Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Thơ ca’ Category

Lãng tử hồi đầu

Vũ Thanh

Chiều chia ly vạt nắng Thu vừa tắt
Dáng em buồn – tóc xỏa giữa hoàng hôn
Em nào biết những ẩn tình son sắc
Chí làm trai – núi lở với sông mòn
*
Xin thâm tạ ân tình em sâu nặng
Anh mang theo vực mắt thẳm, bờ môi
Dấu trong tim bao nỗi đau thầm lặng
Khúc vinh qui anh nguyện sẽ tái bồi
*
Nhưng mười năm bước chân hằn đá sỏi
Bạt ngàn dâu – biển rộng nhớ sông dài
Sương pha tóc những đêm sầu quan tái
Ngóng kinh thành – anh để thẹn đời trai
*
Biết không em có một chàng lãng tử
Ở bên trời quay quắt những đêm say
Nợ tang bồng trắng tay đời cô lữ
Hổ với lòng – chín hẹn đã mười sai

Bến sông xưa đành để duyên tẻ lạnh
Giọt rượu nồng tưởng giọt lệ ái ân
Nhớ về xa – bóng ai đang cô quạnh
Lệ anh hùng nhỏ xuống khóc giai nhân
*
Chí đã mòn công danh còn lỡ dỡ
Mộng không thành mười năm hận khắc sâu
Bước lê thê cố hương sầu nức nở
Lặng bên sân chàng lãng tử hồi đầu
Đừng lạnh lùng, xin ngoảnh lại nhìn nhau !!!
.
Vũ Thanh
(Viết cho tâm sự chàng lãng tử – người yêu của
nàng sương phụ đất Qui nhơn trong bài Tương Tư Lợ)

Read Full Post »

Tương tư

Nguyễn Thị Thanh Long

Nửa đời vấp phải tương tư
Không gặp thì nhớ
gặp ư
thẹn thùng

Ông trời sao khéo dửng dưng
Thương mà vẫn cứ ngại ngùng đường xa

Nhớ mà chẳng dám nói ra
Vu vơ hờn dỗi như là
không yêu…

Vào ngơ ra ngẩn mỗi chiều
Muốn người hò hẹn
muốn liều một phen

Đêm về
đêm cứ gọi tên…

Read Full Post »

Thi sĩ

Trần Thoại Nguyên

Thưở mê hoa
Hồn tôi như cánh bướm
Vàng đêm chập chờn thơ
Vàng đêm miên man mộng tưởng

Thời gian xanh màu lá cây
Nỗi buồn có khuôn mặt đẹp
Trên đỉnh hồn thơ say
Tôi hiện về từ tiền kiếp
Lời yêu thương reo trong máu
Hạt chân lí khát khao hồn
Sự sống như hoa báu
Nở trên cành thu đông.

Những lầu đài rêu phong
Những con đường mòn sáo
Bia mộ dựng kín những cánh đồng
Tôi sống cô đơn từng ngày hư ảo
Nắng lên nắng tắt sau vườn
Mắt lá chong buồn
Đêm trắng
Mắt lệ sương

Tàn khuya núi đá vô ngôn
Bướm tiền duyên về đậu
Ôm mảnh cô hồn
Tôi gối đầu trăng sao say sáng tạo.

Hỡi nàng thơ diễm ảo
Nàng là hoa sóng sắc hương trời
Hoa tình yêu ánh sáng tinh khôi
Nghìn thu không lỗi hẹn
Rót mộng cứu vớt hồn người
Giữa mùa khói sương hư huyễn
Cho tôi còn niềm vui
Niềm tin yêu cuộc đời.

Gió thổi qua mùa hư không
Lá vặn gân lá máu đông
Hoa tàn kiệt
Mặt đất rung cơn hủy diệt
Cõi người xương máu áo cơm
Điêu khắc thành sầu đáy huyệt
Cõi người xương máu điêu linh
Héo hắt những linh hồn !

Mây bay về vô biên
Gọi tên tôi Trần Thoại Nguyên
Thảng thốt hồn bướm dậy
Thơ bay lên bay lên…

Ôi một thoáng đời thôi
Nghìn sau im lặng mãi mãi!
Trên đỉnh hồn thơ tôi
Một đóa hoa gửi lại

Read Full Post »

Nhật Chiêu

Ánh sáng lạ nhất trong thơ ca tiền bán thế kỷ hai mươi ở bán đảo Triều Tiên là HAN YONG-UN (1879-1944) và ở bán đảo Đông Dương là HÀN MẶC TỬ (1912-1940).

Thơ ca của họ vừa sâu thẳm những tố chất truyền thống Đông Á vừa dậy lên những làn sóng mới bất ngờ đến kinh ngạc.

Thoạt nhìn, Han Yong-Un (Hàn Long Vân) và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ rất khác biệt ngoài yếu tố vừa kể trên.

Song, khi đặt thơ họ bên nhau thì trong ánh sáng tương chiếu, ta sẽ khám phá ra những điệu thơ đồng dạng.

Sự đồng điệu lớn nhất của họ thể hiện ở “niềm im lặng” trong thơ.

Thơ của họ là một thứ ngôn ngữ đang tìm kiếm niềm im lặng.

Phong trào Thơ Mới của hai xứ (Hàn và Việt) có nhiều tài năng. Đương thời họ nổi bật hơn hai nhà thơ họ Hàn mà ta đang đối chiếu.

Nhưng rồi ta biết, bây giờ và tương lai, hai cái bóng của Hàn Long Vân và Hàn Mặc Tử  ngày càng lớn dậy trong nền thơ ca Đông Á.

Niềm im lặng trong thơ họ tỏa sáng. Đó là niềm im lặng tạo nên ý nghĩa (a kind of silence of signification) nói theo Roland Barthes.

***

Han Yong-Un là một thiền sư, một chiến sĩ, học giả, nhà văn, nhà tiên tri, nhưng trước tiên và trên hết, ông là một nhà thơ.

Ông qui y năm 1905 với pháp hiệu là Manhae (Vạn Hải).

Hàn là một trong 33 chí sĩ lãnh đạo phong trào độc lập của Hàn Quốc năm 1919 chống ách đô hộ của Nhật.

Ông viết nhiều tiểu luận về Phật giáo và sáng tác với nhiều thể văn khác nhau.

Kiệt tác của Hàn Long Vân là tập thơ Niềm im lặng của Tình yêu (Nim ui chimmuk, 1926), niềm tự hào của thơ mới Hàn Quốc, gồm 90 bài thơ xuôi (thơ tự do).

Khác hẳn Hàn Long Vân, nhà thơ Hàn Mặc Tử có một cuộc đời ngắn ngủi và bệnh tật. Hoạt động chủ yếu của Tử là viết báo và làm thơ, ngoại trừ thời gian ngắn có quan hệ với chí sĩ Phan Bội Châu ở Bến Ngự (vì thế mà bị Pháp xóa tên khỏi danh sách du học). Tử vướng phải bệnh phong từ năm 24 tuổi. Bốn năm sau, ông vào nhà thương phong Quy Hòa. Dù vậy, Tử có cuộc đời tình ái thuộc vào loại nổi tiếng nhất trong thơ ca Việt Nam. Nhưng đối với đời, Tử là Người Thơ, chỉ thế mà thôi. Tài thơ ấy bộc lộ qua các thi phẩm nổi tiếng Gái quê, Chơi giữa mùa trăng, Đau thương, Xuân như ý.

Tại sao Hàn Long Vân gọi tập thơ của mình là Niềm im lặng của Tình yêu (Nim ui chimmuk)? Chữ NIM (Tình yêu) mà nhà thơ dùng ở đây là một đại từ đa nghĩa, nhiều chiều, ta sẽ bàn sau.

Trước tiên, là “niềm im lặng” (chimmuk: trầm mặc).

Trước mọi tiếng ồn, âm thanh tất nhiên là im lặng. Phật được gọi là MUNI, người im lặng.

Theo dịch giả Francisca Cho, niềm im lặng ở đây có thể được diễn giải như sau: “Niềm im lặng tìm kiếm một bờ cõi nghệ thuật xuyên lịch sử để nói với tất cả những ai đang ước vọng. Manhae từng dùng tất cả thể loại văn chương có sẵn, kể cả chính luận và tiểu thuyết từng kỳ. Tuy nhiên, chính là thơ ca của niềm im lặng khởi từ nguồn triết lý Phật giáo dung hợp với tình thế lịch sử riêng biệt của mình mà nâng lên thành cuộc trầm mặc trong động lực phổ quát của ước ao. Niềm im lặng vận hành xuyên qua lịch sử cá nhân để tự vượt mình mà đến với sự thấu thị tôn giáo và thẩm mỹ”(1).

Hàn Mặc Tử cũng thường nói về người thơ như một “người nín lặng”. Trong bài tựa Thơ Điên năm 1938, ông viết:

“Người thơ chính là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo.

Trên đầu người là biển cả vô biên và vô lượng… Người nín lặng để mà nghe tiếng trăng reo vang vang như tiếng châu báu vỡ lở”.

Người thơ im lặng đến mức Tử phải tự hỏi:

“Người thơ chưa thấy ra đời nhỉ?”

(Cuối thu)

Và nếu như Hàn Long Vân khởi đi từ nguồn triết lý Phật giáo dung hợp với tình thế lịch sử của mình thì điều đó cũng không xa trường hợp Hàn Mặc Tử.

Trong bài tản văn Chiêm bao với sự thực, Tử viết: “Và tôi sẽ ký thuyết minh một cách rất nhà Phật là sắc cũng như không, chết cũng như sống, gần cũng như xa và hư cũng như thực…”.

Tất nhiên, tư tưởng Thiền của Hàn Long Vân và tư tưởng tôn giáo của Hàn Mặc Tử có nhiều điều khác biệt.

Thiền của Long Vân kết hợp với tinh thần dân chủ và tự do hiện đại.

Tư tưởng tôn giáo của Tử là phối sắc của Phật, Đạo và Chúa.

Tất cả điều đó lọc qua thần trí cá nhân của hai nhà thơ, tạo nên thơ ca của niềm im lặng.

Niềm im lặng ấy trong văn chương là một cái gì rất cũ mà cũng rất mới. Thơ Vương Duy đời Đường, thơ văn Lý Trần ở Việt Nam…

Văn chương đương đại cũng đi đến niềm im lặng ấy theo cách thế của mình. Chẳng thế mà Gerard Genette khi nói về Những niềm im lặng của Flaubert đã quả quyết rằng:

“Ngôn ngữ chỉ tự mình trở nên văn chương phải trả giá bằng cách tự mình chết đi, vì nó phải đánh mất ý nghĩa của nó để đạt tới niềm im lặng của tác phẩm nghệ thuật. Hơn nữa, cuộc đảo hoán này, cuộc xoay chuyển ngôn ngữ thành niềm im lặng này đối với chúng ta hôm nay, là yếu tính của văn chương”(2).

Nhưng im lặng cũng như chân không trong văn chương không phải là sự bất động, cái chết hay sự trống rỗng.

Đây là một niềm im lặng mà Han Yong-Un gợi nên:

Lá ngô đồng bay lặng lờ qua không gian lặng gió – đó là dấu chân ai?

Tương tự thế, đây là câu thơ của Tử:

Ai đi lẳng lặng trên làn nước…

Không nói không rằng nín cả hơi!

Niềm im lặng mà cả hai tạo nên là cả một thế giới huyền bí.

“Dấu chân ai” của Long Vân và “ai đi” của Tử vừa có vừa không, vừa hư vừa thực. Ai ở đây không chỉ là sáng tạo của nhà thơ mà còn là phải nhận được hồi đáp sáng tạo của người đọc.

Nói theo Jeon Bo Sam, viện trưởng viện nghiên cứu tư tưởng Han Yong-Un, thì: “Niềm im lặng ở đây không đơn giản là thiếu vắng tiếng động, mà đó là một tiếng kêu mới, vang ngân đến tận đôi tai của chúng ta”(3).

Tiếng kêu mới (un nouveau cri)! Phải rồi, đó là tân thanh của Nguyễn Du. Tiếng kêu mới của mọi nhà thơ xứng danh thi sĩ. Nhà thơ, đó là người biết tạo nên khúc tân thanh từ những niềm im lặng của con người.

