Feeds:
Bài viết
Bình luận

Mười năm

    Nguyễn Thanh
Gió cuốn bay rồi lời hẹn thề năm ấy.
Nên đến thăm em hờ hững làm sao .
Cứ quấn quít bên chồng con đầm ấm
Anh nghe lòng chùng lại những khát khao
Thì giữ lại riêng anh những ngày yêu thương cũ
Thưở sinh viên với thơ, nhạc , hẹn hò
Phía cổng trước có cây bàng lá đỏ
Đêm trực  gác nào đã rơi mãi vào thơ
Thì giữ lại riêng anh đêm chia tay cuối khóa
Nước mắt em rơi buốt cả vai mình
Lời hẹn ước sẽ nên duyên cầm sắt
Đến bây giờ anh vẫn nhớ đinh ninh
Gĩư lại hết để mong em thanh thản
Thăm hỏi dăm câu như khách ghé qua nhà
Nhưng ánh mắt em sao thẫn thờ đến vậy
Để ra về lòng anh cứ xót xa…

Lãng mạn phố biển Quy Nhơn

Nằm ở phía Đông Nam tỉnh Bình Định, một bên là biển Đông vỗ về, 1 bên là núi biếc trùng điệp, thành phố Quy Nhơn mang một vẻ đẹp hoang sơ mà rực rỡ say lòng người.
quynhon4
Quy Nhơn trải dài theo hình cánh cung, ôm lấy bờ biển cát vàng óng ánh như tình nhân. 1 bên là biển rộng sóng vỗ rì rào, 1 bên là các dãy khách sạn, khu resort cao cấp hướng mình đón gió biển. Từ đây, có thể nhìn thấy những hàng dừa xanh đu đưa theo gió, phóng tầm nhìn ra xa 1 chút sẽ thấy một màu xanh đại dương tươi mát hòa với màu trời trong vắt như ngọc.
quynhon15
quynhon12
quynhon7
Sau khi chọn cho mình một chỗ dừng chân bên bờ biển, du khách có thể bắt đầu chuyến du lịch với bãi tắm Hoàng Hậu nên thơ dưới chân đồi Thi Nhân.
Cách trung tâm thành phố Quy Nhơn tầm 2 đến 3 Km, nằm trong khu du lịch Ghành Ráng, bãi tắm Hoàng Hậu đẹp một cách kiêu sa, đài cát.  Bãi tắm Hoàng Hậu hay còn gọi là bãi Trứng là một bãi biển rộng lớn với những viên đá xanh hình tròn, mặt nhẵn như quả trứng với đủ mọi kích cỡ xếp lên nhau trên bãi biển. Phía trước bãi là những tượng đá thiên nhiên chắn sóng, tạo nên 1 vùng nước lặng. Quý khách có thể tắm biển, xây lâu đài cát hoặc nhặt những viên đá lạ mắt về làm quà cho người thận.
quynhon9
Cao cao phía trên bãi tắm Hoàng hậu là đồi thi nhân, nơi đặt mộ nhà thơ Hàn Mặc Tử. Đồi thi nhân tĩnh lặng, đắm mình trong không gian thơ mộng và chan chứa tình. Hàng năm, vào ngày tết nguyên tiêu(ngày 15 tháng 1), đồi thi nhân lại tổ chức lễ hội thơ để vừa tưởng nhớ nhà thơ Hàn Mạc Tử, Yến Lan vừa vinh danh những tài năng thơ phú của tỉnh nhà.
quynhon22
Dưới chân đồi Thi nhân là làng phong Quy Hòa. Ở đây có hàng trăm ngôi nhà của các bệnh nhân phong được xây dựng từ hơn 80 năm trước. Mỗi ngôi nhà có 1 kiến trúc riêng, nhưng tất thảy đều toát lên vẻ mộc mạc, giản dị và yên bình đến nao lòng người. Có thể nói, khu điều trị phong Quy Hòa là một trong những bệnh viện đẹp và độc đáo nhất thế giới.
quynhon3
Trong làng phong Quy Hòa còn có khu vườn tượng độc đáo. Những bức tượng bán thân của các danh y lỗi lạc được đặt cạnh nhau dưới bóng phi lao rì rào vừa toát lên vẻ uyên bác, vừa lại thanh bình quá đỗi.
quynhon8
Đến Quy Nhơn mà không 1 lần đặt chân lên cầu Thị Nại là 1 điều vô cùng thiếu sót. Đây là cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam, nằm trong hệ thống cầu đường Nhơn Hội dài gần 7 Km nối liền thành phố Quy Nhơn với bán đảo Phương Mai.
Người Quy Nhơn mỗi khi muốn ngắm nhìn thành phố sẽ chạy xe lên con đường Quy Nhơn-Sông Cầu. Từ trên cao phóng tầm mắt xuống sẽ thu về toàn cảnh thành phố nhỏ bé yên bình như tranh vẽ, trong đáy mắt là một màu xanh của cây trái mượt mà, xanh của biển rộng, trong vắt màu trời.
quynhon18
quynhon16
Đêm Quy Nhơn không ồn ào, toàn thành phố chìm trong ánh đèn vàng dịu dàng ấm áp. Thành phố về đêm như đóa hoa quỳnh âm thầm nở bung, khoe ra vẻ đẹp kiều diễm cùng hương thơm ngọt ngào. Du khách có thể chọn cho mình 1 quán café bên bờ biển để ngắm nhìn biển đêm điểm xuyến ánh đèn đánh cá ngòai khơi lấp lánh.
quynhon17
Bãi biển cũng là 1 nơi thú vị về đêm với các trò chơi tập thể như đốt lửa trại, kéo co, hay đơn giản chỉ là những bữa tiệc barbecue bên bờ biển, cùng gia đình người thân quay quần nướng lên những món hải sản thơm lừng.
quynhon21
quynhon20
quynhon19
Những người yêu nhau lỡ ghé chân đến Quy Nhơn vào đêm trăng rằm sẽ không bỏ lỡ cơ hội nắm tay nhau bước đi trên bờ cát trắng mịn màng, dưới ánh trăng vàng tận hưởng dư vị ngọt ngào, lãng mạn của tình nhân.
quynhon13
quynhon11
Đã đến Quy Nhơn rồi nhất định phải đi cù lao xanh. Cù Lao Xanh còn gọi là đảo Vân Phi là một hải đảo nằm gần vịnh Xuân Đài, thuộc xã Nhơn Châu cách thành phố Quy Nhơn chừng 13 hải lý về phía Đông Nam.
Du khách có thể đến mũi Hàm Tử để đón thuyền ra Cù Lao Xanh, mất khoảng gần 2h đồng hồ là có thể đặt chân lên cù lao xanh mướt một màu này.
Không biết cái tên “Cù lao xanh” có tự bao giờ, chỉ biết rằng trên bản đồ địa chính quốc gia nó nhỏ hơn một hạt đậu xanh nổi trên mặt biển.
Bên cạnh một Quy Nhơn đô thị đang từng ngày thay da đổi thịt, vẫn luôn còn đó 1 Quy Nhơn dịu dàng đằm thắm, đẹp đến nao lòng người, luôn sẵn sang chào đón bước chân bạn ghé qua.

Những lưu ý khi đi du lịch Quy Nhơn:

Nên đi trong thời gian 3 ngày 2 đêm là đủ.
Đến Quy Nhơn không nên bỏ qua hương vị ẩm thực phong phú của địa phương như: Bún chả cá, tré, bánh ít lá gai, bánh xèo, hải sản tươi…và đặc biệt nên thử qua rượu Bầu Đá trứ danh xưa nay.
Nên chọn khách sạn bên bờ biển thay vì chọn khách sạn trong thành phố. Giá phòng khách sạn tầm 300.000/ ngày, tùy theo loại phòng và chất lượng phục vụ.

Nguồn Afamily

Em và tôi

Cao Văn Tam
Em rót thời gian
tròn đáy cốc
Tôi khuấy đều uống cạn tháng năm
Em ném nụ cười
nơi cuối mắt
Tôi đơn côi góp nhặt ngất ngây
Em rũ phong sương
lên bếp lửa
Tôi bập bùng dâu bể đìu hiu
Em bước qua sông
chiều nắng lụa
Tôi lạc đường xưa bóng đổ dài

Thiên Đường & Địa Ngục

Một người đàn ông gặp Chúa và thỉnh cầu: “ Lạy Chúa, con rất muốn biết thế nào là Thiên Đường và Địa Ngục”. Chúa dắt ông ta đến trước hai cánh cửa.Ngài mở một cánh cửa và bảo ông ta nhìn vào bên trong. Ông ta thấy, một chiếc bàn tròn thật lớn, giữa bàn bày rất nhiều thức ăn, mùi thơm phưng phức làm ông ta thèm chảy nước miếng. Nhiều người  ngồi quanh bàn, nhưng trông họ gầy gò, nước da xanh tái, bệnh hoạn. Họ có vẻ rất đói. Trên cánh tay họ gắn những chiếc muỗng nhưng cán rất dài. Họ có thể với lấy thức ăn nhưng vì cán muỗng dài hơn cánh tay nên không thể đưa  thức ăn vào miệng .

Người đàn ông rùng mình khi nhìn thấy đau khổ của họ .

Chúa  phán : “Con vừa nhìn thấy Địa Ngục”

 

Sau đó  Chúa dẫn ông ta đến chiếc cửa thứ hai. Chúa mở cửa. Quang cảnh mà người đàn ông nhìn thấy vẫn giống như lần trước. Có một chiếc bàn thật lớn bày biện nhiều thức ăn làm ông ta  chảy nước bọt. Nhiều người ngồi quanh bàn có những cánh tay gắn những chiếc muỗng cán dài. Nhưng  lần này ông ta thấy mọi người đều khoẻ mạnh và vui vẻ nói cười.

Chúa phán “ Đây là thiên đường”

Người đàn ông ngạc nhiên, “Lạy Chúa,  con không hiểu!”

– “Đơn giản thôi”, Chúa  trả lời, “những người này  biết là cán muỗng quá dài, không thể tự đút ăn cho mình được…Tuy nhiên họ có thể đút thức ăn cho người ngồi cạnh mình. Bởi vậy họ đã thực hành việc người này đút thức ăn để  nuôi người kia.  

Chúa tiếp: “ Con biết không, ta còn muốn nói thêm một điều này nữa… Trên trái đất này có đủ thức ăn để thoả mãn nhu cầu của tất cả nhưng không thể thoả mãn lòng tham lam của một nhóm người.  Những ý nghĩ của chúng ta, dù có tốt lành đến đâu cũng chỉ là những viên ngọc giả nếu nó không được biến thành hành động. Con phải là sự thay đổi mà con muốn nhìn thấy điều đó xảy ra trên thế giới[1]

                                                                             Trương Văn Dân

                                                                        ( Tuyển dịch từ tiếng Ý )


[1] Mahatma Gandhi

Sự sáng

 Lê Thánh Thư

Cô gái mù đi giữa ban ngày
Ngước hỏi mặt trời trên chiếc gậy
Về con đường sáng.

.

Những đứa trẻ
Đôi mắt như ngọn đèn
Nhìn theo.

.

Tôi nghe nhiều về sự sáng
Chưa biết gì im lặng của đêm.

.

Nhìn hướng cô gái mù
Chợt hiểu
Sự sáng sinh ra từ bóng tối.

Ông Ba Phải.

MANG VIÊN LONG

         Điều tôi muốn nói trước tiên, có lẽ – là cái tên của ông. Ba Phải. Ông tên “Ba Phải” vì theo thứ tự trong gia đình, ông là người con thứ ba. Tên trong khai sinh là Lê  Văn Phải. Người ta thường nói gọn là “Ba Phải”. 

          Nếu hiểu theo nghĩa “ba phải” là ai nói gì cũng gật đầu “phải, phải, phải’ – ba lần (hay nhiều lần) cho yên thân thì hoàn toàn sai với bản tính con người của ông ! Một sự lầm lẫn rất lớn về tên gọi ! Ở con người của Ba Phải thì ngược lại. Hoàn toàn trái ngược một trăm phần trăm như đen với trắng – nước với lửa ! . Nghĩa là không bao giờ ông chịu nghe ai, không gật đầu với ai – và chỉ làm theo ý mình.

          Người đầu tiên biết rõ cá tính của ông là bà Liễn – vợ ông. Về làm vợ ông đã bao năm rồi, tính con đã năm đứa (ba gái, hai trai) nhưng hiếm khi ông gật đầu với bà lần nào ! Điều này làm bà đành cam chịu buồn khổ, riết rồi quen – rồi biến thành một cái bóng lặng lẽ bên đời ông tự bao giờ…

          Người ta ít khi thấy bà Liễn đi đâu xa – thăm bà con, hay bạn bè, xóm giềng. Và bà con, bạn bè, chòm xóm của bà cũng chẳng có ai lui tới. Bà về làm vợ ông, chui vào nhà ông – như cắt đứt mọi liên hệ gia đình, bà con thân thuộc, bạn bè cũ. Dường như bà Liễn chẳng còn nhớ gì đến dĩ vãng, đến kỷ niệm của một thời con gái tuổi trẻ hồn nhiên, thơ mộng? Nếu có còn nhớ chăng, thì chỉ ẩn hiện trong khoảnh khắt lặng im ray rức một mình.

          Hằng ngày, ông Ba Phải “phát tiền” cho bà đi chợ. Dặn mua món gì, bao nhiêu – tùy theo ông quyết định. Số tiền còn thừa, bà Liễn đưa lại cho ông ngay sau khi đi chợ về- dầu chỉ những đồng tiền lẻ ! Nếu có khi nào bà thử đề nghị ông mua thêm món này, sắm thêm cái nọ – ông lập tức nhăn mặt : “xì xì… như vậy được rồi !” – rồi quày quả bỏ đi một mạch.

          Có một lần bà Liễn thử nhắc:

          -Ngày mai là đến ngày giỗ Mẹ, sao ông không nhớ à ?

          Ông Ba Phải nhăm mặt – khuôn mặt thon dài thêm rắn rỏi, nhăn nhúm : “Xì xì … như vậy được rồi, cúng giỗ làm gì cho thêm chuyện ?”.

          Đã quày quả quay đi – ông chợt ngóai lại – cao giọng: “Bà nên nhớ rõ, chủ trương của tôi là “ba không” : không cúng giỗ, không cho ai mượn tiền, không đi chơi với ai!”. Đó là “bài học” đầu tiên mà bà Liễn được biết khi về sống chung với ông !

          Tuy không bao giờ cúng giỗ ông bà, cha mẹ – nhưng giữa nhà ông được thiết bày một bàn thờ sang trọng : Cặp lư đồng đen to tướng, bát hương sành cổ Trung Quốc, cặp lọ hoa cao cổ men xanh, cặp liễn đối cẩn xà cừ sáng bóng, chiếc bàn cổ khắc chạm tứ linh có từ thời chúa Nguyễn… Hai bên bàn thờ là hai chiếc tủ gỗ hương sắp đầy những quý vật cổ như bình rượu, bình trà, chén dĩa, lọ hoa, lư trầm, tượng Phật, tứ linh, đũa ngà… Những món đồ quý hiếm ấy do từ đời ông bà cha mẹ ông lưu lại cũng có – mà do nghề “Cầm Đồ” của ông thu vào dần dần cũng có. Khánh lâm vào cảnh túng bần, hay bị ốm đau lâu ngày- đem đồ gia bảo đi “cầm thế” cho ông , mong nhận được ít tiền qua cơn ngặt nghèo. Hết hạn cầm thế mà vẫn chưa có tiền chuộc lại, đành phải bán đứt cho ông với giá bèo ! Khách bấm bụng mà nhận tiền, chỉ kịp liếc nhìn lần cuối món gia bảo mấy đời đang nằm lặng lẽ trong tủ ông!

          Ông Ba Phải săm soi, ngắm nghía những món đồ cổ với lòng tự hào căng cứng. Ông mê đồ cổ như một cách mê vàng bạc hơn là mê cái đẹp của nghệ thuật, bởi vì – người ta chỉ nghe ông Ba Phải khoe “món này mấy lượng vàng, món kia cả trăm triệu” chứ chưa hề nghe ông nói tới “cái đẹp” nào khác! Từng món đồ cổ chứa đầy trong hai chiếc tủ gỗ hương lớn (và trên các ngăn gỗ dọc vách tường phòng khách) như hiện rõ lòng tham và lòng tự mãn ngày càng nhiều của ông! Và ông Ba Phải trân quý chúng còn hơn cả vợ con – bởi chưa ai nghe ông nhắc nhở đến vợ con dù chỉ là một lời giới thiệu ngắn ngủi – trong lúc ông có thể nói cả buổi về chúng…

          Trong chủ trương “ba không” của ông Ba Phải, bà Liễn không bằng lòng hết hai điều: không cúng giỗ, không cho ai mượn tiền. Từ lúc nghe ông cao giọng nói đến “chủ trương ba không” – bà Liễn cảm thấy ông hoàn toàn khác với sự tưởng nghĩ ban đầu khi vừa chân ướt chân ráo bước vào gia đình ông. Một con người không có chút tưởng nhớ gì đến ông bà, cha mẹ – thì liệu có tưởng nghĩ tới ai không? Thời con gái, bà đã yêu trộm nhớ thầm ông giáo làng trên xóm Đình – hai người cũng có thư qua lại đôi lần – thì ông Ba Phải xuất hiện. Cuộc tình thầm kín đành khép lại, vì cha mẹ bà đều nghĩ đến sự giàu có tiếng tăm của gia đình Ba Phải – mong cho con sẽ được sung sướng hơn người. Có ai học được chữ “ngờ” luôn luôn rình rập quanh đời để xô ta vào nơi bất hạnh, khốn cùng? Thân gái mười hai bến nước, bà Liễn đã bị trôi dạt vào bến nước khô cạn ngầu đục như một định số khắc nghiệt.

          Cái “không” thứ hai, điều này quả thật đau lòng – mà người đầu tiên ngậm đắng nuốt cay là bà Liễn. Cậu em bà đến báo tin mẹ đau nặng, đang cấp cứu ở bệnh viện – nhờ bà  hỏi vay ông Ba Phải một trăm ngàn nộp viện phí và lo thuốc thang ban đầu – bà Liễn đáp lơ lửng: “Em thử hỏi ổng coi – chị không có lấy một xu dính túi mà!”.

          -Tình nghĩa vợ chồng, chị nói giúp em – cậu em tha thiết đề nghị.

          -Tình nghĩa gì đâu ? Giọng bà lạt hẳn, chị chưa bao giờ…

          Bà bỏ lửng câu nói rồi sụt sùi khóc. “Tình nghĩa gì đâu, chị chưa bao giờ cảm thấy điều ấy” – Có lẽ đây là lần đầu tiên bà Liễn biểu lộ tình cảm của mình trước người khác. Cái khổ đau ẩn chứa thầm lặng bấy lâu đè nặng lên tâm hồn bà – khiến tiếng khóc cứ nấc lên, nấc lên từng chặp, nghẹn ngào! Tiếng khóc ấm ức ấy dường như đã làm cho cậu em lâu ngày gặp chị hiểu rõ hơn cảnh đời hiu hắt của chị từ ngày xa nhau…

          Cậu em thờ thẫn rời chị, đi dần lên gian phòng khách…

          Ông  Ba Phải đang say sưa đọc lại một đoạn văn của Trần Trọng Kim mà ông đã học thuộc không biết từ bao giờ – phát ra như một cái máy thu thanh cũ: “Khổng Phu Tử ngắm cảnh tượng của tạo hóa mà xét việc cổ kim; đạt được cái lẽ biến hóa của trời đất. Ngài muốn người ta theo cái đạo ấy mà hành động, khiến cho nhân sự và thiên lý cùng thích hợp với nhau theo đạo thái hòa trong vũ trụ. Ngài tin rằng người ta sinh ra đã bẩm thụ cái lý khí của trời đất…”.

          Người bạn ngồi đối diện ông, đôi mắt mở to, chăm chú nghe ông như một nhà hiền triết… Giọng ông Ba Phải lên cao, xuống thấp từng đoạn; hai tay huơ lên trước mặt – thay đổi thế ngồi liên tục nhấp nhổm như đang ngồi trên lửa : “… Ngài tin rằng, người ta sinh ra đã bẩm thụ cái lý khí của trời đất, tất là cùng với trời đất có thể tương cảm tương ứng với nhau được…”. Có những đoạn văn dài, ông đọc liền hơi – có khi mười lăm, hai mươi phút ; khách ngồi cứ trơ ra như tượng không thể làm gì khác!

          Ngoài cái “mê đồ cổ” ông Ba Phải còn có cái “mê văn chương chữ nghĩa” nữa. Khách đến nhà, dù thân hay sơ – có việc hay nhàn rỗi – ông Ba Phải sau khi trầm trồ giới thiệu từng món đồ cổ, là đọc văn thơ cho khách nghe. Có vài ông bạn nối khố công tử lỡ vận thất nghiệp ngày nào cũng đến ngồi ở chiếc ghế salon nơi phòng khách để được uống trà – dù phải nghe ông đọc đi đọc lại mấy đoạn thơ Kiều, Chinh Phụ Ngâm hay các đoạn văn nghị luận của Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Phan Khôi… đến lần thứ bao nhiêu cũng gật gù tán thưởng. Cái “mê văn thơ triết lý” của ông Ba Phải nó cũng giống cái “mê đồ cổ” vậy: Một đằng thì khoe giàu sang, một đằng thì khoe kiến thức. Chữ “Phú” sinh chữ “Quí” – thói thường người ta ưa chuộng hai chữ ấy để mưu cầu sự trọng vọng, nể nang! Nhưng “Phú, Quí” để mà làm gì khi chính họ đã trở thành một cỗ máy hoen rỉ hay một cái kho chứa mục nát ?

          Trong nhà ông Ba Phải có đủ mọi thứ, nhưng không sử dụng bao giờ. Chiếc xe Honda được đắp mền ở góc phòng. Chiếc tủ lạnh mới còn bao lớp nylon . Chiếc máy khâu Singer không ai dám mở tấm vải che ra  dầu vợ và hai cô con gái của ông phải tẩn mẫn cặm cụi may vá bằng tay. Chỉ có chiếc Tivi là thỉnh thoảng được ông bật lên để xem tin tức thời sự hay hát bội vào tối thứ bảy.

          Có một vật mà ông Ba Phải không bao giờ rời nó một giây – đó là xâu chìa khóa to tướng luôn luôn rổn rẻng ở trong tay ông hay nằm im trong túi áo Pyjamas … Đó là vật “bất ly thân” của ông – nó như một bộ phận của cơ thể ông vậy. Vợ và các con ông chưa bao giờ được đặt tay vào xâu chìa khóa này. Hai cậu con trai lang bạt lập nghiệp lây lất ở Saigon lúc kẹt tiền, túng bấn, trở về nhà lăm le nhìn xâu chìa khóa trên tay ông mà ngậm ngùi.

          Có một lần ông bị đau dạ dày, xuất huyết trong, phải chở đi bệnh viện đa khoa tỉnh cấp cứu, nhưng xâu chìa khóa vẫn được cột ở cổ tay ông. Cậu con trai giữa được báo tin, từ Saigon bay về – dùng các chìa khóa cùng loại cạy mở tủ nữ trang, vàng, đá quý… Rủi thay tủ không mở được, mà chìa lại gãy nằm im lìm trong ổ. Gọi thợ khóa đến lấy giúp chìa ra không xong, vì theo lời người thợ, chìa bị cong vẹo trước khi gãy. Cậu con đành vội vã bỏ đi trước ngày ông xuất viện … Ông Ba Phải được trở về nhà, kiểm tra các tủ khóa, phát hiện được chìa gãy – đã nhảy cẩng lên la hét bà Liễn và ba cô con gái như nhà cháy! Khi biết rõ cậu con trai là thủ phạm – ông gầm gừ : “Quân khốn nạn, tao viết giấy từ mày ngay giờ phút này!”.

          Thực ra, dù không có giấy tờ – ông Ba Phải đã “từ bỏ” hai người con trai từ nhiều năm nay rồi!. Hình như ông không hề nghĩ là ông đã có con từ lúc chúng còn nhỏ?. Ông không ngó ngàng gì tới vợ con, gia đình của hai người con là giọt máu của mình đang khốn đốn với nghề may vá, và  lính thú rày đây mai đó khắp bốn vùng… Đến cái đám cưới cho con, ông vẫn im lặng vì sợ tốn kém thì có gì mà ông để mắt tới ngoài những món đồ cổ ? Cả hai cậu con trai đều tự mình tìm vợ, chung sống, sinh con – như kẻ mồ côi lang bạt ! Nhờ gia đình phía vợ thương, đùm bọc – nhưng có gia đình khá giả hiểu biết nào chịu gả bán con gái mà không có được một cái lễ nào – ngay việc thấy mặt ông bà sui cũng không; ngoài các gia đình nghèo khổ nặng lòng cưu mang thương xót?

          Bà Liễn  chết năm bà sáu mươi tám tuổi. Đám chết của bà lặng lẽ như bà đã lặng lẽ có mặt trên cõi đời này sáu mươi tám năm. Có người nói bà Liễn chết vì suy nhược, kiệt sức- chứ không phải bệnh viêm gan. Đến ngày bà chỉ còn nằm bất động thoi thóp thở từng hơi nặng nhọc – ông Ba Phải mới cho gọi y tá đến truyền cho bà một bình sérium với vài loại thuốc bổ rẻ tiền ! Bình thuốc mới vào cơ thể khô đét của bà chỉ một phần ba – thì bà đã tắt thở. Cây đã khô tận gốc rễ, một vài gáo nước thì có thể hy vọng được gì?.

          Hai người con trai lớn của bà dắt díu vợ con về thăm tiễn bà khi bà đã nằm im lìm trong quan tài hai ngày. Bà không thấy được mặt mũi mấy đứa cháu nội; và chúng cũng không hề được nhìn một lần người bà thân yêu – ngoài tấm di ảnh chưng ở bàn thờ … Qua ngày cúng giáp tuần, hai người con trai lại lần lượt lặng lẽ dìu dắt vợ con ra đi !

          Sau ngày bà Liễn mất một năm, ông Ba Phải phải nhập viện vì chứng loét dạ dày tái phát. Lần này, các bác sĩ đều lắc đầu – bảo mang ông về, cho ăn uống, rồi chờ ngày ra đi mà thôi! Bệnh ung thư dạ dày của ông đã vào giai đoạn cuối rồi dầu có cắt bỏ hai phần ba, cũng không kéo dài thêm bao nhiêu.

          Về nằm ở nhà, vài tuần sau, ông lại bị chứng parkinson – tay chân run rẩy , lập cập – không nắm cầm vật gì chắc chắn được.

          Rồi tiếp theo là giọng nói của ông khàn đục, hụt hẫng – nói không thành câu nữa. Ông nằm dán trên chiếc giường hộp rộng – hằng ngày được hai cô con gái lớn thay nhau đổ cháo, sữa, hay nước sâm vào miệng từng muỗng nhỏ…

          Hai cậu con trai phiêu bạt được em gái báo tin, đã trở về kịp gặp lại ông một ngày – trước khi ông không còn thở được nữa ! Ông Ba Phải đã nằm im lìm, bất động, lạnh lẽo như những món đồ cổ quanh ông.

          Việc đầu tiên của năm anh em con ông Ba Phải là phải gắng tìm cho được xâu chìa khóa mà ông đã cất dấu ở nơi nào từ ngày ông ở bệnh viện trở về…


Theo bước Huyền Trân

Thanh Nguyên

Đi qua các nẻo đường của quê hương . Từ Thăng Long về đến Bình Định. Đâu đâu tôi cũng thấy như còn in gót hài của Huyền Trân công chúa. Một lần nọ ra đi, tôi theo dấu chân của người và nhận ra ngàn ngàn tâm sự.

Nàng vốn trắng trong hồn thơ mộng. Đi, là đi theo lệnh phụ hòang, và đi cho trọn chữ hiếu, chữ tòng tự nghìn xưa. Đi rồi, mới nhận ra cái nghĩa cử vị đại nghiệp, vị non sông.

Trên đường thiên lý, tôi được nghe những lời kể từ dân chúng, tôi được nghe những câu ca dao, những bài dân ca viết về Huyền Trân rất đậm đà và trìu mến. Dân ta, nhất là dân thuộc dãi đất miền Trung, rất yêu mến và nặng ơn nghĩa với nàng. Nhưng cũng còn nhiều thêu dệt oan khiên trong dân chúng, do chính sử thiếu dữ kiện…

(I).

Xuân thì, xanh mộng chốn lầu son

Một vóc ngà thơm, thân Quế non

Một hồn trong trắng vô tư lự

Đã biết đâu mà nợ nước non.

(II).

Duyên ước phụ hòang trót lỡ tuyên

Đã đành công chúa, cũng thuyền quyên

Bến trong bến đục âu đành vậy

Một mảnh sơn hà đổi chữ duyên

Về Thăng Long, tôi như nhìn thấy nàng từ biệt kinh thành một sớm mờ sương. Bịn rịn với người thương và cảnh cũ… Thân gái rồi đây sẽ dặm trường. Chưa đi đã cảm nhận và lo sợ sự lạnh lẽo đìu hiu của nơi đến. Đọan đường sắp tới là cõi phúc hay là nẻo đọan trường đầy sầu tư và mong nhớ ?

(III).

Thăng Long bịn rịn sớm mờ sương

Từ nay đất khách một thân nương

Hòang cung tráng lệ đìu hiu lạnh

Nhung gấm huy hòang nhạt tình thương

Vượt sông Đáy, qua đất Ninh Bình, đứng trên đèo Tam Điệp, thế mà đã như xa lắm rồi cái cảnh cũ ngày thơ. Tìm xem về phía xa mờ. Có còn nữa bóng Ba Vì xanh thẳm ?

(IV).

Con đường thiên lý xuôi về đâu

Rừng núi đìu hiu mấy dáng sầu

Đèo cao Tam Điệp tìm đâu thấy

Hình bóng Ba Vì khuất chìm sâu

Qua Thanh Hóa nghe tiếng sóng thét gầm, mới biết mình đi để trả nợ nước non. Cho chiến chinh thôi hết lan tràn . Cho xương máu thôi rơi. Cho sông Mã thôi thét gầm uất  hận.

(V).

Đàn sếu sang sông buông tiếng sầu

Sông Mã thét gầm nhắc niềm đau

Việt Chăm mấy thuở chinh chiến lọan

Đi, để thanh bình mãi về sau

Qua Hà Tĩnh. Dừng ngắm chín mươi chín ngọn phủ mây mờ . Hồng Lĩnh mây tóc bạc phơ phơ, mới sực thương thân phận trẻ. Về xứ lạ sẽ trọn duyên mong ước hay sẽ tan nát cõi xuân thì ? Sứ giả, tùy tùng có biết đâu lệ đã được nuốt vào trong, cho mặt mày rạng rỡ bước vu qui, sau mảnh má hồng cố giấu nét sầu bi mà vui gượng ?

(VI).

Phận gái đâu bì chí nam nhi

Tòng phu tòng phụ phải ra đi

Bạc phơ mái tóc mây Hồng Lĩnh

Giả vui, nuốt lệ tiếc xuân thì

Bình nguyên phù sa sông Cả luyến tiếc vì không giữ được chân nàng. Hòanh Sơn những tưởng  dang cánh tay về đông là ngăn được, không cho nàng về xứ lạ. Ngăn không được. Thôi đành giữ lấy những dấu hài để ngàn năm sau nhắc nhớ …

Vùng Quảng Bình tự ngàn xưa vẫn vang vang điệu hò khoan Lệ Thủy. Kéo chài, tát nước, gì gì cũng hò khoan cho sức thêm tươi. Chân nàng qua, dân vụt tắt tiếng cười. Giọng nghèn nghẹn những câu hò đưa tiễn . Về lại chăng ? Hay sẽ là vĩnh viễn ? Những lệ trào trên sóng Nhật Lệ Giang.

(VII).

Bình nguyên luyến tiếc bước chân qua

Hòanh Sơn lưu giữ dấu chân ngà

Hò khoan nghèn nghẹn trong câu hát

Nước mắt dân lành Nhật Lệ sa

Qua Quảng Trị, vào Thừa Thiên. Đây là mảnh đất vùng biên Chăm-Việt. Địa đầu của Châu Ô châu Lý . Ở cái ranh giới quá rõ ràng từ mảnh đất mới sính dâng. Vượt một tí sẽ đi vào miền đất khách. Sứ giả, tùy tùng thôi cũng mặc !. Giấu nữa sao được? Nhưng mà giấu để mà chi ? Mặc cho giòng lệ người đi tuôn tràn. Thôi thì thôi nhé giang san. Hồn ta lịm chết can tràng quặn đau. Người thân, thôi vĩnh biệt nhau. Biết còn có một kiếp sau sum vầy ?

(VIII).

Bóng chiều nhuộm úa mấy đồi nương

Biên giới là đây hỡi quê hương

Hải Vân ngỏanh lại chùng chân bước

Lệ ứa che mờ mấy khói sương

… Sau cơn quặn thắt, người muốn hay không muốn cũng phải về với thực tại. Chân bước vào vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, lòng bỗng thấy nguôi ngoai như bước trên vùng quê hương quen thuộc. Cảnh trí non sông và đời sống dân Chăm cũng hiền hòa thân ái như chốn quê nhà. Cổ Lũy Cô Thôn cũng bóng tre, bóng dừa xanh mát. Lúa mượt mà thơm ngát vị quê hương. Cũng sáo diều hiu hắt gợi niềm thương. Cũng mái tranh khói vương chiều kỷ niệm. Cũng hình ảnh trâu cày trong hòai niệm. Cũng chợ chiều nắng lịm buổi hòang hôn. Cũng gập gềnh đường đất về xóm thôn. Cũng ngai ngái phân chuồng ven lối nhỏ. Cũng trẻ thơ nô đùa nơi đầu ngõ. Cũng trâu về giục mõ tiếng râm ran… Cũng thôn nữ bên bến nước bi bô. Cũng trai làng hiền khô theo bỡn cợt … Hình ảnh ấy một lần thôi, bất chợt. Cũng rưng rưng, rưng rức bóng quê nhà.

(IX).

Cổ Lũy Cô Thôn xanh bóng dừa

Sáo diều vi vút gọi ngày xưa

Ngày xưa nhung gấm nàng công chúa

Thơ mộng ngày xưa thương mấy vừa

(X).

Sóng biếc Sa Hùynh ngàn ngút xa

Từ đây bình lặng hết can qua

Chữ tòng tự dặn lòng chung thủy

Ấm êm bờ cõi nước non nhà

Về Đồ Bàn là người đã hòan thành những bước đi sứ mệnh. Dân chúng hai miền sẽ  được hát khúc âu ca. Đại Việt sẽ thanh bình một thuở để chuẩn bị cho công cuộc phát triển về lâu dài. Có biết đâu riêng một người con lẻ, trong hòang cung buồn tẻ tuổi xuân thì.

(XI).

Đồ Bàn thành lũy hóa khuê trung

Khóa một hồng nhan chốn muôn trùng

Đại Việt nước ơi hay chăng nhẽ

Có người con lẻ trọn niềm trung

(XII).

Non nước ngàn thu có nhớ không

Vì ai thân Quế phải long đong

Vì ai ngọc trắng vùi đất lạ

Son phấn lạt phai mảnh má hồng.

Thanh Nguyên.

VTM

(Mời các bạn clik vào link này để thưởng thức độc tấu đàn tranh của Thiên Kim trong nhạc phẩm TÌNH SỬ HUYỀN TRÂN của Vũ Thanh):

http://www.vuthanhquockhanh.com/apps/podcast/podcast/198282

Chon von hang yến Bình Định

Tổ yến, hắc cáy, mực tuộc, sá sùng, san hô đen, bong bóng cá đường… những sản vật ấy ngày nào là quà tặng hào phóng của đại dương, nay con người phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, thậm chí đánh đổi bằng tự do và mạng sống mới có được.

Trạm canh bảo vệ yến xây bên cạnh hang Dơi, được đầu tư đường dây điện, đường nước thật tốn kém… Ảnh: Đoàn Quý
Chon von hang yến miền Trung, bồng bềnh những “hải đoàn” thuyền thúng trên sóng nước Côn Đảo, cheo leo những lều đáy hàng khơi Đất Mũi, và xa hơn: những chuyến lặn biển nơi chân trời góc bể… tất cả những cuộc mưu sinh ấy đều thấm đẫm vị mặn của đại dương. Hay đại dương mặn vì mồ hôi của họ?
Con thuyền 115 mã lực biển số BĐ 91016TS khởi hành ra vũng Bàu vào sáng sớm ngày chủ nhật đầu tháng 11. Gió cấp 6. Tàu vừa ra khỏi cảng, vượt qua mũi hòn Khô, là đối mặt với sóng thứ thiệt, trở thành chiếc lá bé xíu giữa mênh mông nước. Con tàu bẻ lái lấy hướng, phải cắt ngang sóng, trước khi xuôi theo sóng, mũi tàu ghếch tưởng như thẳng đứng, lườn tàu đập xuống mặt nước kêu binh binh…
Tài công chuyến hải hành này là Đinh Lùn, 60 tuổi, người đã có lần buộc phải chạy tàu ra vũng Bàu khi gió cấp 8, 9, vì phải đưa xác một đồng nghiệp vào bờ. Chuyến tàu định mệnh ấy bị sóng đập bể lườn, chìm, may nhờ có điện thoại di động kịp thời gọi cho ngư dân xã Nhơn Hải ra cứu. Bởi vậy, ông mới bình thản bình về sóng cấp 6: “Như vầy còn nhỏ”.
Trên thuyền hôm ấy có cả thảy chín người, trong đó có hai người vào nghề khai thác tổ yến lâu năm nhất – cùng năm 77 thế kỷ trước là ông Lùn và Đỗ Thanh Vân, 53 tuổi. Ông Vân có mái tóc chải ngược, mũi sư tử, gương mặt vuông phong trần, vẫn ôm tiếc nuối là đứa con trai không chịu theo nghề cha. Tiếc là không đẻ thêm một hai đứa để may ra có đứa theo nghề cha. Ông yêu nghề muốn chết!
Phải mất hai tiếng đồng hồ, vì đi ngược gió, từ cảng Quy Nhơn vượt qua mũi Bát, mũi cực nam của Nhơn Lý giáp với vùng biển của xã Nhơn Hải để đến vũng Bàu. Ở mũi này thuyền một lần nữa phải cắt sóng, bị quăng quật tơi tả, vì gió ngày càng săn.
Qua khỏi mũi Bát một khoảng nữa là vũng Bàu. Mùa tháng 4 khai thác yến, vũng Bàu có lúc như tấm thảm nước phẳng phiu, vì kín gió. Nhưng mùa này, sóng vẫn đập ì ầm ngày đêm vào vách đá phía trước lăng thờ thần của dân khai thác yến ở Quy Nhơn. Neo thuyền đã kỳ công, từ thuyền xuống xỏng vào bờ kè còn kỳ công hơn nữa. Để giữ an toàn cho thuyền ông Lùn và một người phụ lái ở lại trên thuyền, phòng khi sóng gió đứt neo kịp cứu thuyền.
Ba phần tư sản lượng địa phương là khai thác từ khu vực vũng Bàu với tám hang yến lâu đời nhất (*). Nên người dân cũng lập miếu thờ thần và tiền hiền ở đây, từ những năm 1960 miếu được xây bằng gạch. Đến những năm 2000 được xây dựng to lớn như hiện nay, với móng đá.
Nghề khai thác tổ yến, đặc thù trong các hang nước ở Quy Nhơn, kéo dài không đến ba tháng, những người theo nghề này phải luân phiên nhau canh chừng hang yến quanh năm. Như ông Vân lần đầu tiên được phân về ở ngay tại Lăng, năm sau đi qua hang Đôi, rồi ở hang Cả tám năm liền…
Thế giới của hang yến tuyệt đối không có phụ nữ, ông Đặng Văn Nguyên, người đứng chủ cúng tạ tổ nghiệp ở đây khẳng định. Và rượu. Chỉ có buồn vui với biển quanh năm suốt tháng. Không ít người không trụ được với nghề. Ngày ông Vân còn trẻ, cưới vợ xong, biệt vợ ra hang yến, cô vợ trẻ lúc ấy đã khóc…
Dầu vậy, những ngày không khai thác, chỉ ở canh gác hang, thợ yến được luân phiên chia thành hai tổ ở mỗi khu vực hang để luân phiên trực. Nhóm không trực về với gia đình. Lúc đó họ mới tận hưởng được sự hoà nhập: phụ nữ và rượu, thay cho những ngày thanh cảnh.
Hàng kỳ đi nhận lương thực họ phải đi đường núi, từ dưới khu nhà Lăng leo lên đỉnh núi khá cao, rồi mới theo đường ruột dê xuống núi mất cả tiếng đồng hồ mới ra đến trạm nhận lương. Hôm ấy trời mưa, không thể đi đường bộ được, nên mới có chuyến hải trình đầy sóng gió để đến tổng hành dinh khai thác tổ yến của Quy Nhơn.
Cũng có những hang đi đường bộ tiện hơn như hang Dơi. Từ Quy Nhơn đi Nhơn Lý, rồi vượt đường bộ chừng 15 – 20 phút là đến đỉnh núi, từ đó trụt xuống chừng bảy, tám mét là đến nhà canh hang Dơi, nằm ở lưng chừng núi, quay mặt ra biển.
Phụ trách trực ở đây là Nguyễn Minh Cường, 47 tuổi, người Tuy Phước, vào nghề từ năm 1996. Cường nhỏ người, thường xuyên nở nụ cười trên miệng thật vô tư, thợ bậc 3/6. Mấy lần thi nâng bậc đều bị rớt môn lý thuyết vì múa ngòi bút không giỏi bằng múa bấy lấy tổ yến. Copy tài liệu thì nhát vì vốn tính… thật thà. Không bù được với ông Vân bậc 6/6 cách đây đã hơn 20 năm.
Con người lạc quan này dường như chấp những cái không thành đạt của mình. Ngay cả cái nhà yến ở quê đầu tư trên 1 tỉ đồng, gần ba năm nay chỉ thu được 14 tổ yến. Trong khi đó, cái nhà ở của ông Lùn trên đường Hùng Vương chỉ tốn vài triệu cải tạo thành nhà yến mỗi năm kiếm được cả chục ký tổ. Ông Nguyên bình luận: “Yến nó không thích đi kinh tế mới, chỉ thích ở thành phố thôi”. Anh Cường lại cười.
Tuy chữ nghĩa có khá hơn, nhưng khi kể lưu loát về ông tổ nghề yến là ai, đến lập nghiệp từ lúc nào, gốc gác ra sao, trước 1975 ai thầu các hang yến ở đây… ông lại có vẻ ngậm ngùi nói với đồng nghiệp trẻ tên Nam: “Các chú chữ nghĩa nhiều hơn, cần ghi chép lại tông tích của nghề để lại cho hậu thế. Tụi tui nhớ thì có nhớ, nhưng không ai viết để lại cái gì”.
Với cái nghề “ai cũng phải tụt quần” như cách gọi của ông Vân – khai thác hang yến nước như ở Quy Nhơn, lúc nào cũng phải lội nước biển, không mặc quần dài được – quanh năm đối mặt với sóng nước, họ phải đặt niềm tin vào nhiều người như Phật bà Quan Âm, tổ nghề, các bậc tiền hiền, những người đã mất ở khu vực trung tâm, mất vì nghề. Hàng năm, họ còn phải về cúng tổ chung tại Hội An vào tháng 5.
Sản lượng yến hàng năm ở Bình Định chừng 400 – 500kg, thấp hơn trước, do phải dưỡng yến, không khai thác tận diệt hết tổ trong kỳ 3 hàng năm, còn gọi là kỳ dưỡng yến, tức là cho yến đẻ ra nở đến 30%, để chúng tăng bầy. Ở Quy Nhơn có 16 hang đang được giao cho công ty cổ phần Yến Ngọc, Bình Định thầu khai thác nằm ở hai xã Nhơn Lý – 14 hang và Nhơn Hải – 2 hang.
Bình Định, theo ông Nguyên, không có yến sào huyết như ở Khánh Hoà, một loại tổ yến màu đỏ do phản ứng của nước dãi yến với địa chất đặc biệt của vách đá.
Công Khanh – Đoàn Quý – Phan Quang

 

Mưa Huế

Lê Mộng Thắng
                   Có hai vùng quê cùng mang tên Đập Đá
Mưa từ Đập Đá mưa qua
Thương o áo tím hoa cà về ngang
Chờ anh , Vỹ Dạ cùng sang
Nhìn cau trong nắng ,… thơ Hàn…mới lên.
.
Tương tư mắt lá dăm huyền
Mướt xanh cành trúc,…chữ điền,… vườn xưa
Chiều nay trời lại đổ mưa
Mà o áo tím sao chưa thấy về.
.
Trông bên nớ , ngóng bên tê
Nao nao mà cứ.. không hề chi mô !
Ước gì anh là tán ô
Che mưa cho tóc ấm bờ vai ai.
Mưa ơi, giọt ngắn giọt dài
.

Lắng sâu, như khúc Nam Ai, Nam Bằng…
Hoa cà tím áo biết chăng
Phương này ray rức mưa giăng giăng buồn. 

.

Rét dài tím cả hoàng hôn
Căm căm ngọn bấc từng cơn se mùa
Tìm đâu áo tím ngày xưa
Anh về Đập Đá nghe mưa …nao lòng.

– Khi phái đoàn của Quang Trung (giả) đến Nhiệt Hà để ra mắt Càn Long, vua Thanh đã tặng An Nam Quốc vương một viên ngọc Như ý, một tòa Ngọc phật, tặng cả đoàn một vạn lạng bạc…

Vì sao Phạm Công Trị lại về nước?

Phác họa chân dung Quang Trung trên một tờ tiền giấy.
Phác họa chân dung Quang Trung trên một tờ tiền giấy.

Việc cử “vua giả” sang chầu Càn Long là một điều bắt buộc, một sự vạn bất đắc dĩ bởi nó là sự mạo hiểm chết người đối với các nhà ngoại giao của cả hai bên. Vì vậy, việc tính toán kỹ lưỡng, chi tiết cho cho chuyến đi này là vấn đề sống còn của cả hai bên. Có ai dám chắc rằng, trong cả quá trình đi hàng mấy tháng trời qua rất nhiều địa điểm đón tiếp, không phạm phải những sơ suất mà chân tướng vua giả sẽ lộ ra?

Ai dám đảm bảo rằng, trong số rất nhiều vong thần nhà Lê, những kẻ tử thù của Tây Sơn hiện đang nhan nhản ở vùng sát biên giới (bên phía Trung Quốc) nhận diện ra Quang Trung giả? Chính vì vậy mà Nguyễn Quang Thùy chính là nhân vật chính của phương án 2, nếu phương án 1 là Quang Trung giả bị bại lộ.

Ở đây ta thấy cái tài khôn khéo của các nhà ngoại giao Tây Sơn, đó là trong giả có thật, trong thật có giả. Quang Trung là giả, nhưng con Quang Trung là Quang Thùy lại là thật. Và khi giả (phương án 1) bị bại lộ thì thực (phương án 2) sẽ thay thế, quyết không để cho công cuộc bang giao bị đổ bể. Tình huống cụ thể ở đây là, trong đoàn ngoại giao có ghi tên Phạm Công Trị (người có thực đang đóng vai Quang Trung) nhưng người mang tên Phạm Công Trị lại là một người khác (có thể chỉ là một nhân vật vô danh, một người lính chẳng hạn). Đặt trường hợp Quang Trung giả bị phát hiện là Phạm Công Trị thì tất nhiên ông phải nhận mình là Phạm Công Trị, tên tuổi ông đã được ghi rõ ràng trong danh sách ngoại giao đoàn. Lúc đó thì “Quang Trung” đành phải cáo ốm mà trở về nước, ủy thác lại cho Nguyễn Quang Thùy tiếp tục công việc. Người tháp tùng Quang Trung “giả” sẽ là Phạm Công Trị, lúc này sẽ lấy tên thật. Còn ai sẽ là Quang Trung “giả” trong vai vua ốm? Đó chính là người vô danh đội tên Phạm Công Trị lúc ra đi.

“Người vô danh” này không cần phải giống Quang Trung, bởi vì dọc đường về, do “vua” bị ốm nên sẽ ở trong xe (hoặc kiệu) được buông rèm kín không lộ diện. Tuy nhiên, điều chẳng may bị lật tẩy đó đã không hề xảy ra. Đoàn vượt biên giới Lạng Sơn vào ngày 13/4 Canh Tuất (1790). Đầu tháng 5 thì đi hết địa phận Lưỡng Quảng. Sự việc diễn ra êm đẹp. Từ đây, khi đã vào sâu trong nội địa Trung Quốc thì mối lo bị lộ tẩy do các vong thần nhà Lê hay các thế lực thù địch với Tây Sơn không còn nữa. Có nghĩa là phương án 2 không cần đến.

Lúc này, Nguyễn Quang Thùy phải trở về nước. Nguyễn Quang Thùy được phong tước Khang Công, đang lĩnh chức Tiết chế thủy bộ ở Bắc Thành (tức chỉ huy toàn bộ quân đội ở phía Bắc) ông còn nhiều việc phải làm. Phạm Công Trị trong vai Quang Trung giả cũng không có gì sơ suất, cần phải “quên” cái tên Phạm Công Trị đi. Vì vậy, “người vô danh” mang tên Phạm Công Trị trong dịp này cũng trở về với Nguyễn Quang Thùy. Như vậy, dù thực hiện phương án 1 (Quang Trung giả) hay phương án 2 (Hoàng Tử thật) thì cái tên Phạm Công Trị cũng phải được xóa bỏ trong danh sách Đoàn ngoại giao trước khi triều kiến vua Càn Long. Đó là lý do vì sao chúng ta thấy trong số những người tháp tùng Nguyễn Quang Thùy về nước lại có tên Phạm Công Trị.

Chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế

Quang Trung “giả” đã không bị bại lộ. Phái đoàn sứ bộ của ta đã thành công mỹ mãn. Vua Càn Long đã tỏ ra rất trân trọng, rất chu đáo với “Quang Trung”. Trên đất Trung Quốc phái đoàn đi đến đâu cũng được đón tiếp long trọng. Thậm chí khi Càn Long nhận được quà biếu là quả vải tươi, đã cho chạy ngựa trạm vượt hàng ngàn dặm, đem đến biếu Quang Trung lúc ấy đang trên đường đi. Xem số quả vải tươi được biếu (5 quả), trong đó vua Quang Trung được 2 quả, Phúc Khang An được 2 quả và Ngô Văn Sở được 1 quả, đủ thấy nhà Thanh quý quả vải tươi như thế nào, và tầm cỡ của người được biếu vải.

Khi phái đoàn của Quang Trung (giả) đến Nhiệt Hà để ra mắt Càn Long, vua Thanh đã tặng An Nam Quốc vương một viên ngọc Như ý, một tòa Ngọc phật, tặng cả đoàn một vạn lạng bạc, tặng Ngô Văn Sở một cái mũ san hô tam phẩm (tức công nhận Ngô Văn Sở ngang hàng quan tam phẩm nhà Thanh). Ngày 20 tháng 8 Canh Tuất (1790) vua Thanh đặt tiệc tiễn Quang Trung về nước.

Khi “Quang Trung” vào bệ kiến để từ biệt, Càn Long đã mời vào bên giường ngự, vỗ vai thân mật, sai họa sĩ cung đình vẽ một bức chân dung Quang Trung để tặng. Càn Long lại tự tay viết 4 chữ đại tự “Củng cực quy thành” (Chầu về sao Bắc đẩu với tất cả lòng trung thuận, thành thực). Sách Hoàng Lê nhất thống chí ghi chép lại: “Khi Quốc vương tới Yên Kinh, vua Thanh mừng lắm, không hề biết là Quang Trung giả. Lúc Quốc vương vào yết kiến, vua Thanh cho ăn yến với các vị thân vương, lại ban ơn đặc biệt cho làm lễ ôm gối, hệt như tình cha con trong nhà. Lúc Quốc vương lạy tạ về nước, vua Thanh sai thợ vẽ bức truyền thần mà ban cho, ân lễ rất trọng hậu, thực là một cách đối đãi khác thường từ ngàn xưa hiếm có.”

Theo Đại thanh thực lục thì số tiền nhà Thanh bỏ ra để chi tiêu vào việc đón tiếp Quang Trung trong suốt đợt đi sứ hết 80 vạn lạng bạc (con số này có thể bị khai khống lên để các quan lại địa phương có dịp bớt xén. Nhưng việc gửi quà, việc đón tiếp của Càn Long đối với Quốc vương An Nam là hết sức ân cần, chu đáo, điều đó không phải bàn cãi). Nhận xét về chuyến đi sứ này, nhà thơ Đoàn Nguyễn Tuấn, một thành viên của sứ bộ viết: “Từ trước đến nay, người mình đi sứ Trung Quốc chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế” .

PDK