Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Hai, 2012

   Trần Dzạ Lữ

Vá ngày lại thủng qua đêm

Vá thương sang nhớ , để chuyên chở tình…

Vá lòng đã rách ten ben

Em ơi! buồn cũ thắp đèn tìm nhau!

Vá nỗi vui,níu mộng đầu

Vá môi má đã rưng màu từ ly

Vá luôn chiều lỗi câu thề

Áo xưa nhàu bởi người đi không về.

Vá dùm em mảnh trăng kia

Chìm trong sương muối tư bề không anh!

Vá hồi chuông nguyện thị thành

Chúa ơi! Con chúc an lành người xưa…

Vá làm sao trọn cơn mơ

Yêu người bới lược, gương chờ mối ai?

 


( SàiGòn tháng 2 năm 2012 )

Read Full Post »

– Một ngày chớm xuân, còn gì tuyệt hơn khi đắm mình trong một không gian văn hóa đậm chất làng quê Việt. Nhấp một ngụm Bàu Đá, nhắm miếng nem Chợ Huyện, để những luồng gió làng phả vào da thịt, lắng nghe tiếng trống tuồng lúc xa lúc gần…

 
Ven sông Gò Bồi, nơi từng có cảng thị Nước Mặn một thời tấp nập – Ảnh: Uyên Thu

1. Buổi sáng. Xuất phát ở Quy Nhơn, theo quốc lộ 19, khoảng 20 phút bạn đã có mặt ở thị trấn Tuy Phước. Xuôi theo hướng đông khoảng 3km là đến vạn Gò Bồi (xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, Bình Định), nơi gắn bó suốt tuổi thơ của “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu.

Nếu yêu thơ ông, hẳn bạn sẽ nhớ khổ thơ này: Ngủ không được bởi gió nồm thổi từ biển lên cứ nhắc/ Khi má anh sinh ra/ Anh đã thở hơi nước mắm của vạn Gò Bồi/ Nên tới già thơ anh càng đậm đà thấm thía hơn (Đêm ngủ ở Tuy Phước). Có mấy ai đưa nước mắm vào thơ nhẹ nhàng và thi vị như thế không? Có đến vạn Gò Bồi, thả những bước chân trần trên con đường đất mới hiểu được vì sao Gò Bồi cứ nhấp nháy suốt đời trong thơ Xuân Diệu.

Ngồi ở một quán ven sông, nghe tiếng gió tan trong ly cà phê, dõi mắt theo những chiếc sõng câu xuôi dòng bên bờ tre ken dày, bạn sẽ bất ngờ khi biết trăm năm trước, nơi mình đang ngồi từng tấp nập cảnh trên bến dưới thuyền đông vui nhất nhì xứ Đàng Trong.

Vào thế kỷ 16-17, nơi đây đã hình thành cảng thị Nước Mặn với những chiếc thuyền buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Trung Quốc, Nhật Bản… và từng có mặt trên những hải đồ mậu dịch thế giới. Đến thế kỷ 18, phù sa sông Kôn bị bồi lắng, tàu thuyền không tiến sâu vào nội địa được, cảng thị Nước Mặn chìm dần vào quên lãng. Trong ngày đầu xuân, nỗi hoài cổ và suy ngẫm về sự bất tận của thời gian khiến bạn thấy thời khắc mình đang sống thật đáng tận hưởng.

 
Cụm tháp Bánh Ít ở Tuy Phước – Ảnh: Wikipedia
 
Cổng làng Vinh Thạnh cổ kính rêu phong – Ảnh: Uyên Thu

2. Đình làng Vinh Thạnh (xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước) là kiến trúc cổ nhất trong số những ngôi đình còn lại trên đất Bình Định. Đình chỉ mở cửa mỗi năm hai lần vào dịp Tết Nguyên Đán và ngày giỗ hậu tổ tuồng Đào Tấn (ngày rằm tháng bảy). Với mỗi người Vinh Thạnh, ngôi đình là cái neo tâm linh, là hơi ấm len lỏi trong tim những ngày xa xứ sở.

Thả những bước chân trên con đường làng với những hàng cây xanh mát. Bồi hồi bước qua cổng làng cổ kính rêu phong. Tiếng vọng từ ngàn xưa như đang đuổi nhau trên những mái ngói cũ ánh lên sắc xanh kỳ ảo. Bất chấp quá trình đô thị hóa đang ồ ạt xâm lấn nông thôn, người Vinh Thạnh vẫn giữ được nét thuần Việt của mình.

Đường làng lối xóm tinh tươm. Những hàng rào duối, chè tàu được cắt tỉa tỉ mỉ. Lối đi không chỉ đơn thuần là lối đi nữa mà còn là một thú chơi rất tao nhã của người dân nơi đây. Làng Vinh Thạnh cứ vậy, khiêm nhường và quyến rũ bằng nét riêng không thể trộn lẫn của mình.

Trưa đến thật nhanh. Hãy ghé vào một quán nhỏ nằm khiêm nhường dưới bóng cây gòn trăm năm tuổi, thưởng thức món nem Chợ Huyện ở nơi ngày xưa từng là trung tâm của phố thị Gò Bồi.

Chiếc nem nhỏ xíu vậy mà công phu lắm. Bí quyết làm nem Chợ Huyện là công đoạn giã thịt. Thịt nạc đùi được giã hai lần, lần đầu chừng 20 phút, xong nêm gia vị rồi giã tiếp thật đều tay. Khi nào nghe tiếng chày “ngọt” thì thịt mới thơm, giòn, sợi dài mà không bị vụn. Nem được “mặc” bằng một lớp lá ổi, sau đó bọc bên ngoài lớp lá chuối vừa để lên men, giữ độ ẩm vừa tăng tính thẩm mỹ cho chiếc nem.

Nem Chợ Huyện dai mà giòn, hương thơm đủ làm mê hoặc thực khách. Nem ngon lại có chén rượu Bàu Đá cay nồng… Thật là buồn ngủ mà gặp chiếu manh! Đến Bình Định dịp này, bạn đừng ngạc nhiên khi những cây ổi đương mùa xuân đều trơ trụi lá!

 
Nem Chợ Huyện – đặc sản Bình Định – Ảnh: Uyên Thu

3. Chiều rơi chầm chậm. Tiếng trống tuồng lúc xa lúc gần rạo rực lòng người. Đi xem tuồng với hương rượu còn phảng phất đầu môi, bạn có cảm giác xứ này như gần gũi từ kiếp nào! Sân khấu tuồng rất đơn sơ, những “diễn viên nông dân” đêm đến hóa thân thành Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân, Huyền Trân công chúa, Đào Tam Xuân, Phạm Công – Cúc Hoa…

Càng về khuya, tiếng trống tuồng càng thêm xao xuyến lòng người. Người nới ra, người lại vào bên trong chiếu. Có người vào hàng quán ăn tạm cái bánh rồi lại xem cho hết vở, có khi cũng phải đến nửa đêm.

Vãn tuồng, đường làng nhộn nhịp hẳn lên. Tiếng mọi người bình luận về các nhân vật trong vở diễn, về lòng trung nghĩa, về luân thường đạo lý. Và hình như mỗi người dân nơi đây đều mang trong mình một chút hào hiệp, bao dung của những nhân vật họ vừa xem vở…

Cũng chẳng cần phải ngủ nữa đâu, chẳng mấy chốc bình minh lại lên trên những cánh đồng xanh màu lúa đang thì. Gió ban mai đầu xuân đang thì thầm những cuộc hò hẹn để về với những vùng đất xa xưa trên quê hương Bình Định.

PHẠM UYÊN THU

__________

(*) Ai về Vinh Thạnh quê em
Ăn nem Chợ Huyện, xem đêm hát tuồng
(ca dao Bình Định)

Read Full Post »

Thơ xuân tặng bạn

 Nguyễn Quy
Tết…đi câu
(Tặng các ông bạn già của tui !)

Ngày xuân xách cần câu cá
Trời xanh. Sông xanh. Cây xanh
Chọn chỗ móc mồi quăng xuống
Ngồi chờ, ngồi đợi … tin lành

Ngày xuân xách cần câu … tình
Nước nghiêng chao phao rung rinh
Cá không mắc lừa rỉa rỉa
Tình không duyên phận – thôi đành

Cá có thể câu cầu âu
Tình đâu mà chờ mà đợi
Một lần chậm – nửa cuộc đời
Ngày xuân xách cần đi … chơi !


Rằng thưa

(Tặng anh Mỹ & chị Thanh-Sông Trăng)


Rằng thưa : Xin cảm ơn đời
Đã cho ta được khóc cười trăm năm
Rằng thưa : Xin cảm ơn em
Đã chọn anh – còn tặng thêm – rượu này

Chưa nhấm môi mà muốn say
Say giả bộ – say loay hoay – say hiền
Này em xin hãy lặng im
Trời mưa đất chịu, đất mềm trời thua

Thưa em anh muốn … them ưa
Một đời anh thích rằng thưa – một lời
Khoanh tay thưa với ông trời
Xin cho anh được đứng ngồi cùng em

Và …nằm thì chờ đến đêm !!!


Xuyên Mộc, Tết Nhâm Thìn 2012
             NGUYỄN QUY

Read Full Post »

Trưa ngày 14 tháng Giêng năm Nhâm Thìn, 2012, NSƯT Ngọc Cầm đã trút hơi thở cuối ở quê nhà, hưởng thọ 85 tuổi. Ngôi sao cuối cùng của “Tứ đại danh ca” hát bội Bình Định đã tắt nhưng sự nghiệp rạng rỡ của bà với những vai diễn để đời: Liễu Nguyệt Tiêm, Lữ Bố, Địch Thanh… sẽ còn sống mãi trong công chúng yêu nghệ thuật hát bội.

 
Ngọc Cầm bắt đầu nổi tiếng với vai Lữ Bố trong tuồng “Lữ Bố hí Điêu Thuyền”. Trong ảnh: Ngọc Cầm trong vai Lữ Bố (trái) – ảnh chụp năm 1995 (Tư liệu của VŨ NGỌC LIỄN).

Theo cha, anh đi hát từ năm lên chín, lên mười, sân khấu và khán giả, những câu nam câu khách đã sớm ám nhập và đeo đẳng trọn đời Ngọc Cầm những vinh quang và cay đắng, đơn độc của một kiếp cầm ca. Bà đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý – Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) – cùng những danh ca một thời: Hoàng Chinh, Long Trọng, Tư Cá… Đây là những tưởng thưởng vừa đặc biệt vừa tượng trưng. Đặc biệt và tượng trưng vì danh tiếng họ quá vang dội trong hát bội Bình Định chứ không phải theo quy chuẩn thành tích thông thường.

Con nhà nòi

NSƯT Ngọc Cầm tên thật là Võ Thị Ngọc Cầm sinh năm 1927, quê An Hòa 2, Phước An, Tuy Phước. Bà là con Chánh ca Võ Đựng, và là em gái Bầu Thơm, một tài danh để đời với vai diễn không thể thay thế: Phàn Định Công trong “Sơn hậu”! Một gia đình tài danh nức tiếng của hát bội Bình Định.

Mới mười sáu, mười bảy tuổi, Ngọc Cầm đã thực sự nổi tiếng với vai Lữ Bố (trong “Lữ Bố hí Điêu Thuyền”). Vóc dáng cao, gương mặt sáng rỡ…, nói chung và các yếu tố thanh, sắc, thục, tinh, khí, thần đều hội đủ cho một khẳng định tài năng. Cũng như nhiều nghệ sĩ hát bội khác thời đó, bà rất giỏi võ. Người viết bài này từng hỏi chuyện và nghe bà kể tường tận chuyện thứ tự đánh ngã bốn thanh niên chận đường khiến “đại ca” cầm đầu nể phục để bà gánh hàng đi. Yếu tố biết võ là tiêu chuẩn đầu tiên mà thầy Đào Tấn xưa kia nhận học trò cho trường dạy nghề “Học bộ đình”. Võ giúp thực hiện được phần vũ đạo đặc chủng của nghệ thuật này đạt tới tầm tinh diệu.

Thời kỳ Ngọc Cầm bắt đầu nổi danh là thời kỳ hát bội cũng lao đao “cuộc chiến” giành khán giả với cải lương. Theo nhà nghiên cứu sân khấu Vũ Ngọc Liễn, những vở cải lương đầu tiên “chuyển thể” từ hát bội sang: “Sơn hậu”, “Phụng nghi đình” đã có chỗ đứng. Vậy là nghệ thuật này nhanh chóng xuất hiện hàng loạt các kịch bản có tính cạnh tranh mạnh: “Tái sanh kỳ ngộ”, “Cánh buồm trắng, cánh buồm đen”, “Trái tim xẻ nửa”…, những vở diễn “ăm dầm nằm dề” Trường hát Trung Hoa ở Quy Nhơn lúc đó. Hát bội “đói” dài nên các nghệ sĩ trẻ đã mạnh dạn nghĩ cách cải tổ cách hát, diễn và đã có những cuộc tranh luận nảy lửa giữa các thế hệ trước và lớp trẻ.

Ngọc Cầm lặng lẽ vào Sài Gòn xem nghệ sĩ cải lương Phùng Há diễn vai Lữ Bố. Lặng lẽ xem để học thêm cách diễn. Không chỉ tài năng và khổ luyện, Ngọc Cầm còn một phẩm chất nữa là chịu học, khao khát khẳng định mình. Tài năng giúp nghệ sĩ nhanh chóng được nhiều người biết đến. Nhưng để đạt tới một đỉnh cao, nghệ sĩ phải nỗ lực và sáng tạo lớn. Ngọc Cầm thuộc số này và bà đã có những Lữ Bố, Địch Thanh, Liễu Nguyệt Tiêm… để đời trên lộ trình tất yếu đó.

 
Nghệ sĩ ưu tú Ngọc Cầm.

Vinh quang

Trước Cách Mạng Tháng Tám, Bình Định có đến 13 Trường hát bội. Và bất kỳ đâu, chốn công cộng của làng xã hay vườn nhà, chỉ cần một ngày là đội dựng rạp chuyên nghiệp dựng xong một sân khấu cho hát diễn. Dù hát bằng “thanh” thật hay qua mi-cờ-rô, hát với ánh đèn mẻ dầu, măng-xông hay đèn điện, nghệ sĩ Ngọc Cầm cũng sáng rực trên sân khấu.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc liễn, những đêm gió nam, dù hát tận Trường Gò Bồi, từng lúc ở Vũng Bấc (Nhơn Lý) cũng nghe vọng tiếng hát của Ngọc Cầm! Bà là diễn viên đắc “sô” và luôn được các ông bầu tranh nhau mời. Tất nhiên rồi, còn nhiều đào khác cũng rất nổi tiếng nhưng đặc điểm của hát bội Bình Định là tên đào kép thường mặc định với vai diễn trong công chúng. Hát “Lữ Bố hí Điêu Thuyền” mà không có Ngọc Cầm dân không chịu. Cũng vậy, tên bà thường được đặt điều kiện khi ký hợp đồng hát “Địch Thanh ly Thợn” hay “Phụng Nghi đình”… Vai Địch Thanh còn vài kép nam sắm xuất sắc nhưng đào đóng kép giỏi như bà có cái hay riêng.

Những năm sau 1954, bà cùng các tên tuổi danh tiếng khác: Hồng Thu, Lệ Suyền, Hoàng Chinh, Long Trọng, Tư Cá… làm nên một thời kỳ vàng son mới cho hát bội Bình Định. Những đêm diễn thâu canh. Những tiếng trống chầu trống chiến, thúc giục rồn ràng xuân kỳ thu tế, những dịp hội hè. Những câu hát nam hát khách lay động. Những tiếng quân ó xa ó gần dồn vọng lớp lớp.  Tất cả thường bắt đầu bằng phần “ra tuồng” tạo cảm xúc thật lớn, thật ấn tượng đến khán giả. Sân khấu đã làm được cuộc kích động cao độ sự phấn khích và mỹ cảm, và cái ngây ngất đón đợi của công chúng, roi chầu thúc, những khay thẻ “thướng” như những quầng sáng là hiệu ứng người xem đáp lại cũng tạo nhiều hưng phấn cho nghệ sĩ những phút giây xuất hóa.

Bà là một phần của “những đêm diễn” như thế. Từ nông thôn đến thành thị, trong tỉnh và ngoài tỉnh, sắm đào hay làm kép. Và làm thành “Tứ đại danh ca”, cùng các NSƯT Hoàng Chinh, Long Trọng, Tư Cá!

Sau năm 1975, NSƯT Ngọc Cầm không có nhiều đất diễn ở Nhà hát tuồng Đào Tấn, đơn vị nhà nước. Phần kịch bản mới không hợp, phần đã có thế hệ đào kép mới tài năng thay thế. Bà vẫn sống với sân khấu trong dân các huyện, xã. Và rèn dạy học trò.

Và cô đơn

Cách đây vài năm, người viết bài này có dịp nghe bà đối ca cùng ông Vũ Ngọc Liễn. Trước đây ông cũng là diễn viên nên hai người làm cái trích đoạn rất có không khí. Là theo gợi ý của ông, đoạn hồn Giả Thị về gặp Hoàng Phi Hổ trong “Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan”. Nghe bà hát câu nam rợn người: “Ái tía tỏ lời sinh tử/ Kể khôn cùng để sự thê lương”. Và câu tán: “Hồn lai phong lâm thanh phiêu phiêu hề di thế/ Giang tâm thu nguyệt bạch diếu diếu hề tương vong”. Câu này tôi nghe nhà nghiên cứu khen nhiều lần, và dịch nghĩa rằng, ‘‘hồn về rừng thông xanh chơi vơi trong cõi thế, trăng rọi lòng sông buốt hai cuộc đời tiêu tan’’. “Kể không cùng để sự…”, ừ đúng, đây là câu của hồn ma, nó vọng rợn, nó ám đến lạnh lưng.

Nói là NSƯT Ngọc Cầm được sinh ra để ca hát không phải là quá. Cũng vì thế mà bà, tuy cũng có gia đình, chồng con nhưng không phải là mẫu người phụ nữ của gia đình. Sau những hào quang những ánh đèn sân khấu, sau những phấn son và các thói quen ca kỹ, thường là một khoảng trống thật lớn. Tuổi càng cao khoảng trống càng hun hút.

Không riêng gì bà. Nhiều nghệ sĩ cải lương phía Nam trước đây có đêm thu vài cây vàng giờ cũng trắng tay, sống nhờ những giúp đỡ của bạn bè nghệ sĩ.

Hơn mười năm trước qua đề nghị của Nhà hát tuồng Đào Tấn và Sở Văn hóa, tỉnh cũng đã ưu ái tạo điều kiện cho bà có một lô đất ở Quy Nhơn. Rồi bán. Sòng sành mấy lúc lại hết veo. Đâu có lương hưu, bà sống dựa vào con cháu khi Quy Nhơn, lúc Gia Lai, và nhờ bạn bè, những người quen thân cũ, những người mến mộ. Long đong, thiếu hụt và buồn. Những tháng gần đây bà yếu hẳn và người thân đưa về lại quê nhà, trong một ngôi nhà xây tuềnh toàng. Và cuối cùng, sau ngần ấy năm đi và hát khắp vùng miền, bà về với đất ngay nơi làng quê mình.

Tôi đã làm tư liệu về bà từ cách đây mấy năm nhưng không thể viết bài. Vì không muốn tình cờ bà đọc được đoạn không thể không viết rằng, đích thực bà là người của cầm ca, và là một ngôi sao cô đơn. Cuộc sống hiu hắt cuối đời đã mỏi mệt, nghĩ không muốn để bà nặng lòng thêm.

Giờ viết như một nén hương dâng bà, một tài danh sáng chói của hát bội Bình Định. Chỉ còn vọng lại vùng hồi quang đọng hẳn trong ký ức, trong lòng người mến mộ những Liễu Nguyệt Tiêm, Lữ Bố, Địch Thanh…

Ngôi  sao cô đơn, ngôi sao sáng cuối cùng của “Tứ đại danh ca”, đã tắt!

  • LÊ HOÀI LƯƠNG (nguồn  baobinhdinh.com)

Read Full Post »

Hồ Ngạc Ngữ

ở quê nhà

trong trẻo ngày nhà quê

tôi đi, về

không ra khỏi đất

hình bóng cũ

rét tràn về

sắt se mùa gió bấc

con cúi rơm thức giấc giữa đêm đông

thư nhà

vừa đọc thư nhà trong mây trắng

bầu trời xanh

không cách dặm đường xa

sau đêm áp thấp

lung linh những giọt nắng

ban mai

cài trên ngực áo

giọt lệ

em đến giữa trần gian

một mình

như giọt lệ

Read Full Post »

Sáng nay (7.2), tại đền thờ Đào Duy Từ thuộc xã Hoài Thanh Tây (Hoài Nhơn), Lễ kỷ niệm 440 năm năm sinh danh nhân văn hóa Đào Duy Từ được tổ chức long trọng. Đào Duy Từ- bậc khai quốc công thần, văn võ toàn tài đã có nhiều cống hiến lớn lao cho đất nước trong nửa đầu thế kỷ 17.

Cuối thế kỷ 16 đến nửa đầu thế kỷ 17, nước ta trải qua một thời kỳ lịch sử vô cùng phức tạp, thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, chiến tranh, loạn lạc. Trong hoàn cảnh đó, Đào Duy Từ đã ra đời tại làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia (nay thuộc xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa). Vì xuất thân trong một gia đình làm nghề hát xướng, nên dù tư chất thông minh, có chí học hành, ông vẫn không có cơ hội vào trường thi. Dù vậy, ông vẫn tiếp tục theo đuổi học hành, tìm kế lập thân.

 

Đền thờ Đào Duy Từ. Ảnh:  TL

Nghe đồn chúa xứ Nam là Nguyễn Hoàng đang chiêu hiền đãi sĩ, Đào Duy Từ tìm đường vào Nam và dừng chân tại Bình Định. Do kế sinh nhai, ông giữ kín tung tích, ở chăn trâu cho một phú hào ở đất Tùng Châu phủ Hoài Nhơn (nay là xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn). Nhân một cuộc bàn luận thế sự, quân tử – tiểu nhân của giới nho sĩ, ông tham gia ý kiến và được mọi người khâm phục, được chủ nhà mời làm thầy đồ dạy học cho con, sau đó được tiến cử đến khám lý Cống Quận Công Trần Đức Hòa. Mến tài Đào Duy Từ, khám lý Trần Đức Hòa đã gả con gái và tiến cử với chúa Sãi: Nguyễn Phúc Nguyên, được chúa trọng dụng trao cho chức “Nha úy Nội tán”, tước “Lộc khê hầu”, trông coi việc quân cơ trong đình, ngoài trấn, được tham lý quốc chính vào năm 1625.

Đào Duy Từ giúp chúa củng cố vương triều mới, ban hành nhiều chương trình cải cách có lợi cho dân. Ông đã hiến kế cho chúa Nguyễn đắp lũy Trường Dục ở Quảng Bình, đắp lũy Thầy ở sông Gianh bảo vệ cơ đồ sự nghiệp của chúa Nguyễn xứ Đàng trong và trở thành nhà quân sự tài giỏi trong lịch sử của dân tộc.

Để có người tài phục vụ đất nước, Đào Duy Từ đã đề đạt với chúa Nguyễn thi hành phép duyệt tuyển và khảo thí, tổ chức các kỳ thi để kén chọn nhân tài, xây dựng bộ máy chính quyền xứ Đàng trong, chấn chỉnh nội trị, tăng cường quốc phòng. Trên mặt trận ngoại giao, ông chủ trương đấu tranh mềm mỏng linh hoạt với nhà Trịnh và Chiêm Thành, mà tiêu biểu là việc lập kế để chúa Nguyễn trả sắc phong cho vua Lê- chúa Trịnh, tạo vị thế chính trị Đàng trong so với Đàng ngoài. Những đóng góp của Đào Duy Từ, chúa Sãi và các chúa Nguyễn sau này, đã giúp củng cố xứ Đàng trong thành một nhà nước độc lập, vững mạnh, đủ sức đương đầu với chính quyền Lê- Trịnh và dần mở rộng bờ cõi về phương Nam.

Đào Duy Từ còn để lại nhiều tác phẩm văn học có giá trị như: “Ngọa Long Cương Vãn”; “Tư Dung Vãn” được các nhà nghiên cứu đánh giá cao, xếp hàng đầu trong những tác phẩm văn học viết, của nền văn học Đàng trong giữa thế kỷ 17. Riêng bộ “Hổ trướng khu cơ” hướng dẫn về binh pháp và cách chế tạo vũ khí của ông có thể sánh với “Binh Thư Yếu Lược” của danh tướng Trần Hưng Đạo. Ông được tôn là sơ tổ khai sinh ra bộ môn nghệ thuật tuồng và các điệu múa cung đình ở nước ta.

Trong vòng 9 năm (1625-1634), với tư chất của một con người hành động, giàu ý chí, nghị lực, Đào Duy Từ đã hoạt động hết mình giúp chúa dựng nên nghiệp lớn. Ông qua đời vào năm 1634, hưởng thọ 63 tuổi. Chúa Sãi vô cùng thương tiếc, đã đích thân đến thăm ông tại nhà riêng khi bệnh nặng cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng. Chúa đã cho người đưa linh cữu của Đào Duy Từ về an táng ở đất Tùng Châu, lập đền thờ tự và truy tặng: “Hiệp mưu đồng đức công thần đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu”.

Tuy sống ở đất Tùng Châu không lâu nhưng Đào Duy Từ đã có nhiều công tích đối với dân làng. Ông hướng dẫn nhân dân khai khẩn lập làng, mở đường giao thông, đào sông làm thủy lợi, phát triển sản xuất… Cho đến ngày nay, một số tên sông, tên làng, tên đất vẫn còn gắn liền với những giai thoại về ông. Để tưởng nhớ công lao, đóng góp của ông, chúa Nguyễn và các vua triều Nguyễn sau này, đã truy phong ông nhiều chức tước quan trọng. Triều vua Gia Long thứ 4 (1805) xếp ông vào hàng: “Thượng đẳng khai quốc công thần” cho thờ ở Thái Miếu. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), ông được truy tặng “Hàm đông các đại học sĩ”, chức Thái sư, phong tước Hoằng quốc công. Đồng thời, nhân dân đã lập đền thờ tự ông ở nhiều nơi mà tập trung nhất là ở huyện Hoài Nhơn.

Tưởng nhớ đến công đức to lớn của Đào Duy Từ, năm 1994 Nhà nước đã công nhận xếp hạng đền thờ danh nhân văn hóa Đào Duy Từ thuộc thôn Ngọc Sơn Bắc, xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn là di tích cấp Quốc gia.

Nguồn baobinhdinh

  • QUANG KHANH

Read Full Post »

Rêu

và mùa xuân đi về như thường lệ,
tháng mười hai ừ nhỉ.. tháng mười hai
và có lẽ thời gian trôi chậm quá
em buâng quơ ngồi miết những u hoài

mùa xuân này, có cớ để thăm ai
bước lớ ngớ giữa phố người ồn ã
em bỗng nghe tim mình xao xuyến lạ
thấy phân vân và lại thấy kỳ ghê!

chiều nay mây một bận rủ nhau về..
tấp nập quá, nên chiều nay thổn thức
hiên nhà nở những nhành mai vàng rực
sương biếc đọng vành trên cánh tươi non

tháng chạp ướt mềm, cỏ như xanh hơn
xuân đến thật gần xuân về có phải..
thôi, em xếp buâng quơ lòng mình lại
để mai còn nguyên vẹn một mùa vui

Read Full Post »

Hoàng hôn

Viết bởi  Hạt Tiêu

Hai người cùng bước chầm chậm lên ngọn đồi quen thuộc , đã chín năm nay họ thường đến đây để ôn chuyện cũ . Gần mười năm rồi , nàng đã già hơn xưa ,  nhưng người đàn ông bên cạnh nàng không già chút nào , vẫn còn  thấy thanh xuân ở nụ cười chàng , nụ cười trẻ trung , tự tin như chín năm về trước :

–  Sang năm ngày nầy , mình liên hoan thật hoành tráng nghe.

Người nữ lắc đầu .Chàng hồn nhiên quá , và nàng không thể nói cái điều nàng quyết tâm sẽ nói trong hôm nay

Đã bao lần , nàng quyết tâm dứt áo , nhưng chỉ cái níu tay nhẹ của người đàn ông làm nàng xiêu lòng ,đổi ý ,  hỡi ơi ! nàng yếu đuối hơn hơn bất cứ một sinh vật yếu đuối nào trên trái đất , và người đó , người đứng trước mặt nàng đây , thì lại mạnh mẽ ,  cứng cõi và nàng luôn bị cuốn hút trong quỹ đạo của chàng , chàng không bao giờ bỏ cuộc, không bao giờ chàng để cho nàng được tự do suy nghĩ , bày tỏ những đều nung nấu nàng trong những tháng ngày trống trải ,  những tháng ngày phải đối diện với nỗi cô đơn dằng dặc,  chàng luôn biết cách hướng nàng vào chủ đề chàng đặt ra, hãy  vui cho đời đở trống trải , chàng dặn nàng như người mẹ chăm con , chàng luôn kể những chuyện vui cười , những câu nói tiếu lâm , sống động và nàng cười theo nụ cười của chàng , vui theo nỗi vui của chàng .  Chàng độc đóan , ích kĩ , chàng tham lam vì bên cạnh chàng luôn có một người nữ trung thành , tận tụy ,  không hề biết đòi hỏi một yêu cầu nào cho bản thân mình , chỉ biết yêu chàng ,  tìm mọi cách để vừa lòng chàng ,  như vậy đó , họ yêu nhau vừa trọn chín năm .

Ngọn đồi nầy là nhân chứng cho tình yêu của họ , nàng thuộc lòng lối đi lên đồi , những hàng thông trồng ngay ngắn , thứ tự , mùa nào lá cũng xanh . Những lần không hẹn hò , nàng nhiều lần đến đây , và ôm mặt khóc , nước mắt rơi xuống chân cỏ dại và cứ như thế buổi chiều  đến thật nhanh trong tâm hồn nàng .

Hai người cùng bước về phía bên kia đồi , phía nầy dốc hơn phía bên kia . Phía nầy ít cỏ hơn phía bên kia , từ phía nầy nhín xuống , thành phố thấp thóang sau màn sương mỏng , qua ba con đường ở một ngã rẻ , có nhà nàng , hiu quạnh như chiếc tem thư.

– Hôm qua , có một cô bé quá giang xe  .

Chàng hay có kiểu nói bỏ lững , kiểu để người khác hiểu sao thì hiểu , muốn ghen tuông , muốn giận hờn thì chàng sẽ thanh minh , sẽ vỗ về ,  sẽ an ủi nàng . Rồi chia tay nhau , rồi đợi chờ một lần hẹn hò khác , bắt đầu bằng điệp khúc chuông điện thoại reo, và một tình yêu dai dẳng đến chín năm trường .

– Hôm qua , người đó đến chơi nhà .

Không biết , từ bao giờ nàng bị lây cách nói bỏ lững của chàng , và nàng nhìn nụ cười của người trước mặt , thấy thật khó khăn để nói tiếp .

Người đàn ông đã nói hộ cho nàng :

–  Người ấy ngỏ lời cầu hôn .

Nàng gật đầu và cuối đầu vì không đủ can đảm  nhìn sắc thái thay đổi của người đàn ông :

– Bao giờ  cưới .

– Tháng sau.

Bây giờ , thì nàng ngước lên , nhìn khuôn mặt yêu dấu một lần cuối , sự việc không ngờ dễ dàng đến thế .  Chàng không hề giận dữ , đôi mắt chàng xa xôi , lạ lẫm nhưng cuốn hút vô cùng

Nàng sẽ không bao giờ được nhìn lửa thương yêu từ đôi mắt đó , sẽ không bao giờ đến ngọn đồi nầy để ngắm chiều rơi , để nghe tiếng thở dài của nhau mà so tính -ai vui hơn – ai buồn hơn .

–  Nhanh thế .

Âm thanh khô khốc , như nhát dao cứa tâm hồn nàng . Chàng không đòi hỏi người đối diện một điều gì  , chỉ là sự tự nguyện . Sự tự nguyện kéo dài chín năm làm nàng mệt mõi , đau đớn . Bây giờ , để kết thúc sự tự nguyện lại càng đau đớn thêm .

– Ta về thôi .

Trước khi  bước về phía bên kia đồi để đi xuống, nàng nhìn thành phố  trong đêm , những ngọn đèn lấp lánh , không còn nhìn thấy ba con đường và lối rẻ , không còn nhìn thấy ngôi nhà hiu quạnh  như một cái tem thư .  Chiều lịm dần .

Read Full Post »

Mùa xuân

  Từ Quốc Hoài

Mùa thu thiếu nữ. Tranh: Dương Bích Liên.


MÙA XUÂN

.

Mùa Xuân

nhẹ bước qua đường

nắng vương sương khói

ngày

dường nhẹ tênh

chân mình lạc

giữa mông mênh

này người, này phố, này bềnh bồng xe…

câu chào

vội chẳng kịp nghe

nụ môi tươi rói theo về

thoảng hương

.

  THÁNG GIÊNG

.

Vòng tay sóng nõn nà

lặn vào da thịt cát

hương của trời của đất

chợt dậy trong nụ hoa

và cát mịn màng da

và sóng mềm mại sóng

bên cánh buồm mơ mộng

dùng dằng bước Hằng Nga

người đi dày trần gian

bước ngược xuôi trăm ngã

ngạc nhiên dấu chân mình

in lòng vòng Cõi Nhớ !

biết tìm đâu… ngày xưa ?

tay chạm vào mây khói

cái nhìn em tươi rói

lên tơ non Cây Đời

trẻ trung bờ cát gọi

vòng tay sóng buông lời

nụ hôn ai đằm thắm

gửi vầng trăng bên trời

.

     LẠ THAY CON TIM

.

Một ngày không vui không buồn

tôi đọc thơ em

nghe con tim ngột ngạt sau trang giấy

mùa xuân dường đã khuất xa rồi !

dòng sông vẫn không ngừng chảy

cuốn theo bầu trời đầy cỏ hoa

cả khi dòng nước đã lặn vào cát

sông vẫn không ngừng trôi

ngày tháng đã đổi thay gương mặt

trong lao xao cây lá hai bờ

lạ thay cuộc hành trình của con tim

vẫn ẩn hiện đâu đó.

Read Full Post »

Văn Công Mỹ

“Anh ca không hay, anh đàn nghe cũng dở” *

Lại còn thêm nữa chút ngu ngơ

Cả một đời mơ ngày hạnh ngộ

Cầm bằng may rủi chọn câu thơ (?)

 .

Khốn nỗi anh không là thi sĩ

Để ví em trăng tỏ trăng mờ

Để đẩy đưa  những lời mộng mị

Phỉnh dụ em chung một giấc mơ

 .

Phải chi anh đóng vai tài tử

Giả buồn hiu một gã si tình

Giả say mèm một tên du tử

Vờ bất cần trước kẻ làm thinh

 .

Khốn nỗi anh không là tỉ phú

Mua tặng em triệu đóa hoa hồng*

Thôi thì xin làm tên lam lũ

Đợi đêm về dành dụm nhớ mong

 .

Là đàn ông tội gì phải khóc

Dẫu yêu đương biết sẽ ngậm ngùi

Ừ thì phương nọ mặt trời  mọc

Ngại ngần gì câu nói trên môi

 .

Mải miết quẩn quanh  tìm con chữ

Luật vận nào cho nhịp trái tim

Cầm bằng may rủi lời đã cũ

Cược với tình hai tiếng yêu em.

 

(*Lời bài hát)

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »