Feeds:
Bài viết
Bình luận

Sài Gòn dáng em

Hồ Thi Ca

.

Anh gặp hương bay trước ngõ nhà

Vội vàng khoác áo bước đi ra

Sài Gòn hương đến chìm vào tóc

Và vướng vào tay vướng vào hoa

.

Anh gặp âm thanh của dòng xe

Âm thanh khói trắng chuyến đi về

Dòng xe thong thả trong đôi mắt

Đôi mắt chạm vào những hàng me

.

Anh gặp Sài Gòn rất trẻ trung

Như thể dáng em lúc đi đường

Tiếng guốc mảnh mai trong lòng phố

Thành phố và em xanh sắc xanh

.

Anh gặp sắc màu của dòng sông

Những con tàu khoẻ dáng công nhân

Sóng vỗ như anh xoè tay vuốt

Tự nhổ neo Sài Gòn đầy khoang

.

Anh gặp tình yêu khi gặp em

Phố phường ngoảnh lại ngó chúng mình

Tóc em hay gió lay nhau mãi

Sài Gòn ơi! Sài Gòn trữ tình!

.

Sài Gòn anh bắt gặp tình ai

Ở trong màu sắc của tiếng đàn

Ở trong rung động về đôi mắt

Khi em nhìn anh với bâng khuâng

Những mùa xuân cũ

Ái Duy

.

Cứ mỗi mùa xuân mới đến là lại nhớ lùi dần về những mùa xuân cũ như tìm về một giấc mơ đẹp, một giai điệu đẹp, nó cứ nấn ná ngân nga mãi trong tâm khoảnh khắc ấm áp êm đềm.


Nhớ ngày xưa cha mẹ ở trong xóm lao động nghèo, nhà nhà chạy ăn từng bữa. Nhà mình chị em một bầy lít nhít, đứa nọ cách đứa kia 2 năm tranh nhau chen chúc ra đời. Ba đi làm, má quanh năm suốt tháng tất tả chạy chợ nuôi con, mấy đứa lớn đứa nào cũng chai hông vì ẵm em một bên tha nhau đi chơi. Sau lớn đi lấy chồng ngán con nít, thà xay lúa khỏi bồng em. Cực nhất là mỗi lần chia phần ăn cho lũ con, cái gì cũng phải bằng nhau đều tăm tắp. Tài đến mức, cái bánh tráng phồng cũng bẻ làm hai thẳng băng, trái xoài chín méo xẹo cũng cắt được làm 3, không cách gì lựa được phần nhiều hơn. Hồi đó, lũ con chán nhứt cái điệp khúc “mai mốt ba má mua…” hoặc “từ từ rồi tính sau”. Cả năm, chỉ mong đến Tết để có được 2 bộ đồ mới mặc nhà, 1 bộ đồ Tết mặc đi chơi, vừa có tiền lì xì vừa khỏi bị la rầy, khỏi đi học. Và ăn uống thì tha hồ khỏi chia phần, khỏi giờ giấc.


Những ngày giáp Tết thuở ấy, cái khác đầu tiên là căn phòng khách nhỏ 9 mét vuông. Ngày thường chỉ kê được mỗi cái đi văng nhỏ, cái tủ buffet. Ưu tiên chừa cái nền nhà trống cho con nít nằm bò lê la. Khách tới chơi nhà toàn ngồi đi văng hay bệt xuống sàn. Tết tới, ba sẽ cho khiêng cái đi văng ra ngoài sân, lấy chỗ bày ra 1 bộ bàn ghế xếp tiếp khách vốn ngày thường được cột lại cất kỹ đâu đó. Một cây mai được mang về, quàng lên nó mấy sợi dây đèn màu trang trí. Căn phòng khách bỗng trở nên sang trọng phi thường. Tối lại, lũ con nít nằm lăn lóc say mê coi đèn nhấp nháy, nghe tới nghe lui bài Ly rượu mừng từ cái cassette nhỏ xíu mà lòng rộn rã tưng bừng, vui sao đếm từng ngày từng giờ chờ Tết tới. Nhớ má hay nói, “thấy tụi mày sướng như tiên không, thấy có con ai sướng được vậy không” khi nhìn lũ con nằm sắp lớp dưới nền nhà nghe nhạc ngắm mai. 


Nhớ nồi bánh tét của bà ngoại, còng lưng gói cột cả nửa ngày trời, kê gạch chụm củi nấu ngoài sân nguyên đêm hoa lửa nổ tí tách thơm lừng, rồi sáng sớm trẻ con được phát mỗi đứa 1 cái bánh ú ngon nhất trần đời. Củi gộc to bằng bắp chân để dành cả năm không chẻ ra cất kỹ đâu đó là để dành cho sự kiện này.


Nhớ đủ loại bánh mứt má làm, xong cho vô thẩu lấy băng keo niêm kín nắp chất lên kệ đợi Tết khai hỏa, lũ con ngày nào cũng lượn qua lượn lại chỉ trỏ thèm thuồng ngó. 


Chiều 30 Tết ngày xưa đối với lũ trẻ sao linh thiêng bí ẩn đến vậy, đứa nào cũng được má nấu nước cho tắm gội sạch sẽ, đi nhẹ nói khẽ, rón rén qua lại bàn thờ. Đến chạng vạng là bị cấm tiệt khỏi bước chân ra ngõ luôn, cửa đóng then cài, nội bất xuất ngoại bất nhập. Con nít nhà nào bị nhà đó nhốt lại. Vậy là bầu cua, cá ngựa, lô tô… được bày ra. Tuy không phải năm nào cũng thức nổi chờ đến giao thừa nhưng cho dù có đang ngủ quên thì bao giờ cũng được đánh thức bằng tiếng pháo. Tờ mờ sáng mùng một, chị Hai thảng thốt khều lũ em dậy, thì thào “Tết rồi”. Lũ em cũng mắt nhắm mắt mở lồm cồm bò ngay dậy không đợi kêu tới tiếng thứ hai, “ủa tới Tết rồi hả”, đứa nào cũng hồi hộp trở dậy nhẹ nhàng nhường nhịn, sợ lạng quạng lấn nhau gây lộn xui cả năm.


Thương Tết của những mùa xuân cũ trong ký ức còn nguyên sơ trong trẻo.


Và thương cả Tết còn được bận rộn của xuân này… 

Mùa xuân lại về

.Đặng Thị Hoàng Yến

.

Thế là mùa xuân lại về

Nép trong long lanh sợi nắng

Trong vạt cỏ mềm non xanh ướt đẫm

Trong tiếng chim thao thiết vút cao

Ta muốn uống những giọt xuân ngọt ngào

Trên đôi môi khát khao

.

Thế là mùa xuân lại về

Mùa yêu – khúc hoan ca lặng lẽ

Những mần non trở mình khe khẽ

Hương xuân nồng của ong bướm say mê

Ta nghe lòng trĩu nặng hồn quê

Bâng khuâng nhặt những hẹn thề trót trao

.

Thế là mùa xuân lại về

Với nắng reo hoa cười gió hát

Nghe con tim thổn thức lời tha thiết

Yêu thương gửi tới phương nào

Xin được một lần trọn giấc chiêm bao

Xuân về mang theo những khát khao…

Về…

Võ Miên Trường

.

Về thôi em cạn đông rồi

Dùng dằng chi nữa đời trôi muộn mùa

.

Về hong lại bếp lạnh xưa

Bỏ quên từ thuở nắng chưa tỏ ngày

.

Về thương con chữ heo may

Gõ lên nốt nhạc Xuân này có em

.

Lòng đang son những ngọt mềm

Về nâng ly rượu rót thêm nụ cười

.

Về em nối lại mùa vơi

Thắp hoàng hôn cuối…

dốc đời có nhau…

(XL Ngày giáp Tết.)

Nguyễn Man Nhiên.

.

nếu tận thế là tin đồn

tôi sẽ ra ngoài và lang thang một chút

tản bộ trong bóng râm của vinh quang

những bình minh chết hụt

tôi sẽ tìm trong dạ dày ống khói

những vòi phun nước trên không

các móc xích và bánh răng hổn hển

vang lên từ thế kỷ xa xăm

tôi sẽ học cách lắng nghe

hơi thở đầu tiên trèo ra trên đất

nơi nó liếm lên các cây non chóng mặt

một tiếng kèn saxophone

buồn như cơ thể của chiếc cổ kéo dài

tôi sẽ ngồi đây vẽ khoảng rỗng đêm sắp tối

những hàng cây xén lông

dọc theo vỉa hè băm nhỏ

đường phố của khu nhà gạch cũ

với thang cuốn lên trời

mỗi hình vuông chia thành một phúc âm với vài ngọn nến

dưới bó hoa dây điện ngang bướng

dăm bóng sẫm ướt mồ hôi

nở và héo trên bãi cỏ

thật khó tin giờ này dưới hỏa ngục

đầy các xương sườn

khẩn cầu và ca hát

cho những khổ đau của thế giới

bởi đôi cánh bất lực của các vị thần

dường như họ đã ngủ quên

bên lá thơm cây phong lữ

đắm mình trong xạ hương và phấn hoa

thành trì của rêu và mùn rữa

chúng tôi nhấm nháp lá cây

vuốt ve những cành đau khổ

những con sóng lớn quét các tầng trời

trèo vào bên trong ngôi mộ

khi đầm lầy biến mất dưới chân họ

khi nỗi hoảng sợ và tuyệt vọng trở thành tâm điểm của cuộc sống

tôi đã bay lên, như một tiếng thở dài nhẹ nhõm

Đây là một bài thơ

La Mai Thi Gia

.

Ở đây có một bài thơ

Là thơ đấy

Nhắc lại theo em lần nữa: Đây là một bài thơ

Anh lặp lại trong tiếng thở của mình: bài thơ, bài thơ

Nàng nũng nịu: thơ hay?

Anh dùng chút âm lực cuối cùng, hét lên:

Hay lắm

Và vẫn kịp thấy bóng đèn chao đi trên trần nhà trước khi khép mắt

2h sáng

Lũ mèo vờn nhau ngoài lan can nghe như trẻ khóc

Anh thấy mình ớn lạnh

Mồ hôi tuôn ra đầm đìa trên lưng và bẹn

Anh cố nhớ lại từng dòng bài thơ mà anh đã đọc

Nhưng chỉ nghe tiếng mèo rên như trẻ khóc

Bóng đèn vẫn chao đi trên trần nhà

Anh mở lại bài thơ tìm đến cuối dòng

Xem có phải kết thúc bằng: xinh đẹp

Anh bàng hoàng nhận ra hình như mình vừa ăn mất bài thơ?

Nàng lại khúc khích cười: Anh nhắc lại đi

Bài thơ hay

Kết thúc bằng xinh đẹp!

(La Mai Thi Gia, 22.1.24)

Ái Duy

.

Dốc vừa đủ cao, rừng vừa đủ rậm, hang hốc vừa đủ thâm u, một cái đầm lầy dưới chân và một cái tháp cổ uy nghi bỏ hoang trên đỉnh là quá đủ để hòn núi ấy trở thành “vương quốc” cho lũ trẻ con ngày ngày trèo lên tung hoành. Cùng với chúng là bầy khỉ dạn dĩ, lũ chim rừng quành quạch… Núi có tên chữ là Hoa Sơn, có hình dáng con rùa đang vươn cổ nhưng người dân cứ gọi là Núi Một, như cách gọi nôm na những ngọn núi nhỏ chơ vơ đơn chiếc. Nó có sẵn đường mòn lên đỉnh, là nơi mà hàng trăm năm trước một vị thiền sư đã lập thảo am tu hành. Xá lợi của ngài được đặt trong Liên Hoa tháp dựng ngay trên nền am. Kim quy đới tháp (Rùa đội tháp) là có tích từ đây. Những hình ảnh cũ may mắn còn lưu lại được cho thấy bảo tháp hình hoa sen rất đẹp.

Những đứa trẻ của thập kỷ 40 ở trong vùng lân cận bên động cát trắng, giữa rừng mai hoặc cạnh rừng dương, từ mái nhà tranh trống hoác của mình có thể ngó thấy rất rõ ngôi bảo tháp nhô cao trên đỉnh núi và chỉ chạy một hơi là tới nơi. Với tụi nhỏ, ngọn núi này là thiên đường. Khi Nhà thờ Núi được hoàn thành vào năm 1933, ở một phần mõm núi phía đầu rùa sau khi cho nổ mìn phá đá lấy mặt bằng thì con đường Phước Hải (Nguyễn Trãi ngày nay) mới thực sự hình thành, xẻ ngang cổ rùa của Núi Một. Nhà cửa theo đường bắt đầu mọc lên, rừng bị đẩy lùi, và lưng rùa đã bị phá hỏng phần nào.

Thập niên 50 với quá nhiều biến động lịch sử đã khiến bộ mặt Nha Trang cũng đổi thay, rừng hoang thành chợ, thành nhà. Cha mẹ tôi là đám trẻ của thập niên 40 ngày nào, sau vài năm xa nhà về thảng thốt nhìn xóm cũ. Đâu rồi ngọn núi của miền thơ ấu, đâu rồi rừng mai, động cát… Núi Một như bị nhổ lên, biến mất hoàn toàn không còn chút dấu vết, một mảng xanh cũng không. Đầm lầy sau nhà máy nước đá và rạp xi nê Hưng Đạo thì đã được lấp từ thập niên 70, chỉ còn lại nhà và nhà, lớp trong lớp ngoài, vòng vèo ngõ dọc lối ngang, lô xô cao thấp trám kín mít không còn chỗ hở. Thời gian càng trôi qua càng chồng chất che chắn. Lớp hậu sinh chúng tôi lớn lên nghe kể lại mà cứ như chuyện cổ tích. Lấy đâu ra núi ở phố thị? Lấy đâu ra hồ nước đầm lầy? Cha mẹ tôi hay nhìn về phía ngọn núi ngày xưa cám cảnh, không biết có còn ngọn tháp cổ, không biết đường mòn lên núi giờ đi đâu.

Rồi tôi ngồi tìm từng tấm hình của một Nha Trang xưa nơi 5 thế hệ gia đình mình đã và đang sống. Những tấm hình cực hiếm chạm vào ăm ắp xúc động. Đúng là ngọn núi ấy, bảo tháp ấy và cả đường mòn lên đỉnh… Tôi như nhìn thấy cha mẹ mình đang chân trần tung tăng.

Và bây giờ tôi cũng men theo một cái hẻm nhỏ như khe để lên núi cũ, loanh quanh leo dốc lạc lối mà chỉ toàn nhà với nhà sát rạt, nhà bên vách núi đá, dốc đá, bậc cấp đá. Lối đi ngoằn ngoèo còn hơn mê cung một hồi là quay trở lại điểm xuất phát. Cuối cùng tôi cũng tìm tới được bảo tháp đặt trên đỉnh núi thần thoại, vẫn ngay vị trí năm xưa. Không còn uy nghi đơn độc trên đỉnh núi, bảo tháp nay nằm chung trong khuôn viên của một nhà dân. Người chủ nhà kể họ mua lại căn nhà có sẵn bảo tháp này và biết chứa xá lợi của tổ sư, rồi cứ vậy mà cung kính nhang khói tiếp. Người chủ nhà trước chắc cũng nhận lại phận sự từ người trước nữa, và cứ vậy mà sơn phết giữ gìn. Thấy ghi tôn tạo lại năm 1972 nên hình dạng không còn như xưa nữa, nhưng vậy cũng đã quý rồi.

Có ai ngang qua đường Nguyễn Trãi tới Huỳnh Thúc Kháng, rồi rẽ vô đường Núi Một đi một vòng ra Ngã Sáu, xin dành vài phút nhớ tới một ngọn núi đã ẩn mình…

Chạp ơi

Vũ Thiên Kiều

.

Chạp ơi

mấy nữa Tết rồi

mai vườn trút lá kịp xôi nụ vàng?

xuân rung ngực phố eo làng

xuân thêu áo mới trẻ đang ngóng chờ

.

Chạp ơi

kẹo mứt đơm tơ

gừng cay cay ủ bất ngờ dành em

một năm mặt chấm lọ lem

tất niên có khắc xõa rèm ngậy hương

lá dong xanh rộn mép đường

chợ face: măng, miến… và thương mến lời

không mua người cứ ghé chơi

sợ chi biển mắt em mời sóng riêng

.

Chạp ơi

kéo lại cột nghiêng

búi rơm sưởi ấm bếp kiềng ngày xưa…

lẵng xuân ai thiếu ai thừa

muộn năm tìm buộc cho vừa

Chạp ơi

Vũ Thiên Kiều

Phù Cát quê tôi

Phạm Ánh

.

Phù cát quê tôi mưa nắng vơi đầy

Lối nhỏ đi về nối dài nỗi nhớ

Hạt cát long lanh nặng tình xứ sở

Lặng lẽ bên lòng tiếng me đưa nôi.

.

Năm tháng ân tình đã thấm hồn tôi

Một trái dừa non dịu cơn nắng gắt

Hạt muối Đề Gi mặn nồng chân thật

Sóng vỗ rì rầm vọng gió Hội Sơn.

.

Sông nhỏ La Tinh cuối biển non nguồn

Cát nhuộm thời gian đã thành màu lá

Soi bóng bờ tre nắng vàng óng ả

Lúa vượt bờ mương trĩu ngọn bông vàng.

.

Một khúc bài chòi đủ dịu gió nam

Vài củ mì lùi xôn xao bãi cỏ

Hoa bưởi đong đưa ngập ngừng trước ngõ

Chiếc nón Kiều An che nắng Chợ Gồm.

.

Cát nặng tình người dưới biển trên non

Như khúc ca dao tạc hình dáng mẹ

Lấp lánh xa xôi nghĩa tình lặng lẽ

Thắp sáng lòng người một ánh sao quê.

Mèo con lạc lõng

.

Elena Pucillo Truong

                                 

                                           (Nguyên tác: Un gattino sperduto)

                                                 Bản dịch của Trương Văn Dân                        

Mỗi buổi sáng tôi thường xuống quán cà phê nằm dưới sân chung cư, vừa thưởng thức ly cà phê sữa đá vừa ngắm những chiếc lá của hàng cây rung khẽ vì ngọn gió  đến từ dòng kênh.

Vẫn là những tiếng chào, những nụ cười đáp lại của những người khách quen thuộc… một điều thật ra rất đơn giản nhưng thường giúp tôi thư giãn trước khi bắt đầu một ngày mới.

Sáng hôm đó, ngoài những người đàn bà bán rau quả, trái cây hay đậu phộng luộc tôi bỗng chú ý đến một thân hình bé nhỏ đang đến gần.

Mỏng manh như một đóa hoa, một bé gái đang mặc trên người chiếc áo màu xanh da trời, đang chầm chậm đến từng bàn để mời mọi người mua vé số.

 Nhỏ bé, gầy gò, với chiếc áo cụt tay phô ra hai cánh tay trần màu bánh mật, bé gái đó thu hút tôi bởi cái nhìn thật buồn từ đôi mắt to đen. Thoạt đầu bé không đến gần mà chỉ đứng liếc nhìn tôi từ xa, như không muốn mình bị phát hiện.

Có lẽ bé đang tò mò, nên nhìn một lát rồi bé tiếp tục đi bán ở các bàn khác. Thỉnh thoảng một vài người gọi bé đến gần chỉ để dò vé số, hy vọng trúng được chút gì, nhưng cũng có người mua vài tấm rồi cho thêm bé ít tiền.

Những lần như vậy tôi nhìn thấy bé cẩn thận mở túi xách, cầm lấy xấp vé số ra mời khách rồi sau đó bỏ vào ngăn trong, vé một bên và tiền một bên. Sau đó bé kéo fermature rồi mới đi bán tiếp.

Ý nghĩ đầu tiên của tôi khi lần đầu nhìn thấy bé là bé còn quá nhỏ để có thể đi mưu sinh trên đường phố một mình. Mỏng manh như một cuống hoa, bé có thể bị quật gãy từ những bạo lực và tàn ác trong cái thế giới này.

Mà làm sao cha mẹ bé có thể yên tâm để bé đi làm một mình trên những con đường giữa thành phố này? Tại sao bé không đang ở một ngôi trường nào đó cùng với những bạn bè cùng tuổi?

Tôi tự hỏi mình như thế, mặc dù trong đầu cũng đã hình thành những câu trả lời có thể. Và tôi đã không thể không nghĩ đến bé nên những ngày sau đó tôi thường đưa mắt tìm kiếm đứa bé gái gầy gò và có đôi mắt đen to ấy.

           Lúc này là những ngày trước Tết, cuối năm thành phố vắng người, ai để dành được một ít tiền thì có thể về quê. Nhưng hình như năm nay nhiều người buôn gánh bán bưng không về được, giá tàu xe đắt đỏ, nên họ đành phải chọn mưu sinh trên đường với hy vọng là bán được chút gì để tạm đắp đỗi qua ngày.

Như thường lệ, chúng tôi thường hẹn bạn ở quán cà phê. Sáng hôm đó tôi xuống trễ, và đang ngồi nói chuyện với một chị bạn thì thấy từ xa đứa bé gái đang tiến đến gần.

Tôi chuẩn bị sẵn một ít tiền và nói khi bé bước đến gần:

  • Lại đây! Bác không mua vé số, nhưng tiền này là lì xì Tết để mừng tuổi bé.

Bé bất ngờ, mở to mắt nhìn tôi, bối rối đưa một bàn tay vuốt lọn tóc vừa rơi phủ mắt mà khuôn mặt như đang tỏa sáng. Bé cầm lấy tờ giấy bạc trong lòng bàn tay, bé nhỏ như bàn tay của một con búp bê, cảm ơn rồi rời đi, thỉnh thoảng dừng bước, ngoái đầu nhìn lại phía sau.

Còn tôi, sau chiếc kính che nắng, cảm giác là nước mắt mình cũng đang lăn xuống. Điều mà tôi cảm nhận là một nỗi đau từ sâu thẳm trong tim. Trong óc tôi lúc đó xuất hiện bao nhiêu hình ảnh, quá khứ và tương lai, bao nhiêu điều lẽ ra phải khác, nhân bản hơn, nhưng không phải vậy.

Vài ngày trôi qua… rồi Tết cũng qua nhanh. Trời không lạnh và những cơn gió nhẹ đầu xuân đã đem đến cho tôi sự mát mẻ khi ngồi thưởng thức ly cà phê ban sáng.

Cứ thế, chúng tôi ngồi tán gẫu với các bạn còn ở lại thành phố, không về quê ăn Tết, và trong lúc cười vui, thì đây, bé gái xuất hiện. Tôi gần như không nhận biết lúc bé đến gần và, thật bất ngờ, bé phủ người rồi nằm dài lên hai cánh tay tôi bằng một vòng ôm rất mạnh.

Sửng sốt về sự thân thiện bất ngờ và lòng yêu thương không chờ đợi này, tôi giật mình và cảm động, ôm bé giữa hai vòng tay, cảm giác dường như như cái thân hình nhỏ bé này đang thổn thức. Tôi không biết điều gì đã xảy ra sáng hôm ấy nhưng cái thân hình bé nhỏ như chú mèo con lạc lõng kia cứ bám vào tôi như đang tìm một sự cứu rỗi.

– Bé tên là gì?

– Bảo Trâm!

Vài câu hỏi thông thường nữa và bằng cái giọng lảnh lót như chim Bảo Trâm lễ độ trả lời. Đã 9 tuổi mà bé gầy ốm quá nên trông như nhỏ tuổi hơn, nhà ở bên kia chiếc cầu gỗ phía sau chợ xổm, không được đi học vì cha mẹ không có đủ tiền. Trong gia đình ngoài bé ra còn có một anh trai cũng đi bán vé số và một em nhỏ chỉ vừa 1 năm tuổi nên mẹ bé phải ở nhà trông con. Ba của bé đi làm phụ hồ, và cái gia đình nhỏ ấy chỉ có thể sống lây lất nhờ tiền thu nhập mỗi ngày.

Có bao nhiêu trẻ em đang tồn tại như vậy, chúng tồn tại và cảm thấy bằng lòng và cảm thấy mình may mắn khi mỗi ngày có thể ăn được một bữa cơm!

Nhưng bên cạnh đó cũng có những cuộc đời khác trong thành phố, nhiều em bé lớn lên với Ipad, điện thoại thông mình, video game đầy bạo lực… chúng hoàn toàn không biết gì về đời sống thực vì đã quen và chỉ quan tâm đến đời sống ảo!

Tôi mời Bảo Trâm uống nước và chỉ trong một hớp em đã làm cạn ngay ly trà đá. Tôi đưa một ly khác em cũng uống hết, cảm ơn, rồi tiếp tục đi bán.

Tôi và các bạn, tất cả yên lặng và có lẽ cùng chung ý nghĩ nên ai nấy đều nhìn theo hướng đi của chú mèo con lạc lõng với đôi mắt đen to, đang lầm lũi bước đi dưới nắng, giữa những cơn khát đến khô cổ và có lẽ cả đói, trên những nẻo đường thành phố.

Mấy ngày sau tôi cũng lại thấy Bảo Trâm, lần này em mặc một chiếc áo màu vàng có những chấm tròn nhiều màu xen với những con bọ rùa màu đỏ. Bé đến và chạy ào đến, nằm dài lên người tôi. Rồi bé thu hình, đưa hai cánh tay dài và khẳng khiu ôm lấy tôi, còn người thì run khe khẽ, có lẽ vì những cơn gió lạnh đầu xuân nên bé áp đầu tìm hơi ấm trên vai tôi. Tôi để yên bé nằm trong lòng mình, chiếc xách tay của bé nằm lắc lẽo giữa bé và tôi, hai tay bé quấn chặt quanh cổ.

Sau một lát tôi mời bé uống nước, cho bé một ít tiền và bỏ một chiếc bánh mì thịt vào túi xách trước khi bé tiếp tục đi bán..

  • Cháu bán gần hết rồi, chỉ còn có ít vé nữa thôi… vừa nói bé vừa đưa tôi xem một xấp vé số được buột lại bằng một sợi dây thun.

 Bé cẩn thận kéo fermature để đóng túi xách, gỡ tay ra khỏi vòng tay của tôi  rồi vẫy tay chào.

Rồi chỉ một lát sau, bé bất ngờ đến chạm nhẹ vào tôi từ phía sau lưng:

  • Cháu bán hết rồi… cháu bán nhanh… bé vừa nói vừa nhìn tôi mỉm cười.

Nói xong em bước đến trước mặt tôi, buông người nằm xuống và thu mình trên đầu gối. Thỉnh thoảng tôi đưa tay vuốt tóc và ve vuốt chiếc đầu bé tí. Bảo Trâm nằm yên cho như một chú mèo con và sau vài phút bé dường như thiếp ngủ. Chắc bé rất mệt và lạnh nữa.

– Sáng mai cháu phải nhắc mẹ đưa cho một chiếc áo khoác vì trời lúc này khá lạnh nhé.

Bé ngẩng mặt nhìn tôi mỉm cười và khẽ gật đầu.

Đó là một đứa bé hiền ngoan và biết vâng lời. Bé cười nhưng trong mắt dường như có nét buồn. Điều quan trọng với bé lúc này hình như là được nằm như vậy, được ôm ấp bởi một người xa lạ; bé đang đói và khát tình thương hơn là bánh mì và nước.

– Bây giờ bán hết rồi, lát cháu về nhà chứ không lang thang ngoài đường nữa nhé. Lạnh đó.

Bé đứng dậy như con mèo duỗi mình và chào tôi bằng cách cà cái mũi nhỏ xíu lên má tôi.

Tôi nhìn theo dáng bé đang rời đi và trong một thoáng tôi ước gì mình được là bà tiên có chiếc đũa thần trong truyện cổ tích để có thể mang lại cho bé gái ấy một chút hạnh phúc.

Sài Gòn, tháng hai 2019