Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Xứ Nẫu, Người Nẫu’ Category

Bình Định bấy giờ chỉ có một nhóm người mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, đặt tên là “Bàn Thành tứ hữu”. Nhóm thơ gồm có: Hàn – Chế – Yến – Quách. Bốn người này mang tên một con vật trong bộ Tứ linh. Hàn Mặc Tử là Rồng, Chế Lan Viên là Phượng, Yến Lan là Lân, Quách Tấn là Rùa.

Cửa Đông-thành Bình Định,

Bấy lâu nay, giới văn học thường nhắc đến nhóm thơ tiền chiến của Thành Đồ Bàn (tức Bình Định xưa). Vì biết tôi là con gái của “con Lân” trong nhóm “Tứ linh”, Có người hỏi: “Thế nào là Trường thơ Bình Định? Vì sao gọi các cụ ấy là Tứ linh?…”.

Theo sự hiểu biết hạn hẹp, qua những bức thư của bác Quách Tấn gửi cho ba tôi – nhà thơ Yến Lan – tôi xin phép thông tin lại để các bạn yêu thơ hiểu thêm về cái nôi thơ mà người đời thường tâm đắc “Bình Định là đất võ mà ẩn chứa trong mình những bí ẩn về văn chương”.

Trong bức thư đề  “Nha Trang lập xuân 88”, bác Quách bức xúc viết: “Rất tiếc là không có người có đủ tài, học, tâm, chí để cùng nhau khai thác kho tàng Văn hóa của Bình Định. Tôi nhận thấy phần đông anh em làm văn nghệ vì danh, vì lợi hơn là vì bổn phận thiêng liêng. An Nhơn có nhiều nhân vật văn học và lịch sử lắm, chú và anh em văn sĩ đừng phụ cổ nhân…”.

Theo bác Quách: “Không có Trường thơ Bình Định, chỉ có Trường thơ loạn gồm: Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan. Trường thơ này không thể trở thành Trường thơ Bình Định được”.

Bình Định bấy giờ chỉ có một nhóm người mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, đặt tên là “Bàn Thành tứ hữu”. Nhóm thơ gồm có: Hàn – Chế – Yến – Quách. Bốn người này mang tên một con vật trong bộ Tứ linh. Hàn Mặc Tử là Rồng, Chế Lan Viên là Phượng, Yến Lan là Lân, Quách Tấn là Rùa.

Có câu thơ bằng tiếng Hán của Nguyễn Đức Sung:

Tấn bộ bồng lai lạc cảnh khoan
Hoan tình hội họp tứ thi lang
Trí hân khôi thỏa tâm hoài vọng
Lang phóng hương nồng nhập tiểu bang

Tạm dịch:

Tấn tới bồng lai vui cảnh tiên
Hoan tình họp mặt bốn hữu thi
Trí sáng đẹp lòng bao mong nhớ
Lan tỏa hương nồng nhập xứ men

(Ghi chú: Bốn chữ đầu của từng câu là tên của bốn nhà thơ nhắc tới trên. Hoan (Phan Ngọc Hoan) là tên thật của Chế Lan Viên, Trí (Nguyễn Trọng Trí) là tên thật của Hàn Mặc Tử).

Và người đầu tiên đưa tên của nhóm Tứ linh vào thi đàn thời bấy giờ là nhà phê bình văn học Hoài Thanh.

Còn tại sao ông Trí lấy bút danh Hàn Mặc Tử: Bút danh đầu tiên và cũng khá nổi tiếng của ông là Phong Trần. Nhưng nhiều người thấy dáng dấp thư sinh của ông nên trêu “người mảnh mai như cậu làm sao chịu đựng được phong trần, nó lại không hợp với vóc dáng của cậu”. Sau đó ông lại đổi là Hàn Mạc Tử (tức rèm lạnh).

Nhưng bác Tấn vẫn chưa chịu: “Đã có rèm thêm bóng trăng vào, hỏi còn cảnh nào nên thơ bằng”. Ông Trí ngẫm nghĩ rồi lấy bút ra vạch thêm vành trăng non vào đầu chữ A. Chỉ thêm một cái dấu mà nghĩa khác hẳn: Hàn Mạc Tử = Rèm Lạnh giờ thành Hàn Mặc Tử tức Bút Mực

Bút danh của chú Hoan ban đầu là Chế Bồng Hoan. Một hôm biết ba tôi sắp đi xuống Qui Nhơn để học, chú đến chùa Ông thăm, thấy trời tối mà ông nội tôi vẫn thắp đèn tưới cây, và ba tôi ngâm nga:

Rồi đây mỗi ngả một thân đơn
Con ngọn đèn xanh, cha mảnh vườn
Đêm lụi, đèn tàn ai gạt bấc
Vườn lan ai ấy tưới thay con.

Nghe xong chú Hoan cảm động quá nói: “Mình muốn làm một cái gì đó để kỷ niệm câu thơ của cậu”. Nghĩ một lát chú Hoan reo to: “À mình sẽ đổi bút danh thành Chế Lan Viên”. Ba tôi cũng thấy đó là ý hay nên đồng ý ngay. Và thế là từ đó trên thi đàn Việt Nam xuất hiện bút danh mới: Chế Lan Viên.

Về bút danh của ba tôi thì nhiều người biết rồi. Lúc đầu ông dùng bút danh có khi là Xuân Khai, có khi Thọ Lâm. Còn Yến Lan là tên ghép của hai giai nhân. Trong lớp ông dạy có hai cô gái trông khá xinh, chơi thân nhau, một tên là Yến, một là Lan. Họ thường thì thầm: “Tao, mày chơi thân với nhau như vầy sau này chỉ lấy một chồng”. Ba tôi nghe được thấy câu chuyện của hai người hay hay nên quyết định đổi bút danh Xuân Khai thành Yến Lan. 

Tuy xuất thân và trưởng thành từ Gò Bồi – Bình Định, nhưng nhà thơ Xuân Diệu ban đầu không nhập vào nhóm này. Bác Tấn nói vui: “Xuân Diệu đấm Hàn, thoi Yến, đá Quách, từ biệt quê hương để ra Hà Nội bắt tay với Huy Cận lập thành nhóm Huy – Xuân”.

Tại Thu Xà – Quảng Ngãi, nhà thơ Bích Khê lẻ loi, cô quạnh đành lui vào Bình Định cùng bốn chàng thi sĩ nọ lập thành nhóm Ngũ hành. Nhóm Ngũ hành tuy mới thành lập nhưng họ rất tâm đầu ý hợp. Chỉ có bác Tấn ở Nha Trang nhưng họ vẫn thường xuyên vào, ra để thăm nhau.

Ông cụ tôi tâm sự: “Bình Định là nơi phối hợp để thành quả trứng còn Nha Trang là lò ấp trứng. Tôi và các bạn đã gửi lại Nha Trang một thời tâm đắc và tuổi trẻ đam mê, làm sao quên được những ngày tháng cùng nhau học hỏi, vui chơi, nghiên cứu thơ đường, học chữ Hán”.

Một thời gian ngắn, Hàn Mặc Tử bị trọng bệnh rồi mất, ông hưởng dương 28 tuổi. Chẳng bao lâu sau Bích Khê lâm bệnh nặng (lao). Cả nhóm bàn đưa Bích Khê vào Nha Trang tìm cách nuôi nhau. Họ góp tiền thuê một nhà ở phường Củi cho Bích Khê ở.

Vì lòng tốt của bạn, được một thời gian Bích Khê lại lặng lẽ bỏ ra đi. Nhà thơ Nguyễn Đình đã tìm lại được Bích Khê. Sau khi bàn bạc kỹ, nhóm quyết định đưa ông ra Huế chữa trị và an dưỡng. Về kinh tế, tùy theo hoàn cảnh từng người mà góp tiền nuôi Bích Khê.

Chú Chế Lan Viên phải nuôi cha mẹ góp 10 đồng, bác Quách 20 đồng, chú Nguyễn Đình 20 đồng, vì không vướng bận gì nên ba tôi góp 30 đồng. Như vậy mỗi tháng nhà thơ Bích Khê nhận được 80 đồng, theo tôi biết đó là số tiền rất lớn, cơm tháng hồi đó chỉ có 4 đồng. Tất cả việc thu và gửi tiền ra Bệnh viện Paskiê cho chú Bích Khê đều do vợ bác Tấn đảm nhận.

Một thời gian sau ba tôi nhận được một lá thư viết bằng bút chì:

“Yến Lan

Mình rất cảm ơn cậu và các bạn đã chăm lo cho mình. Bây giờ mình không thể chịu đựng được nữa, mình đành vĩnh biệt cuộc sống, vĩnh biệt bạn bè”.

Thời gian sau, không biết năm nào nhà thơ Xuân Diệu trở về Bình Định, nhập vào nhóm Ngũ hành để thành nhóm Lục căn (Nhãn – Nhỉ – Tỷ – Thiệt – Thân – ý). Tôi không biết ai mang bí danh của những bộ phận này vì tên nhóm ít ai nhắc đến .

Trong nhóm này chú Xuân Diệu là khôn ngoan nhất, bác Quách Tấn thường trêu: “Thằng Diệu nó chẳng cho ai xem thứ gì khi chưa in thành chữ trên báo bao giờ”. Nhưng điều này bác lại cho là đúng và đó là kinh nghiệm quý báu trong sáng tác, vì thời gian sau này bác bị người khác đứng tên trong nhiều bài viết của mình!

