Đăng trong Thơ ca | Thẻ Nguyễn Thanh | 72 Comments »
Nằm ở phía Đông Nam tỉnh Bình Định, một bên là biển Đông vỗ về, 1 bên là núi biếc trùng điệp, thành phố Quy Nhơn mang một vẻ đẹp hoang sơ mà rực rỡ say lòng người.

Quy Nhơn trải dài theo hình cánh cung, ôm lấy bờ biển cát vàng óng ánh như tình nhân. 1 bên là biển rộng sóng vỗ rì rào, 1 bên là các dãy khách sạn, khu resort cao cấp hướng mình đón gió biển. Từ đây, có thể nhìn thấy những hàng dừa xanh đu đưa theo gió, phóng tầm nhìn ra xa 1 chút sẽ thấy một màu xanh đại dương tươi mát hòa với màu trời trong vắt như ngọc.



Sau khi chọn cho mình một chỗ dừng chân bên bờ biển, du khách có thể bắt đầu chuyến du lịch với bãi tắm Hoàng Hậu nên thơ dưới chân đồi Thi Nhân.
Cách trung tâm thành phố Quy Nhơn tầm 2 đến 3 Km, nằm trong khu du lịch Ghành Ráng, bãi tắm Hoàng Hậu đẹp một cách kiêu sa, đài cát. Bãi tắm Hoàng Hậu hay còn gọi là bãi Trứng là một bãi biển rộng lớn với những viên đá xanh hình tròn, mặt nhẵn như quả trứng với đủ mọi kích cỡ xếp lên nhau trên bãi biển. Phía trước bãi là những tượng đá thiên nhiên chắn sóng, tạo nên 1 vùng nước lặng. Quý khách có thể tắm biển, xây lâu đài cát hoặc nhặt những viên đá lạ mắt về làm quà cho người thận.

Cao cao phía trên bãi tắm Hoàng hậu là đồi thi nhân, nơi đặt mộ nhà thơ Hàn Mặc Tử. Đồi thi nhân tĩnh lặng, đắm mình trong không gian thơ mộng và chan chứa tình. Hàng năm, vào ngày tết nguyên tiêu(ngày 15 tháng 1), đồi thi nhân lại tổ chức lễ hội thơ để vừa tưởng nhớ nhà thơ Hàn Mạc Tử, Yến Lan vừa vinh danh những tài năng thơ phú của tỉnh nhà.

Dưới chân đồi Thi nhân là làng phong Quy Hòa. Ở đây có hàng trăm ngôi nhà của các bệnh nhân phong được xây dựng từ hơn 80 năm trước. Mỗi ngôi nhà có 1 kiến trúc riêng, nhưng tất thảy đều toát lên vẻ mộc mạc, giản dị và yên bình đến nao lòng người. Có thể nói, khu điều trị phong Quy Hòa là một trong những bệnh viện đẹp và độc đáo nhất thế giới.

Trong làng phong Quy Hòa còn có khu vườn tượng độc đáo. Những bức tượng bán thân của các danh y lỗi lạc được đặt cạnh nhau dưới bóng phi lao rì rào vừa toát lên vẻ uyên bác, vừa lại thanh bình quá đỗi.

Đến Quy Nhơn mà không 1 lần đặt chân lên cầu Thị Nại là 1 điều vô cùng thiếu sót. Đây là cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam, nằm trong hệ thống cầu đường Nhơn Hội dài gần 7 Km nối liền thành phố Quy Nhơn với bán đảo Phương Mai.
Người Quy Nhơn mỗi khi muốn ngắm nhìn thành phố sẽ chạy xe lên con đường Quy Nhơn-Sông Cầu. Từ trên cao phóng tầm mắt xuống sẽ thu về toàn cảnh thành phố nhỏ bé yên bình như tranh vẽ, trong đáy mắt là một màu xanh của cây trái mượt mà, xanh của biển rộng, trong vắt màu trời.


Đêm Quy Nhơn không ồn ào, toàn thành phố chìm trong ánh đèn vàng dịu dàng ấm áp. Thành phố về đêm như đóa hoa quỳnh âm thầm nở bung, khoe ra vẻ đẹp kiều diễm cùng hương thơm ngọt ngào. Du khách có thể chọn cho mình 1 quán café bên bờ biển để ngắm nhìn biển đêm điểm xuyến ánh đèn đánh cá ngòai khơi lấp lánh.

Bãi biển cũng là 1 nơi thú vị về đêm với các trò chơi tập thể như đốt lửa trại, kéo co, hay đơn giản chỉ là những bữa tiệc barbecue bên bờ biển, cùng gia đình người thân quay quần nướng lên những món hải sản thơm lừng.



Những người yêu nhau lỡ ghé chân đến Quy Nhơn vào đêm trăng rằm sẽ không bỏ lỡ cơ hội nắm tay nhau bước đi trên bờ cát trắng mịn màng, dưới ánh trăng vàng tận hưởng dư vị ngọt ngào, lãng mạn của tình nhân.


Đã đến Quy Nhơn rồi nhất định phải đi cù lao xanh. Cù Lao Xanh còn gọi là đảo Vân Phi là một hải đảo nằm gần vịnh Xuân Đài, thuộc xã Nhơn Châu cách thành phố Quy Nhơn chừng 13 hải lý về phía Đông Nam.
Du khách có thể đến mũi Hàm Tử để đón thuyền ra Cù Lao Xanh, mất khoảng gần 2h đồng hồ là có thể đặt chân lên cù lao xanh mướt một màu này.
Không biết cái tên “Cù lao xanh” có tự bao giờ, chỉ biết rằng trên bản đồ địa chính quốc gia nó nhỏ hơn một hạt đậu xanh nổi trên mặt biển.
Bên cạnh một Quy Nhơn đô thị đang từng ngày thay da đổi thịt, vẫn luôn còn đó 1 Quy Nhơn dịu dàng đằm thắm, đẹp đến nao lòng người, luôn sẵn sang chào đón bước chân bạn ghé qua.
Những lưu ý khi đi du lịch Quy Nhơn:
Nên đi trong thời gian 3 ngày 2 đêm là đủ.
Đến Quy Nhơn không nên bỏ qua hương vị ẩm thực phong phú của địa phương như: Bún chả cá, tré, bánh ít lá gai, bánh xèo, hải sản tươi…và đặc biệt nên thử qua rượu Bầu Đá trứ danh xưa nay.
Nên chọn khách sạn bên bờ biển thay vì chọn khách sạn trong thành phố. Giá phòng khách sạn tầm 300.000/ ngày, tùy theo loại phòng và chất lượng phục vụ.
Nguồn Afamily
Đăng trong Mỗi tấm ảnh một câu chuyện, Xứ Nẫu, Người Nẫu | 89 Comments »
Đăng trong Thơ ca | Thẻ Cao Văn Tam | 50 Comments »
Một người đàn ông gặp Chúa và thỉnh cầu: “ Lạy Chúa, con rất muốn biết thế nào là Thiên Đường và Địa Ngục”. Chúa dắt ông ta đến trước hai cánh cửa.Ngài mở một cánh cửa và bảo ông ta nhìn vào bên trong. Ông ta thấy, một chiếc bàn tròn thật lớn, giữa bàn bày rất nhiều thức ăn, mùi thơm phưng phức làm ông ta thèm chảy nước miếng. Nhiều người ngồi quanh bàn, nhưng trông họ gầy gò, nước da xanh tái, bệnh hoạn. Họ có vẻ rất đói. Trên cánh tay họ gắn những chiếc muỗng nhưng cán rất dài. Họ có thể với lấy thức ăn nhưng vì cán muỗng dài hơn cánh tay nên không thể đưa thức ăn vào miệng .
Người đàn ông rùng mình khi nhìn thấy đau khổ của họ .
Chúa phán : “Con vừa nhìn thấy Địa Ngục”
Sau đó Chúa dẫn ông ta đến chiếc cửa thứ hai. Chúa mở cửa. Quang cảnh mà người đàn ông nhìn thấy vẫn giống như lần trước. Có một chiếc bàn thật lớn bày biện nhiều thức ăn làm ông ta chảy nước bọt. Nhiều người ngồi quanh bàn có những cánh tay gắn những chiếc muỗng cán dài. Nhưng lần này ông ta thấy mọi người đều khoẻ mạnh và vui vẻ nói cười.
Chúa phán “ Đây là thiên đường”
Người đàn ông ngạc nhiên, “Lạy Chúa, con không hiểu!”
– “Đơn giản thôi”, Chúa trả lời, “những người này biết là cán muỗng quá dài, không thể tự đút ăn cho mình được…Tuy nhiên họ có thể đút thức ăn cho người ngồi cạnh mình. Bởi vậy họ đã thực hành việc người này đút thức ăn để nuôi người kia.
Chúa tiếp: “ Con biết không, ta còn muốn nói thêm một điều này nữa… Trên trái đất này có đủ thức ăn để thoả mãn nhu cầu của tất cả nhưng không thể thoả mãn lòng tham lam của một nhóm người. Những ý nghĩ của chúng ta, dù có tốt lành đến đâu cũng chỉ là những viên ngọc giả nếu nó không được biến thành hành động. Con phải là sự thay đổi mà con muốn nhìn thấy điều đó xảy ra trên thế giới[1]”
Trương Văn Dân
( Tuyển dịch từ tiếng Ý )
[1] Mahatma Gandhi
Đăng trong Văn xuôi | Thẻ Mahatma Gandhi, Thiên Đường, Trương Văn Dân, Địa Ngục | 62 Comments »
Lê Thánh Thư
Cô gái mù đi giữa ban ngày
Ngước hỏi mặt trời trên chiếc gậy
Về con đường sáng.
.
Những đứa trẻ
Đôi mắt như ngọn đèn
Nhìn theo.
.
Tôi nghe nhiều về sự sáng
Chưa biết gì im lặng của đêm.
.
Nhìn hướng cô gái mù
Chợt hiểu
Sự sáng sinh ra từ bóng tối.
Đăng trong Thơ ca | Thẻ Lê Thánh Thư | 48 Comments »
Điều tôi muốn nói trước tiên, có lẽ – là cái tên của ông. Ba Phải. Ông tên “Ba Phải” vì theo thứ tự trong gia đình, ông là người con thứ ba. Tên trong khai sinh là Lê Văn Phải. Người ta thường nói gọn là “Ba Phải”.
Nếu hiểu theo nghĩa “ba phải” là ai nói gì cũng gật đầu “phải, phải, phải’ – ba lần (hay nhiều lần) cho yên thân thì hoàn toàn sai với bản tính con người của ông ! Một sự lầm lẫn rất lớn về tên gọi ! Ở con người của Ba Phải thì ngược lại. Hoàn toàn trái ngược một trăm phần trăm như đen với trắng – nước với lửa ! . Nghĩa là không bao giờ ông chịu nghe ai, không gật đầu với ai – và chỉ làm theo ý mình.
