Feeds:
Bài viết
Bình luận

Hình như xuân vừa qua đây

Đặng Thị Thanh Hương

Tranh Bùi Xuân Phái

Nhiều năm qua con chỉ ngắm hoa đào

Mỗi mùa xuân nhà cha nở đỏ

Từ ngày cha đi hoa không rộ nữa

Xuân buồn trắng lạnh vườn hoang

Thế mà thời gian đổ mỗi xuân sang

Bóng núi vời xa-hình hài vô ảnh

Con bước theo mây hồn như gió lạnh

Năm nay Tết chẳng có nhà

Lần đầu tiên con thấy cả rừng hoa

Mai vàng nở, nắng vàng loang lối nhỏ

Ở nơi đây hình như không chỉ gió

Có cả niềm tin yêu trong rực sắc mai vàng

Bao năm rồi cứ nhìn màu vàng

                                 là chạnh nghĩ thu sang

Cứ thấy nắng quái chiều hôm ngỡ đời

                                                      là ly biệt

Nhưng mùa xuân nơi đây không như con

                                                      từng biết!

Màu hoa vàng-hy vọng mỗi mùa xuân!

.

  • THƠ VŨ HỮU ĐỊNH
  • Còn Một Chút Gì Để Nhớ 
  • phố núi cao phố núi đầy sương
  • phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
  • anh khách lạ đi lên đi xuống
  • may mà có em đời dễ thương
  •  phố núi cao phố núi gần
  • phố xá không xa, phố tình thân
  • đi phút chốc về cũ địa điểm
  • một buổi chiều nào lòng bâng khuâng 
  • em Pleiku má đỏ hồng
  • ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
  • nên mắt em ướt và tóc em ướt
  • da em mềm như mây chiều trong
  •  xin cảm ơn thành phố có em
  • xin cảm ơn một mái tóc mềm
  • mai xa lắc biên giới
  • còn một chút gì để nhớ để quên
  • VHĐ***
  • Trần Dzạ Lữ
  • Một buổi chiều của năm 1969, tôi đang lang thang trên đường Triệu Nữ Vương, Đà Nẵng-bất ngờ có hai bóng lưng. error, you must be Tran Dzạ Lữ? “Tôi hơi ái ngại, không trả lời mà chỉ cười, người thứ hai tiếp bạn” Có đúng anh không? ” Tôi đành trả lời: ”Vâng, tôi là Lữ đây, có chuyện gì không vậy?” Người mập, lùn nhanh nhẹn: “Nghe danh anh lâu rồi, nay mới gặp.Thôi vô đây” Anh ta kéo tôi vào một quán bên đường. Anh tự giới thiệu mình là Trung (làm thơ) và người của anh là Trần Quang Lộc (nhạc sĩ). Chiều Định Mệnh hay Nghi Ngẫu? Tôi không biết .Nhưng từ đó tôi, Trung và Lộc đã thành bạn. Từ đó Trung hay rủ tôi về nhà ngủ để trao đổi chuyện văn chương.Nhà Trung nghèo, vậy mà chị Kim Vân luôn vui vẻ (Vợ Trung, lo nuôi chồng nuôi con, còn tiếp bạn bè của chồng mà không hề hé ra một lời thở phào nhẹ nhõm, hồi đó Trung binh yêu thích) Trong những người chơi, bạn bè như thế, Trung đưa ra đọc rất nhiều bài thơ anh làm.Còn Một Chút Để Nhớ , bài thơ giàu nhạc tính và là bài viết về Pleiku rất hay.Tôi hỏi Trung “Anh ấy đã sống trên đó rồi à?” Trung nói: ”Thời gian bắt đầu dịch lên đó và phải về” Đúng vậy, có cuộc sống ở đó anh mới tái hiện được một Pleiku trong thơ như thế.Cũng qua trao đổi về thơ nhạc, Trung và tôi đều mê nhạc sĩ Phạm Duy và Trịnh Công Sơn.Một người trung niên là “phù thủy“ âm nhạc và một người trẻ tuổi tài hoa.Tôi nói với Trung “Người nhạc sĩ trẻ có lời hay hơn cả thơ” Trung đồng tình và bảo ” Anh ấy là người Huế đó ”Tôi nói” Ước gì bọn mình gặp hai nhạc sĩ “Trung tươi cười:” Phải gặp mới ”.Tôi cũng động viên Trung nên gửi thơ đăng. Đăng báo cho người ta mới biết mình, chứ làm để đọc thì uổng.Thời gian này, bọn tôi còn chơi thân với Đoàn Huy Giao, Đynh Trầm Ca, Hồ Đắc Ngọc. 
  • Một năm sau (1970) Trung có thơ đăng trên tạp chí ở Sài Gòn với bút danh Vũ Hữu Định .  được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc và bài hát được phổ biến rộng rãi.Cũng từ năm 1970 đến năm 1973, Vũ Hữu Định xê dịch rất nhiều, Định đi giang hồ với cái túi xách trên tay, không tiền bạc, không một tấm giấy tờ tùy thân. Nhà trọ Ngô Nguyên Nghiễm bên cầu Chữ Y và có lần phiêu lưu ký về Đồng Tháp với Hạc Thành Hoa hơn tháng, lại có những lần Định cư lâu nhất ở Đại Ninh với Nguyễn Đình Dzu… Định mải miết phiêu bồng với chị Kim Vân. sinh con cũng không quay về.Tội nghiệp chị một mình lo toan tất cả .Những năm này, tôi còn ở Đà Nẵng, thường xuyên thăm chị và các cháu.Nhưng giữa năm 1973, tôi quay lại “Hành Phương Nam” và cuối cùng năm 1973 Định lại về đà nẵng.Vậy là,at that Định chỉ còn Đoàn Huy Giao, Nguyễn Tịnh Đông và Đynh Trầm Ca, Nguyễn Đông Giang, Tô Như Châu để giao tình lúc uống rượu, ngâm thơ .. 
  •   Sau năm 1975, tôi gửi vợ về cuộc sống ở Huế. Đây là chuyện cơm áo trên hết nên tôi gác chuyện văn chương, những người bạn, tuy nhiên bạn biết đến Định sống ở Đà Nẵng.  Như vậy, năm 1976, Vũ Hữu Định và Đoàn Huy Giao trở lại tìm về Huế thăm tôi khi nghe tin tôi sống những ngày dài ở đó, làm nông dân mà thiếu gạo.Tôi thật bất ngờ và cảm động không biết bằng cách nào mà hai bạn mang về cho tôi 20 ký gạo-lúc ngăn sông cấm chợ? Định và Giao lại một ngày, một đêm trở lại Đà Nẵng. Cuối năm 1977, tôi bỏ Huế vào lại Sàigòn, tiếp tục cuộc ”bỏ cuộc sinh nhai” Thời gian này, nghe Định làm nhân viên ngành điện. Tuy nhiên, con người vẫn mê thơ, rượu, mê đi giang hồ… Định nói với bạn bè là thèm khát những chuyến đi như xưa.  
  •    Đã qua năm 1981, nghe tin Định chết trong đêm 16 tháng giêng năm Tân Dậu (1981) bên bờ sông Hàn sau bữa nhậu với bạn bè. Tôi bàng hoàng, sốt sắng vì không bao giờ nghĩ rằng sẽ chết sớm vậy .. Định chết thật sao? giữa lúc còn biết bao bão, dự phóng trong đời chưa thực hiện. Định chết ở tuổi ”bất hoặc” đầy tiếc nuối. Anh ra đi để lại 1 vợ và 5 con .Thương Định tôi lại càng thương chị Kim Vân hơn. Những người đàn bà sống với nhà thơ đúng là những người vĩ đại bởi họ chịu đựng thiệt hại.Tôi ngậm ngùi và bất giác làm mấy câu thơ:    Những người vợ có chồng làm thơLà hoàng hôn tím chờ đợiNgười đi xa như mộngCòn lại hoài trong gío mưa…    
  • Không bao lâu sau ngày Định chết, Lữ Thượng Thọ từ Đà Nẵng vào thành phố tìm tôi và đưa hai bài thơ của Định.Một bài Thơ Năm Bốn Mươi như một bài kiểm tra đời mình và một bài Tết Nhớ Thằng Bạn Xa Quê , làm cho tôi. Đó là cuối cùng của Vũ Hữu Định. Đọc hai bài thơ lòng tôi rưng rưng. Định trước vẫn là người sống hết mình vì rượu, thơ và bè bạn.Sau Lữ Thượng Thọ là Trần Từ Duy.Duy từ Đà Nẵng vào Sài Gòn lập nghiệp.Duy lại về cái chết và đám tang Định ở Đà Nẵng. rất đông bạn bè theo đuổi anh đi vào thiên thu… Từ đó, năm nào đến ngày Vũ Hữu Định, Duy cũng tổ chức ở nhà riêng và mời tôi làm ”chủ lễ“ Duy rất thương mến định vì cái chân tình của tôi. làm sao trong tập thơ cho Vũ Hữu Định. Điều này, tôi cũng đã nghĩ từ lâu, nhưng không được phép hoàn thành. Mãi đến giữa năm 1995. Duy quyết định vận hành bạn bè. Cho phép chị Vân, xin giấy phép nhà xuất bản và vận chuyển bạn bè, anh em đóng tiền để trong tập thơ đầu tay cho một người tài hoa đã cố gắng. Bây giờ thì tập thơ Còn Một Chút Còn Nhớ của Vũ Hữu Định đã ra mắt bạn đọc.Tập thơ trong đẹp và sang trọng gồm 45 bài (trong số mấy mươi bài Vũ Hữu Định đã làm, được Nguyễn Tịnh Đông từ Đà Nẵng mang vào) .Ngoài bài Còn Một Chút Còn Nhớ , tôi vẫn còn, là gía như tìm được những bài hay của Định để đưa vào tập như Bài Hay. Bài này có 2 câu tôi rất thích: Giang hồ đâu có ai phong ấnMeta think from quan trở lại quê…Hay bài Cảm ơn Người vợ khổ có 4 câu cảm động:Pass nào em sinh nởAnh also on xaThis time em sinh nởAnh cũng không có nhà…       Bài thơ còn nhiều khổ nữa nhưng tôi không nhớ hết, chỉ nhớ là đọc trên tạp chí Bách Khoa năm 72,73 gì đó.Bài thơ Định làm vợ- chị Kim Vân, người vợ khổ để định đi rong rêu với bạn .Hoặc một bài thơ 8 chữ định làm lúc tạm dừng cuộc phiêu lưu có hình tượng rất độc đáo: Như con đo sâu, đo đoạn đời buồn…          
  •  Định làm những bài thơ lạ hơn, nhưng anh cũng như tôi thường làm thơ xong rồi không lưu bản thảo vì vậy nhiều bài thơ bị thất lạc . bạn bè hoặc gia đình sẽ bổ sung.   Cùng với việc phát hành tập thơ, Trần Từ Duy và Vân Khanh đã tổ chức một đêm thơ Vũ Hữu Định tại Nhà Văn Hóa Phú Nhuận.Đêm thơ rất đông bạn bè và toàn bộ không khí thân tình, dễ thương.     Số tiền tổ chức đêm thơ và số tiền bán tập thơ Còn lại Một chút Để Nhớ của Định, Trần Từ Duy mang ra Đà Nẵng trao cho chị Kim Vân (Trần Từ Duy còn định tổ chức một đêm thơ ở ĐN). số tiền trên dự kiến ​​sẽ xây dựng lại mộ Vũ Hữu Định. Tôi chắc chắn rằng chị Vân sẽ vui lòng và định cư ở nơi vĩnh hằng cũng sẽ thấy cười vì Duy và anh em bằng chủ đã Cảm ơn Người vợ đau khổ   lần thứ hai thay thế cho Định .     
  •      Trên đây là những kỷ niệm nhỏ của người viết đối với tác giả Còn lại Một Chút Gì Để Nhớ về tập thơ đầu tay được ấn hành. Tôi chắc chắn rằng trong những năm tháng còn lại ở trần gian với thơ, rượu, đi giang hồ khắp nơi và bạn khắp nơi còn nhiều điều kiện để nhớ hơn.Trần Dzạ Lữ(Tp. Hồ Chí Minh, đêm mưa 15.7.1996)(*) Nhân gian tập thơ Còn Một Chút Còn Nhớ của VHĐ được ấn hành.NXB Trẻ 1996. Nguồn: Bài viết của TDL đăng trên Đặc Tuyển THỜI VĂN số 13 và 14 -1996) .Bản của tác giả.***Viết thêm lời : Vũ Hữu Định mất đi nhưng thơ anh vẫn sống mãi trong lòng người đọc-nhất là bài thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ được nhạc sĩ Phạm Duy bay cao, qua các bài truyền cảm của ca sĩ hải ngoại cũng như trong nướcVũ Hữu Định không còn ở trần gian này nhưng con cái anh trưởng thành và làm ăn phát đạt nhờ đức hy sinh của mẹ là chị Kim Vân.Tôi mừng vì giờ đây chị Kim Vân đã già an nhàn, không còn thấy cảnh cơ cực khi chị túng quẫn để kiếm tiền nuôi chồng, nuôi conNăm 2006 Trần Hoài Thư (nhà văn) định cư ở Mỹ (người giữ văn chương miền Nam) đã sưu tập và bổ sung một số bài thơ lưu lạc của Vũ Hữu Định và trong ấn thơ VHĐ giàu hơn tập thơ trong nước (Nhà Xuất BảnThư Ấn Quán- Hoa Kỳ) Điều này thêm niềm vui nữa với gia đình chị Vân, tôi và bạn của bạn Định.Bốn mươi mốt năm ngày mất, tôi thắp nén nhang lòng tưởng nhớ đến người bạn thân thiết một thời VHĐ
  • Trần Dzạ Lữ(Xuyên Mộc 2022)

Valentine của mẹ

Đình Nguyên

.

Mẹ chưa bao giờ biết đến ngày Valentine!

Mẹ chờ con về đã 40 cái Tết

Mẹ vẫn hàng đêm nguyện cầu

cho con

Mẹ nghe tiếng con văng vẳng đâu đó

nhập nhòa, rì rào như

lẫn vào tiếng sóng

.

Giọt nước mắt lăn

dài trên gương mặt mẹ

khi nghe ba tiếng

hòa bình rồi!

Ngày đó

Sài gòn đổ mưa trong lòng mẹ!

Con vẫn chưa về!

.

Mẹ tiễn con đi một ngày sau Tết

Trời xuân buốt giá hơn

vì đạn pháo chở thêm cái lạnh về

từ phía Bắc

Chiếc áo mẹ để dành cho con

vẫn còn nằm trong tủ

Con chưa về mặc

lần nào từ hôm ấy!

.

Mới đó mà

đã 35 mùa rét trôi qua

Nhanh như những sợi tóc mẹ

thay màu

mẹ không hay biết

.

Nhanh như tấm lưng mẹ

còng thêm

vì mỗi ngày

gánh nặng

nỗi chờ mong

.

Cái ngày mà người ta gọi là Valentine

Mẹ chưa hề biết!

Mẹ chỉ biết tình yêu

của cha con

dành cho mẹ

Để rồi ngày có con

Mẹ lại dành

tình yêu cho con

Những tình yêu của mẹ

Lần lượt… đi

mãi không về!

.

70 năm

rồi hơn 80 năm

Mẹ

cỗi

già

Con vẫn chưa về!

Mẹ không cần biết

cái ngày gọi là Valentine

mẹ chỉ biết

ôm lấy những khoảng trống

đợi chờ

tình yêu của mẹ!

Bắt đầu một tình yêu

Đặng Thiên Sơn

.

BẮT ĐẦU MỘT TÌNH YÊU

Khi mùa thu không còn đủ sức cưu mang những giấc mơ đi lạc

ta rơi vào một quỹ đạo khác,

ướt át vì vừa băng qua những cơn mưa cuối mùa dai dẳng,

cô độc giữu vũ trụ bao la…

Ta tự nhốt mình trong một căn phòng không cửa sổ,

không có những chậu lan nơi ban công,

không còn nghe tiếng guốc gõ nhẹ lên nền con hẻm

ngoằn ngoèo dài suốt thời tuổi trẻ…

Những cuộc tình xưa cũ

trôi dạt theo thời gian về miền biên viễn,

chiếc lá khô đang rơi nghe rõ từng tiếng xoay trong gió

rồi nó sẽ đáp xuống vuông đất chật chội, nghèo nàn ngoài kia,

một mai sẽ trở thành bùn đất như hàng ngàn xác chết khác…

Chẳng có gì

nếu màn hình điện thoại không rung lên giữa đêm giao mùa

khuya khoắt.

Em đã đến như thế

vá víu lại những tả tơi của một thời trai trẻ,

cơn mưa đang rơi ngoài hiên như một khúc vĩ thanh réo rắt,

ta cảm nhận được từng tế bào yêu đang cố đâm thủng lớp chai sần

của trái tim phong kín bao ngày

(Sự hồi sinh bao giờ cũng mong được trọn vẹn hơn lần đầu)

Mừng ta sinh nhật tháng hai

Cao Hoàng Từ Đoan

1.

mừng ta sinh nhựt tháng 2

.

đâu… hoa, bánh, nến,

đâu rồi người yêu!?

một ngày khép nắng buồn thiu

có ta ngồi nhặt đìu hiu tuổi mình

.

2.

v ề t h ô i,

ngày đã muộn mằn

hoàng hôn hiu quạnh quấn tang

một màu

về thôi..

về phía không nhau

bóng ta trượt đổ lên sầu

chia phôi

.

3.

người ơi ..”

trời ngả chiều rồi!

nắng

buâng khuâng..

rụng trên đồi

hoàng lan

có ai về

nhớ ghé ngang

vớt dùm em chút miên man

cuối ngày

Những ngày cuối năm

Nguyễn Hoàng Anh Thư

.

Những ngày cuối năm

Trong sự cảm nghiệm của chúng ta

Mọi thứ đều đang hành khất những ngày còn lại

Câu chuyện của con người với nhau

Rồi sẽ đến lúc mù mịt

Chỉ còn ngôn ngữ của giao thừa

Cất lên từ trong lồng ngực

Sự chờ đợi bây giờ

Như những bông hoa lặng tiếng

Điệp vòng lên quá khứ

Tháng Chạp này

Mọi sự cảm nghiệm là hơi hướm của mùa sương sa đọng sân nhà năm trước

Mệ hái vài bông sói, pha trà, ủ đầy những câu chuyện xa xưa bay lên trong làn khói

Nhớ đứa con trai

Ở miền xa lắc xa lơ nào ấy

Có thể ở đấy mọi thứ đều chầm chậm

Trôi vào giấc cô miên

Cháu gieo mấy nắm hạt hoa mào gà đen nhánh

Cắm thêm vài nhành vạn thọ

Mùi đất tơi mầm nhú lộc xuân xanh

Non trên những ngón tay

Ươm từng ngọn cầu vồng

Trong mắt chớm sáng

.

Tháng Chạp này

Ngồi tra vấn từng dấu câu lấp lửng

Mùi giấy poluya

Nét chữ ngày xưa nặng mùi tháng năm trong hộc tủ

Từng lời yêu thương thánh thiện

Mỏng mảnh như những đám mây

Nơi chúng ta đã được sinh ra

Tháng Chạp này ngồi đợi Tết

Ngửi mùi mứt gừng

Nhớ mùi áo mới

Những tháng ngày mẹ chắt chiu dành dụm

Nhớ giao thừa mùi trầm bay khắp xóm

Nhớ mùi bình yên

Nhớ hoang lạnh những buổi sớm mùa đông ngoài ngõ

.

Những ngày này ai có còn nhóm bếp

Giữ hương lửa thơm

Một chút

Giữa phố người

n.h.a.t

Xuân tình yêu

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Trời sắp hết mùa đông

Lung linh giọt nắng hồng

Vườn đời thay áo mới

Cây đâm chồi trổ bông

.

Băng qua mùa giông bão

Giũ áo bụi lầm than

Xuân Tình Yêu mách bảo

Trái tim yêu rộn ràng.

.

Nầy cành mai sắc thắm

Nầy nụ đào hồng tươi

Bướm vàng bay trong nắng

Đi hái nhụy nụ cười.

.

Em mở lòng gửi gió

Dòng tinh khiết hương hoa

Nàng Xuân về đây đó

Mọi miền nhạc reo ca

.

Xin chào Nàng Xuân mới

Lòng Mẹ Thiên Nhiên ơi !

Chim trên cành học nói

Tiếng yêu thương, tiếng Người …

Con chim tu hú đẻ nhờ

Quyên Di

Mồng bốn Tết…

Bầu trời trong xanh mà vẫn có những hạt mưa bụi lấm tấm. Mẹ tôi bảo đó là mưa xuân. Ông Hồng Châu, bố chị Bích Khuê khẽ đọc mấy câu thơ Nguyễn Bính:

Em là con gái trong khung cửi

Dệt lụa quanh năm với mẹ già.

Lòng trẻ còn như cây lụa trắng,

Mẹ già chưa bán chợ làng xa.

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay,

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.

Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,

Mẹ bảo: Thôn Đoài hát tối nay. (1)

Người lớn ngồi nói chuyện với nhau và chơi tam cúc. Bà Hồng Châu khoe có đôi “tịnh vường.” (2) Ông Hồng Châu bảo vợ: “Mợ khéo là hay! Chơi tam cúc mà có gì lại bày ra cả! Thế là làm sao!” Hình như bà Hồng Châu hiểu theo nghĩa khác, hai má đỏ ửng, sửa lại dáng ngồi cho ngay ngắn, nghiêm chỉnh hơn. Bố tôi liếc nhìn mẹ tôi thật nhanh. Hai ông bà cười kín đáo.

Các anh chị em tôi mải mê với mấy xu và hào được mừng tuổi. Chị Bích Khuê xin phép bố mẹ chị và bố mẹ tôi đưa tôi ra cánh đồng xem hoa cỏ mùa xuân. Bố mẹ chị Bích Khuê bằng lòng. Mẹ tôi thì dặn với: “Đi chơi cho vui. Mà cô Bích Khuê nhớ đưa em nó về sơm sớm nhé, ngộ nhỡ mưa ướt đầu, cả hai chị em bị cảm.”

Cả gia đình ông bà Hồng Châu và gia đình bố mẹ tôi đều là người Hà Nội. Chiến tranh khiến hai nhà phải tản cư, trôi giạt nhiều nơi, cuối cùng đến làng Thượng Vĩ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Cha xứ và người dân xóm đạo ở đấy thương chúng tôi, cho vào ở chung một nếp nhà gỗ rộng rãi mà chủ nhà đã đi đâu xa mãi không thấy về. Ông bà Hồng Châu giữ đạo thờ Tổ Tiên. Gia đình tôi theo đạo Công giáo. Thế mà hai gia đình sống chung với nhau rất hoà hợp.

Năm ấy tôi mới lên sáu. Chị Bích Khuê hơn tôi chín, mười tuổi chi đó. Hai chị em hợp tính nhau, cùng thích thiên nhiên cây cỏ, không ưa nơi tụ họp đông đảo, ồn ào. Vì thế mà hai chị em gần gũi nhau. Chị Bích Khuê thương tôi như em ruột của chị. Chị là con một, không có em trai, em gái nào cả.

Bao giờ đi đâu với nhau tôi cũng đòi chị Bích Khuê cầm tay dắt đi. Bàn tay chị mềm, mát mà lại ấm. Tôi không biết diễn tả thế nào cho rõ. Thật thế, bàn tay chị mát và ấm.

Hôm nay chị Bích Khuê mặc áo cánh màu xanh nõn chuối, trông chị như một cây chuối non, tươi tắn và đầy sức sống. Thật ra chị có cái áo dài màu hồng đẹp tuyệt. Chị mặc cái áo ấy suốt trong ba ngày Tết. Nhưng hôm nay đã là mồng bốn, không còn phải chào khách đến nhà nữa, chị không phải diện áo dài mà mặc áo cánh. Với lại, đi ra cánh đồng, ai lại mặc áo dài tha thướt!

Tôi ngước mắt nhìn chị, hỏi: “Chị Bích Khuê này, lúc nãy chị có nghe bố chị đọc mấy câu thơ gì không?” Chị trả lời: “Có. Mà chị không nhớ hết.” Tôi cười: “Thế mà em nhớ hết đấy! Chị Bứt Huê phục em không?” Chị cũng cười: “Chị phục em chứ…” Rồi trêu tôi: “Phục nhất là cách Chúc gọi tên chị.” Tôi đỏ mặt, vùng vằng: “Chị lại trêu em! Em không chơi với chị nữa!”

Chả là tôi có tật nói ngọng. Mà tên chị, cả hai tiếng tôi đều nói ngọng. “Bích” thì tôi nói thành “Bứt,” vì không phát âm được những tiếng có vần “ich.” Còn “Khuê” thì tôi nói thành “Huê,” vì không phát được âm “khờ” mà chỉ phát được âm “hờ” thôi.

Chị Bích Khuê vẫn cười, còn doạ: “Nếu Chúc không chơi với chị thì chị bỏ tay Chúc ra, không dắt nữa nhé!” Rồi chị làm như muốn buông tay ra thật. Tôi cuống quýt: “Ấy, chị đừng buông tay em! Em chơi với chị… suốt đời…”

Chị Bích Khuê cười thật tươi. Tôi không biết ví nụ cười của chị tươi như gì, đành ví nụ cười ấy như hoa chuối nở đỏ, lấp ló sau tàu lá xanh mướt. Thấy chị cười, tôi yên tâm.

Một lát sau, tôi tiếp tục câu chuyện bỏ dở: “Em nhớ hết mấy câu thơ bố chị đọc đấy. Mà em còn biết đổi thành câu thơ khác nữa cơ!”

Đôi mắt chị Bích Khuê đen láy như hạt nhãn, đã tròn, bây giờ lại tròn hơn. Chị nói: “Chúc nói thật đấy à? Mà Chúc đổi thành câu thơ khác như thế nào?”

Tôi nhẩn nha đọc:

“Lòng trẻ còn như cây lụa trắng,

Mẹ già chưa bán chợ làng xa.”

Đây là câu thơ bố chị đọc. Bây giờ em đổi lại thành:

“Lòng chị còn như cây lụa trắng,

Mẹ hiền chưa gả chị làng xa.”

Cho đến bây giờ tôi vẫn lấy làm lạ lùng cho trí nhớ của đứa bé 6 tuổi là tôi thuở ấy. Chả biết sao, cái gì có tí thơ phú là tôi nhớ ngay, mà đã nhớ thì không quên nữa.

Chị Bích Khuê, hai má đỏ hây hây. Chị nắm tay tôi chặt hơn một tí, rồi hỏi, giọng không được tự nhiên: “Chúc còn bé! Biết gì là gả với cưới! Chỉ nói xằng thôi!” Tôi cãi ngay: “Em biết chứ! Gả là bố mẹ chị cho chị đi lấy chồng, đúng không?” Chị Bích Khuê bảo: “Thì đúng. Nhưng mà đến lúc ấy thì chị không dắt Chúc đi chơi nữa đâu.” Tôi trả lời ngay: “Em biết! Thế nên em mới nói ‘Mẹ hiền chưa gả chị làng xa’ đấy.” Rồi tôi xui chị: “Hay là chị đừng lấy chồng. Chị dắt tay em đi suốt đời nhé, nhé!” Chị Bích Khuê bảo: “Em tôi nói nhảm rồi. Thôi, không nói chuyện ấy nữa!”

Có tiếng con chim gì nó hót “tu… tu… hú… tu… tu… hú…” Sau đó là hàng loạt các tiếng chim khác hót loạn cả lên. Tôi hỏi chị Bích Khuê: “Chị có nghe cái con chim gì nó hót buồn cười quá đấy không? Nó hót cái gì mà tu hú, tu hú… À, mà chị này, anh Tuấn nhà em muốn đi tu đấy!”

Chị Bích Khuê bật cười: “Anh Tuấn nhà em định đi tu à? Anh ấy tu… hú đấy!” Tôi hỏi: “Thế là làm sao hở chị?” Chị trả lời: “Nghĩa là anh ấy không tu được đâu. Anh ấy đẹp giai quá mà cũng nghịch quá, hay nói bông lơn… trêu chị!”

Anh Tuấn và chị Bích Khuê sàn sàn tuổi nhau. Anh Tuấn đẹp giai, vui tính. Chị Bích Khuê không khó chịu anh Tuấn khi anh ấy trêu chị, nhưng hai người hình như chẳng có tình ý gì với nhau. Chị xem anh Tuấn như ông anh… đồng tuổi.

Con chim lúc nãy lại hót “tu… tu… hú… tu… tu… hú…” Cả một đám chim khác lại tranh nhau hót lên loạn xạ. Tôi giật giật tay chị Bích Khuê, hỏi: “Đâu? Đâu? Con chim ấy đâu, em không thấy! Chị chỉ cho em thấy đi!” Chị Bích Khuê trả lời: “Nó đậu trên tận ngọn cây cao, chị cũng không thấy. Nhưng mà chị biết nó.” “Biết là biết thế nào hở chị?” “Biết là biết nó bạc lắm!” Tôi nói: “Nó bạc lắm à? Thế ra lông nó trắng như bạc à? Vậy chắc nó đẹp lắm, phải không chị?” Chị Bích Khuê đáp: “Không, lông nó đen đủi. Nó xấu lắm. Xấu cả hình dạng lẫn tính nết.”

Con chim xấu xí ấy lại hót “tu… tu… hú… tu… tu… hú…” Sau đó bầy chim đủ loại lại hót loạn xạ. Chị Bích Khuê bảo: “Đấy! Chim tu hú xấu lắm, ác lắm nên những con chim khác cùng nhau hót to đuổi nó đi đấy!”

Thế rồi chị cắt nghĩa cho tôi hiểu. Chị bảo người ta dựa vào tiếng nó hót mà đặt tên cho nó là chim tu hú. Mỗi khi một con tu hú kêu là nó thông báo cho các con chim khác biết nó đã chiếm cái lãnh thổ này rồi, những con tu hú khác lo mà tránh xa. Mà ngay cả các loài chim khác cũng liệu thần hồn. Tiếng chim tu hú kêu cũng là tín hiệu của con chim trống rủ rê con chim mái đến gặp nó. Chúng ở với nhau rồi con chim mái đẻ trứng. Tu hú mái không chịu làm tổ để đẻ mà nó đẻ nhờ vào tổ một loài chim khác. Thường thì nó chọn tổ chim chích hay cà cưỡng vì trứng những loại chim này với trứng của nó có độ to giống nhau. Nó đánh lừa cho chim chích mẹ hay cà cưỡng mẹ tưởng trứng của nó cũng là trứng của con chim ấy. Mà nó ác lắm! Khi đẻ một quả trứng vào tổ con chim kia rồi, nó lấy chân, lấy mỏ hất một quả trứng của con chim kia cho rơi xuống đất. Chim chích mẹ hay cà cưỡng mẹ ngây thơ lắm, “đếm” thấy số trứng vẫn nguyên như thế thì cho đó đều là trứng của mình nên ấp tất cả. Trứng tu hú nở ra con sớm nhất. Còn bé mà đã gian ngoan, nó hất tất cả những quả trứng trong tổ xuống đất, để một mình nó hưởng thức ăn của chim mẹ đem về và vì thế nó lớn như thổi. Đến khi nó đủ lông đủ cánh thì vụt bay đi không hề lưu luyến.

Cắt nghĩa xong chị bảo: “Đấy chị bảo nó bạc là vì nó vừa độc ác vừa vô ơn, chứ không phải là lông nó trắng như bạc đâu. Phải nói là nó bạc ác mới đúng. Vì thế mà khi nó cất tiếng hót thì tất cả các loài chim khác đều cất lớn tiếng mà xua đuổi nó. Kẻ bạc ác thì chẳng được ai thích cả.”

Tôi nghe chị nói xong thì lòng buồn rười rượi. Lần đầu tiên thằng bé 6 tuổi biết được trên đời có những kẻ bạc ác. Hoá ra không phải tất cả mọi sinh vật đều tốt. Nó chợt hiểu người ta cũng vậy, không phải ai cũng tốt.

Ra đến cánh đồng, hai chị em hầu như quên con chim tu hú bạc ác để say sưa với cảnh đẹp thiên nhiên. Cỏ non xanh mát trên cánh đồng mênh mông. Mưa xuân trang điểm những ngọn cỏ bằng những viên ngọc bé tí sáng long lanh. Có những cây mơ mọc dại nở hoa trắng toát, nhẹ lay động trong gió xuân. Chị Bích Khuê nắm tay tôi mà chạy chân trần trên cánh đồng. Khuôn mặt chị ngước lên. Đôi chân chị như bay bổng lên khỏi mặt đất. Chị đẹp và thanh thoát như một cô tiên.

Sau này lớn lên, tôi mê thơ cổ, đọc những câu thơ của Thôi Hiệu

Xuân du phương thảo địa,

Hạ thưởng lục hà trì,

Thu ẩm hoàng hoa tửu,

Đông ngâm bạch tuyết thi (3)

tôi lại nhớ đến buổi đi chơi xuân hôm ấy. “Phương thảo địa” của người xưa chắc cũng chỉ đẹp như cánh đồng làng Thượng Vĩ ngày đầu xuân là cùng.

Thế rồi tôi lại đọc bài thơ “Xuân Tứ” của Lý Bạch:

Yên thảo như bích ty,

Tần tang đê lục chi.

Đương quân hoài quy nhật,

Thị thiếp đoạn trường thì.

Xuân phong bất tương thức,

Hà sự nhập la vi? (4)

tôi cũng lại nhớ đến cánh đồng làng Thượng Vĩ. Cỏ nước Yên có biếc như tơ thì cũng chỉ biếc như cỏ cánh đồng Thượng Vĩ là cùng.

Rồi tôi đọc lục bát trong truyện Kiều:

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa (5)

thì thấy chẳng khác gì cảnh cánh đồng Thượng Vĩ, cũng “cỏ non xanh tận chân trời.” Còn hoa lê trong truyện Kiều biến thành hoa mơ trong cánh đồng Thượng Vĩ.

Nhớ lời mẹ tôi dặn, chị Bích Khuê đưa tôi về. Hai chị em hầu như quên mất con tu hú bạc ác, nếu trên đường về không gặp nó nữa. Ngờ đâu lúc đi ngang qua chỗ cũ, hai chị em lại nghe tiếng tu hú kêu. Chị Bích Khuê khe chau mày, nói nho nhỏ: “Ơ hay cái con tu hú này, sao mày về đây sớm thế? Người lớn bảo đến tháng Ba tu hú mới về đẻ trứng cơ mà!” Lần đầu tiên tôi thấy miệng chị Bích Khuê thốt ra tiếng “mày.” Chắc là chị giận con tu hú lắm!

Nhưng rồi chị lấy lại bình tĩnh, ân cần dạy tôi: “Mình đã nương nhờ đâu thì phải biết ơn những người ở đấy. Như nhà hai chị em mình đang nương nhờ người xóm đạo làng Thượng Vĩ thì phải biết ơn cha xứ và giáo dân ở đây. Được nương nhờ mà về sau không biết ơn thì không sống phải đạo làm người.”

Chị nói năng, dạy bảo tôi như một người lớn.

Những ngày mùa xuân qua đi và rồi những ngày tản cư của chúng tôi cũng qua đi. Khi thấy có những dấu hiệu bất an, ông bà Hồng Châu và bố mẹ tôi bàn bạc với nhau rồi cuối cùng cả hai gia đình đều hồi cư Hà Nội. Ông bà Hồng Châu và bố mẹ tôi khôn ngoan hơn chim chích hay cà cưỡng mẹ nhiều. Khi thấy không an toàn, bố mẹ chị Bích Khuê và bố mẹ tôi đều “dọn tổ” mà đi để cả gia đình, nhất là con cái không lâm vào tình trạng bất an, nguy hiểm.

Một ngày nọ có người từ Thượng Vĩ trốn được về Hà Nội, đến nhà tìm bố mẹ tôi. Người này kể rằng cha già Nến, cha xứ xóm đạo, bị người ta xông vào nhà xứ bắt đi. Họ trói hai tay cha lại, buộc vào đuôi một con trâu. Con trâu kéo cha chạy rong khắp làng với đôi chân khẳng khiu không giày dép. Theo sau là những kẻ cầm roi dâu đánh đập cha túi bụi. Họ kết tội cha là quân gian ác, bóc lột dân nghèo! Trong số những người đánh đập cha có cả những người tản cư, được cha và giáo dân ở đây giúp đỡ nơi ăn chốn ở. Khốn thương! Cả đời cha chỉ biết cưu mang người cùng khổ mà bây giờ bị kết tội là quân gian ác bóc lột dân nghèo. Chắc những người này có họ hàng ruột thịt với chim tu hú!

*

Gia đình chúng tôi di cư vào Nam, được chính phủ cho tạm cư ở bệnh viện Bình Dân đôi ba tháng. Sau đó bố mẹ tôi gom góp, vay mượn, mua được một căn nhà gỗ ở cuối chợ Vườn Chuối. Hàng xóm của chúng tôi toàn là bà con miền Nam hiền lành, bộc trực và chất phác. Họ giúp đỡ chúng tôi, những người chân ướt chân ráo đến cư ngụ trong khu xóm này, một cách thật thà, không chút tư lợi. Tôi lớn lên ở đó cho đến ngày vượt biên tìm đất sống khác. Tôi nương nhờ xã hội Mỹ mà xây dựng cuộc sống mới, mang ơn đất nước, xứ sở này.

Rất nhiều lần, gã đàn ông không còn tuổi trẻ là tôi nhớ về xóm đạo làng Thượng Vĩ, nhớ cha già Nến. Nhớ xóm chợ Vườn Chuối. Nhớ những ngày đầu trên đất Mỹ. Tôi nhớ và nhớ ơn. Tôi không muốn làm con chim tu hú.

Và tôi nhớ chị Bích Khuê. Nhớ bàn tay mềm mại, mát mà ấm của chị. Nhớ hôm mồng bốn tết chị mặc áo cánh màu xanh nõn chuối. Nhớ chị tươi mát như một thân chuối non. Nhớ nụ cười thắm của chị như hoa chuối đỏ tươi lấp ló sau tàu lá chuối xanh.

Chị Bích Khuê ơi, suốt đời em nhớ chị mặc dù em không được “chơi với chị suốt đời,” cũng không được chị nắm tay dẫn đi suốt đoạn đường trần. Em nhớ lời chị dặn: nương nhờ ai thì phải biết ơn, đừng bạc ác như con chim tu hú.

Em không muốn làm chim tu hú. Em nhất định không làm chim tu hú. Suốt đời!

______________________________

(1) Mưa Xuân, Nguyễn Bính

(2) “Tịnh vường”: tượng vàng. Thật ra là đôi “tượng đỏ” (tịnh hồng) trong bộ bài tam cúc

(3) Mùa xuân dạo chơi trên miền đất có cỏ thơm. Mùa hạ thưởng ngoan ao sen xanh. Mùa thu uống rượu hoa cúc. Mùa đông ngâm bài thơ tuyết trắng.

(4) Cỏ nước Yên xanh biếc như tơ. Cây dâu nước Tần lả cành xanh xuống. Đang lúc chàng nhớ đến ngày trở về; thì cũng chính là thiếp đau lòng đứt ruột. Gió xuân và thiếp không hề biết nhau. Hà cớ gì mà lọt vào màn của thiếp?

(5) Đoạn Trường Tân Thanh (câu 41, 42,) Nguyễn Du

Lì xì đầu năm

Trần Dzạ Lữ

Lì xì nụ cưỡng hôn,

vùng vằng …em bỏ chạy

Thật tình anh áy náy

Có phải tình đơn phương?

.

Ta chưa đi chung đường

Nên em về lối khác

Ui chao công anh tát

Cấp kỳ nước biển đông…

.

Tình chưa thể nước ròng

Nên mùa xuân buồn tẻ

Bên bờ ni me mé

Thấy con sáo sang sông…

.

Anh đứng như trời trồng

Vàng hoa riêng cây cải

Tương tư còn ở lại

Năm nắm những mùa không!

.

Nụ hôn người không thương

Lì xì chi tội rứa?

Hăm hở ôm dang dỡ

Ta còn gì trông mong?

Trần Dzạ Lữ

Chiều xuân nhớ mẹ

Trần Hà Yên

Mẹ ơi!
ruộng mùa này mẹ cấy có được không
vụ đông xuân
nước vẫn mênh mông quá
bàn tay cha đã bao lần gieo sạ
mưa trắng trời
hạt thóc nước cuốn trôi

.

Ở nơi xa
nghe đài báo thế thôi
xót lòng con
vì miền trung mưa gió
xuân sắp về mà đông như còn đó
vẫn dãi dề
con nước trắng bao la

.

Đường vào nhà
những năm trước đầy hoa
mẹ trồng rau
mướt xanh khi tết đến
đàn em thơ vui trên sân trìu mến
gió mưa này…
cảnh ấy chẳng còn đâu

.

Vẫn áo nâu
nắng mưa đã bạc màu
mẹ dãi dầu
nơi đồng xa ngập nước
thương cánh cò lội đồng sau bãi trước
bước chân gầy
ngày tháng vẫn bôn ba

.

Chiều xuân nay
con nhớ mẹ nơi xa!…