Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Hai, 2012

  Hoài Nhơn, Quy Nhơn, Quy Ninh là địa danh qua các thời kỳ của tỉnh Bình Định ngày nay – vùng đất có nhiều gắn bó với việc ra đời và phát triển chữ Quốc ngữ, là nơi phôi thai chữ Quốc ngữ. Có một điều ít người biết, một trong ba nơi có cơ sở in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam thuộc về Bình Định – Nhà in Làng Sông.

 
Tiểu chủng viện Làng Sông. Ảnh: Đào Tiến Đạt

Việc cấm đạo vốn đã có từ thời các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, đến thời Tự Đức còn được siết lại chặt hơn. Nhưng sách vở truyền đạo vẫn tiếp tục ra đời, chữ Quốc ngữ vẫn cứ thế phát triển theo quy luật tất yếu của ngôn ngữ. Vào nửa sau thế kỷ XIX, nhu cầu của cuộc sống buộc phải có nhà in. Do đó, một số nhà in của các giáo phận được thành lập, các loại sách – bao gồm các loại kinh sách, truyện, giáo khoa… bằng chữ Quốc ngữ được in và lan truyền nhiều hơn.

Ba nhà in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam là: Nhà in Tân Định – Sài Gòn – Nhà in của giáo phận Tây Đàng Trong; nhà in Ninh Phú- Tây Đàng Ngoài (Hà Nội); để ở miền Trung, nhà in của giáo phận Đông Đàng Trong được đặt ở Tiểu chủng viện Làng Sông – ngày nay thuộc thôn Quảng Vân, xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

 
Trang bìa Mémorial nhà in Làng Sông, tháng 3 năm 1908.

Đi cùng sự phát triển của chữ Quốc ngữ

Nghề in đúc (typô) đầu tiên du nhập vào Việt Nam tại Sài Gòn năm 1861, tất cả máy, chữ, mực in, giấy và công nhân kỹ thuật được đưa từ Pháp sang.

Tại địa phận Tây Đàng Trong (Sài Gòn), nhà in được xây dựng năm 1865 (có tài liệu viết 1863 hoặc 1867) tại sở quản lý Nhà Chung. Đến năm 1874 thì chuyển nhà in về Tân Định. Một trong những quyển sách đầu tiên mà nhà in Sài Gòn (Tân Định) in là một cuốn sách bằng tiếng Pháp: ABC ABCD (Vần An Nam để đọc tiếng Latinh), in năm 1867 và quyển sách Quốc ngữ Bổn dạy ABCD, của D. Eveillard, in năm 1868. Ở Đàng Ngoài, ngoài Từ điển An Nam-La tinh (Dictionarium Annamatico-Latium) của J.S. Theurel, nhà in Ninh Phú, 1887, quyển sách Quốc ngữ in sớm nhất hiện còn là Bổn giảng về bảy phép cực trọng chúa Jesu đã lập, Nhà in địa phận Tây Đàng Ngoài, năm 1882. Theo Báo cáo năm 1873 của Giám mục Puginier, địa phận Tây Đàng Ngoài có một nhà in thạch bản và hai nhà in typô, một dành cho các sách Latinh, một dành cho các sách Việt Nam (Quốc ngữ).

Tiểu chủng viện Làng Sông xây dựng vào thập niên 40, thế kỷ XIX. Sau đó, Tòa giám mục và Nhà in của địa phận Đông Đàng Trong (từ Quảng Nam đến Bình Thuận và Tây Nguyên) cũng được xây dựng tại chủng viện này.

Trong Báo cáo hiện tình giáo phận Đông Đàng Trong năm 1885 của Giám mục Van Camelbeck Hân, về những thiệt hại nhân sự và cơ sở vật chất có đoạn: “… hỏng 1 nhà in…”. Và Báo cáo tình hình giáo phận Đông Đàng Trong năm 1873 của Giám mục Charbonnier được viết năm 1872 ghi rõ: giáo phận có 3 nhà thuốc và 1 nhà in.

Căn cứ các báo cáo này, nhà in của giáo phận Đông Đàng Trong – nhà in Làng Sông có trước thời điểm năm 1872, bị hỏng năm 1885. Và có thể nhà in Làng Sông được xây dựng cùng thời với nhà in của giáo phận Tây Đàng Trong (Sài Gòn) và nhà in của địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội). Như vậy có thể tin rằng, sự phát triển của chữ Quốc ngữ có phần đóng góp của các nhà in này rất lớn.

Năm 1904, Giám mục Damien Grangeon Mẫn cho tái thiết nhà in Làng Sông và giao cho Linh mục Paul Maheu làm giám đốc. Linh mục Paul Maheu rất thông thạo về kỹ thuật in ấn, và đây là thời kỳ cực thịnh của nhà in Làng Sông. Với hệ thống máy in mới, khổ rộng và hiện đại nhất lúc bấy giờ, một số lượng sách, báo rất lớn đã được nhà in xuất bản.

Trong năm 1922, nhà in Làng Sông đã in 18.000 tờ báo định kỳ, 1.000 bản sách các loại, 32.000 ấn phẩm khác, riêng Báo Lời thăm mỗi tháng hai số, mỗi số ra 1.500 bản và phát hành cả Đông Dương. Tổng cộng ấn phẩm của nhà in Làng Sông (Quy Nhơn) trong năm lên đến 63.185 ấn phẩm với 3,407 triệu trang in.

Đáng chú ý, nhà in Làng Sông đã in nhiều loại sách của các cây bút Quốc ngữ nổi tiếng ở Nam Bộ lúc bấy giờ như: Chuyện đời xưa (tái bản lần thứ 2) của Trương Vĩnh Ký; Chuyện giải buồn (2 tập) của Pierre Lục; 30 đầu sách của Lê Văn Đức (một trí thức nổi tiếng, thế hệ sau Trương Vĩnh Ký) gồm nhiều thể loại hiện còn lưu giữ ở Thư viện Quốc gia (Hà Nội): Tây hành lược Ký, Đi bắt ăn cướp (tuồng), Tìm của báu (tiểu thuyết), Chúa Hài Nhi ở thành Nadarét (kịch), Du lịch Xiêm….

Imprimerie de Làng Sông, Imprimerie de la Mission de Quy Nhơn hoặc Imprimerie de Quy Nhơn đều là tên gọi ấn quán của giáo phận Đông Đàng Trong. Ngoài sách tiếng Latinh và tiếng Pháp, nhà in Làng Sông (Quy Nhơn) đã in một số lượng lớn sách Quốc ngữ đa dạng về thể loại như: Giáo lý, kinh thánh, giáo dục ấu học, trung học, truyện, tiểu thuyết, kịch, tạp chí, tuồng, lịch, sách dịch… Những ấn phẩm của Làng Sông được thống kê trong Mémorial– Bản thông tin hàng tháng của địa phận và được tổng kết vào trang cuối năm, bằng tiếng Pháp xen với tiếng Việt (Quốc ngữ).

Một trang Mémorial thống kê sách đã in của nhà in Làng Sông năm 1910 có 36 đầu sách, trong đó 25 đầu sách chữ Quốc ngữ, số còn lại là tiếng Pháp. Chia thành 4 nội dung: Sách trường học, sách giáo lý, sách cầu nguyện – đạo đức và các sách khác. Sách học được xếp mục đầu tiên với những loại sách như: Phép đánh vần (tái bản lần thứ 5), Con nít học nói (tái bản lần thứ 3), Ấu học (tái bản lần thứ 3), Trung học, Địa dư Sơ lược. Bản kê có ghi giá tiền từng đầu sách.

Tháng 11 năm 1933, nhà in Làng Sông bị bão đánh sập. Một nhà in mới của giáo phận được khởi công xây dựng vào năm 1934 tại Quy Nhơn (trong khuôn viên chủng viện Quy Nhơn). Năm 1935, nhà in Quy Nhơn hoạt động song song với nhà in Làng Sông (đã được tu sửa sau cơn bão). Ít lâu sau, nhà in Làng Sông được sát nhập về nhà in Quy Nhơn.

 
Ấn phẩm của nhà in Làng Sông năm 1910 được thống kê trong Mémorial.

Tham gia phục vụ kháng chiến

Trong chính sách tiêu thổ kháng chiến (1946 – 1947), cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà in Quy Nhơn được tháo dỡ, chuyển về giáo xứ Nam Bình (xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước) do thầy Paul Định làm giám đốc. Tại đây, các nhà tu hành đã mở dạy kỹ thuật sắp chữ in cho đội ngũ công nhân mới. Nhà in của nhà thờ được sử dụng để in tài liệu phục vụ kháng chiến, sách giáo khoa phục vụ giáo dục.

Một thời gian sau, theo yêu cầu của kháng chiến, máy in lại được chuyển ra Đại An (xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát), rồi lên Ân Thường (xã Ân Thạnh, huyện Hoài Ân). Năm 1955 lại đưa về Kim Châu (thị trấn Bình Định, huyện An Nhơn) và cuối cùng được chuyển vào Nha Trang năm 1957.

Trong thời gian này, nhà in này đã in ra một lượng lớn ấn phẩm phục vụ kháng chiến, sản xuất và giáo dục, không chỉ cho Bình Định mà còn cho cả các tỉnh Liên khu 5 (từ Quảng Nam đến Bình Thuận và Tây Nguyên). Rất nhiều ấn phẩm ra đời trong giai đoạn này nay còn được lưu giữ tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định như: Báo Tin Tức, Báo Dân Chúng, Bản tin, Tập san, Đặc san, thơ và sách văn, toán, lý, hóa trung học, tiểu học (sách lý và hóa của Đoàn Nhật Tấn, sách toán của Đinh Thành Chương, Việt ngữ chính tả của Nguyễn Châu, Chiều biên khu (thơ) của Nguyễn Tiểu Đào, Miền Trung khói lửa (thơ) của Nguyễn Đình …).

Mémorial Làng Sông (Quy Nhơn) – ấn phẩm của cơ sở ra số cuối cùng tháng 12.1953. Như vậy, đến năm 1954 nhà in Làng Sông – Quy Nhơn, sau gần một thế kỷ hoạt động đã giải thể, toàn bộ máy móc nhà in chuyển vào Nha Trang.

 
Bìa sách Chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký in tại nhà in Làng Sông năm 1909.

Làng Sông – một địa danh lịch sử

Từ sau năm 1865, chữ Quốc ngữ được sử dụng rộng rãi trong các loại sách đạo, sách đời, riêng loại sách giáo dục chữ Quốc ngữ được in tái bản nhiều nhất. Số lượng đầu sách chữ Quốc ngữ từ năm 1865 đến những thập niên đầu thế kỷ XX lên đến hàng ngàn. Tuy nhiên, trải qua nhiều biến cố lịch sử, một số lượng lớn sách Quốc ngữ của các nhà in đầu tiên phần lớn đã thất lạc.

Hiện nay, tại Thư viện Quốc gia (Hà Nội) còn lưu giữ 241 đầu sách Quốc ngữ của nhà in Quy Nhơn (Làng Sông) như: Lưu tình (tâm lý tiểu thuyết), Nguyễn Vân Trai; Thiệt phận thuyền quyên (tiểu thuyết), Đinh Văn Sắt; Hai chị em lưu lạc (tiểu thuyết trẻ nhỏ), Pierre Lục; Nghề trồng rau, Mai Hữu Tưởng; Con nít học nói cho nhằm lễ nghi, Simon Chính; Địa dư tỉnh Phú Yên, Nguyễn Cầm; Địa dư nông học Bình Định, Bùi Văn Lăng …

Nhà in Tây Đàng Trong – Tân Định (Sài Gòn), nhà in Tây Đàng Ngoài (Hà Nội), nhà in Làng Sông (Quy Nhơn) – Đông Đàng Trong là ba cơ sở in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam, đã có những đóng góp đáng kể trong việc phát triển chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ hậu bán thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Ngày nay, người ta biết đến Tiểu chủng viện Làng Sông phần lớn là ở góc độ là nơi có công trình kiến trúc đẹp, lâu đời. Rất ít người biết rằng nơi đây từng tồn tại một nhà in có nhiều đóng góp cho sự phát triển của chữ Quốc ngữ, có một đoạn rất dài đi cùng kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc.


  • Nguyễn Thanh Quang (Baobinhdinh.com)

Read Full Post »

Họp mặt đầu xuân

Lương Viết Khiêm

                                           (  Dành tặng thân hữu trang Xứ Nẫu )

.

Ngồi lại với nhau nhìn nhau tận mặt

Cố tìm cho ra một chút mùa xuân

Tuổi sáu mươi còn gì để mất

Còn gì đâu? Còn lại một tấm lòng

.

Có những lúc trò chuyện với hư không.

Nghe giọng mình âm vang buồn xa lạ

Ta ngu ngơ nhìn bóng mình xiêu ngã

Một bóng mình nhúc nhích giữa đường xuân

.

Ta vẫn biết đất trời còn độ lượng

Van vật bao dung xuân chuyển mùa sang

Nhưng riêng ta đã thấm đòn hoang tưởng

Ở cuối đường còn nhịp bước lang thang

.

May cũng còn một chút tình bè bạn

Một chút tình để nhớ tuổi thanh xuân

Một chút lửa cho mắt đời còn sáng

Thấy ta đang tồn tại giữa vô cùng

Read Full Post »

 

Khê Kinh Kha

em yêu
hãy ngồi xuống đây
ngồi gần bên tôi
ngồi kề đôi vai
cho hơi ấm quyện vào tim ta
dù bao đau thương mắt lệ nhòa
ngồi gần nhau, chia sớt cơn đau
ngồi gần nhau quên mối gian lao
ngồi gần nhau, mơ ước tình dài lâu

.

em yêu
hãy ngồi xuống đây
ngồi tựa bên tôi
ngồi tựa tim tôi
cho nước mắt tan vào đêm sâu
một trăn năm sau mãi yêu hoài
ngồi gần nhau, vai sát bên vai
ngồi gần nhau, cơm áo chia đôi
ngồi gần nhau, em hỡi, ngồi gần tôi

.

em yêu
hãy ngồi xuống đây
tựa vào đời tôi
cho yêu thương trọn kiếp con người
cho đau thương tan vào đêm tối

.

em ơi
hãy ngồi xuống đây
vòng tay ôm tôi
dù cuộc đời trăm nghìn gian dối
xin hãy yêu tôi
yêu tôi

.
em yêu
hãy ngồi xuống đây
ngồi cầm tay tôi
cầm chặt tay nhau
cho yêu mến nồng nàn lứa đôi
tình ta bao la ngát hương đời
ngồi gần nhau môi ấm đôi môi
ngồi gần nhau quên tháng năm trôi
ngồi gần nhau, em nhé, trọn đời tôi

.
KhêKinhKha

Read Full Post »

Từ Sâm

Tôi quen  vợ chồng Trương Văn Dân và  Elena đã lâu nhưng nay mới có dịp tiếp anh chị ở nhà.
Anh Trương Văn Dân, quê Bình Định, là Việt kiều ở Ý trên 40 năm. Anh là chuyên gia về dược học, là nhà văn,  là dịch giả mấy đầu sách. Chị Elena, người Ý, tiến sĩ văn học nước ngoài chuyên nghành văn chương Pháp.
Tôi quí mến anh chị qua tác phẩm. Tôi đọc anh qua tiểu thuyết          “Bàn tay nhỏ dưới mưa” đẫm tính nhân văn. Nó, như bác sĩ tiên đoán căn bệnh thế giới hiện đại đang mắc phải do “sự toàn cầu hóa” đang đến thời di căn. Tôi đọc Elena qua những phóng sự về trẻ em nghèo Campuchia, đất nước bị lãng quên sau nạn diệt chủng. Những bài  báo của chị như tiếng chuông đồng hồ báo thức trong giấc ngủ say của thế giới no đủ Phương Tây, như chiếc gạc nhỏ băng bó vết thương tâm hồn những  người nghèo khổ  trên thế gian này.


Sáng, bước vào nhà, chị chào chúng tôi bằng cách chắp tay trước ngực, đầu hơi cúi như người Nhật. Nhưng không phải như người Nhật cúi khom sâu mà là đầu hơi cúi như cách đây mấy chục năm mẹ tôi cũng làm như thế. Tuy phát âm tiếng Việt chưa chuẩn lắm nhưng có lẽ nhờ trực giác của người rành ngoại ngữ chị đoán và hiểu khá nhiều.
Khi vợ tôi  hỏi theo chồng về định cư ở Việt Nam có buồn không, chị nói không buồn vì có nhiều bạn bè. Chị tâm sự, sáng cà phê vỉa hè, đọc báo, thăm thú nhau và nói chuyện văn chương. Rồi đi chợ, chị nói đi vài lần là quen mặt hết. Hôm nào bạn hàng vắng, khoảng trống ở chợ vẫn còn đó mà như xa người thân. Cởi mở và hòa đồng, chị đi chợ mà như  mua nụ cười và tình cảm nhiều hơn mua hàng, ít khi trả giá mà không bao giờ bị mua hớ… Phần lớn bạn hàng biết chị thích món gì thì dành riêng, nụ cười thân thiện của chị đã chinh phục được cảm tình của  các bạn hàng. Ở Ý không có được điều đó vì toàn siêu thị. Ở đó người và máy móc săm soi nhau, giám định nhau và không thể mặc cả. Thế mà người ta đang có ý dẹp chợ để xây siêu thị, tôi chia sẻ và nghĩ là đi theo lối cũ của phương Tây là  bào mòn văn  hóa Việt.
Dịp cuối tuần, chị thường ra ngoại ô, vào chợ cóc, ở làng quê chưa khoác áo thành thị. Người dân lam lũ mang ra chợ thứ họ nuôi trồng, chăm bón. Mớ rau ngót xanh ngắt ngậm sương, tôm tép nhảy tanh tách trên rổ, vịt ruộng, gà vườn béo mập, chắc lẳn. Chị nói cách đây nửa thế kỷ, ở Ý cũng như Việt nam bây giờ, chị thường theo mẹ tìm hương thơm của lúa mì vùng ngoại ô. Rảo bước giữa chợ quê, chị như trở lại thời thơ ấu, được hít thở không khí trong lành và tươi mát của miền cây trái. Một lần chị nói rất buồn vì biết là  chỉ vài năm nữa, nơi họp chợ sẽ trở  thành khu công nghiệp.


Điều làm tôi ngạc nhiên là chị thích canh bầu, tôm chua và mắm nêm mà vợ tôi lúc đầu sợ chưng ra mâm. Chả là, có mấy đứa cháu sang Tây vài năm, về nhà khó chịu mấy món nhà quê. Chúng nó toàn ốp la, bít tết và khoai tây chiên. Nhìn tay chị cuốn bánh tráng rau sống hơi vụng một tí nhưng thích thú và hạnh phúc, tôi cũng vui theo. Chị thích bánh  xèo, thích được ngồi đợi, quan sát thao tác của người đúc bánh, chờ đợi dọn ra dĩa chiếc  bánh nóng và giòn. Chị thường tự tay múc nước chấm, hơ hơ đôi tay vào hơi ấm của  bếp lò trong cơn bấc đầu mùa. Mùi dầu chiên ngào ngạt, khói bốc nghi ngút. Chị thích mùi khói, vừa ăn vừa nhìn những người lam lũ ngồi xổm trên ghế nhựa, áo nhem nhuốc bụi đường. Có lần tôi bắt gặp cái nhìn thương cảm của chị về  đứa trẻ ăn miếng  to đùng như ăn lần đầu, sợ hết, sợ ai gắp mất. Bên cạnh, người mẹ chống đũa trong hạnh phúc vì tiền công được vài đĩa bánh. Thứ dân giã mà chị coi là của ngon vật lạ, nó đang bị mai một, bị xua đuổi trong phố thị, bị xâm lấn, bởi chỗ ngồi vỉa hè sẽ không tồn tại.  Chị không tin là nó  rẻ thế, một người ăn chưa hết 10 ngàn, chưa bằng ly cà phê sáng. Tôi cho chị biết, ít người ăn nên không thể nâng giá hơn được. Bà chủ có mấy chục năm ngồi ở đây, nay sắp  dời  đi vì phường không cho phép. Thế giới ẩm thực quyến rũ  như ma tuý, người ta lao vào món đắt đỏ để làm sang, để tức thời. Người ta mời nhau vào nhà hàng chứ có ai mời nhau ra vỉa hè hóng bụi bao giờ. Tôi thực sự ngạc nhiên khi chị giải thích sự cân bằng âm dương của các món rau, của gia vị, của lửa và nước. Món ăn mà tôi ăn gần hết cuộc đời nhưng ăn chỉ mà ăn, còn chị ăn để hiểu, để biết,  ăn bằng miệng, ăn bằng mắt, bằng đầu, bằng sự chiêm ngưỡng và khai phá gía trị nhân bản truyền thống.
Môt hôm, tôi được xem những tấm ảnh chụp một đám cưới lúc chị về quê chồng ở Qui Nhơn. Cô dâu chủ rể là Việt kiều trong bộ váy nhiều tầng, màu sắc lòe loẹt. Trang sức đeo kín cổ, đầy các ngón tay nhẫn to nhẫn nhỏ như trưng cái giàu sang trước thiên hạ. Tóc nhuộm nâu nâu, đỏ đỏ, phủ  hoe vàng. Không thua kém Việt Kiều, những qúi bà, quí cô trong nước không biết giàu hay nghèo, làm chủ hay làm thuê. Họ giống nhau ở chỗ đầm dài đầm ngắn, tóc rối bù tổ chim, sắp hàng ngang như thi hoa hậu. Quá hơn nửa trong số họ từ chối màu tóc đen nguyên thuỷ cha mẹ sinh ra. Trong ảnh, đối chọi với mô đen lối Tây, một người phụ nữ mặc áo dài, chiếc áo dài truyền thống viền thêu bằng tay, kết khuy theo lối cổ, tóc ánh kim, một màu qúi phái, nguyên thuỷ, đó là Elena. Chị tìm đến và giữ màu sắc văn hóa Việt, sợ nó biến mất, mà sợ hơn cả là biến mất trong lễ truyền thống của đời người chỉ có một lần thì nguy hiểm quá. Trông chị lẻ loi giữa sự thô thiển của thời trang nửa mùa, lai căng. Tôi  nghĩ chiếc áo dài của chị là số ít nhưng là tâm điểm. Số ít nhưng là hạt nhân để số đông như electron  quay quanh tạo thế cân bằng, cuộc sống   trở  nên bền vững  và  tồn tại  vĩnh cửu.
Chia tay chị khi bóng chiều chìm xuống, chim về tổ, con người tìm về hơi ấm gia đình. Phía  mặt trời lặn là quê hương chị. Phía ấy có người thân yêu và bạn bè của chị khiến lòng tôi bùi ngùi thương cảm và quý mến. Làm dâu, không chỉ theo chồng, không chỉ hoà nhập vào lối sống, mà chị còn muốn níu giữ cái hồn quê, nếp Việt nơi chồng mình sinh ra.
Nha trang cuối năm  2011

Read Full Post »

« Newer Posts