Niềm im lặng ở đây là một nghịch lý. Niềm im lặng là cái ẩn giấu trong ngôn ngữ, là cái không nói ra. Và khi ta cảm nhận được niềm im lặng ấy rồi thì ta cũng sẽ tìm thấy một thứ ngôn ngữ ẩn giấu trong đó. Cái ẩn giấu là cái vô hình. Ngôn ngữ dừng lại trong im lặng để cái vô hình ấy lan dần. Từ đó mà niềm im lặng cất lên tiếng hát.

Thơ ca như vậy biến nhà thơ và người đọc trở thành kẻ chiêm nghiệm và trầm mặc.

Chúng ta có thể tìm kiếm niềm im lặng ấy qua những ngấn tích sau đây trong thơ Han Yong-Un là Hàn Mặc Tử:

– Niềm im lặng của Nim và Ai

Thơ Han Yong-un là cuộc trò chuyện bất tận với Nim. Đó là Nim bên trong tâm hồn ông. Nên cuộc trò chuyện ấy biến thành cuộc độc thoại nội tâm.

Hàn Mặc Tử cũng thường trò chuyện với một đối tượng trữ tình là Ai. Ai đó là người yêu dấu, là một hồn linh huyền bí mà cũng có thể là một cái tôi khác của nhà thơ.

– Niềm im lặng của Trăng và Thơ

Đây là niềm im lặng của thiên nhiên và cái đẹp. Hình ảnh thiên nhiên vừa phù du vừa vĩnh cửu, vừa bình yên vừa biến ảo luôn luôn được biểu hiện trong ngôn ngữ của hai nhà thơ. Và bản thân thơ ca, người thơ, bản thân cái đẹp cũng trở thành tiêu điểm trong cuộc hành trình của họ.

– Tình yêu của niềm im lặng

Niềm im lặng sâu thẳm nhất là cái chết. Đối với hai nhà thơ tâm linh này, cái chết không đối lập với đời sống. Hơn nữa, trong cái chết và im lặng có đời sống và tình yêu.

1. NIỀM IM LẶNG CỦA NIM VÀ AI

Tập thơ Niềm im lặng của Nim xuất hiện vào những năm 20 thế kỷ trước đáp ứng đòi hỏi của một thực tại đang cần một tiếng thơ mới ở Hàn Quốc. Tuy phong trào Thơ Mới đã được thiết lập từ năm 1908 với bài Từ biển cả đến trẻ thơ của Choe Namson, nhưng cả Choe cũng như các thi sĩ Chu Yohan, Kim Ok và Kim Sowol, dù sáng tạo nhiều bài thơ được mọi người yêu thích, cái trữ tình của họ vẫn thiếu chiều sâu tư tưởng, thiếu một triết lý giúp nó kết nối mộng và thực.

Với Niềm im lặng của Nim, Han Yong-Un đã giải thoát cho dòng thơ đương đại đang có nguy cơ tắc nghẽn bằng một thứ thơ tự do mới lạ, vừa trữ tình vừa tâm linh, vừa thực tại vừa huyền bí, mà chẳng cần mô phỏng các trào lưu văn học phương Tây. Tất nhiên, không phải tác phẩm của họ không chịu ảnh hưởng từ bên ngoài. Bản dịchGitanjali (Thơ Dâng) của R. Tagore phổ biến ở Hàn Quốc vào năm 1923 cũng như nhiều tập thơ khác của thi hào Ấn Độ đã gây cảm hứng nồng nhiệt; đó là thơ soi chiếu thực tại huyền bí bằng giọng điệu của tình yêu. Trong Niềm im lặng của Nim có thể nghe thấy dư vang của Gitanjali và Người giữ vườn.

Ở Ấn Độ, Tagore là một thánh sư (Gurudeva), còn ở Hàn Quốc, Han Yong-Un là một cao tăng, một thiền sư. Tập thơ Niềm im lặng của Nim với chín mươi bài thơ được soạn ra như để làm mới lại khái niệm Nim, một đại từ có ý nghĩa rất đặc biệt và biến hóa trong tiếng Hàn. Trong thơ tình, Nim là người yêu, bạn tình. Trong thơ đạo lý, Nim là minh chủ, là nhà vua. Trong thơ tôn giáo, Nim là Phật, Chúa, Vĩnh cửu.

Có thể nói NIM vừa là chủ thể vừa là đối tượng trong tình yêu, là chính bản thân tình yêu. Do đó, đất nước, cuộc đời, cái linh thiêng… đều có thể gọi là Nim. Tùy trường hợp, có thể dịch Nim sang tiếng Việt là ngài, người, ai, anh, em…

Với Hàn, “đó là một điều ta ước vọng”.

Vậy thì Nim là du khách, ta là con thuyền:

Ta là con thuyền

Em là du khách

Em bước lên ta bàn chân bùn lấm

Ta ôm em mà thầm lặng băng sông

Khi ta ôm em, dù sâu hay cạn

Dù nước kia chảy xiết thế nào

Ta vẫn không ngừng vượt sóng…

(Bài 14)

Đó là một người khách huyền bí. Gần cũng như xa. Có mặt cũng như vắng mặt. Người khách của niềm im lặng. Ta là kẻ đưa đón, kẻ chờ đợi. Ta sẽ già. Còn người khách thì vĩnh cửu.

Người đọc có quyền nhìn thấy người khách như mình muốn, như bạn tình, như lịch sử, như lý tưởng, như thần linh… Và có thể đọc bài thơ như một độc thoại nội tâm.

Vậy thì, Nim là của ta nhưng Nim cũng thuộc về mọi người. Trong bài Ngộ nhận, Nim lại là một vầng trăng non đang lượn lờ trên cành cây cao. Và khi ta năn nỉ Nim hãy xuống đi cho thì nàng nói:

Nào phải em không muốn xuống đâu,

Nhưng em là Nim của mọi người, anh ạ

Phải đâu muốn từ chối lời anh mời gọi ngát thơm hơi…

(Bài 26)

Sau đó, vầng trăng non im lặng nhìn ta qua cửa sổ. Và trái tim ta run lên khiếp sợ.

Cuối bài Niềm im lặng của một người tình là một điệu buồn:

Tình ta đi rồi nhưng ta đâu muốn

Bài tình ca ta hát phong kín niềm im lặng của tình yêu

(Bài 1)

Từ đại từ NIM của Hàn Long Vân đến với đại từ AI của Hàn Mặc Tử dường như là một con đường của im lặng và đau thương.

Bắt đầu bằng một “ai” đầy quyền lực của tình yêu:

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

(Những giọt lệ)

Kẻ mà có thể đày đọa tôi, ném tôi xuống “dưới trời sâu” chỉ có thể là nữ chúa của cõi tình.

Và đây là ai như một nghệ sĩ thượng thặng, sáng tạo từ lụa trời, chim bay, mây, lệ đến cô liêu, thu vàng, sao lạ… mà chờ đợi một tri kỷ là người thơ.

Lụa trời ai dệt với ai căng

Ai thả chim bay đến Quảng Hàn…

…

Thu héo nấc thành những tiếng khô

Một vì sao lạ mọc phương mô?

Người thơ chưa thấy ra đời nhỉ?

Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ?

(Cuối thu)

Niềm im lặng của mùa thu vừa được sáng tạo với bãi cô liêu, với buồn phơn phớt, với vắng trơ vơ, với cây mảnh khảnh được thể hiện qua “những tiếng khô”, những âm thanh khô, những điệu hát khô.

Rồi “ai” chính là hồn để tôi dắt đi chơi, dẫn hồn đi suốt đêm. Hai chúng tôi cùng im lặng, cùng gào thét. Gọi là chúng tôi nhưng nào biết ai là ai.

Hồn là ai? Là ai? Tôi chẳng biết,

Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi

Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười,

Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng…

…

Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức.

(Hồn là ai?)

Ta muốn níu hồn ai đương hiển hiện

Trong lòng và đang tắm máu sông ta.

Ta muốn vớt ai ra ngoài sóng điện,

Để nhìn em sắc mặt với làn da.

(Biển hồn ta)

Đó chỉ là một ảo giác? Không đâu, đó là một thứ “ai” chỉ có trong thơ Hàn Mặc Tử. Cái ai của đau thương tuyệt đỉnh. Làm sao vớt được cái đau thương? Với Tử, toàn bộ thực tại là đau thương.

Đến mức không còn ai hay ta nữa. Chỉ còn lại cái đau thương. Lẳng lặng, ngậm miệng, nín hơi.

Ai đi lẳng lặng trên làn nước,

Với lại ai ngồi khít cạnh tôi?

Mà sao ngậm cứng thơ đầy miệng,

Không nói không rằng nín cả hơi!

Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng

Một vũng cô liêu cũ vạn đời

(Cô liêu)

Chỉ còn lại im lặng một vũng cô liêu. Không còn ai nữa. Người thơ như chưa từng ra đời. Ngôn ngữ trở về với im lặng, với trinh bạch, với cái chết.

Để chỉ còn lại âm thanh của linh hồn:

Tiếng rú hồn tôi xô vỡ sóng

Rung tầng không khí, bạt vi lô.

(Cô liêu)

Cũng trong đêm cô liêu, nhà thơ Han Yong-Un cảm thấy:

Trên trời không có trăng

Dưới đất thì lặng gió

Cõi người ta im lặng

Cả tôi cũng vô hồn.

(Bài 6)

Cái đau thương của Hàn Mặc Tử và niềm im lặng của Han Yong-Un gặp nhau trong đêm cô liêu.

2. NIỀM IM LẶNG CỦA TRĂNG VÀ THƠ

Trăng là ánh sáng, là hào quang của thơ Hàn Mặc Tử. Trong một đêm xuân đầy trăng, nhà thơ cảm thấy thiên nhiên “giàu sang hơn Thượng Đế”.

Trăng là ngôi vị tối thượng trong thơ Tử. đó không còn là thơ nói về trăng. Đó là thơ viết thẳng lên trăng. Đó là ngôn từ hóa trăng:

Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi

Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng…

(Đêm xuân cầu nguyện)

Dù thơ Hàn Long Vân không có nhiều trăng nhưng ông cũng hình dung trăng như là Nim của mọi người, một Chúa Tình. Ở đây, trăng chính là tình yêu:

Xuống đi em, ta sợ

Sao em cứ lượn lờ trên cành cao đó?

…

Vầng trăng non trên cành liễu cười nhẹ đáp:

“Nào phải em không muốn xuống đâu,

Nhưng em là Nim của mọi người, anh ạ…

(Bài 26)

Cũng có khi, Han Yong-Un hình dung trăng như một người tình nam nhi:

Vầng trăng chiếu sáng, em nhớ anh quá.

…

Năm trước, em thấy mặt anh như trăng:

Và đêm nay trăng hóa thành mặt anh đấy.

Bởi mặt anh là trăng, mặt em cũng thế…

(Bài 58)

Rất giống tứ thơ của Tử:

Không gian đầy đặc toàn trăng cả:

Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng

(Huyền ảo)

Người trăng ăn vận toàn trăng cả

(Say trăng)

Bỗng đêm nay, trước cửa bóng trăng quỳ,

Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu…

…

Em, hãy nhập hồn em trong bóng nguyệt.

(Hãy nhập hồn em)

Trong tâm trí cô liêu của Hàn Mặc Tử có ba ngôi tối thượng, đó là

TRĂNG – THƠ – TÌNH

(ĐAU           THƯƠNG)

Trong đau thương, ông sống với tam vị nhất thể đó, với ba nguồn mạch đó.

Đo từ ngọn cỏ tới cung trăng,

Những sợi hào quang vạn thước vàng.

Bắt! Bắt! Thơ bay trong gió loạn

Để xem tình tứ nặng bao cân.

…

Tôi ước ao là tôi ước ao,

Tình tôi vô lượng sẽ dâng cao

Như bông trăng nở, bông trăng nở

Những cánh bông thơ trắng ngạt ngào.

(Ước ao)

Dường như trong thơ Han Yong-Un, theo tôi thì tam vị nhất thể nếu muốn có thể hình dung như sau:

NGÃ – TÌNH YÊU – VŨ TRỤ

(                   NIM                    )

Han Yong-Un từng viết:

“Niềm tin Phật giáo là một niềm tin vào ngã. Đó là một ngã thấu nhập vô số ngã khác, sự vật khác. Nói rõ hơn, mỗi người đều có khả năng cá thể hóa vũ trụ đồng thời vũ trụ hóa cá thể”(4).

Chính vì thế mà thơ ca Han Yong-Un vừa chan chứa tính siêu nghiệm tôn giáo vừa nóng ấm tính cụ thể lịch sử.

Cuộc đời, tôn giáo và thơ ca của Hàn Mặc Tử cũng vậy, được bọc trong một thứ ánh sáng rất lạ nhưng sống động niềm đau thương nhân thế rất thật:

Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm,

Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực…

(Hồn là ai?)

Han Yong-Un cũng thể hiện rất thực một linh hồn đau thương:

Linh hồn tội nghiệp cháy trong lửa cuồng

Tìm thế giới mới trong niềm tuyệt vọng đóng băng

Ôi bông hoa sa mạc

Ôi trăng đầy của đêm không trăng

Gương mặt tình yêu của tôi ơi!

(Bài 33)

Cả hai nhà thơ dắt linh hồn đến đối diện với cái chết, với một ánh-trăng-không-trăng, với niềm im lặng, với THƠ.

Theo Han Yong-Un:

Hiện hữu của Tình yêu, cả đôi mắt và tâm hồn của Nim

  cũng không biết nổi…

Bí ẩn của Tình yêu thì chỉ có… giấc ngủ của Nim và mơ tưởng

 của thi nhân mới biết được mà thôi

(Bài 29)

Hàn Mặc Tử:

Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu…

(Thánh nữ đồng trinh Maria)

Thơ ca của Yong-Un và Tử có thể nói là một thứ thơ ca tự ý thức, một thứ thơ ca tự qui chiếu. Thơ và Người Thơ nhiều lần trở thành đề tài, trở thành hình tượng trong thơ ca của họ. thơ tự soi gương, tự phản ánh như châu ngọc trong lưới trời Đế Thích.

Hàn Mặc Tử viết:

Thuở ấy càn khôn mới dựng nên,

Mùa thơ chưa gặt tốt tươi lên,

Người thơ phong vận như thơ ấy

Nào đã ra đời ngọc biết tên.

(Xuân đầu tiên)

Còn HanYong-Un:

Ánh tà dương như bàn tay ngọc đang mơn trớn lòng trời vô tận

Như gót sen vàng dạo biển vô biên, đó là bài thơ ai?

(Bài 3)

Thơ hay người thơ ở đây không chỉ là ngôn ngữ mà còn là im lặng. Hơn nữa, đó còn là hiện tượng của sáng tạo, hiện tượng của khởi nguyên, hiện tượng của vô tận.

Thơ của họ đầy những trầm tư mặc tưởng về bản thân hiện tượng thơ ca.

Đó là thơ của thơ.

3. TÌNH YÊU CỦA NIỀM IM LẶNG

Tình yêu của niềm im lặng là tình yêu của vô biên và vĩnh cửu. Đó cũng là tình yêu của cái chết, điều mà Han Yong-Un diễn đạt rất tinh tế như sau:

Hãy đến đây trong cánh tay em, bờ ngực em dịu mềm chờ đón.

Nếu ai đuổi bắt anh, hãy tựa đầu vào ngực em.

Dù dịu dàng như nước, nó là gươm vàng và khiên thép chở che anh

Dù ngực em có tơi bời dưới vó ngựa như hoa, mái đầu anh cũng

      không rơi khỏi nó…

(Bài 85)

Vào tận cái chết của cô gái cũng là một tứ thơ của Hàn Mặc Tử nhưng không phải là trốn lánh một kẻ đuổi bắt nào, mà “cốt để dò xem tình ý lạ”:

Xác cô thơm quá, thơm hơn ngọc,

Cả một mùa xuân đã hiện hình.

Thinh sắc cơ hồ lưu luyến mãi,

Chết rồi, xiêm áo trắng như tinh.

(Cô gái đồng trinh)

Và nhà thơ khám phá được điều gì? “Té ra nàng sắp sửa yêu ta”. Bí mật của cái chết ấy là có một tình yêu sắp sửa. Khi Nàng ngủ, Nàng chết thì như Nim của Han Yong-Un, đó là lúc bí ẩn của tình yêu mới thể hiện. Cả một mùa xuân đã hiện hình!

Càng đọc hai nhà thơ họ Hàn, càng thấy ánh sáng kỳ lạ của họ tương chiếu, một điều đáng kinh ngạc!

Tình yêu của niềm im lặng cũng có thể là tình yêu cách xa hàng thế giới, tình yêu của mộng, một tứ thơ rất quen thuộc trong thơ Hàn Mặc Tử và Han Yong-Un.

Hàn Mặc Tử viết:

Anh đứng cách xa hàng thế giới,

Lặng nhìn trong mộng miệng em cười

(Lưu luyến)

Ôi muôn năm! Giấc mộng đã đời chưa?

Lúc ấy sóng triều rên rỉ chưa bưa,

Cứ nhắm mắt, cứ yêu nhau như chết.

(Đôi ta)

Một mai kia ở bên khe nước ngọc,

Với sao sương, anh nằm chết như trăng

(Duyên kỳ ngộ)

Với Han Yong-Un, tình yêu của niềm im lặng thể hiện bằng nghịch lý, những nghịch lý tựa công án Thiền:

Giọng nói em là “im lặng” chứ?

Khi em ngừng hát, tôi nghe giai điệu sáng trong hơn

Giọng em là “lặng im”.

 

Gương mặt em là “bóng tối” phải không?

Khi tôi nhắm mắt tôi lại, gương mặt em tôi thấy sáng ngời hơn!

Gương mặt em là “bóng tối”.

Cái bóng của em là “ánh sáng” ư?

Sau khi trăng lặn rồi, bóng em chiếu vào khung cửa tối.

Bóng của em là ánh sáng, em ơi!

(Bài 63)

Chỉ trong niềm im lặng, tình yêu mới có thể hiện lên như giai điệu không giai điệu và ánh sáng không ánh sáng. Niềm im lặng là một phương tiện thiện xảo để tâm truyền tâm.

Niềm nghịch lý ấy cũng phảng phất trong thơ Hàn Mặc Tử:

Càng xa nhau càng thấy được gần nhau

(Đánh lừa)

Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí

Và trong tay nắm một nạm hào quang…

(Thánh nữ đồng trinh Maria)

Niềm nghịch lý ấy gắn với thân thế của ông, chứng bệnh của ông đến nỗi ông từng gọi tập “Đau Thương” của mình là “Thơ Điên”.

Hàn Mặc Tử trải nghiệm đau thương bằng cả hồn lẫn xác, bằng cả điên lẫn tỉnh, bằng cả mơ lẫn thực. Thơ được phóng xuất ra từ đấy, được phóng xuất ra như thế. Trong ngôn ngữ và cả trong im lặng.

Nguồn thơ đó băng ra từ tiếng kêu thống thiết và lâm lụy của đời mà vẫn đầy yêu thương.

Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.

(Thánh nữ đồng trinh Maria)

Thơ ca Han Yong-un biến niềm im lặng thành một ngôn ngữ mới, thành bóng tối, thành ánh sáng, thành tình yêu, thành cái đẹp.

Thế giới của hai nhà thơ tạo dựng bằng truyền thống tâm linh phương Đông lẫn phương Tây, bằng phương tiện thiện xảo và hình thức tự do của văn chương hiện đại, bằng tình yêu vũ trụ tương lai1

____________

(1) Francisca Cho (dịch và giới thiệu), Everything yearned for: Manhae’s poems of love and longing, Wisdom Publications,USA, 2005, tr.131, 132.

(2) Gerard Genette, Les Silences de Flaubert. Dẫn theo bản Anh dịch Madame Bovary, Bantam classic, 2005, tr.473.

(3) Jeon Bo Sam (giới thiệu), Le silence de Nim, Editions Autres Temps, 1996, tr.20.

(4) Nae ka mitnun Pulgyo (Những niềm tin Phật giáo của tôi), dẫn theo Francisca Cho, tlđd.

CHÚ DẪN

Tất cả thơ Han Yong-un trích dẫn trong bài viết đều do người viết chuyển ngữ sang tiếng Việt dựa vào các bản dịch Anh, Pháp sau đây:

1. Le Silence de Nim, bản dịch của Kim Hyeon-ju và Pierre Mesini, Editions Autres Temps, Seoul, 1996.

2. Meditations of the lover, bản dịch của Younghill Kang và Frances Keely, Yonsei University Press, Seoul, 1970.

3. Love’s silence and other Poems, bản dịch của Jaihiun Kim và Ronald B. Hatch.

4. Everything yearned for, bản dịch của Francisca Cho, Wisdom Publications, USA, 2005.

5. The silences of love, bản dịch của Sammy E. Solberg, The University Press of Hawaii, 1978.

Ngoài năm bản dịch Anh, Pháp trên, chúng tôi có tham khảo hai bản tiếng Việt:

1. Tìm hiểu tập thơ Niềm im lặng của tình yêu của Bùi Phan Anh Thư, trường Đại học Dân lập ngoại ngữ -tin học TP. HCM, 2002 (GV hướng dẫn: Phan Nhật Chiêu. Đây là công trình nghiên cứu và dịch đầy đủ tập Niềm im lặng của tình yêu đầu tiên ở ViệtNam).

2. Sự im lặng của tình yêu, bản dịch của Lê Đăng Hoan, NXB Văn học, Hà Nội, 2006. Dịch giả chuyển ngữ 80 bài, để lại 10 bài không dịch.

Read Full Post »

Thân thiết Tết Thìn

Phạm Viết Kha

                                            Tặng xunau.org ngày gặp mặt 8/1/2012

Thắm thoắt tết Tây tới Tết ta
Thanh tao thù tiếp tại tiệc trà
Thư thả tâm tình thêm thắm thiết
Thân thương thích thú tình thiết tha

Trân trọng tết tình thân
Thế  thua thời thiệt tết tinh thần
Thế thời thời thế tình theo thế
Tiếp thu tân, thôi thúc thượng tần

Trăm tay, triệu trí thẳng thắn tìm
Tâm thành tuệ trí trọn trái tim
Trọng trí, trọng tài thời thế thắng
Thức thời tri thức trọng tìm tin

Từ thuở tổ tiên tác tạo thành
Tiền trào tự thế tiếp tục tranh
Thần tốt, tướng tài… tình thủ túc
Tâm thành, trí tuyệt thù thất thanh

Tết Thìn tâm tĩnh trí thảnh thơi
Thế tuyệt tìm truy tránh thiệt thòi
Thắng thua tự tại ta tất thảy
Thế thời tiến thủ tại ta thôi

Tiệc trà thân thiết trước tết Thìn
Tay trong tay trân trọng thân tình
Ta tự thân ta tìm tinh túy
Trang trà tiếp tửu… tỉnh tình tinh

Read Full Post »

Ngô Nguyên Nghiễm

Photo Thái Phiên

U tịch đá xanh, ngày trở lại
Triền cao thoai thoải nắng chơi vơi
Ráng bay một góc trời biên giới
Khách cũng bay về như lá rơi

Khói nhà ai chảy hiên hè sau
Góc nhỏ âm buồn tiếng võng ru
Ngơ ngác hàng tre mùi vọng cổ
Độc huyền đục ngọt gốc đêm sâu

Quanh quẩn đường dài, có dép cỏ
Mười năm mài thủng gót phong trần
Về đây, gió ngựa đùa khinh bạc
Bạc áo trung niên, bạc tóc xanh

Ồ chút rượu đùa trái đất lăn
Thơ vừa rót xuống chén tri âm
Bỗng nhiên thấy rụng vài hơi thở
Đủ cuốn vèo đi lá nguyệt rằm…

Cố xứ, mùa thu vàng ngẩn ngơ
Vàng ươm phố núi, hạt mưa khô
Thương hồ chết lặng trên sông
Hậu Gác mái, rồng bay, đá lạnh hờ

Thoảng nghe mấy khúc hát đồng dao
Ớn lạnh thiên nhiên gió đổi màu
Thổi áo phong sương lầm tóc bạc
Đầm đìa khí hậu cháy đêm thâu

U tịch đá xanh, mờ thế trận
Bờ cao mây vén mộ âm âm
Lỡ vương vấn lá, hoa chèn núi
Bút chỉ người xưa ngủ ngửa nghiêng

Chớp mắt con kênh biên giới lạ
Chảy quanh ngọn thốt nốt sau nhà
( Bỗng nhiên thơ ấu hồn năm tháng
Cây gáo vàng xưa mới trổ hoa )

Vàng thẳm con đường hoa cúc nở
Âm vang tu hú rụng hoàng hôn
Ráng chiều nhuộm đỏ trời biên thổ
Và nhuộm tang bồng khách viễn phương

Đá rịn mồ hôi ngày trở về
Đàn voi lầm lũi hồn sơn khê
Lung linh đáy suối phơi hình tượng
Gói bóng giang hồ, gói bản quê

Bên kia vách núi nhà san sát
Sơn lộ quanh co cát bụi bay
U tịch đá xanh, âm tiếng hót
Loài chim sơn dã nhảy đâu đây…

Ồ chút rượu đùa trái đất lăn
Rồng bay, sang sảng giọng nam non
Ngày đi núi chất trên vai rộng
Và nhốt trăng vào túi rỗng không

Thắm thoát mười năm đầu bạc phếch
Nuôi thơ chưa lớn được giang hồ
Ngày về, bạn hữu ngồi phong ấn
Thẹn với cây đa gốc miếu xưa

U tịch đá xanh, ngày trở lại
Triền cao thoai thoải nắng chơi vơi
Ráng bay một góc trời biên giới
Khách cũng nặng lòng đếm lá rơi…
8.1998

Read Full Post »

Đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, ca khúc Ngày xưa Hoàng Thị (thơ Phạm Thiên Thư, Phạm Duy phổ nhạc) đã từng gây xôn xao trong đời sống âm nhạc miền Nam. Cả thơ lẫn nhạc đều rất tuyệt vời…
Bìa bản nhạc Ngày xưa Hoàng Thị và Chân dung Phạm Thiên Thư – Ảnh: H.Đ.N

Từ tiếng hát cao vút của Thái Thanh, những ca từ của Ngày xưa Hoàng Thị chấp chới đi vào hồn người: “Em tan trường về,  đường mưa nho nhỏ. Chim non lề đường, nằm im giấu mỏ. Anh theo Ngọ về, gót giày lặng lẽ đường quê…”. Phải nói rằng, dạo đó thơ Phạm Thiên Thư là hiện tượng, bởi sau thành công của Ngày xưa Hoàng Thị, nhạc sĩ Phạm Duy phổ thêm liên tiếp những ca khúc từ thơ Phạm Thiên Thư: Đưa em tìm động hoa vàng, Em lễ chùa này, Gọi em là đóa hoa sầu… Người ta đua nhau tìm đọc thơ Phạm Thiên Thư – một tu sĩ Phật giáo – bởi hơi hướm thơ vừa nhuốm mùi thiền vừa vương tình trần. Thơ lục bát của Phạm Thiên Thư quá hay mà thơ 4 chữ (như bài Ngày xưa Hoàng Thị) lại cũng tuyệt… Chẳng thế mà tập thơ Đoạn trường vô thanh (hậu Kiều) của ông được trao Giải nhất văn chương – thể loại trường ca (Sài Gòn – năm 1973)… Rồi người ta đoán già, đoán non cô Hoàng Thị Ngọ là ai mà có sức hấp dẫn đến thế, khiến cho người thơ đã nương cửa Phật vẫn phải vướng mùi tục lụy?

“Anh tìm theo Ngọ…”

Phải đến 40 năm sau tôi mới có dịp diện kiến nhà thơ Phạm Thiên Thư, khác với những gì tôi mường tượng: tác giả Ngày xưa Hoàng Thị không mang dáng dấp thư sinh, nho nhã mà đẹp như một… “lão ngoan đồng”. Ông hiện là chủ quán cà phê Hoa Vàng ở cư xá Bắc Hải (Q.10, TP.HCM), tên quán chắc là để nhắc nhớ đến ca khúc Đưa em tìm động hoa vàng nổi tiếng một thời? Câu đầu tiên ông “chào” tôi là một câu lục bát: “Dễ gì được một vần thơ/Mà nghe nghiệp chướng, lại ngờ tiền oan”. Rồi ông kể về Ngọ: “Rất đơn giản, tôi tuổi Thìn (1940), còn cô ấy tuổi Ngọ (1942) cho nên được bố mẹ đặt luôn tên là Ngọ. Cách nhau 2 tuổi nhưng học cùng lớp đệ tam (lớp 10 bây giờ) ở trường Trung học Văn Lang (khu Tân Định). Ngọ có dáng người thanh mảnh với mái tóc dài thả ngang vai. Mỗi khi xếp hàng vào lớp, cô ấy đứng đầu hàng bên nữ, tôi đứng cuối hàng bên nam, tha hồ ngắm… Vào lớp, cô ấy ngồi bàn đầu, tôi bàn cuối. Ngọ học rất giỏi, còn tôi chỉ giỏi… đánh lộn (gia đình tôi vốn có truyền thống võ thuật). Có lần thầy giáo gọi tôi lên trả bài, tôi không thuộc nhưng thay vì lên tận bàn thầy giáo trên bục giảng, tôi chỉ đi đến ngang chỗ Ngọ ngồi thì dừng lại. Ngọ biết ý, mở cuốn tập ra cho tôi… liếc, đọc vanh vách!

Nhà tôi ở đường Trần Khát Chân, nhà Ngọ ở Trần Quang Khải, cũng cùng khu Tân Định nên đi về chung đường. Mỗi lần tan trường, cô ấy ôm cặp đi trước, tôi lẽo đẽo theo sau. Tóc Ngọ bay bay trên đôi vai gầy nhỏ nhắn. Có những hôm trời mưa lất phất, cô ấy đưa cặp lên che ngang đầu. Tôi thấy thương quá, muốn làm một cử chỉ gì đó như là để chở che nhưng… thở mạnh còn không dám, nói chi là…

Đậu tú tài xong tôi vào Đại học Vạn Hạnh”… “Tại sao ông lại trở thành tu sĩ Phật giáo?”. “À, như đã nói, gia đình tôi vốn có truyền thống con nhà võ, từng lập “Học hội Hồ Quý Ly” quy tụ cả trăm người, khiến chính quyền miền Nam lúc ấy nghi ngờ, phải giải tán. Năm 1964 tôi “trôi dạt” vào “ăn cơm chay” ở các chùa: Vạn Thọ (Q.1), Kỳ Quang, Bà Đầm (Q.Phú Nhuận), rồi Đại học Vạn Hạnh… Cho dù đã nương thân vào cửa chùa nhưng mỗi lần đi ngang qua con đường cũ, hình ảnh cô học trò ôm cặp, tóc dài bay bay trong gió vẫn thấp thoáng đâu đây… Và rồi những tứ thơ tràn về: “Em tan trường về/Đường mưa nho nhỏ/Chim non giấu mỏ/Dưới cội hoa vàng/Bước em thênh thang/Áo tà nguyệt bạch/Ôm nghiêng cặp sách/Vai nhỏ tóc dài… Em tan trường về/Cuối đường mây đỏ/Anh tìm theo Ngọ/Dáng lau lách buồn… Em tan trường về/Đường mưa nho nhỏ/Trao vội chùm hoa/Ép vào cuối vở/Thương ơi vạn thuở… Ôi mối tình đầu/Như đi trên cát/Bước nhẹ mà sâu… Mười năm rồi Ngọ/Tình cờ qua đây/Cây xưa vẫn gầy/Phơi nghiêng dáng đỏ/Áo em ngày nọ/Phai nhạt mấy màu/Chân theo tìm nhau/Còn là vang vọng… Dáng ai nho nhỏ/Trong cõi xa vời/Tình ơi… Tình ơi!”…

“Tại sao nhạc sĩ Phạm Duy biết thơ ông để phổ nhạc?”. “Là thế này, năm 1968, tôi có ra tập thơ đượm mùi thiền Phật giáo, in rất ít, chỉ để tặng bạn bè. Cụ Nguyễn Đức Quỳnh (nhà văn) đọc thấy thích mới giới thiệu với nhạc sĩ Phạm Duy, và nhạc sĩ đã phổ 10 bài đạo ca của tôi. Đó là cái duyên để đến năm 1971, nhạc sĩ Phạm Duy lại phổ nhạc bài Ngày xưa Hoàng Thị. Lạ một điều là bà xã tôi bây giờ lại rất giống Ngọ, có thể nói là một chín, một mười”.

Người viết tuy ngồi trong (động) Hoa Vàng nhưng tiếc ngẩn ngơ vì không được may mắn diện kiến nữ chủ nhân để ít ra cũng có thể hình dung được một nhan sắc thuở nào…

Hà Đình Nguyên

Read Full Post »

Văn Công Mỹ

.

Tranh Đinh Cường

Đôi khi ngồi lại bên quán nọ

Ngó con cá quẫy nhánh sông này

Thấy trong bèo bọt chùm hoa nở

Chút bùi ngùi lạnh sớm sương bay

 .

Đã biết bến bờ bên bồi lở

Trăm năm được mất lẽ vô cùng

Một buổi mai này thân nín thở

Cũng là hạt bụi hóa hư không

 .

Miệng người nhiều ngoa ngôn ảo dụ

Thôi làm nít nhỏ hát nghêu ngao

Làm thân bèo dạt trong mưa lũ

Nặng nhẹ trần gian với tay chào

 .

Ô hay bữa nọ trong quán nhỏ

Có kẻ trầm tư hát một mình

Mộ phần đã sắp ngày tương ngộ

Tiếng vọng lăn dài đến vô minh.

 

Read Full Post »

Đa mang này tên anh

Trần Mai Hường


Thế là xa…

Gío lạc giọng hỏi những điều cắc cớ

Gío vô tâm thả muôn ngàn lát vỡ

Nỗi buồn dài như sông…

.

Có những lúc em không hiểu nổi mình
Không hiểu tại sao hôm nay đất trời bất thường đến vậy
Và hình như…
Hình như có gì trỗi dậy
Nảy xanh mầm tương tư…

.

Em đã đằm mình vào đám lục bình biếc tươi kia
Giấu run rẩy suốt một chiều nắng mỏng
Anh làm sông cuộn khát khao thành sóng
Vây bủa lục bình em

.

Có một bài thơ bất chợt ghé trong đêm
Đêm rộng lắm
Thơ mong manh quá đỗi…
Em xô lệch giữa điệp trùng dấu hỏi
Đa mang này tên anh.

Read Full Post »

Huế và em

Nguyên Hùng

Em đưa anh về thăm Huế mới
Thăm lại Phú Xuân, Thuận Hóa một thời
Trời Ngự Bình xanh cao vời vợi
Nước sông Hương êm ả lững lờ trôi.

Thăm Đại Nội thử làm vua chốc lát
Để cả đời thư thái phận thường dân
Rời đỉnh phù du, vui niềm vui thường nhật
Được nói cười thỏa thích giữa người thân.

Đi thuyền rồng trên sông đêm nghe hát
Ta ngược dòng về khúc Nam Ai
Cầu Trường Tiền vắt ngang làm khung nhạc
Mỗi bóng người qua – một nốt nhạc ngân dài.

Ta bên nhau suốt chiều dài đất nước
Để Xuân nay dừng chiêm ngưỡng Huế xưa
Thắp nén nhang viếng tiền nhân thuở trước
Hỏi Huế bây giờ đã trẻ lại chưa?

Em đưa anh về thăm chốn cũ
Tìm lại tuổi xanh áo trắng phượng hồng
Em và Huế đang ngược thời thiếu nữ
Anh xin làm bến đợi phía cuối sông.

10-2011,

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »