Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Thơ ca’ Category

Em ơi, buồn làm chi

.

Phạm Văn Phương

.

EM ƠI, BUỒN LÀM CHI…

.

không gì là mãi mãi

em ơi, buồn làm chi…

.

hãy như cây hoa dại

tỏa hương khi đến thì

.

yêu anh em, bè bạn

yêu con đường mình đi…

Vijaya, 02.5.2025

pvp

.

HOAN CA

.

vui trong mới lạ từng ngày

sương mai đồng nội, mưa đầy phố đêm

.

ơ kìa rót nữa đi em

nhân gian diễm lệ, buồn thêm được gì ?

.

vui trong mới lạ từng ngày

lòng anh như lá xanh đầy đường quan

Vijaya, 03.5.2025

.

VÔ ĐỀ

.

nhủ lòng vạn sự tùy duyên

gặp nhau trong một đoàn viên tình cờ

người đi chiều lạnh không ngờ

ta về thôn nội đêm mờ nhớ trăng

06.5.2025

.

GIẢN ĐƠN

.

giản đơn là khó nhất

là tinh túy của lời

.

bao nhiêu người thương mến

đã bên kia cuộc đời

.

và em thôi rạng rỡ

như chiều đang bên tôi

12.5.2025

pvp

Read Full Post »

Dấu chấm than

Trần Mai Hường

(Gửi một người)

.

Phía chân trời có gì đau

Mà hôm nay sóng khóc nhàu mênh mông

Còn bao nhiêu những xanh trong

Sóng đem bức tử dọn lòng từ bi…

.

Tưởng duyên nên mới ôm ghì

Em thôi kiêu hãnh từ khi lấm người

Vạch đời kẻ nát tinh khôi

Em như dấu chấm than cời lửa xanh

.

Lòng tương tư ngọn gió lành

Mà sao gió chướng tìm anh trở mùa

Tình em nguyệt thực. Như chưa…

Người mang giỡn giữa cuộc đùa nợ duyên

.

Chợ phiên giờ đã hết phiên

Chấm than em – đặt trước tên một người…

Trần Mai Hường.

Read Full Post »

Linh San

Nguyễn Hoàng Anh Thư 

.

Ngày mặt trời chết

Sự sống cuộn tròn trong chiếc áo

Một lần nữa, em lại ngủ trong bảy kiếp

Vẫn trong chiếc áo có màu Linh San

.

Có thể là những ngày bắt đầu tháng ba

Khi em đặt nỗi đau lên từng ngọn tóc mềm

Chảy xuống bờ vai

Như dòng sông Styx, chảy trong trong trí tưởng u ám của thần Hades

Em đặt nụ cười xinh đẹp lên gai nhọn

Để mơ về đại dương

Mơ về chàng Achilles đang chạy, mái tóc bồng bềnh như sóng

Tình yêu em không thể bị thương

Bình yên vỗ về

Dưới gót chân em

Êm dịu

.

Ngày mặt trời chết

Em đùa, chỉ là câu chuyện của những đứa trẻ muốn được vắt mình qua đỉnh núi hái tháng năm rong chơi

Hái thật nhẹ tênh tiếng cười

Hái con đường chầm chậm

Ngày ấy, kẻ chăn trăng ngậm tràn cỏ mật

Cầm máu cho mình

Lùa trăng vào thung lũng đêm

Ngày ấy, em khoác màu khăn sô

Cầu kinh bóng tối

Ép xác niềm tin

Chôn trên đỉnh núi tịch tà

Chiếc áo em

Cuộn tròn

Màu của Linh San

Em ngủ trong bảy kiếp

Bắt đầu từ mái tóc mềm

Chảy xuống

Như dòng sông

Như sóng vỗ

Như nụ cười đặt trên gai nhọn

Một bông hoa trắng muốt

Bình yên

Vỗ về

n.h.a.t

Read Full Post »

Đời lá là của lá.

Lê Trọng Nghĩa 

.

Có những chiếc lá rơi xuống mà chẳng một lần ngoái lại

Chúng để gió dẫnđường, để trời xanh làm điểm hẹn

Chẳng hỏi: “Mình sẽ đi đâu?”

Chẳng bận lòng về những gì bỏ lại sau lưng.

.

Lá sinh ra để bay

Và khi đến lúc

Lá chỉ đơn giản là buông.

.

Nhưng đâu phải lá nào cũng có một chuyến đi nhẹ nhàng?

Có những chiếc lá bị bão vùi dập

Cuốn xoay trong cuồng phong

Trầy xước, rách nát, nhàu nhĩ…

Nhưng cũng nhờ cơn bão ấy

Lá bay xa hơn, xa khỏi những vùng trời quen thuộc.

.

Còn đá thì không

Đá nằm yên

Đá không thể bay

Đá giữ những gì nó nghĩ là của mình

Một chút tiếc nuối, một chút giận hờn, một chút không cam lòng.

.

Giữ càng lâu, đá càng nặng

Mà càng nặng, càng chẳng thể bay

.

Thế mà, có những người lòng đầy đá

Lại muốn nhập vai thành lá

Họ khao khát gió, họ mơ về một ngày tự do

Họ nghĩ rằng chỉ cần rời đi, chỉ cần bước tiếp, chỉ cần cố gắng…

Là có thể nhẹ bỗng như lá, là có thể hóa thành gió.

Nhưng họ quên mất một điều

Càng đi, lòng càng trĩu xuống

Càng bước, càng mang theo nhiều gánh nặng hơn

Những gì chưa thể buông, những gì chưa dám thả

Hóa thành từng viên đá, chồng lên nhau, kéo họ xuống.

.

Lá không cần cố gắng để bay

Lá chỉ cần buông

.

Vậy mà có những người muốn làm gió

Họ chìa tay ra, phát nguyện nâng đỡ

Họ nói rằng họ sẽ dìu lá qua bão giông

Họ nghĩ rằng họ mạnh mẽ như cơn cuồng phong

Nhưng họ quên mất một điều

Lòng họ cũng đầy đá.

.

Làm sao một kẻ còn trĩu nặng có thể nâng đỡ kẻ khác?

Làm sao đá có thể giúp lá bay?

Làm sao một người chưa thể buông

Lại có thể giúp người khác nhẹ?

.

Đá, vì không thể bay, cũng chẳng thể hiểu được lá

Không hiểu vì sao lá có thể buông mình mà rơi

Không hiểu vì sao lá không tiếc nuối những gì đã qua

Không hiểu vì sao lá không chờ ai, không cần ai giữ.

Lòng đá thì không thể hiểu gì về lá

Thì lại càng không nên trách lá.

.

Đời lá là của lá.

Đời đá là của đá.

.

Lá sinh ra để bay

Gió sinh ra để cuốn đi

Ai đủ nhẹ, người ấy tự khắc bay

Ai còn nặng, cứ nằm yên mà tự vấn

.

Không ai giữ ai

Không ai nâng ai

Chỉ có gió

Chỉ có những kẻ dám buông

Bầu trời vẫn xanh như hôm qua

.

Nhưng có lẽ hôm nay, ta hiểu

Muốn bay, phải học cách buông.

——-****—–

Read Full Post »

Tiểu khúc

Phạm Văn Phương

.

đêm ấy tháng giêng

chúng mình hai mươi tuổi

cùng mơ về một ngôi nhà rộn rã tiếng trẻ con

.

tóc em thơm trong trăng khuya

hoa nở thắm trong vườn

.

đêm nay tháng giêng

chúng mình đã già nua

anh lang thang đi tìm

Read Full Post »

Nguyễn Thanh Quang – Linh mục Gioan Võ Đình Đệ

​Paul Maheu sinh ngày 24.1.1869, tại Paris. Sau khi học xong lớp Tiểu chủng viện St. Nicolas ở Chardonnet và triết học ở Đại chủng viện Issy-les-Moulineaux, ông nhập Chủng viện MEP năm 1890 và chịu chức Linh mục ngày 30.6.1895, rồi nhận lệnh đi truyền giáo ở Đông Đàng Trong (Qui Nhơn). Năm 1930, Linh mục Maheu về Pháp, ông mất ngày 27.2.1931, yên nghỉ tại nghĩa trang Montparnasse.

Hơn 30 năm ở Việt Nam, Paul Maheu (1869 – 1931) đã không ngừng gieo những hạt giống tốt đẹp trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, bác ái xã hội: Ông là Giám đốc Nhà in Làng Sông, là người sáng lập Hội học Pháp – An Nam Qui Nhơn và Trại phong Qui Hòa.

Giám đốc Nhà in Làng Sông

​Paul Maheu rời Paris vào ngày 31.7.1895, xuống tàu tại cảng Marseille vào ngày 4.8.1895 đến Việt Nam. Ông học tiếng Việt tại cảng Qui Nhơn, sau đó được bổ nhiệm làm phụ tá cho Linh mục Villaume, tại Phan Rang, rồi được bổ nhiệm làm việc tại Ninh Hòa một thời gian ngắn. Sau đó do bị suy giảm sức khỏe, ông đi an dưỡng một năm ở Hồng Kông. Khi trở lại Việt Nam, ông được gửi đến vùng truyền giáo Bahnar – Kontum, bốn tháng sau, do sức khỏe suy yếu, ông phải trở lại Viện điều dưỡng Bêthanie ở Hồng Kông. Tại đây, Linh mục Maheu học vận hành máy in, đúc và sắp chữ, đóng gáy sách ở xưởng in Nazareth.

​Trở lại Việt Nam vào tháng 7.1904, Linh mục Maheu quản lý Nhà in Làng Sông. Thời gian Paul Maheu làm Giám đốc Nhà in Làng Sông từ năm 1904 đến năm 1930, là thời kỳ cực thịnh của Nhà in Làng Sông. Với người quản lý nhà in giỏi về kỹ thuật, hệ thống máy in được trang bị mới, khổ rộng và hiện đại nhất lúc bấy giờ, một số lượng sách, báo rất lớn đã được nhà in xuất bản. Trong năm 1922, Nhà in Làng Sông đã in 18.000 tờ báo định kỳ, 1.000 bản sách các loại, 32.000 ấn phẩm khác, riêng Báo Lời thăm mỗi tháng hai số, mỗi số ra 1.500 bản và phát hành cả Đông Dương. Tổng cộng ấn phẩm của Nhà in Làng Sông trong năm lên đến 63.185 ấn phẩm với 3.407.000 trang in.

Imprimerie de Lang Song, Imprimerie de la Mission de Qui Nhơn, Imprimerie de Qui Nhơn hoặc Librairie Imprimerie Quinhon cùng là ấn quán của giáo phận Đông Đàng Trong. Ngoài sách tiếng Latin và tiếng Pháp, Nhà in Làng Sông đã in một số lượng lớn sách Quốc ngữ đa dạng về thể loại như: Giáo lý, kinh thánh, giáo dục ấu học, trung học, truyện, tiểu thuyết, kịch, tạp chí, tuồng hát bội, lịch, sách dịch… Những ấn phẩm của Nhà in Làng Sông được thống kê trong Mémorial – Bản thông tin hàng tháng của địa phận và được tổng kết vào trang cuối năm, bằng tiếng Pháp xen với tiếng Việt (Quốc ngữ).

Một trang Mémorial thống kê sách đã in của Nhà in Làng Sông năm 1910 có 36 đầu sách, trong đó 25 đầu sách chữ Quốc ngữ, số còn lại là tiếng Pháp. Chia thành 4 nội dung: Sách trường học, sách giáo lý, sách cầu nguyện – đạo đức và các sách khác. Đáng chú ý, loại sách trường học được tái bản nhiều lần và được xếp mục đầu tiên, gồm có những đầu sách như: Phép đánh vần (tái bản lần thứ 5), Con nít học nói (tái bản lần thứ 3), Ấu học (tái bản lần thứ 3), Trung học, Địa dư Sơ lược. Ngoài ra, nhà in còn xuất bản các loại sách Quốc ngữ nâng cao dân trí, như: tiểu thuyết, tuồng hát bội, kịch nói, nông nghiệp… Đáng chú ý, quyển Hai chị em lưu lạc xuất bản năm 1927, được ghi nhận là tiểu thuyết dành cho thiếu nhi đầu tiên của văn chương Nam Trung bộ. Bản thống kê của Mémorial có ghi cụ thể giá tiền từng đầu sách.

Tháng 11 năm 1933, Nhà in Làng Sông bị bão sập. Một nhà in mới của giáo phận Đông Đàng Trong được khởi công xây dựng vào năm 1934 tại Qui Nhơn (trong khuôn viên chủng viện Qui Nhơn hiện nay). Năm 1935, Nhà in Qui Nhơn hoạt động song song với Nhà in Làng Sông (đã được tu sửa sau cơn bão). Ít lâu sau, Nhà in Làng Sông sát nhập vào Nhà in Qui Nhơn.

Ấn phẩm của Mémorial Làng Sông/Qui Nhơn ra số cuối cùng tháng 12.1953. Đến tháng 10.1957, ấn phẩm Bản thông tin địa phận Qui Nhơn bằng tiếng Việt được in tại Nhà in I – Đại, Qui Nhơn (một nhà in tư nhân) thay thế cho Mémorial bị gián đoạn trước đó. Như vậy, đến năm 1954 Nhà in Làng Sông/Qui Nhơn, sau gần một thế kỷ hoạt động đã giải thể, toàn bộ hệ thống thiết bị máy móc của nhà in chuyển vào Dòng Giuse Nha Trang.

Nhà in Làng Sông/Qui Nhơn (Bình Định) – Giáo phận Đông Đàng Trong, Nhà in Nhà Chung/Tân Định (Sài Gòn) – Giáo phận Tây Đàng Trong và Nhà in Kẻ Vĩnh/Ninh Phú (Hà Nội) – Giáo phận Tây Đàng Ngoài, là ba cơ sở in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam, đã có những đóng góp đáng kể trong việc phát triển, truyền bá chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ nửa sau thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX.

Theo Maheu, “lo phần xác thì tốt nhưng chưa đủ, phải lấp đầy tri thức, làm cho nó phát triển”. Ngoài công việc in ấn, Linh mục Maheu còn có những hoạt động bác ái xã hội: thành lập Nhà tế bần tại Làng Sông dành cho người già neo đơn, nghèo khổ, bệnh tật, tổ chức một trạm y tế, dựng những túp lều tranh thu nhận những bệnh nhân nội trú. Maheu sáng lập Hội học Pháp – An Nam Qui Nhơn (1928), ông cùng bác sĩ Le Moine đi tìm địa điểm, vận động tài chính thiết lập Trại phong Qui Hòa (1929).

Sáng lập Hội học Pháp – An Nam Qui Nhơn

Linh mục Maheu đã loại bỏ những vấn đề chính trị và tôn giáo ra khỏi hai cơ sở này của ông, đây là điều đáng khâm phục nơi một vị tu sĩ. Mục đích duy nhất của ông là sự xích lại gần nhau giữa người Pháp và người Việt, giúp những con người ưu tú của hai dân tộc này hiểu nhau…

Buổi họp đầu tiên của Hội học Qui Nhơn diễn ra vào ngày 2.9 (1928), dưới sự điều hành của Linh mục Paul Maheu và Linh mục Antôn Huỳnh Ngọc Thạnh; 17 người Việt tham dự, bầu ông Nguyễn Văn Tờn là Hội trưởng. Tên của Hội là: Cercle d’études franco-annamite de Quinhon (Hội học Pháp – An Nam Qui Nhơn). Địa điểm của Hội là ngôi nhà thứ ba từ sở Quản lý Nhà Chung đến chợ cũ (hiện nay số 124 Trần Hưng Đạo, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Quy Nhơn).

Hội học dành cho tất cả những người Pháp và người Việt có học thức: thương nhân, công chức, thông dịch viên, giáo sư, thư ký v.v… không phân biệt tôn giáo. Các thành viên của Hội học liên kết với nhau: – Thực hiện các nghiên cứu chung về các vấn đề đạo đức, tôn giáo, khoa học, lịch sử, kinh tế và xã hội; – Thuyết trình bằng tiếng Pháp và tiếng Việt; – Họp nhau và tiêu khiển một cách thanh bạch.

Ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, Hội học Pháp – An Nam Qui Nhơn là một sáng kiến văn hóa lớn của Đông Dương nói chung và của Địa phận Qui Nhơn nói riêng. Ngày khai trương (10.11.1928) đã được loan tin rộng rãi trên các báo chí ở Pháp cũng như tại Đông Dương. Tờ Bulletin Catholique indochinois (của Pháp) số tháng 11 có bài tường trình về ngày khai trương này. Nhật báo Văn hóa Comaedia, số thứ Hai ngày 3.12.1928, đã đưa tin: “Từ Qui Nhơn, người ta viết cho Hãng tin Fides, rằng Cha Maheu và một người Việt tên là Thạnh vừa khai trương ở Qui Nhơn (Đông Dương) một trung tâm học hỏi đầu tiên dành cho thanh niên Việt. Có khoảng hai mươi người tham gia”.

Báo Lời Thăm của Địa phận Qui Nhơn đã tường thuật chi tiết về sự kiện trọng đại này với bài “Mầng khánh thành nhà Hội học (Cercle d’Études) Pháp Nam tại Qui Nhơn”:

“… Cuộc lễ nầy đã được mỹ mãn lắm, gần hết các người Pháp trong châu thành và những bậc thức giả tại Qui Nhơn, là các viên quan chức sắc, các ông giáo sư trường học, những nhà thương mãi lớn và mấy ông bang trưởng người Tàu đều đến dự…

Linh mục Maheu, người sáng lập Hội học đọc lời chào mầng quan khách và giới chức, mục đích của Hội: Biết nhau để hiểu rõ nhau hơn, mà hiểu rõ nhau, cho đặng mến và giúp đỡ lấy nhau. Ông Nguyễn Văn Tờn, Hội trưởng, thông ngôn tòa sứ diễn thuyết cảm ơn hết thảy đã có lòng chiếu cố, đến họp mặt đông đảo vui vầy và tỏ tấm lòng nhiệt thành cùng Hội…

Ngay từ tháng đầu tiên sau ngày khai trương, Hội đã có những hoạt động văn hóa theo tôn chỉ của Hội, đã có 3 tham luận của ông Bác sĩ, ông Gravelle (quản lý Nhà ngân hàng Đông Pháp ở Tourane) và một người Việt…

Sau một năm thành lập, Hội đã có những bước tiến triển khá thuận lợi: 117 hội viên, trong đó có 31 người Pháp, một con số đáng kể so với cư dân Pháp ở Qui Nhơn lúc bấy giờ. Một thư viện với hơn 1.200 cuốn sách (do Maheu trao tặng), Hội đặt mua hơn 100 đầu sách, và để cho các thành viên nắm bắt được tin tức của đất nước và thế giới, Hội cũng đã đặt mua 6 tạp chí và 8 nhật báo. Theo đề nghị của ông Công sứ Volny Dupuy, các lớp học tiếng Việt dành cho người Tây đã được tổ chức tại trụ sở của Hội, giáo viên đầu tiên là ông Ung Lang…

Hội là Hội học, nỗ lực chính yếu là khía cạnh trí thức. 11 cuộc Hội thảo khác nhau đã được triển khai do những người có thẩm quyền và cử tọa tham dự rất đông. Đồng thời, để cho mọi thành viên phát biểu và tham gia thảo luận, Hội đã tổ chức các buổi diễn thuyết và nói chuyện vào các ngày thứ Năm trong tuần. Hội thảo bàn về nhà ở sạch, giá rẻ và bệnh truyền nhiễm do bác sĩ Le Moine báo cáo, vì phần lớn nhà cửa người dân không đáp ứng các điều kiện vệ sinh, và ở Đông Dương hiện có sự gia tăng các căn bệnh truyền nhiễm, nhất là lao phổi… Những vấn đề xã hội khác cũng được nghiên cứu và trình bày tại trụ sở của Hội, “nơi mà tất cả mọi quan tâm chính trị hay tôn giáo phải bị loại bỏ, tất cả những phấn đấu tư lợi đều không được biết đến. Đây phải là mảnh đất thuận lợi cho việc phát triển mối tương quan trung thành và thân tình giữa hai dân tộc qua con đường thênh thang và đẹp đẽ của trí thức, vì lợi ích cho đất nước chúng ta”, lời tổng kết của ông Nguyễn Vỹ, Thư ký Hội, vào ngày 26.2.1930…

Việc truyền bá chữ Quốc ngữ cũng được cổ vũ ở đây, vì là nơi thu hút những thành phần trí thức quan tâm đến tương lai của đất nước: học sinh, giáo chức, viên chức các công sở. Hội là nơi tập trung để đọc sách báo, chơi cờ tướng, nghe diễn thuyết… Trong hai năm 1938 – 1939, Hội tổ chức liên tiếp các cuộc diễn thuyết của Nguyễn Xuân Lữ nói về tự do dân chủ, Phan Thanh nói về cải cách dân chủ và truyền bá chữ Quốc ngữ.

Đêm 21.5.1941, tại nhà Cercle Qui Nhơn (văn phòng Hội) đã tổ chức một buổi diễn thuyết do ông Trần Văn Hích, giáo sư ở Phan Thiết, nói về sự hợp tác giữa gia đình và học đường, thính giả phần đông là viên quan, quý thầy làm việc, các giáo sư và những vị tai mắt trong thành phố. Theo diễn giả: Nước nhà được mở mang tiến bộ, một phần rất lớn do sự đào tạo thanh niên. Vấn đề quan trọng này không chỉ một phụ huynh, hoặc một mình thầy, mà phụ huynh và thầy dạy phải phối hợp. Về vấn đề thể dục, diễn giả chú trọng vào những cuộc vận động không mất tiền, như tập chạy, bơi lội… Qua vấn đề trí dục, diễn giả nói phụ huynh và thầy phải cùng nhau xem xét trí tuệ đứa bé để chọn lựa nghề nghiệp phù hợp…”. Linh mục Maheu còn viết một cuốn từ vựng bỏ túi Pháp – Việt: Petit lexique de poche français-annamite, 326 trang, in tại Librairie Imprimerie Quinhon năm 1910.

Sáng lập Trại phong Qui Hòa

​Bị ảnh hưởng bởi số lượng lớn người phong cùi ở các quốc gia khác nhau của Liên minh (Đông Dương), đặc biệt ở An Nam. Vào những năm 1920, Bình Định được xác định có 360 người mắc bệnh phong, nếu tính cả những ca chưa được chẩn đoán, sống rải rác ở vùng nông thôn, thực tế có thể lên tới 1.200 ca, một con số đáng kể so với tổng số 70.000 dân của tỉnh. Năm 1929, trước tình cảnh hết sức cấp thiết, để qui tụ và chăm sóc những bệnh nhân này, Paul Maheu rời bỏ công việc in ấn rất thành công của mình cùng bác sĩ Lemoine, bác sĩ chăm lo sức khỏe cộng đồng ở Qui Nhơn, đã thành lập Laproserie de Qui Hoa – Trại phong Qui Hòa, người dân quen gọi là Làng phong Qui Hòa, cách Qui Nhơn 5km về phía Nam, tại một thung lũng bình yên vắng lặng hiếm có, được bao bọc xung quanh là núi đồi, mặt hướng ra đón gió biển. Bác sĩ Le Moine, chép: “Một buổi sáng đẹp trời, chúng tôi thấy trong một chiếc thuyền mành lỉnh kỉnh một chiếc giường gỗ, vài cái ghế, một cái bàn, một máy quay đĩa, nhiều sách, một nhà tu khổ hạnh với đôi mắt sáng ngời. Đó chính là Cha Maheu, người sẽ cống hiến cuộc đời mình cho những người phong cùi…”.

Theo địa bạ thời Gia Long (1815), Qui Hòa được ghi là khách hộ ấp (thuộc thôn Trúc Lâm), thuộc Thời Tú, huyện Tuy Viễn. Diện tích điền thổ: 115 mẫu, 01 sào, 04 thước, 03 tấc 2. Trong đó, tư điền 113 mẫu, 02 sào, 04 thước, 03 tấc 2; dân cư thổ trạch 01 mẫu, 09 sào; một khoảnh mộ địa; một khoảnh hoang nhàn thổ cát.

Quan tâm giúp đỡ cho sáng kiến, chính quyền địa phương của An Nam hứa sẽ hỗ trợ tài chính cho người sáng lập, nhưng vì nguồn vốn cung cấp không đủ, Maheu kêu gọi cộng đồng tham gia, và đã chiếm được sự ủng hộ nhiệt tình ở Đông Dương. Dự án của Maheu là thiết lập khu Trại phong, gồm: nhà nguyện dành cho nhân viên bệnh viện, phòng thăm, văn phòng, bệnh xá, khu điều trị – nơi sẽ dành cho những bệnh nhân nặng, những người bị cách ly khỏi gia đình, người được chăm sóc liên tục theo yêu cầu, và nhà ở riêng cho mỗi gia đình bị phong cùi.

Việc xây dựng chưa hoàn thành, Trại phong đã chứa 120 người phong hủi, tiếp nhận và điều trị những người phong cùi ở các tỉnh thuộc Trung phần An Nam, phòng bệnh lúc này là những ngôi nhà tranh vách đất. Bác sĩ Marcel Le Moine phụ trách chuyên môn y khoa. Một thầy thuốc Đông y có bài thuốc gia truyền chữa bệnh phong cùi cộng tác với bác sĩ. Ngoài ra, có các Nữ tu dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn giúp băng bó, lau rửa vết thương… Năm 1930, Trại phong đã có 140 bệnh nhân.

Năm 1932, để chăm sóc cho số lượng bệnh nhân ngày càng lớn, sáu nữ tu Phan Sinh người Pháp đã từ Marseille, lên đường tới Qui Nhơn. Khi đến nơi, họ vừa củng cố cơ sở vật chất, vừa chăm sóc, tắm rửa cho 180 bệnh nhân mỗi ngày. Những ngôi nhà tranh được dựng thêm để phục vụ các bệnh nhân và người nhà đến ở cùng.

Năm 1933, Trại phong bị một cơn bão tàn phá, từ những tàn tích, một cơ sở mới rộng rãi, khang trang đã được xây dựng. Khuôn viên Trại phong giờ đây có thêm nhà thờ, tu viện cùng 200 ngôi nhà cho bệnh nhân lưu trú.

Hiện nay, Khu Bệnh phong – da liễu Trung ương Qui Hòa có khoảng 1.000 nhân khẩu với gần 300 hộ gia đình, họ sống đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau vượt lên nỗi đau bệnh tật, một “nơi tình người bao la”. Tượng Paul Maheu được tạc đặt trang trọng trên bục cao trong cổng Bệnh viện.

Xin mượn lời của nhà văn Jacques Lê Văn Đức, đăng trong Courrier Saigonnais, 4 Mars 1931 để kết thúc bài viết:

“… Không một người Đông Dương nào mà không cảm thấy đau buồn khi biết tin Cha P. Maheu qua đời tại Paris vào ngày 27 tháng 2 năm 1931.

Ở vùng Đông Dương ai mà không biết đến con người tốt bụng này, một con người có nhiều phẩm chất cao quý nhất: lòng tốt, sự tận tâm, vị tha, nhân ái. Ngài sống chỉ để làm điều thiện, hoàn toàn quên mình trong việc hoàn thành sứ vụ tông đồ của mình. Ngài chỉ thấy mình được hạnh phúc khi thấy người khác hạnh phúc, dù người đó là ai, không phân biệt tôn giáo, không phân biệt người Pháp hay người Việt. Ngài đặc biệt cống hiến hết mình cho những người nghèo khổ, thất học, bị bỏ rơi…”.

​​​​​​​​NTQ – Lm Gioan VĐĐ

Read Full Post »

Bên thềm nhà

Bùi Thanh Tuấn

.

Xuân đã đến chưa hay đi rồi?

Chỉ biết bên thềm lá vàng rơi

Mai vàng khoe sắc đùa trong gió

Cõi quạnh hiu này, tôi với tôi.

.

Sợi khói bay lên màu tịch liêu

Nỗi nhớ từ ban sơ cánh diều

Chao ôi, là nhớ mùa xuân ấy

Đường trải hoa về, tôi biết yêu!

.

Tuổi xanh thơ dại như đứa trẻ

Ôm mộng làm vua một góc vườn

Lá ngoan về ngủ trên vai áo

Suốt ngày toan tính chuyện yêu đương

.

Đêm xuống núi đồi như nhỏ lại

Lòng mơ lối cũ dáng Kiều thơm

Giấc ngủ ngập tràn hương cổ tích

Mong sáng mai ra chẳng dỗi hờn

.

Trở về ngày ấy xa xăm lắm

Biết đến bao giờ tay nắm tay

Lòng tôi đã khép từ dạo đó

Khuất bóng chim trời, mây trắng bay…

Bảo Lộc ngày không tên…

.

Read Full Post »

Tri âm

Đinh Thị Thu Vân

.

chùm hoa mười năm trước

ta quên trong góc nhà

sớm Xuân này cắm lại

chạnh nghe lòng nhớ xa

.

sân xanh hờ hững gió

hương vườn bay lơ là

ta mịt mờ lâu quá

biết đâu rồi như hoa?

.

ơi này hoa nhựa mảnh

đời chúng mình phai phai

hương chẳng hương, nhạt sắc

thì trách gì lẻ loi

.

trách gì ta tỉ mẩn

sáng trưa chiều quẩn quanh

quét sân rồi tỉa lá

chăm cây quên mất mình

.

sớm Xuân vườn đẫm nước

đỏ tím vàng hoang hương

ta ngồi bên hoa giả

nghe đầy thương thương thương

.

biết là thân nhựa ấy

đâu cách gì chút chăm

mà tri âm quá đỗi

tay với vòi phun sương

.

hoa hẵn mong đăng đẳng

mười năm, phút sương này

ta hiểu, vì lâu lắm

lòng vẫn chờ sương lay!

Read Full Post »

Đi tìm mùa xuân

Nguyễn Thị Phụng

.

Từ bàn tay người xuân về cùng đất trời vạn vật

Nắng xuân thì vàng lắm những cánh mai

Tà áo dài tha thướt buổi tinh khôi

Hoa đã thắm gương mặt đời quyến luyến.

.

Ấy là tự nhiên vòng quay xuân đến

Trong sắc đào ướm nắng ngọt ngào thơm

Cẩm chướng, hồng nhung, cúc, lan được dịp

Khoe hết mình trong mắt biếc vần thơ

.

Mùa đẹp lắm, xuân ơi ta gọi!…

Thế mà sao lại giấu nụ cười

Có phải chăng tìm xuân trong trời đất

Cũng như là báu vật tự sinh sôi.

Read Full Post »

Thơ xuân ở quán bia ôm

Nguyễn Liên Châu

.

Xin được ngồi cùng em

Đốt thời gian qua tay mình nghiệt ngã

Yêu thương nhau bằng những vòng ôm giả

Nhưng rất thật nỗi buồn

.

Xin được chạm môi vào một làn hương

Mùi thánh nữ nguyên trinh trong đáy vực

Mọi nỗi niềm nhẫn nhục

Trong cuộc đời này đều đáng kính như nhau

.

Xin được hôn em bằng nụ hôn của mối tình đầu

Phút trai trẻ của người luống tuổi

Những cuộc tình đã qua, bao cuộc tình sẽ tới

Nỡ lòng nào so sánh cân đo

.

Xin được ngồi lặng thầm giữa nhận và cho

Nước mắt em chảy xuôi, nỗi buồn tôi thấm ngược

Những giọng cười trẻ con, những lời đùa xấc xược

Được buông ra hoen ố chiếc khăn bàn

.

Xin được yếu lòng trân trọng những tay đan

Năm ngón thơ tôi lời yêu khô khốc

Năm ngón tình em sầu buồn bạch ngọc

Thèm khát những hờn ghen

.

Xin được ngồi với một thói quen

Chẳng bao giờ nói lời xin lỗi

Xuân ngoài kia đất trời đang đợi

Hãy tha thứ đời nhau bằng chính trái tim mình

.

Cảm ơn em gương mặt một người tình

Mảnh vỡ nhỏ của tháng ngày thơ dại

Mảnh vỡ nhỏ chiếc gương xuân còn sót lại

Cho tôi soi và tìm thấy lại mình…

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »