Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Xứ Nẫu, Người Nẫu’ Category

Thái Minh Quang

 

Tạp chí “Xưa và Nay”, số 62B (2037), 1999

Người am hiểu khá sâu tiếng Việt, thường phàn nàn với bạn bè về việc đổi Qui Nhơn từ “i ngắn” thành “y dài”. Từ điển Larousse năm 1969 (in tại Ý) (Atlas moderne Larousse) xuất bản tại Paris, trang 24 phần Index des noms (tức phụ lục địa dư các địa danh trên thế giới) ở cột 4, dòng 2 tính từ dưới lên có ghi: Qui Nhơn. Người nước ngoài cần giao dịch, ký hợp đồng, chuyển gạo tiền nong hàng hóa… chỉ căn cứ vào từ điển Larousse. Nếu một đơn vị hành chính hay doanh nghiệp nào đấy chuyển tiền hay hàng hóa ghi chữ Quy Nhơn… tất đối tác nước ngoài không nhận được (Đúng hơn là không được nhận) và ngược lại. Biết bao phiền toái, tổn thất trong chuyện i ngắn với y dài này. Nếu có khách du lịch, cầm trong tay một từ điển danh tiếng Larousse (hay các từ điển, sách hướng dẫn du lịch các nước, chắc phải dựa vào từ điển người Pháp về Việt Nam) họ sẽ khó khăn thế nào khi cố gắng tìm đất Qui Nhơn mà có khi họ đang ở tại đất này! Họ sẽ không thể nào hiểu được khi hai chữ viết khác nhau mà lại là một trong đầu họ. Đấy là 2 địa danh, 2 nơi chốn khác nhau?

Trong bối cảnh ấy, tôi tìm đến các văn bản có liên quan đến hai chữ Qui Nhơn. Tôi đã đọc và ghi chép lại các từ điển sau đây:

Từ điển Việt-Pháp (J.F.M Genibrel NXB Tân Định, 1898)

Đây là từ điển lâu nhất mà tôi có. Từ điển này do các nhà ngôn ngữ học đã để ra 14 năm (1884-1898) để biên soạn: chuyển tiếng Việt từ tự dạng chữ Nôm sang tự dạng La tinh. Trang 639 ghi: Qui: lại, về… hội tụ… Cũng trang 639 ghi: Qui (con rùa – Tortue).

Như vậy, với từ điển này Qui với nghĩa là qui tụ hay qui theo nghĩa Hán tự (con rùa) cũng viết như nhau: “i ngắn”.

Hán Việt Tân tự điển (Nhà sách Khai Trí-Sài Gòn, tháng 4 – 1975).

Trang 558 ghi Quy Nhơn: quay về với điều nhân đức – tên một tỉnh ở trung phần Việt Nam.

Trong từ điển này không có chữ Qui (i ngắn)

Từ điển tiếng Việt (NXB Khoa học Xã hội Hà Nội – 1988)

Trang 839: Xem: qui, quỉ, quì, quĩ, quí, quị v.v.. như quy, quỳ, quỷ, quỹ, quý, quỵ… Tức i như y (nghĩa như nhau và song song tồn tại).

Từ điển Việt – Hán (NXB Giáo Dục-1996-GS Đinh Gia Khánh hiệu đính – in lần thứ 5 có sửa chữa và bổ sung) trang 896, 897 ghi qui là rùa và qui là quay trở lại (hồn qui, vinh qui)… Từ điển tiếng Việt (NXB Mũi Cà Mau, 1997 – Phan Canh).

Trang 929: Qui = rùa, và cách 3 dòng ghi: Qui = về, trở về (qui chính, qui định, qui hàng, qui hoạch, qui hướng, qui hồn…) không có chữ quy.

Từ điển tiếng Việt (Trung tâm tự điển – NXB Đà Nẵng – 1995)

Trang 784 không có chữ qui.

Từ điển Việt – Pháp (Dictionnaire Vietnamien- Francaise- NXB Thanh Hóa 1996 – Lê Phương Thanh).

Tất cả đều y (dài) (trang 644- 645)

Hán Việt từ điển (Đào Duy Anh – NXB TP Hồ Chí Minh- 1994)

Trang 163: Qui bản, Qui Nhơn (165) tỉnh lỵ tỉnh Bình Định.

Từ điển tiếng Việt thông dụng (NXB Trẻ –1997- Nguyễn Văn Xô).

Không có chữ Quy mà có (trang 363) Qui: (1) con rùa, (2) về (sinh ký tử qui), (3 )phép tắc định trước.

Những từ Việt Hoa thông dụng (NXB Đồng Nai- 1997- Vương Bình).

Qui: rùa (363)

Qui: về (394) không có chữ Quy.

Từ điển Hán thông dụng (NXB trẻ-1997, Lâm Hòa Chiến, Lý Thị Xuân Cúc, Xuân Huy)

Quy (1) rùa (2) về (trang 820)

Cũng tác giả Lâm Hòa Chiến trong từ điển Việt Hoa (NXB trẻ – 1998), không nói đến qui là rùa, trang 323 lại nói qui thuận (Như vậy, một tác giả hai cuốn từ điển viết khác nhau, có lẽ quan điểm tác giả thấy hai chữ có thể thay thế nhau tùy từng trường hợp cụ thể).

Nhìn lại 13 cuốn từ điển mà tôi đã mô tả ở trên ta thấy gì? Rõ ràng đấy là sự không thống nhất. Chưa có thể kết luận: khi viết qui (i ngắn) tức là rùa và quy (y dài) mới là quy tụ. Các nhà từ điển học khi viết sách đều có quan điểm riêng trước những hiện tượng ngôn ngữ còn tìm tòi, cải tiến, tranh luận. Hẳn họ quá biết, từ khi có “chữ quốc ngữ” bao nhiêu cuộc tranh luận với tinh thần khoa học và yêu đất nước đã xẩy ra. Trong đó không ít cuộc tranh luận và giấy mực bàn về i (ngắn), hay y (dài). Có ý kiến cho rằng từ nào có vần bằng thì i (ngắn), (so bì, lì xì, lui cui). Từ nào có vần trắc thì y (dài) (tỷ mỷ, sơn thủy, cô giáo Thúy…). Nhưng trên thực tế lại không đơn giản như vậy.

Tóm lại không thể đưa ra quan điểm dành riêng cho qui (i ngắn) là rùa và quy (y dài) là quy tụ. Tuy rằng trong chữ Hán, đồng âm nhưng tự dạng khác nhau. Trên thực tế không ai hiểu Qui Nhơn (i ngắn) tức là đất chỉ có rùa và người hay người như rùa! Cũng không có cơ sở khoa học để nói nếu viết i ngắn chữ qui sẽ đọc thành chữ (u…i…ui).

Trong sự không thống nhất ấy buộc ta phải thống nhất những điều cơ bản:

1- Đây là danh từ riêng. Không ai có quyền bắt nhà thơ Hồ Dzếnh phải bỏ chữ Z trong tên ông. Là danh từ riêng, khi mới ra đời thế nào, nay để vậy, “Nhất thành bất biến”.

Ông Đào Duy Anh trong đất nước Việt Nam qua các đời (NXB Thuận Hóa, 1994) trang 99 mục trấn Quảng Nam ghi: “Thái tổ Gia dụ Hoàng đế năm thứ 46 (1602) đổi phủ Hoài Nhơn làm phủ Qui Nhơn.” Hay tìm lại văn bản hành chính trước đây: đều ghi là Qui Nhơn (Collège de Qui Nhơn – trường Quốc Học Qui Nhơn) v.v..

Muốn thay đổi một địa danh phải :

+ Có hội thảo khoa học và sự nhất trí.

+ Phải thông báo chính thức (được Quốc Hội thông qua) trong và ngoài nước.

Không thể tùy tiện.

Chúng ta còn nhớ vụ kiện khắp thế giới đều biết: Nữ văn sĩ Pháp Françoise Sagan viết cuốn: Buồn ơi! Chào mi (Bonjour tristesse) bị một công dân kiện vì đã đưa họ, nói xấu họ trong cuốn sách nói trên. Tòa án gọi nữ văn sĩ. Nữ văn sĩ đã không hầu tòa vì chữ “Françoise” của tòa thiếu một nét: dấu Cédille ở dưới chữ C. Tòa đành chịu

2- Trong khi chờ đợi một quyết định khoa học, trên phương diện hành chính nên giữ nguyên chữ cũ: Qui Nhơn.

Bởi liên quan đến cuộc sống, giao dịch, ngoại giao… cần hết sức thận trọng.

THÁI MINH QUANG

Read Full Post »

Lâm Bích Thủy

Ngày tôi còn học ở Hải Phòng, lúc nào xuống  thăm, người cha thi sĩ này cũng đem cho tôi vài tập thơ mỏng, bìa có họa tiếc đơn giản trang nhã, như   “Nắng Ba Đình”, hay thơ viết cho thiếu nhi của chú Phạm Hổ và tập “Hướng Điền căm thù” của ông (tập thơ này không còn tồn tại). Tôi thích lắm. Quanh tôi, tràn ngập thơ là thơ.

Nhưng thập niên 80-90 của thế kỷ 20, tôi vào Sài Gòn; có mấy ai xem trang thơ trên báo. Họ chỉ chú ý   mục kinh tế và cách làm ra cái ăn, cái mặc. Khi có cái ăn rồi thì trước hết lo đủ lượng chứ không cần đủ chất; chẳng ai phí thời gian vàng ngọc để đọc mấy vần thơ của các thi sĩ nghèo. Họ bảo “nhà thơ nghèo là phải, suốt ngày chỉ thơ với thẩn làm sao ra tiền”. Và thế là tôi suy ra thời vàng son của thơ đã lùi vào dĩ vãng “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ

Nhưng dù ở đâu, thời nào cũng vậy. Ba tôi lại vẫn trung thành với thơ. Trong không gian hẹp, tại một thị trấn hẻo lánh, ông yêu cuộc sống thể hiện qua thơ đến dường nào. Ông không chấp nhận sự an nhàn, Khổng Tử đã dạy “Nhàn cư vi bất thiện” Vì thế, dù dưới góc độ nào, cái đích cuối cùng ba tôi hướng tới là giá trị chân, thiện, mỹ của lẽ sống ông ghi lại vào thơ. Ông biết rằng “Chiến tranh con người sẽ mất đi, còn thơ sẽ sống mãi với đời”.

Chúng tôi cằn nhằn “Thời đại này mà ba còn làm thơ, ai xem! Nghĩ cho khỏe óc đi ba.”. Nghe vậy,  Huy Nhuận phản đối tôi “Cái bà Thủy này suốt ngày chỉ nói đến tiền, tiền. Chị biết gì về thơ mà nói.” Đúng! tôi đang lo cho cuộc sống của cái tổ ấm cỏn con của tôi tồn tại được ở thời cơ chế thị trường đã.

Vì vậy, nhiều nhà thơ, về hưu, tuổi cao sức kiệt, ít ai còn có cảm xúc để sáng tác. Còn ba tôi làm thơ cả khi trên giường bệnh.. Chẳng thế mà, có người nhận xét “Càng về già thơ Yến Lan càng hay:

Những bài thơ cuối đời của ông là những bài thơ hay, tìm nhiều phương diện của nghệ thuật thơ ca, chứa nhiều hình ảnh đẹp, giàu tưởng tượng. Chỉ có sự tinh tế của tâm hồn thì nhà thơ mới làm cho hiện thực ngoài đời trở nên sống động được như vậy

Tại sao có điều ngược như vậy nhỉ? Theo ba tôi, ông được sống trên mảnh đất ông tự chọn, ông không phải dè chừng, cẩn thận với người ở cạnh mình như trước. Ở đây, có những ngọn gió mang hương đồng cỏ nội từ cánh đồng lúa, ngô khoai thổi vào đời ông thật mát mẻ và trong lành. Hè về cỏ cây, hoa lá, con sông, con cá, con chim v.v..  tất cả miên man trong tầng sâu của bất tận, với tư cách là nhà thơ, trong cái nhìn sâu xa đã tìm ra những thông điệp mấu chốt để lại cho đời. Dù đời sống quê ông còn nhiều nỗi nặng lo, song, ông đã tìm được niềm vui trong cái giản dị của miền sơn cước, của những chứng tích ẩn chứa bao điều mà con người chưa giải mã được, để ông sống và sáng tác hay hơn .

Chiều qua Tháp Cánh Tiên

Nghi ngút mô hình ngọn khói lên

Mờ trong gờn gợn nếp sương in

Khá thương mảnh đất trần gian mỏi

Còn nán trên đời phẩm thiết tiên

12/1989

 

Trước đây, mẹ tôi đã làm cái việc “Kiến tha lâu đầy tổ” sưu tầm, giữ gìn kỷ vật của ba để lại. Giờ tôi học tập bà việc này. Tôi có may mắn hơn, bạn bè gần xa, hễ có tin gì liên quan đến người cha thi sĩ của tôi thì lập tức họ bỏ thư, gửi tặng. Nhà tôi đủ tư liệu có thể giúp cho sinh viên nào cần để làm luận văn về ông. Vì từ trước đến nay, ở các Thư viện của hai thành phố lớn, tư liệu về Yến Lan hầu như hiếm hoi vào bật nhất so với các nhà thơ cùng thời.

Trên thực tế, ba tôi được nhiều bạn đọc yêu mến, ngưỡng mộ. Nếu bất chợt gặp mà biết tôi là con gái Yến Lan, thì người hâm mộ bỗng như gặp hân hạnh. Thế rồi họ giải bày tâm sự bằng đọc ra những vần thơ của ba tôi mà họ tâm đắc nhất. Qua đó, tôi mới biết rằng ba tôi không mất đi trong lòng mọi người. Những lúc như thế tôi cảm thấy tự hào về cha mình. Bài thơ “Bến My Lăng” được nhiều người nhắc đến nhiều nhất. Tôi cảm nhận được tình cảm của họ qua cách hỏi ngọt ngào, tha thiết “Cô là con gái “ông lái buồn để gió lẻn mơn râu đấy ư ?”, hay có người hóm hĩnh lái ý nghĩa của câu “hàng rong gặp hàng rong/liếc nhìn nhau qua mẹt bánh”, tôi đã đọc được  cảm giác của anh bạn trẻ khi xướng bốn câu của bài  “Cầm chân em-cầm chân hoa”, “Khi chị đi lấy chồng” và “nàng Vân giả dại” v.v..

Nhờ vào những dịp tiếp xúc đó, tôi ý thức hơn đối với việc sáng tác và giá trị đích thực thơ của cha tôi.

Tôi tìm hiểu đời ba tôi qua thơ ông. Đúng là ông đã truyền cho tôi mầm mống của tình yêu: yêu đất nước, con người, cuộc sống, và niềm tự hào được sinh ra trên đất nước Việt Nam này. Ông cho tôi thấy đời là sợi dây ràng buộc giữa người và thiên nhiên. Con người không bơ vơ, trơ trọi khi nhìn ra ý nghĩa của mình giữa cuộc đời để chia bùi, sẽ ngọt.   

Ngọt và đắng

Ô môi vàng ruộm, khổ qua-xanh

Em hái nhờ trao, gọi đáp tình

Không dặn nhưng ta đà rõ ý

Ngọt bùi cho bạn, đắng cho anh.

Ông còn dạy tôi cách nhận ra nợ đời. Biết nợ để trả, để tự thanh lọc mình sống tốt hơn, ý nghĩa hơn.                             “Nợ”

Nhà không vườn, không gác, không sân

Tôi nợ đời rau trái tôi ăn

Nợ hàng xóm trưa hè bóng mát

Nợ em cài bên cửa một vầng trăng

Nhận xét của tôi trước đây “Người Sài Gòn không mặn mà với thơ”, giờ  đã thay đổi. Một ngày nọ, tôi phát hiện người Sài Gòn trở nên yêu thơ đến là lạ. Nhiều câu lạc bộ thơ ca ở các phường ra đời; các thi hữu gọi nhau bằng những từ rất kêu  “Nhà thơ” này , nhà thơ nọ v.v.  Thơ bỗng dưng đơm hoa kết trái. Các thi hữu làm thơ, tự bỏ tiền in, tặng bạn. Thơ lại trở về nguyên vẹn với chức năng của nó “Nhất sĩ nhì nông” Thơ là nơi sẻ chia vui, buồn là mạch nguồn cho những bài ca, là tiếng nói chung của con người…

Có dịp nhắc tới vở kịch thơ “Bóng giai nhân”. Đây cũng là một vấn đề nan giải. Vở kịch thơ này từ khi mới lọt lòng đã mang tên hai tác giả là Nguyễn Bính và Yến Lan. Nhưng thật ra người chắp bút chỉ là ba tôi. Nếu như không có sự hiểu lầm rằng tác giả chính là Nguyễn Bính thì không có vấn đề gì xảy ra.

    Trong hơn 60 năm theo nghiệp thi ca, ba tôi bị mất  rất nhiều những đứa con tinh thần. Một trong những cái mất đó là sự nhập nhằn tên tác giả của “Bóng giai nhân”. Tôi xin bày tỏ mối quan tâm về tác quyền của nó. Có thể nói, tôi cố gắng để để bản chất sự thật được giải tỏa, đem lại công bằng cho cha mình.  Trước đây, ba tôi không có ý tranh chấp, ông luôn tôn trọng những gì lịch sử ghi lại. Nhưng không thể được. Nhà thơ Hoàng Cầm đã cảnh báo cho ba tôi “Ngay bây giờ, anh Yến Lan nên tìm cách cho đôc giả biết anh là tác giả vở kịch thơ, kẻo về sau rầy rà, khó xử. Giờ đây còn chúng ta mà đã có sự nhập nhằng, sau này lớp người của chúng ta không còn thì càng khó xử hơn !

Thấy ba tôi cứ lần khân, nhà thơ Hoàng Cầm đã viết   “Ai là tác giả chính của vở kịch thơ Bóng giai nhân” để bạn đọc hiểu cặn kẻ vấn đề một cách đúng đắn. Với bài viết này cũng chẳng phân giải được vấn đề. Nơi để trút bầu tâm sự của ba tôi là chú Đinh Tấn Dung-nhà nghiên cứu văn học hiện tại.

(Chúng tôi xin chuyển đến quý bạn bức thư riêng của Nhà Thơ Yến Lan viết ngày 13/3/1988 gửi cho Anh Đinh Tấn Dung; sau bài viết của Nhà Thơ Hoàng Cầm (bản thảo viết tay chưa được công bố); để mong rằng giới hữu trách quan tâm, có “Ý kiến kết luận sau cùng” về sự “nhầm lẫn” khó nói ra này. Sự thiên vị, mờ ám, và không công bằng – trước sau gì cũng phải nhường chỗ cho “Sự Thật”. MVL)

 

  Bình Định, ngày 13- 3 -1988

Kính gửi : Anh Đinh Tấn Dung (Khổng Đức)

Bức thư bảo đảm của anh đến hôm 1/3/1988. Tôi đọc dẫn đến cuối ngày 2/3. Bài viết về “Thơ Yến Lan” của anh tự nhiên đặt nhiệm vụ tôi phải đọc kỹ và nghiêm túc cho xứng với tâm sức và thịnh tình anh đối với tôi. Có những lúc cần giở tập thơ ra đối chiếu, tình cờ thấy ở dưới nhiều bài có ghi “Nhân kỷ niệm sinh nhật”. Thì nhớ ra hôm ấy là ngày sinh nhật của tôi. Nói và viết thế, chứ từ trước đến nay tôi chưa thiết bày một ngày lễ nào sinh nhật của tôi cả. Cả hôm tôi đúng 70 tuổi, Hội cũng có dự định, nhưng cũng không làm được. Sau đó gửi quà. Nhớ ra là đang ngày sinh nhật – thực ra thì 2 – 3 là ngày của âm lịch năm Đinh Tỵ. Nhưng hồi ấy ông thân sinh tôi khai ở trường lúc xin tôi “nhập môn”, nhà trường ghi vào hồ sơ tính theo dương lịch, nên vẫn giữ như thế. Tra cứu kỹ, chắc ngày ấy nhằm đâu chừng khoảng 20.4 hay 22 gì dương lịch ấy. Thôi, chẳng có gì quan trọng. Tôi nói thế là để nói lên một sự trùng hợp lý thú: Gặp ngày sinh nhật, được đọc chương bình phẩm của cả một quá trình trở lui về trước cuộc đời làm thơ, do một người bạn đã hầu như quên lãng trong số bao nhiêu tri ngộ.

Dường như gặp nhau hôm ấy, tôi đã nói đến cái chuyện này với anh. Mà nào chúng ta có học thói vô tình!

 Gặp lại anh rồi, từ lúc ấy tôi cứ nhớ mãi, những kỷ niệm cũ được nâng tầm theo kỷ niệm mới, rõ nét dần lên . Thế rồi giữa cái ngày 2/3 này, tôi làm một số tuyệt cú. Xin chép anh đọc cho vui; mặc dù còn cần nhiều sửa chữa :

Bài chị

Tháng giêng âm lịch, tháng tư dương

Xáo trộn tâm tư biếng dõi chừng

Hỏi vợ mới hay sinh nhật đến

Lệ từ năm trước lại rưng rưng.

Bài em

Âm lịch còn giêng – dương, tháng ba

Bộn bề sách vở chửa phân ra

Lật nhằm thơ cũ mừng sinh nhật

Văng vẳng dường ai nhắc ở xa.

 

 Bây giờ xin tiếp tục câu chuyện vừa đứt quãng ở trên.  Xem xong “Đọc thơ Yến Lan” của anh, cảm xúc đầu tiên của tôi là : đó là một bài tiểu luận công phu vươn đến chỗ thấu đáo những gì còn tiềm tàng trong thơ của YL mà bao lâu nay những ai nói đến đều chưa đạt. Như đoạn nhắc đến Bến My Lăng, nhưng cái chính là dựa vào “tất định thuyết”.

 Ở đoạn: thơ tồn tại hay không… ngược lên trên, theo tôi nghĩ là cũng không cần thiết, vì muốn cho một tiểu luận nhằm hoàn toàn đề cập đến cái chân nghệ thuật của một hồn thơ – ở đây khiến người ta nghĩ đến một đời thơ – thì việc phát hiện và phân tích thơ cần gì đá động đến cái việc “tổ chức” thuộc về công tác quản lý của các giới chạy vòng ngoài của nghệ thuật. Chính trong công việc điều hành của nó nhiều khi lại làm vật cản cho tài năng – Cả đoạn kết thúc cũng thế. Khách quan đọc thấy nặng nề.

 Nói chung lại, những phát hiện của anh ở tập thơ, tôi đều tâm đắc. Chỉ còn một số chi tiết, tiếp tục đọc thêm sẽ bàn sau. Về khía cạnh ứng dụng thật có thừa sự hàm súc, nhưng văn ngôn, có cũ đi chăng?

À, kịch thơ “Gái Trữ La” tôi viết năm 1943 (sau “Bóng Giai Nhân” (quãng giữa 1941 – 1942) – Gái Trữ La diễn ở Thanh Hóa lần đầu – Và “Bóng Giai Nhân” ở Huế.

 Nhân nhắc đến “Bóng Giai Nhân” tự nhiên đối với anh, tôi không thể không nói. Hôm qua tôi đã viết cho Chế Lan Viên cả một bức thư dài về câu chuyện có liên quan. Nó là như thế này:

   Tình cờ tôi đọc trên số báo Nhân Dân ra ngày Chủ nhật 28/2/1988 – ở hàng cột cuối trang 4 có ghi một tin ngắn dưới cái titre: xuất bản tác phẩm của Nguyễn Bính, có ghi , đại khái như sau : Để kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Nguyễn Bính, Sở Văn hóa và Hội Văn nghệ Hà Nam Ninh đã xuất bản… sẽ tiếp tục in những vở kịch thơ của Nguyễn Bính

  Điều này làm tôi tự nhiên bỗng nghĩ đến những cái không may thường xảy đến trong đời làm thơ của bản thân, khi nhớ đến đoạn tiểu sử về Nguyễn Bính và chỗ giới thiệu tác giả chính in lên trên lời tựa của Tô Hoài mở đầu “Tuyển tập thơ Nguyễn Bính” (do Nhà xuất bản Văn hóa và Nhà Xuất bản Long An tái bản năm 1986).

– Ở đoạn tiểu sử ghi: Vở kịch “Bóng Giai Nhân” Nguyễn Bính soạn theo phác thảo ban đầu của Yến Lan (1942)… Ở phần tác phẩm chính ghi chỉ một tên Nguyễn Bính.

  Trong việc sáng tác một tác phẩm, cái phác thảo ban đầu quyết định được gì trong việc hoàn thành tác phẩm ấy? Mà sao lại dám khẳng định ở ngay “tuyển tập”–một công trình dù thế nào đi nữa–vẫn cứ được mặc nhiên dành được ưu thế thuyết phục, thiếu gì kẻ lười nhác trong việc sưu tầm và giới thiệu tiếp sau, sẽ vin vào đó làm căn cứ tối hậu tổng kết. Tôi chưa rõ ngoài “Bóng Giai Nhân”, Nguyễn Bính có viết “được” và “nêu” một vở kịch thơ nào khác nữa không ? Vậy thì nay mai các nhà xuất bản trên kia in nó ra–tôi nghĩ còn có mục đích khác quan trọng nữa là lợi nhuận – vì sách sẽ chạy – thì các quyền lợi của tôi bị tước bỏ. Ngay cả quyền lợi thiêng liêng là cái danh nghĩa chính đáng làm tác giả. Từ trước đến nay “Bóng Giai Nhân” đã phải mang tên hai tác giả (là do lúc viết – ra ở Huế, tôi và Nguyễn Bính ở chung một nhà, cả Vũ Trọng Can) – để cho đủ tên 2 nhà thơ để cho hấp dẫn – Giá lúc ấy Vũ Trọng Can lại là nhà thơ nữa thì có khi có cả tên vào đó. Nhiều tài liệu đã nêu, như Từ điển Văn học  tập II của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Lịch sử kịch nói Việt Nam (trước cách mạng) Nhà xuất bản Văn học do Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý (1978) – và nhiều tác phẩm, tiểu luận khác. Ngay hiện nay ở nhà, tôi vẫn còn giữ một tập đánh máy từ ngày viết xong để trình kiểm duyệt và rã cả vai–có đề tên cả 2 ngườ  tập ấy tôi gửi một bạn gái rất thân ở Hà Tiên nhân khi sắp diễn, và nhắn chị ấy chuyển cho anh Đông Hồ và chị Mộng Tuyết đọc. Sau này định diễn ở Thanh Hóa, tôi gửi thư vào mượn lại. Về Bình Định mang theo rồi gửi anh Quách Tấn giữ cho đến khi giải phóng trở về.

 Tôi đang có một dự định nhằm làm cho sáng tỏ – Báo cho các nhà xuất bản trên cần lưu ý vấn đề này.

 -Viết nhờ Báo Văn nghệ đăng mấy dòng cải chính, và báo cho Hội Nhà văn–Nhưng chỉ sợ họ cho là “đã có lửa đâu mà lo cháy” –Yến Lan chỉ xông khói lên thôi. Có thể lắm chứ.

 

-Viết một hồi ký về Huế (trong ấy xoay quanh những sự việc và xúc cảm về “Bóng Giai Nhân”,nhân đó mà nói rõ sự thật. Năm ngoái, Biên tập Sông Hương có mời tôi tham gia, giờ mà có bài thì họ đăng thôi. Và tôi đã viết một hồi ký gần 6.000 chữ. Mấy hôm nay đánh vật với nó và đọc lại thì cần điều chỉnh lại cho tế nhị, dịu dàng hơn. Thế là hiện giờ thì đang treo mà tôi đã mệt.

 

Tôi nghĩ, ngoài cái hồi ký ấy, giá có một nhà nghiên cứu nào viết theo chủ đề: đại khái như: Nhân cái tiểu sử ở đầu một tuyển tập, nghĩ đến trách nhiệm và tính chính xác, chính chân thật của việc nghiên cứu và giới thiệu.

Anh nghĩ “Bóng Giai Nhân” có thể là một vụ án Văn học không? Theo tôi thì có, nhưng già rồi, lực tận thế cô cũng đến bỏ cuộc thôi.

Thư viết lung tung, bút xấu mực nhạt, xin anh thông cảm. Chúc gia quyến anh vạn sự tốt lành.

Nay, ký tên

Đấy, đâu phải ba tôi không muốn mọi người hiểu được sự thật. Nhưng vấn đề này sao có vẻ khó khăn quá. Nghe đâu, Lâm Huy Nhuận, em trai tôi cũng đã có đặt vấn đề này với Hội Nhà Văn thì được trả lời “Thôi lịch sử văn học thế nào cứ để như thế”

Là con của tác giả, con có quyền tự hào những gì ông cha để lại. Có điều phải biết tôn trọng sự thật;  Má tôi cũng bực mình về chuyện này và bà mong ai đó nên hiểu vấn đề hơn.

Phải chăng, do bức xúc vấn đề này, bà Mộng Tuyết, khi gặp lại ba tôi, nghe dư luận tranh cải tác giả kịch thơ “Bóng Giai Nhân”. Bất luận là cả Nguyễn Bính và Yến Lan đều là chỗ thân tình, bà vẫn chân thành khuyên “Anh nên viết, nếu không nhiều thì cũng vài dòng cho mọi người biết rõ sự thật. Sự thật sẽ làm mất lòng người, nhưng mất lòng trước sẽ được lòng sau ”.

Ba tôi đã viết khoảng 6.000 từ với  tên “Chiều chiều mây kéo về kinh” kể tỉ mỉ quá trình sáng tác “Bóng giai nhân” của ông…

 

  Chiều chiều mây kéo về kinh

 

  Sau một chuyến đi dài vào mảnh đất tận miền Tây Tổ quốc, tôi trở về quê, lòng chưa ráo nỗi nhớ đường, nhớ sá, thì trời đã chớm sang thu. Khắp khu đất nội thành Bình Định mênh mông, mùa gòn đang tách vỏ. Những tiếng ve sầu còn sót lại, vẳng lên khí đìu hiu. Lòng tôi cũng lơ lửng như những múi bông gòn trên chớp nóc nhà dân xiu vẹo, trên những mái cong dinh thự rêu phong. Thư viết cho bè bạn, lúc nào cũng nói đến nỗi ray rứt muốn được tiếp tục đi xa.

Một buổi sáng tôi nhận được bức thư của người bạn gái, quen nhau hôm ở Hà Tiên, do chị Mộng Tuyết giới thiệu. Vì là bạn thân, chị biết tôi đang sống khó khăn, hàng ngày đối phó với một bà dì ghẻ khó tính, những sự vụn vặt ngày thường choán hết hứng khởi sáng tạo. Chị tán thành và khuyên tôi nên thay đổi không khí. Bức thư kèm theo giấy chuyển tiền đủ chi dùng cho một cuộc đi dài và nếu lâm vào cảnh lữ thứ, có thể sống trong vài tháng. Thế là tôi chuẩn bị một cuộc ra đi, cũng chưa rõ là đi đâu. Tiếp đến hôm sau thì tôi nhận được một bức của Vũ Trọng Can.

Lâu nay Can vẫn thường viết cho tôi, nhất là những ngày Can ở trong tòa soạn “Tiểu thuyết thứ năm”, từ Hà Nội. Bức thư này lại từ Huế, đại khái như sau: Báo chết rồi, bọn Can đang chuyển sang hoạt động sân khấu. Đang thành lập một Ban kịch với chương trình sẽ đi biểu diễn từ Bắc vào Nam. Hiện “Cập bến Bông Hương”. Nếu Yến Lan thích cuộc sống lưu động để tiêu sầu này, thì ra gia nhập với bọn mình…”

Đọc thư, tôi ngồi tưởng tượng… tưởng tượng… bao nhiêu kỳ thú, sôi động, hào nhoáng và mê ly… Cả một cuộc sống lan tỏa hoa đăng… cả một kho dự trữ và luyến ái và thi tứ. Và tôi quyết định nhập cuộc. Nhưng cũng phải đề phòng, nếu đó chỉ là câu chuyện bốc đồng? Nhưng lòng muốn ra đi luôn luôn thôi thúc, tự nhiên tôi nghĩ đến cái phương châm “đến đâu hay đó” khi nhỡ ra là những chuyến tàu suốt vào Nam ra Bắc hàng ngày đều tránh nhau ở ga Bình Định. Và tôi nghĩ: hãy lên ga cái đã – hễ tàu ra bán vé trước thì ta ra, và ngược lại…

Hôm ấy tàu ra đi trước, vừa khi lên tàu, tôi nhờ một người bạn đưa chân, đánh điện cho Can.

Tôi đến Huế vào khoảng hơn 8 giờ đêm. Cả “Ban kịch” đều ra đón tôi, gồm có Vũ Trọng Can, Nguyễn Bính và một chàng thanh niên. Sáng hôm sau tôi mới biết chàng trai này thuộc về loại đi theo điểu đóm. Ngoài ra, không còn gì nữa.

Lần đầu tiên mới gặp Nguyễn Bính – trước thì cũng chưa có thư từ, quan hệ gì. Chúng tôi nắm tay, bá cổ nhau, chào mừng rối rít. Và Huế… Huế, vừa mới chạm lên vài sải bước chân, sao đã nghe thấy dậy trong lòng nỗi êm dịu, ngọt ngào khó tả.

Bốn chiếc xe tay do Nguyễn Bính chỉ dẫn, đưa bốn người chúng tôi từ cửa ga đến tận Gia Hội, đỗ ở trước một hiệu ăn khá lớn. Cơm, rượu no nê, bốn chiếc xe lại đưa chúng tôi về nhà trọ ở bên kia cầu Tràng Tiền, cách Đập đá chẳng bao xa.

Ông chủ nhà trọ ra mở cửa, dáng điệu bực bội và khi nhìn thấy tôi, thốt những câu gì làu bàu, không rõ. Tôi tinh ý, biết ngay là có sự phiền hà.

Nhà trọ đây không phải là lữ quán chứa tạm khách lai vãng một vài hôm. Nó là một căn nhà thờ họ, người kế thừa nhận cho trọ lâu dài và nấu cơm tháng.

Phòng trọ chứa nửa của “Ban kịch”, nhưng khi có tôi thêm càng chật ních. Đêm ấy tôi nằm bên Vũ Trọng Can, thao thức mãi vì cứ nghĩ lan man.

Tôi đâm ra trách người rồi trách cảnh. Huế ơi, sao trước đây vài giờ, qua những bước đầu tiên tôi đặt xuống sân ga, Huế hồn nhiên, kiều lệ, dồn lên tâm hồn tôi bao nhiêu êm dịu, ngọt ngào, thế mà giờ đây, một không khí phiền hà, lãnh đạm đang chập chờn phủ tới.

Tôi đem nỗi dằn vặt ấy hỏi, Vũ Trọng Can thì thầm:

– Cũng là điều đáng quan tâm, nhưng không can gì cái việc thường tình ấy. Ngày mai chúng ta sẽ tìm cách giải quyết, chúng mình đang thiếu ông chủ nhà một tháng tiền cơm, giờ thấy có thêm cậu nữa. Ờ mà thôi, rồi sẽ có cách… khẩn trương đấy, chiều nay ông chủ trọ đã báo là ngày mai sẽ cắt và đề nghị bọn mình dọn đi.

Nhân đó, tôi hỏi: Thế thì Ban kịch của cậu đâu? Hoạt động ra sao rồi? Can cố dấu cái thở dài, nuốt nghẹn ở cổ:

– Ban bệ, kịch cợm gì đâu. Bọn mình chán Hà Nội, nên rủ nhau đi du ngoạn một chuyến với ý định sẽ thành lập một ban kịch để làm cứu cánh về mặt tài chánh. Nghĩ đến cậu đang nằm khoèo ở tỉnh lẻ, mình viết thư gọi cậu ra chơi cho đỡ buồn.

Nghe xong tôi cũng nghẹn ngào ở cổ. Biết tôi không thích liều lĩnh – Can trấn an bằng cả một thôi dài tâm sự: Can đã nghĩ ra nhiều biện pháp xoay sở cho ra tiền. Can đã có ý định diễn kịch đảm nhiệm phần dàn dựng, quảng cáo, bán vé và thu tiền rồi chi cho nhau chỉ tiêu phần trăm quy định. Can cho biết cụ thể, việc Can đã tìm gặp và trao đổi với Hà Xuân Tế thư ký riêng của Nam Phương Hoàng hậu (thay chân cho Nguyễn Tiến Lãng đã đi nhận chức phủ thừa). Hà Xuân Tế lại là chủ tịch của Hội A.A.A (gọi là hội 3 chữ A) tên gọi tắt của một hội hoạt động thể thao thể dục. Thực ra nó là của ông Hoàng bà Chúa chọn riêng một môn quần vợt, cùng giao hữu với hạng công chức cao cấp. Can còn phải làm sao cho ra kịch bản và diễn viên là phần được phân nhiệm. Cuối cùng Can hỏi:

– Cậu còn bao nhiêu?

– Vừa tiêu phí nội ngày hôm nay, chỉ còn đủ trả một tháng cơm bình dân.

– Thế thì tốt. Ngày mai ta sẽ lấy tiền ấy tạm ứng cho ông chủ. Rồi sẽ vui vẻ cả thôi.

Sáng hôm sau, với tâm trạng một người “lỡ bước” tôi bỏ cuộc đi chơi núi Ngự, đã hẹn với Nguyễn Bính lúc ở tiệm ăn Gia Hội đề nghị khẩn trương họp nhau lại bàn qua chuyện diễn kịch. Chúng tôi ngồi lại trên mấy cố vấn trần, nghiêm chỉnh thảo luận. Qua sự trình bày của Vũ Trọng Can về mấy phác thảo các vở kịch nói Can định viết từ hôm rời Hà Nội đi vào, thì còn xa với yêu cầu đang đặt ra. Bàn sâu, tính rộng mãi, chúng tôi đi đến nhất trí: diễn thuật mới mà Huế là nôi thể nghiệm đầu tiên. Thực ra đó chỉ là những lời khoác lác để cười với nhau, chứ mục tiêu chính là ở chỗ cố làm sao cho hấp dẫn để có được khoảng thu kha khá, trang trải nợ nần và còn ung dung thưởng ngoạn. Để cho thật hấp dẫn, chúng tôi nghĩ đến những câu chuyện ly kỳ ở các huyền thoại, nhất là ở “Đông chu liệt quốc”, dựa vào dã sử hoặc hư cấu ra cốt truyện theo không khí dã sử. Nhân vật sẽ là những con người cá biệt cực đoan, tình huống phải thật éo le, tâm tư luôn dằn vặt. Và cũng để cho vở kịch đưa ra một giải đề gì về mặt nội dung, chúng tôi nghĩ ngay đến cái tư tưởng hủ bại đang còn ngự trị trong tầng lớp thượng lưu, luôn luôn tôn sùng quyền thế, chạy theo danh vọng mưu cầu một cuộc sống “Võng long xênh xang” đang còn nhan nhản ở Huế. Một điển hình người sẽ hiện lên sân khấu, xách gươm báu đi săn đuổi giật lấy vinh quang, đã thủ tiêu ân tình, phản bác đạo lý và tiêu ma cái đẹp. Đó là phác thảo đầu tiên do tập thể ba người góp nhau trong một buổi sớm. Cơm xong, tranh thủ bỏ giấc trưa, bàn tiếp luôn các chi tiết: Bí quyết làm cho gươm thêm thiêng (cái điều kiện duy nhất đưa đến vinh quang của một tráng sĩ cuồng ngông) là phải tôi gươm lần nữa vào máu ba người tình cờ gặp trên đường đi–theo lời thần mộng. Việc phác thảo này như một cuộc múa gậy trong phòng–Nhân vật nhất thiết phải lệ thuộc số người có sẵn, mà ngoài chúng tôi thì chắc gì có thể nhờ vào được ai? Loại trừ em thanh niên sẽ chạy vòng ngoài, cả ba thằng nhà văn, nhà thơ chúng tôi phải lãnh vai mà đóng. Thế thì vở kịch chỉ có ba nhân vật sao? Và toàn là nam giới cả thì còn đâu cái nhưng cái nhị của sự hấp dẫn? Biểu tượng của cái đẹp bị tiêu ma trong kịch sẽ là nhan sắc của một người con gái thùy mị, đoan trang.

Nguyễn Bính tả và kể ra những em Đào, em Lý, cô Mừng, cô Thương với khá nhiều thiếu nữ, thiếu phụ mà anh từng gặp trên các nẽo đường phố của Huế…

Vũ Trọng Can cũng tả và kể ra những em Đào, em Lý, cô Mừng, cô Thương của mình, nhưng phải kết luận: có trời mà vận động cho các gia đình ở đây người ta đồng ý cho con, em mình tham gia lên sân khấu. Nhất là con gái. Thế là lâm vào thế kẹt.

Trước đó không lâu, Nguyễn Bính có sáng tác một bài thơ, nhan đề “Xóm Ngự viên”. Đó là bài thơ hay, được tán thưởng. Bính đã chép lại trên một tờ giấy nguyên khổ, giấy in báo, nét chữ to, bay bướm, treo trên tường trước mặt. Tình cờ tôi ngước lên, liền hỏi với một ý nghĩ bâng quơ:

– Xóm Ngự viên ở phía nào nhỉ. Hôm nào vào đấy xem cho biết.

Vũ Trọng Can bổng nhảy người lên

-Ngự viên, Ngự viên–đúng rồi. Ừ nhỉ, sao mình quên bẵng đi.

Rồi đột ngột Can đứng lên:

– Mình với Nguyễn Bính sẽ vào đó, có một cô gái lai Pháp, mồ côi từ nhỏ. Hiện bán chè rao nuôi mẹ. Nhất định sẽ thuyết phục được. Cô ta sẽ là nhân vật biểu tượng xứng đáng cho cái đẹp trong vở kịch.

Rồi hai người lội bộ ra đi. Mấy giờ sau tin về, phấn khổi, cô gái rất đẹp, không đề ra điều kiện khó khăn nào, duy có một điểm làm cho tôi ngẩn ngơ giây lát, là cô ta mù chữ. Sau việc báo tin đến việc bàn biện pháp khắc phục. Đành sử dụng sắc đẹp của cô gái thôi, và sắc đẹp cần gì phải thốt lên lời mới gây được đắm say, mới quyến rũ. Một vẻ buồn của Tây Thi xưa cũng đủ khiến nghiêng thành, nghiêng nước. Chính vì vậy mà vai người đẹp trong vở kịch không thốt một lời nào. Trong các luận bàn, tội là người hăng say nhất, vì mình thế thôi thúc: đã đến Huế rồi, phải tạo điều kiện để ở cùng Huế cho đã cơn khát Huế, dù chỉ là bằng những ngụm nước vốc lên từ mặt sông Hương. Không có sự phân công, không có cuộc tranh phần, mặc nhiên tôi thành người chấp bút.

Chẳng cần phải tra cứu, đối chiếu gì. Nó như được sắp xếp lớp lang sẵn ở một bản nháp, giờ chỉ có việc chép lại, nên vở kịch hoàn thành vào cuối buổi sáng hôm sau. Buổi chiều đưa bản thảo ra duyệt, bổ sung và có gì cần thì tập thể chỉnh lý. Vừa mới bắt đầu đã thấy Chu Ngọc bước vào. Ngọc là người am hiểu nhiều về sân khấu. Anh vốn là đạo diễn và từng làm trưởng Ban những ban kịch nói thỉnh thoảng xuất hiện vào mùa kịch ở Hà Nội, vở kịch được thông qua nhanh. Chỉ có đôi lúc nảy ra vài cuộc cãi cọ giữa tôi và Nguyễn Bính về phong cách và ngôn ngữ. Bính chê văn ngôn quá Tây bắt chữa lại mấy chỗ. Tôi tự ái, bỏ đi cùng Chu Ngọc ra hóng mát cầu Tràng Tiền. Chiều về, không có bàn cãi gì về vở kịch nữa. Vũ Trọng Can bàn với tôi là rủ đi ngay đến Hà Xuân Tế và được hẹn sáng mai sẽ trả lời, vì còn cần đọc.

– Vì có Hoàng Đế dự xem. Nếu vở kịch thêm một vài đoạn có tính cách tôn vinh thì nhất định sẽ nhiều đặc ân cho các hoạt động sau này. Các anh mang và bổ sung cho khéo léo một chút. Tôi biết đây là một xảo thuật trong nghề làm quan, vị thư ký riêng của Hoàng hậu này ứng dụng nhạy bén cho tiền đồ. Thì cứ để anh ta như nguyện, có gì xúc phạm đến nghệ thuật, đến mình đâu mà chối từ. Tôi liền vui vẻ nhận lời, nhưng không đợi đến lúc về nhà, tới ngay bàn làm việc, loáy hoáy một thôi, thêm được chục câu thơ mang tính cách tôn xưng chung chung, hướng về một ông minh quân đó.

Hai hôm sau thì giữa lòng Huế xôn xao lên vì những áp phích, những tờ quảng cáo cho vở kịch, dán ở các công trình công cộng và các mặt tường nhà thoáng rộng. Nhất là ở các ngã tư đại lộ, những biểu ngữ bằng nguyên súc vải trắng, được dán lên những hàng chữ đỏ viết bằng tiếng Pháp:

                Bóng giai nhân

Bi tráng kịch bằng thơ của Yến Lan và Nguyễn Bính

Sẽ trình diễn ở Accueil vào các đêm…

Dưới quyền chủ tọa của Hoàng đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu.

Mặc dù đã trải qua những cơn hồi hộp vì hạnh ngộ ban đầu khi được nêu dưới những bài thơ đăng trên báo chí, tôi vẫn cảm thấy phấn khổi đến dạt dào. Riêng Nguyễn Bính thì anh lại hồ hởi với những ý nghĩ cuồng nhiệt trong vẻ cợt đùa nói tếu:

– Vua ông đi xem, vua bà đi xem, thế thì tam cung lục viện cũng đi xem. Rồi sáu bộ cũng tháp tùng. Chà, chà, cả Huế đều đi xem tất. Thế thì tiền vé để đâu cho hết. Chuyến này phải thả lên sông Hương sáu con đò két lại làm một khách sạn nổi… Ba con làm phòng ngủ, ba con chở theo bàn đèn, bia, rượu, nem, chả, chè, cháo… tha hồ mà lạc hưởng

Đấy là chuyện đùa vui, không có sự bàn cãi.

Trong mấy ngày tập luyện, tôi vẫn đến nhà Lành đạo diễn cho đến thuần thục, dù sao tôi vẫn tiếc, giá như Lành biết chữ, thì nhất định tôi sẽ cố gắng viết lại màn kịch thành chương tuyệt tác, điều ấy đòi hỏi ở tôi một cố gắng vượt bậc, nhưng xứng đáng với Huế, với một nhan sắc yêu kiều.

Cuộc biểu diễn đêm đầu–và cũng là đêm kết thúc không thu được kết quả như lòng tôi mong muốn. Diễn xuất có vẻ vội, không đạt tới mức chứa và tầm nâng của lời thơ. Về mặt tổ chức, Hội A.A.A bỏ rơi diễn viên trong cái thế chơi vơi của một khoang đồ thủng đáy. Không có một bàn tay tháo vát xếp đặt, bỏ sân khấu trống trơ giữa bốn cánh gà và lá màn hậu, mặc dù chúng tôi yêu cầu trang trí hết sức giản đơn theo lối tượng trưng. Cả một chiếc hòm to đựng các đồ lễ, vũ khí, mũ giày mượn từ trong nội cung ra, cũng không đáp ứng được yêu cầu. May mà bọn diễn viên chúng tôi không hiện ra sân khấu với những trang phục quá cỡ, tả tơi, meo mốc, nhờ biết đề phòng đã chạy trước từ sáng hôm ấy, đến nhà Nguyễn Tiến Lãng, mượn các Kimônô anh mang từ Nhật Bản về, nhân lúc tháp tùng theo phái đoàn ngoại giao của tên toàn quyền khâm sai Yue Chatel. Nhất là khoảng tiền thu: một hội trường có sức chứa gần ba nghìn người đã chật ních – Giá vé thấp nhất, năm hào, mặc dù đêm ấy Bảo Đại không đến xem vì có sự kiện đột xuất, chuẩn bị Bắc tuần, cả Nam Phương, cả viên Khâm sứ Pháp đều theo, nhưng cũng gởi đến gọi là “Ban tứ” cho đêm diễn, mỗi vị 15 đồng, cộng với số tiền quảng cáo cho cuộc xổ số Đông pháp cũng chừng 15 đồng, tiền vé 20 đồng.

Sau này người ta đổ cho việc lạm phát giấy mời. Chúng tôi vở mộng–nhất là Nguyễn Bính với viễn cảnh sáu con đò… Nhưng có một điều an ủi mà cho đến bây giờ, mỗi lần nhắc đế, tôi vẫn không quên được từng chi tiết, dù là thoáng qua: Giữa lúc màn kịch cuối cùng hạ nhanh, khán giả sắp lưng vào phía sân khấu chen nhau cuồn cuộn như một dòng nước thoát ra phía cửa, thì các anh Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh và vài bạn nữa vượt lên sân khấu, đến cầm tay siết chặt từng người. Anh Lư nói bằng tiến Pháp “Tuyệt, tuyệt, tuyệt vời” không biết anh khen ngợi một pha nào trong lúc diễn xuất, hay khen vở kịch, về tình huống đầy kich tính, về bút pháp bay bướm văn chương, mà lúc ấy đang là những năm vừa mới thoát ra sự phôi thai của nền thơ mới Việt Nam.

Khi rạp đã trở lại vắng vẻ “Bóng giai nhân” đã biến đi lúc nào không hay, Nguyễn Bính cũng đi rồi. Tôi và Vũ Trọng Can thu nhặt hết các dụng cụ, đồ trang phục cho vào chiếc hòm gỗ to, và..

Mỗi người nâng lên một quai hòm, hai chúng tôi ì ạch kéo lê bốn cẳng chân rời rã, mỏi mệt, dầm dưới cơn mưa đêm cuối hạ của Huế, lần bước cho đến khuya mới đến cửa nhà trọ. Ông chủ ra mở cửa, thò tay nâng cho chiếc quan tôi đang xách, như đã cảm thông tất cả nỗi niềm đang đè nặng lòng tôi.

Sáng hôm sau, tôi ra An Cựu tìm gặp lại người bạn học cũ ở Bình Định, tình cờ gặp nhau giữa đường hôm nọ, tôi hỏi vay hai đồng bạc – số tiền vừa đủ cho xuất vé và đĩa cơm trong chuyến tàu suốt vào Nam, sẽ trả tôi về với cái không khí cô liêu cố hữu từ xưa, ngày ngày nghe vẳng lên một câu hát ru con, không biết do tình huống nào mà có, giờ lại nhằm đúng vào tâm trạng của tôi:

Chiều chiều mây kéo về kinh

Ếch kêu giếng loạn thảm tình đôi ta.


Read Full Post »

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

                 “Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt”

                                                                 (Thơ Nguyễn Khuyến)

(more…)

Read Full Post »

(baobinhdinh.com)   Thi Lại hay Thị Nại trên vùng biển Quy Nhơn xuất hiện từ thế kỷ X đến XV. Người Champa đã hình thành nên một thương cảng khá sầm uất ở vùng này. Năm 1987, một cuộc khảo sát tại vùng ngoại vi Quy Nhơn đã tìm thấy dấu tích thành Thi Nại cổ – một tòa thành trong lịch sử có vai trò to lớn trong việc giao thương giữa Champa với bên ngoài. Thành Thị Nại cổ đóng vai trò vừa là quân cảng (phòng thủ về quân sự) vừa là thương cảng (trao đổi thương mại). Khi vai trò quân cảng không còn nữa, người Champa đã xây dựng thương cảng Thi Nại khá quy mô. Tàu buôn các nước trong khu vực đã đến đây buôn bán, trao đổi hàng hóa với Champa; hàng hóa Champa cũng từ đây xuất đi các nước trong khu vực. Tư liệu về những con tàu đắm tìm thấy tại các vùng biển Pandanan, Bornéo ở Philippines đã chứng minh điều đó. Đã trên 1.000 năm nhưng dấu vết về thương cảng cổ được ghi chép trong lịch sử vẫn chưa tìm thấy.

Trên vùng biển Nhơn Hải thuộc TP Quy Nhơn vẫn còn một bờ thành nằm chìm trong lòng biển. Bờ thành chỉ có thể thấy được khi thủy triều xuống. Bề mặt bờ thành phẳng, nhưng độ cao của thành chưa xác định được. Người dân cho biết, bờ thành này đặc nguyên một khối, không xây bằng vật liệu đá hoặc gạch truyền thống mà bằng hồ vữa. Điều chưa thể lý giải là làm thế nào trong môi trường nước như vậy, người xưa lại đắp được bờ thành này. Hiện bờ thành vẫn còn khá nguyên vẹn và chắc chắn. Đây thật là một kỳ tích vì chưa tìm thấy ở đâu dọc dải miền Trung (vùng đất cư trú của người Champa xưa) có loại hình này.

Bờ thành nối hai bờ vách núi, chính giữa chừa khoảng trống cho thuyền vào – ra. Tuy chưa trực tiếp khảo sát nhưng theo chúng tôi, xét về vị trí thì khu vực này không có một yếu tố thuận lợi nào cho một cảng vì sau lưng là núi dựng đứng, vịnh thì quá khiêm tốn, thuyền vào ra không những quá hẹp mà cũng không thuận lợi. Hay đây là một con đường nối liền giữa hai vách núi, là công trình phòng thủ về quân sự? Nhưng phòng thủ sao lại nằm dưới nước? Thật chưa có lời giải đáp thỏa đáng cho các nghi vấn đưa ra. Tuy nhiên, dẫu sao đi nữa, đây là một di tích rất lạ của người Champa.

Cùng với hệ thống tường thành bằng đá chạy dài trên đỉnh núi Phương Mai, dấu tích lạ bờ tường thành vịnh Nhơn Hải là một điểm cần chú ý khi đến thăm quan.

ĐINH BÁ HÒA

Read Full Post »

Bùi Đăng Khoa

Tôi sợ nhất là viết thư, mà đã viết rồi thì không bao giờ đọc trở lại cả. Ý tưởng vừa viết ra đó, chỉ vài phút sau, thấy sao mà “ngố” quá đổi. Nếu “sơn sửa” lại, đọc cho xuôi tai thì cả tuần sau, thư vẫn chưa chịu xuất gia đến thùng thư. Bởi vậy, nên thư vừa viết xong, vội vàng dán lại, gửi đi ngay. Tú tài I học ban B, tú tài hai ban A. Sau “hai Tú” lại “phải” theo học khoa học kỹ thuật. Văn không có, chương lại quên, chữ nghĩa lỏng bỏng…Tôi phục lăn mấy ông cầm bút, chuyện có it, lại xít cho nhiều. Tài thật! Ngồi chưa nóng đít, tôi phải đứng dậy đi cái đã. Từ nhỏ, tôi thích nói chuyện hơn viết. Tháng nào cũng bị phê trong học bạ: “Hay nói chuyện trong lớp”. Đâu phải chỉ chấp nhận lời phê là yên thân đâu, bị ngồi viết phạt dài dài từ 200 đến 300 lần câu: “Tôi không được nói chuyện trong lớp”, sau lúc tan trường hay cà ngày thứ Bảy, Chủ Nhật, trong lúc ngoài kia trời xanh, mây trắng, tiếng chim non chím chíp đợi chờ hay rạp Tân châu đang chiếu phim mới,mà mình phải ngồi đây chịu trận. “Em tập làm văn” bắt đầu từ lớp Ba, lớp Nhì. Nhập đề, thân bài, kết luận. Tả thú vật thì nhập đề rằng: Nhà em có nuôi một con mèo, lông nó vàng…Tả trâu, tả chó, thì cứ theo đó mà..nhập. Đến lúc tả người, vẫn áp dụng cái câu cố hữu đó, ai ngờ lại bị ăn hột vịt lộn (00/20). “Nhà em có nuôi một ông nội, râu ông dài…” Kể chuyện, thì chỉ có năm, bảy người nghe, viết thì có nhiều người cùng nghe, (đọc), vậy thì phải viết, nghĩ sao viết vậy, viết bằng con tim, viết bằng cảm nhận của tấm lòng. Tất cả chuyện cổ tích đều bắt đầu bằng chữ Ngày xưa… Câu chuyện tôi viết đây cũng xưa, viết để tặng những người xưa, để cùng tôi về  lại Quinhơn trong tâm tưởng.

(more…)

Read Full Post »

Hình như những người bạn thân thiết của xunau.org luôn nghĩ ra được những cái cớ để gặp nhau .Ra mắt trang web …nhậu ,một tháng thành lập….nhậu.10.000 phản hồi….nhậu.  Rồi giờ là 200.000 lượt truy cập cũng.. nhậu nốt . Thật lòng mà nói xunau.org hoàn toàn không quan tâm đến chuyện chạy theo thành tích, hình thức phù phiếm. Xứ Nẫu chỉ quan tâm đến một điều duy nhất : tình bạn.tình đồng hương của những người con xứ nẫu như slogan của xunau.org :Nơi gặp gở của những người yêu xứ Nẫu” và làm sao duy trì được chút ấm nồng ấy

200.000 vậy là có sự kiện để làm vài chai..hê hê!

Chị Kim Loan,Kim Chi luôn có mặt trên từng cây số với xunau.org,dù chỉ cụng ly bằng nước suối Aquafina

Ba chàng ngự lâm …tửu lượng cao nhất toàn sân. Nhưng nhìn kỹ thì Hà Văn Hoàng …ly không!

Ngô Thành Hùng và Đoàn Anh Nhơn , hai gương mặt mới toanh của sân chơi

.

.Phan Minh Chính,Lê Đức Vũ ,Vũ Thế Thành và Kim Loan

Vũ Thế Thành nổi tiếng với câu hỏi “Tâu hoàng thượng, khi nào ngài tái sinh?”.trong bài Nẫu cả người…(Nẫu)

.Lê Đức Vinh,DS Trương Tất Thọ và Nam Thi

.Hà Thúc Hùng từ Đà Lạt về,Sáu Nẫu và Mai Thanh

Bốn khuôn mặt đang… ngà ngà

.

.Vinh Rùa và Nam Thi

Ngô Thành Hùng và Đoàn Anh Nhơn

.Hà Thúc Hùng bao giờ cũng là ông già Khốt ta bít ! Hồn nhiên tươi trẻ và nhiệt tình

.Đã tìm được tiếng nói tri âm? Không, có lẽ  dược sĩ chuyên về nam khoa đang tư vấn?

.Mới có mấy chai mà HTHùng đã …phê

.Không biết đang bàn chuyện bí mật gì ?

À thì ra họ đang rủ nhau đi hát karaoke

.Ba khuôn mặt sáng giá nhất trên sàn là Kim Chi,Hà Thúc Hùng ..

Và Hà Văn Hoàng phiêu linh trong bài Hạ Trắng

.Anh Trương Tất Thọ cũng là một giọng hát có cỡ của xunau.org

.Rùa cha Phan Minh Chính đang nhảy xì lô mông cổ…

.Ở  một góc khuất khác ống kính của phóng viên bắt gặp cảnh phụ tử tình thâm của hai cha con nhà Rùa

.Một ngày của xunau.org kết thúc bằng bửa tiệc bánh bèo chén đặt sệt chất  Bình Địng

.Mọi người thưởng thức say mê đặc sản quê nhà

Hai bà chị trước chồng…chiến tích. Ôi!

. Ngày vui nào cũng tàn….Còn cái cớ nào để những người xứ Nẫu chúng ta gặp nhau không?

Sáu Nẫu

Read Full Post »

Lê Xuân Tiến

Tháng chín, khi mưa gió bắt đầu dầm dề ở kinh thành Phú Xuân, thanh trà cũng chín tới. Những trái thanh trà màu xanh như ngọc, bóng lẫy như đôi vú con gái dậy thì. Bên trong là những tép thanh trà mọng nước ngọt và mát.

Tối hôm nay, dinh Bùi thái sư mở tiệc mừng lứa thanh trà đầu mùa. Bàn tiệc đặt trước hiên dinh, dưới những đèn lồng vàng đỏ tỏa xuống thứ ánh sáng lung linh ấm cúng. Mặc cho mưa lai rai ngoài vườn, trong bàn tiệc vẫn chuốc rượu mê say. Chuyện thanh trà chỉ là cái cớ. Trong dinh Thái sư vẫn ba ngày một tiệc nhỏ, năm ngày một tiệc lớn, thôi đủ mọi lý do: khi hoa nở, lúc trăng lên, lúc mừng toàn chuyện vặt. Cái chính là trong các bữa tiệc này, Bùi thái sư và các quan đồng rơ gặp nhau để tính toán chuyện triều đình, chuyện vây cánh.

Mở đầu tiệc rượu bao giờ cũng là chuyện đọc thơ, bình thơ và họa thơ. Tội nghiệp cho văn học. Lẽ ra nó có chức năng trung thực và cao thượng thì trong dinh Thái sư nó chỉ phục vụ cho những lời nịnh hót. Rượu đi theo thơ. Mỗi lời nịnh là tiêu đi một chén rượu. Mỗi khi Bùi thái sư gật gù, vuốt râu thì mặt người nào cũng sáng lên. Lộc phúc mỗi người sẽ tới từ cái vuốt râu ấy.

Ngắm nghía từng người Bùi thái sư chợt hỏi:

– Tình hình bọn Dũng, Diệu hiện nay ra sao?

Chưởng cơ Trần Đại Thiên – người đang cai quản mấy vạn quân bảo vệ Phú Xuân, đặt chén rượu xuống, vòng tay thưa gởi:

– Võ Văn Dũng trấn thủ Bắc thành, tình hình ngoài ấy rất phức tạp, ông ta trăm công nghìn việc, thì giờ đâu mà nghĩ đến việc triều đình. Còn Trần Quang Diệu đóng quân Diên Khánh, đang lo tối mắt về chuyện Nguyễn Ánh cứ đem quân ra quấy nhiễu, hơi sức đâu mà nghĩ đến chuyện thái sư. Ngoài biên ải không có chuyện gì đáng lo. Chỉ có việc trong triều người đáng lo là Lê Văn Hưng.

Thấy Thiên nhận định đúng ý mình, Bùi thái sư rót ra một chén rượu thưởng. Rượu hôm nay, nồng đậm quá nhưng nghĩ đến Hưng, Bùi thái sư cảm thấy đắng. Thái úy Phạm Công Hưng và đại tư mã Ngô Văn Sở là hai tướng tài, song tính tình nhu hòa, xử sự theo hướng yên dân nên Bùi thái sư rất dễ chiêu dụ. Chỉ cần chức tước, bổng lộc. Còn Lê Văn Hưng xuất thân là đầu đảng trộm cướp, lại ít học nên tính tình ngay thẳng, cương trực. Không thể lấy vàng bạc, nhà cửa mua chuộc. Dù được cấp cho ngôi nhà ngói ba gian ven bờ sông Hương, Hưng vẫn sống rất giản dị. Nhà không có rèm che trướng phủ, tối không có đèn lồng, không có con hát. Hưng vẫn mê ba điệu hát bài chòi dân dã như ở quê nhưng kinh thành làm gì có. Thế là khác với các dinh quan khác, Hưng dẹp tuốt.

Hưng là người “không có tóc”. Thân phận là đứa bé mồ côi, lăn lộn ngoài giang hồ rất sớm. Bà con gần rất ít, nên Bùi Thái sư muốn ban ơn cất nhắc ban phẩm hàm cho họ hàng cũng không tìm ra người. Muốn đưa Hưng lên chức, Hưng nhún nhường từ chối bảo thân phận mình được như vầy là phúc rồi. Bổng lộc, danh lợi không màng thì Bùi thái sư biết lấy gì mồi, nếu không có mồi, làm sao câu được cá. Cả vài năm, Bùi thái sư trăn trở vẫn không tìm ra cách để chiêu dụ Lê Văn Hưng.

Nhưng cách đây hai tháng, Bùi thái sư đã tìm ra ánh sáng cuối đường hầm. Người đáng được thưởng khi đưa ra sáng kiến chính là thái giám Lý Tựu. Nguyên Tựu là người hầu hạ cho Bùi thái hậu. Tựu quê huyện Phong Điền, Phú Xuân, có dáng đi ẻo lả như đàn bà. Viên thái giám này có đôi mắt mỏng lét, nói chuyện dẻo quẹo, cặp lồng mày tỉa tót hình lá liễu như lông mày phụ nữ. Cặp mắt lươn của y luôn luôn liếc ngang liếc dọc. Lúc Bùi Đắc Tuyên còn là thị lang bộ lễ, Quang Toản chỉ mới lên mười, Lý Tựu đã bày kế cho Tuyên với danh nghĩa cậu ruột thường lân la vào cung bày trò vui cho Quang Toản. Nhờ đấy, khi lên ngôi vua Quang Toản đã cất nhắc vượt bậc Đắc Tuyên lên làm thái sư. Nhờ thế, Lý Tựu cũng được nhờ.

Lý Tựu cho Bùi thái sư biết xưa kia, trước khi đi ăn cướp, Lê Văn Hưng có quen với cô gái tên là Ngọc Bích, hai người đã từng thề non hẹn biển. Hưng đã trao nhẫn cho Bích và hẹn năm năm sau sẽ về cưới Bích. Hưng đi ăn cướp rồi sau đó theo Tây Sơn. Bích ở nhà chờ đợi mòn mỏi. Đã qua năm năm mà chưa thấy Hưng về, Bích buồn tủi cho rằng Hưng đã phụ tình nên nhịn ăn mà chết. Nghe được tin Bích chết, Hưng rất hối hận và đau khổ. Dù đi đông, đi tây, đánh nam, dẹp bắc nhưng Hưng vẫn không nguôi nhớ đến Bích. Hôm ở Diên Khánh, Hưng có tổ chức cầu cơ. Nghe nói Bích có hiện về báo cho Hưng biết 13 năm sau, cả hai sẽ hội ngộ. Chuyện ma quỉ có tin được không, hạ hồi phân giải. Nhưng năm nay đúng là 13 năm từ lúc Hưng cầu cơ. Đây là cơ hội cho chúng ta.

– Nghe ông nói, tôi không biết cơ hội gì. Chẳng lẽ chúng ta lại nắn lên một Ngọc Bích thứ hai?

– Một vạn cô gái cũng có hai người giống nhau. Cố công tìm, ắt là có. Chừng đó chúng ta trang điểm lại rồi cho diện kiến với Lê Văn Hưng. Ắt hẳn Hưng sẽ cho là hồn Ngọc Bích đầu thai vào cô gái này. Lê Văn Hưng sẽ rất biết ơn lão thái sư. Chừng đó chúng ta muốn sai biểu Hưng cái gì lại không được. Bọn giang hồ mà, chúng trọng tình hơn lí.

Bùi thái sư cười hà hà, vuốt râu:

– Ông quả là cao kiến. Thằng Hưng này rất giỏi võ nghệ. Một mình hắn với cây roi có thể đánh ngã hàng chục người. Nó theo phe ta, thằng nào đụng tới ta. Hà hà

Nghĩ đến chuyện này, Bùi thái sư chợt nhìn sang Lý Tựu. Gương mặt gã thái giám đỏ lên vì rượu đang vểnh tai chờ thái sư sai bảo.

– Nè ông Tựu, chẳng hay vụ tìm ra cô Ngọc Bích của ông tới đâu rồi?

Gã thái giám cất giọng cười the thé

– Thành công mĩ mãn rồi thái sư ơi. Công lao tôi bỏ ra năm tháng trời tìm từ nam chí bắc không uổng công. Cô này là con gái phú hộ Thâm ở Quảng Nam. Bảo đảm cô ta giống Ngọc Bích như hai giọt nước. Nhìn thấy, thằng Hưng chắc phải mê mẩn.

Bùi thái sư lại vuốt râu:

– Rồi ông sẽ được thưởng. Nghe nói 10 ngày nữa là Lê Văn Hưng giỗ song thân. Ông mau mau đem cô ta lại.

Đến đây, Bùi thái sư lại nâng ly rượu lên mời các quan. Những tiếng khà vang lên như xóa tàn màn mưa ủ dột ngoài trời.

*

Đối với các quan, ngày kị song thân bao giờ cũng tổ chức nổi đình, nổi đám. Trước hết là để khoe của, để rạng rỡ tông môn. Sau đó là để kết giao với giới quyền lực hòng có lúc nhờ đỡ. Song ngày giỗ cha mẹ của Lê Văn Hưng ngay tại kinh thành Phú Xuân lại rất đơn giản. Chỉ một vài mâm cúng và dăm ba bạn thân đồng triều.

Giữa lúc tiệc mới sắp sửa, gia nhân vào báo “có thái sư tới”. Hưng phải đích thân ra cửa nghênh tiếp và tự hỏi: mình không mời, ông ta tới phải có chuyện.

Đi theo Bùi thái sư, lúc nào cũng có Lý thái giám và Trần chưởng cơ. Hưng vòng tay tạ tội:

– Dạ, hôm nay là ngày kị song thân. Hiềm ở chỗ tổ chức đơn giản quá, không dám mời thái sư

Bùi thái sư cười, xua tay

– Không cần lễ nghĩa gì. Lão nghe đề đốc có ngày trả hiếu nên cũng đến đây thắp mấy nén nhang bày tỏ lòng kính trọng.

Lê Văn Hưng thét gia nhân bày tiệc rượu. Ngồi chưa nóng đít, Bùi thái sư nói:

– Hôm nay, lão muốn tặng đề đốc một món quà. Chỉ một cái búng tay của thái sư, ngoài cửa hai tỳ nữ hộ tống một giai nhân mặc áo xanh bước vào. Một mùi hương thoang thoảng. Cô gái có gương mặt bầu bĩnh, mái tóc đen tuyền xõa ngang vai, đôi mắt to, cái miệng nhỏ chúm chím. Lê Văn Hưng nhìn cô gái rồi thảng thốt

– Ngọc Bích, có phải em không?

Phải rồi khuôn mặt này chính là của Ngọc Bích. Giống hệt nhau như hai giọt nước

Thuở hai đứa cùng đi ở cho hai nhà cùng làng chỉ cách nhau một con sông. Sáng nào Hưng dắt bò qua sông để ăn cỏ bờ bên kia cũng gặp cô gái ngồi giặt quần áo ở bờ đá. Qua lại, lần nào cũng gặp nên Hưng buông lời làm quen. Ngọc Bích không trả lời chỉ cười. Một nụ cười có duyên, làm Hưng mê mẩn. Rồi một hôm, trong làng có hát bội, Hưng ngỏ lời mời Bích tối nay cùng đi xem. Ngọc Bích từ chối “Em không quen đến chỗ đông người”. Không tới chỗ đông người lần sau, Hưng hẹn Bích ở bãi dài. Một bãi cỏ xanh ngát với những cây phi lao cao vút. Nhưng Hưng tới chờ một đêm trăng, buồn ngủ muốn chết, cho mãi đến gần khuya, mặc cho muỗi cắn, vẫn không thấy bóng dáng Bích. Sáng hôm sau, vừa thấy Bích ở bến sông, Hưng vội lên tiếng trách, Bích lại khóc thút thít: “Em muốn ra lắm nhưng chủ không cho”. Hưng lại lên tiếng xin lỗi, dỗ dành.

Về sau, Hưng thấy thương Bích như thương một viên ngọc. Rất mỏng manh, dễ vỡ và dễ mất. Bích là một cô bé hay hờn giận và mau nước mắt. Nói mà không giữ lời. Giận. Hẹn đến trễ. Giận. Nói chuyện với người khác phái. Giận. Đùa quá trớn. Cũng giận. Khoảng thời gian mà Hưng kết thân với Bích bao nhiêu hờn giận và bấy nhiêu nước mắt.

Tính Hưng nóng nảy và cộc cằn, anh như lửa cháy còn Bích thì ủy mị yếu đuối, Bích như giòng nước mát. Bích làm cho Hưng mát mẻ và cân bằng. Giờ phút ngồi bên Bích, Hưng cảm thấy hạnh phúc. Nhưng Bích luôn luôn nghi ngờ. Hưng mới rụt rè nắm tay Bích, cô vội vàng rụt lại, hỏi với giọng gay gắt: “Anh đã nắm tay bao nhiêu cô gái rồi”. Hưng lúng túng gãi đầu “đâu có!”. Hưng nhận một cái nhéo vào bắp đùi: “Mới ngồi bên con gái, anh đã vội nắm tay. Anh kinh nghiệm trai gái lắm phải không?”. Hưng ngẩn ngơ không biết trả lời sao. Anh nào biết cô gái nào ngoài Bích. Anh chỉ yêu có mình Bích.

Cuộc cầu cơ 13 năm trước ở Diên Khánh đã ứng nghiệm. Bích đã hứa và bây giờ Bích đã y hẹn. Hưng nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay phải của cô gái. Anh thấy vết hằn của chiếc nhẫn trên ngón tay út. Đúng là trước khi theo Tây Sơn, Hưng có trao cho Bích chiếc nhẫn một chỉ coi như là lễ đính hôn. Bích đã đeo nó vào ngón út chứ không phải ngón kế út. Anh hỏi: “vì sao?, Bích trả lời: “Giàu út ăn, khó út chịu”. Hưng hẹn năm năm sau sẽ về cưới Bích. Nhưng phong trào Tây Sơn như vũ bão. Hưng đã theo Nguyễn Huệ đánh nam dẹp bắc quên cả thời gian. Anh không còn nhớ ngày trở về. Thế rồi ở nhà, Bích đã quyết định xa anh mãi mãi.

Nỗi xúc động tràn ngập trong tâm hồn viên võ tướng. Một viên dũng tướng võ nghệ cao cường của Tây Sơn bỗng rơi nước mắt. Tất cả mọi người kể cả Bùi thái sư đều mờ nhạt trước mắt Hưng. Anh quì xuống trước mặt cô gái. Cô gái đâm hoảng hốt. Còn Bùi thái sư nhoẻn miệng cười mãn nguyện “cá đã cắn câu”. Hưng vừa khóc vừa nói:

– Ngọc Bích, hãy tha tội cho anh.

Cô gái giống Ngọc Bích như tạc không hề biết Ngọc Bích là ai. Cô tên là Thiên Phúc là đứa con gái độc nhất của viên phú hộ xứ Quảng. Đúng như tên gọi, đứa con gái như lộc trời ban xuống cho gia đình lão phú hộ hiếm muộn. Thời nhà Nguyễn, lão còn ruộng đất nhưng Tây Sơn tới đã chuyển hầu hết của lão cho dân nghèo. Cuộc sống của lão trở nên đạm bạc hẩm hiu nếu không nhờ con gái lão mà Bùi thái sư đã ban cho tiền bạc và phẩm tước. Về tới dinh thái sư, Thiên Phúc đã trải qua thời gian học đi đứng, ăn nói cho đúng với hình ảnh Ngọc Bích. Nhưng trước thái độ quá ủy mị của Hưng, Phúc không biết làm sao, cứ nhìn Bùi thái sư cầu cứu. Bùi thái sư nhìn cô nháy mắt, gật đầu.

Bối rối trong giây lát, Phúc nói bằng một giọng nhỏ nhẹ (đã được tập luyện)

– Em đã đến đây rồi

Hưng ngẩng đầu lên

– Nghĩa là em tha thứ

Thiên Phúc khe khẽ gật đầu rồi hai tay nâng Hưng dậy. Hưng đứng lên khóe mắt vẫn còn mấy giọt nước mắt như gương đã vỡ lại lành.

Hai người đứng trước bàn thờ quì lạy song thân. Thế là Thiên Phúc đã về với Lê Văn Hưng.

Lần ân ái đầu tiên với Thiên Phúc đã đưa Văn Hưng lên tuyệt đỉnh cảm xúc. Đã bao lần hẹn hò với Ngọc Bích dù ở những nơi thanh vắng, chưa bao giờ Hưng ôm trọn người yêu trong vòng tay. Vì Bích luôn luôn giữ một khoảng cách trước anh. Cô luôn luôn nói “hãy chờ đợi cho đến ngày ấy”. Nhưng gần Bích, Hưng luôn bị quyến rũ bởi mùi hương con gái trinh nguyên, mùi bồ kết trên mái tóc. Xa Bích làm cho Hưng nhớ quay quắt. Nhưng chiến tranh là sống hay chết, mình không giết, kẻ địch sẽ giết mình. Vì thế nhiều lúc Hưng không còn nhớ đến Bích. Khi nhớ thì “gương đã vỡ” Hưng ôm hận và đáng tiếc. Bây giờ ôm Thiên Phúc, anh cũng bị cái gạt tay chiếu lệ. Rồi Phúc lăn vào anh một cách dữ dội. Nằm bên Phúc mà anh tưởng như nằm bên Bích. Bao nhiêu nhớ thương đã được đền đáp. Hưng ngấu nghiến, say mê như chưa từng có.

Hôm sau, thức dậy Hưng bàng hoàng. Bên anh là một mùi hương khác lạ, không phải là mùi bồ kết dân dã, thôn quê trước đây. Nhìn kĩ người con gái anh vẫn thấy được Bích. Dù là ai đi nữa, Bích đã đến đúng hẹn rồi.

Hôm sau, Hưng mang lễ vật đến phủ thái sư

Bùi thái sư tiếp anh với nụ cười đồng cảm:

– Tôi mừng cho ông tìm được người yêu

– Dạ đêm qua tôi như rồng gặp mây nhưng sáng ra thì áy náy không biết lấy gì trả ơn cho thái sư

Bùi thái sư lại vuốt chòm râu, nhẹ nhàng bảo:

– Ơn nghĩa gì đâu, chỉ cần đề đốc cư xử đúng mực là được

– Thế nghĩa là sao? Thái sư chỉ bảo thêm

– Trong triều có kẻ không ưa lão, nên nói bậy nói bạ, họ có lôi kéo ông, ông cứ giữ mực trung dung như xưa nay: trung với vua, hiếu với nước là được.

– Gì chứ chuyện đó, dễ quá. Tôi xin tuân lệnh thái sư

Bùi thái sư cười rung rung cả chòm râu. Như vậy mục đích ông đặt ra đã đạt rồi

Lúc bấy giờ, trong triều đình phân hóa làm hai phe. Một phe ra sức nịnh nọt Bùi thái sư. Phe này thuê bọn làm thơ, ngày đêm làm ra những bài thơ ca ngợi Bùi Đắc Tuyên như một ngôi sao sáng vì dân vì nước. Bọn làm thơ thì tự cao tự đắc coi thiên hạ như cỏ rác mà thực chất chỉ là bọn giòi bọ bám vào đống phân. Phe thứ hai rất bất bình trước cách cư xử của Tuyên nhưng phần lớn im lặng, chỉ có một số người phản kháng thì hoặc là cách chức, hoặc bị lưu đày. Những trung thần có tiếng nói ngược lại thì hôm sau nhận chiếu chỉ của Quang Toản nhẹ thì lưu đày, nặng thì cách chức.

Một hôm Trần Long Vĩ đến dinh đề đốc với bộ mặt căng thẳng. Y lấm lét nhìn chung quanh rồi hỏi nhỏ Hưng:

– Ông là tướng Tây Sơn, theo tiên đế chinh chiến khắp nơi mà thấy cảnh chướng tai, gai mắt ở triều đình mà ông cứ ngồi yên là sao?

Lê Văn Hưng nhìn trừng trừng vào Trần Long Vĩ:

– Tới nhà tôi chơi, đừng bàn chuyện triều đình. Tôi không muốn nghe đâu

Trần Long Vĩ ngồi lại nói mấy câu nửa chừng thấy Hưng bịt tai, bẽn lẽn cáo lui như con chó cụp đuôi.

Hôm khác, vị quan đồng triều là Đình Sĩ An hớt hải chạy tới gặp Hưng, khuôn mặt uất ức

– Tôi có thằng cháu ở quê lên Phú Xuân chơi. Mải mê ngắm cảnh nhà phố nên không nghe tiếng ngựa, tiếng người thét tránh đường. Lúc đó quan chưởng cơ đang đi tuần. Vậy mà thằng lính đâm cháu tôi lòi ruột. Tôi tâu với quan thái sư xử tội kẻ giết người mà quan vẫn giả lơ. Biết ông có vai vế trong triều, ông nói giùm với thái sư một tiếng.

Lê Văn Hưng mặt lạnh như đồng, thản nhiên nói:

– Việc đó, xin ông nhờ người khác

Sĩ An nhìn vào mặt Hưng như nhìn con vật lạ

– Thôi rồi, người cương trực như ông mà đối xử như vậy thì nhà Tây Sơn suy sụp rồi.

Đình Sĩ An vừa bưng mặt vừa chạy ra khỏi nhà.

Không biết vì sao, tin tức ở đây lọt vào tai Bùi thái sư. Hôm sau, có chiếu chỉ của vua Cảnh Thịnh cách chức cả hai người.

Thường ngày Lê Văn Hưng rất quí Võ Văn Cao. Ông ta quê ở Phú Yên làm quốc tử giám trực giảng rồi thăng làm thái tử Trung Doãn thời Quang Trung, Võ Văn Cao đúng là một trí thức thời Tây Sơn. Kiến thức rộng nhưng Văn Cao luôn khiêm tốn, tính tình cương trực. Văn Cao cũng quí Hưng, thích cái tính mộc mạc, chân quê không rườm rà, huê dạng của một vị tướng xuất thân từ giới đạo tặc.

Rồi Văn Cao đến dinh của Hưng. Ông nói đến để chào từ biệt, về quê cư tang mẹ nhưng chắc ông không trở lại triều đình. Ông từ quan để ở nhà cày ruộng. Giọng ông xúc cảm:

– Thấy trái mà sợ, không mở miệng được. Ăn ba đấu gạo của dân chỉ làm bù nhìn thì ngồi ở triều đình để làm gì.

Lần này, Hưng không thể làm mặt lạnh được nữa

– Chuyện gì mà không nói được

Gương mặt Võ Văn Cao đau khổ:

– Chính ông là võ tướng nổi tiếng ngang tàng mà phải ngậm miệng huống chi tôi.

Hưng nghe nói, miệng chỉ ừ hử mà lòng đã bắt đầu xốn xang. Văn Cao về rồi, triều đình này còn ai để bầu bạn. Mấy tháng sau, Hưng nhận được thư của Võ Văn Cao. Mở ra, Hưng nhìn thấy một số bài thơ của Cao chê Tuyên là gian thần. Hưng lật đật đưa cho Thiên Phúc đốt đi. Không biết sao mấy bài thơ lại rơi vào tay của Bùi thái sư. Tuyên rất căm hận Cao, đến khi Cao chết Tuyên còn truyền cho quan huyện địa phương bắt phải mở quan tài ra xem coi thử chết thật hay chết giả.

Nghĩa tử là nghĩa tận, Hưng không chấp nhất hành động thô bỉ với người chết. Ngay khi nghe tin, Hưng đã đến tận dinh của thái sư để phản đối. Giống như chuyện mẹ Mạnh Tử, ba lần bị người vu cáo con mình là kẻ cướp, bà phải bỏ chạy. Niềm tin của Hưng với quan thái sư đã xói mòn. Khi Hưng đến phản đối Bùi thái sư tái mặt nói lại với thuộc hạ “thằng này đã phản chủ”.

Sau mấy tuần thân thiết với Thiên Phúc, Hưng thấy tình cảm không giống như những ngày đầu. Trong đầu Hưng bỗng hiện lên những dấu hỏi nghi ngại. Lại gần Thiên Phúc, Hưng nhận ra đó là Ngọc Bích ở khuôn mặt, ở cơ thể nhưng mùi hương da thịt không phải là nàng. Ngọc Bích là đóa hoa dại của đồng nội, hương thơm của cây cỏ, đồng ruộng. Còn Thiên Phúc là hoa kiểng nhà giàu, hương thơm sực nức nhưng kiêu sa không hợp với một thằng bụi đời như Lê Văn Hưng. Ngọc Bích như đóa hoa luôn khép cánh, còn Thiên Phúc lúc nào cũng mãn khai, không còn gì gợi sự tò mò. Qua đêm tân hôn, Hưng đã nhìn thấy Thiên Phúc tận đáy. Thỏa thê chỉ mang lại cảm giác chán chê.

Về với Hưng, Thiên Phúc đã biến dinh đề đốc trở thành lộng lẫy với rèm che trướng phủ và đèn lồng xanh đỏ vào ban đêm. Vài đêm lại có một đêm ca Huế xôn xao kèn trống. Ngọc Bích đâu có biết đến ca Huế nàng chỉ thích hát bội, bài chòi. Những đêm có hội thường có hát bội là đêm vui của hai đứa. Ngồi nghe ca Huế, Hưng thấy mất hình ảnh Ngọc Bích. Có đêm Hưng rời bỏ cuộc vui nửa chừng, đi tìm bọn vạn đò uống rượu đến sáng mới bò về nhà.

Hưng rất ghét Lý thái giám. Đàn ông không ra đàn ông mà cũng chẳng phải đàn bà. Cặp môi mỏng lét chỉ chuyên nói lời nịnh nọt. Nhưng vài ba đêm, Thiên Phúc lại gặp thái giám. Hình như để xin xỏ gì gì đó cho bà con họ hàng. Thật khác xa với Ngọc Bích, sống khẳng khái ít khi bợ đỡ ai. Từ đó Hưng có cái nhìn khác với Thiên Phúc.

Trước đây trong giấc mộng Ngọc Bích lại hiện về. Bây giờ có Ngọc Bích mới, Hưng không còn thấy nàng nữa. Ngọc Bích ở cạnh Hưng hiện nay chỉ là thể xác là dung mạo. Một cái thể xác rỗng không. Linh hồn của Ngọc Bích không có mặt ở đây. Bây giờ Hưng mới thấy rõ: cái đẹp của thể xác chỉ là nhất thời còn cái đẹp ở linh hồn mới là vĩnh viễn. Phụ nữ đến tuổi già đâu còn nhan sắc, nhưng họ vẫn còn tính cách, linh hồn.

Những ngày trôi qua với Thiên Phúc là những ngày buồn bã. Càng ngày Hưng lại nhìn thấy những cảnh chướng tai gai mắt ở triều đình. Hưng uống rượu nhiều hơn, nhiều lúc say mèm, Hưng lại muốn nhìn Ngọc Bích trong giấc mộng. Nhưng Hưng không thấy gì cả. Hưng muốn trở lại Diên Khánh để tìm lại nàng như 13 năm trước đã gặp trong buổi cầu cơ. Làm võ tướng anh sốt ruột khi thấy bọn ăn không ngồi rồi, suốt ngày chia phe phái chém giết lẫn nhau. Trong khi ngoài mặt trận biết bao nhiêu chiến sĩ Tây Sơn đang đổ máu để bảo vệ cơ đồ.

Lê Văn Hưng đã lên xin thái sư được ra chiến trường. Bọn Lý Tựu, Trần Đại Thiên bàn với Bùi thái sư là không nên “nuôi hổ gầm giường”. Sáng hôm sau có chiếu chỉ của vua Cảnh Thịnh, cấp một vạn quân cho Lê Văn Hưng đi Diên Khánh hỗ trợ cho Trần Quang Diệu.

Lê Văn Hưng điểm binh và tức tốc lên đường. Thiên Phúc hay tin muộn, thảng thốt vì Hưng không một lời từ giã. Nàng xúi gia nhân đóng ngựa vào xe, đuổi theo. Nhưng tới đèo Hải Vân thì mất dấu.

Thiên Phúc dừng ngựa ở đỉnh đèo nhìn bốn bể núi đồi chập chùng, biển trải rộng mênh mông. Bên tai chỉ nghe tiếng chim kêu, tiếng vượn rú. Thiên Phúc bưng mặt, nghẹn ngào cất tiếng khóc.

Lê Xuân Tiến

Read Full Post »

(ĐVO) Ngoài đại bác, quân Tây Sơn còn được trang bị một loại vũ khí đặc biệt là Hỏa hổ – súng tung lửa, biến địch thành cây đuốc sống.

Theo sử sách, Hỏa hổ của quân Tây Sơn là một loại vũ khí hình ống, được mô tả: “Hỏa đồng còn có tên là hỏa hổ, có bầu lớn dài chừng một thước, khi lâm trận phun lửa, trong ống tống nhựa thông ra, trúng phải đâu, lập tức bốc cháy…”.

Loại vũ khí đặc biệt này được trang bị cho tất cả binh chủng lục quân, thủy quân của Tây Sơn.

Vua Quang Trung có tiếng nói như chuông, mắt lập lòe như ánh điện; là người thông minh, giỏi chiến đấu.

Sách Hổ trướng khu cơ ghi: Hỏa hổ chính là hỏa tiễn (vì lửa cháy dữ dội, nên gọi là hỏa hổ). Sử sách thời Nguyễn thường gọi Hỏa hổ là hỏa phún đồng. So sánh cách chế tạo, thì thấy loại vũ khí này được cải tiến từ các hỏa đồng (ống lửa) hạng nhỏ thời Lê sơ. Trong tay nghĩa quân Tây Sơn, nó được dùng một cách tập trung, ồ ạt, tạo thành hỏa lực giáp chiến hết sức lợi hại. Song, điều đáng nói là vua Quang Trung đã chế tạo ra hỏa hổ bằng những ống tre, trở thành một khí cá nhân có tính sát thương lớn. Nếu đem so với những khẩu súng hỏa đồng của quân nhà Trịnh hay súng pháo lớn cần hàng chục người vận chuyển của nhà Minh, nhà Thanh thì sáng tạo này của Quang Trung đã tiến xa cả về công nghệ, lẫn ý nghĩa thực tiễn trong chiến đấu.

Theo sách Những khám phá về hoàng đế Quang Trung, vào năm 1786, khi quân Tây Sơn ra Thăng Long chặn đuổi bọn quan lại nhà Lê, lính Bắc Hà đã tận mắt chứng kiến sức mạnh của Hỏa hổ Tây Sơn: “Các đội quân Trịnh thấy mũi giáo Tây Sơn quá sắc liệu không chống nổi, cố sức lấy súng lớn bắn ra, quân Tây Sơn đều cúi đầu tránh đạn mà nhảy vào. Chúa Trịnh mặc nhung phục, đứng trên voi phất cờ hồng thúc các quân. Quân Tây Sơn lấy ông Hỏa hổ tung ra, quân Trịnh đều tan vỡ, vứt gươm, bỏ giáo, xô nhau chạy trốn thể như núi đổ…”

Quân Thanh nghe tiếng Hoả hổ của Tây Sơn cũng khiếp sợ, nên trong 8 điều quân luật, có điều thứ 5 để chống lại Hoả hổ như sau: “Quân Nam không có sở trường gì khác, toàn dùng ống phun lửa làm lợi khí, gọi là hoả hổ. Khi hai quân giáp nhau, trước hết họ dùng thứ đó để đốt cháy quần áo người ta, buộc người ta phải rút lui. Nhưng tài nghệ của họ cũng chỉ có thế thôi, so với súng ống của ta thì họ kém rất ra… Hiện nay, ta chế sẵn vài trăm lá chắn da trâu sống. Nếu gặp Hoả hổ của người Nam phun lửa, thì quân tay cầm lá chắn ấy đỡ lửa một tay cầm dao chém bừa chắc rằng chúng bỏ chạy tan tác”.

Hoa hổ của quân Tây Sơn có thể biến địch thành cây đuốc sống.

Một số tài liệu cũng cho biết, trong lục chiến, vua Quang Trung thường dùng tượng binh phá kỵ binh, dùng hỏa hổ gây rối loạn bộ binh, rồi xông lên xáp la cà. Còn trong thủy chiến, nhà vua rất hay dùng lối đánh áp sát để hạn chế sức sát thương của đại bác địch, rồi triển khai hỏa công để đốt tàu địch, tức dạng Hỏa hổ có tên gọi Rồng cỏ – thực chất là một loại bãi cháy dùng đánh hoả công để vây đốt binh thuyền của địch, mà điển hình và ngoạn mục nhất là trận đánh hoả công do Nguyễn Huệ chỉ huy, đã đốt cháy tàu chiến của Manuel ở chiến trường Gia Định vào năm 1782.

Khi đó, Nguyễn Ánh thông qua Bá Đa Lộc nhận được viện trợ quân sự của Pháp – Bồ Đào Nha, tập hợp được một lực lượng gần 3 vạn thủy quân đi trên gần 500 chiến thuyền trong đó có 2 tàu chiến kiểu châu Âu và 3 tàu Bồ Đào Nha: mỗi tàu có 10 đại bác và được bọc đồng. Đội tàu châu Âu do một sĩ quan Pháp là Manuel chỉ huy.

Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Nguyễn Huệ, lợi dụng chiều gió, quân Tây Sơn ào ạt áp sát chiến thuyền quân Nguyễn – Pháp, dùng Rồng cỏ lợi hại tấn công, khiến chiến thuyền của Manuel bị vây trong vòng vây và bị đốt chìm. Manuel tử trận, thủy quân của Nguyễn Ánh bị đánh tan tác, chỉ còn một số ít chạy dạt xuống Phú Quốc.

Như vậy, rõ là trong nghệ thuật quân sự thời xưa, việc dùng lửa tiêu diệt quân địch là một chiến thuật kinh điển, cho phép sử dụng tối thiểu sức người, hạn chế thương vong nhưng vẫn đạt uy lực tiêu diệt địch một cách tối đa.

1. Trong lịch sử Việt Nam có duy nhất hai vị tướng bách chiến bách thắng, cả đời cầm quân chưa thua trận nào, đó là Phạm Ngũ Lão và vua Quang Trung.Nguyễn Huệ (1753-1792) sinh năm 1753, còn có tên Nguyễn Quang Bình; là em út trong gia đình có ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Tổ của Nguyễn Huệ họ Hồ, nhưng khi khởi nghĩa ở Quy Nhơn, lấy họ mẹ (Nguyễn).Sách Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện chép, Nguyễn Văn Huệ có tiếng nói như chuông, mắt lập lòe như ánh điện; là người thông minh, giỏi chiến đấu. Ông cầm quân từ năm 17 tuổi, đánh đông dẹp bắc toàn đều toàn thắng nhờ vào phương châm chiến thuật: bí mật và thần tốc, lấy chính binh làm chủ, kỳ binh làm phụ. Đỉnh cao nhất là trận phá quân Xiêm – Nguyễn ở Rạch Gầm – Xoài Mút và chiến dịch đại phá 20 vạn quân Thanh.

Vua Quang Trung mất ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16 tháng 9 năm 1792), vào khoảng 11-12hđêm, ở ngôi 4 năm, thọ 40 tuổi, miếu hiệu là Thái Tổ Vũ hoàng đế. Hiện nay, có đền thờ tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

2. Theo Binh thư yếu lược, bài thuốc súng và cách chế Hỏa hổ rất giống nhau: dùng một cái ống (bằng sắt hoặc bằng tre, gỗ) dài khoảng 25cm, nạp thuốc thành nhiều nấc.

Nấc đầu tiên là liều thuốc bắn, giã nén chặt dày khoảng 4cm, sau đó tiếp nấc thứ hai là liều thuốc phun, giã nén chặt, dày khoảng 12cm. Sau đó, nạp đạn ghém gồm các vật liệu sát thương, dày khoảng 4cm. Phần ống còn lại nạp dầy thuốc phun.

Gặp địch, người dùng hỏa hổ châm ngòi, cầm cán tre chĩa vào, thuốc phun và đạn sẽ phóng ra đốt cháy sát thương đối phương. Dùng xong lại có thể lấy ống đó nạp liều thuốc khác.

Read Full Post »

Tôi không phải dân Nẫu. Thằng bạn Việt kiều Ý gốc Nẫu xúi tôi viết về Nẫu, kèm theo lời khuyên (răn đe ?), nên tham khảo những bài do người Nẫu viết. Không ! Tôi chẳng cần tham khảo sách vở. Tôi viết về Nẫu dưới con mắt của người Sài Gòn, viết theo ký ức và cảm nhận.

Vũ Thế Thành

Ám ảnh

Hồi trung học, tôi từng chứng kiến bà vợ Bình Định mắng…chồng, chỉ hiểu loáng thoáng, rõ ràng bả đang hét bằng tiếng Việt, mà hình như xen lẫn tiếng… lạ. Hồi trẻ, gặp gái Bình Định là sợ, về già gặp mấy bà Bình Định là hãi. Chết xuống âm phủ, gặp ma nữ Bình Định thì coi như hết kiếp (khỏi đầu thai). Nói như thế để thấy hồi trẻ tôi bị ám ảnh thế nào. Đàn bà con gái gì mà roi quyền cung cước, thấy là muốn… ù té chạy. Tôi có phải là Lưu Bị đâu mà đứng lại vờ vĩnh sợ hãi, để Ngô quận chúa dẹp hết đao kiếm, dắt chả vào phòng… hoa chúc.

Hồi đó cứ tưởng Nẫu là dân Quảng Ngãi, sau mới biết mình lầm. Bình Định, và cả Phú Yên nữa mới là Nẫu. Tôi hỏi thằng bạn Nẫu: “ Bộ mấy bà Nẫu dữ lắm hả?”. Y tần ngần: “ Chỉ hơi nóng tính thôi, chứ còn chịu khó lo cho chồng cho con lắm”.

Người Nẫu bảo thủ, gia phong, khuôn phép, cục bộ đến độ hơi cố chấp. Đàm tiếu từ dòng họ làng xóm, thì Nẫu ngán, chứ dư luận bên ngoài thì Nẫu…chấp. Bạn tôi dân Sàigòn làm rể Nẫu, hàng năm về quê vợ ăn giỗ, đau khổ về mấy cái nghi thức “duy nhất đúng” kiểu Nẫu.  Về lại Sàigòn là y hú anh em ra quán nhậu xả stress, rồi đi đến kết luận: “364 ngày bả lo cho tao. Tao có 1 ngày để… khổ vì bả, cho bả nở mày nở mặt với bà con. Một ngày của tao còn gấp trăm lần cái ngày 8 tháng 3 ở Sàigòn. Mấy thằng mua hoa nịnh vợ là mấy thằng có…khuyết điểm”.

Dĩ nhiên chẳng dại gì lấy một vài trường hợp riêng lẻ, rồi khái quát thành đặc tính của cả một vùng, nhưng đó là cảm nhận, mà cảm nhận thì có ai giống ai?

Giọng Nẫu không khó nghe lắm, biến âm nặng một chút, nhưng chen vài “tiếng  lạ” thành ra khó hiểu. Phải nghe Hoài Linh hát cái bản thất tình (tôi quên tựa) mới thấm hết cái giọng Nẫu. Lại thêm cảnh tượng một Hoài Linh gầy nhom, lê la ở quán ven đường than thở “ …  Anh bây giờ, khoé mắt sầu cứ rung rinh có giọt lệ sầu, giọt lệ thảm như nước trong bình nó tuôn ra…”.  Trời ơi! Nghe thê lương, sầu thảm gì đâu… Đúng là “nẫu” cả…ruột gan. Chí Phèo có nghe, chắc cũng rơi lệ.  Tác giả, tôi đoán, chắc bị em Nẫu nào đó phóng cho một cước chí mạng mới làm nổi cái bài “Đệ nhất thất tình ca” này.  Tôi thích bản này, nghe rách cả băng video, nhớ lõm bõm vài câu.  Bây giờ muốn nghe lại, chẳng biết tìm ở đâu. Một di sản độc địa như vậy, sao cất kỹ thế !

Người Nẫu ghiền bánh tráng. Thằng bạn Nẫu hót với tôi về nghệ thuật cuốn bánh tráng quê nó tỉ mỉ tới tầm…quốc tế, cứ như nghệ thuật ăn bốc của dân Ấn. Mặc kệ ! Tôi chưa bao giờ thử  thách đôi tay mình theo cách này (dĩ nhiên, có ai đó cuốn sẵn thì vẫn hơn). Tôi từng dẫn mấy ông Tây bà đầm đi ăn bánh tráng phơi sương, thấy họ toát mồ hôi vì…cuốn. Tôi nói : “Làm theo tôi !”. Lấy bún, khế, chuối xanh, rau thơm, thịt, bánh tráng xé nhỏ ra cho hết vô chén, rưới mắm nêm lên. Rồi, Action ! Tây khen: Good…good…  Thiệt giả không biết, nhưng mặt họ tươi hẳn lên, trút được  gánh nặng ngàn cân.

Người Nẫu hiếu khách quê mùa kiểu… Nẫu.

Tôi thường đãi khách ở một quán quen.  Quen, nên có lần hỏi chuyện một cậu phục vụ ở đó. “Rượu Bàu Đá hồi đó uống ngon, sao bây giờ dở quá vậy. Kinh tế thị trường hả?”. “ Quê cháu đâu có làm rượu giả. Chú mua phải rượu dỏm rồi. Thứ 7 này về quê, cháu sẽ mua tặng  chú”. Chuyện tưởng quên.  Lần sau tôi trở lại, cậu ta mừng rỡ: “ Cháu chờ chú cả tháng nay”. Rồi quay vào bếp, mang lên bình 2 lít, trịnh trọng: “ Đây là rượu Bàu Đá quê cháu, tặng chú uống chơi”. Tôi cám ơn và trả tiền bình rượu. Cậu ta từ chối. Quê cậu ta ở An Nhơn, Bình Định.

 

” Tâu hoàng thượng, khi nào ngài tái sinh?

Hơn 10 năm trước, tôi đi công tác Quy Nhơn, rồi ghé Bảo tàng Quang Trung ở huyện Tây Sơn. Hôm đó vắng khách. Tôi vào thắp nhang, xem di tích, rồi ra ngoài điện thờ, chụp ảnh tượng đài. Đang loay hoay vì ngược nắng, thì một anh thợ chụp ảnh dạo bước đến đề nghị chụp dùm. Chuyện nhỏ! Biết tôi là dân Sàigòn, thế là anh “mở máy” nói, chỗ này là nền nhà xưa của anh em Tây Sơn, chỗ kia là nơi  luyện võ. Ông Nhạc dân gọi là ông Hai Trầu, Nguyễn Huệ là chú Ba Bình vì Huệ là tên chị dâu. Đây là giếng nước, cây me ngày xưa họ dùng. Rồi anh chỉ hướng nào là vựa trầu của ông Nhạc, chỗ nào là quê ông Dũng, chỗ nào quê ông Diệu, họ tụ nghĩa thế nào,…  Càng nghe càng hứng.  Đột nhiên, giọng anh trầm lại, “ Em nghe ông bà  kể lại, nơi đây, đêm đêm họ nghe thấy tiếng ngựa phi, tiếng binh khí, thấy cả bóng đoàn quân cưỡi ngựa qua núi. Bây giờ không còn nữa”..  Tôi cám ơn anh phó nhòm kiêm “sử gia dân dã”. Gửi biếu ít tiền, anh từ chối.

Tôi hiểu, quê Nẫu nghèo, cần kiệm đôi khi trên mức cần thiết một chút. Vùng đất này đã có thời là “hang ổ” của “ngụy quyền” Tây Sơn, bị nhà Nguyễn truy bức bách hại cả gần trăm năm. Họ trở nên khép kín, nhưng cái hào khí năm xưa vẫn là nỗi luyến tiếc và trở thành huyền thoại. Như cái lò xo bị nén, một khi lòng tự hào được bung ra, Nẫu sẽ chơi… xả láng. Tự ti xen lẫn tự tôn là thế!

Nói đến vua Quang Trung, tôi lại nhớ đến bài thơ : “Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Nay, cửa khuyết không còn, nhưng đền thờ còn. Tiện dân từ phương Nam khấu đầu, kính bẩm: “Tâu hoàng thượng, khi nào ngài tái sinh?”.

Vũ Thế Thành

Read Full Post »

10.000 là số lượng phản hồi gửi về trang Xứ Nẫu trong thời gian vỏn vẹn 50 ngày.Con số này đã phần nào nói lên tính chất sinh động và cởi mở của xunau.org. Đặc biệt là sự ủng hộ nhiệt tình của quí thân hữu khắp nơi trong và ngoài nước  ưu ái dành cho Xứ Nẫu với 150 000 lượt truy cập vào website xunau.org

Người vô tình chạm mốc 10.000 là WHWH trong lời còm gửi cho Hồ Ngạc Ngữ và Vinh Rùa trong bài thơ Cát Bụi lúc 19 h33 ngày 10/10

Xuan Phong

Quynh HNN và VR,
Cám ơn lời bình dzí dzỏm của quý quynh,
khi nàng coi ta như hạt bụi vướng trên tóc nàng (chỉ muốn mau gội sạch cho rồi) thì ta có quyền nguyền rủa nàng_ đồ yêu tinh!
ác như VR, cho tàn sân nghe bài “thà như giọt mưa” đi!

Nhân dịp này mời các bạn xem một số hình ảnh sinh hoạt đầm ấm,chân tình của bà con xunau và góp ý cho xunau.org về việc có nên xét duyệt trước các phản hồi hay không? Vì thực tế trong thời gian vừa qua có một số ít phản hồi thiếu tích cực có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của website Xứ Nẫu.

Sự đóng góp của quí thân hữu sẽ giúp chúng tôi định hướng và có sự điều chỉnh kịp thời để  Xứ Nẫu tiếp tục giữ vai trò là nơi gặp gở và giao lưu của những người con xứ Nẫu và những người yêu xứ Nẫu

Một lần nữa xin cảm ơn và chúc các bạn sức khỏe,may mắn

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

Sáu Nẫu

.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »