Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Hai người đi khắp thế gian

Ái Duy

                         

Cơn bão ập đến bất ngờ, trước dự báo của Đài khí tượng hàng nửa buổi trời, khiến cho họ bỗng dưng lâm vào tình thế tấn thoái lưỡng nan. Họ, là một người đàn ông và một người đàn bà, một chiếc xe wave Tàu, và một đích đến chưa xác định ở phía trước, trên cái con đường thiên lý độc đạo thăm thẳm.

(more…)

Read Full Post »

Vũ Thế Thành

 

Lời mở đầu: Bài viết dưới đây khởi thủy là thư cảm tạ gửi cho thân hữu đã đến thăm hay gửi lời chia buồn khi mẹ tôi mất hồi cuối năm ngoái. Vài tháng sau, một người bạn gửi cho tôi file dạng .pps có tựa“ For sons and daughters”. Đó là lời tâm sự của cha mẹ già với con cái. Đã bước qua cầu, đọc file này thấy thấm thía, não lòng. Có những cảm nhận trùng hợp, nhưng muộn màng. Tôi lược bỏ những tình tiết riêng tư trong thư cảm tạ, và thêm vào chút cảm nhận khi đọc file .pps trên.

(more…)

Read Full Post »

Từ Sâm

Tôi có thằng bạn,  lâu không gặp nhau thì nhớ, mà gặp thì chào hỏi, bắt  tay, bai bai không sao chứ năm mười phút tâm sự là bắt đầu sinh chuyện.

(more…)

Read Full Post »

Đỗ Hồng Ngọc

Tôi đi giữa Boston. Cả một mùa thu. Trọn một mùa thu. Nhớ tới Xuân Diệu với “Lá không vàng, lá không rụng, lá lại thêm xanh, ấy là mùa thu đã về, mùa thu mới về, yểu điệu thục nữ…”. Thực ra, lá như ráng níu lại chút xanh, và vì níu lại nên có vẻ chặt hơn, xanh hơn lên mà thôi. Bởi vì rất nhanh, lá bỗng vàng rượm, vàng rực, vàng tía, vàng buốt… và bầu trời rộng ra, thênh thang, yểu điệu kỳ cục. Mới mấy ngày thôi mà cây cứ tô dần tô dần cái màu vàng buốt, óng ả, rực rỡ chen lẫn với xanh đậm, xanh lợt mong manh đó… và sáng hôm sau, rơi từng lá từng lá tràn ngập các lối đi.

Thu ở Boston hình như lạ hơn thu ở những nơi khác trên nước Mỹ, nên hàng năm cả nước Mỹ hành hương về Boston giữa mùa thu vàng. Họ không gọi Autumn – mùa Thu, mà gọi Fall – mùa Rụng, bởi vì chỉ có lúc lá rụng bời bời như vậy người ta mới thấy hết được nỗi vui mừng, nỗi xót xa, nỗi buốt nhớ… không rõ vì đâu. Và vì Fall, người ta dễ “fall in love” có phải, vì vậy mà người qua đường như cũng đẹp thêm ra, luộm thuộm thêm ra với lụa là gấm vóc, không còn nhếch nhác mùa hè mà cũng chưa cục mịch mùa đông. Tôi chưa có lần nào được sống thu như vậy, hoặc là chỉ sống với mùa thu sách vở, tưởng tượng ra cái mùa thu không có thật giữa miền Nam mưa nắng hai mùa nên tôi cứ lang thang, lang thang mà dòm cho hết cái thu của Boston. Và tôi bỗng nghe. Vâng, lúc đầu tôi chỉ định dòm thôi nhưng tôi bỗng nghe, không phải là tiếng quạ kêu quang quác thảng thốt, cũng không phải tiếng chim cu gù rúc rúc quyến rũ mà là một thứ tiếng lạ, tôi chưa từng nghe bao giờ, tiếng thu. Và tôi giật mình nhớ Lưu Trọng Lư. Chính Lưu Trọng Lư chứ không phải ai khác. Em không nghe mùa thu. Rõ ràng thu không phải để dòm, để ngó, để ngắm, để nghía… mà chỉ có thể để nghe. Mà cũng không phải để nghe tiếng, dù là tiếng lá rụng mà để nghe mùa. Cái tiếng mùa đi, mùa về, cái tiếng đời của mỗi chúng ta. Nó ở trong không gian dằng dặc, đùng đục thênh thang kia, và ở cả trong thời gian hun hút, héo hon rơi rụng nọ, một thứ “tiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi…” (TCS) đó chăng.

Tôi bước đi từng bước nhẹ dưới những vòm cây và nghe cho hết tiếng thu về. Dưới chân mình là từng lớp lá rụng, bước chân bỗng như hẫng đi và tôi chợt ngơ ngác. Thấy mình như không còn là mình nữa. Hay mình là nai? Có thể chứ? Con nai vàng ngơ ngác của Lưu Trọng Lư? Và… Ơ hay… Có lẽ nào… Hay cũng chính là… Cũng có thể là… không hề có một con nai nào cả, mà nhà thơ, chính nhà thơ là nai! Thôi rồi, đừng có hòng mà giấu giếm gì nữa nhà thơ ơi! Chính nhà thơ là con nai vàng đang bước đi từng bước huyễn hoặc ngơ ngác đó thôi, sao lâu nay cứ làm cho người ta tưởng là có một con nai thiệt, đến nỗi trong một bài dịch thơ sang tiếng Mỹ, người ta cứ dịch con nai là con nai, có tội nghiệp không chứ! Phải rồi chính nhà thơ mới là con nai, một con nai ngơ ngác, nghe tiếng mùa yêu và fall in love. Với ai, vì sao nên nỗi? Có phải cái tiếng thổn thức, cái tiếng rạo rực của ai kia đã một hôm thu làm cho chàng thi sĩ trẻ tuổi trở thành một con nai, lang thang dẫm ngập lá vàng, hẫng bước đi mà chẳng biết về đâu, vì sao…

Đỗ Hồng Ngọc

Read Full Post »

Sướng đến ngất

Trần Kỳ Trung

Chết Tâm rồi! Phòng tổ chức nhà trường vừa ra thông báo. Tiêu chuẩn hoá cán bộ giảng dạy trường này, thấp nhất, phải có bằng Phó tiến sỹ. Gọi tắt là “ Phờ tờ sờ”.( 1) Để hoàn thành luận án “ Phờ tờ sờ”, đối với Tâm, Tâm tự đánh giá một cách thành khẩn, còn khó hơn “ nhịn đói mười lăm ngày còn bắt đi bộ vượt đèo Hải Vân.”. (more…)

Read Full Post »

Bông hồng cho cha

 HUỲNH NGỌC NGA

(Kính dâng hương hồn ba)

 

 

Trong phòng  có chín người, tất cả cùng im lặng khác hẳn những nhốn nháo mấy giờ trước đó, mặt người nào cũng lộ vẻ bồn chồn, lo lắng, nhất là bà Năm , bà ngó đồng hồ, nhìn điện thoại rồi trông ra cửa, chốc chốc lại thở dài. Ngọc, Phượng và Kim cũng không khác gì mẹ , họ có cảm tưởng thời gian như cô đọng lại trong sự đợi chờ, chờ một tiếng chuông kêu mở cửa hay một tiếng reng điện thoại để báo cho các nàng tin tức ông Năm, cha của họ. Trung và Hiếu – hai cậu con trai – và ba anh con rể, kẻ chống càm đăm chiêu suy nghĩ, người đi đi lại lại búc xúc từng bước chân vang.

(more…)

Read Full Post »

Cái đuôi

Trần Văn Bạn

Người có đuôi”, đó là sự kiện nổi bật nhất của năm mà giới báo chí mặc nhiên bầu chọn. Gần hai tháng trôi qua, sự kiện vẫn giữ nguyên tính thời sự. Tính chất bí ẩn, kỳ lạ của sự kiện đã đánh thức thường trực cái tính tò mò vốn không có giới hạn của con người ta. Lẽ ra, sự kiện “người có đuôi” đã bị người ta nhấn chìm, nếu người có đuôi là một thằng cha căng chú kiết, một thằng khố rách áo ôm, một thằng đầu trộm đuôi cướp nào đó, nhưng đằng này, “người có đuôi” lại là một giáo sư, một công dân khả kính, một trí tuệ siêu phàm. (more…)

Read Full Post »

Cái bẫy dịu dàng

Thuận Nghĩa.

 

Bạn cũ của tôi ngoài 60, định cư ở Canada mấy chục năm. Sau khi vợ qua đời, các con trưởng thành, anh quay về Việt Nam sống vì một lẽ giản đơn: ngán mùa Đông băng giá xứ người. Tôi tin anh nói thật vì Canada rất lạnh, người già rỗi việc suốt ngày ngồi bên lò sưởi, dễ bị trầm cảm. Nhưng theo tôi đoán anh còn có những lý do khác hơn vì một người có bằng cao học Hán-Nôm của ĐH Văn Khoa Sài Gòn ắt tâm hồn có cả kho suy nghĩ, tình cảm, sở nguyện, ước mơ…

 