Lâm Bích Thuỷ

Read Full Post »

(ĐVO) Trong lịch sử cận đại Việt Nam, hễ nói đến công chúa con vua mà lại lấy hai chồng làm vua là người ta nghĩ ngay đến công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Lê Hiển tông, gả làm vợ vua Quang Trung. Nhưng sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, Ngọc Hân được hoàng đế Gia Long lập làm Ðệ Tam cung…

Số đâu có số lạ đời
Con vua mà lại hai đời chồng vua.

Thực hư chuyện này là thế nào? Mặc dù có người đã giải thích nhân vật ám chỉ trong câu ca dao trên là Lê Ngọc Bình, em ruột của công chúa Ngọc Hân. Nhưng tội nghiệp, điều này vẫn không giải được án tình cho Ngọc Hân trong dư luận của người dân xứ Huế một thời.

Công chúa Ngọc Hân phải chịu án tình oan với vua Gia Long. Ảnh minh họa

Trang tình sử bi hùng…

Lê Ngọc Hân (1770-1799) còn gọi Ngọc Hân công chúa hay Bắc Cung Hoàng hậu ; là công chúa nhà Hậu Lê và hoàng hậu nhà Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam, vợ của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ). Dân gian còn lưu truyền tên gọi bà là Bà Chúa Tiên khi bà ở Phú Xuân vì dinh phủ lập ở chùa Kim Tiên.

Dưới thời Tây Sơn, có hai phụ nữ nổi danh làm rạng rỡ cho truyền thống phụ nữ Việt Nam là nữ tướng Bùi Thị Xuân và nữ sĩ tài hoa Lê Ngọc Hân. Nhưng cuối cùng, cả hai bà và gia đình đều phải chịu cảnh đắng cay thê thảm hiếm có trong lịch sử.

Có thuyết cho rằng, vào năm Nhâm Tuất (1802), triều Tây Sơn bị diệt, Gia Long bắt được Ngọc Hân công chúa, thấy nàng có nhan sắc kiều diễm, có sức quyến rũ các bậc tu mi, đã không kìm được xúc động trong buổi sơ ngộ tại Phú Xuân. Gia Long đưa truyền nộp công chúa vào cung. Tả quân Lê Văn Duyệt can “không nên lấy vợ thừa của giặc” nhưng nhà vua không chịu nghe, lại đáp: “Tất cả giang sơn này, cái gì không lấy từ trong tay giặc, cứ gì một người đàn bà?”

Vào cung, Ngọc Hân sinh cho vua Gia Long hai con là Hoàng tử Thường Tín và Quảng Oai.

Như vậy, đây có thể xem là một trang tình sử bi hùng giữa công chúa Ngọc Hân và vua Gia Long – đã được thi vị hoá và hiện thực hoá – nên được nhiều người kể, nhiều người ưa nghe và có nhiều sách vở biên chép. Năm 1941, trong tập san B.A.V.H . (Đô thành hiếu cổ) xuất bản ở Huế có bài viết của Phạm Thường Việt, với nhan đề  Les caprices du génie des Mariages ou extraordinaire destinée de la princesse Ngọc Hân (Sự trớ trêu của ông tơ, bà Nguyệt hay duyên số kỳ lạ của Công chúa Ngọc Hân). Ở đây, ông Thường lần nữa lại cho rằng người lấy vua Gia Long là công chúa Lê Ngọc Hân. Tiếp đến, năm 1961, nhà sử học Nguyễn Thiệu Lâu vẫn cho rằng, Ngọc Hân công chúa đã lấy Gia Long là chuyện có thật.

… Hoàn toàn không phù hợp với sự thật lịch sử

Tất cả những câu chuyện về chung cục bi thương huyền hoặc của công chúa Lê Ngọc Hân là hoàn toàn không phù hợp với sự thật lịch sử.

Mộ Ngọc Hân Công Chúa hiện ở xã Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội) .

Sau ngày đại thắng, Quang Trung về Phú Xuân tiến phong Ngọc Hân làm Bắc Cung Hoàng hậu. Ngọc Hân được hưởng những năm tháng tràn đầy hạnh phúc bên người chồng anh hùng. Bà sinh được hai người con, một gái là Nguyễn Thị Ngọc Bảo (SN 1788) và một trai là Nguyễn Quang Đức (SN 1790). Tuy nhiên, hạnh phúc đó không được bao lâu.

Tháng 9/1792, vua Quang Trung đột ngột từ trần. Mới 22 tuổi đầu, với hai đứa con thơ một lên 4 và một lên 2, Ngọc Hân trở thành goá bụa. Bà sống cô quạnh trong nỗi nhớ thương chồng. Tình cảm đau xót triền miên dần hút hết sinh lực của bà. Và  thế là 7 năm sau (năm 1799), Ngọc Hân từ trần khi mới 29 tuổi đời. Hai năm sau (1801), Nguyễn Ánh tấn công vào Phú Xuân, vua tôi Quang Toản bỏ kinh thành chạy ra Bắc Hà. Hai con của Ngọc Hân còn thơ ấu đều bị bắt.

Rõ là, công chúa Lê Ngọc Hân đã mất dưới triều vua Cảnh Thịnh, nghĩa là trước khi kinh thành Phú Xuân thất thủ 16 tháng thì làm gì có câu chuyện bà phải lâm cảnh bôn ba lưu lạc sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, để rồi phải làm vợ của hoàng đế Gia Long. Bà đã được truy tặng là Như Ý Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu; được ma chay tống táng tại kinh thành theo đúng nghi thức vương giả dành cho một bậc mẫu nghi thiên hạ. Bằng chứng hùng hồn là bài văn tế Vũ Hoàng Hậu tìm thấy trong Dụ Am Văn Tập của Phan Huy Ích, mà Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm đã công bố trên tạp chí Tri Tân vào năm 1943 tại Hà Nội.

Một sĩ quan Pháp là Barizy theo chân Gia Long Nguyễn Ánh vào Phú Xuân, có đến nhà tù giam những người con của vua Quang Trung, đã mô tả lại trong thư của ông viết vào ngày 16/7/1801: “… Họ ở trong một căn phòng hơi tối, có tất cả 5 công chúa, một cô 16 tuổi, theo tôi là một cô gái đẹp, một em bé 12 tuổi là con gái bà công chúa Bắc Kỳ (tức Ngọc Hân), em này cũng coi được… Ngoài ra, còn có 3 con trai, có một em độ 16 tuổi da nâu nhưng nét mặt tầm thường. Còn em trai kia độ 12 tuổi là con bà công chúa Bắc Kỳ thì diện mạo rất đáng yêu và có những cử chỉ rất dễ thương”.

Sách Đại Nam thực lục chính biên chép, cả con trai và con gái của Ngọc Hân đều bị bắt khi Nguyễn Ánh tấn công chiếm Phú Xuân vào tháng 5/1801 và sau đó, bị giết vào tháng 11/1801.

Tại sao Lê Ngọc Bình bị “biến” thành Ngọc Hân công chúa?

Lê Ngọc Bình (sinh năm 1783), công chúa con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, em ruột công chúa Lê Ngọc Hân, là Chính cung Hoàng hậu vua Cảnh Thịnh (Quang Toản) nhà Nguyễn Tây Sơn và Ðệ Tam cung của vua Gia Long.

Theo Kể chuyện các vua Nguyễn, cuộc tình duyên của bà Lê thị Ngọc Bình với vua Gia Long khá lạ kỳ. Tháng 5/1801, khi Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân, vua Quang Toản bỏ chạy ra Bắc Hà, Ngọc Bình và một số cung nữ bị kẹt lại Phú Xuân. Thấy nàng là một người con gái trẻ đẹp, ăn nói dịu dàng, dáng điệu thướt tha, Gia Long rất ưng ý. Mặc cho các cận thần nhà Nguyễn kịch liệt phản đối, Gia Long bỏ ngoài tai tất cả. Ngọc Bình được nạp làm phi và sau đó được phong làm Đệ tam cung Đức Phi (đứng thứ ba sau hai bà hoàng hậu là Thừa Thiên, mẹ hoàng tử Cảnh và Thuận Thiên, mẹ vua Minh Mạng).

Bà Ngọc Bình sinh được bốn người con. Hai hoàng tử là Quảng Oai công Nguyễn Phúc Quân (1809) và Thường Tín công Nguyễn Phúc Cự (1810). Hai công chúa là Mỹ Khê Ngọc Khuê và An Nghĩa Ngọc Ngôn. Đức phi Ngọc Bình mất vào năm 1810, sau khi sinh hoàng tử Phúc Cự. Năm ấy bà mới 27 tuổi.

Sách Quốc sử di biên và một số tư liệu khác cho hay, chị em Ngọc Hân và Ngọc Bình có nhiều điểm tương đồng rất căn bản. Hai bà đều là công chúa con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, sinh trưởng ở ngoài Bắc; lớn lên hai bà đều lấy chồng là hoàng đế nhà Tây Sơn, nghĩa là cả hai bà đều là hoàng hậu Phú Xuân. Do đó, những câu chuyện truyền tụng về cuộc đời hai bà cứ đan kết vào nhau, theo không gian và thời gian mà dần dà thay đổi, để rồi lẫn lộn và cuối cùng, chuyện có thật về người này trở thành huyền thoại của người kia. Nói rõ hơn, công chúa Lê Ngọc Bình chính là người phụ nữ lạ thường “con vua lại lấy hai đời chồng vua”.

Read Full Post »

(ĐVO) Dáng vẻ quyến rũ, đường nét tinh xảo của các bảo vật vô giá là sự minh chứng cho bàn tay và khối óc tuyệt với của các nghệ nhân trong thời kỳ vàng son của vương quốc Champa.

Mới đây, UBND TP Đà Nẵng đã đề xuất Chính phủ công nhận ba hiện vật của khu vực là bảo vật quốc gia do những hiện vật này chứa đựng nhiều giá trị to lớn và độc đáo. Ba hiện vật quý này gồm Đài thờ Mỹ Sơn E1, Đài thờ Trà Kiệu và Tượng Bồ Tát Tara.

Theo đó, đài thờ Mỹ Sơn E1 là cổ vật văn hóa Chăm có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 12-13 và là hiện vật gốc độc bản duy nhất còn tương tối nguyên vẹn, tiêu biểu cho loại hình đài thờ tại Khu di tích Champa ở Mỹ Sơn, có giá trị nghiên cứu khoa học về văn hóa, tín ngưỡng, điêu khắc và kiến trúc của nền văn hóa Champa.

Đài thờ Trà Kiệu có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 12-13 và cũng là hiện vật gốc độc bản, tiêu biểu cho sự tồn tại của một khu kinh thành và thờ tự của Champa cách đây hơn 1.000 năm ở Trà Kiệu (Quảng Nam). Điểm nổi bật của hiện vật đài thờ này là sự nguyên vẹn bốn mặt của đài thờ cùng những chạm khắc thể hiện hoàn chỉnh một chủ đề trong thần thoại trong cuộc sống tâm linh, tín ngưỡng và phong cách nghệ thuật Champa.

Hiện vật còn lại là tượng Bồ Tát Tara có niên đại vào thế kỷ thứ 9 Champa được tìm thấy tại Đồng Dương (Quảng Nam). Hiện vật gốc độc bản này đại diện cho di tích nền móng Phật viện lớn nhất của Vương quốc Champa.

Cả ba hiện vật trên đều đang được bảo quản và trưng bày tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm, thành phố Đà Nẵng.

Dưới đây là một số hình ảnh của Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng về các hiện vật vô giá đang có mặt tại đây:

Đài thờ Trà Kiệu được làm từ đá sa thạch, có kết cấu hiện tại gồm hai phần. Phần bên trên gồm hai thớt tròn, được trang trí với những cánh hoa sen cách điệu trên và dưới đối xứng nhau. Thớt phía trên thể hiện linh vật Yoni, với rãnh và vòi dẫn nước, ôm lấy một linh vật Linga. Phần bên dưới là một đế thờ hình vuông gồm bốn mặt với vô số hình người được chạm khắc tinh xảo.

Với những hình tượng nhân vật đuợc điêu khắc chạm trổ rất trau chuốt, đều đặn, đặc biệt là hình ảnh mười một vũ nữ Apsara nhảy múa vô cùng mềm mại, uyển chuyển, gợi cảm đến những kiểu trang phục, trang sức, kiểu tóc được thể hiện rất tỉ mỉ, tác phẩm hoàn toàn xứng đáng là một trong những kiệt tác nghệ thuật điêu khắc Chăm.

Hình ảnh toàn cảnh mặt trước của đài thờ Mỹ Sơn E 1. Chính giữa đài thờ là một bậc cấp được chạm khắc tinh vi.

Thành của bậc cấp là bức chạm tả cảnh ba người trong điệu múa khăn. Hai bên là hai vũ công, chân trái khép lại, chân phải xoãi bật ra, hai tay cong lên nâng dãi lụa. Tất cả toát lên một vẻ say sưa, thành kính trong nghi lễ dâng cúng thần linh.

Bên hông phải của bậc cấp đài thờ là cảnh một đạo sĩ ngồi trầm ngâm trước một quyển kinh, bên trái đạo sĩ là một chú két ló đầu ra từ một lùm cây, bên phải là một chú sóc duỗi cái đuôi xù chạy xuống từ một thân cây to có tán lá toả ngang đầu đạo sĩ.

Hai bên bậc cấp là hai phiến đá chạm khắc hai vòm cuốn, mô phỏng theo hình dáng các vòm cuốn trên các cửa tháp. Dưới hai vòm cuốn là hình ảnh hai nhạc công, một người đang chơi đàn và một người thổi sáo.

Tượng Bồ tát Tara – một trong số nhiều hiện thân của Bồ tát Quán Thế Âm (Avalokitesvara) được làm bằng đồng, có chiều cao 114 cm với các đường nét chạm khắc tinh tế. Hiện vật này gắn liền với sự kiện vua Chămpa Indravarman II đã cho xây dựng ở đây một Phật viện và một đền thờ để thờ Bồ Tát Laksmindra Lokesvara vào năm 875.

Đây là bức chạm khắc trang trên vòm cửa của tháp Mỹ Sơn E1, thể hiện một chủ đề quen thuộc trong thần thoại Ấn Độ là cảnh thần Vishnu sinh ra thần Brahma từ cuống rốn của mình. Đường nét mềm mại, đơn giản nhưng sống động của các tác phẩm điêu khắc trên đài thờ Mỹ Sơn E1 và bức mi cửa này đã được xem là tiêu biểu cho một phong cách nghệ thuật sớm của điêu khắc Chămpa, xuất hiện trong khoảng thế kỷ 8 – 9.

Pho tượng thần Ganesa được tìm thấy tại tháp E 5 ở Mỹ Sơn. Với thân hình tròn trĩnh, mập mạp, tượng thần Ganesa đứng trông rất vững chãi, bệ vệ và thân thiện với mọi người. Theo các nhà nghiên cứu, cho đến nay chỉ mới tìm thấy 2 tượng Ganesa ở dạng đứng, một tại miền nam Ấn Độ và một tại Mỹ Sơn.

Tượng thần Deva kích thước lớn (cao 1m 62) trong tư thế ngồi trên ghế, hai tay để trên đầu gối, chân buông thẳng xuống nền được tìm thấy ở làng Đồng Dương.

Cách pho tượng thần Deva không xa, các nhà khảo cổ tìm tìm thấy 4 pho tượng hộ pháp cao gần 2 mét. Phía trên là hình ảnh của một trong những pho tượng đó.

Tượng thủy quái Makara có niên đại từ thế kỉ 12, được khai quật tại Thám Mẫm – Bình Định. Tác phẩm là một tượng tròn, ở tư thế nằm, được cách điệu với sự pha trộn nhiều chi tiết của nhiều con vật khác nhau, hai chân trước cùng đầu vươn cao, lòng bàn chân mở ra phía trước tạo nên tư thế vừa ngộ nghĩnh vừa hung dữ.

Cùng niên đại và địa điểm với tượng thủy quái Makara là một pho tượng rồng, cũng được thể hiện ở dạng tượng tròn với dáng vẻ rất ngộ nghĩnh. Các chi tiết tinh xảo trên mình, đầu và đuôi rồng là sự kết hợp của nhiều con vật khác nhau. Toàn bộ tác phẩm thể hiện sự khéo léo, óc sáng tạo và tính hài hước của các nghệ sĩ Chăm.

 Một đài thờ có niên đại từ thế kỷ 12, được thể hiện dưới dạng một thớt tròn, xung quanh được trang trí với 23 bầu vú phụ nữ đầy đặn, căng tròn. Phía trên và dưới của đài thờ là các đường xoắn chập hai đầu dây rất tỉ mỉ, theo phương thẳng đứng. Đây là một kiệt tác của điêu khắc Chăm, thể hiện ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực và xã hội mẫu hệ.

Tượng chim thần Garuda, có niên đại từ thế kỷ 13, được tìm thấy ở Bình Định có mình người, mỏ và cánh của chim nhưng đầu và chân lại giống sư tử. Chim đứng xòe cánh, tay phải cầm một con rắn hai đầu, miệng ngậm đuôi rắn, chân phải đạp lên một đầu rắn khác. Trong thần thoại Ấn giáo, Garuda có mối thù sâu sắc với loài rằn.

Phù điêu thần Vishnu (vị thần bảo tồn, canh giữ không trung theo Ấn độ) có niên đại từ thế kỷ 11 – 12, được tìm thấy ở Trà Kiệu. Đề tài về vị thần này xuất hiện không nhiều trong điêu khắc Champa vì thế tác phẩm này rất quí hiếm và có giá trị trong việc tìm hiểu nghệ thuật điêu khắc và tôn giáo của Champa.

Read Full Post »

Sen

                           Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

              

      Ở vùng quê tôi có nhiều đầm sen. Người quê tôi lời ăn tiếng nói khá phong phú. Cũng cái vũng trồng sen thôi, nhưng vũng trồng sen mênh mông ở giữa đồng thì gọi là đầm sen hay bàu sen, vũng trồng sen ở trước đình chùa thì gọi là hồ sen, còn cái vũng trồng sen nho nhỏ ở bên nhà, bên đường cái quan gọi là ao sen. Hoa sen có sen hồng, sen trắng, sen vàng và sen nào cũng ngát hương. Trong đầm sen thường mọc lẫn hoa súng, cùng họ hàng với hoa sen. Có người vì yêu quá đã gọi hoa sen là hoa ”quân tử”, hoa súng là hoa ”tiên tử”.

(more…)

Read Full Post »

Ngoài xứ dừa Bến Tre ra thì không có nơi nào ở nước ta nhiều dừa như ở Tam Quan, Bình Định. Với người dân xứ dừa thì sản phẩm nước  mắm dừa được chế biến từ dừa đã quá quen thuộc.

Nếu ai lần đầu tiên được nếm món nước mắm này có lẽ cũng dễ nhầm tưởng đây là loại nước mắm được chế biến từ cá bởi nó cũng có màu vàng, có vị mặn và thơm ngon.

Theo các cụ cao niên, do ngày xưa giao thông đi lại khó khăn nên việc vận chuyển cá mắm từ vùng này sang vùng khác tương đối khó khăn nên người dân ở xứ dừa tự nghiên cứu để sản xuất loại nước mắm này bởi muốn làm ra nó không phải đơn giản.

Để làm ra mẻ nước mắm dừa thường rất nhọc công, mất thời gian. Bởi để chế biến được từ  2 đến 4 lít mắm dừa phải mất một ngày và khoảng 20 lít nước dừa già.

Dừa già hái đươc chặt vỏ lấy nước cho vào xoong nấu đến khi sôi. Sau đó thì chụm lửa riu riu giữ cho độ sôi đều, lưu ý mở vung. Khi còn khoảng 2 lít thì nước dừa ngả màu vàng, lúc ấy cho muối vào vừa đủ mặn đặt xuống, để nguội, cho vào chai là đã có món nước mắm dừa. Sản phẩm nước mắm này cũng có màu vàng, vị mặn và để lâu mấy cũng không hư, lại có mùi vị thơm ngon đặc biệt nên được xem như một món đặc sản của xứ dừa.

Ngày nay nước mắm dừa rất ít được chế biến rộng rãi, phổ biến mà chỉ ở số ít gia đình có truyền thống để làm quà hay đãi khách đặc biệt mỗi khi đến nhà.

Điều thú vị của nước mắm dừa  là không chỉ được dùng làm nước chấm, nước mắm dừa còn được dùng như một loại gia vị đặc biệt trong các món ăn, nhất là các món chay. Chính vì vậy đây được xem như loại nước mắm phù hợp dành cho mọi người trong chế biến thực phẩm.

Theo Laodong

Read Full Post »

(ĐVO) Một số tài liệu lịch sử xác nhận rằng, vua Quang Trung đã sai sứ thần tới Đại Thanh cầu hôn công chúa – con gái được cưng chiều nhất của hoàng đế Càn Long. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu hiện nay lại phủ nhận điều này.
Thực hư cuộc cầu hôn giữa nhà Tây Sơn với nhà Thanh là như thế nào? Sách Hoàng Lê nhất thông chí chép rằng: “Vua Quang Trung sau khi quyết định đánh Trung Quốc, bèn sai bầy tôi là Chiêu Viễn Vũ Văn Dũng sang nhà Thanh dâng biểu cầu hôn và đòi lại đất hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây”.

Sách Đại Nam chính biên liệt truyện cũng ghi: “Năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung sai làm biểu văn sang nhà Thanh cầu hôn để dò ý vua Thanh và cũng để mượn cớ gây mối binh đao, nhưng vua bị bệnh không đi được”.

Vua Quang Trung. Ảnh minh họa

Theo hai tài liệu trên, việc Quang Trung xin cưới một công chúa của Càn Long mới chỉ trong dự định của một ý đồ liên quan đến vận nước của hai bên. Vua mong muốn bành trướng lãnh thổ Ðại Nam về phương Bắc và bằng mọi cách đòi lại cho được 2 tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây – vốn thuộc nước Nam Việt thời Triệu Ðà (năm 207 trước Tây lịch), mà nhà Hán đã thôn tính.

Sắc mệnh sai sứ thần sang nhà Thanh cầu hôn

Vào tháng 4 âm lịch năm 1791, vua Quang Trung gửi một sắc mệnh cho Chiêu Viễn Vũ Văn Dũng, có nội dung như sau:

“Sắc Hải Dương Chiêu Viễn Đại đô đốc Đại tướng quân Dực vận công thần Vũ Quốc Công tiên gia lĩnh Bắc sứ kiêm toàn ứng tấu thỉnh Đông, Tây lưỡng Quảng dĩ khuy kỳ tâm, công chúa nhất vị dĩ kích kỳ nộ.

Thận chi! Thận chi!

Kỳ dụng binh hình thế tận tại thử hành.

Tha nhất tiền phong, Khanh kỳ nhân dã, khâm tai sắc mệnh.

Quang Trung tứ niên, tứ nguyệt, thập ngũ nhật”.

Tạm dịch:

“Sắc sai Hải Dương, Chiêu Viễn Đại đô đốc Đại tướng quân Dực vận công thần Vũ Quốc Công được tiên phong làm Chánh sứ đi sứ nhà Thanh, kiêm lãnh toàn quyền trong việc tâu thưa để xin lại đất hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây để dò ý và cầu hôn công chúa để khiêu khích tự ái vua Thanh.

Cẩn thận! Cẩn thận!

Hình thế dụng binh là ở chuyến này cả. Ngày kia làm tiên phong chính là khanh.

Sắc mệnh nhà vua.

Ngày rằm tháng 4 năm Quang Trung thứ 4 (1791).

Như vậy, đoàn sứ của Vũ Văn Dũng lên đường sang Đại Thanh để bệ kiến vua Càn Long hai việc: xin cầu hôn và xin đất đóng đô. Thực chất, theo một số nhà nghiên cứu hiện nay, đó chỉ là cái cớ vì thực tâm, vua Quang Trung muốn dụng binh đánh Trung Quốc và Vũ Văn Dũng chính là vị tướng tiền phong trong tương lai.

Càn Long chuẩn thỉnh cầu… Quang Trung băng hà

Sau khi sứ thần Vũ Văn Dũng dâng tấu xin Càn Long ban cho hai yêu cầu nói trên, vua nhà Thanh đã chuẩn y lời cầu hôn của hoàng đế Quang Trung, sai bộ Lễ sửa soạn nghi thức cho việc cưới gả, định ngày cho công chúa sang nước Nam. Còn việc xin lại hai tỉnh, Càn Long ngoài mặt đồng ý, nhưng thực tế chỉ muốn trao cho Quảng Tây làm đất đóng đô, coi như “của hồi môn” cho con gái “rượu”.

Tuy nhiên, ở đời mấy ai học được chữ ngờ! Chỉ sau đó mấy hôm, Vũ Văn Dũng nhận được tin chẳng lành là vua Quang Trung đột ngột băng hà. Mọi việc trở nên dang dở… Lúc đó, Vũ Văn Dũng đã làm bài thơ viếng:

Năm năm dấy nghiệp tự thân nông
Thời trước thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng.

Vua Càn Long cũng thảo một bài thơ viếng hoàng đế Quang Trung. Sứ nhà Thanh đã đến tận mộ ông ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng.

Cho đến nay, thời điểm mất của vua Quang Trung vẫn được các tài liệu cổ ghi khác nhau. Sách Đại Nam thực lục của nhà Nguyễn ghi ông mất tháng 7 âm lịch năm 1792. Hoàng Lê nhất thống chí chép ông mất tháng 8 âm lịch năm 1792. Theo lý giải của Hoàng Xuân Hãn trong La Sơn phu tử, cả hai sách ghi đều không sai. Quang Trung mất vào khoảng 11 h đêm ngày 29 tháng 7 âm lịch, khoảng đó là giờ tý, nghĩa là bắt đầu được tính sang hôm sau; mà tháng 7 năm đó là tháng thiếu, ngày 29 là ngày cuối tháng, nên sau 11h đêm đã chuyển sang tháng 8. Theo Hoàng Xuân Hãn: “Ghi tháng 7 hay tháng 8 thực ra chỉ chênh nhau khoảng nửa giờ”.

Ngay sau khi đại phá quân Thanh ở trận Ngọc Hồi – Đống Đa, vua Quang Trung tìm cách xóa bỏ thù hằn bằng việc chiêu hàng, nuôi dưỡng hàng vạn tù binh nhà Thanh và thu dọn, cúng tế chiêu hồn quân Thanh; thực thi chính sách hòa giải với cường quốc phương Bắc và triều cống, xin phong vương. Bằng một kế sách ngoại giao khôn khéo, mua chuộc được các cận thần nhà Thanh (Phúc Khang An, Hoà Thân…), Nguyễn Huệ đã được vua Thanh chấp nhận cầu phong để nhà Tây Sơn chính thức thay thế nhà Lê làm chủ Đại Việt.

Read Full Post »

Đặng Hoàng Thám
Đồi Thi Nhân. Ảnh: Mai Lý

(TBKTSG Online) – Có dịp đến thành phố biển Quy Nhơn, thủ phủ của tỉnh Bình Định, hầu như ai cũng muốn tìm đến Ghềnh Ráng – Tiên Sa để thưởng ngoạn vẻ đẹp tuyệt vời mà thiên nhiên đã ban tặng cho dải đất ven biển nầy. Danh thắng Ghềnh Ráng ở phía đông nam Quy Nhơn. Từ đầu đường Hàn Mặc Tử chạy dọc theo biển, đi khoảng 2,5 cây số về phía nam, ta sẽ đến Ghềnh Ráng.

Mua vé vào cửa (6.000 đồng/người), du khách vào cổng rồi đi lên “dốc Mộng Cầm” chừng 150 mét là đến trung tâm khu du lịch Ghềnh Ráng; từ đây sẽ tha hồ phóng tầm mắt quan sát cảnh sắc thiên nhiên trong một khu vực rộng khoảng 35 héc ta.

Từ trên đồi Thi Nhân rợp bóng những cây bàng xum xuê, những gốc sứ trắng, hoàng lan, xoan, tràm hoa vàng… dọc theo những bậc đá quanh co, khúc khuỷu, du khách thả bộ xuống sát mé biển. Những lúc biển yên sóng lặng, ta thấy rõ hàng vạn viên sỏi lớn nhỏ, nhiều màu  sắc, chồng, sắp lớp lên nhau dưới làn nước trong xanh như ngọc bích. Nơi đây gọi là bãi Đá Trứng. Đặc biệt, phía trên bãi có một mạch nước ngầm từ khe núi chảy ra, tạo thành hai giếng nước ngọt hình lòng chảo nằm kề nhau, đường kính miệng rộng hơn một mét. Những khi biển động, những lượn sóng bạc đầu vỗ mạnh vào những ghềnh đá, tung bờm bọt trắng xóa tung cao trông rất đẹp mắt và lãng mạn!

Bãi Đá Trứng. Ảnh: Mai Lý

Dọc lối đi theo sườn núi sát biển, du khách gặp nhiều cảnh quan độc đáo. Do trải qua hàng triệu năm, bị mưa nắng xâm thực, trên một phiến đá lớn có hình nổi lên trông giống như mặt người. Đi một quãng, du khách sẽ gặp một khối đá trông tựa đầu con sư tử đang chồm ra biển, gần đấy có một hòn đá nhỏ giống như người vợ bế con ngóng chồng, dân gian gọi là đá Vọng Phu. Ngoài ra, ở đây còn có hai khối đá lớn chồng xếp lên nhau, chênh vênh như chực rơi xuống, gọi là hòn Chồng.

Cạnh bãi Đá Trứng là bãi tắm Hoàng Hậu, non nước hữu tình, cảnh quan xinh đẹp, nghe đâu xưa kia chỉ dành riêng cho hoàng hậu Nam Phương, vợ vua Bảo Đại. Từ bãi Đá Trứng nhìn về phía Bắc, ta sẽ thấy một góc trong toàn cảnh thành phố biển Quy Nhơn hiện đại, xinh xắn với kiến trúc hài hòa chạy dài đến đầm Thị Nại, bán đảo Phương Mai và khu công nghiệp Nhơn Hội.

Trên đồi Thi Nhân có nhiều chòi lá nhỏ, thấp thoáng, lẫn khuất giữa muôn vàn hoa kiểng xinh tươi. Du khách sẽ gặp nhiều loài hoa đẹp như liễu đỏ, hồng nhung, soi nhái, sứ trắng, hoàng anh, hướng dương, dạ thảo… Cạnh lối đi lên đồi, trên một tảng đá to bằng nửa gian nhà có khắc chữ “Trí” (tên thật của thi sĩ Hàn Mặc Tử) theo lối viết thư pháp.

Có thể đi xuyên qua vạt rừng nhỏ vòng qua đồi Thi Nhân, cũng có thể đi từ cổng lên một quãng ngắn, rẽ qua con đường nhựa phía tay phải, vượt lên những bậc tam cấp đến viếng thăm ngôi mộ mới của nhà thơ tình lãng mạn lừng danh: Hàn Mạc Tử.

Phần mộ thi sĩ Hàn Mặc tử. Ảnh: Mai Lý

Mộ ông nằm dựa lưng chừng núi, giữa không gian thoáng đãng nhìn ra biển khơi bao la lộng gió. Chung quanh mộ có nhiều hoa  kiểng. Cảnh quan sáng đẹp – an nghỉ nơi đây, có lẽ thi sĩ không còn buồn nữa! Hầu như quanh năm suốt tháng có rất nhiều người ghé thăm, thắp hương tưởng niệm, đồng cảm với ông. Những ngày mang chứng bệnh nan y, an dưỡng ở trại phong Quy Hòa gần đấy, cảnh vật trữ tình, thơ mộng của Ghềnh Ráng đã là nguồn cảm hứng lai láng của người nhà thơ tài hoa bạc mệnh nầy:

“Ai mua trăng, tôi bán trăng cho

Trăng nằm yên trên cành liễu đợi chờ

Ai mua trăng tôi bán trăng cho

Chẳng bán tình duyên ước hẹn thề”…

Địa danh Ghềnh Ráng – Tiên Sa còn gắn với một sự tích. Ngày xưa, có một cô con gái đẹp người, đẹp nết sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo. Khi lớn lên cô gái có một tình yêu thắm thiết với một chàng trai cùng làng. Nhưng nhan sắc của nàng đã khiến tên quan huyện  háo sắc say mê. Bằng mưu kế xảo quyệt, hắn tìm cách chiếm đoạt nàng. Cô gái sợ quá bỏ trốn trong khi người yêu nàng bị hắn bắt đi lính thú rồi đày ra biên ải.

Gềnh Ráng hướng nhìn về thành phố Quy Nhơn. Ảnh: Mai Lý

Tên quan cho quân đuổi theo. Bị truy đuổi bén gót, cô gái chạy trốn vào núi Vũng Chùa. Lúc cô sắp sửa sa vào tay bọn ác, bỗng trời nổi cơn giông tố, sấm  giăng chớp giật ầm ầm, đá lở cát bay mù mịt! Và kỳ lạ thay, núi bỗng nứt ra một khe lớn, nàng chạy vụt vào trong đó rồi biến mất! Khi giông bão tan, khe núi ấy biến thành một dòng suối, uốn lượn lờ xuôi chảy xuống vịnh biển. Người đời gọi đó là Suối Tiên.

Chàng trai vượt biển tìm người yêu, trên đường gặp  bão. Thuyền đắm.  Chàng đuối sức rồi ngất xỉu, sóng biển đưa chàng tấp vào Ghềnh Ráng. Khi tỉnh lại, chàng thấy bóng người yêu đứng bên dòng suối vẩy gọi, chàng chạy lại với nàng và hai người sau đó cùng biến mất. Dân gian cho rằng họ đã thoát tục thành tiên.

Ghềnh Ráng ngày nay đã được quy hoạch, xây dựng thành một quần thể du lịch với nhiều hạng mục có giá trị văn hóa… Khu mộ Hàn Mặc Tử được tôn tạo, có nhà lưu niệm, giới thiệu thân thế, cuộc đời và sự nghiệp thi ca của nhà thơ. Vào những dịp lễ, tết, ở đây có tổ chức hội đánh bài chòi và các trò chơi dân gian phục vụ khách tham quan, du lịch.

Read Full Post »


 


MANG VIÊN LONG

Tôi mượn ý thơ của thi sĩ Tản Đà để làm cái tựa cho bài tiểu luận nầy, đồng thời, cũng nhìn từ đó, để đề cập, dẫn chứng cho cái quan niệm riêng tư của mình, về tính chất đa tình, lãng mạn, hay gì gì đó của người con gái Phú Yên, đã được xác nhận (bằng thơ Tản Đà, ca dao, phong dao, hay thơ của Quách Tấn, Lam Giang, Huy Lực) nhưng hoặc chỉ là cái ca ngợi, cái nồng nhiệt riêng tư ; hoặc được ngắm nhìn, và phát biểu với sự lừa dối (vô tình, hay hữu ý) khiến cái khía cạnh rực rỡ nhất, chói sáng nhất trở nên lu mờ, hoen ố.

Cho tới nay tôi cũng chưa tìm thấy một tài liệu chính xác nào cho biết thi sĩ Tản Đà đã ghé lại Phú Yên vào năm tháng nào trong mấy chuyến xuôi ngược Bắc Nam của ông từ năm 1926 (sau khi làm được 10 số báo An Nam tạp chí, số đầu tiên ra ngày 1/7/1926) ở lại Phú Yên bao lâu, để được hưởng mùi vị của cước cá và sò hào ” lấy chi vui với thu tàn, Phú câu cước cá, Ô Loan miếng hào”. Theo tôi, ngoài cái tiếng về rượu, và ăn nhậu, Tản Đà còn có một đặc tính tuyệt vời khác: Đó là cái con mắt đa tình của ông. Con mắt có đa tình, mới nhìn thấy đôi mắt khác đa tình. Đôi mắt có lãng mạn, thơ mộng, mới nhìn thấy đôi mắt khác lãng mạn, mơ mộng. Bởi vậy, tôi đã bỏ ra trên bốn năm, chỉ tìm hiểu coi Tản Đà đã ở lại Phú Yên bao lâu, ghé lại vào dịp nào, để mới có thể hiểu được đôi mắt Tản Đà đa tình tới bực nào, đồng thời, cũng giúp cho bài nghiên cứu được dễ dàng trong việc dẫn chứng ví dụ, hay có một khoảng không gian giới hạn nào đó (trong cái bao la, biền biệt của ca dao) mà tra cứu.

Phạm Văn Diêu (trong Việt Nam Văn Học giảng bình Hoàng Sơn in lần thứ 3, Saigon 1970) cho biết “…Trên đường viễn du, ông (Tản Đà) ghé Hà Tĩnh thăm núi Sót,  xuống Huế đến Thuận An, ngậm ngùi trước cảnh Trấn Hải Đài tàn phế, tìm gặp Phan Bội Châu ngày 20/04/1927, rồi đi Đà Nẵng qua chơi Ngũ Hành Sơn, Đồng Dương, rồi thẳng vào Quy Nhơn, Nha Trang và Saigon“. Một đoạn khác, trong cùng tác phẩm nói trên, ông Phạm Văn Diêu kể: “…Ngày 14 tháng 2 năm 1928 Tản Đà lại xin thôi (Đông Pháp Thời Báo) về Bắc, và ra đi hai hôm sau đó, trong túi chỉ còn 7 đồng giống như lúc vào Nam. Trên đường về, Tản Đà có ghé Bình Định vài ngày thăm mả Nguyễn Huệ”.

Trong báo Tao Đàn số 9 và 10 ngày 16 Juillet 1939, nhà văn Lan Khai đã thuật lại kỷ niệm với Tản Đà, cũng phát họa dáng điệu tâm tính của Tản Đà, ông đã có nhắc tới một chuyến vào Trung của thi sĩ: ” Năm 1930, giữa lúc xứ Trung kỳ đương nín thở dưới cơn giông khủng bố, thi sĩ (Tản Đà) tự nhiên một mình vào tận quê hương vị anh hùng Nguyễn Huệ…”

Gần đây báo Văn số 175 ra ngày 1/4/1971, Ông Quách Tấn có viết một bài hồi ký, có tựa ” kỷ niệm với Tản Đà“, cũng đề cập tới chuyến Nam du của Tản Đà, nhưng lại mập mờ: “Nhân cuộc Nam du (tôi không nhớ rõ năm nào, chừng vào năm 1924-1925, đi ngang qua Bình Định, Tản Đà tiên sinh ghé lại đình (ghi chú của người viết: “Đình thờ ba vua ây Sơn ờ làng Kiên Mỹ, quận Bình Khê, tỉnh Bình Định)”.

Như vậy, dầu có nhiều tài liệu khác khau nói tới các chuyến vào Trung, và Nam của Tản Đà, nhưng không có nói tới việc Tản Đà ghé Phú Yên vào tháng năm nào, trong bao lâu. Tôi có thể ước đoán, ông ta tới Phú Yên, vào Thu, chớm Đông, thời gian nhiều nhất là 1 tháng. Trong 30 ngày, ở một chỗ, Tản Đà  (hay bất cứ ai nếu có sẵn tiền) cũng có thể tìm thấy các món ăn đặc biệt ở nơi đó; nhưng chỉ một câu thơ Tản Đà nói tới con gái Phú Yên, làm tôi bàng hoàng, kính nể. không phải dễ nhìn thấy cái đặc tính độc đáo của người con gái một miền nào, cho dầu thời gian có kéo dài tới đôi ba năm. Tôi đã sống ở Phú Yên trên tám năm, đã nghĩ tới câu thơ Tản Đà trên mười năm (lúc chưa tới nơi đây), hôm nay mới có thể đặt bút viết bài lý luận nho nhỏ này.

Như đã nói ở trên, đôi mắt có đa tình, lãng mạng mới nhìn thấy đôi mắt khác đa tình, lãng mạn giờ có thể nói thêm, tâm hồn có phóng khoáng, như nhiên, mới biết được tâm hồn khác phóng khoáng như nhiên. Tôi viết những giòng này, sau khi đã dọn mình sẵn sàng để lòng được thành, và trí được sàng. Bởi vậy, tôi đã nhìn thấy cái dấu giếm, cái ác ý trong hai câu ca dao sau:

Chớ lấy vợ Gò Cà

Chớ mua gà Mỹ Phú

Bởi vì, tôi đã nhìn thấy cái buồn cười, giả nhân giả nghĩa, của người đời –  qua hai câu sau:

Nhất gái La Hai

Nhì trai Đồng Nghệ

Bởi vì, tôi đã nhìn thấy cái lố bịch, cái hài hước của hai câu sau đây nữa:

Trai Ngã Thạch

Cái Bàu Hương

Tôi đã sống rất khắc khe với chính tôi, và rất bao dung tha thiết với Phú Yên, trong 6 câu ca dao mà tôi vừa trích nêu, trong tám năm trời. những chữ “Vợ Gò Cà” ” Gái La Hai” và “Gái Bàu Hương“, đã ám ảnh, ray rức tôi không ngớt, từ ngày tôi đặt chân vào Phú Yên. Trong một vài bài viết ngắn, nói tới Phú Yên, gởi cho mấy tờ báo ở Saigon (hay tại Tuy Hòa) tôi dầu tỏ lộ vẻ bồn chồn, khổ sở vì cái ám ảnh của các chữ đó. Tôi còn nhớ ba bài viết có đề cập thẳng tới tính chất ” Vợ Gò cà”, “Gái La Hai”,  “Gái Bầu Hương” nên tuần báo Khởi Hành, nhật báo Tự Do, và trang Văn Học Nghệ Thuật Tiền Tuyến. Ngoài ra, trong tất cả các nhân vật nữ (dầu là bà già) của các truyện tôi viết tại Phú Yên, không khí và khung cảnh Phú Yên, tôi đều bộc bạch tâm sự, và cảm nghĩ sâu kín nhất của tôi, đối với các chữ đó: ” Vợ Gò cà, Gái La Hai, Gái Bầu Hương“.

Ở đây, nơi bài này, tôi sẽ nói dứt khoát và thẳng thắn, nói thành thực, và sau cùng, về vấn đề chung ” Đa tình con Mắt Phú Yên“- hay riêng về các người  nữ ở Gò cà, La Hai và Bầu Hương. Tất cả mọi người đều hỏi: “Gò cà, vợ Gò cà là vợ ở đâu? Tại sao là Gò Cà?”. Xin đáp: Xã An Hiệp, quận Tuy An có 7 thôn (Mỹ Huận, Mỹ Thạnh, Tuy Dương, Hội Đức, Phước Hậu, Mỹ Phú, Phong Phú), diện tích 3.460 ha, Gò Cà thuộc thôn Tuy Dương.

Người ta cũng đã nói: ” Nhất Gái La Hai, gái La Hai là gái ở đâu, tai sao nhất, nhất cái gì?”. Xin đáp La Hai thuộc xã Xuân Long, quận Đồng Xuân. Từ Chí Thạnh, theo liên tỉnh lộ số 6, ( tỉnh lộ dài 36 km dẫn tới Mục Thịnh ranh giới tỉnh Bình Định), qua Phong Viên, tới La Hai. Xã Xuân Long có 2 thôn là Phước Long và Hà Trung, diện tích 2.270 ha. La Hai là tên chợ quận lỵ.

Sau chót, người ta đã sốt sắng và niềm nở hỏi: ” Gái Bàu Hương ở đâu?” Xin đáp: Bầu Hương thuộc xã Hòa Phong, quận Hiến Xương. Xã Hòa Phong có 10 thôn (Phước Thành, Mỹ Thạnh Đông, Mỹ Thạnh Tây, Mỹ Thạnh Trung, Tân Mỹ, Lương Phước, Thạch Bàn, Liên Thạch, Nam Bình và Lạc Mỹ); Bầu Hương nằm ở thôn Mỹ Thạnh Trung (và 1 phần  Hòa Mỹ) dưới chân núi Hương (cao 132 m), gần chùa Hương Tích.

Theo nguyên nghĩa: ” Chớ lấy vợ Gò Cà“, bởi vì ở vùng này con gái có thể giết chết chồng (bằng cách này hay cách khác) để theo người đan ông khác. Hoặc có thể bỏ chồng con, gia đình, theo người đàn ông khác. Nói tóm, ” Vợ Gò cà” không ” thủy chung“, nguy hiểm, giống như…gà ở Phú Mỹ (cũng thuộc xã An Hiệp). Xã An Hiệp, được chê về… con gái và gà!

Con gái La Hai cũng được chê trách về phẩm hạnh: Lẳng lơ, lãng mạn, theo trai. Con gái La Hai cũng được coi là dễ sợ, nguy hiểm, không chuyên chính đứng đắn giống như các chàng trai xứ Đồng Nghệ (cùng quận Đồng Xuân, xã Xuân Sơn).

Ở Phú Yên, người ta khen “Gái Bàu Hương“, đã xinh đẹp thơ mộng như thằng tích ở đó, mà phẩm hạnh cũng vẹn toàn.

Vậy Tản Đà (hay gần đây Huy Lực, Trần Huiền Ân, Phạm Cao Hoàng, Hoàng Đình Huy Quan, Khánh Linh, Đỗ Chu Thăng, v.v…) đã nhìn thấy “Con mắt đa tình” Phú Yên, ở vùng nào? Không có tài liệu nào cho biết Tản Đà đã lên chơi núi Hương, viếng chủa Hương Tích, ngâm vịnh ở Bàu Hương, trong lúc phát  biểu về “Con mắt đa tình Phú Yên“. Như thế, tôi có thể kết luận, Tản Đà (và các thi sĩ khác) đã nhìn thấy “đôi mắt ấy” bàng bạc khắp nơi, ở đây. Theo kinh nghiệm (đã có trên tám năm), cộng với việc suy nghĩ, nghiên cứu, tôi cũng đồng ý như vậy: con mắt Phú Yên rất đa tình. Rất thơ mộng và như nhiên.

Trở lại vấn đề cũ: Tại sao lại vợ Gò Cà? Tại sao gái La Hai là nhất?

Chúng ta phải sống trở lại với các vùng này về hoàn cảnh địa lý, thiên nhiên, đời sống của họ. Nhất là cái xã hội của các câu ca dao, phong dao trên kia ra đời. Sau đó, truy tầm tác giả và nguyên do.

Sống trở lại đời sống của xã hội An Hiệp, tôi dễ dàng nhìn thấy các chi tiết sau đây: Ở An Hiệp sản xuất rất nhiều mật ong và đường. Ở La Hai, hai sản phẩm kể rên lại nhiều hơn nữa:

Nếp màng màng

Đàng Tân Lập”

Hoặc :

“Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai

Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường”

“Hôm nay ăn mía Triệu Tường

Đợi mắm Nam Ổ, đợi đường Phú Yên”.

Ở An Hiệp (Tuy An) và La Hai (Đồng Xuân) cũng nổi tiếng về trái cây (tôi không chú ý tới : Bông vải, đậu nành, đậu phụng, thuốc):

“Cam Đa Lộc

Thuốc Lỗ Dưng”

Tuy An có ba danh nhân đáng lưu ý: Liễu Quán Hòa Thượng (xã An Thạch), nhà ái quốc Lê Thành Phương (xã An Hiệp), và Đại đức Thích Quãng Hương (xã An Ninh). Đồng Xuân có : Nhà ái quốc anh hùng Nguyễn Hào Sự (xã Xuân Phước), Võ Trứ (di cư ở La Hai). Đô Đốc Chương, Phủ Sự Đào Trí, Thống Chế Nguyễn Nhàn. Riêng Đồng Xuân cũng đã nổi tiếng về các bậc hiếu tử đã được ghi vào sử sách.

Khi tìm hiểu các đặc biệt của An Hiệp (Tuy An) và La Hai (Đồng Xuân), tôi nhận thấy có hai điểm giống nhau: Hai vùng này đều phong phú về đường, mía, mật ong và trái cây. Sự trùng hợp này khiến ta nghĩ tới sự trùng hợp ở trên: Con gái bị mang tiếng xấu, lãng mạn, lẳng lơ.

Điều đáng lưu ý thêm nữa, ở Bàu Hương (Hòa Phong), sản phẩm phong phú, đặc biệt cũng là: đường , mía và mật ong. Nhưng tại sao là “Gái Bàu Hương” mà không là :

Nhất gái La Hai

Nhì gái Bàu Hương?

Xin đáp : Núi Hương thơ mộng; chùa Hương Tích hấp dẫn du khích, đạo hữu; sau cùng là cái bàu tên Hương với huyền thoại có con rùa khổng lồ nổi lên làm bàn thạch cho chư Tiên hiện xuống uống rượu, đánh cờ, ngâm thơ, vân vân. Đã có sẵn khung cảnh hữu tình, lại được “che chở” bởi cái lý do mầu nhiệm Thần Thánh; Bàu Hương luôn luôn phải được ca ngợi, dầu là con gái, hay bà già. Ở Bàu Hương, chùa Hương Tích có rất nhiều thi nhân, hay khách tài hoa, giàu sang, đến viếng, đề thơ và khen ngợi.

Còn Tuy An và Đồng Xuân (hay nói riêng Gò Gà và La Hai) có chi? Xin đáp: Chỉ có đường mía, mật ong và trái cây. Khi người ta cần những thứ đó, người ta chỉ tới chợ (hay nhờ người đi) mua rồi về. Gò Cà và La Hai không có thiên nhiên, và nhất là Thánh Thần che chở ! Trong lúc đó, ở Bàu Hương, với thiên nhiên và đời sống đặc biệt của nó, con gái có nhiều tính chất lãng mạn, lẳng lơ hơn.

Các dữ kiện vừa nêu trên, ai cũng dễ dàng trông thấy cả. Tuy nhiên, truy tầm tác giả của 3 câu ca dao đã trích không phải dễ. Ca dao là gì? Là bài hát ngắn, được đọc từ miệng người này tới miệng người khác, tồn tại là do truyền khẩu. Ca đao có nhiều tính chất, khía cạnh. Và, tác giả của ca dao được ghi là “vô danh“. Vậy, ở đây, tôi chỉ tạm ấn định cho tác giả của 3 câu ca dao trên chung một hạng “Lớp nho sĩ phong kiến“. Thời gian xuất hiện cũng vì thế mà ấn định được: Xa chúng ta (1974) ít nhất cũng trên 150 năm (ông Lương Văn Chánh được Nguyễn Hoàng cử vào đánh Thành Hồ, đuổi quân Chiêm Thành, lấy lại đất Phú Yên đã được vua Lê Thánh Tông chinh phục năm 1470. Khoảng năm Mậu Dần = 1578).

Như thế, chúng ta có thêm hai yếu tố mới để truy tìm nguyên do nói tới “Vợ Gò Cà, gái La Hai, gái Bàu Hương“: 1). Tác giả là lớp nho sĩ phong kiến (đổ đạt hay không), hoặc giả, ở lớp người đã chịu ảnh hưởng sâu đậm, bị ràng buộc khe khắt vào cái quan niệm lễ nghĩa, đạo đức Nho giáo một cách hẹp hòi, sai lệch. 2). Thời gian thực xa xưa, mờ mịt, như cái giai đoạn đạo Nho đang cực thịnh trong dân chúng. Cực thịnh đến nỗi khe khắc, giả tạo, và không nhìn thấy chính mình, hoặc xa hơn một chút.

Nhận chân được vài điểm đại cương như trên, chúng ta có thể kết luận, rất vắn tắt: Những ý tưởng, nhận xét qua 3 câu ca dao đó, đã được đưa ra từ một tư tưởng, một đôi mắt (hay nhiều đôi mắt, thời đó), không phải thực là của chính mình (không dám là mình): Nó bị dòm ngó, lệ thuộc, ảnh hưởng bởi một nền luân lý đạo đức cố chấp, hẹp hòi, sai lệch. Ý tưởng đã bắt nguồn từ một sự thiếu sót, sai lệch, cổ hủ như thế, thì cái giá trị của nó cần phải đặt ngược trở lại. Đó là chuyện dĩ nhiên. Cái thời, cách nay hai ba trăm năm, và các thời chúng ta đang sống, có vô số thay đổi, tiến bộ, phong phú (nhìn về phía những ưu điểm). Đôi mắt chúng ta nhìn, tâm hồn chúng ta xúc động, ý tưởng chúng ta phát biểu, hẳn nhiên là khác xưa. Không ai ngờ nghệch, thiển cận nhìn “vợ Gò Cà, con gái La Hai, con gái Bàu Hươong” với cái tâm địa kín mít và đôi mắt lù mù kia nữa.

Tiếp theo, tôi muốn định  nghĩa và xác định giá trị trở  lại các tính chất của những chữ “lãng mạn, đa tình chung thủy, lẳng lơ, trắc nết“. Định nghĩa và xác định, là tôi muốn so sánh cái quan niệm cũ (thời có các câu ca dao kia xuất hiện), với sự đổi thay, tiến bộ đang đi tới. Theo cũ, những chữ trên đều gán cho cái nghĩa xấu, tồi tệ, ngay cả chữ vô tội nhất là “lãng mạn” và “đa tình“. Các chữ “chung thủy, lẳng lơ, trắc nết” cũng bị bóp méo, thu nhỏ sao cho vừa với cái đôi mắt, cái tâm hồn nhỏ xíu kia. Sự “chung thủy” lúc xưa, khác với sự “chung thủy” bây giờ. Cái chuyện “lẳng lơ” lúc các cụ học “Nam nữ  thọ thọ bất thân” cũng khác với quan niệm “lẳng lơ” chúng ta đang sống. Hồi đó , hôn nhân là một sự sắp đặt, hay tệ hơn là đổi chác, mua bán của các bậc sinh thành (ông bà, cha mẹ ,v.v.). Chữ “Tình yêu” không có. Phủ nhận “Tình yêu” là giết chết tâm hồn, sự rung động của con người. Đời sống luôn luôn bị gò bó, thu mình ép buộc. Không coi đời sống của tâm hồn có giá trị (trong tình yêu), vì thế, họ lên án những người dám (hay liều lĩnh, ngây thơ, thành thật) sống với sự xúc động, khao khát của lòng mình; bởi vì con người đã là người khi hiện hữu. Ở vào cái khung cảnh tối tăm đó, cái ngục tù ác nghiệt đó, người con gái Gò Cà đã hành động theo tâm hồn mình. Đã là người với trọn vẹn tính chất khả hữu của nó. Đó là một hành động quả cảm, đáng được thán phục, yêu quý. Người con gái La Hai dám coi thường những lề thói hẹp hòi, những đôi mắt quái lạ kia, để “theo trai“. Chữ “theo trai” phải hiểu: Theo tình yêu, theo khát vọng trung thực, sâu thẵm của tim mình. Sống vào thời đó, chung quanh có vô số sợi dây ràng buộc mà bỏ đi được (dám sống là người), quả họ đã suy nghĩ, đã chân thành quá mức rồi. Tôi nghĩ tới những tù nhân khao khát tự do. Tuy vậy, việc phá vỡ những ràng buộc như thế, đối với thời xưa, là một việc hệ trọng. Đáng … đem vào ca dao, tục ngữ ! Xét hiện tại, ai cũng nghĩ là cái việc “như thế” ở đâu cũng có, và không có gì phải sợ hãi. Nhiều chuyện “động trời” , còn có thể hiểu, cắt nghĩa, và bao dung được. Tôi nghĩ: “Giá còn tác giả của mấy câu ca dao trên sống tới nay, có lẽ họ đã ngã ngửa ra mà chết” . Hoặc : “Họ sẽ hối hận mà sửa lại“. Nói thế, không có nghĩa tôi phủ nhận sự có mặt cần thiết và đáng ca ngợi của quý chữ “Thủy chung, lẳng lơ, trắc nết“, mà đòi hỏi chúng ta phải hiểu chúng, bằng sự tiến bộ, bằng cái sâu thẳm nhất của tâm hồn, của con người.

Thiên nhiên và đời sống có ảnh hưởng tới con người, đó là điều dĩ nhiên. Ở Phú Yên, thiên nhiên đầy đủ và hữu tình quá: Rừng núi sông biển, đồng ruộng, thành hồ, hào rạch, đồi tháp ở cùng khắp. Phú Yên ở giữa hai ngọn đèo, hai cái ải, là Đèo Cả (cao trên 500m) và Đèo Cù Mông (cao 245m ) nên đời sống cũng bị giới hạn, khép lại trong khung cảnh, đất đai của mình. Bởi vậy, tính chất “lãng mạn” và “đa tình” dễ tìm thấy trong những đôi mắt thiếu nữ, nếu có sẵn “một đôi mắt đa tình” để nhìn ngắm.

Tản Đà (hay Huy Lực, Trần Huiền Ân, Hoàng Đình Huy Quan, Phạm Cao Hoàng, Đỗ Chu Thăng, Khánh Linh, v.v…) đã xác nhận với tôi điều đó, trong các thi phẩm của họ. Như thế, vấn đề “vợ Gò Cà, gái La Hai, gái Bàu Hương” còn là một điều đáng chú ý nữa thôi?

Riêng tôi, viết xong mấy dòng này, tôi đã gột sạch tất cả những ám ảnh. Đã dứt khoát một quan niệm về những người nữ Phú Yên. Và, để kết luận cho bài lý luận nho nhỏ này, tôi coi cái tính chất “Đa tình và lãng mạn” của Phú Yên là một ưu diểm, một đặc tính hồn hậu, chân thành, tự nhiên như hoa nở, trăng mọc, mưa rơi …/.


Read Full Post »

Hôm nay xunau.org tròn một tháng một ngày với 80.000 lượt người truy cập. Con số này không phải là lớn nhưng cũng không nhỏ đối với một website tò te mới ra đời.

Trước ngày 17/8 chưa hề có ý nghĩ thành lập trang web xunau.org.  Sáng 17/8,Nam Thi phone gọi Sáu Nẫu ra quán cafe vĩa hè góc Võ Văn Tần-Trần Quốc Thảo tán dóc.Quán cafe nằm dưới hàng cây sao cổ thụ mùa này lá xanh mướt . Chợt nhớ đến lời hẹn với Trương Văn Dân…lại phone. Té ra Trương Văn Dân là người quen cũ của Sáu cách đây gần 50 năm. Gặp lại ,Trương Văn Dân chỉ thốt lên một câu rất ngắn “Trái đất nhỏ hẹp quá”  Chợt lóe lên ý nghĩ lập một trang web kết nối những người xứ Nẫu. Tại sao không?

Buổi trưa về nhà phone cho già làng, nhà văn Mang Viên Long và vài người bạn về dự định thành lập trang web mới thay cho nguoixunau.com đóng cửa trước đó vài ngày.Tất cả bạn bè xa gần từ Quy Nhơn ,Sài Gòn đến Nha Trang,Phú Yên đều ủng hộ nhiệt tình. Anh Mang Viên Long bảo “cậu cứ làm đi mình ủng hộ hai tay hai chân” .Buổi trưa quên cả cơm trưa,mày mò thiết kế website Xứ Nẫu .Hai giờ chiều trang xunau.org đã hoàn tất. Ba giờ chiều bấm nút enter…trên màn hình, banner bầy chim tứ xứ tụ về xứ Nẫu trong ánh hoàng hôn rực rỡ  xuất hiện.Vậy là xunau.org đã chính thức góp mặt cùng hàng tỉ website trên cõi đời này

.

Cú tưởng Xứ Nẫu không đứng được, thành thử những người chủ trương ngần ngại không đưa những hình ảnh đông vui của buổi tiệc nho nhỏ ngày khai trương lên mạng. Ngộ nhở nửa đường đứt gánh thì biết ăn nói làm sao !

Nhưng hình như nhờ nhiều người ..tội nghiệp và thương .. .xunau.org cứ chập chửng lớn lên trong vòng tay yêu thương của bạn bè .Tình cảm ấy biết nói sao cho vừa!

Ngay cả buổi ra mắt xunau.org cũng rất bất ngờ. Đang ngồi uống cafe Đơn Dương nhiều bạn bè gọi đến thúc hối sao chưa rửa web. Tưởng chuyện gì ,chuyện cụng ly côm cốp này thì không khó.Cái khó nhất là có rượu có mồi nhưng mời hoài mà không ai đến

Cứ phone và phone,vậy là xong !

.

Mai Thanh,Nam Thi,Trương Văn Dân,Thiên Bồng, Hà Văn Hoàng sau tuần rượu thứ n ở quán Sĩ Phú trên đường Cách Mạng Tháng Tám .Hình như ai cũng phê quá thì phải?

.Phàn Lê Huê từ Tây Sơn cũng kịp ghé qua. Người ngồi cuối bàn là Nguyễn Hữu Duyên Elena và Nguyễn Quy

.Bagiakhoua Lâm CẩmÁi từ Thái Lan về hôm nay trông rất dễ ưa! Ai cũng muốn tranh thủ chụp chung với nhà thơ kiêm chủ quán cafe Gia Nguyễn nổi tiếng

.

.Hai cha con Vinh Rùa và Chính Rùa đang rất phiêu!

.Hà Văn Hoàng lúc nào cũng rất trầm tư,ngày còn đi học anh đã được mệnh danh là triết gia

.Elena, phu nhân của Trương Văn Dân ,nhà báo từ Ý qua làm cho buổi gặp mặt có vẻ quốc tế hóa. Elena quấn bánh tráng chấm mắm nêm còn ngon lành hơn nhiều người xứ Nẫu xịn .Ciao ! ciao!

.Mai Thanh Nam Thi và Trương Văn Dân ba cây bút văn xuôi nổi tiếng của xứ Nẫu

Bagiakhoua và Elena hình như đang trao đổi những câu chuyện bí mật ..về trái tim!!!

.

.Nguyễn Quy rất ga lăng còn phanlehue rạng rỡ trong buổi ra mắt xunau.org

.

.Nào cụng ly mừng Xứ Nẫu

Nhiều người thắc mắc tại sao phóng sự ảnh lại ghi Xứ Nẫu một tháng một ngày và một giờ. Một tháng một ngày thì dễ hiểu rồi .Còn một giờ là để nhắc nhở những người chủ trương xunau.org không chủ quan. Sự thất bại của một website có thể đến bất kỳ lúc nào ,bất kỳ từ đâu. Khôn ba năm dại một giờ là vậy đó hì hì.

Hy vọng xunau.org cứ chầm chậm đồng hành cùng những người yêu xứ Nẫu

Sáu Nẫu

Read Full Post »

Một lần khoe với bạn rằng quê mình có món “tắc kè biển” ngon tuyệt, thằng bạn quê Gia Lai ngỡ ngàng hỏi lại: biển làm gì có tắc kè?     

Kỳ thực, đây là loại cá có “bộ áo” màu đỏ hồng, hai cánh dài dọc theo thân khá điệu đà. Gọi là cá tắc kè vì phần đầu khá giống con tắc kè rừng núi. Cá này cư trú sát đáy biển xa, mập tròn; con lớn nhất có thể nặng tới nửa cân. Chỉ có lưới giã cào khơi mới tóm được loài cá này. Tại bến, giá cá tắc kè khá dễ chịu. Nhưng vào nhà hàng, giá đã bị “quý tộc hóa” do thực đơn “vẽ” ra cái tên ngộ nghĩnh hơn: cá gà.

Cá tắc kè vốn không hạp với các món canh, kho, chiên. Nó chỉ thích lên giàn hỏa. Khi được “tắm” trong lửa thì cá mới cho hương vị đậm đà, chẳng cần ướp gia vị cầu kỳ mà vẫn “hữu xạ tự nhiên hương”.


Ảnh: Trần Cao Duyên

Nhưng phải nướng một cách “nghệ thuật” thì cá mới ngon. Cá chỉ cần rửa sạch, không phải động dao động thớt gì. Xếp cá lên vỉ sắt đã lót lá chuối bên dưới và đặt lên lò than vừa đượm. Hơi nóng được “lọc” qua lá chuối nên da cá không bị nứt nẻ, chất “ngư túy” không rỉ ra ngoài, vị ngọt của cá vì thế được giữ nguyên. Dùng que tre xuyên dễ dàng vào thân cá nghĩa là cá đã chín. Cá vừa được đưa ra mâm, đặt bên đĩa muối ớt chanh và mớ rau răm đã nghe dạ dày “kêu réo”.

Người sành ăn cá tắc kè hay “luận đàm” về món ngon nức tiếng này.

Thứ nhất, không dùng đũa mà phải… ra tay. Thịt cá săn chắc như thịt gà nên phải dùng tay xé ra từng miếng. Người thanh nhã cũng phải tạm “phàm phu” khi ăn món này. Nếu vì lịch sự mà dùng đũa để rỉa, gắp sẽ dễ bị trợt, cá như sống lại, “quẫy” ra ngoài mâm.

Thứ hai, ăn cá này mà không có bầu bạn, không kèm tí rượu thì quá ư lãng xẹt. Đầu các ngón tay dính cá nên mỗi lần “dzô”, ai cũng kẹp ly rượu vào kẽ tay, ngửa cổ, đưa lên và khà một cách khoan khoái. Nghe miếng cá đậm đà tan hòa trong hớp rượu nồng cay. Ai nấy vừa nhai tóp tép, vừa xuýt xoa khen cá ngon ngọt. Nhưng nếu chỉ khen cá không thôi thì cũng tội cho chanh, muối ớt, rau răm; bởi nếu không có “hỗn hợp” ấy thì y như rằng cá đi đằng cá, rượu đi đằng rượu.

Và đây là “điểm nhấn” của cá tắc kè: Bẻ đầu cá và rút ra khỏi thân, bộ lòng cá dính theo. Gan, ruột, bao tử béo bùi, lại pha chút đăng đắng dễ chịu của mật cá đọng khá lâu trên đầu lưỡi. Cứ thế, món cá tắc kè dường như thầm nhắc nhở bạn bè đón những chuyến xe về làng biển…

Trần Cao Duyên

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »