Feeds:
Bài viết
Bình luận

Gói mưa

Lê Văn Hiếu

.

Ta gói mưa hay là mưa gói ta

Mà trùng trùng vây quanh mây sà xuống núi

Mây sà xuống túp lều trên đồi gió hú của ta

mây mơn man thịt da ta – như là em ve vuốt

.

Hôm qua – đàn chim ở chỗ em tan tác

vì mưa .

.

Hôm qua – nỗi buồn thắt ruột – nhéo thịt da em

vì những lời té tát ..?

.

Hôm qua em muốn theo đàn chim – bay đi

Bay về đâu em không biết ?

.

Mưa

Bay về đâu cũng ướt ?

Em bay về phía anh

Đêm qua anh thức

Mưa nhỏ vào bụng anh đau

Anh gói mưa …

Tuấn Trần

.
Rơi ra từ căn phòng bài trí trang trọng của một tòa lâu đài cổ kính. “HẠT BỤI” kia đã chọn kiếp “LÊNH ĐÊNH” để rồi một ngày lưu dấu hồn trần nơi “quê người đất khách”. Hẳn là trong sự lựa chọn “nghịch thường” đó, hàm chứa một điều lớn lao địa cửu thiên trường nơi thân mệnh mong manh cánh chuồn. “HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH” – ngay từ nhan đề… đã cho thấy sắc tính Á Đông thông dụng. Điều đặc biệt ở đây. Nó được viết bởi ELENA PUCILLO TRƯƠNG một nhà văn, một nhà Khoa học/ học giả Ngữ Văn của Tây Phương – Ý.

Thế nhưng, không nên hiểu nhan đề như sự mô tả/ minh họa thông thường. Đó không phải là bước đời nổi trôi đau đáu về nghìn trùng xa cách, tháng năm thương thầm tiễn biệt. Mà là cái “lênh đênh” để kiếm tìm, để bám chạm, cầm nắm, ôm nâng, “xẻ xan”…. Để thấy trước mắt mình và sau lưng người “Một cuộc đời không bao giờ có những giây phút “không – tình- yêu”. Thế thì tuyệt diệu biết bao!”.

“HẠT BỤI” đã kiên nhẫn, ân cần bén rễ vào cảnh tình, môi sinh, kiến tạo mối cộng sinh đặc biệt – như đã từng trong lịch sử Danh nhân – “Giữa Mạc Tự Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh”. Phải chăng đây là “đóa bách hợp” giữa trời thu hòa bình…

Trên sân khấu Văn chương nước nhà – đương đại, sự góp mặt của nữ văn sĩ Elena Pucillo Truong, đã như một “hạt nắng”, tuy nhỏ nhoi nhưng đủ rọi tin rằng: Tiếng Việt, Văn chương Việt, có khả năng lớn lao chạm cảm đến tận chân trời. Đó là sự tự cất lời, là khả năng thẩm thấu, giao kết, ăn bắt bền chặt của chính bản thân chữ nghĩa – Tiếng Việt, mà ta cứ tưởng quá đỗi gian nan khi ra biển rộng, tạo ra những thách thức hằn hộc trong chuyển ngữ. Nhưng thực tế, Văn chương đâu phải thế, rào cản của nó là ở tâm hồn và trái tim, không phải chờ những phương tiện chuyên chở/ bợ đỡ như truyền thông hay dịch thuật…

Nơi mảnh đất mà nỗi đau thành thực róng riết hơn bất cứ đâu trên địa cầu này, thì việc đồng điệu với những thân phận lòng riêng khi soi tìm để ôm vỗ đôi bờ trong nhau là điều không khó. Và có lẽ, sâu trong tâm thức “áng tóc vàng trữ tình” đó, có đeo mang một nỗi niềm thân phận như “hạt mưa sa”, như “chẽn lúa đòng đòng”, như “bảy nổi ba chìm”… Ấy thế mới có sự cộng hưởng, song trùng cho cùng Tiếng Việt, để rung ngân những sợi đàn lòng trong tỉnh thức: “Sự quên lãng chính là thứ quà tặng quý báu, vì sau nhiều ngày hôn mê, khi tỉnh dậy, bé không còn nhớ gì về những việc đã qua… Thế rồi cuộc đời nó như được tái sinh, khởi đầu bằng sự đón nhận bình yên và thanh thản cùng với gương mặt dịu hiền…”.

Quả thật! cuộc đời của “HẠT BỤI” cũng côi cút, truân chuyên như bao phận nữ nhi thường tình nơi “Cửa Khổng sân Trình” hay một kiếp đời hiu hắt sinh ra trong bối cảnh tử chiến. Tương đồng mật thiết nhất là với tuổi thơ của “Bông hồng nơi chiến hào” (Xuân Quỳnh). “Cô gái tóc vàng” cũng vậy – qua lời tự bạch trầm mặc thấm thía: “Tôi là một đứa bé mồ côi, bị bỏ rơi nơi góc đường trong một thành phố nhỏ… Có ai đó đã nhặt tôi lên và cho tôi ăn uống… Và có lẽ một điều gì đó kinh khủng đã xảy ra và tôi bị đưa vào trại trẻ mồ côi”. Không khuất nhục trước số phận, thiếu nữ bất hạnh kia đã học và học rất giỏi để mong rằng một ngày trở lại với ngôi nhà đầy hương hoa oải hương – nơi mà cô đã được ai đó nhặt lên, chăm nuôi và có những khoảng sống hạnh phúc hiếm có trong một đời người… Đến đây bạn đã hiểu phần nào về sợi dây phép màu đã kết bện mối nhân duyên tưởng “nghịch chiều” này rồi chứ!

Và tất nhiên, quy luật của cuộc sống là quy luật của tình yêu – Bởi “Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi” (Quote: Lưu Quang Vũ). Nên mối lương duyên nặng nghĩa này không thể nằm ngoài hai chữ “yêu nhau”. Những lời “chất vấn ngào ngọt” trào dâng từ dòng chữ thư tay… Tình cảm của “họ” cũng như bao chàng trai, cô gái cùng thời đại, nó được bắt đầu từ những bức thư. Bức thư của “anh” gửi đến nhiều hơn một lần, cùng những lời ân cần và thành thật chính là “căn cứ” xác tín để cho cô gái trẻ “đang chìm trong sự trĩu buồn của thân phận” quyết định “dâu bể xứ người”… Từ khoảnh khắc “…trái tim ngừng đập trong giây phút đôi môi rụt rè đã thấy nhau”, hai số phận đã cùng sang trang…

Có thể nói rằng tình yêu đôi lứa đã trở thành “duyên cớ” để cho cô gái Italia yêu đất, yêu người Bình Định (quê hương của phu quân) – yêu đất yêu người Việt Nam. Tình yêu của Elena Pucillo Truong mang màu sắc hoài cổ, và đó cũng chính là sắc màu chủ đạo của tình yêu Việt Nam. Yêu nét đẹp văn hóa, yêu những mùa qua, yêu giọt cà phê, nữ sĩ đi tìm tình yêu trong tiếng nói người xưa nơi đỉnh núi thiêng, nơi ngôi chùa cổ, qua những cuộc chuyện trò ngõ vắng, lắng nghe thanh âm mưu sinh máu thịt… “Cô gái Italia” kể chuyện rất đôn hậu, tỉ mỉ và đong tình đậm nghĩa về những “cử chỉ” đẹp trong trong đời.

Những đoản khúc ân tình hiện ra chân thực, mang nhân sinh quan nhân văn, nhân bản của người con Lạc Việt. Có thể nói Elena Pucillo Truong đã huyền hòa thẩm sâu trong điệu hồn dân tộc này, mới thể hiện được ánh nhìn bản sắc đậm đà nơi chữ nghĩa đó: “Tôi không thể nào quên cuộc gặp gỡ với bà lão bán nhang… cụ cầm bàn tay tôi ấp giữa hai tay mình… sau đó bà đặt bàn tay bà lên trái tim tôi và sau đó lên trái tim bà… Tôi đáp lại nụ cười của bà bằng một vòng ôm thân thiện và từ ngày đó tôi thường mang theo mình cái cử chỉ che chở ấy trong những lúc gặp khó khăn trong đời”.

Tiếng Việt mà Elena dùng để bộc lộ tình yêu với người Việt rất giản dị, hồn hậu mà thấm lắng sâu sắc. Hòa lẫn trong đó cái “hồn nhiên” như để “yếm thế” nỗi buồn “góc bể chân mây”, nỗi ưu uất phận người bạc lãnh bể dâu: “Đó là cảm giác tuyệt vời mà có lẽ tôi chưa bao giờ được trải nghiệm! cái cảm giác mình vô địch thật hết sức sinh động. Vô địch mà không cần chiến tích, không cần tham gia những trận tranh đua, không cần phải mang trên người chiếc mặt nạ, xa rời cái thế giới mà con người chỉ biết phán xét hay đánh giá vì vẻ ngoài, vì những thứ phô trương, sở hữu chứ không phải nhờ giá trị như mình thực sự có”.

Với giọng trung dung giữa Tự sự và trữ tình tản mạn. Có thể gọi “HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH” là những lời tâm sự tỉnh thức khơi mạch nguồn từ “tình yêu”: Tình yêu “chàng”, rồi yêu đất, yêu người và yêu nhân loại. Tình yêu đó được xây dựng từ cốt lõi của đạo lớn/ của đức hạnh rất mực Đông Phương, đã bằng cách nào đó ngẫu nhiên tương phùng với chủ thể – một người phụ nữ tóc vàng, da trắng, mắt xanh. Chị không mang trong mình dòng máu đất Phật nhưng đã sớm trở thành “đồng lõa” của thế giới “Người vẫn ngọt bùi qua muôn nỗi đắng cay” này! Và đi trong ánh sáng “tuệ nhãn”… Để rồi:

Những trang viết của Elena thấm nhuần triết lý Buddha về vô thường và vô ngã – vô sở cầu. Nhận thức được rằng mọi thứ đều mong manh, chóng vánh. Hạnh phúc, nỗi buồn, thậm chí cả ký ức. Tất cả rồi sẽ tan biến như hạt bụi trong đời “tai bay vạ gió”. Nhưng chính vì thế, chị đã học cách yêu thương ngay khi còn có thể. Đó là bước đầu giác ngộ của một tâm hồn đã từng quạnh quẽ. Một tâm hồn không bi lụy, không than van, mà biến sự mong manh thành động lực sống trọn vẹn: “Tiếng nói của một người lạ mặt đã cho tôi cái sức mạnh mà trước đây tôi cứ tưởng là mình không còn nữa. Âm thanh đó còn cho tôi biết là trên đời này tôi không còn cô độc. Nghĩa là tôi cũng có thể có một phần hạnh phúc, tôi phải tin như thế”.

Đọc “HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH”, ta không hề tuyệt vọng. Trái lại, cảm giác bình thản, an ủi lan tỏa. Elena nhìn thẳng vào sự “tạm bợ”, “oải mục” kiếp số để đánh thức hi vọng. Biết rồi đây mình cũng sẽ tan biến. Nhưng trước khi hóa hư vô, ta muốn sống như hạt bụi trong nắng – nhỏ bé mà sáng trong. Có phải đó là điều Elena muốn nói… Là triết lý sống đẹp, khích lệ bạn đọc không buông xuôi trước sự vô thường.



Khi đặt tác phẩm trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện đại, ta nhận thấy nó góp thêm một tiếng nói cần thiết. Văn học hôm nay đang tìm kiếm những tác phẩm có tầm vóc nhân văn, có triết lý sâu xa mà vẫn dung dị, đời thường – “… trên đường phố không thiếu những người nông dân quang gánh trên vai, chiếc nón lá trên đầu và nụ cười hiền hậu thường trực trên môi”.

“HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH” với “dung lượng tinh thần”, không phức tạp về kết cấu, nhưng nhờ chiều sâu tư tưởng và sự đồng cảm rộng rãi, nó đã trở thành một tác phẩm đáng để đọc. Đọc để trở về với chính ta, một thế giới nội tại hoàn kết – trong sự im lặng tĩnh tại “… mở ra cánh cửa của vùng trí tuệ tiềm ẩn, không phán xét và cũng không phân biệt, chỉ đơn giản giúp ta nghe được chính ta, ngoại cảnh và kẻ khác. Đó chính là khám phá được kho tàng giống như lời Phật dạy: “Ai từ bỏ thế giới thì sẽ nghe được âm thanh của niết bàn”.

Đó là một hành trình chiêm nghiệm về thân phận, một lời nhắc nhở về sự vội vã hữu hạn của thời gian trong một đời người đồng thời giục giã yêu thương. Một lần nữa, trước sự thật: chúng ta chỉ là những hạt bụi, bé nhỏ, lênh đênh. Elena ngọt ngào cất tiếng: Nhưng cũng chính vì thế – nhỏ bé và lênh đênh mà ta càng cần yêu, cần sống, cần sẻ chia cho ngay bây dừ…

Không ồn ào, không phô trương, chân phương mà bền vững, như chính hạt bụi – nhỏ nhoi mà bất diệt, gió dập sóng vùi vẫn muôn đời đồng hiện cho cùng cái đẹp…: “Nhiều lần anh nói đùa là anh đã cưới em vì em đã dạy anh nhìn những ánh sao trên bầu trời hay lắng nghe tiếng rì rào của biển và chuyển động của thủy triều, còn em thì nói yêu anh vì sự bền bỉ, tính kiên trì và bằng cách mà chúng ra đã gần gũi và chia sẻ cùng nhau trong từng cảnh ngộ vui buồn”. Trân trọng!

Tuấn Trần

Trã mắm cua xưa

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

( Kính dâng lên hương hồn cậu Bảy thân yêu)

.

Hàng năm cứ vào tháng chín tháng Mười, cái mốc từ ngày hăm ba tháng mười là quê tôi lại ngập tràn trong những con nước lớn., nước ngập tràn đồng chảy xuống tận Qui nhơn.

Tôi còn nhớ mãi những lời kể của mẹ tôi, một người đàn bà nhà quê chơn chất, kể cho con nghe khi trời tối đêm về…

Những đêm nằm với các con , ba đứa con gái chập choạng cách nhau ba tuổi, sẽ bu quanh mẹ những đêm trường gió chướng hay những đêm Đông giá lạnh , vẫn chung nhau một tấm chăn ghép nối tứ tung để tất cả sẻ chia nhau cái giá rét của đêm Đông hoặc chia ngọn gió mát đêm Thu nơi quê cũ hay chia phần chiếc quạt máy nhỏ cũ mèm trong những đêm hè của những ngày còn bên nhau.trong những tháng ngày xưa cũ.

Cũng thời gian này …gần bảy thập kỷ qua mau trên mái tóc đổi màu của tôi bây giờ..

.Một người già xa xứ luôn đau đáu về mái nhà xưa và những kỷ niệm xa mờ…

Vào những đêm Đông bốn mẹ con chia nhau hơi ấm của thịt da, cuộn trong chăn. lần tay bắt cho con những cái trứng chí thật nhỏ thật tròn, trên tay mẹ chuyền dần vào kẽ răng của người thiếu phụ ngoài ba mươi,

Mẹ tôi đó, người thiếu nữ nhà quê cũng một thời xuân sắc, đã qua rồi với tay bế tay bồng…một thân gồng gánh ba đứa con thơ, không có bàn tay phụ giúp của người chồng…

Cha tôi đó, cũng chỉ hình dung qua mẹ kể.

Trong chuyện kể chuyền nhau qua ca dao hay chuyền miệng, có có, không không …chỉ đủ để ru chúng tôi vào giấc ngủ mỗi đêm

Mẹ tôi thường kể…

Tôi chợt nhớ chợt quên vì thời gian nào xa lắm : Chuyện kể rằng trong một bối cảnh của làng quê…hai vợ chồng kia bỗng một đêm Trăng, đang chăn gối mặn nồng , bỗng dưng nàng đòi đi ra sân vì …mắc tiểu, ngày đó quê tôi chưa bao giờ biết làm nhà tiêu, nhà xí, những góc vườn, sân trước sân sau, từng đêm rồi lại từng ngày, cuộc sống con người thản nhiên bên lũy tre bờ rạ…

Khi người chồng ra ngoài thì đứng xa tuông xả, còn người vợ thì cho vào hang kiến lửa góc sân nhà , nước tràn vào hang kiến, kiến bỗng chui ra , từng đàn, từng lũ lại từng con…

lời than oán của đàn kiến vừa lâm nạn, thở than bay bổng thấu tai ông Trời

Chuyện kể rằng ngày đó con vật cũng biết thở than , buông thảng thốt mấy câu ngày nay còn ghi trên ca dao chuyền miệng:

Ông tha bà hổng tha

Dến cây lụt hăm ba tháng mười

Qua bao năm tháng nơi quê tôi vào ngày này bây giờ hay năm cũ…con chữ in sâu vào xoay chuyển của đất trời, chữ “dến” vận vào cuộc sống lao đao, những người dân quê tôi đồng gánh chịu, chuyện kể của mẹ tôi chỉ là chuyện của những người bình dân chuyền miệng, nhưng cũng đã vận vào những cuộc sống đến tận ngàn sau, đôi khi tôi gẫm lại chữ “dến” và tìm trong kí ức lao xao, trong tự điển cũng không sao tìm thấy, nhưng chính nó đã đi sâu vào bờ tre gốc rạ , chuyện ngày xưa hòa lẫn chuyện hôm nay.

Những báo, đài, trên mạng, ngoài đời, tôi nhận hết và buồn lo biết mấy, hôm qua gọi về nhà thăm hỏi, nước ngập vào nhà lên cả gang tay, bì bỏm, dời đồ, chèo chống gió lay…tôi nhớ mãi những ngày xưa còn ở lại, cũng những ngày này của bao năm trước.

Khi nước ngập tràn đồng thì mọi người cùng nhau hết việc, mỗi nhà vét mấy lon gạo trong lu, ngâm xay bột , đổ bánh xèo , chấm với mắm cua , những lít mắm cua đồng san sẻ nhau qua nhiều công đoạn.cũng gian lao và cũng thật ấm nồng.

Khi nước ùa vào từng hang cua sâu thẳm, những con cua mình đen mẻm, đen thui, trôi lềnh bềnh trên con nước chảy xuôi, những cánh tay cua níu nhau trên ruộng đồng ngập nước, những chiếc sõng trôi lềnh bềnh hay những thân chuối vừa chắp vá, kết thành bè , đi vớt cua , bắt cá…cua mang về nhảy múa lao xao.

Những con cua đen, nâu, hay cua mén, là những con cua già hay cỡ tuổi Teen, cũng dùa hết bỏ mai rồi đem giã , lọc lấy nước cùng với những gạch cua vàng, đem bỏ thêm chút muối…đóng kín nút chai

Hai ngày sau biến thành cao lương mĩ vị,ăn thật ngon vào từng kẽ chân răng, vị mặn của muối hòa vào chút hơi cua, vị cay của ớt dính vào lớp gạch cua vàng chín đủ, nếu ai đã từng ăn mắm cua đồng thì mới nhận ra hương vị của chút mắm cua trong mùa nước lụt…thực phẩm, thiếu dần, bữa có, bữa không,

Tôi còn nhớ mãi…khi đến mùa nước lụt tràn đồng, sau khi nước rút, cậu Bảy tôi ở tận vùng quê xa, vẫn đạp xe suốt bao chặng đường dài đem về cho mẹ con tôi mấy góc mắm cua do chính cậu mợ kiếm được và chắt chiu từng chút mang về biếu mẹ con tôi…

Bây giờ cậu đã qua đời…nhưng dấu ấn tình thân và nỗi niềm thương cảm luôn còn mãi trong tôi và luôn mặn môi khi mỗi lần nghĩ về người cậu thân yêu( cậu là người em cùng cha khác mẹ với mẹ tôi)

Khi gia đình tôi hoạn nạn, cậu cũng đã âm thầm giang tay giúp đỡ mấy mẹ con tôi vượt qua những truông dài gian khó.sau này khi sang xứ người ổn định, chị em tôi cũng đã trang trải xong món nợ ân tình này.

Dấu ấn khó quên nhất là những món quà quê khi mỗi lần cậu góp nhặt vườn nhà những trái thơm quả chín, củ khoai, nải chuối, con cá đồng , lít mắm cua thơm mùi nghĩa tình dấu ái

Tôi còn nhớ mãi những lần sau cơn bảo lũ, mặc dù nhà cậu bị thất thu trăm bề, nhưng cậu vãn gói ghém những cây trái bị thiên tai , ngụp lặn nơi bờ ruộng tìm bắt những con cua đồng bị ngập ngụa trong nước…tìm đường trốn chạy

Nồi cơm nóng bên cạnh trã mắm cua kho củ sắn , .thời điểm đó mắm cua biến thành cao lương mỹ vị, còn tiếc chi nồi cơm trắng bỗng hóa không.

Những ngày thật xa …khi còn bên trong ngôi nhà của Ngoại…

Những ngày nước ngập làng trên xóm dưới, lũ trẻ ngồi co ro trên giường trên phản, mắt hau háu nhìn từng con cua bò bò, cho đến lúc bỏ vào cối giã, loc lấy chút thịt thà lõng bõng nấu một nồi canh ngót hái sau vườn …còn lọc lại phần ngon cho món mắm cua giữ lại những ngày sau, nước chưa rút kiếm đâu ra thực phẩm.

Cứ mỗi ngày đàn trẻ mong cho đến giờ cơm dọn, lội nước suốt ngày thân đứa nào cũng xanh lè, ướt nhẹp, mỏi mắt chờ từng bữa cơm chia , kìa …

Điểm mong chờ đã đến rồi kia…

Nồi cơm nóng hổi và “trã ” mắm cua kho

Vị giác mỗi đứa trẻ…bàng hoàng thức giác, âm ỉ nuốt vội liên hồi

( Những đứa trẻ ngày nay hầu như không hề có được cái cảm giác thiếu hụt này như những đứa bé nhà quê như chị em tôi ngày ấy)

. Sau nhiều ngày mong đợi…Một rổ bún được đổi từ mấy lon gạo vét trong lu…Vì cậu Bảy từ xa đem về một lít mắm cua ngon.

Mẹ tôi bắt lên kho , trên cái trã đất láng màu đen bóng mượt, sắc vàng tươi của chút gạch cua, ngát hương thơm của âm hưởng chút dư hương còn sót lại của hương đồng cỏ nội.và sau bao ngày .. nước rút.

Ôi những tô bún chan với mắm cua sao tôi ăn rất vội, ngó trước nhìn sau rổ bún hết sạch rồi, bụng đã no ,nhưng vẫn muốn xin thêm, một tô nữa là bốn tô vẫn còn chưa thấy đủ…

Rồi bao tháng năm qua cứ mỗi mùa nước lũ, nước tràn đồng vẫn trên mãi quê tôi, tin nhắn về tôi vẫn hỏi chị tôi:

_ Mùa nước lụt có còn mắm cua không hở chị ???

_Mùa nước lớn năm nay nhà mình sao hở chị? nước vào nhà nhưng còn dột nữa không???

_ Chị coi chừng xung quanh mấy chỗ nằm, coi chừng dột, mai đi học mà không còn áo mặc…

_Đúc bánh xèo chị tìm con tôm nhảy, có hay không cũng không sao

_ Em thích cái bánh xèo giỏ vừa trắng lại vừa mềm, ăn mấy cái cũng không cần đếm ,

_ Nhớ gởi cho em vài ba chiếc ăn chơi,

…ôi ngon quá , em nhai hoài sao như mắc nghẹn.

_Nhớ gởi em thêm một” góc” mắm cua vàng, đã nấu chín bên lửa năm nào nha chị …

Tất cả chuyện xưa chỉ còn là mộng mị nhắc bây giờ trong nỗi nhớ mênh mông…

Bài viết này , Tôi viết gởi cậu tôi, một nghĩa tình mà bao đời chị em tôi còn nhớ mãi, ân tình sâu nặng giữa tình thâm và tấm lòng chơn chất…Một con người nhân hậu và tốt bụng lắm thay.

Bản chất đơn thuần và nghĩa tình với tha nhân…

Bây giờ các con cậu cũng đều là những con người thành đạt , hạnh phúc đủ đầy…

Thượng đế cũng đã trả công bội hậu cho gia đình của cậu tôi

Khi nào trở lại quê nhà…tôi sẽ viếng mộ cậu, thắp cho cậu nén

nhang lòng dấu ái kính dâng lên hương hồn cậu thân yêu.

Ngoài kia …nơi xứ xa trời cũng đang đổ cơn mưa…nhưng làm gì có những con cua bò ra từ hang chúng…và biết bao giờ có lại hương vị của “trã ” mắm cua xưa.

Atlanta Oct. 27th 2025

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

Quên rã rời – để nhớ

Đinh Thị Thu Vân

.

em nén yêu vào mắt

thôi trải lời lênh đênh

quên, cho người tĩnh lặng

như chưa từng thiêng liêng

.

quên, như ngàn run rẩy

đến hạn kỳ phai vơi

quên, như là trời đất

chưa rộng lòng nhen đôi

.

mình hiểu nhau muộn lắm

ngàn vạn ngày lạc trôi

mình yêu nhau chậm quá

lỡ bao mùa biển khơi

.

giờ hôn vào gối lẻ

giờ mơn vào chăn đơn

em cuộn thân vùi tóc

rưng rức vòng tay đêm

.

em quặn thân mà thấm

đến cạn cùng giá sương

quên nát lòng … để biết

chưa bao giờ thật quên!

.

quên rã rời – cho nhớ

quay trở về lụy thương!

Người tình cũ

Ngô Đình Hải

.

cũng tại những gian nan trong anh

muốn nói cảm ơn em

.

cũng tại những gập ghềnh trong anh

muốn lặng lẽ tìm em

.

cũng tại những sóng gió trong anh

muốn gượng cười với em

.

cũng tại những câu thơ lạc vận trong anh

muốn theo sau lưng em

cũng tại thời trai trẻ trong anh

đã gọi lại tên em

………

“này…

người tình cũ…

chưa quen!”

NĐH

Tranh: HS Đỗ Trung Quân

Có thể là hình vẽ ngẫu hứng

Tất cả cảm xúc:

Đối thoại với hơi thở

.Lê Văn Hiếu

.

Không là Cào Cào Châu Chấu

Không là đàn Mối trào ra đầu mùa

.

Như một cơn gió

Như một làn hương

.

Nói chuyện với hơi thở

Là nói chuyện với im lặng

.

Thèm thuốc không dám đốt thuốc

Thèm rượu không dám nhìn ngó bình rượu

.

Sợ mọi điều phân tán

Ta tập trung nói chuyện với hơi thở

.

Hơi thở thơm tho như hương con gái

Ta ngưỡng vọng và nín thở

.

Nín thở là để được thở

Để nhiều lúc thấy mình đã kết thúc

Niềm tin

Nguyễn Hoàng Anh Thư

.

Khi bạn nói với tôi về niềm tin

Có thể điều đó được phát ra bằng thứ thanh âm của chiếc lưỡi

Một chiếc lưỡi làm bằng lý thuyết dẻo như mủ cao su đã được nấu lại

Những niềm tin đàn hồi

.

Tôi cũng thường nói với tôi về niềm tin

Trên chiếc lưỡi cứng như tấm tôn cắt vào thân cây cao su

Mỗi đêm chiếc lưỡi chảy

Từng giọt lý thuyết sền sệt như thứ mủ trắng chưa kịp đông lại

.

Từng niềm tin đông cứng

Có thể bạn từng cho tôi niềm tin

Bằng những thanh âm trên chiếc lưỡi thật mềm

Có thể một ngày chiếc lưỡi biến dạng thành chiếc xẻng

Xúc niềm tin tôi mai táng

Nên khi tôi nói được với bạn về niềm tin

Là lúc chiếc lưỡi của tôi sẽ được đào lên từ nấm mộ

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người, mọi người đang cười và kính mắt

Tất cả cảm xúc:

Ông thầy bói mù

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

.

Tôi đã từng nhìn thấy ông từ ngày tôi còn rất nhỏ….Trên con đường làng rợp bóng tre xanh, những ngõ ngách làng quê vào những buổi trưa hè, hình bóng bơ vơ tội nghiệp,  chiếc gậy quơ ngang dò dẫm, bước chân lũn đũn, gương mặt lúc nào cũng mỉm một nụ cười.

Hình ảnh quen thuộc của ông luôn đậm nét trong tôi, với tất cả sự tò mò… đôi khi trong gia đình có người cần nhờ tới ông, người ta đứng trong nhà gọi ra :

_Ông thầy Bo…ói…..ông thầy     bo…..ó  oi…….

Ông nghe tiếng gọi.,  tức thì dừng bước,  nghiêng tai nghe ngóng…như định hướng…chiếc gậy trúc nghiêng đảo một vòng và đi theo hướng sủa của đám chó, tiếng sủa của lũ chó lắm mồm đi đến đâu…là ông dõi theo ..

Những chiếc cổng hẹp bé tẻo vòng quanh dậu lá duối uốn khúc quanh nhà, chỉ chừa lại một lối đi nhỏ  vừa cho một người lớn bước vào, những ngôi nhà ở quê tôi thời bấy giờ rất giống nhau và uốn khúc….

Tôi không hiểu vì sao, giác quan nào còn lại trong ông đã mách bảo để ông có thể định hướng cho mình một lối đi chính xác như vậy…

Khi đã yên vị trên chỗ ngồi trong cái phản gõ của một nhà nào đó… thường thì chủ nhà mời ông chén nước, ly trà, ông vểnh tai nghe ngóng, môi luôn điểm nụ cười, hai hốc mắt sâu diệu vợi .

Nghe đâu ngày ông còn trai trẻ do một tai nạn khi đi chặt tre …vì một lý do bất cẩn nào đó, một cành tre nhọn đã đâm sâu vào mắt phải…vì chạy chữa không đúng mức, mắt bị nhiễm trùng khi múc bỏ một bên mắt, nhưng không hiểu vì sao con mắt bên trái cũng bị ảnh hưởng nên ông thành tật nguyền từ ngày ấy, lúc tuổi đời ông chỉ độ đôi mươi.  và từ lúc nào  ông trở thành người thầy bói chuyên nghiệp trên mọi nẻo làng quê thì không ai còn nhớ nổi…

Ông lần tay vào túi áo trên lấy ra một nắm que, những chiếc tăm tre vàng óng, láng mượt, cây ngắn , cây dài khác nhau, được ấp ủ từng ngày trong một  bọc vải thô…Ông rút ra …so đều và yêu cầu người muốn ông bói cho một quẻ    :chọn một chiếc..

Sau khi khẽ khàng cất hết những que còn lại vào chiếc bọc vải…ông lâm râm khấn vái , những ngón tay lần những vết khắc hằn trên đoạn cây ngắn mà thân chủ mới chọn…sau khi đã biết qua ý của thân chủ muốn biết điều gì..Tình duyên, gia đạo, hay những thắc mắc mà họ muốn biết của những gì chưa xảy ra .

_ Thưa thầy thằng Hai nhà tui đi học xa nhà, sắp đến ngày thi cử, không biết nó có đậu không ????

_ Xin hỏi cậu nhà tuổi con gì ???sanh vào tháng mấy, ngày hay đêm…   

_Bởi phước nhà, nên cậu nhà được thần núi độ mạng…Quỉ phương Nam ám, nhưng nhờ ông bà ăn ở nhân đức nên mọi cái rủi xua đi, cậu nhà sẽ vinh qui bái tổ..

Xênh  xang võng lọng inh trời
Vinh qui bái tổ …cả làng ra coi..

Rằng đây chốn cũ người ơi…
Ra đi là để đặng câu sum vầy…

Ông thường kèm theo lời bàn là những câu vè hay những câu Kiều, góp nhặt tứ phương….Không biết do ông tài giỏi hay do một may mắn nào đưa đẩy, thường ông cũng hay đoán trúng, nhưng cũng có khi sai bét nhưng những thân chủ chốn quê nghèo cũng dễ dãi hoặc ông cũng thường thòng ở câu cuối như đưa ra vài lí do cản trở khác để khi gia chủ bị đoán sai có thể dựa vào đó mà biện hộ cho ông, thường thì ông không đòi hỏi giá cã…do sự thơm thảo của thân chủ…chiếc gậy trên tay, bước chân dọ dẫm, câu nói trên môi khi đi ngang qua những ngôi nhà làng quê ngày đó vẫn còn in đậm trong lòng mọi người với âm hưởng quen thuộc của ngày nào..

_..Bó   ó    o   i không ???….

Một thời gian lâu lắm….Gia đình tôi rời làng quê, tôi không còn nhìn thấy ông…

Hình ảnh đơn điệu của người thầy bói mù ngày ấy , biết dùng những lời ăn tiếng nói của mình để mưu sinh, giúp cho những người dân nghèo quê tôi có thêm hy vọng nơi bước đường tương lai, cho những cô gái có thêm hy vọng cho những cuộc nhân duyên chưa thành hình và có chứa chan hy vọng ở ngày mai về chữ Duyên…Khi nghĩ về ông mọi người đều mỉm cười dễ dãi, khi những lần ông đoán sai …ai biết nghĩ đều thông cảm ông với nụ cười xuề xòa …

_ Bói ra ma…Quét nhà ra rác…nhưng họ vẫn mời ông những lần kế tiếp khi có việc cần được lật mở trước thời gian hay những bí mật mà ai cũng muốn biết trước hạn kỳ…

Tôi lại nhìn thấy hình dáng quen thuộc của ông ….tại thành phố gia đình tôi về sinh sống, bây giờ cánh áo nâu có khâu hai cái túi trước ngực ngày nào được thay bằng cái áo bốn túi màu nâu đậm, chiếc gạy dò đường, cọng thêm cái cặp táp da vàng da bò bên tay trái…không biết ông dùng chiếc cặp để làm gì và đựng vật gì để phục vụ cho bước đường sự nghiệp rộng  mở của ông trong thời buổi ấy…hàng ngày ông vẫn mỉm cười trên mỗi bước chân trên con đường rải nhựa …

Thỉnh thoảng tôi vẫn thường quan sát ông và đôi khi vài người trên con đường mời ông vào nhà đoán quẻ…những chiếc tăm tre ngày nào bây giờ hiện đại hóa bằng một cuốn sách truyện Kiều của Nguyễn Du, vì thế ông thay đổi trang phục cho thích hợp với nếp sống nơi đô thị, chiếc quần vài nâu thô nhưng đi đôi với cái áo bốn túi, cái gậy có chạm nơi đầu cán và chiếc cặp da , hai hố sâu của đôi mắt bây giờ che chắn một gọng kính đen, cọng với thân hình cao và đẫy đà hơn xưa, nhìn ông từ xa giống như một con người có hình thức bề ngoài chững chạc và trí thức…

Những con đường nơi phố thị mà ông đăt bước chân qua là những con đường cái lớn của thị xã, cứ đến chặp quá trưa là ông dừng bước chân tại một địa điểm cố định là tiệm thuốc bắc Hiệp sanh, tiệm nằm trên một góc đường vào ty cảnh sát, ông vào ngồi tại một chiếc ghế trước quầy hàng, kéo một hơi thuốc lào, uống ly nước chè với chủ tiệm, không biết họ quen biết nhau từ bao giờ nhưng coi ra thân thiết lắm.

Những người quen biết vẫn thường đến nhờ ông coi quẻ tại đây hay đến để dẫn ông về nhà họ…sau khi tỏ rõ ý định muốn nhờ ông đoán cho những điều mà họ muốn biết trước…
Một cách khoa học hơn xưa nơi chốn thôn dã…Bây giờ ông có một cái mai rùa đen bóng có điểm những điểm nhấn màu nâu…sau khi đặt tiền quẻ trên cái mai rùa, ông lần tay thu số tiền xếp lại cẩn thận cho vào túi trên cài nút cẩn thận, ông mở cặp lấy ra cuốn truyện kiều đã bị cuốn góc, rách bìa…đưa cho thân chủ mở ra một trang nào đó và đọc lấy vài ba câu trong trang sách, dựa theo đó, ông đưa ra những lời bàn và lời kết nghe rất êm tai và khoa học tâm lý vô cùng…tay nghề và lời bàn sâu sắc hơn xưa.

Có một lần tôi còn nhớ mãi…Dì tôi đang có thai đứa con thứ sáu…dì đã có năm cậu con trai liên tiếp, chúng nghịch ngợm phá phách chịu không nổi, lần này dì muốn sanh một bé gái…chỉ còn vài tuần nữa là đến ngày sinh nở, dì muốn biết trước một chút vì ngày đó chưa có máy siêu âm…. dì bảo tôi sang tiệm thuốc bắc dẫn ông sang…

Sau khi được biết thân chủ muốn biết là sẽ sinh con trai hay con gái trong lần sinh đẻ này…mọi thủ tục xong, việc cuối cùng là xếp mấy đồng tiền cho vào túi áo trên, ông đưa quyển truyện kiều cho dì tôi lật mở …

Trang sách mở ra với đoạn tả nhân vật Từ Hải :

Râu hùm, hàm yến mài ngài
Vai năm tấc rộng…thân mười thước cao…

_Chuyến này bà sẽ sinh một cậu quí tử …tâm lí của mọi người ai cũng muốn sanh con trai …nên ông bàn thêm về cậu con trai sắp chào đời của dì tôi oai phong lẫm lẫm như Từ hải, nhưng ông đâu biết thân chủ là dì tôi lại muốn sinh một bé gái vì dì đã có năm cậu quí tử quậy phá như giặc trong nhà …

Dì tôi chỉ muốn sinh thêm một đứa con gái lần này là làm kế hoạch hóa gia đình, chuẩn bị làm công tác tư tưởng cho ông dượng tôi đi “Cột ống dẫn tinh ” sau khi có cô con gái út trong lần sinh đẻ này…với những thất vọng vì đứa con thứ sáu mang dáng dấp của Từ Hải …lại thêm một thằng quí tử nữa sao  ???

Ngày dì tôi lâm bồn…Kết quả ngược lại với lời thầy Bói Mù cho biết trước, nhưng lại như ý dì tôi…một cô con gái bé bỏng dễ thương chào đời như mong đợi của dì …và hậu quả là ông dượng tôi phải đến bệnh viện làm cuộc kế hoạch hóa gia đình…và không hề có lời than oán hay trách móc ông lấy nửa lời.

Cho dù người thầy bói mù có xủ quẻ sai nhưng trong thâm tâm tôi vẫn thương mến ông, một con người đầy nghị lực, biết vươn lên trong cuộc đời…ông đã tự mình cứu lấy mình, đem đầu môi chóp lưỡi và những nhận biết, cùng chút tâm lý của cuộc đời làm cứu cánh cho cuộc đời mình, với tấm thân tàn tật, mất đi đôi mắt, vật quí nhất của một kiếp người, với những mảnh đời khác, họ không vượt qua được số phận, sống trong sự tăm tối của cuộc đời, hay họ chỉ sống vất vưởng hay làm người hành khất với cuộc đời u tối, ngửa tay xin những sự bố thí của tha nhân….

Vào buổi xế trưa, ông thường vào chỗ gian hàng bánh trái của Mẹ tôi, kêu mấy chén bánh bèo, hoặc một cuốn bánh xèo và ly trà đá…Ông lần tay vào túi áo trên moi hết những đồng tiền mới kiếm được…xếp gọn ghẽ theo từng loại, tinh vi và chuẩn xác, không hề sai lẫn giữa các tờ giấy bạc.

Ông lấy sẵn số tiền cho bữa ăn, đặt trước mặt và chậm rãi ăn, nhai gọn gàng và nho nhã, cử chỉ của một con người tự mãn…Ông đã tự mình nâng cao giá trị cho mình với một giá trị cao , tiêu những đồng tiền kiếm được do công sức của chính ông, ánh sáng cuộc đời ông chính là sự chính trực và lòng dũng cảm vượt khó và sự sáng tạo của tâm linh ông.

Bây giờ sau bao nhiêu năm trường xa xứ đôi khi nhớ lại những hình ảnh thân thương quen thuộc nơi quê nhà …hình ảnh người thầy bói mù với cây gậy và nụ cười luôn trên môi, trán ngẩng cao trên lối đi quen thuộc, hình ảnh oai hùng của ông luôn là một điểm nhấn đáng lưu tâm khi mỗi lần tôi múốn buông tay thả trôi cuộc đời mình cho phần số…

Không biết bây giờ nơi thành phố cũ của tôi, trên những con đường rải nhựa thênh thang…Ông thầy bói mù có còn mạnh giỏi để mỉm nụ cười hiền hòa trên môi mỗi ngày..
.Ngày nào trở lại quê nhà , tôi sẽ tìm ông và biết đâu khi gặp tôi ,ông lại cho tôi những lời xủ quẻ đầy lý trí mà ông góp nhặt trong thi ca …

Dấu chưn lưu dân

Truyện ngắn Trần Bảo Định

.

1.

Vanvn- Ngồi chồm hổm cột lại mấy nuột lạt cho chắc cái nôm cá, cụ Sáu nghe tiếng hai Sấm nằm trên võng dỗ con ngủ bằng lời ru buồn: 

“Ai về giồng Dứa qua truông

 Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em”

(Ca dao).

Cụ ngừng tay, vấn thuốc mồi lửa, hút… khói thuốc chờn vờn bay từng sợi tràn ra mái hiên.

– Buồn thúi ruột, sầu nát tâm can! Bây đừng chàng ràng hai thứ đó mà mang tâm bịnh, không thuốc chi chữa khỏi, à nha!

Cụ càm ràm đứa con gái đầu lòng vừa đẻ con so đã góa chồng.

Nhà văn Trần Bảo Định

Không gian chiều tịch mịch ở cái xứ Ba Giồng[1]. Cái xứ từ thời nội tổ của cụ bỏ đất quê Phong Điền vào đây rất sớm để khẩn hoang. Nói đúng hơn, nội tổ của cụ đùm túm con cháu chạy về phương Nam là để lánh nạn binh đao cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn. Cụ từng nghe người cao tuổi trong tộc họ kể lại: Gốc gác cụ ở ven sông Thác Ma, người làng gọi là sông Độc. Chính là nơi sông Bồ và sông Quảng Trị hội tụ. Nguồn sông Bồ ở núi Truồi hùng vĩ, giẫy giụa như rắn bị đập đầu giữa rặng Trường Sơn; khi thuần phục nó chảy qua miền cát trắng các truông Phò Trạch, rồi nó đỏng đảnh cái xuân thì mang từng hạt phù sa núi rừng theo nước bồi lắng cánh đồng Kế Môn vàng lúa; trước lúc thả mình vô phá Tam Giang nó chẳng quên mảnh đất Vân Trình… Có điều, những dòng sông ở bản quán của ông, nó hiền hòa và đẹp như dải lụa vào mùa Xuân-Hè, nhưng tới mùa Thu-Đông nó trở chứng mưa mù trời thúi đất, lũ lụt dữ dội và tàn phá những gì gầy dựng được ngay chính nơi nó từng âu yếm chảy qua…

Nhiều đêm cụ thao thức, nhiều đêm cụ ngó chòm sao phương Bắc, mong một lần về thăm cố hương của dòng tộc.

***

Phía hậu đất Ba Giồng là rừng ngập nước chạy lút vô miệt Đồng Tháp Mười, nơi đầy rẫy côn trùng độc hại và thú dữ rình rập; thời khẩn hoang của người đi lập nghiệp thường thốt lên:

“Tới đây xứ sở lạ lùng

 Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng ghê”

(Ca dao).

Thằng cu Lì, cháu ngoại cụ Sáu vừa chèo ghe trên rạch ông Tàng, vừa sực nhớ những chuyện đời do ông ngoại lúc sinh thời thường kể.

Ngoại nói: “Trước khi đất Gia Định có bộ máy hành chính của nhà Nguyễn[2] thì Dương Ngạn Địch cùng bộ tướng người Minh phản Thanh được chúa Nguyễn Phúc Tần cho phép tới tả ngạn hạ lưu sông Tiền lập Mỹ Tho đại phố. Thiệt ra, lưu dân đã đến khai hoang sinh sống ở xứ sở nầy từ rất sớm”. Cu Lì hỏi ngoại: “Từ rất sớm là từ lúc nào, hả ngoại?”. Ngoại ôm nó trọn lỏn vô lòng nựng nịu, vì thích thằng cháu ngoại hay hỏi cắc cớ và bất ngờ.

Ngoại chậm rãi nói, chớ không vội vã như cái đêm gấp rút dọn nhà từ xứ Ba Giồng xuống đất Hòa Thuận lánh nạn.

– Ba Giồng có khu đất thánh của giáo xứ Ba Giồng thuộc Trấn Định, nhiều bia mộ khắc hình thánh giá với những chữ số năm 1663…[3]

Ngoại chưa nói hết lời, cu Lì vói tay vuốt chòm râu ngoại.

– Vậy, từ rày con không còn sợ thánh thần, ma quỷ nơi đất địa nầy nữa; bởi, tất cả đều là người mình chớ chẳng phải kẻ xa lạ, phải hôn ngoại!

– Thì, thánh thần hay ma quỷ từ can không từ tâm của mình. Trong can ẩn chứa thần khí, ít hay nhiều… còn tùy!

Ngoại vò đầu thằng cháu với bàn tay kém lực, cu Lì chợt thấy thương ngoại và nó ngầm hiểu, rằng sức ngoại đã đi vào buổi hoàng hôn.

2.

Đêm Mồng Mười Tháng Ba, Tiết Thanh Minh còn treo lơ lửng ánh trăng non trên cánh đồng nhấp nhô chỗ thấp chỗ cao, người ta thường gọi là đồng gò nổng. Ngoại phần tuổi cao, phần bị chướng khí chói nước nơi đất lạ nên ngoại vướng bịnh nhiều ngày. Dẫu thuốc thang, cúng vái quỷ thần cũng chẳng giúp ngoại gượng dậy nổi. Lần hồi, ngoại thở hơi thở đuối dần… Một hôm, ngoại tỉnh táo và có lẽ, lần tỉnh táo cuối cùng của ngoại. Và, ngoại dặn dò má con thằng cu Lì không được khóc khi ngoại về đoàn tụ với ông bà. Má Hai nuốt ngược nước mắt vào lòng, thằng cu Lì không mần được như má, nên nó chạy ra bến nước cho dòng nước mắt chảy theo dòng nước rạch quê người.

Cụ Sáu thương con gái sa vô cảnh “mẹ góa, con mồ côi”, thương thằng cháu ngoại tốt bụng, nhưng mang tính khí “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha”; mai nầy, vào chốn phong trần, biết nó có chống chọi nổi sự khốc liệt của cuộc đời chăng?

Bóng tối kéo lê thê qua cánh đồng Hòa Thuận. Ngoại nhoài người, tay mần mò tìm kiếm thằng cu Lì. Thoáng nghe má gọi giựt ngược, nó chạy trối chết vô nhà, ôm ngoại. Hai cẳng ngoại lạnh dần lên xương sống, bàn chưn ngoại lạnh ngắt. Chim cú đậu trên ngọn tre già cất tiếng kêu liên hồi, rồi vụt bay!

***

Trời nắng chang chang, cu Lì đổ “mồ hôi mồ kê” đội thúng trái thị, vừa đi vừa hát nghêu ngao trong niềm hứng khởi. Nó nghĩ chắc mẻm, má Hai sẽ vui và khen thưởng công lao nó trèo lên tuột xuống cây thị cổ thụ mọc ở khuôn mộ ông bà Tang, mà thân cây hai người chưa chắc ôm đã xuể.

– Cu! Mầy đội thúng gì nặng chình chịch vậy?

Cậu tư Xệ người quen lối xóm, đương lui cui sửa cái ách cày ở mé chái nhà hỏi vọng ra.

– Trái thị, cậu Tư ơi! Ngày mốt chưng cúng, giỗ ông ngoại.

Cu rấn gân cổ, dõng dạc nói to.

Tư Xệ nghe nó nói, phủi tay bỏ dở công việc, lật đật chạy ra ngõ.

– Chết rồi! Sao mầy dám cả gan hái trái thị ở mộ ông bà Tang?

Cu Lì không hiểu ất giáp gì, nó tỉnh bơ đi một nước về nhà.

Chiều hôm đó, thằng cu sốt li bì. Nhà hết gạo nấu cháo, cậu Tư vét khạp gạo còn được nửa gáo dừa đem qua cho má con nó.

– Sớm mai, thím biểu nó đội thúng trái thị ra mộ ông bà Tang trả lại; đồng thời, khấn vái tạ lỗi với ông bà; bởi nó là, con nít nên chưa hiểu “trời cao đất dầy”.

Lúc ra về, cậu Tư còn dặn đi dặn lại.

3.

Nghe nói cố tổ Lê Phước Tang vốn người đất Lam Kinh. Khi chốn quê thời cuộc nhiễu nhương và đầy biến động, nhứt là cái cảnh “phủ chúa Trịnh, cung vua Lê” thì cố tổ họ Lê Phước bỏ đất Lam Kinh chạy vô Đàng Trong và ngụ cư đất Thuận Hóa.

Tương truyền, tháng 7 năm Ất Dậu (1705), cố tổ họ Lê Phước theo Cai cơ Nguyễn Cửu Vân vô Nam. Xong việc binh đao, an dân và mở mang vùng đất mới, Cai cơ Nguyễn Cửu Vân được chúa Nguyễn thăng chức Trấn Biên doanh phó tướng (1711) cũng là lúc, cố tổ họ Lê Phước rời quân ngũ, đưa cả gia đình và dòng tộc vào khai hoang vùng đất Trà Lọt, Sầm Giang, Cai Lậy.

Họ Lê Phước khởi nghiệp từ vàm rạch Chanh – có người gọi rạch Tranh – Đó là cái vàm của con rạch nhỏ, nối sông Vàm Cỏ Tây dẫn nước về Ba Giồng tạo nên vùng đất trù phú và cũng là nơi, nổ ra những cuộc giao tranh dữ dội giữa quân Tây Sơn với quân Nguyễn Ánh. Tình thế ngày một bất an, gia đình Lê Phước Tang dời về vùng đất Cai Lậy khẩn hoang lập làng Hòa Thuận. Tại đây, ông cùng vợ là bà Ụt huy động lưu dân khắp xứ tụ về, đào kinh “dẫn thủy nhập điền” lay động vùng đất ngủ hàng ngàn năm thức dậy. Rồi, cái ngày con kinh hoàn thành cũng là ngày, vợ ông “nở nhụy khai hoa”; cô con gái đó, ông bà đặt tên Nàng Rồng và con kinh kia, từ ấy mang tên cô con gái đó!

***

Một đêm, ông Tang ngồi thầm hút thuốc trên bộ ván, lắng nghe tiếng mưa rơi lúc nhặt lúc khoan kéo dài qua xóm nhỏ. Bất chợt, ông nghe lao xao của những bước chưn người gấp gáp ở vạt đất đầu hồi.

Và hình như, có ai đó dỡ tấm thảo bạt chui vô nhà.

– Ông Năm ơi, mau giúp cháu!

Tiếng nói khẽ, nhưng cũng đủ nghe quen quen. Qua ánh sáng chớp giựt của sấm sét lọt khe vách, ông Tang nhận ra người.

– Trời đất! Hai Duyệt!

Ông nhảy xổ tới ôm hai Duyệt, đứa cháu nội người bạn của ông, bất kể hai Duyệt mình mẩy ướt nhẹp, quần áo bùn sình. Nghe hai Duyệt thưa chuyện, vợ chồng ông vui ra mặt và đồng ý che chở Nguyễn Ánh và đoàn tùy tùng lánh nạn, trước sự truy sát của quân Tây Sơn.

Hầu chuyện với Nguyễn Ánh, ông thưa rằng:

– Ông nội hai Duyệt là Lê Văn Hiếu, vốn chỗ thân tình có qua lại với nhau. Từ khi, ông nội của cháu Hai trúng gió chết, ba của chú Hai là Lê Văn Toại bỏ vàm Trà Lọt, Hòa Khánh dời về rạch Gầm, làng Hưng Long sinh sống thì tui ít qua lại, vì tuổi cao sức ngày một yếu và đất địa nầy, bây giờ ngày một bất an.

Rồi, ông bộc bạch tấm chơn tình:

– Nghe cháu Hai theo phò chúa, cả nhà tui mừng lắm!

***

Cánh đồng Hòa Thuận nằm chết dí dưới cái nắng quái chiều hôm. Ba cha con ông Tang tiễn Nguyễn Ánh cùng hai Duyệt và đoàn tùy tùng đi một đoạn đường tre cho tới lúc khuất dạng người.

Một hôm, ngồi tước lá dừa bện áo tơi đi mưa, bà Ụt hỏi chồng:

– Tui nghe đầu trên xóm dưới, thiên hạ to nhỏ xầm xì, rằng: “Chúa ra đi có gởi long bào, vàng bạc lại cho mình giữ…”. Việc đó, có hay không vậy mình!

Ông Tang dụi dụi tàn thuốc vào gốc xoài, cười ngất:

– Nếu chúa có gởi thì tui giao mình giữ, chớ tui mần sao giữ?

– Mình nói vậy, tui yên cái bụng rồi. Bởi, hồi ông ngoại sắp nhỏ còn sinh thời, thường dạy con cháu: “Làm bạn với vua như chơi với cọp, giữ đồ của chúa khác gì uống thuốc độc vô người”.

Miệng bà Ụt nói mà tay thì không ngừng công việc. Để vợ vững tin sau khi đã yên cái bụng, ông Tang nói nhỏ vô tai bà:

– Nguyễn Ánh chỉ là chúa, chớ đâu là vua mà có long bào! Miếng ăn còn khi đói khi no, dân đùm dân bọc trong những lúc trốn chui trốn nhủi quân Tây Sơn… thì lấy đâu ra vàng bạc mà gìn với gìữ!

Như sực nhớ điều gì, ông Tang tằng hắng mấy tiếng rồi thấp giọng:

– Lúc hai Duyệt cõng chúa và dắt “bầu đoàn thê tử” qua khỏi rặng tre già cuối xóm để xuống ghe, mình còn hối hả chạy theo ra tới bến nước, gửi chút bạc tiền cho chúa làm lộ phí trốn Tây Sơn.

Vợ chồng ngó nhau cười. Nụ cười thiệt tình hiểu ý nhau.

Thảng đâu áng chừng nửa năm sau, Nàng Rồng mắc bịnh thời khí qua đời. Mất đứa con gái cưng, ông bà Tang chẳng khác chi người thất hồn lạc vía, suốt ngày than khóc rồi ngả bịnh và ngày một trầm trọng dẫu rằng, hai đứa con trai hết lòng chăm sóc, khuyên nhủ.

***

Những tháng cuối năm 1784, quân xâm lược Xiêm đã chiếm đóng từ rạch Trà Lọt (Cái Bè) tới rạch Trà Tân (Cai Lậy). Trai tráng quanh vùng Ba Rài, Long Tiên, Bàn Long, Kim Sơn, Long Hưng, chợ Giữa… háo hức gia nhập nghĩa binh của cậu Bốn[4] chuẩn bị đánh Xiêm, trước khi chúng động binh đánh Mỹ Tho đại phố hòng tiến về Gia Định.

Hai đứa con trai của ông Tang là Lê Phước Tánh tục gọi ba Gương, Lê Phước Thỏa tục gọi tư Sen dù sức khỏe hơn người, nhưng vẫn chần chừ do dự, tiến thoái lưỡng nan.

– Đánh Xiêm, khác gì đánh chúa Nguyễn Ánh; bởi chúa Nguyễn Ánh rước Xiêm về. Đánh vậy, có phải đánh vào cái đạo nghĩa chúa – tôi! Nhược bằng không đánh, an phận thủ thường hoặc theo chúa những mong giữ tình nghĩa cũ thì, mặt mũi nào dám nhìn cục đất nơi ta đương sống.

Trăng khuya nghiêng chếch vòm tre như chở dòng suy nghĩ nghiêng chếch vào trái tim ba Gương, đập nhịp đập rối ren thời sự. Tư Sen thao thức trở mình, ngó lên bàn ba má.

– Đánh thôi, đại huynh! Chúa chẳng ra chúa thì đâu phải chúa.

***

Đại quân Tây Sơn dưới sự thống lĩnh của Nguyễn Huệ đã đến Trấn Định đúng lúc làm nức lòng người. Dân chúng toàn tâm ý theo Nguyễn Huệ đánh quân xâm lược Xiêm. Sẵn sàng và thẳng thắn đáp trả cuồng vọng của Nguyễn Ánh, dù cuồng đó xuất phát từ bất cứ lý do gì.

Ba con rạch: Gầm – Xoài Mút – Rau Răm như ba mũi tên rời khỏi dây cung từ lòng người Sầm Giang nhấn chìm quân Xiêm xuống đáy sông Tiền và, chúng vĩnh viễn làm ma khách!

Mùa hè năm 1785, ba Gương và tư Sen giúp Đô đốc Trấn của Tây Sơn mở con kinh tắt ngang rạch Chanh băng qua cái bàu bèo rộng lớn, biến chỗ hiểm yếu thành một hào lũy ngăn chặn quân Nguyễn Ánh. Người đời sau, đọc trại ra là kinh Bà Bèo?!

Thế sự mang mang, ơn nghĩa không che nổi hận thù trong lòng Nguyễn Ánh. Vừa lên ngôi, Nguyễn Ánh xử tử ba Gương, tư Sen; đồng thời, truy bức dòng họ Lê Phước “tru di tam tộc” và “tịch thu toàn bộ điền sản”. Riêng ông bà Tang dù đã ra người thiên cổ[5], vẫn bị đánh roi lên mộ và mộ bị xích xiềng, vì cái tội “Dưỡng bất giáo” để hai đứa con “đại nghịch bất đạo”.

4.

Tư Xệ phụ má Hai bưng thúng trái thị để trước đầu ngôi cổ mộ ông bà Tang, miệng khấn vái lầm thầm; thằng cu Lì quỳ miết bên bệ mộ. Nhang khói, tàn vàng bay lãng đãng trời quê.Từ đó, chiều nào cu Lì cũng ra mộ thấp nhang, quét dọn, chẳng khác người giữ mộ.

Như một quy ước, hễ cứ đến đêm trăng rằm trong tháng, có một tốp người bí mật tụ về dưới gốc cây thị nơi mộ ông bà Tang. Cu Lì tò mò rình coi, sự rình coi của cu Lì không qua mắt được tốp người bí mật đó. Nó bị bắt tại trận, té ra người bắt nó là cậu Tư Xệ. Và, tốp người bí mật kia là nghĩa binh của thủ lãnh Thiên Hộ Dương đang trong thời kỳ “tức kỳ yểm cố” để xây dựng căn cứ Đồng Tháp Mười chống quân xâm lược Pháp.

– Tui giao thằng nhỏ cho chị Hai và từ rày, nó khỏi ra mộ ông bà Tang nhang khói, quét dọn.

Đứng chết trâng, hồi lâu má Hai nắm tay Tư Xệ:

– Sao cậu không cho nó theo anh em, để sau nầy nó được bằng chị bằng anh!

***

Trăng đêm hè sáng vằng vặc. Cánh đồng Cái Bè, Cái Thia mờ sương. Cu Lì bấy giờ đã trở thành dũng sĩ dưới trướng Đốc binh Kiều.

Đường ngang ngõ tắt vào đại bản doanh Gò Tháp nó thuộc làu; Mỹ Qúi, Cai Lậy, Mỹ Trà… nó rành như rành lòng bàn tay.

Trước đêm công đồn Mỹ Trà, cu Lì xuống Cái Tàu gặp cậu tư Xệ đang đào hào lũy.

– Mai nầy, nếu cậu có dịp về Hòa Thuận, cậu giao vật nầy cho má cháu và cậu nhớ thắp giùm cháu nén nhang nơi mộ ông bà Tang!

Tư Xệ chưa kịp phản ứng, cu Lì tháo sợi dây chuyền đeo nơi cổ, một kỷ vật của má Hai cho con trước lúc tiễn con vô Gò Tháp theo nghĩa quân Thiên Hộ Dương.

Đêm 21 rạng 22 tháng 7 năm 1865, cu Lì cùng nghĩa binh tấn công dữ dội và triệt hạ đồn Mỹ Trà; xém chút nữa, nó thộp được cái đầu tên huyện Lộc.

Cu Lì không lui về Cái Thia, nó quay ngược lại Cái Tàu hợp sức đánh chặn đám quân Pháp từ Sài Gòn xuống cứu viện. Hai làng Mỹ Trà, Mỹ Ngãi bị quân Pháp và bọn vong nô giết sạch dân, đốt phá sạch nhà cửa, ruộng vườn.

Thằng cu Lì con của má Hai, đứa cháu ngoại mang tính khí “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha” của cụ Sáu, đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến lũy chống quân thù xâm lược!.

TRẦN BẢO ĐỊNH

____________________

[1] Ba Giồng, gồm:

Giồng Dứa ở xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang;

Giồng Cát hay giồng Nhị Bình (còn gọi là giồng Giữa vì nằm giữa hai giồng kia) ở xã Nhị Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang;

Giồng Thuộc Nhiêu chạy dài từ hai xã Dưỡng Điềm, Điềm Hy, huyện Châu Thành đến xã Nhị Quý, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. (Vương Hồng Sển, Tạ Chí Đại Trường theo chỉ dẫn của Nguyễn Ngọc Tường).

[2] Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần cho phép Dương Ngạn Địch lập Mỹ Tho đại phố. Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh vào Kinh lược xứ Gia Định.

[3] Khu đất thánh Ba Giồng, nay thuộc ấp Tân Quới, xã Tân Lý Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

[4] Lê Xuân Giác, người làng Kim Sơn thuộc Sầm Giang.

[5] Phần mộ ông bà Tang ở xã Long Khánh, huyện Cai Lậy (Tiền Giang) và có con rạch được dân chúng đặt tên rạch ông Tang.

.Hiếu Tân

John Ottrando, người lính cứu hỏa New York, chẳng mất mấy thời gian để lao đến tòa tháp phía bắc trong cái buổi sáng ngày 11 tháng Chín năm 2001 ấy. Bây giờ, sau gần 10 năm, những hình ảnh từ ngày ấy vẫn bám riết chưa lúc nào rời ông. Nhưng ông có những cảm xúc xáo trộn về cái chết của Osama bin Laden.

Vào sáng 11 tháng 9, 2001, John Ottrando là một trong những lính cứu hỏa đầu tiên xông vào tòa tháp phía bắc của Trung tâm Thương mại Thế giới đang ngập trong bể khói. Ông đến với Engine 24. Chỉ trong một ngày duy nhất đó, ông đã mất 13 đồng nghiệp và bạn từ trạm cứu hỏa của ông ở Greenwich Village. Chín năm và 232 ngày sau đó, khi ông nghe tin Osama bin Laden chết, ông không biết nghĩ gì. Thay vì suy nghĩ, ông bắt đầu nói oang oang như một đứa trẻ.

Ottrando năm nay 54 tuổi, là một người đàn ông to khỏe, rắn chắc nở nang, là cháu của những người nhập cư Italia, là người ủng hộ Obama và một người New York tự hào. Cách đây không lâu ông nghỉ hưu từ Cục Cứu hỏa Thành phố New York sau 24 năm phục vụ. Ông nói ông đã có đủ, và ông đủ can đảm để thú nhận rằng ông chưa bao giờ có khả năng đẩy những hình ảnh, âm thanh, mùi và những cảm giác của ngày 11/9 ra khỏi đầu mình.

Thật ra, chúng đã thành một phần cố định của cuộc đời ông. Có những hình ảnh về những xác người cháy đen trong hành lang, chết khi lửa tuôn ra từ thang máy. Có cảnh những người rơi thẳng xuống đất bên trái và bên phải ông và nỗi sợ bị những loạt thân người rơi như mưa đá ấy đụng phải. Có những tình cảm mơ hồ như có tội vì đã sống sót. Và, cuối cùng, có tiếng động không thể nào quên của các tòa tháp đang sụp xuống.

Ottrando không thể nào nói chính xác tại sao ông lại khóc khi Tổng thống Barack Obama loan báo cái chết của bin Laden. Ông nghiền ngẫm thật lâu khi ngồi trong phòng điện thoại bọc da ở Lower East Side’s Trattoria Il Bagatto ngốn ngấu một đĩa gnocchi[1]. “Tôi thấy nhẹ nhõm,” ông nói, “nhẹ nhõm, nhưng, vâng, cũng có phần trả thù.”

Một hình ảnh truyền thông gây phản cảm

Dù sao, ông nói thêm, cái chết của bin Laden không làm cho ai đã chết sống lại được. Hơn nữa, ông nói rằng, từ 11/9, ông đã tự hỏi mình ít nhất mỗi ngày một lần tại sao người ta phải tiếp tục giết chóc lẫn nhau.

Những tình cảm của John Ottrando rất hợp với tình cảm của hầu hết những người dân New York những ngày này. Ông thấy những hình ảnh trên ti vi về đồ đạc của những người say bia rơi vãi trên quảng trường Thời Đại, của những người hô to “U-S-A” và những đám đông vui mừng xung quanh Ground Zero[2] là những hình ảnh của truyền thông gây phản cảm, loại hình ảnh méo mó mà các kênh TV làm ra trong những ngày này khi họ khua chiêng gõ trống để nâng cho đủ tầm quan trọng.

Thật ra, trong đêm Chủ nhật, khi Obama có được tin vui để có thể loan báo về cái chết của kẻ thù chung số một của người Mỹ, thì ở NewYork chưa có đám đông nào ra đường và tụ tập – kể cả gần Ground Zero lẫn quảng trường Thời đại. Kể cũng có vài trăm người ra các đường phố, nhưng như thế không có gì là nhiều trong một thành phố đô hội như New York. Đa số họ là những người quá trẻ đến mức khi Trung tâm Thương mại Thế giới sụp đổ thì chắc họ vẫn còn là trẻ con.

Ottrando nói rằng “việc vẫy những lá cờ Mỹ nhỏ” thậm chí chưa bao giờ thoáng qua trí óc ông vào đêm chủ nhật. “Có một số trẻ em, có lẽ từ Ohio hay nơi nào khác đến,” ông nói, “chúng chẳng biết mô tê gì về điều đang xảy ra ở đây.”

Vì cuộc tập kích đánh bin Laden đã đẩy nhanh lên phía trước kỷ niệm 10 năm ngày 11/9 trong trí óc nhân dân, khó mà xác định chính xác nó là như thế nào. Tâm trạng ở New York những ngày này là thờ ơ, không chắc chắn, thậm chí khó hiểu. Nó hơi giống gương mặt xanh xao của Ottrando, rất khó đọc ra. Khó mà nói được cái ngày chấn thương ấy vẫn còn ám ảnh ông biết bao nhiêu hay mọi sự việc đã qua đối với ông như thế nào trong thập kỷ vừa rồi.

Một người New York tự hào

Ottrando nói ở đây nhận ra rằng việc hành hình bin Laden sẽ không giải quyết được bất kỳ vấn đề nào. Mọi người cũng biết rằng không có lý do gì để ăn mừng khi một người nào đó bị giết bằng những phát súng bắn vào đầu và ngực.  Ông thú nhận rằng có những cảm giác thỏa mãn, một cảm giác rằng bin Laden đã lãnh cái mà ông ta đáng phải chịu. Các tờ báo của thành phố đã mô tả lặp đi lặp lại cái khoảnh khắc “vui buồn lẫn lộn” và Ottrando thấy nó là một mô tả thích hợp.

Tuy nhiên, dù cho người New York nghĩ gì, kẻ thù lớn nhất của thành phố này đã bị loại trừ. Bin Laden là người đã kích động những kẻ ủng hộ ông ta mưu đồ đánh bom quảng trường Thời đại và là người đã muốn thấy cầu Brooklyn sập. Ông ta ghét mọi thứ của thành phố này, cái sinh khí của nó, cái tự do của nó, sự thiếu những cấm đoán hạn chế của nó và cái sáng chói rực rỡ của nó.

Và thậm chí dù không biết John Ottrando, Osama bin Laden cũng cứ ghét ông. Dõng dạc như một người New York tự hào bước ra từ trong phim, Ottrendo nói: “Thành phố này bao dung tất cả những gì trái với ý muốn của con người ở đây. Và điều đó bao gồm cả những tín đồ Cơ đốc, những tín đồ Hồi giáo, những người theo Phật giáo và những gì đã khiến anh sống tốt ở đây hay ít nhất để cho người khác yên ổn. Họ sẽ không bao giờ hiểu được điều đó, và chúng tôi sẽ không bao giờ làm theo cách khác.”

Thị trưởng New York Michael Bloomberg cũng không phát biểu hay hơn thế khi ông diễu hành đến Ground Zero với một đoàn tùy tùng đông đảo vào chiều hôm thứ Hai. Những người viết diễn văn cho ông đã soạn một bài diễn văn hùng hồn và thích hợp mà sếp của họ đọc một cách trịnh trọng với một công trường xây dựng lớn làm phông nền sau lưng.

Tinh thần chưa bao giờ mạnh hơn bây giờ

“Osama bin Laden đã chết,” Bloomberg đọc vào đám 23 camera truyền hình và nhiều nhiếp ảnh gia khác, “và công trường Trung tâm Thương mại Thế giới” đang náo nhiệt với cuộc sống mới. Osama bin Laden đã chết, và vùng Hạ Manhattan đang sôi động với hoạt động mới. Osama bin Laden đã chết, và tinh thần của thành phố New York chưa bao giờ mạnh hơn.”

Sau đó, trong khi đi một vòng quanh hố xây dựng của Trung tâm Thương mại Thế giới mới, Bloomberg được hỏi ông nghĩ gì khi cái tin Bin Laden chết đến với ông. Giống như John Ottrando, ông nói những ý nghĩ đầu tiên của ông là về các nạn nhân. Ông nói ông tự hỏi mình về cống hiến mà 3.000 con người có thế đã làm cho cuộc sống của thành phố này. Ông nói, đó là điều mà ông tự hỏi ông hầu như hằng ngày.

Tiếp sau diễn văn của Bloomberg là những phát biểu của các chỉ huy cảnh sát và cứu hỏa, những người này khuyên các công dân thành phố hãy cảnh giác trước nguy cơ đang lên cao của những cuộc tấn công trả thù. Mặc dù ông thường thích bỏ qua mọi lời cảnh báo, ngay cả Ottrando lúc này cũng tính đến điều xấu nhất. Ông thích bài diễn văn của Bloomberg, đặc biệt những đoạn nói về sức mạnh của New York và tinh thần vô song.

Ngày 11 tháng 9 đã ghi dấu ấn của nó vào các đường phố và các tòa nhà chọc trời như một quá khứ nặng nề không thể xóa mờ, nó sống mãi với những ký ức của nhiều người, trong những hình ảnh, những câu chuyện, những dịp kỷ niệm và thậm chí trong cả những cuộc cãi vã bất tận.

Quả thật cũng phải mất một thời gian trước khi đi đến quyết định cuối cùng rằng có nên xây dựng lại Ground Zero hay không. Đã có một sự chậm trễ kéo dài trước khi tìm được những nhà thầu tin vào dự án này. Và vấn đề liệu có nên cho phép một trung tâm văn hóa Hồi giáo và một thánh đường Hồi giáo chuyển đến gần Trung tâm Thương mại Thế giới không đã gây ra sự chia rẽ chính trong lòng nước Mỹ, đến nỗi phải đưa ra trước Quốc hội và Nhà Trắng.

Can đảm nói thẳng lòng mình

Trong nhiều năm, những nạn nhân của cuộc tấn công khủng bố và thân nhân của những người bị giết đã phàn nàn về tình trạng thiếu đoàn kết. Ottrando nói rằng nhiều hứa hẹn không được thỏa mãn, như lời hứa trang bị cho cảnh sát và lính cứu hỏa những thiết bị tối tân nhất. Đài tưởng niệm tại quang cảnh nơi xảy ra thảm họa, ban đầu là quan tâm hàng đầu của mọi bước phát triển mới, đã mất đi phần lớn sự tập trung chú ý khi các kế hoạch đưa ra.

Thật ra, thành phố này đang trong thời kỳ khó khăn hơn trong việc đối phó với những gì ngày 11/9 để lại. Người dân có xu hướng ít hăng hái hơn Ottrando, là người mạnh dạn công khai nói ra những tình cảm trái ngược của mình. “Đôi khi tôi bị nỗi sợ dày vò, như vừa rồi,” ông nói. “Nhưng nó luôn luôn biến đi. Nếu tôi nghe tiếng ồn lớn, thì tôi cảnh giác. Đại loại như thế.”

Loại sự việc như thế đã thành một phần của cuộc sống của New York trong gần mười năm, vì cuộc tấn công ấy như từ trên trời rơi xuống. Mặc dù cái nghị lực không ngơi nghỉ và hoạt động suốt ngày đêm, người ta vẫn nói về một thành phố bị thương. Giống như nhiều thành phố châu Âu, nó đã trở thành nơi chứa đầy những nỗi ám ảnh đau đớn âm thầm.

Bất cứ lúc nào có thể là Ottrando tránh xa những đám đông và luồng xe cộ tấp nập hình thành xung quanh công trường xây dựng lớn trước đây từng là Ground Zero và sẽ mãi mãi còn để lại một bãi tha ma.

Một người lính cứu hỏa ở New York

Ông đặc biệt tránh nó những ngày này. Từ khi có tin về cái chết của Bin Laden, hàng chục đoàn quay phim đã chen kín các đường phố xung quanh Ground Zero để quay phim các sự kiện sẽ được cả thế giới theo dõi, như bài diễn văn của Obama. Ottrando chậm rãi thở ra qua làn môi bĩu. Đối với ông tất cả những cái ấy giống như một trò xiếc.

Ottrando nói bây giờ cuộc sống của ông tập trung vào hai cậu con trai, năm nay 16 và 19 tuổi, khi 11/9 xảy ra chỉ mới 6 và 9 tuổi. Khi những tin tức về cái chết của Obama đến, cậu trai lớn gọi điện về nhà hỏi bố đang làm gì đó. Ottrando trả lời rằng ông vẫn ổn bằng giọng ngắc ngứ trong khi ông cố giấu rằng ông đang khóc.

Năm phút sau, cậu trai gọi lại và hỏi mọi việc có thật sự ổn không đấy. “Nó lo lắng,” Ottrando nói. Ông nói thêm rằng ông tự hào về hai con trai của mình, giải thích thằng nhỏ ở trường học giỏi như thế nào và có thể vào đại học. Thằng lớn gần đây tuyên bố rằng nó muốn trở thành một người lính cứu hỏa – nhưng chỉ ở thành phố New York này thôi./.

Josh Ward dịch từ tiếng Đức