Feeds:
Bài viết
Bình luận

Một nén nhang cho Hàn Mặc Tử

Bùi Chí Vinh

.

MỘT NÉN NHANG CHO HÀN MẶC TỬ

Ngày 11 -11-1940 Hàn Mặc Tử mất, tính đến nay là 83 năm. 83 năm không chỉ đọng lại bài nhạc bất tử viết về ông của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh mà còn gieo biết bao nỗi ám ảnh trong tôi mỗi khi nhìn trăng và cầm bút. Bằng chứng là hai lần ra Huế và Đà Lạt ông cứ lởn vởn theo tôi qua hai bài thơ rất lãng mạn này.

Hôm nay đăng lên để nhớ đến thi nhân bạc mệnh như một nén nhang tưởng tiếc nòi tình đồng điệu…

BÙI CHÍ VINH

MƯỜI NĂM GẶP ĐÀ LẠT

Mất đến mười năm yêu Đà Lạt

Mới quàng vai được những ngọn đồi

Em có đi trên đồi không vậy

Sợ chạm vào em lại điếng người ?

Điếng người chỉ muốn tan thành khói

Rụt rè bay trên những mặt đường

Chỉ cần sáng sớm em mang guốc

Là bao nhiêu khói trở thành sương

Đà Lạt mềm như chiếc áo len

Khoác vào là lại hiện ra em

Hồn anh đã khép hai hàng nút

Lá trúc nhà ai : mặt-chữ-điền

Tội nghiệp cho chàng Hàn Mặc Tử

Níu tình nhau bằng cái đậm đà

Không biết trong ngôi nhà ngói đỏ

Sắp có nàng công chúa bước ra

Anh biết và anh đợi hằng đêm

Như tường vi đợi gió qua thềm

Như trăng rằm đợi mùa sương khói

Anh đợi mười năm tiếng guốc em

.

MỘNG DƯỚI HOA Ở HUẾ

Anh sẽ làm thơ về Huế mà

Nghĩa là Huế đêm nay áo trắng

Nghĩa là mắt anh vừa mới cận

Chứ sao dụi mãi nhìn không ra

Thảo nào hồi đó Hàn Mặc Tử

Chỉ ngó sơ mà đã đậm đà

Làm thơ về Huế thường dễ bịnh

Chẳng hạn như đêm nằm bịn … rịn

Sớm mai áo trắng làm anh mơ

Tưởng lạc giữa sân trường Đồng Khánh

Tưởng trôi về tận đất cố đô

Lạc trôi đâu đó trong thành nội

Mần răng bên nớ biết mà chờ

Bên ni dù buốt lòng vẫn đợi

Một đời tráng sĩ, một đời thơ

Hai mươi bảy tuổi còn giang hồ

Đi bộ hơn rất nhiều thi sĩ

Nhà trọ vốn thường không địa chỉ

Làm sao can đảm mời em qua

Sông Hương trong đục là như thế

Đục phần anh, trong suốt Huế mà

Thành thử nếu làm thơ áo trắng

Nhớ hát giùm anh : “ Mộng Dưới Hoa ”

BCV

Tất cả cảm xúc:

 

Đỗ Văn Minh (Gia Lai)

Văn hoá là mảnh đất màu mỡ cho nghệ thuật nói chung, nhưng không phải nghệ sĩ nào cũng cày xới và gặt hái những quả ngọt từ đó. Bởi yêu cầu nội tại của nó cũng đặt ra những ranh giới nhất định, không đam mê, không am tường và không căn cơ, duyên nghiệp thì khó vượt qua để thành công. Tự thân Hoàng Thanh Hương là một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian -người đã có vốn liếng ít nhiều để chinh phục, nhờ đó đem đến cho cây bút này một dấu ấn phong cách khó trộn lẫn. Đặc biệt là, qua tập truyện ngắn vừa xuất bản Phía mùa rực rỡ, độc giả lại hơn một lần cùng suy nghiệm những “trầm tích” văn hoá dân gian ấy không thể chân thực, sinh động và phong phú hơn.

Nói đến Hoàng Thanh Hương, bạn đọc gần xa không còn xa lạ với chất trần thuật hấp dẫn, điểm nhìn đa chiều kích, với sự kiện và đề tài mang hơi thở dân gian đương đại. Hoàng Thanh Hương quê gốc ở Phú Thọ, hiện sống và làm việc tại Gia Lai, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội VHNT các DTTS Việt Nam. Chị là cây bút chuyên về thể loại truyện ngắn, với 4 đầu sách văn xuôi đã được ra mắt công chúng và có những thành tựu đáng kể. Đây là tác giả có sức sáng tạo mãnh liệt, có đóng góp nhất định trong dòng chảy văn chương nước nhà ở một số phương diện, mà tiêu biểu nhất là điểm nhìn trần thuật, cách phối ngẫu trong cấu trúc của một thiên truyện.

Tập truyện ngắn Phía mùa rực rỡ là những câu chuyện đời thường, nhân tình thế thái, biến thiên hư ảo của cuộc sống, cũng có khi là những chiếc “mặt nạ” đời. Nhưng ẩn đằng sau lớp ngôn từ, tầng nghĩa thứ nhất, giản đơn, dễ hiểu, đó là ngồn ngộn những “ám thị” của lớp lớp trầm tích văn hoá dân gian. Nổi bật lên là cảm thức phồn thực, văn hoá Phật giáo dân gian/Phật giáo thường thức và chút gì đó là khuynh hướng phân tâm học trong việc miêu tả, và nghệ thuật trần thuật.

Trong ba đặc điểm nổi bật kể trên trong truyện ngắn Hoàng Thanh Hương nói chung và riêng tập Phía mùa rực rỡ thì cảm thức, dấu ấn phồn thực tồn tại đều đặn, dày đặc hơn cả. Nó phong phú và đa dạng đến nổi, chúng như trải thảm trên từng con chữ, ở đâu, lúc nào, bề nông hay bề sâu, lớp mặt nạ hay lớp ẩn tàng… người đọc cũng có thể nhận diện nó. Trước hết, ta hãy “khai quật” từng lớp lang một để cảm thức phồn thực hiện ra trọn vẹn nhất.

Phồn thực biểu hiện cho sự sinh sôi và phát triển, bởi vậy trong nội hàm của chúng phản ánh đặc trưng của sự vận động mang tính chất đi lên. Cho nên, cảm thức phồn thức trước tiên quy định hành động nhân vật. Các nhân vật trong tập truyện ngắn thường có hành động thật sự rất tự nhiên. Có thể là, cuộc sống nhân dân các dân tộc Tây Nguyên dường như ám thị trong giọng điệu và hành động của các nhân vật qua điểm nhìn “rất Thanh Hương”. Nỗi khổ, niềm đau được hiện lên, kể ra không chút giấu giếm, chẳng cần ẩn tàng. Các nhân vật thoả sức cười, khóc, bỉu môi… mà không cần vòng vo, quanh co, nhìn trước rào sau. Nhưng mới có thế thì đâu phải văn chương của cô. Nếu rơi lệ thì phảicho “nước mắt nàng chan chứa”, khóc thì phải “khóc lu loa”, yêu thì “gã yêu nàng như điên” (Phía mùa rực rỡ); nói thì cỡ “bô bô”, làm thì phải làm “hùng hục như trâu”, tính thẳng thì phải “thẳng ruột ngựa”, ngu phải được so sánh hơn (nhưng thực chất là thua) “ngu dốt hơn bò” (tức là bò chỉ số IQ hơn) (Nhà trọ); cười thì như “muốn ngất nơi máy giặt” (Hoa nở muộn); “chán như con gián”, “sợ vợ như cọp” (Cô hồn);… Với nghệ thuật so sánh theo hướng “vật hoá”, cũng là một khía cạnh biểu hiện ít nhiều tính chất phồn thực đậm nét trong văn chương của Hoàng Thanh Hương, mà một phần cũng tiếp biến nghệ thuật trần thuật trong loại hình Ngữ văn dân gian rõ nét ở khu vực vùng Tây Nguyên, vùng cao Tây Bắc (trong đó có Phú Thọ, quê gốc của nhà văn). Văn học dân gian chú trọng yếu tố phồn thực qua ngoại hình, và trong trang văn của chị, chúng ta không ít lần bắt gặp những chi tiết miêu tả tỉ mẩn đó, chẳng hạn: Trong Nhà trọ, nhiều lần nhà văn đặc tả nhân vật qua cảm quan của văn hoá bình dân/quan niệm nhân tướng tục truyền, “Cái mặt lưỡi cày, mũi gãy, môi mỏng cong tớn, trán dô, mắt đa phần lòng trắng, tóc lưa thưa”, “Tướng sinh tại tâm, cứ nhìn cái mặt ai sáng láng, thần thái tươi tắn, đẹp nét nào ra nét đấy là biết bụng dạ họ thẳng thớm, thơm thảo”, “Tôi mạng thiên thượng hoả, tính khí quyết đoán, nóng nảy, thấy cái lươn lẹo, giả dối là chịu không được”… Cảm thức phồn thực trong văn chương thường gắn liền với ngoại hình nhân vật có những đặc điểm như: đậm người, bộ ngực ngoại cỡ, mắn đẻ. Riêng “mắn đẻ” cũng là biểu hiện của hoóc-môn và sức khoẻ cường tráng, mạnh mẽ. Chuyện sinh con đẻ cái vì thế mà được trần thuật khá nhiều trong tập truyện. Những chi tiết tiêu biểu được người đọc chú tâm, ấn tượng, chẳng hạn: “sức khoẻ đuối nên quyết không đẻ đái gì nữa, kết thúc ở số 9”, “gã chúi đầu vào bộ ngực đồ sộ”, “ông hoàng của mụ ngực bự”, “mụ vú bự”, “má hồng hồng”, “làm hùng hục như trâu” (Phía mùa rực rỡ); “Phụ nữ ngoài 40 tuổi phải nở nang” (Giãn cách); hình ảnh “chiếc váy và đám nội y rực rỡ sắc màu” (Hoa nở muộn). Cảm thức ấy, không chỉ ở việc “đẻ đái”, mà còn ước mong nuôi con chóng lớn, ăn được ngủ được là tiên. Theo quan niệm dân gian, nó còn có mối liên hệ linh nghiệm với việc đặt tên con, phải tên xấu với lại thanh bằng mới hậu vận sung sướng, tiền vận dễ nuôi (Phía mùa rực rỡ, Hoa nở muộn). Và cũng hiểu được tại sao, các nhân vật liễu yếu đào tơ, ỏn ẻn được/bị nhà văn xếp vào nhân vật phản diện, thường bị các nhân vật chính diện“bỉu môi”. Bên cạnh đó, các nhân vật chính/tốt nữ giới thường có cá tính mạnh mẽ, quyết đoán, tính cách đặc trưng và rõ nét hơn các nhân vật phái nam. Có thể là, nhân sinh quan của nhà văn ảnh hưởng một phần từ phong cách đời sống, từ địa bàn cư trú, hoặc cũng có khi đó là “tàn tích”/dấu ấn của chế độ mẫu hệ, hoặc tín ngưỡng thờ Mẫu (Đạo Mẫu) tồn tại ở đời sống văn hoá – tâm linh không chỉ dừng lại trong cư dân đồng bào thiểu số mà cả ở tầm vĩ mô hơn, nền văn hoá trồng lúa nước (cần nhiều nhân lực trị thuỷ, và những công việc nặng nhọc đồng áng khác).

Ngoại hình nhân vật thì đã rõ, như đã đề cập ở trên, ngoài ra mùa xuân cũng biểu thị, tượng trưng cho cảm thức phồn thực rõ nét không kém. Văn chương xưa thường tập trung phản ánh những biến thiên của mùa thu, mùa thu như là bầu vú đầy sữa cho thi nhân, văn sĩ thưởng thức và nảy nở những ý tưởng sáng tạo, như trong tập truyện Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân: Mùa thu/khí thu/tình thu luôn ẩn hiện trong nhiều tác phẩm chẳng hạn như Khoa thi cuối cùng, Con sư tử một năm Quí Sửu, Một cảnh thu muộn… Nhưng với chị, mùa xuân – cái mùa gắn liền với sinh sôi, phát triển và hưng thịnh mới đáng được đưa lên bàn văn chương. Ai đã từng sống, làm việc và tỉ mỉ quan sát phận người của đồng bào dân tộc nói chung, phát khởi từ Tây Nguyên nói riêng thì mới hiểu được cảm thức tự nhiên đó. Nó như là nước chảy về biển đông, suối róc rách qua kẽ đá. Mùa xuân/tết ấy, nhà văn dụng ý rất sâu, nó được tác giả cấu kết bố cục theo kiểu trùng lặp/vòng tròn/liên hoàn. Trong tác phẩm đầu tiên của tập truyện, mùa xuân được nhắc đến ngay trong đoạn mở đầu để khơi gợi cảm xúc, định hướng “tầm đón đợi”/”tầm đón nhận” (chữ của nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung) và dư vang của nó vẫn vẹn nguyên khi được đặc tả ở phần kết thiên truyện, chỉ khác chăng là: mở đầu rộn ràng mùa xuân với sự “thanh viện” (chữ của Nguyễn Tuân) của những bản nhạc trữ tình bất hủ và kết thúc lại khoe sắc, rợp hương bằng hình ảnh những đoá hoa mai vàng rực rỡ, môi son hồng hồng (Phía mùa rực rỡ); dẫu bao nhiên biến thiên, khổ đau, bất hạnh và cả oái oăm bủa vây, nhưng khi độc giả khép lại trang sách, cảm xúc vẫn dư âm, hân hoan niềm hạnh phúc, bình yên bởi tình chồng – vợ thuỷ chung, vẹn nguyên sau trước, biểu hiện qua đầu và cuối truyện ngắn Nhà trọ.

Nhà văn HoàngThanh Hương còn chú trọng con người bản năng/bổn phận/thiên chức và sứ mệnh. Bản năng làm mẹ không cho nhân vật Nàng bỏ cái thai trong bụng dẫu rơi vào những ngặt nghèo trong cuộc sống, những cơn đau cũng luôn gắn liền với bổn phận thiêng liêng đó, “nàng co đầu gối ép sát bụng cố dỗ giấc cho quên từng cơn đau co thắt tử cung”, “vòm bụng đang cương trương đau thắt” (Phía mùa rực rỡ). Thiên chức làm mẹ của nhiều đứa con (thì càng tốt) hiện diện dày đặc, trong Hoa nở muộn là một ví dụ điển hình: “Nhà hai thằng cu con, thêm ông chồng” nhưng vẫn “luôn thèm một mụn con gái”, nên “Mấy lần tôi gạ gẫm thêm thắt tí con gái”. Quan niệm thời phong kiến thì cho rằng: “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”(một nam cũng gọi là có, mười gái cũng như không), nhưng đối với văn hoá thờ Mẫu, hay chế độ mẫu hệ vẫn tồn tại trong tâm thức và cuộc sống của đồng bào Tây Nguyên thì giá trị của con gái/đàn bà luôn vẹn nguyên, và rõ ràng. Bản năng ấy, có khi “cầu bất đắc” (cầu không được) thì sinh ra “khổ”/buồn/tủi/chịu đựng sự cay nghiệt của gia đình chồng, mặc dù nguyên nhân chính là “Thằng chồng nó tinh trùng yếu”. Nhân vật T trong Hoa nở muộn biểu hiện qua những hành vi xuất phát từ sự khao khát được làm mẹ/đẻ/nuôi con, “Nó cứ ôm riết đứa bé, vài phút lại hôn chun chút vào má, vào trán con bé”, mà “con bé” đó không phải là con của nhân vật T. Đến khi được làm mẹ, dù chỉ là mẹ nuôi, vợ chồng T cũng reo lên sung sướng và “cười như mùa thu toả nắng”. Hoặc là, trong truyện Nhà trọ, bản năng làm vợ đã không cho phép tình thế “lấy chồng chung” hiện diện trong thiên truyện nữa (như ở tác phẩm Phía mùa rực rỡ), mặc cho người ta “ngó nghiêng, bình phẩm, chê bai”, “nhà trọ om sòm náo loạn” nhưng mụ vẫn thực hiện sự vụ đánh ghen, đem chồng về nhà, dưới vòng tay bảo hộ của bả (Nhà trọ). Với tác phẩm Cô hồn lại càng éo le sự đời hơn, Dậu dẫu mong muốn làm thế nào để được sinh con, được làm vợ, và được làm mẹ nhưng lại rơi vào trạng huống lực bất tòng tâm bởi chồng đã mất bốn năm rồi, bởi không thể “con đẻ với ma à?”. Như vậy, đến với văn Hoàng Thanh Hương là đến với thế giới của phận con người – đàn bà, với đủ các kiểu người xấu – tốt, các kiểu tính cách người, độ tuổi già – trẻ – trung niên, nghệ nghiệp, học vấn văn hoá. Dó đó, tên nhân vật cũng được định danh theo kiểu, như: nàng, đàn bà, mẹ, mụ, bà nội, bà ngoại, chị, nữ hộ lí, mẹ nuôi, cô sinh viên, vợ gã cán bộ, cô ta, bà trưởng khoa, bà sếp, bà vú già, vợ gã bán phở – Dậu

Bản năng tính dục như là một cơ sở/thước đo rõ ràng nhất về thiên hướng truyện ngắn theo cảm quan phồn thực và phân tâm học (tập trung ở những khía cạnh: giấc mơ, vô thức, tình trạng quên tạm thời). Tính dục không phải là xu hướng/tư duy nghệ thuật mới trong và ngoài nước, nhưng trong trang văn của nữ văn sĩ, lại đưa người đọc đến những cái bi – hài, cái cười ra nước mắt, và cả cái nhu cầu tâm sinh lý trước mắt – nhu cầu được tôn trọng/yêu mến… Những “tình thế của con người” (mượn với nghĩa nhưtrong bài viết của nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung: Tình thế của con người – tình thế của thơ[2]) hết sức phức tạp và oái oăm của muôn mặt cuộc sống, như tình thế một cán bộ sở A cặp bồ với cô sinh viên M để giải toả cơn dục tính đang “bốc hoả” bằng những cuộc “hớn hở”, “hú hí”, đã làm cho sự vụ “lênh loang khắp thiên hạ” và cái kết đắng không chỉ dành riêng cho anh cán bộ sở A mà cả gia đình và bản thân cô vợ cũng bị “ném đá tơi bời”; hay Anh chàng K với Cô B không ngần ngại “phần trên áo đầy đủ, phần dưới trống trơn đang quần nhau trên bàn làm việc”, “sờ soạng mông nhau, hôn nhau chụt chụt” mặc cho “con vợ thằng K ở dưới huyện cứ tưởng chồng mình lên phố làm việc vất vả không về được”. Cả dãy trọ nhà anh Toàn toàn thành phần bất hảo đến thuê nhưng cuối năm khu phố vẫn đạt “Khu phố văn hoá” (Nhà trọ). Hay như, những con người trong xóm trọ của nhân vật Tôi với những hoàn cảnh ngặt nghèo khác nhau dẫn họ đến những số phận bi – hài khác nhau (Hoa nở muộn), tình thế con người “Dậu chả sợ ma. Dậu sợ người, họ là ma đầu đen” (Cô hồn). Đúng với nhận định của nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung: “Con người đi từ nỗi sợ thiên nhiên, sợ Thượng đế, đến sợ con người[3].Quan sát, tiếp xúc và chuyển hoá chúng vào trong trang văn thật dễ mà cũng thật khó. Đây là tình thế của con người/cuộc đời bắt buộc nhà văn có những lựa chọn chi tiết tiêu biểu, sự việc ấn tượng để đưa ra hình thức trần thật phù hợp nhất. Bên cạnh, yếu tố phân tâm được thể nghiệm qua đề tài, sự việc thì ngoại hình càng được tác giả chú ý khai thác triệt để qua tư duy/cảm thức văn hoá dân gian, trong tác phẩm Nhà trọ, nhân vật vợ anh cán bộ sở A hiện lên với những nét không thể chối cãi được về sự “đa dâm” như: “môi mỏng cong tớn, trán dô”, “giọng kéo dài nũng nịu, nhẽo nhoẹt”; hay “Nhà thơ K là cô giáo dạy văn, mắt lươn, trán dồ, môi mỏng dính, ả liếc liếc vòm ngực vồng căng của chồng tôi”, “người đi như rắn uốn, môi mỏng bóng loáng, mắt ti hí, liếc đảo như bi”(Hoa nở muộn); và nữa: “Nàng ghét những gã miệng trơn bóng, hứa hươu hứa vượn” (Cô hồn).

Lại nữa, bản năng làm người lương thiện được cây bút này đưa lên hàng đầu như là một nhu cầu thiết yếu của bản chất/nhân tố Người trong tác phẩm. Các nhân vật buộc phải sống thiên lương, thẳng thớm. Nó như là tín điều cần phải tuân theo, là quy luật tự nhiên và đúng với thiên mệnh (“nhân chi sơ tính bổn thiện” (Người mới sinh ra, tính vốn thiện lương) – Khổng Tử). Bản năng này là vừa thiết yếu/cơ bản nhưng cũng cao cấp/đặc trưng nhất trong nội hàm, ý nghĩa Người (nằm trong thuộc tính của ba nhu cầu cơ bản là: Giao lưu tình cảm, Được quý trọng Tự thể hiện bản thân trong Tháp nhu cầu của Abraham Maslow, nhà tâm lý học người Mĩ). Văn học xưa nay đều nhấn mạnh yếu tố tâm lý này của nhân vật, nào là Chí Phèo (Nam Cao), nào là Vợ nhặt (Kim Lân)… Với Hoàng Thanh Hương, các nhân vật chính, đặc biệt nhân vật xưng Tôi thường là cái tâm hướng thiện, “vượt qua khó khăn trong cuộc sống bằng chính sức lực mình, tự do về tư duy, độc lập về tài chánh và được bạn đời, bạn tình tôn trọng”, bởi cái cốt “Ai chẳng muốn làm người lương thiện” (Cô hồn). Có thể kể ra như: Nhân vật nàng (Phía mùa rực rỡ), nhân vật Tôi (Nhà trọ), nhân vật T (Hoa nở muộn), Dậu, Em gái của Dậu, Gã bán phở (Cô hồn)… đều đau đáu sự hoàn thiện về nhân cách/tư cách sống. Cũng vì thế, những nhân vật phản diện thường bị nhân vật tư tưởng ghét cay ghét đắng, bỉu môi, khinh bỉ ra mặt, bị nói chuyện “kiểu của vợ gã bán phở hè phố” (Cô hồn).

Trong tổng thể tư duy/cảm quan nghệ thuật ảnh hưởng yếu tố dân gian đậm nét đó, nếu không nhắc đến cảm quan Phật giáo được tục truyền từ ngàn xưa, mang hơi hướng đại thừa, chúng sanh phổ độ, nghiệp duyên, nhân quả… thì chắc chắn chúng ta sẽ không thấy hết nội hàm lẫn ngoại diên những tư tưởng, dụng ý và cả cấu trúc tác phẩm của nhà văn hình thành như thế nào, và lý do, nguồn cơn đó ra sao. Chính cảm quan và suy nghiệm theo hơi hướng Phật giáo hiện diện khá rộng khắp trong tập truyện ngắn nên kết thúc thường có hậu/happy end, hoặc mang chút hơi ấm của niềm vui, tình người, màu sắc. Như, hình ảnh “nàng nhoẻn cười, hai má hồng hồng, mắt nhìn chăm chắm vào lũ con, vào anh, vào chậu mai bắt đầu xoè những bông vàng rực rỡ háo hức đón mùa” (Phía mùa rực rỡ); cảnh bình yên trở lại, nhân vật Tôi giác ngộ duyên, nghiệp là vô thường, sau tất cả, niềm vui đến vẹn nguyên cho những ai biết quay trở về với chính mình/bản lai diện mục (Nhà trọ); cảnh hạnh phúc trào dâng khi nhân vật T bất ngờ có bầu sau ngót 7 năm chịu đựng bao tủi nhục, đắng cay (Hoa nở muộn); cảnh Dậu với Gã bán phở “về một nhà”, “’rổ rá cạp lại mãi mãi” trong Cô hồn. Những quan niệm có yếu tố Phật giáo dân gian thường gắn liền với nho giáo, Lão giáo, từ đó hình thành nên những hành vi tích cực nhất định xung quanh vấn đề “phúc đức”, “ăn ở sao cho phải đạo”, “lương thiện”, “thẳng thớm”, “bình an” (Giãn cách); ăn ở có tâm có tình, hiểu đạo lý và nhân quả, nghiệp duyên (Hoa nở muộn, Cô hồn); số 7 theo quan niệm dân gian là ám thị những điều kém may mắn, kiểu mô típ “tiền hung hậu kết” (khổ trước sướng sau), nhà văn gửi gắm quan niệm trên qua số phận người vợ trong Hoa nở muộn và nghĩa nặng ân sâu của mẹ trong Cô hồn; số 4thường ứng với chữ “tử” (sinh – lão – bệnh – tử), chồng chị Dậu mất được bốn năm rồi (Cô hồn). Từ cảm quan Phật giáo dân gian, nhà văn còn chiêm nghiệm nó theo khuynh hướng triết lý nhân sinh. Phật giáo luôn quan niệm “sinh tử sự đại” (sống chết là việc lớn), đặc biệt trong Thiền tông nhấn mạnh hành vi/nhận thức/hạnh phúc hiện tại là điều tối quan trọng. Hiểu được như thế, độc giả mới ngộ ra những ý tứ diễn giải qua trang văn của chị: “Tôi lúc nào cũng sống hết mình như ngày mai sẽ chết nên tôi yêu cuộc sống đang có một cách kì lạ”, “Tôi nhớ đã đọc đâu đó một câu Phật dạy: “Khi bạn vui, phải nghĩ rằng niềm vui này không phải là vĩnh hằng. Khi bạn buồn, bạn hãy nghĩ rằng nỗi đau này cũng không trường tồn”” (Hoa nở muộn). Phật giáo luôn đề cao tính tự thân: tự thân vận động, tự thắp đuốc lên mà đi, duy ngã độc tôn, phật tại tâm, phật là ta… Những triết luận ấy một lần nữa được nhà văn phát ngôn qua nhân vật tư tưởng, Em của Dậu: “Hạnh phúc là sự tự rèn luyện mình”, và cũng có khi là qua nhân vật chính, Dậu cũng thường suy nghiệm “tâm tốt thì cái việc làm mới tốt đẹp” (Cô hồn).

Khép lại trang văn của Hoàng Thanh Hương, người đọc cảm nhận ẩn đằng sau những câu chuyện đó là cách nhìn, cách cảm đầy nhân văn, thương xót những mảnh đời, phận người nhỏ bé, thiệt thòi. Đó có thể là những số phận nghèo trong xóm trọ (Nhà trọ), cũng có thể là những người mẹ thương con nhưng vì những “tình thế của con người”/số phận buộc lòng phải “đem con bỏ chợ”, cảnh cả xóm (già trẻ, trai gái) chung tay nuôi nấng cháu bé bị bỏ rơi (Hoa nở muộn), cảnh vợ chồng âm dương cách biệt (Cô hồn). Bởi nhà văn luôn hướng người đọc đến những tia sáng, niềm hạnh phúc giản dị, nhỏ nhoi nhưng lại hết sức nhân đạo: Chuyện những con người nhỏ bé, thiệt thòi, nghèo khổ tự học, tự kiếm việc, họ vui mừng vì “kiểu gì cũng có hơn 5 triệu, bác yên tâm, nghèo thì lâu, giàu mấy chốc” (Nhà trọ); hay chuyện cô thạc sỹ chồng mất đã bốn năm chấp nhận lấy gã bán phở từng đi tù nhưng lại được hạnh phúc viên mãn (Cô hồn)…Mỗi nhân vật trong trang văn của chị đều có một số phận riêng. Nhưng nổi rõ lên là thân phận người đàn bà, được nhà văntập trung miêu tả, biểu cảm và tự sự qua các sự kiện đan cài ngẫu hứng, nhưng cũng đầy dụng ý nghệ thuật. Ấn tượng khi đọc tập truyện ngắn Phía mùa rực rỡ là giọng văn có gì đó hờn dỗi, đây đẩy, tuồn tuột, tưng tửng, cá tínhnhư tản văn của Nguyễn Ngọc Tư, cuốn hút như đang đọc tiểu thuyết của Dương Thuỵ(bởi lối kể theo ngôi thứ nhất được phát huy tối đa và có phần ứng biến), đặc tả cảnh những nhân vật trong xóm trọ nghèo cũng có chút gì hao hao/liên tưởng tới các hình tượng nhân vật trong truyện ngắn của O. Henry, kiểu xây dựng “nhân vật số phận” đến éo le, nghiệt ngãđã tạo ấn tượng tâm lý cho người đọc, dấu ấn phong cách bộc lộ rõ hơn. Điểm nhìn trần thuật cũng là một tiêu chí xác lập phong cách của chị, với sự suy nghiệm hết sức sâu sắc về cuộc sống, cộng hưởng với cái nhìn “như thị ngã văn” (tôi nghe như thế), mọi văn bản/kết cấu thiên truyện diễn ra trong sự biến thiên/vô thường, chốc chốc các nhân vật lại được “đốn ngộ”. Như vậy, nhân vật (cũng có thể là tác giả) quán chiếu mọi thứ xung quanh thực chất là để trở về với tự tánh, nguồn cơn, phát khởi của lòng mình. Cái đáng để nói ở đây là, chị đã quan sát tỉ mẩn, đa chiều để truy nguyên bản chất của chúng. Mọi thứ xung quanh như những chiếc mặt nạ, nhà văn phải có sứ mệnh tìm ra cái đằng sau ẩn chứa của chiếc mặt nạ đó. Tác phẩm càng được đẩy lên một cao trào cảm xúc/sự kiện bởi nhà văn vận dụng hiệu ứng kết cấu đối lập, mâu thuẫn của thể loại kịch một cách nhuần nhị để đưa vào truyện ngắn. Tất cả những điều trên đã làm nên những trang văn mang dấu ấn cá tính sáng tạo, phong cách nghệ thuật của cây viết nữ vùng đất cao nguyên đại ngàn – Hoàng Thanh Hương./.                    


[1] Tập truyện ngắn gồm 15 tác phẩm, Nhà xuất bản Đà Nẵng tháng 5/2023.

[2] Bài nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Sông Hương số 410 tháng 04 – 2023

[3] Trích bài viết Tình thế của con người – tình thế của thơ, Trương Đăng Dung,đăng trên Tạp chí Sông Hương số 410 tháng 04 – 2023

Lời thì thầm với biển

Tần Hoài Dạ Vũ

.

Chiều nay ta lại tìm về với biển

Biển ru ta hay ta ru chính lòng ta?

Có ai chịu ru một kẻ xa nhà

Xa sum họp và xa mọi lời hò hẹn

.

Có những cuộc tình hẹn hoài không đến

Có những người yêu chỉ thấy bóng hình

Ngoái lại lòng mình cứ mãi điêu linh

Câu nhân nghĩa thành trò cười nhân thế

.

Chẳng ai chịu cùng chia đôi giọt lệ

Chia vinh hoa thì có vạn bàn tay

Biết phải tìm ai trong cõi đời này

Chia hạt muối chia cả ngày tương kính

.

Biết ngỏ cùng ai khi lòng trở bệnh

Ta đau hoài nỗi cô quạnh trần gian

Kiếp người bơ vơ còn mơ mãi tiếng đàn

Câu giải thoát từ chính mình không thấy

Thì xin em hãy thức lòng anh dậy

Đời chẳng vui ư?

– Xin hãy cứ cười

Cứ biến lòng mình thành đóa hoa tươi

Thành mặt biển chiều nay không có sóng.

TẦN HOÀI DẠ VŨ

Thơ Cao Hoàng Từ Đoan

.

1.

ta viết vu vơ đây bài thơ ngày thu cuối

có mưa bay giăng mắc khung trời

có hoàng hôn nhoà nhạt mù khơi..

xa xăm quá..

đông về, chừng nghi ngại

.

2.

có những chiều mưa

bay .. bay..

mưa giăng sợi mỏng

…….nhịp gầy

……………………vỡ toang

vẫn em thiền

nỗi ngổn ngang

vẫn đi về với cũ càng nhớ quên.

vẫn cơn mưa gõ điệu bền

như người dưng đó an nhiên

vậy mà!

mà nghe mấy chục ngàn xa

mưa từ tiền kiếp

mưa qua tháng ngày

.

3.

gió chẳng thổi về bên phương nớ

làm sao em gửi ý yêu thương

chiều nay mây xám giăng nhiều quá!

sợ bước chân côi lạc nẻo đường..

Chiếc lá phong

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

.

Bây giờ đã là gần cuối tháng Mười, trời bắt đầu se lạnh, buổi sáng mùa Thu nơi này thật dễ chịu, gió se lạnh chỉ đủ cho người phụ nữ chuẩn bị những quần áo chỉnh chu hơn, xếp gọn những áo quần mỏng manh của những ngày hè chói nắng… và những chiếc áo dày hơn được đem ra chuẩn bị cho mùa thu với chút lạnh pha sương theo cơn gió thoảng làm bay bay những chiếc khăn choàng điệu đàng tung bay theo gió

Tôi thích nhất là mùa Thu ở nơi này.

.Gió heo may, chỉ đủ cho tôi nheo mắt, hững hờ kéo xô cánh cửa…

Mùa Thu ơi ta chào mi…chào những chiếc lá vàng đang chạm ngõ nhà tôi.

. Những chiếc lá Phong đang oằn mình níu kéo tuổi thời gian trên cành, hôm qua tôi nhận ra chúng mới ươm vàng , sáng nay thấy chúng đã xoãi mình rớt rơi bên bờ cỏ úa…

Mỗi làn gió thổi là cuốn tung, xoáy lốc, gom nhau thành từng đống trên bờ cỏ, mái nhà ..

Những chiếc lá đỏ , vàng tội nghiệp của tôi ơi, yêu thương lắm nhưng biết làm sao hốt trọn cả vào lòng…lá vàng ơi, cuộc đời của lá , tuổi đời không mấy nổi … chỉ sang mùa là đã cuốn tung.

Khi xuân về …lá kia xanh tốt trên cành, nụ thời gian vừa chỉ mới ươm mơ , tay trăn trở ẩn mình thua chị kém em, khi những bông hoa khoe muôn màu muôn vẻ. đàn bướm , lũ ve cũng chỉ biết xum xoe bên hương hoa , vờn hoa hút nhụy…

Có bao giờ chiếc lá Phong được chiêm ngắm lúc xuân sang…Lá Phong cũng chỉ xanh màu như muôn ngàn lá khác, rung rinh theo từng giọt nắng lúc xuân sang.

.Mùa hạ đến chỉ vàng xanh thêm sắc lá… lá vẫn lạnh lùng theo những bước chân quen, không hò hẹn, không mong chờ câu tình tự, chỉ phơi mình trước giọt nắng ban mai rồi trãi dài theo giọt nắng cuối ngày…Lá vẫn xanh và vẫn bình an nơi thân cội.

Mùa Thu về… khi vừa chín muồi của thời xuân sắc, màu vàng ươm rồi bỗng biến sang cam…

Thời gian này là tuổi đời của lá chín mọng nhất, nợ áo cơm trong buổi lá còn xanh, nay trãi rộng đón chờ để làm tròn nhiệm vụ pha màu cho vạn vật…Thương lắm những chiếc lá phong

Những sắc lá đổi màu một cách huyễn hoặc, nên thơ, bao bút mực tả sao cho hết , cho vừa.. vàng sắc lá, cam từng chùm, đỏ ối màu tình tự…Rồi thẫn thờ buông mình lìa xa thân cội…

Chiếc lá Phong chưa mỉm cười mãn nguyện.câu tình tự thốt ra từ bao cửa miệng, bao ngòi bút của các văn nhân thi sĩ …làm đẹp cho đời, pha màu cho vũ trụ…nhiệm vụ chỉ hoàn thành khi lá kia phơi mình trên cỏ úa, chờ gió Thu về chao giọt nắng hanh hao…vờn gót chân ai buổi chiều tà lướt nhẹ,

Nợ áo cơm, nợ cuộc đời, lá úa cuốn trôi vào góc vườn bờ cỏ chờ rạn vỡ giữa đất trời không tiếng thở than…

Thu sang….có chiếc lá bay….

Lá Phong rơi mãi ….lắt lay tấc lòng

Mở cao cánh cửa sổ nhìn vào khoảng trời đục mờ loang bóng nước, trời chưa mù sương phủ, nhưng môi cười đã điểm giọt sương pha…bầu trời không ẩm đục như những sáng mùa Đông , nhưng cũng ướt mềm dấu thời gian trên thân lá úa…

Sáng nay những chiếc lá Phong vẫn từng cánh cam vàng, chín đỏ…vẫn lả tả rơi trong hiu quạnh của buổi sáng mùa Thu có chút gió heo may…

Tôi lặng nhìn lá Thu từng cánh rơi mềm trên cỏ úa…cảnh đẹp như trong một giấc mơ đêm…những chiếc lá mang cuộc đời và hơi thở giống thân phận của ai đó đang lặng nhìn và chợt hòa chung với xác lá một âm hưởng hòa chung làm một…

.Ôi mùa Thu…và những chiếc lá Phong…

Thương thương lắm…sắc lá điểm tô cho mùa Thu diễm tuyệt.

Thời gian vẫn rớt dài trên cành cao lá thấp, những cánh tay khẳng khiu không níu giữ , những chiếc lá vàng vẫn từng cánh rơi mau…rồi những cơn gió lắt lay dùa đẩy những chiếc lá thấm màu tình tự …gom vào một góc vườn, xáo xác bên gốc cây bờ cỏ…nát úa màu thời gian tàn tạ xác thân, tan biến giữa hư không…

Vẫn biết tạo hóa vẫn vô thủy vô chung với muôn vật, muôn người, nhưng mỗi lần nhìn những cánh lá Phong rơi ngập tràn vườn sau , ngõ trước, lòng tôi bỗng chợt nhói đau, một nỗi buồn man mác len nhẹ vào lòng như chất keo loãng trãi dài vào chân tơ kẽ tóc…

Tạo hóa và tuổi thời gian của một kiếp đời…cánh lá Phong còn lập lờ trên sân cỏ úa thì con người ta cũng giống hệt như chiếc lá kia sao ???

Tôi thường ví mình giống chiếc lá Phong kia…sao tôi không ví mình như hoa cúc, hoa Mai…Phong. Lan. cúc, trúc, hay cánh Ngọc Lan mà tôi hằng yêu thích, tỏa hương thơm sâu kín, quyện vào lòng người, cho cuộc đời ngát hương thơm dấu ái…cho mỗi lần nhắc đến tên của loài hoa này là khứu giác bỗng mở ra đón chào chất hương tình lãng mạn….nhưng tôi lại chỉ mang thân phận của chiếc lá Phong rơi….

Sao tôi lại ví mình giống chiếc lá phong kia …khi lá còn xanh…lá kia chỉ là chiếc lá trên cành, chỉ sống dậy khi Thu về se lạnh, bỡi tấm thân mỏng manh cô quạnh nên úa vàng sớm hơn cây thông, cây liễu chưa sớm úa vàng ,

Khi sắc lá biến từ màu cam rồi sang đỏ, thẫm màu rồi rơi xuống …

.Thời gian này là đẹp nhất của một kiếp đời vì đang làm đẹp cho tha nhân, nhuộm màu cho vũ trụ, cho mùa Thu mang chút lãng mạn, lan man…Là thời gian lá ngoảnh nhìn lại thân phận của kiếp lá cũng hệt như một kiếp đời…Khi đã hoàn thành nhiệm vụ thì vụt tan biến vào cõi vô minh….Khi Chiếc lá rơi….

Khi những cơn mưa về cuốn chìm vào góc tối, những mãng Tuyết của mùa Đông giá rét sẽ nhấn chìm và nát ngấu giữa hư không, thân xác của những chiếc lá Phong vàng nâu tội nghiệp sẽ về đâu khi bóng ngã chiều tà, khi mùa Đông lấp ló ngọn Tuyết trào dâng che phủ…

Lá Phong ơi …sao mi luôn mãi đơn côi, những con chim bé bỏng bay giữa trời còn từng đàn , từng cặp, dắt díu nhau trốn lạnh của mùa Đông. những cội Thông già bên nhau vẫn rì rào tình tự giữa mùa Đông.giá. ..chuyền tay nhau thay áo mới…chỉ những chiếc lá Phong là tội nghiệp biết bao

Khi tuổi thời gian làm chín vàng là soãi tay phó thác sự sống còn cho con tạo, tan biến vào cõi vô minh sau khi phơi xác lá , tô điểm cho vạn vật có những phong hình đẹp , cho các thi nhân tha hồ làm thơ tả cảnh Thu…mà nào có ai hay rằng : lá cũng là một sinh linh….

Chiếc lá hững hờ bay xáo xác đang có người … lặng lờ cúi nhặt xếp vào trang sách cũ cuộc đời…và lặng lẽ lãng quên …

Khi mùa Thu đến, những chiếc lá Phong vẫn rơi…nhưng con người ấy có còn từng lần cúi nhặt …lại xếp vào ngăn tủ lãng quên…tội nghiệp chiếc lá Phong úa vàng giữa mùa Đông giá buổi chiều nay .nó sẽ còn được dáng ai lom khom nhặt , ép vào trang sách cũ thêm mấy lần nữa giữa đất trời giá băng…tội nghiệp chiếc lá Phong và tội cho ai mang tâm trạng của lá Phong rơi….

Vàng sân xác lá phong rơi….

Cuốn xô hồn lá …. tiếp lời …. mỏng manh

Sương Thu chập choạng buông mành.

Thơ thẩn nhặt………gọi gió về tình tự.

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

Với thu

Phạm Ánh

.

Với thu lá rụng lối mòn

Đong đưa cành trúc ai còn nhớ ai

Cúc vàng rắc nhẹ nắng mai

Để thương để nhớ ai cài gió nghiêng.

.

Với thu sông nước hồn nhiên

Trời xanh ngã bóng nỗi niềm trong tôi

Sông quê bên lở bên bồi

Nôn nao ánh mắt nhớ người thu xưa.

.

Mơ màng lấm tấm hạt mưa

Tiếng chim bịn rịn như chưa rời chiều

Vừng trăng gác núi hiu hiu

Với thu lối cũ rong rêu đượm tình.

Nguyễn Thanh Quang

 

Việc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, công đầu được ghi nhận bởi ba nhà truyền giáo dòng Tên tại cư sở tiên khởi Nước Mặn: Francesco Buzomi (Ý), Francisco de Pina (Bồ) và Cristoforo Borri (Ý). Tuy nhiên, vai trò của Linh mục Bề trên Buzomi với chữ Quốc ngữ chưa được đánh giá khách quan, công bằng…

​Chỉ dẫn của dòng Tên khi các thừa sai đi truyền giáo, ghi cụ thể: “… Cha tìm hiểu ngôn ngữ mà các dân tộc ấy dùng để nói; nếu có nhiều ngôn ngữ, thì hãy chú ý ghi ngôn ngữ nào được sử dụng nhiều nhất, chủ yếu là trong giới bình dân. Cha tìm hiểu về chữ mà họ dùng để viết; về các chữ này, cha tìm cách hỏi những văn sĩ ưu tú mà cha gặp được, để ghi lại một bản chữ cái, kể cả những dấu nối và dấu phân câu mà họ dùng; cha cũng chú ý ghi lại bằng mẫu tự Latin tương ứng với cách phát âm, để ta có thể so sánh…”.

​Việc Latin hóa các hệ thống chữ viết không dùng mẫu tự Latin đã trở thành thông dụng và được xem như “truyền thống” của các thừa sai dòng Tên. Các thừa sai khi đến truyền giáo ở một đất nước nào, thì việc đầu tiên là học ngôn ngữ của nước đó. Muốn học ngôn ngữ bản địa, trước hết các thừa sai phải dùng mẫu tự Latin ghi âm tiếng nói của địa phương, đồng thời tiến hành biên soạn từ điển và ngữ pháp ngôn ngữ của đất nước đó. Các từ điển và ngữ pháp thường căn cứ theo mẫu các sách từ điển và ngữ pháp của tiếng Latin.

Dòng Tên Tỉnh dòng Nhật Bản bị chi phối bởi Bồ Đào Nha, trụ sở của dòng lúc ấy được đặt tại các lãnh địa của người Bồ ở Goa và Macau.Các nhà truyền giáo đương thời thuộc các quốc gia khác, phải được thụ huấn một thời gian trước khi lên đường đi truyền giáo. Vùng hoạt động truyền giáo của Tỉnh dòng bao gồm Trung Hoa, Nhật Bản, Macau và các vùng liền kề, trong đó có Đại Việt, thuộc quyền bảo trợ của Bồ Đào Nha. Nhân sự của Tỉnh dòng gồm nhiều quốc tịch, như: Ý, Pháp, Bồ, Nhật… trong đó đa số là người Bồ Đào Nha.

​Nhờ sự bảo trợ của Trần Đức Hòa, Khám lý Tuần phủ Qui Nhơn, cư sở tiên khởi của dòng Tên tại Đại Việt được thành lập tại Nước Mặn (Residentia di Pulocambi) vào Tháng 7 năm 1618. Từ năm 1618 – 1620, tại cư sở Nước Mặn có các nhà truyền giáo: Linh mục Pina (Bồ), Linh mục Borri (Ý), tu huynh Diaz (Bồ) và Linh mục Buzomi (Ý) là Bề trên của cư sở. Năm 1625, cư sở Nước Mặn của Linh mục Bề trên Buzomi có các linh mục: Gaspar Luis, Majorica và các tu huynh K’ieou, Nishi.

​Cha Bề trên Buzomi chú trọng thực hiện cụ thể Chỉ dẫn của Nhà dòng về việc tìm hiểu, học hỏi ngôn ngữ bản địa. Sử liệu dòng Tên cho biết, những năm 1618 – 1620 các thừa sai làm việc ở Nước Mặn, Đàng Trong là những người đầu tiên học và biết tiếng Việt.

​Theo Báo cáo thường niênnăm 1618, tại cư sở Nước Mặn có một thanh niên mười sáu tuổi, lanh lợi và thông minh, giỏi Hán văn, được dân làng yêu mến, là một tân tòng, tên thánh rửa tội là Phêrô. Dưới sự giám sát của cha Buzomi, anh giúp các thừa sai biên dịch sang tiếng địa phương quyển sách giáo lý gồm các kinh: Lạy Cha, Kính Mừng, Tin Kính, Mười điều răn… mà các Kitô hữu đã thuộc. Hiện nay, quyển sách giáo lý ấy chưa được tìm thấy, các nhà nghiên cứu cho rằng sách được soạn bằng chữ Nôm. Theo Linh mục Léopold Cadière, quyển sách giáo lý nầy được biên soạn bằng ngôn ngữ Đàng Trong, loại ngôn ngữ phổ thông (chữ Nôm)… Song song với việc biên soạn bằng chữ Nôm, sách cũng được phiên âm bằng mẫu tự Latin để các thừa sai được tiện dùng.

​Báo cáo thường niên năm 1619, chép: “Các thừa sai dòng Tên ở Nước Mặn là những người đầu tiên chuyên tâm nghiên cứu ngôn ngữ hơn bất cứ điều gì khác”. Cha Buzomi thành lập một trường học tại cư sở Nước Mặn, chọn một thầy giáo xuất sắc về chữ Hán và chữ Nôm để làm việc tại trường nhằm giúp các thừa sai trong việc nghiên cứu và ghi âm tiếng Việt, hoặc dịch các tài liệu cho các thừa sai.

Ba Linh mục dòng Tên đầu tiên tại cư sở Nước Mặn được ghi nhận có những đóng góp ban đầu trong việc dùng mẫu tự Latin ghi âm tiếng Việt, sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là: Bề trên Buzomi, Pina và Borri.

+ Francisco de Pina: Đến Đàng Trong năm 1617, chết năm 1625. Pina có 8 năm truyền giáo ở Đàng Trong. Bức thư được cho là của linh mục Pina viết tại Dinh Chiêm năm 1623, bằng tiếng Bồ, xen lẫn vài cụm từ Latin, Nhật hay Mã Lai và vài tiếng Việt Nam được ghi bằng mẫu tự Latin. Pina được ghi nhận là người nói tiếng Việt giỏi nhất trong các nhà truyền giáo lúc bấy giờ.

+ Cristoforo Borri: Đến Đàng Trong năm 1618, rời Đàng Trong năm 1622. Bốn năm ở Nước Mặn, Borri đã để lại một số câu từ “Quốc ngữ tiền Đắc Lộ” trong tác phẩm nổi tiếng: Relatione della nuova missione delli PP. della Compagnia di Giesù al Regno della Cocincina (Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong). Ông Thanh Lãng đếm trong bản dịch của Bonifacy có đến 94 từ Quốc ngữ, và trong tài liệu viết tay có rất nhiều chữ mang hình thức hệt như ngày nay. Thí dụ: tui, biết, mọi, càn…

+ Francesco Buzomi sinh năm 1574 tại Napoli (Ý), giáo sư thần học. Ông đến Macau năm 1608, sau đó qua Nhật. Năm 1615 đến Đại Việt, lúc đầu ông làm việc với người Công giáo Bồ ở cửa Hàn (Đà Nẵng), người Công giáo Nhật ở Hội An (Quảng Nam). Năm 1617 vào Nước Mặn, học tiếng Việt và bắt đầu truyền giáo cho người Việt. Với khả năng tổ chức tốt, ông đã sớm tìm kiếm những cộng tác viên ưu tú người Nhật, người Việt để giúp các giáo sĩ dòng Tên đến Đàng Trong học tiếng Việt. Từ năm 1618 – 1629, Linh mục Buzomi làm Bề trên cư sở Nước Mặn. Năm 1929, cùng với các thừa sai khác, Buzomi bị chúa Nguyễn trục xuất khỏi Đàng Trong, sang truyền giáo tại Cambodia (1629-1634). Năm 1934, từ Cambodia Linh mục Buzomi về Macau. Năm 1635 – 1639, Buzomi trở lại Đàng Trong với tư cách Bề trên miền truyền giáo. Năm 1639, lệnh chúa nguyễn Phước Lan trục xuất các thừ sai. Theo Linh mục Đỗ Quang Chính: “Francesco Buzomi… qua đời tại Áo Môn vì bệnh, ngày 01.7.1639”.

Linh mục Alexandre de Rhodes nhận định: cha Buzomi là vị tông đồ đích thực của Đàng Trong, người đã tận tụy lo việc truyền giáo, hoạt động trong hơn hai mươi năm với một sự kiên trì đáng được khen ngợi, ca tụng. Ngày 13.7.1626, Linh mục Buzomi viết một bức thư bằng tiếng Ý dài 4 trang gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi, Bề trên cả dòng Tên. Trong thư có một số chữ Quốc ngữ được viết theo lối cách ngữ như ngày nay:

Trình độ hiểu biết sâu sắc nghĩa từ tiếng Việt và tài năng điển chế từ ngữ tiếng Việt của Linh mục Buzomi trong thư kể trên được Đỗ Quang Chính ghi nhận:

“Trong thư nầy, Buzomi tỏ ra không tán thành các từ Thiên, Thượng Đế, Thiên Chủ Thượng Đế, Ngọc Hoàng; vì không chỉ rõ Đấng Tối cao theo giáo lý Công giáo (như Thiên, Thượng Đế), hoặc chỉ một thứ tín ngưỡng đã xuất hiện từ lâu ở Việt Nam (Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng Thượng Đế), hoặc cụm từ có tính cách hoàn toàn Trung Hoa (Thiên Chủ Thượng Đế), nên Buzomi ngã theo cách dùng từ ngữ Thiên Chúa , vừa vắn, vừa hợp với văn hóa xã hội Việt Nam, vì hai từ Thiên và Chúa đã quá quen thuộc trong xã hội nầy”.

Linh mục Đỗ Quang Chính cũng nhận định chữ Quốc ngữ của Linh mục Buzomi tiến bộ hơn so với các giáo sĩ cùng thời, trong thư 1626: “Nhìn vào những chữ Quốc ngữ của Buzomi, mặc dầu ít, nhưng đã thấy tiến triển, nếu đem so sánh với lối viết của João Roiz, C. Borri, Đắc Lộ, Gaspar Luis và Antonio de Fontes từ năm 1626 trở về trước”.

Thế nhưng, Linh mục Đỗ Quang Chính nêu danh sách gần mười vị góp công sáng tạo chữ Quốc ngữ thời kỳ đầu, gồm: Francisco de Pina, Cristoforo Borri, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, Alexandre de Rhodes, Filippo Marini, Bento Thiện, Igesico Văn Tín, mà không có tên Francesco Buzomi trong danh sách này!

Linh mục Daniello Bartoli (1608-1685) – Nhà sử học dòng Tên (cùng thời với Buzomi và Pina) nhận xét về trình độ hiểu biết tiếng Việt của Buzomi vào năm 1623 như sau: “Ngoài ra, với trí nhớ sâu sắc như một thiên tài cùng với sự nhiệt tình tuyệt vời của cha đã giúp cho cha học nhanh ngôn ngữ đó [Đàng Trong], nắm bắt tính đa nghĩa của từ, tính chất của các dấu nhấn và cung giọng được thể hiện theo ý muốn. Nhờ vậy, trong một thời gian ngắn, cha đã biên soạn từ vựng và luật mẹo ngữ pháp tốt đẹp”. Bartoli còn cho biết khả năng ngôn ngữ Đàng Trong của Buzomi và Pina: “Cha Pina và cha Buzomi là những thừa sai nắm bắt được ngôn ngữ thông dụng của Đàng Trong, có thể thuyết giáo, trao đổi với các nhân sĩ và các vị sãi, trong các việc riêng tư hay trong nơi công hội”.

Tuy nhiên, nhà nghiên cứu – Linh mục Roland Jacques đưa ra nhận định: “Nhà chép sử dòng Tên Bartoli cho rằng Buzomi sáng tác một hệ thống văn phạm và ngữ vựng. Một trong những chứng lý là một bức thư viết năm 1622 mà chúng tôi không thể tìm ra. Có thể có sự lẫn lộn với Pina chăng…”!

Bức thư bằng tiếng Bồ của Pina viết tại Đàng Trong năm 1622, gửi cha Giám sát dòng Tên là Jérónimo Rodrigues “senior”, chép: “Tại Pulo Cambi [Nước Mặn], cha Buzomi có ba ông sãi làm thay cha hết mọi việc. Vì thế, nếu xảy ra chuyện gì, hoặc có công việc gì phải điều hành hay chuyển tin tức quan trọng, cha phái một thông dịch viên, hay một trong ba ông sãi… Khi giờ giáo lý kết thúc, cha ra về, còn họ thì ở lại hoặc để ôn tập, hoặc để chuyện trò với các dự tòng”.

Vai trò của Buzomi trong việc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin sáng tạo chữ Quốc ngữ được ghi nhận khá mờ nhạt so với các nhà truyền giáo cùng thời, với lý lẽ thông thường được đưa ra là: cha Buzomi khi giao dịch hoặc giảng giáo lý cha dùng thông ngôn, nên cho rằng Buzomi không nói được tiếng Việt.

Việc Linh mục Buzomi thường xuyên sử dụng thông ngôn chứng tỏ Linh mục là người cẩn trọng, hơn nữa là một Bề trên, Buzomi còn có nhiều công việc khác. Chính Linh mục Buzomi đã cho biết trong bức thư viết vào tháng 5 năm 1622 gởi cho cha “kinh lược sứ”: “Ngôn ngữ xứ này rất khó vì ý nghĩa của nó được phân biệt bằng thanh điệu hơn là từ ngữ. Tôi bị bệnh lâu ngày và làm việc liên tục, điều đó không cho phép tôi chờ đợi qua thời gian dài. Do đó, khi dạy giáo lý, tôi luôn sử dụng thông ngôn. Tôi hỗ trợ anh ta và gợi ý cho anh ta từng bước một những gì anh ta phải nói và hướng dẫn anh ta nếu có điều gì có thể bị hiểu nhầm. Và như thế những gì anh được nói, nó có giá trị như chính tôi đã nói”.

Sử gia Bartoli đã ghi nhận: “Khi Linh mục không đủ tự tin vào khả năng ngôn ngữ của mình để rao giảng chân lý đức tin, Linh mục dùng thông ngôn, người mà trước đó đã được Linh mục đào tạo vững vàng về kiến thức đức tin để có thể giải nghĩa cho dân chúng. Trước tiên Linh mục cố gắng diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình, sau đó thông ngôn người Đàng Trong nói lại bằng ngôn ngữ Đàng Trong của anh bằng những từ diễn đạt chính xác ý nghĩa, nói được như bản sao của bản chính”.

Linh mục Borri, một trong hai thừa sai (Borri và Pina) được cho là nói thạo tiếng Việt vào thời điểm 1620. Tuy nhiên, Borri bối rối, từ chối dạy giáo lý cho Bà vợ sứ thần được cử đi sứ Cambogia khi bà xin học giáo lý để được rửa tội trước khi lên đường. Linh mục Borri viết: “…Sau đó, tôi xin lỗi bà vì tôi không thể đáp ứng ngay lập tức ước nguyện thánh thiện và đúng đắn của bà, vì cho dù tôi đã có chút ít hiểu biết về ngôn ngữ Đàng Trong, tuy nhiên không đủ để giảng dạy những điều cao thượng và những mầu nhiệm cao cả của Kitô giáo. Vì thế, tôi xin bà nên đợi Cha Buzomi, trong một vài ngày nữa sẽ từ Đà Nẵng trở về cùng với một thông ngôn tài giỏi, nhờ đó bà sẽ được hướng dẫn thỏa đáng và sẽ làm cho bà hài lòng về ước nguyện thánh thiện của bà… Nhờ người thông ngôn này cùng với tính siêng năng, cần mẫn và chú tâm học giáo lý vào hai giờ buổi sáng và hai giờ buổi chiều trong suốt 15 ngày, bà đã học đầy đủ giáo lý của đạo thánh chúng ta. Bà cảm kích việc Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người vì yêu thương nhân loại. Sau khi được cha Buzomi giảng giải giáo lý, bà đã được rửa tội tại nhà thờ Nước Mặn cùng với hai mươi lăm người phụ nữ khác. Bà chọn thánh Ursula làm bổn mạng”. Tự thuật của Borri đã chứng minh việc Linh mục Bề trên Buzomi sử dụng thông ngôn là cần thiết; các thừa sai dù thông thạo tiếng Việt nhưng chưa đủ khả năng truyền đạt giáo lý, những chân lý về đạo cho người Việt.

Cần lưu ý, các thừa sai thường phải học ngôn ngữ của nơi đến truyền giáo là để giải tội. Việc xưng tội và giải tội là chuyện hoàn toàn “riêng tư” của người xưng tội và Linh mục giải tội, không thể có người thứ ba phiên dịch. Các Linh mục nghe hiểu người xưng tội xưng những tội gì, thì mới có thể giải tội được.

Linh mục Buzomi còn có vai trò đặc biệt đối với trường dạy Quốc ngữ đầu tiên cho các nhà truyền giáo tại Nước Mặn và là thầy dạy tiếng Việt tại Nước Mặn cho các Linh mục: Emmanuel Borgès (Bồ) và Giovanni di Leira (Ý) (đến 1622), Gaspar Luis (Bồ) và Girolamo Majorica (Ý) (đến 1624). Linh mục Girolamo Majorica là học trò của Buzomi tại Nước Mặn từ năm 1624 – 1629. Năm 1632, ông đến Đàng Ngoài, làm Bề trên giáo đoàn Đàng Ngoài, ông qua đời năm 1656 tại Thăng Long. Trong khoảng 30 năm hoạt động truyền giáo ở Đại Việt (cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài) ông đã khởi xướng và chủ biên tới 48 tác phẩm lớn nhỏ bằng chữ Nôm. Hiện nay, Thư viện Quốc gia Paris lưu trữ 15 cuốn với 4.200 trang. Mỗi trang có từ 9 đến 12 dòng, mỗi dòng có từ 30 đến 34 chữ Nôm, tổng cộng có 1.400.000 chữ. Có thể nói, Girolamo Majorica là “nhà Nôm học”, một hiện tượng độc đáo trong lịch sử ngôn ngữ và văn học Việt Nam, ông có một chỗ đứng thật đặc biệt, đại diện cho văn xuôi Nôm thế kỷ XVII.

Với tư cách là Bề trên, Linh mục Buzomi triển khai chỉ dẫn các thừa sai, vừa là người tổ chức, vừa là người đôn kiểm, giám sát, vừa là người đồng hành, vừa là thầy dạy tiếng Việt. Ông đã tham gia việc nghiên cứu và sáng tạo chữ Quốc ngữ một thời gian khá dài – trên 20 năm ở Đàng Trong, thời gian đầu cùng với Linh mục Pina, Linh mục Borri và một số người Việt tại Nước Mặn, thời gian sau với các Linh mục: Emmanuel Borgès,Giovanni di Leira, Gaspar Luis và Girolamo Majorica…

Linh mục Bề trên Buzomi là nhân vật số một trong buổi đầu truyền giáo của dòng Tên ở Đàng Trong. Giống như Pina và Borri, Buzomi cũng chỉ ký âm tiếng Việt, biên soạn từ vựng và luật mẹo ngữ pháp sử dụng cho riêng mình học tiếng Việt, cả ba nhà truyền giáo tiên phong chưa làm được công việc mà sau đó các giáo sĩ Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa và Alexandre de Rhodes thực hiện, đó là biên soạn Từ điển. Thế nhưng, không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của Linh mục Bề trên Buzomi đối với việc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin sáng tạo ra “chữ Quốc ngữ tiền Đắc Lộ” cùng hai giáo sĩ Pina và Borri tại cư sở tiên khởi Nước Mặn.

​​​​​​​​​​NTQ

Gửi oan gia

Trần Thị Cổ Tích

.

tôi bắt đền anh. bắt đền anh

khi không đem lá thả dòng xanh

hồ thu gợn sóng lao xao mãi

để gió than hoài khúc mong manh

.

phải chăng kiếp trước tôi lỡ tay

làm rách áo anh một lần say

nên giờ anh níu ngàn mây lại

đòi vá cho anh khoảng vai gầy

.

có phải xưa anh là nhánh rong

dập dờn phiêu dạt giữa dòng sông

tôi nhỡ tình cờ bơi qua đó

chân vướng. mệt nhoài. gỡ chẳng xong

.

lòng dặn lòng khoác áo cà sa

chuông mõ lên non lánh ta bà

phất tay giũ hết vòng oan trái

ai hay giữa đường gặp oan gia

.

anh hỡi. anh à. anh… ấy ơi

tâm tôi không chịu tịnh nữa rồi

mỗi ngày nó khắc thêm chữ nhớ

anh lấy chi đền cho tôi đây

ttct

11.10.2023

Mặt mộc

Thơ Trần Hạ Vi

.

anh yêu cô ấy ba năm

chưa bao giờ nhìn rõ mặt

cô ấy chạy trốn nhanh như sóc

gương mặt mộc của anh

ở đâu

ở đâu

.

gương mặt mộc của em rọi sáng đêm sâu

anh già rồi không còn nói yêu ai nữa

cô ấy nói yêu anh đến thiên thu

còn tình yêu của em

ở đâu

ở đâu

.

mũi kim sinh thiết quẩn quanh trong đầu

vội vã gọi em sau lần cao huyết áp

tưởng chết đi

tưởng buồn rầu

ở đâu

ở đâu

.

anh viết những lời tình bông lơn

vẫn nhớ về gương mặt mộc

em đừng buồn ông già này

chỉ trái tim vẫn còn trẻ

như ngày

không dám nói yêu

tình yêu mộc…

Nguyễn Man Nhiên

.

ngày đẹp trời với những giấc mơ nở sớm

đôi khi với một cái mũ

hoặc chiếc giỏ đan

tôi hái mơ ước

trong vườn cây ăn quả

tôi làm đầy túi tôi

vài mái ngói sứt mẻ

tiếng sủa con chó hàng xóm

ánh đèn pha xe hơi

chạy nhanh trong màn sương mỏng

những giọt nước mắt đêm muộn

như ngọn nến cháy âm ỉ

chiếu sáng phần còn lại của khuôn mặt sẫm bóng

.

tôi đang mở

một quyển sách rảnh rỗi

một đại dương rộng lớn trên đó

mọi thứ xuất hiện trong tầm tay

trịnh trọng như những cái khuy măng-sét

một con chim thổi sáo trong bóng râm

mơ về người bạn đời

trong tán lá dịu dàng của nó

khoảng cách giữa chúng tôi biến mất

các hòa âm khác thường

như lòng tốt bị bóp nghẹt với vụn bánh mì

sẽ nảy nhánh và ca hát

.

tôi đếm hơi thở tôi

giọng nói van lơn như gió qua hẻm núi

từ những ngọn đồi màu tối

bò ra một bóng ma gầy

người gửi đến tôi như một sứ giả

chòm sao mùa tang lễ

những ma-nơ-canh để ngực trần

đôi mắt cô ấy yêu tôi

mảnh plastic của keo xịt tóc

tôi như đứa trẻ chạy qua rừng

trối chết

.

tôi sẽ dán ẩn dụ này

lên tấm bưu thiếp

giống như hai chữ khủng khiếp

tự do

trong tiếng vọng bức tường đá khô

ngôn ngữ là cái bóng rơi xuống

nghệ thuật chất đống

mỗi buổi sáng hoa tươi

và giấc mơ của ngày hôm qua bị lãng quên

tôi có thể vẽ nó như là

cuộc sống vẫn còn

một cửa sổ đầy ánh sáng