ là Điện, là nhà Nho lánh đời, không làm quan.

Sanh năm…, Mất năm …, tháng 2 ngày 10. Vợ …

Ông là người như thế nào, mất cả dấu vết nên không rõ.

Sinh hạ một trai là Trần Văn Kê.

Người họ Trần ở Vạn Hội xưa nay mật truyền rằng, Trần Văn Điện chính là Trần Quang Diệu, danh tướng nhà Tây Sơn, chức Thiếu phó triều Cảnh Thịnh.

Nửa sau trang a tờ 12, viết về con ông Trần Văn Điện là Trần Văn Kê, phiên âm: Đệ tứ phái, Hiển tổ khảo Nông nghiệp Trần, húy Kê. Sanh niên…, Tốt niên…, tư nguyệt thập nhật. Thê: Thị Cư. Vi nhân vị tường.

Trưởng nam: Văn Thịnh (vô tử)

Thứ nam: Văn Dược

Nữ: Thị Hạnh

Dịch nghĩa: Phái thứ tư, ông Nội làm nông họ Trần, tên kiêng cữ là Kê. Sanh năm:…, Mất năm… tháng 4 ngày 10. Vợ: Thị Cư. Ông là người thế nào, chưa rõ. Sanh hạ:

Trai trưởng: Văn Thịnh (không con)

Trai thứ: Văn Dược

Con gái: Thị Hạnh

Ông Trần Văn Qui bảo tôi rằng: “Các bậc trưởng lão trong họ đều nói Gia phả không ghi tên Trần Quang Diệu mà ghi Trần Văn Điện là cần che dấu người con là Trần Văn Kê. Nếu nói rõ ra thì Trần Văn Kê không khỏi bị giết để không còn người trả thù”. Ông Qui nói tiếp: “Vua Gia Long từng tuyên bố “Vì mười đời mà báo thù” nên đã chém ông Thiếu phó Trần Quang Diệu, cho voi chà bà Đại Đô đốc Bùi Thị Xuân, người con gái mới 15 tuổi cũng chịu cực hình như mẹ. Nếu họ bắt được người con trai là Trần Văn Kê thì họ cũng giết luôn chứ không tha. May mắn là ông Kê không bị bắt nên dòng dõi danh tướng Trần Quang Diệu mới còn người sống sót và con cháu hiện còn ở Vạn Hội.”

Những điều trên, ông Trần Sử đã kể cho ông Quách Tấn từ những năm 50 của thế kỷ trước nên ông Tấn mới đưa vào sách Nước non Bình Định xuất bản năm 1965. Năm 1987, ông Vũ Minh Giang có về Vạn Hội, có hỏi ai hay không thì tôi không biết, nhưng ông chép: “Dòng họ Trần ở đây không hề biết tới Trần Quang Diệu” là không chính xác.

Tôi cũng nhận thấy rằng, ông Vũ Minh Giang đã đọc bài “Mộ Tổ họ Trần” trong sách Nước non Bình Định của Quách Tấn, đã biết họ Trần ở Vạn Hội có Gia phả mà không tìm đọc lại kết luận rằng: “…loại trừ khả năng quê Trần Quang Diệu ở ấp Vạn Hội thuộc xã Ân Tín”. Hơn nữa ông mới đọc bản Gia phả bằng quốc ngữ do ông Trần Thắng mới soạn, chưa đọc những Gia phả xưa bằng Hán tự mà kết luận: Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu quê ở thôn Kim Giao, xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Nghĩa Bình (huyện Đức Phổ nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi) là vội vàng. Gia dĩ ông cho biết trong quyển Gia phả của ông Thắng có chép hậu duệ của Trần Quang Diệu là Trần Mạnh, Trần Nhì không hề dấu diếm mình là con cháu Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu mà không bị nhà Nguyễn Gia miêu làm hại là điều lạ! Phải chăng Trần Quang Diệu ở Kim Giao và ở Tú Sơn đều thuộc tỉnh Quảng Ngãi chỉ là người trùng tên với Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu?

Tôi không dám vội vàng kết luận quê hương Tây Sơn danh tướng Trần Quang Diệu ở đâu, nay sơ bộ giới thiệu mấy trang trong Trần tộc Gia phả của Trần Văn Huệ để giới học giả rộng đường nghiên cứu.

LỘC XUYÊN ĐẶNG QUÝ ĐỊCH

Theo tạp chí Văn hóa Bình Định

 

Ghi chú:

1. Quách Tấn – Nước non Bình Định, NXB Thanh Niên in lần 2, TP.HCM – 1999, Tr. 344-345.

2. Những gia phả xưa của dòng họ có thể được anh Trần Văn Nghị ở quận Phú Nhuận (TP. Hồ Chí Minh), ông Trần Ba ở Đà Lạt và Trần Nguyên Hoàng ở Đà Lạt lưu giữ. (Lược trích bài TRẦN QUANG DIỆU của TS. Vũ Minh Giang, in trong TRÊN ĐẤT NGHĨA BÌNH tập I, Sở Văn hóa – Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, Quy Nhơn – 1988, từ tr. 194 đến tr. 199)

Trăng khuyết

Lê Văn Ngăn

Quê hương đã cho anh một vầng trăng khuyết
treo trên nền trời một đêm thời ấu thơ
Đêm ấy, dầu đã cạn trong đáy đèn, căn nhà chìm vào bóng tối
Đêm ấy, với chút ánh sáng của vầng trăng ban đầu
anh đã nhìn thấy lại khuôn mặt những người sinh đẻ ra mình

.

Quê hương đã cho anh một vầng trăng khuyết
Từ đấy cho đến bây giờ , dù lưu lạc nơi đâu
trăng vẫn ở cùng anh như người bạn đường chung thủy

.

Trăng vẫn ở cùng anh khi người tình đã rời bỏ anh trong cảnh nghèo nàn
khi bạn bè thân mỗi người mỗi ngã
Trong chốn lao tù của quân xâm lược năm nào, anh nhìn ra
vẫn thấy trăng ẩn mình bên những vòng thép gai vấy máu
Qùa tặng cùa quê hương
chẳng bao giờ mất
chẳng bao giờ hoen ố

.

Mai sau, khi anh rời lòng mẹ để nằm vào lòng đất lòng mẹ thứ hai
anh biết vầng trăng xưa vẫn lặng lẽ trên đầu .