Người đầu tiên biết rõ cá tính của ông là bà Liễn – vợ ông. Về làm vợ ông đã bao năm rồi, tính con đã năm đứa (ba gái, hai trai) nhưng hiếm khi ông gật đầu với bà lần nào ! Điều này làm bà đành cam chịu buồn khổ, riết rồi quen – rồi biến thành một cái bóng lặng lẽ bên đời ông tự bao giờ…
Người ta ít khi thấy bà Liễn đi đâu xa – thăm bà con, hay bạn bè, xóm giềng. Và bà con, bạn bè, chòm xóm của bà cũng chẳng có ai lui tới. Bà về làm vợ ông, chui vào nhà ông – như cắt đứt mọi liên hệ gia đình, bà con thân thuộc, bạn bè cũ. Dường như bà Liễn chẳng còn nhớ gì đến dĩ vãng, đến kỷ niệm của một thời con gái tuổi trẻ hồn nhiên, thơ mộng? Nếu có còn nhớ chăng, thì chỉ ẩn hiện trong khoảnh khắt lặng im ray rức một mình.
Hằng ngày, ông Ba Phải “phát tiền” cho bà đi chợ. Dặn mua món gì, bao nhiêu – tùy theo ông quyết định. Số tiền còn thừa, bà Liễn đưa lại cho ông ngay sau khi đi chợ về- dầu chỉ những đồng tiền lẻ ! Nếu có khi nào bà thử đề nghị ông mua thêm món này, sắm thêm cái nọ – ông lập tức nhăn mặt : “xì xì… như vậy được rồi !” – rồi quày quả bỏ đi một mạch.
Có một lần bà Liễn thử nhắc:
-Ngày mai là đến ngày giỗ Mẹ, sao ông không nhớ à ?
Ông Ba Phải nhăm mặt – khuôn mặt thon dài thêm rắn rỏi, nhăn nhúm : “Xì xì … như vậy được rồi, cúng giỗ làm gì cho thêm chuyện ?”.
Đã quày quả quay đi – ông chợt ngóai lại – cao giọng: “Bà nên nhớ rõ, chủ trương của tôi là “ba không” : không cúng giỗ, không cho ai mượn tiền, không đi chơi với ai!”. Đó là “bài học” đầu tiên mà bà Liễn được biết khi về sống chung với ông !
Tuy không bao giờ cúng giỗ ông bà, cha mẹ – nhưng giữa nhà ông được thiết bày một bàn thờ sang trọng : Cặp lư đồng đen to tướng, bát hương sành cổ Trung Quốc, cặp lọ hoa cao cổ men xanh, cặp liễn đối cẩn xà cừ sáng bóng, chiếc bàn cổ khắc chạm tứ linh có từ thời chúa Nguyễn… Hai bên bàn thờ là hai chiếc tủ gỗ hương sắp đầy những quý vật cổ như bình rượu, bình trà, chén dĩa, lọ hoa, lư trầm, tượng Phật, tứ linh, đũa ngà… Những món đồ quý hiếm ấy do từ đời ông bà cha mẹ ông lưu lại cũng có – mà do nghề “Cầm Đồ” của ông thu vào dần dần cũng có. Khánh lâm vào cảnh túng bần, hay bị ốm đau lâu ngày- đem đồ gia bảo đi “cầm thế” cho ông , mong nhận được ít tiền qua cơn ngặt nghèo. Hết hạn cầm thế mà vẫn chưa có tiền chuộc lại, đành phải bán đứt cho ông với giá bèo ! Khách bấm bụng mà nhận tiền, chỉ kịp liếc nhìn lần cuối món gia bảo mấy đời đang nằm lặng lẽ trong tủ ông!
Ông Ba Phải săm soi, ngắm nghía những món đồ cổ với lòng tự hào căng cứng. Ông mê đồ cổ như một cách mê vàng bạc hơn là mê cái đẹp của nghệ thuật, bởi vì – người ta chỉ nghe ông Ba Phải khoe “món này mấy lượng vàng, món kia cả trăm triệu” chứ chưa hề nghe ông nói tới “cái đẹp” nào khác! Từng món đồ cổ chứa đầy trong hai chiếc tủ gỗ hương lớn (và trên các ngăn gỗ dọc vách tường phòng khách) như hiện rõ lòng tham và lòng tự mãn ngày càng nhiều của ông! Và ông Ba Phải trân quý chúng còn hơn cả vợ con – bởi chưa ai nghe ông nhắc nhở đến vợ con dù chỉ là một lời giới thiệu ngắn ngủi – trong lúc ông có thể nói cả buổi về chúng…
Trong chủ trương “ba không” của ông Ba Phải, bà Liễn không bằng lòng hết hai điều: không cúng giỗ, không cho ai mượn tiền. Từ lúc nghe ông cao giọng nói đến “chủ trương ba không” – bà Liễn cảm thấy ông hoàn toàn khác với sự tưởng nghĩ ban đầu khi vừa chân ướt chân ráo bước vào gia đình ông. Một con người không có chút tưởng nhớ gì đến ông bà, cha mẹ – thì liệu có tưởng nghĩ tới ai không? Thời con gái, bà đã yêu trộm nhớ thầm ông giáo làng trên xóm Đình – hai người cũng có thư qua lại đôi lần – thì ông Ba Phải xuất hiện. Cuộc tình thầm kín đành khép lại, vì cha mẹ bà đều nghĩ đến sự giàu có tiếng tăm của gia đình Ba Phải – mong cho con sẽ được sung sướng hơn người. Có ai học được chữ “ngờ” luôn luôn rình rập quanh đời để xô ta vào nơi bất hạnh, khốn cùng? Thân gái mười hai bến nước, bà Liễn đã bị trôi dạt vào bến nước khô cạn ngầu đục như một định số khắc nghiệt.
Cái “không” thứ hai, điều này quả thật đau lòng – mà người đầu tiên ngậm đắng nuốt cay là bà Liễn. Cậu em bà đến báo tin mẹ đau nặng, đang cấp cứu ở bệnh viện – nhờ bà hỏi vay ông Ba Phải một trăm ngàn nộp viện phí và lo thuốc thang ban đầu – bà Liễn đáp lơ lửng: “Em thử hỏi ổng coi – chị không có lấy một xu dính túi mà!”.
-Tình nghĩa vợ chồng, chị nói giúp em – cậu em tha thiết đề nghị.
-Tình nghĩa gì đâu ? Giọng bà lạt hẳn, chị chưa bao giờ…
Bà bỏ lửng câu nói rồi sụt sùi khóc. “Tình nghĩa gì đâu, chị chưa bao giờ cảm thấy điều ấy” – Có lẽ đây là lần đầu tiên bà Liễn biểu lộ tình cảm của mình trước người khác. Cái khổ đau ẩn chứa thầm lặng bấy lâu đè nặng lên tâm hồn bà – khiến tiếng khóc cứ nấc lên, nấc lên từng chặp, nghẹn ngào! Tiếng khóc ấm ức ấy dường như đã làm cho cậu em lâu ngày gặp chị hiểu rõ hơn cảnh đời hiu hắt của chị từ ngày xa nhau…
Cậu em thờ thẫn rời chị, đi dần lên gian phòng khách…
Ông Ba Phải đang say sưa đọc lại một đoạn văn của Trần Trọng Kim mà ông đã học thuộc không biết từ bao giờ – phát ra như một cái máy thu thanh cũ: “Khổng Phu Tử ngắm cảnh tượng của tạo hóa mà xét việc cổ kim; đạt được cái lẽ biến hóa của trời đất. Ngài muốn người ta theo cái đạo ấy mà hành động, khiến cho nhân sự và thiên lý cùng thích hợp với nhau theo đạo thái hòa trong vũ trụ. Ngài tin rằng người ta sinh ra đã bẩm thụ cái lý khí của trời đất…”.
Người bạn ngồi đối diện ông, đôi mắt mở to, chăm chú nghe ông như một nhà hiền triết… Giọng ông Ba Phải lên cao, xuống thấp từng đoạn; hai tay huơ lên trước mặt – thay đổi thế ngồi liên tục nhấp nhổm như đang ngồi trên lửa : “… Ngài tin rằng, người ta sinh ra đã bẩm thụ cái lý khí của trời đất, tất là cùng với trời đất có thể tương cảm tương ứng với nhau được…”. Có những đoạn văn dài, ông đọc liền hơi – có khi mười lăm, hai mươi phút ; khách ngồi cứ trơ ra như tượng không thể làm gì khác!
Ngoài cái “mê đồ cổ” ông Ba Phải còn có cái “mê văn chương chữ nghĩa” nữa. Khách đến nhà, dù thân hay sơ – có việc hay nhàn rỗi – ông Ba Phải sau khi trầm trồ giới thiệu từng món đồ cổ, là đọc văn thơ cho khách nghe. Có vài ông bạn nối khố công tử lỡ vận thất nghiệp ngày nào cũng đến ngồi ở chiếc ghế salon nơi phòng khách để được uống trà – dù phải nghe ông đọc đi đọc lại mấy đoạn thơ Kiều, Chinh Phụ Ngâm hay các đoạn văn nghị luận của Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Phan Khôi… đến lần thứ bao nhiêu cũng gật gù tán thưởng. Cái “mê văn thơ triết lý” của ông Ba Phải nó cũng giống cái “mê đồ cổ” vậy: Một đằng thì khoe giàu sang, một đằng thì khoe kiến thức. Chữ “Phú” sinh chữ “Quí” – thói thường người ta ưa chuộng hai chữ ấy để mưu cầu sự trọng vọng, nể nang! Nhưng “Phú, Quí” để mà làm gì khi chính họ đã trở thành một cỗ máy hoen rỉ hay một cái kho chứa mục nát ?
Trong nhà ông Ba Phải có đủ mọi thứ, nhưng không sử dụng bao giờ. Chiếc xe Honda được đắp mền ở góc phòng. Chiếc tủ lạnh mới còn bao lớp nylon . Chiếc máy khâu Singer không ai dám mở tấm vải che ra dầu vợ và hai cô con gái của ông phải tẩn mẫn cặm cụi may vá bằng tay. Chỉ có chiếc Tivi là thỉnh thoảng được ông bật lên để xem tin tức thời sự hay hát bội vào tối thứ bảy.
Có một vật mà ông Ba Phải không bao giờ rời nó một giây – đó là xâu chìa khóa to tướng luôn luôn rổn rẻng ở trong tay ông hay nằm im trong túi áo Pyjamas … Đó là vật “bất ly thân” của ông – nó như một bộ phận của cơ thể ông vậy. Vợ và các con ông chưa bao giờ được đặt tay vào xâu chìa khóa này. Hai cậu con trai lang bạt lập nghiệp lây lất ở Saigon lúc kẹt tiền, túng bấn, trở về nhà lăm le nhìn xâu chìa khóa trên tay ông mà ngậm ngùi.
Có một lần ông bị đau dạ dày, xuất huyết trong, phải chở đi bệnh viện đa khoa tỉnh cấp cứu, nhưng xâu chìa khóa vẫn được cột ở cổ tay ông. Cậu con trai giữa được báo tin, từ Saigon bay về – dùng các chìa khóa cùng loại cạy mở tủ nữ trang, vàng, đá quý… Rủi thay tủ không mở được, mà chìa lại gãy nằm im lìm trong ổ. Gọi thợ khóa đến lấy giúp chìa ra không xong, vì theo lời người thợ, chìa bị cong vẹo trước khi gãy. Cậu con đành vội vã bỏ đi trước ngày ông xuất viện … Ông Ba Phải được trở về nhà, kiểm tra các tủ khóa, phát hiện được chìa gãy – đã nhảy cẩng lên la hét bà Liễn và ba cô con gái như nhà cháy! Khi biết rõ cậu con trai là thủ phạm – ông gầm gừ : “Quân khốn nạn, tao viết giấy từ mày ngay giờ phút này!”.
Thực ra, dù không có giấy tờ – ông Ba Phải đã “từ bỏ” hai người con trai từ nhiều năm nay rồi!. Hình như ông không hề nghĩ là ông đã có con từ lúc chúng còn nhỏ?. Ông không ngó ngàng gì tới vợ con, gia đình của hai người con là giọt máu của mình đang khốn đốn với nghề may vá, và lính thú rày đây mai đó khắp bốn vùng… Đến cái đám cưới cho con, ông vẫn im lặng vì sợ tốn kém thì có gì mà ông để mắt tới ngoài những món đồ cổ ? Cả hai cậu con trai đều tự mình tìm vợ, chung sống, sinh con – như kẻ mồ côi lang bạt ! Nhờ gia đình phía vợ thương, đùm bọc – nhưng có gia đình khá giả hiểu biết nào chịu gả bán con gái mà không có được một cái lễ nào – ngay việc thấy mặt ông bà sui cũng không; ngoài các gia đình nghèo khổ nặng lòng cưu mang thương xót?
Bà Liễn chết năm bà sáu mươi tám tuổi. Đám chết của bà lặng lẽ như bà đã lặng lẽ có mặt trên cõi đời này sáu mươi tám năm. Có người nói bà Liễn chết vì suy nhược, kiệt sức- chứ không phải bệnh viêm gan. Đến ngày bà chỉ còn nằm bất động thoi thóp thở từng hơi nặng nhọc – ông Ba Phải mới cho gọi y tá đến truyền cho bà một bình sérium với vài loại thuốc bổ rẻ tiền ! Bình thuốc mới vào cơ thể khô đét của bà chỉ một phần ba – thì bà đã tắt thở. Cây đã khô tận gốc rễ, một vài gáo nước thì có thể hy vọng được gì?.
Hai người con trai lớn của bà dắt díu vợ con về thăm tiễn bà khi bà đã nằm im lìm trong quan tài hai ngày. Bà không thấy được mặt mũi mấy đứa cháu nội; và chúng cũng không hề được nhìn một lần người bà thân yêu – ngoài tấm di ảnh chưng ở bàn thờ … Qua ngày cúng giáp tuần, hai người con trai lại lần lượt lặng lẽ dìu dắt vợ con ra đi !
Sau ngày bà Liễn mất một năm, ông Ba Phải phải nhập viện vì chứng loét dạ dày tái phát. Lần này, các bác sĩ đều lắc đầu – bảo mang ông về, cho ăn uống, rồi chờ ngày ra đi mà thôi! Bệnh ung thư dạ dày của ông đã vào giai đoạn cuối rồi dầu có cắt bỏ hai phần ba, cũng không kéo dài thêm bao nhiêu.
Về nằm ở nhà, vài tuần sau, ông lại bị chứng parkinson – tay chân run rẩy , lập cập – không nắm cầm vật gì chắc chắn được.
Rồi tiếp theo là giọng nói của ông khàn đục, hụt hẫng – nói không thành câu nữa. Ông nằm dán trên chiếc giường hộp rộng – hằng ngày được hai cô con gái lớn thay nhau đổ cháo, sữa, hay nước sâm vào miệng từng muỗng nhỏ…
Hai cậu con trai phiêu bạt được em gái báo tin, đã trở về kịp gặp lại ông một ngày – trước khi ông không còn thở được nữa ! Ông Ba Phải đã nằm im lìm, bất động, lạnh lẽo như những món đồ cổ quanh ông.
Việc đầu tiên của năm anh em con ông Ba Phải là phải gắng tìm cho được xâu chìa khóa mà ông đã cất dấu ở nơi nào từ ngày ông ở bệnh viện trở về…
Đăng trong Văn xuôi | Thẻ Ông Ba Phải., Bình Định, Mang Viên Long | 127 Comments »
Thanh Nguyên
Đi qua các nẻo đường của quê hương . Từ Thăng Long về đến Bình Định. Đâu đâu tôi cũng thấy như còn in gót hài của Huyền Trân công chúa. Một lần nọ ra đi, tôi theo dấu chân của người và nhận ra ngàn ngàn tâm sự.
Nàng vốn trắng trong hồn thơ mộng. Đi, là đi theo lệnh phụ hòang, và đi cho trọn chữ hiếu, chữ tòng tự nghìn xưa. Đi rồi, mới nhận ra cái nghĩa cử vị đại nghiệp, vị non sông.
Trên đường thiên lý, tôi được nghe những lời kể từ dân chúng, tôi được nghe những câu ca dao, những bài dân ca viết về Huyền Trân rất đậm đà và trìu mến. Dân ta, nhất là dân thuộc dãi đất miền Trung, rất yêu mến và nặng ơn nghĩa với nàng. Nhưng cũng còn nhiều thêu dệt oan khiên trong dân chúng, do chính sử thiếu dữ kiện…
(I).
Xuân thì, xanh mộng chốn lầu son
Một vóc ngà thơm, thân Quế non
Một hồn trong trắng vô tư lự
Đã biết đâu mà nợ nước non.
(II).
Duyên ước phụ hòang trót lỡ tuyên
Đã đành công chúa, cũng thuyền quyên
Bến trong bến đục âu đành vậy
Một mảnh sơn hà đổi chữ duyên
Về Thăng Long, tôi như nhìn thấy nàng từ biệt kinh thành một sớm mờ sương. Bịn rịn với người thương và cảnh cũ… Thân gái rồi đây sẽ dặm trường. Chưa đi đã cảm nhận và lo sợ sự lạnh lẽo đìu hiu của nơi đến. Đọan đường sắp tới là cõi phúc hay là nẻo đọan trường đầy sầu tư và mong nhớ ?
(III).
Thăng Long bịn rịn sớm mờ sương
Từ nay đất khách một thân nương
Hòang cung tráng lệ đìu hiu lạnh
Nhung gấm huy hòang nhạt tình thương
Vượt sông Đáy, qua đất Ninh Bình, đứng trên đèo Tam Điệp, thế mà đã như xa lắm rồi cái cảnh cũ ngày thơ. Tìm xem về phía xa mờ. Có còn nữa bóng Ba Vì xanh thẳm ?
(IV).
Con đường thiên lý xuôi về đâu
Rừng núi đìu hiu mấy dáng sầu
Đèo cao Tam Điệp tìm đâu thấy
Hình bóng Ba Vì khuất chìm sâu
Qua Thanh Hóa nghe tiếng sóng thét gầm, mới biết mình đi để trả nợ nước non. Cho chiến chinh thôi hết lan tràn . Cho xương máu thôi rơi. Cho sông Mã thôi thét gầm uất hận.
(V).
Đàn sếu sang sông buông tiếng sầu
Sông Mã thét gầm nhắc niềm đau
Việt Chăm mấy thuở chinh chiến lọan
Đi, để thanh bình mãi về sau
Qua Hà Tĩnh. Dừng ngắm chín mươi chín ngọn phủ mây mờ . Hồng Lĩnh mây tóc bạc phơ phơ, mới sực thương thân phận trẻ. Về xứ lạ sẽ trọn duyên mong ước hay sẽ tan nát cõi xuân thì ? Sứ giả, tùy tùng có biết đâu lệ đã được nuốt vào trong, cho mặt mày rạng rỡ bước vu qui, sau mảnh má hồng cố giấu nét sầu bi mà vui gượng ?
(VI).
Phận gái đâu bì chí nam nhi
Tòng phu tòng phụ phải ra đi
Bạc phơ mái tóc mây Hồng Lĩnh
Giả vui, nuốt lệ tiếc xuân thì
Bình nguyên phù sa sông Cả luyến tiếc vì không giữ được chân nàng. Hòanh Sơn những tưởng dang cánh tay về đông là ngăn được, không cho nàng về xứ lạ. Ngăn không được. Thôi đành giữ lấy những dấu hài để ngàn năm sau nhắc nhớ …
Vùng Quảng Bình tự ngàn xưa vẫn vang vang điệu hò khoan Lệ Thủy. Kéo chài, tát nước, gì gì cũng hò khoan cho sức thêm tươi. Chân nàng qua, dân vụt tắt tiếng cười. Giọng nghèn nghẹn những câu hò đưa tiễn . Về lại chăng ? Hay sẽ là vĩnh viễn ? Những lệ trào trên sóng Nhật Lệ Giang.
(VII).
Bình nguyên luyến tiếc bước chân qua
Hòanh Sơn lưu giữ dấu chân ngà
Hò khoan nghèn nghẹn trong câu hát
Nước mắt dân lành Nhật Lệ sa
Qua Quảng Trị, vào Thừa Thiên. Đây là mảnh đất vùng biên Chăm-Việt. Địa đầu của Châu Ô châu Lý . Ở cái ranh giới quá rõ ràng từ mảnh đất mới sính dâng. Vượt một tí sẽ đi vào miền đất khách. Sứ giả, tùy tùng thôi cũng mặc !. Giấu nữa sao được? Nhưng mà giấu để mà chi ? Mặc cho giòng lệ người đi tuôn tràn. Thôi thì thôi nhé giang san. Hồn ta lịm chết can tràng quặn đau. Người thân, thôi vĩnh biệt nhau. Biết còn có một kiếp sau sum vầy ?
(VIII).
Bóng chiều nhuộm úa mấy đồi nương
Biên giới là đây hỡi quê hương
Hải Vân ngỏanh lại chùng chân bước
Lệ ứa che mờ mấy khói sương
… Sau cơn quặn thắt, người muốn hay không muốn cũng phải về với thực tại. Chân bước vào vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, lòng bỗng thấy nguôi ngoai như bước trên vùng quê hương quen thuộc. Cảnh trí non sông và đời sống dân Chăm cũng hiền hòa thân ái như chốn quê nhà. Cổ Lũy Cô Thôn cũng bóng tre, bóng dừa xanh mát. Lúa mượt mà thơm ngát vị quê hương. Cũng sáo diều hiu hắt gợi niềm thương. Cũng mái tranh khói vương chiều kỷ niệm. Cũng hình ảnh trâu cày trong hòai niệm. Cũng chợ chiều nắng lịm buổi hòang hôn. Cũng gập gềnh đường đất về xóm thôn. Cũng ngai ngái phân chuồng ven lối nhỏ. Cũng trẻ thơ nô đùa nơi đầu ngõ. Cũng trâu về giục mõ tiếng râm ran… Cũng thôn nữ bên bến nước bi bô. Cũng trai làng hiền khô theo bỡn cợt … Hình ảnh ấy một lần thôi, bất chợt. Cũng rưng rưng, rưng rức bóng quê nhà.
(IX).
Cổ Lũy Cô Thôn xanh bóng dừa
Sáo diều vi vút gọi ngày xưa
Ngày xưa nhung gấm nàng công chúa
Thơ mộng ngày xưa thương mấy vừa
(X).
Sóng biếc Sa Hùynh ngàn ngút xa
Từ đây bình lặng hết can qua
Chữ tòng tự dặn lòng chung thủy
Ấm êm bờ cõi nước non nhà
Về Đồ Bàn là người đã hòan thành những bước đi sứ mệnh. Dân chúng hai miền sẽ được hát khúc âu ca. Đại Việt sẽ thanh bình một thuở để chuẩn bị cho công cuộc phát triển về lâu dài. Có biết đâu riêng một người con lẻ, trong hòang cung buồn tẻ tuổi xuân thì.
(XI).
Đồ Bàn thành lũy hóa khuê trung
Khóa một hồng nhan chốn muôn trùng
Đại Việt nước ơi hay chăng nhẽ
Có người con lẻ trọn niềm trung
(XII).
Non nước ngàn thu có nhớ không
Vì ai thân Quế phải long đong
Vì ai ngọc trắng vùi đất lạ
Son phấn lạt phai mảnh má hồng.
Thanh Nguyên.
VTM
(Mời các bạn clik vào link này để thưởng thức độc tấu đàn tranh của Thiên Kim trong nhạc phẩm TÌNH SỬ HUYỀN TRÂN của Vũ Thanh):
Đăng trong Nghiên cứu và phê bình văn học, Thơ ca | Thẻ Cổ Lũy Cô Thôn, Châu Ô châu Lý, Huyền Trân công chúa., Thanh Nguyên, Thiên Kim, Vũ Thanh, Đồ Bàn | 13 Comments »
Tổ yến, hắc cáy, mực tuộc, sá sùng, san hô đen, bong bóng cá đường… những sản vật ấy ngày nào là quà tặng hào phóng của đại dương, nay con người phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, thậm chí đánh đổi bằng tự do và mạng sống mới có được.

Đăng trong Ẩm thực, Xứ Nẫu, Người Nẫu | Thẻ bong bóng cá đường, hắc cáy, mực tuộc, san hô đen, sá sùng, Tổ yến, yến sào | 8 Comments »
Thương o áo tím hoa cà về ngang
Chờ anh , Vỹ Dạ cùng sang
Nhìn cau trong nắng ,… thơ Hàn…mới lên.
Mướt xanh cành trúc,…chữ điền,… vườn xưa
Chiều nay trời lại đổ mưa
Mà o áo tím sao chưa thấy về.
Nao nao mà cứ.. không hề chi mô !
Ước gì anh là tán ô
Che mưa cho tóc ấm bờ vai ai.
Lắng sâu, như khúc Nam Ai, Nam Bằng…
Hoa cà tím áo biết chăng
Phương này ray rức mưa giăng giăng buồn.
.
Rét dài tím cả hoàng hôn
Căm căm ngọn bấc từng cơn se mùa
Tìm đâu áo tím ngày xưa
Anh về Đập Đá nghe mưa …nao lòng.
Đăng trong Thơ ca | Thẻ khúc Nam Ai, Lê Mộng Thắng, Mưa Huế, Vỹ Dạ, Đập Đá | 102 Comments »
– Khi phái đoàn của Quang Trung (giả) đến Nhiệt Hà để ra mắt Càn Long, vua Thanh đã tặng An Nam Quốc vương một viên ngọc Như ý, một tòa Ngọc phật, tặng cả đoàn một vạn lạng bạc…
Vì sao Phạm Công Trị lại về nước?
![]() |
| Phác họa chân dung Quang Trung trên một tờ tiền giấy. |
Việc cử “vua giả” sang chầu Càn Long là một điều bắt buộc, một sự vạn bất đắc dĩ bởi nó là sự mạo hiểm chết người đối với các nhà ngoại giao của cả hai bên. Vì vậy, việc tính toán kỹ lưỡng, chi tiết cho cho chuyến đi này là vấn đề sống còn của cả hai bên. Có ai dám chắc rằng, trong cả quá trình đi hàng mấy tháng trời qua rất nhiều địa điểm đón tiếp, không phạm phải những sơ suất mà chân tướng vua giả sẽ lộ ra?
Ai dám đảm bảo rằng, trong số rất nhiều vong thần nhà Lê, những kẻ tử thù của Tây Sơn hiện đang nhan nhản ở vùng sát biên giới (bên phía Trung Quốc) nhận diện ra Quang Trung giả? Chính vì vậy mà Nguyễn Quang Thùy chính là nhân vật chính của phương án 2, nếu phương án 1 là Quang Trung giả bị bại lộ.
Ở đây ta thấy cái tài khôn khéo của các nhà ngoại giao Tây Sơn, đó là trong giả có thật, trong thật có giả. Quang Trung là giả, nhưng con Quang Trung là Quang Thùy lại là thật. Và khi giả (phương án 1) bị bại lộ thì thực (phương án 2) sẽ thay thế, quyết không để cho công cuộc bang giao bị đổ bể. Tình huống cụ thể ở đây là, trong đoàn ngoại giao có ghi tên Phạm Công Trị (người có thực đang đóng vai Quang Trung) nhưng người mang tên Phạm Công Trị lại là một người khác (có thể chỉ là một nhân vật vô danh, một người lính chẳng hạn). Đặt trường hợp Quang Trung giả bị phát hiện là Phạm Công Trị thì tất nhiên ông phải nhận mình là Phạm Công Trị, tên tuổi ông đã được ghi rõ ràng trong danh sách ngoại giao đoàn. Lúc đó thì “Quang Trung” đành phải cáo ốm mà trở về nước, ủy thác lại cho Nguyễn Quang Thùy tiếp tục công việc. Người tháp tùng Quang Trung “giả” sẽ là Phạm Công Trị, lúc này sẽ lấy tên thật. Còn ai sẽ là Quang Trung “giả” trong vai vua ốm? Đó chính là người vô danh đội tên Phạm Công Trị lúc ra đi.
“Người vô danh” này không cần phải giống Quang Trung, bởi vì dọc đường về, do “vua” bị ốm nên sẽ ở trong xe (hoặc kiệu) được buông rèm kín không lộ diện. Tuy nhiên, điều chẳng may bị lật tẩy đó đã không hề xảy ra. Đoàn vượt biên giới Lạng Sơn vào ngày 13/4 Canh Tuất (1790). Đầu tháng 5 thì đi hết địa phận Lưỡng Quảng. Sự việc diễn ra êm đẹp. Từ đây, khi đã vào sâu trong nội địa Trung Quốc thì mối lo bị lộ tẩy do các vong thần nhà Lê hay các thế lực thù địch với Tây Sơn không còn nữa. Có nghĩa là phương án 2 không cần đến.
Lúc này, Nguyễn Quang Thùy phải trở về nước. Nguyễn Quang Thùy được phong tước Khang Công, đang lĩnh chức Tiết chế thủy bộ ở Bắc Thành (tức chỉ huy toàn bộ quân đội ở phía Bắc) ông còn nhiều việc phải làm. Phạm Công Trị trong vai Quang Trung giả cũng không có gì sơ suất, cần phải “quên” cái tên Phạm Công Trị đi. Vì vậy, “người vô danh” mang tên Phạm Công Trị trong dịp này cũng trở về với Nguyễn Quang Thùy. Như vậy, dù thực hiện phương án 1 (Quang Trung giả) hay phương án 2 (Hoàng Tử thật) thì cái tên Phạm Công Trị cũng phải được xóa bỏ trong danh sách Đoàn ngoại giao trước khi triều kiến vua Càn Long. Đó là lý do vì sao chúng ta thấy trong số những người tháp tùng Nguyễn Quang Thùy về nước lại có tên Phạm Công Trị.
Chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế
Quang Trung “giả” đã không bị bại lộ. Phái đoàn sứ bộ của ta đã thành công mỹ mãn. Vua Càn Long đã tỏ ra rất trân trọng, rất chu đáo với “Quang Trung”. Trên đất Trung Quốc phái đoàn đi đến đâu cũng được đón tiếp long trọng. Thậm chí khi Càn Long nhận được quà biếu là quả vải tươi, đã cho chạy ngựa trạm vượt hàng ngàn dặm, đem đến biếu Quang Trung lúc ấy đang trên đường đi. Xem số quả vải tươi được biếu (5 quả), trong đó vua Quang Trung được 2 quả, Phúc Khang An được 2 quả và Ngô Văn Sở được 1 quả, đủ thấy nhà Thanh quý quả vải tươi như thế nào, và tầm cỡ của người được biếu vải.
Khi phái đoàn của Quang Trung (giả) đến Nhiệt Hà để ra mắt Càn Long, vua Thanh đã tặng An Nam Quốc vương một viên ngọc Như ý, một tòa Ngọc phật, tặng cả đoàn một vạn lạng bạc, tặng Ngô Văn Sở một cái mũ san hô tam phẩm (tức công nhận Ngô Văn Sở ngang hàng quan tam phẩm nhà Thanh). Ngày 20 tháng 8 Canh Tuất (1790) vua Thanh đặt tiệc tiễn Quang Trung về nước.
Khi “Quang Trung” vào bệ kiến để từ biệt, Càn Long đã mời vào bên giường ngự, vỗ vai thân mật, sai họa sĩ cung đình vẽ một bức chân dung Quang Trung để tặng. Càn Long lại tự tay viết 4 chữ đại tự “Củng cực quy thành” (Chầu về sao Bắc đẩu với tất cả lòng trung thuận, thành thực). Sách Hoàng Lê nhất thống chí ghi chép lại: “Khi Quốc vương tới Yên Kinh, vua Thanh mừng lắm, không hề biết là Quang Trung giả. Lúc Quốc vương vào yết kiến, vua Thanh cho ăn yến với các vị thân vương, lại ban ơn đặc biệt cho làm lễ ôm gối, hệt như tình cha con trong nhà. Lúc Quốc vương lạy tạ về nước, vua Thanh sai thợ vẽ bức truyền thần mà ban cho, ân lễ rất trọng hậu, thực là một cách đối đãi khác thường từ ngàn xưa hiếm có.”
Theo Đại thanh thực lục thì số tiền nhà Thanh bỏ ra để chi tiêu vào việc đón tiếp Quang Trung trong suốt đợt đi sứ hết 80 vạn lạng bạc (con số này có thể bị khai khống lên để các quan lại địa phương có dịp bớt xén. Nhưng việc gửi quà, việc đón tiếp của Càn Long đối với Quốc vương An Nam là hết sức ân cần, chu đáo, điều đó không phải bàn cãi). Nhận xét về chuyến đi sứ này, nhà thơ Đoàn Nguyễn Tuấn, một thành viên của sứ bộ viết: “Từ trước đến nay, người mình đi sứ Trung Quốc chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế” .
PDK
Đăng trong Nghiên cứu và phê bình văn học, Xứ Nẫu, Người Nẫu | Thẻ Càn Long, Hoàng Lê nhất thống chí, Vua Quang Trung | 6 Comments »