Tôi đoán trúng ngay chóc. Không gặp nhau một thời gian dài, bỗng một hôm anh mời tôi uống cà-phê để giới thiệu “bạn gái” của anh. Tôi nghĩ bụng rằng cha già nầy sinh tật, với cái “mác” Việt kiều, hẳn đã vớ một em chân dài. Tôi thật sự ngạc nhiên “bạn gái” của anh còn khá trẻ – chắc bằng nửa tuổi anh – bồng theo một bé gái còn đỏ hỏn. Anh cười tươi bảo: “ …con gái tao đấy”. Tôi nhìn người phụ nữ thăm dò và cô ấy dường như thấy cái dấu hỏi to tướng trong mắt tôi, nên cũng cười tươi, xác nhận: “ cháu được tám tháng…”. Anh tỏ ý nhờ tôi “tư vấn” để mua một căn nhà nhỏ làm tổ ấm…

 

Khi đứa bé khóc, “vợ” anh – theo thuyết chính danh khi bạn gái có con với anh thì phải gọi là vợ mới trúng –  bồng đứa bé đi lòng vòng trong vườn để dỗ cháu, tôi bảo: “ mầy đã có năm đứa con rồi, sao còn “dính” thêm chi vậy?”.

 

Anh tỉnh queo kể: “ Bà nầy là em gái bạn tao ở Canada. Lúc đầu tao với bã thỏa thuận hai điểm. Thứ nhứt, không để có con. Thứ hai, không đòi xuất cảnh. Bã OK vì bã cũng có một đứa con với đời chồng trước và có mấy anh chị em ở nước ngoài nên bã biết ở bển chẳng phải là thiên đường. Tao với bã dắt nhau đi chơi khắp nước. Cả đời lo học rồi lo kiếm tiền, đâu có thời gian đi chơi với vợ, nay được tiếu ngạo giang hồ, vui hết biết. Tao cao hứng làm cả trăm bài thơ cả tiếng Việt và tiếng Hoa, hầu hết là thơ tình. In rồi, hôm nào gửi mấy xem chơi. Mầy biết đấy, tao làm thơ từ hồi trung học. Thế mà qua bển, tao tịt luôn…”

 

Anh nhấp ngụm cà phê sữa rồi tiếp: “ Bỗng một hôm bã báo tin sét đánh: “em cấn thai rồi “, hỏi tao nên để hay phá. Tao chết lặng, cố lắm mới không kết tội bã vi phạm hợp đồng. Tao suy nghĩ hai ngày mới đi đến quyết định giữ cái thai…”.

 

Anh giải thích: “ Đã có năm đứa con thì thêm đứa nữa cũng được. Dầu sao cũng là giọt máu của mình, bỏ nó mang tội. Hơn nữa, tao với bã đâu phải cặp với nhau qua đường. Bã tội lắm. Có bã tao thấy cuộc sống có ý nghĩa. Tao không biết đó có phải tình yêu hay không. Mầy biết đấy, người lớn tuổi như bọn mình thì vợ con, xã hội không cần mình nữa. Chẳng lẽ sống chờ chết…Bã còn trẻ, tao có chết trước thì bã nuôi con. Tiền dưỡng già của tao đủ để mẹ con bã sống…Tao nói điều nầy chắc mầy ngạc nhiên: tao thương con bé nầy nhiều hơn các anh chị nó, có lẽ vì suốt ngày tao bồng bế nó, còn mấy đứa kia tao đâu có thời giờ gần gũi, chăm nom…À, khi biết tao có đứa bé nầy, mấy anh chị nó bên Canada đều chúc mừng và mong sớm có dịp gặp em và…dì. Chúng nó còn gửi lời cảm ơn dì đã săn sóc tao thay chúng nó”.

 

Cha già con muộn nhưng có vẻ tình không muộn. Tôi chưa kịp nói lời chúc mừng anh thì vợ anh bồng con trở lại để cho cháu bú. Tôi quan sát “bố già” lấy bình sữa từ trong xách của vợ, xích ghế lại gần cho con bú một cách điệu nghệ và thích thú. Nhiều người trong quán chăm chú nhìn, có lẽ đến lúc ấy họ mới nhận ra ông già đó là bố của đứa bé chứ không phải ông ngoại. Anh còn tỉnh bơ bảo con rõ lớn:” Bé ngoan BA thương…”.

 

Trước khi chia tay, anh bảo tôi: “ Bã mang bầu tới mười ba tháng…nên cháu phát triển rất tốt”. Thấy tôi trố mắt, hắn giải thích: “ Thật ra, khi báo tao có thai, bã chưa cấn thai. Bã thử tao đấy. Khi thấy tao chấp nhận có con bã mới yên tâm có thai. Phụ nữ giữ quyền quyết định yes hay no mà. Bã gài bẫy tao…”. Anh cười nhìn người vợ trẻ và chị cũng cười theo***

 

Một cái bẫy dịu dàng.

 

* Thuận Nghĩa

8-2012.

Read Full Post »

Trần Dzạ Lữ

Lần giở trang đời, đôi khi một sát-na nào đó mình lại mặc khải, thị hiện những tình yêu thương vô bờ, những nhớ nhung vô tận và những gửi trao,tận hiến rất tình cờ trong đau đáu đắm say. (more…)

Read Full Post »

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

Trong các làng quê, nói về tuổi tác, giới tính: có cô thôn nữ, anh trai làng, người quá niên (Quá niên trạc ngoại tứ tuần…Truyện Kiều – Nguyễn Du)… Và còn có ông lão nông nữa.

Ông lão nông là ai? –Hồi xưa, tuổi già đến sớm lắm,  “mười lăm trẻ, năm mươi già không kể” (thơ Nguyễn Công Trứ) cho nên lão nông thời đó, được kể từ tuổi 50 trở lên. Bây giờ, bước vào lão nông, chắc cũng phải tuổi từ 60.

Lão nông có một quãng đời trực tiếp làm nông, làm nông dân, tức ông đã từng cầm cày, cầm cuốc, lên bờ xuống ruộng với bao nông dân khác. Nhưng nay thì ông đã ở tuổi cao niên rồi và được mọi người gọi là lão nông, nhiều khi còn được gọi là lão nông tri điền.

Bây giờ, ông lão nông đang sống cuộc đời “hậu nông dân” của mình như thế nào? Việc của nông dân là việc ruộng vườn, hết ruộng tới vườn. Từ nay, ông lão nông về với mảnh vườn của nhà mình, giao lại việc ruộng cho con cái, thường là anh trưởng nam. Người ta bảo có thú “điền viên”. Đúng là có cái thú ấy, và cái thú ấy dành cho mọi người, nhưng hình như giới quan lại, công chức về hưu là được hưởng nhiều nhất. Nguyễn Bỉnh Khiêm viết: “Một mai, một cuốc, một cần câu / Thong thả nào ai vui thú nào” , khi ông đã từ bỏ “chốn lao xao”, tìm về “nơi vắng vẻ”.

Không phải lão nông không làm ruộng nữa. Ông vẫn có làm ruộng đấy chứ, nhưng làm những việc nhẹ nhàng thôi. Thường thì sớm ngày vác cuốc thăm đồng. Người ta vẫn thấy, có những ông lão nông đi đâu cũng vác cuốc trên vai, thậm chí đi ăn giỗ nhà bà con, nhà từ đường tộc họ gần, xa. Tới nơi rồi, dựng cuốc ngoài giếng, rửa chân, bước thẳng vào nhà trên. Đó là do thói quen của lão nông. Ai đã xem tuồng hát  Lòng già yêu nước (Còn gọi là Ngọn lửa Hồng Sơn), còn nhớ: Ông Tạ Ngọc Lân (cha) đến dinh cơ ông quan to Tạ Kim Hùng (con), được Tạ Kim Hùng mời ngồi ghế, ông ngồi bệt xuống đất. Tạ Kim Hùng hỏi, tại sao? Ông trả lời: – “Tôi quê mùa, hằng ngày đi cày ruộng, ngồi đất đã quen”. Đó là thái độ cứng cỏi của ông cha nông dân trung nghĩa đang tìm cách trừng trị thằng con bất hiếu, bất trung, theo giặc, làm điều phản nước hại dân. Nhờ có cây cuốc “thường trực” ở trên vai, cho nên ông lão nông đi đâu, cũng “kết hợp” thăm được đám ruộng: Gặp khô thì tháo nước vào, gặp úng xả nước ra; gặp lỗ mội thì dện; đi đường mỏi, sẵn cán cuốc ngồi lên nghỉ chân, cũng tiện…

Mặc dù, các lão nông không còn cày ruộng, nhưng “chủ trương” việc làm ruộng của gia đình, làng xóm đều từ lão nông mà ra. Năm có hai vụ mùa tháng ba và tháng mười. Trước khi vào vụ, hương chức làng thường mời các lão nông đến để “trưng cầu ý kiến”, hỏi các cụ xem, thời tiết sắp tới ra sao? (thời xưa chưa có cơ quan dự báo thời tiết như bây giờ), ngâm giống, gieo mạ lúc nào? giống lúa nào được, giống lúa nào không chắc ăn? ruộng chân cao, ruộng chân thấp, mỗi ruộng cấy giống gì cho hợp? … Thường thì các cụ cho phép đến đâu, làng xóm y án làm theo đến đó, bằng không cho phép thì dẫu làng có muốn, cũng đành thôi.

Ba năm có một lần, làng tổ chức quân cấp ruộng cho toàn dân. Việc quân cấp ruộng cũng được mời lão nông đến tham gia. Lão nông thuộc vanh vách, nằm lòng từng đám ruộng một ở trong làng, nhờ đó giúp cho làng việc lập sổ bộ, vẽ sơ đồ, lên phương án quân cấp sao cho công bằng, dân không có chỗ kiện thưa lôi thôi. Có nhiều trường hợp lão nông ngăn chận được Lý trưởng, Hương bộ có bụng tham, để ruộng ra ngoài sổ bộ mà thủ lợi riêng.

Hồi còn sức trai, ông Sáu Ngật cày ruộng, nuôi trâu, đẽo cày, giao du với nông dân, hút kèn thuốc lá, ngồi đâu nói chuyện ruộng sâu trâu nái, cái đập, con mương đó …Nay, bước sang tuổi lão nông, vẫn tính nào tật nấy, như người ngứa nghề, ít khi ông chịu ở nhà, nhỡ hôm nào kẹt quá, không ra đồng được là ông đứng ngồi không yên. Ông vẫn bảo, ra đồng sẽ có khối việc làm: Bước xuống ruộng đỡ cây lúa ngã, gặp cái thằng biết ăn mà không biết cày ruộng, thì chỉ nó vài đường cày, cho nó khôn… Bằng không làm gì thì ngắm đồng cho thỏa mắt, cũng hay. Nhiều hôm, chiều rồi, gió nồm rộ, hay ngọn gió nam non, cơn gió bấc lạnh lùng thổi, khiến cánh đồng lúa xanh lên tiếng rì rào và từng đợt sóng lúa nổi lên. Trên sóng lúa, hình bóng ông Sáu Ngật với nón lá trên đầu, cái cuốc trên vai trôi dập dềnh, dập dềnh…

Hồi tôi ở làng, cách nay cũng chừng 40 năm, vậy mà tôi còn nhớ như in các lão nông ở trong làng. Nước lụt trắng đồng, có mấy lão nông đi đầu, chống sõng cứu người, cứu lúa; làng hát bội có mấy lão nông trực tiếp chỉ huy, sai bảo đám nhân công cất sân khấu làm tự nguyện cúng Thần; đám ma có lão nông cầm sanh gõ cắc cắc… để điều khiển dân phu đòn; hát hò giã gạo đêm trăng, hò kéo gỗ trên sông, có lão nông chủ trò…

Nhiều lão nông là ông lão trồng hoa, dành bàn tay để chăm chút khóm hoa, chậu cây cảnh, mấy chùm hoa trước giậu, dăm gốc cây ăn quả… Như vậy là hằng ngày lão nông có thú vui uống trà ướp hoa tươi, có quả ngọt ngon cho con cháu ăn. Rồi có một ngày, lão nông sẽ thấy mình phơ phơ đầu bạc, mắt mờ chân yếu, không làm gì nổi nữa. Bây giờ, ông ở nhà trông cháu, kể chuyện đời xưa cho con cháu xúm nghe. Mỗi chuyện đời xưa của ông đều dạy việc luân thường đạo lý, ở ăn có nghĩa có nhân, có ích cho đời…Ngày nay, trong các làng nghề trồng hoa Xuân (đã được công nhận) của huyện An Nhơn, vẫn nổi tiếng những lão nghệ nhân trồng hoa Hai Ngữ, Ba Sự, Mười Khoa, Sáu Long, Phàng Chiểu, Kim Vân… đều ở tuổi 60 – 70 hoặc mới về hưu, còn mạnh khỏe. Họ đang sống đời sôi nổi và đang cùng nhau làm nên danh tiếng của một vùng đất.

Người có học thức ở trong làng thì khéo tiếp nhân xử vật, còn lão nông thì giỏi ruộng vườn, cho nên cả hai đều được nể trọng. Hồi xưa, làng tôi có lệ làm lễ hạ điền hằng năm, vào dịp sau Tết Âm lịch. Làng vẫn mời ông lão nông cao tuổi nhất trong làng, đứng chủ lễ và bước xuống ruộng, mở đường cày đầu tiên để bắt đầu một năm canh tác mà người ta tin rằng nhờ phúc đức của vị lão nông sẽ được mưa thuận gió hòa, phong đăng hòa cốc.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »