Feeds:
Bài viết
Bình luận

Đêm dài vô tận

Nam Thi.

 

Đó là  một sáng cuối năm 1970 ở Sài Gòn.

Đọc tiếp »

Khát

Trần Dzạ Lữ

                                               Anh cố dìm cơn khát

Giữa sa mạc đời mình

Lặng lẽ làm Bồ Tát

Nơi gió bụi buồn tênh…

 

Anh cố dìm cơn điên

Giữa khuya tàn ánh nến

Và cố câm-như-hến

Đi cho hết đời quen !

 

Đi xuyên qua ưu phiền

Đi xuyên qua nắng lửa

Thế gian này mông mênh

Tìm đâu ra một nửa ?

 

Lần lữa dìm cơn khát

Dìm luôn bản ngã mình

Nhưng ,tình cờ em đến

Địa chấn lại bừng lên …

 

Đất trời cũng ngả nghiêng

Bến bờ xưa dậy sóng

Có thêm nghìn cơn khát

Nhấn chìm anh và em !

 

Không biết ngày và đêm

Không biết trăng sao hỉ ?

Chỉ còn mình nguyên thủy

Tận hiến nhau triền miên…

 

Xóm Cộng Hoà

Bùi Đăng Khoa

Tôi sợ nhất là viết thư, mà đã viết rồi thì không bao giờ đọc trở lại cả. Ý tưởng vừa viết ra đó, chỉ vài phút sau, thấy sao mà “ngố” quá đổi. Nếu “sơn sửa” lại, đọc cho xuôi tai thì cả tuần sau, thư vẫn chưa chịu xuất gia đến thùng thư. Bởi vậy, nên thư vừa viết xong, vội vàng dán lại, gửi đi ngay. Tú tài I học ban B, tú tài hai ban A. Sau “hai Tú” lại “phải” theo học khoa học kỹ thuật. Văn không có, chương lại quên, chữ nghĩa lỏng bỏng…Tôi phục lăn mấy ông cầm bút, chuyện có it, lại xít cho nhiều. Tài thật! Ngồi chưa nóng đít, tôi phải đứng dậy đi cái đã. Từ nhỏ, tôi thích nói chuyện hơn viết. Tháng nào cũng bị phê trong học bạ: “Hay nói chuyện trong lớp”. Đâu phải chỉ chấp nhận lời phê là yên thân đâu, bị ngồi viết phạt dài dài từ 200 đến 300 lần câu: “Tôi không được nói chuyện trong lớp”, sau lúc tan trường hay cà ngày thứ Bảy, Chủ Nhật, trong lúc ngoài kia trời xanh, mây trắng, tiếng chim non chím chíp đợi chờ hay rạp Tân châu đang chiếu phim mới,mà mình phải ngồi đây chịu trận. “Em tập làm văn” bắt đầu từ lớp Ba, lớp Nhì. Nhập đề, thân bài, kết luận. Tả thú vật thì nhập đề rằng: Nhà em có nuôi một con mèo, lông nó vàng…Tả trâu, tả chó, thì cứ theo đó mà..nhập. Đến lúc tả người, vẫn áp dụng cái câu cố hữu đó, ai ngờ lại bị ăn hột vịt lộn (00/20). “Nhà em có nuôi một ông nội, râu ông dài…” Kể chuyện, thì chỉ có năm, bảy người nghe, viết thì có nhiều người cùng nghe, (đọc), vậy thì phải viết, nghĩ sao viết vậy, viết bằng con tim, viết bằng cảm nhận của tấm lòng. Tất cả chuyện cổ tích đều bắt đầu bằng chữ Ngày xưa… Câu chuyện tôi viết đây cũng xưa, viết để tặng những người xưa, để cùng tôi về  lại Quinhơn trong tâm tưởng.

Đọc tiếp »

Xứ Nẫu… một ngày

Hình như những người bạn thân thiết của xunau.org luôn nghĩ ra được những cái cớ để gặp nhau .Ra mắt trang web …nhậu ,một tháng thành lập….nhậu.10.000 phản hồi….nhậu.  Rồi giờ là 200.000 lượt truy cập cũng.. nhậu nốt . Thật lòng mà nói xunau.org hoàn toàn không quan tâm đến chuyện chạy theo thành tích, hình thức phù phiếm. Xứ Nẫu chỉ quan tâm đến một điều duy nhất : tình bạn.tình đồng hương của những người con xứ nẫu như slogan của xunau.org :Nơi gặp gở của những người yêu xứ Nẫu” và làm sao duy trì được chút ấm nồng ấy

200.000 vậy là có sự kiện để làm vài chai..hê hê!

Chị Kim Loan,Kim Chi luôn có mặt trên từng cây số với xunau.org,dù chỉ cụng ly bằng nước suối Aquafina

Ba chàng ngự lâm …tửu lượng cao nhất toàn sân. Nhưng nhìn kỹ thì Hà Văn Hoàng …ly không!

Ngô Thành Hùng và Đoàn Anh Nhơn , hai gương mặt mới toanh của sân chơi

.

.Phan Minh Chính,Lê Đức Vũ ,Vũ Thế Thành và Kim Loan

Vũ Thế Thành nổi tiếng với câu hỏi “Tâu hoàng thượng, khi nào ngài tái sinh?”.trong bài Nẫu cả người…(Nẫu)

.Lê Đức Vinh,DS Trương Tất Thọ và Nam Thi

.Hà Thúc Hùng từ Đà Lạt về,Sáu Nẫu và Mai Thanh

Bốn khuôn mặt đang… ngà ngà

.

.Vinh Rùa và Nam Thi

Ngô Thành Hùng và Đoàn Anh Nhơn

.Hà Thúc Hùng bao giờ cũng là ông già Khốt ta bít ! Hồn nhiên tươi trẻ và nhiệt tình

.Đã tìm được tiếng nói tri âm? Không, có lẽ  dược sĩ chuyên về nam khoa đang tư vấn?

.Mới có mấy chai mà HTHùng đã …phê

.Không biết đang bàn chuyện bí mật gì ?

À thì ra họ đang rủ nhau đi hát karaoke

.Ba khuôn mặt sáng giá nhất trên sàn là Kim Chi,Hà Thúc Hùng ..

Và Hà Văn Hoàng phiêu linh trong bài Hạ Trắng

.Anh Trương Tất Thọ cũng là một giọng hát có cỡ của xunau.org

.Rùa cha Phan Minh Chính đang nhảy xì lô mông cổ…

.Ở  một góc khuất khác ống kính của phóng viên bắt gặp cảnh phụ tử tình thâm của hai cha con nhà Rùa

.Một ngày của xunau.org kết thúc bằng bửa tiệc bánh bèo chén đặt sệt chất  Bình Địng

.Mọi người thưởng thức say mê đặc sản quê nhà

Hai bà chị trước chồng…chiến tích. Ôi!

. Ngày vui nào cũng tàn….Còn cái cớ nào để những người xứ Nẫu chúng ta gặp nhau không?

Sáu Nẫu

Einstein khuyên chúng ta điều gì?

Đã từ lâu, cái tên Albert Einstein luôn gợi cho người ta nhớ đến một thiên tài kiệt xuất. Ông là một nhà vật lý lý thuyết, triết học, nhà văn và hơn hết là một nhà khoa học có tầm ảnh hưởng lớn nhất mọi thời đại.
Năm 1921, Albert Einstein đã được trao giải Nobel về vật lý cho những đóng góp của ông đối với ngành vật lý lý thuyết, mà trước hết là quy luật hiệu ứng quang điện. Einstein được coi là cha đẻ của vật lý hiện đại. Ông đã cho xuất bản hơn 300 công trình khoa học và hơn 150 tác phẩm các loại khác. Dưới đây là 10 lời khuyên bổ ích mà thiên tài này đưa ra:
1. Luôn tập trung
“Tôi không có tài năng gì đặc biệt cả. Tôi đơn giản chỉ đam mê như một kẻ tò mò”. Điều gì đánh thức tính tò mò của bạn? Tôi rất
 quan
 tâm đến nguyên nhân thành công và thất bại của con người. Chính vì vậy, tôi đã dành nhiều năm để nghiên cứu cách mà con người thành công. Còn bạn, bạn quan tâm điều gì nhất? Tính tò mò sẽ thúc đẩy bạn hướng tới thành công.
“Tôi không có tài năng gì đặc biệt cả. Tôi đơn giản chỉ đam mê như một kẻ tò mò”. Điều gì đánh thức tính tò mò của bạn? Tôi rất quan tâm đến nguyên nhân thành công và thất bại của con người. Chính vì vậy, tôi đã dành nhiều năm để nghiên cứu cách mà con người thành công. Còn bạn, bạn quan tâm điều gì nhất? Tính tò mò sẽ thúc đẩy bạn hướng tới thành công.
2. Luôn kiên trì
“Tôi thành công không phải vì tôi thông minh. Đó là kết quả của một quá trình lâu dài mà tôi không
 bao
 giờ đầu hàng khi thực hiện công việc”. Chính nhờ tính kiên trì của mình mà con rùa đã chiến thắng. Bạn đã bao giờ kiên trì đến khi đạt được mục đích của mình chưa? Người ta nói rằng giá trị của bưu phẩm chính là vì cuối cùng nó luôn đến được nơi cần đến.
“Tôi thành công không phải vì tôi thông minh. Đó là kết quả của một quá trình lâu dài mà tôi không bao giờ đầu hàng khi thực hiện công việc”. Chính nhờ tính kiên trì của mình mà con rùa đã chiến thắng. Bạn đã bao giờ kiên trì đến khi đạt được mục đích của mình chưa? Người ta nói rằng giá trị của bưu phẩm chính là vì cuối cùng nó luôn đến được nơi cần đến.

3. Hãy t
p trung vào hin ti
Bố tôi nói rằng người ta không thể cưỡi một lúc 2 con ngựa. Tôi muốn nói rằng bạn hãy làm những gì bạn muốn, nhưng không phải tất cả đều thuận lợi. Hãy học cách tập trung vào công việc hiện tại, hãy thực sự quan tâm đến những gì bạn đang làm hiện nay. Năng lượng được tập trung sẽ tạo thành sức mạnh giúp bạn vượt qua thất bại tiến đến thành công.
Bố tôi nói rằng người ta không thể cưỡi một lúc 2 con ngựa. Tôi muốn nói rằng bạn hãy làm những gì bạn muốn, nhưng không phải tất cả đều thuận lợi. Hãy học cách tập trung vào công việc hiện tại, hãy thực sự quan tâm đến những gì bạn đang làm hiện nay. Năng lượng được tập trung sẽ tạo thành sức mạnh giúp bạn vượt qua thất bại tiến đến thành công.
4. Hãy luôn tưởng tượng
“Tưởng tượng là tất cả. Nó có khả năng giúp chúng ta hình dung những gì sẽ xảy ra. Tưởng tượng quan trọng hơn sự kiến thức”. Hàng ngày, bạn đã sử dụng óc tưởng tượng của mình chưa? Einstein nói rằng tưởng tượng còn quan trọng hơn cả kiến thức đấy! Trí tưởng tượng sẽ cho bạn thấy được tương lai. Có một lần, Einstein từng nói: “Trí thông minh thực sự không phải là kiến thức mà là óc tưởng tượng”.
“Tưởng tượng là tất cả. Nó có khả năng giúp chúng ta hình dung những gì sẽ xảy ra. Tưởng tượng quan trọng hơn sự kiến thức”. Hàng ngày, bạn đã sử dụng óc tưởng tượng của mình chưa? Einstein nói rằng tưởng tượng còn quan trọng hơn cả kiến thức đấy! Trí tưởng tượng sẽ cho bạn thấy được tương lai. Có một lần, Einstein từng nói: “Trí thông minh thực sự không phải là kiến thức mà là óc tưởng tượng”.
5. Hãy luôn sa sai
“Con người không bao giờ biết sửa sai thì sẽ không bao giờ biết tạo ra cái mới cả” Đừng sợ sai. Sai lầm không phải là thất bại. Sai lầm có thể giúp bạn khá hơn, thông minh hơn và nhanh nhẹn hơn, nhưng với một điều kiện là bạn phải nhận ra sai lầm của mình. Muốn thành công, bạn hãy sai lầm nhiều hơn gấp
 3
 lần hiện tại!
“Con người không bao giờ biết sửa sai thì sẽ không bao giờ biết tạo ra cái mới cả”. Đừng sợ sai. Sai lầm không phải là thất bại. Sai lầm có thể giúp bạn khá hơn, thông minh hơn và nhanh nhẹn hơn, nhưng với một điều kiện là bạn phải nhận ra sai lầm của mình. Muốn thành công, bạn hãy sai lầm nhiều hơn gấp 3 lần hiện tại!
6. Hãy luôn sng vi hin ti
“Tôi chưa bao giờ nghĩ về tương lai bởi vì nó sẽ đến”. Cánh duy nhất để đến với tương lai là sống với hiện
 tại.
“Tôi chưa bao giờ nghĩ về tương lai bởi vì nó sẽ đến”. Cách duy nhất để đến với tương lai là sống với hiện tại.
7. Hãy sng có ý nghĩa
f
“Hãy hướng tới những điều có ý nghĩa chứ không phải thành công”. Đừng bao giờ tiêu tốn thời gian của mình để trở thành một người thành công. Hãy làm cho cuộc đời mình trở nên có ý nghĩa. Nếu như bạn là người có ý nghĩa tức là bạn đã thành công. Hãy bộc lộ tất cả tài năng và khả năng của mình, hãy học cách sử dụng chúng! Hãy trở thành người có ý nghĩa, thành công sẽ đến với bạn!
8. Hãy làm mi mình
Bạn không thể đạt được kết quả mới nếu bạn chỉ mãi làm một công việc tương tự từ ngày này qua tháng khác. Hãy thay đổi cuộc sống của mình. Bạn hãy thay đổi hành động và cách tư duy để cuộc sống luôn mới mẻ.
Bạn không thể đạt được kết quả mới nếu bạn chỉ mãi làm một công việc tương tự từ ngày này qua tháng khác. Hãy thay đổi cuộc sống của mình. Bạn hãy thay đổi hành động và cách tư duy để cuộc sống luôn mới mẻ.
9. Kiến thc bt ngun t kinh nghim
“Thông tin thuần tuý không phải là kiến thức. Kinh nghiệm chính là nguồn tư liệu thực sự”. Bạn có thể nghiên cứu một vấn đề rất lâu, nhưng điều đó chỉ mang lại cho bạn những khái niệm kinh viện mà thôi. Muốn hiểu được
 thực chất vấn đề bạn phải thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ mà vấn đề
 đó đặt ra. Sau khi hoàn thành công việc, bạn sẽ có được kinh nghiệm mới và đó chính là kiến thức.
“Thông tin thuần tuý không phải là kiến thức. Kinh nghiệm chính là nguồn tư liệu thực sự”. Bạn có thể nghiên cứu một vấn đề rất lâu, nhưng điều đó chỉ mang lại cho bạn những khái niệm kinh viện mà thôi. Muốn hiểu được thực chất vấn đề bạn phải thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ mà vấn đề đó đặt ra. Sau khi hoàn thành công việc, bạn sẽ có được kinh nghiệm mới và đó chính là kiến thức.
10. Hãy nm được quy lut và chiến thng
“Bạn phải là người nắm được luật chơi rồi sau đó bạn mới có thể chiến thắng”.
“Bạn phải là người nắm được luật chơi rồi sau đó bạn mới có thể chiến thắng”.
Ngc Biên (Theo Pravda)

 

Người đi tìm hồn

Lê Xuân Tiến

Tháng chín, khi mưa gió bắt đầu dầm dề ở kinh thành Phú Xuân, thanh trà cũng chín tới. Những trái thanh trà màu xanh như ngọc, bóng lẫy như đôi vú con gái dậy thì. Bên trong là những tép thanh trà mọng nước ngọt và mát.

Tối hôm nay, dinh Bùi thái sư mở tiệc mừng lứa thanh trà đầu mùa. Bàn tiệc đặt trước hiên dinh, dưới những đèn lồng vàng đỏ tỏa xuống thứ ánh sáng lung linh ấm cúng. Mặc cho mưa lai rai ngoài vườn, trong bàn tiệc vẫn chuốc rượu mê say. Chuyện thanh trà chỉ là cái cớ. Trong dinh Thái sư vẫn ba ngày một tiệc nhỏ, năm ngày một tiệc lớn, thôi đủ mọi lý do: khi hoa nở, lúc trăng lên, lúc mừng toàn chuyện vặt. Cái chính là trong các bữa tiệc này, Bùi thái sư và các quan đồng rơ gặp nhau để tính toán chuyện triều đình, chuyện vây cánh.

Mở đầu tiệc rượu bao giờ cũng là chuyện đọc thơ, bình thơ và họa thơ. Tội nghiệp cho văn học. Lẽ ra nó có chức năng trung thực và cao thượng thì trong dinh Thái sư nó chỉ phục vụ cho những lời nịnh hót. Rượu đi theo thơ. Mỗi lời nịnh là tiêu đi một chén rượu. Mỗi khi Bùi thái sư gật gù, vuốt râu thì mặt người nào cũng sáng lên. Lộc phúc mỗi người sẽ tới từ cái vuốt râu ấy.

Ngắm nghía từng người Bùi thái sư chợt hỏi:

– Tình hình bọn Dũng, Diệu hiện nay ra sao?

Chưởng cơ Trần Đại Thiên – người đang cai quản mấy vạn quân bảo vệ Phú Xuân, đặt chén rượu xuống, vòng tay thưa gởi:

– Võ Văn Dũng trấn thủ Bắc thành, tình hình ngoài ấy rất phức tạp, ông ta trăm công nghìn việc, thì giờ đâu mà nghĩ đến việc triều đình. Còn Trần Quang Diệu đóng quân Diên Khánh, đang lo tối mắt về chuyện Nguyễn Ánh cứ đem quân ra quấy nhiễu, hơi sức đâu mà nghĩ đến chuyện thái sư. Ngoài biên ải không có chuyện gì đáng lo. Chỉ có việc trong triều người đáng lo là Lê Văn Hưng.

Thấy Thiên nhận định đúng ý mình, Bùi thái sư rót ra một chén rượu thưởng. Rượu hôm nay, nồng đậm quá nhưng nghĩ đến Hưng, Bùi thái sư cảm thấy đắng. Thái úy Phạm Công Hưng và đại tư mã Ngô Văn Sở là hai tướng tài, song tính tình nhu hòa, xử sự theo hướng yên dân nên Bùi thái sư rất dễ chiêu dụ. Chỉ cần chức tước, bổng lộc. Còn Lê Văn Hưng xuất thân là đầu đảng trộm cướp, lại ít học nên tính tình ngay thẳng, cương trực. Không thể lấy vàng bạc, nhà cửa mua chuộc. Dù được cấp cho ngôi nhà ngói ba gian ven bờ sông Hương, Hưng vẫn sống rất giản dị. Nhà không có rèm che trướng phủ, tối không có đèn lồng, không có con hát. Hưng vẫn mê ba điệu hát bài chòi dân dã như ở quê nhưng kinh thành làm gì có. Thế là khác với các dinh quan khác, Hưng dẹp tuốt.

Hưng là người “không có tóc”. Thân phận là đứa bé mồ côi, lăn lộn ngoài giang hồ rất sớm. Bà con gần rất ít, nên Bùi Thái sư muốn ban ơn cất nhắc ban phẩm hàm cho họ hàng cũng không tìm ra người. Muốn đưa Hưng lên chức, Hưng nhún nhường từ chối bảo thân phận mình được như vầy là phúc rồi. Bổng lộc, danh lợi không màng thì Bùi thái sư biết lấy gì mồi, nếu không có mồi, làm sao câu được cá. Cả vài năm, Bùi thái sư trăn trở vẫn không tìm ra cách để chiêu dụ Lê Văn Hưng.

Nhưng cách đây hai tháng, Bùi thái sư đã tìm ra ánh sáng cuối đường hầm. Người đáng được thưởng khi đưa ra sáng kiến chính là thái giám Lý Tựu. Nguyên Tựu là người hầu hạ cho Bùi thái hậu. Tựu quê huyện Phong Điền, Phú Xuân, có dáng đi ẻo lả như đàn bà. Viên thái giám này có đôi mắt mỏng lét, nói chuyện dẻo quẹo, cặp lồng mày tỉa tót hình lá liễu như lông mày phụ nữ. Cặp mắt lươn của y luôn luôn liếc ngang liếc dọc. Lúc Bùi Đắc Tuyên còn là thị lang bộ lễ, Quang Toản chỉ mới lên mười, Lý Tựu đã bày kế cho Tuyên với danh nghĩa cậu ruột thường lân la vào cung bày trò vui cho Quang Toản. Nhờ đấy, khi lên ngôi vua Quang Toản đã cất nhắc vượt bậc Đắc Tuyên lên làm thái sư. Nhờ thế, Lý Tựu cũng được nhờ.

Lý Tựu cho Bùi thái sư biết xưa kia, trước khi đi ăn cướp, Lê Văn Hưng có quen với cô gái tên là Ngọc Bích, hai người đã từng thề non hẹn biển. Hưng đã trao nhẫn cho Bích và hẹn năm năm sau sẽ về cưới Bích. Hưng đi ăn cướp rồi sau đó theo Tây Sơn. Bích ở nhà chờ đợi mòn mỏi. Đã qua năm năm mà chưa thấy Hưng về, Bích buồn tủi cho rằng Hưng đã phụ tình nên nhịn ăn mà chết. Nghe được tin Bích chết, Hưng rất hối hận và đau khổ. Dù đi đông, đi tây, đánh nam, dẹp bắc nhưng Hưng vẫn không nguôi nhớ đến Bích. Hôm ở Diên Khánh, Hưng có tổ chức cầu cơ. Nghe nói Bích có hiện về báo cho Hưng biết 13 năm sau, cả hai sẽ hội ngộ. Chuyện ma quỉ có tin được không, hạ hồi phân giải. Nhưng năm nay đúng là 13 năm từ lúc Hưng cầu cơ. Đây là cơ hội cho chúng ta.

– Nghe ông nói, tôi không biết cơ hội gì. Chẳng lẽ chúng ta lại nắn lên một Ngọc Bích thứ hai?

– Một vạn cô gái cũng có hai người giống nhau. Cố công tìm, ắt là có. Chừng đó chúng ta trang điểm lại rồi cho diện kiến với Lê Văn Hưng. Ắt hẳn Hưng sẽ cho là hồn Ngọc Bích đầu thai vào cô gái này. Lê Văn Hưng sẽ rất biết ơn lão thái sư. Chừng đó chúng ta muốn sai biểu Hưng cái gì lại không được. Bọn giang hồ mà, chúng trọng tình hơn lí.

Bùi thái sư cười hà hà, vuốt râu:

– Ông quả là cao kiến. Thằng Hưng này rất giỏi võ nghệ. Một mình hắn với cây roi có thể đánh ngã hàng chục người. Nó theo phe ta, thằng nào đụng tới ta. Hà hà

Nghĩ đến chuyện này, Bùi thái sư chợt nhìn sang Lý Tựu. Gương mặt gã thái giám đỏ lên vì rượu đang vểnh tai chờ thái sư sai bảo.

– Nè ông Tựu, chẳng hay vụ tìm ra cô Ngọc Bích của ông tới đâu rồi?

Gã thái giám cất giọng cười the thé

– Thành công mĩ mãn rồi thái sư ơi. Công lao tôi bỏ ra năm tháng trời tìm từ nam chí bắc không uổng công. Cô này là con gái phú hộ Thâm ở Quảng Nam. Bảo đảm cô ta giống Ngọc Bích như hai giọt nước. Nhìn thấy, thằng Hưng chắc phải mê mẩn.

Bùi thái sư lại vuốt râu:

– Rồi ông sẽ được thưởng. Nghe nói 10 ngày nữa là Lê Văn Hưng giỗ song thân. Ông mau mau đem cô ta lại.

Đến đây, Bùi thái sư lại nâng ly rượu lên mời các quan. Những tiếng khà vang lên như xóa tàn màn mưa ủ dột ngoài trời.

*

Đối với các quan, ngày kị song thân bao giờ cũng tổ chức nổi đình, nổi đám. Trước hết là để khoe của, để rạng rỡ tông môn. Sau đó là để kết giao với giới quyền lực hòng có lúc nhờ đỡ. Song ngày giỗ cha mẹ của Lê Văn Hưng ngay tại kinh thành Phú Xuân lại rất đơn giản. Chỉ một vài mâm cúng và dăm ba bạn thân đồng triều.

Giữa lúc tiệc mới sắp sửa, gia nhân vào báo “có thái sư tới”. Hưng phải đích thân ra cửa nghênh tiếp và tự hỏi: mình không mời, ông ta tới phải có chuyện.

Đi theo Bùi thái sư, lúc nào cũng có Lý thái giám và Trần chưởng cơ. Hưng vòng tay tạ tội:

– Dạ, hôm nay là ngày kị song thân. Hiềm ở chỗ tổ chức đơn giản quá, không dám mời thái sư

Bùi thái sư cười, xua tay

– Không cần lễ nghĩa gì. Lão nghe đề đốc có ngày trả hiếu nên cũng đến đây thắp mấy nén nhang bày tỏ lòng kính trọng.

Lê Văn Hưng thét gia nhân bày tiệc rượu. Ngồi chưa nóng đít, Bùi thái sư nói:

– Hôm nay, lão muốn tặng đề đốc một món quà. Chỉ một cái búng tay của thái sư, ngoài cửa hai tỳ nữ hộ tống một giai nhân mặc áo xanh bước vào. Một mùi hương thoang thoảng. Cô gái có gương mặt bầu bĩnh, mái tóc đen tuyền xõa ngang vai, đôi mắt to, cái miệng nhỏ chúm chím. Lê Văn Hưng nhìn cô gái rồi thảng thốt

– Ngọc Bích, có phải em không?

Phải rồi khuôn mặt này chính là của Ngọc Bích. Giống hệt nhau như hai giọt nước

Thuở hai đứa cùng đi ở cho hai nhà cùng làng chỉ cách nhau một con sông. Sáng nào Hưng dắt bò qua sông để ăn cỏ bờ bên kia cũng gặp cô gái ngồi giặt quần áo ở bờ đá. Qua lại, lần nào cũng gặp nên Hưng buông lời làm quen. Ngọc Bích không trả lời chỉ cười. Một nụ cười có duyên, làm Hưng mê mẩn. Rồi một hôm, trong làng có hát bội, Hưng ngỏ lời mời Bích tối nay cùng đi xem. Ngọc Bích từ chối “Em không quen đến chỗ đông người”. Không tới chỗ đông người lần sau, Hưng hẹn Bích ở bãi dài. Một bãi cỏ xanh ngát với những cây phi lao cao vút. Nhưng Hưng tới chờ một đêm trăng, buồn ngủ muốn chết, cho mãi đến gần khuya, mặc cho muỗi cắn, vẫn không thấy bóng dáng Bích. Sáng hôm sau, vừa thấy Bích ở bến sông, Hưng vội lên tiếng trách, Bích lại khóc thút thít: “Em muốn ra lắm nhưng chủ không cho”. Hưng lại lên tiếng xin lỗi, dỗ dành.

Về sau, Hưng thấy thương Bích như thương một viên ngọc. Rất mỏng manh, dễ vỡ và dễ mất. Bích là một cô bé hay hờn giận và mau nước mắt. Nói mà không giữ lời. Giận. Hẹn đến trễ. Giận. Nói chuyện với người khác phái. Giận. Đùa quá trớn. Cũng giận. Khoảng thời gian mà Hưng kết thân với Bích bao nhiêu hờn giận và bấy nhiêu nước mắt.

Tính Hưng nóng nảy và cộc cằn, anh như lửa cháy còn Bích thì ủy mị yếu đuối, Bích như giòng nước mát. Bích làm cho Hưng mát mẻ và cân bằng. Giờ phút ngồi bên Bích, Hưng cảm thấy hạnh phúc. Nhưng Bích luôn luôn nghi ngờ. Hưng mới rụt rè nắm tay Bích, cô vội vàng rụt lại, hỏi với giọng gay gắt: “Anh đã nắm tay bao nhiêu cô gái rồi”. Hưng lúng túng gãi đầu “đâu có!”. Hưng nhận một cái nhéo vào bắp đùi: “Mới ngồi bên con gái, anh đã vội nắm tay. Anh kinh nghiệm trai gái lắm phải không?”. Hưng ngẩn ngơ không biết trả lời sao. Anh nào biết cô gái nào ngoài Bích. Anh chỉ yêu có mình Bích.

Cuộc cầu cơ 13 năm trước ở Diên Khánh đã ứng nghiệm. Bích đã hứa và bây giờ Bích đã y hẹn. Hưng nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay phải của cô gái. Anh thấy vết hằn của chiếc nhẫn trên ngón tay út. Đúng là trước khi theo Tây Sơn, Hưng có trao cho Bích chiếc nhẫn một chỉ coi như là lễ đính hôn. Bích đã đeo nó vào ngón út chứ không phải ngón kế út. Anh hỏi: “vì sao?, Bích trả lời: “Giàu út ăn, khó út chịu”. Hưng hẹn năm năm sau sẽ về cưới Bích. Nhưng phong trào Tây Sơn như vũ bão. Hưng đã theo Nguyễn Huệ đánh nam dẹp bắc quên cả thời gian. Anh không còn nhớ ngày trở về. Thế rồi ở nhà, Bích đã quyết định xa anh mãi mãi.

Nỗi xúc động tràn ngập trong tâm hồn viên võ tướng. Một viên dũng tướng võ nghệ cao cường của Tây Sơn bỗng rơi nước mắt. Tất cả mọi người kể cả Bùi thái sư đều mờ nhạt trước mắt Hưng. Anh quì xuống trước mặt cô gái. Cô gái đâm hoảng hốt. Còn Bùi thái sư nhoẻn miệng cười mãn nguyện “cá đã cắn câu”. Hưng vừa khóc vừa nói:

– Ngọc Bích, hãy tha tội cho anh.

Cô gái giống Ngọc Bích như tạc không hề biết Ngọc Bích là ai. Cô tên là Thiên Phúc là đứa con gái độc nhất của viên phú hộ xứ Quảng. Đúng như tên gọi, đứa con gái như lộc trời ban xuống cho gia đình lão phú hộ hiếm muộn. Thời nhà Nguyễn, lão còn ruộng đất nhưng Tây Sơn tới đã chuyển hầu hết của lão cho dân nghèo. Cuộc sống của lão trở nên đạm bạc hẩm hiu nếu không nhờ con gái lão mà Bùi thái sư đã ban cho tiền bạc và phẩm tước. Về tới dinh thái sư, Thiên Phúc đã trải qua thời gian học đi đứng, ăn nói cho đúng với hình ảnh Ngọc Bích. Nhưng trước thái độ quá ủy mị của Hưng, Phúc không biết làm sao, cứ nhìn Bùi thái sư cầu cứu. Bùi thái sư nhìn cô nháy mắt, gật đầu.

Bối rối trong giây lát, Phúc nói bằng một giọng nhỏ nhẹ (đã được tập luyện)

– Em đã đến đây rồi

Hưng ngẩng đầu lên

– Nghĩa là em tha thứ

Thiên Phúc khe khẽ gật đầu rồi hai tay nâng Hưng dậy. Hưng đứng lên khóe mắt vẫn còn mấy giọt nước mắt như gương đã vỡ lại lành.

Hai người đứng trước bàn thờ quì lạy song thân. Thế là Thiên Phúc đã về với Lê Văn Hưng.

Lần ân ái đầu tiên với Thiên Phúc đã đưa Văn Hưng lên tuyệt đỉnh cảm xúc. Đã bao lần hẹn hò với Ngọc Bích dù ở những nơi thanh vắng, chưa bao giờ Hưng ôm trọn người yêu trong vòng tay. Vì Bích luôn luôn giữ một khoảng cách trước anh. Cô luôn luôn nói “hãy chờ đợi cho đến ngày ấy”. Nhưng gần Bích, Hưng luôn bị quyến rũ bởi mùi hương con gái trinh nguyên, mùi bồ kết trên mái tóc. Xa Bích làm cho Hưng nhớ quay quắt. Nhưng chiến tranh là sống hay chết, mình không giết, kẻ địch sẽ giết mình. Vì thế nhiều lúc Hưng không còn nhớ đến Bích. Khi nhớ thì “gương đã vỡ” Hưng ôm hận và đáng tiếc. Bây giờ ôm Thiên Phúc, anh cũng bị cái gạt tay chiếu lệ. Rồi Phúc lăn vào anh một cách dữ dội. Nằm bên Phúc mà anh tưởng như nằm bên Bích. Bao nhiêu nhớ thương đã được đền đáp. Hưng ngấu nghiến, say mê như chưa từng có.

Hôm sau, thức dậy Hưng bàng hoàng. Bên anh là một mùi hương khác lạ, không phải là mùi bồ kết dân dã, thôn quê trước đây. Nhìn kĩ người con gái anh vẫn thấy được Bích. Dù là ai đi nữa, Bích đã đến đúng hẹn rồi.

Hôm sau, Hưng mang lễ vật đến phủ thái sư

Bùi thái sư tiếp anh với nụ cười đồng cảm:

– Tôi mừng cho ông tìm được người yêu

– Dạ đêm qua tôi như rồng gặp mây nhưng sáng ra thì áy náy không biết lấy gì trả ơn cho thái sư

Bùi thái sư lại vuốt chòm râu, nhẹ nhàng bảo:

– Ơn nghĩa gì đâu, chỉ cần đề đốc cư xử đúng mực là được

– Thế nghĩa là sao? Thái sư chỉ bảo thêm

– Trong triều có kẻ không ưa lão, nên nói bậy nói bạ, họ có lôi kéo ông, ông cứ giữ mực trung dung như xưa nay: trung với vua, hiếu với nước là được.

– Gì chứ chuyện đó, dễ quá. Tôi xin tuân lệnh thái sư

Bùi thái sư cười rung rung cả chòm râu. Như vậy mục đích ông đặt ra đã đạt rồi

Lúc bấy giờ, trong triều đình phân hóa làm hai phe. Một phe ra sức nịnh nọt Bùi thái sư. Phe này thuê bọn làm thơ, ngày đêm làm ra những bài thơ ca ngợi Bùi Đắc Tuyên như một ngôi sao sáng vì dân vì nước. Bọn làm thơ thì tự cao tự đắc coi thiên hạ như cỏ rác mà thực chất chỉ là bọn giòi bọ bám vào đống phân. Phe thứ hai rất bất bình trước cách cư xử của Tuyên nhưng phần lớn im lặng, chỉ có một số người phản kháng thì hoặc là cách chức, hoặc bị lưu đày. Những trung thần có tiếng nói ngược lại thì hôm sau nhận chiếu chỉ của Quang Toản nhẹ thì lưu đày, nặng thì cách chức.

Một hôm Trần Long Vĩ đến dinh đề đốc với bộ mặt căng thẳng. Y lấm lét nhìn chung quanh rồi hỏi nhỏ Hưng:

– Ông là tướng Tây Sơn, theo tiên đế chinh chiến khắp nơi mà thấy cảnh chướng tai, gai mắt ở triều đình mà ông cứ ngồi yên là sao?

Lê Văn Hưng nhìn trừng trừng vào Trần Long Vĩ:

– Tới nhà tôi chơi, đừng bàn chuyện triều đình. Tôi không muốn nghe đâu

Trần Long Vĩ ngồi lại nói mấy câu nửa chừng thấy Hưng bịt tai, bẽn lẽn cáo lui như con chó cụp đuôi.

Hôm khác, vị quan đồng triều là Đình Sĩ An hớt hải chạy tới gặp Hưng, khuôn mặt uất ức

– Tôi có thằng cháu ở quê lên Phú Xuân chơi. Mải mê ngắm cảnh nhà phố nên không nghe tiếng ngựa, tiếng người thét tránh đường. Lúc đó quan chưởng cơ đang đi tuần. Vậy mà thằng lính đâm cháu tôi lòi ruột. Tôi tâu với quan thái sư xử tội kẻ giết người mà quan vẫn giả lơ. Biết ông có vai vế trong triều, ông nói giùm với thái sư một tiếng.

Lê Văn Hưng mặt lạnh như đồng, thản nhiên nói:

– Việc đó, xin ông nhờ người khác

Sĩ An nhìn vào mặt Hưng như nhìn con vật lạ

– Thôi rồi, người cương trực như ông mà đối xử như vậy thì nhà Tây Sơn suy sụp rồi.

Đình Sĩ An vừa bưng mặt vừa chạy ra khỏi nhà.

Không biết vì sao, tin tức ở đây lọt vào tai Bùi thái sư. Hôm sau, có chiếu chỉ của vua Cảnh Thịnh cách chức cả hai người.

Thường ngày Lê Văn Hưng rất quí Võ Văn Cao. Ông ta quê ở Phú Yên làm quốc tử giám trực giảng rồi thăng làm thái tử Trung Doãn thời Quang Trung, Võ Văn Cao đúng là một trí thức thời Tây Sơn. Kiến thức rộng nhưng Văn Cao luôn khiêm tốn, tính tình cương trực. Văn Cao cũng quí Hưng, thích cái tính mộc mạc, chân quê không rườm rà, huê dạng của một vị tướng xuất thân từ giới đạo tặc.

Rồi Văn Cao đến dinh của Hưng. Ông nói đến để chào từ biệt, về quê cư tang mẹ nhưng chắc ông không trở lại triều đình. Ông từ quan để ở nhà cày ruộng. Giọng ông xúc cảm:

– Thấy trái mà sợ, không mở miệng được. Ăn ba đấu gạo của dân chỉ làm bù nhìn thì ngồi ở triều đình để làm gì.

Lần này, Hưng không thể làm mặt lạnh được nữa

– Chuyện gì mà không nói được

Gương mặt Võ Văn Cao đau khổ:

– Chính ông là võ tướng nổi tiếng ngang tàng mà phải ngậm miệng huống chi tôi.

Hưng nghe nói, miệng chỉ ừ hử mà lòng đã bắt đầu xốn xang. Văn Cao về rồi, triều đình này còn ai để bầu bạn. Mấy tháng sau, Hưng nhận được thư của Võ Văn Cao. Mở ra, Hưng nhìn thấy một số bài thơ của Cao chê Tuyên là gian thần. Hưng lật đật đưa cho Thiên Phúc đốt đi. Không biết sao mấy bài thơ lại rơi vào tay của Bùi thái sư. Tuyên rất căm hận Cao, đến khi Cao chết Tuyên còn truyền cho quan huyện địa phương bắt phải mở quan tài ra xem coi thử chết thật hay chết giả.

Nghĩa tử là nghĩa tận, Hưng không chấp nhất hành động thô bỉ với người chết. Ngay khi nghe tin, Hưng đã đến tận dinh của thái sư để phản đối. Giống như chuyện mẹ Mạnh Tử, ba lần bị người vu cáo con mình là kẻ cướp, bà phải bỏ chạy. Niềm tin của Hưng với quan thái sư đã xói mòn. Khi Hưng đến phản đối Bùi thái sư tái mặt nói lại với thuộc hạ “thằng này đã phản chủ”.

Sau mấy tuần thân thiết với Thiên Phúc, Hưng thấy tình cảm không giống như những ngày đầu. Trong đầu Hưng bỗng hiện lên những dấu hỏi nghi ngại. Lại gần Thiên Phúc, Hưng nhận ra đó là Ngọc Bích ở khuôn mặt, ở cơ thể nhưng mùi hương da thịt không phải là nàng. Ngọc Bích là đóa hoa dại của đồng nội, hương thơm của cây cỏ, đồng ruộng. Còn Thiên Phúc là hoa kiểng nhà giàu, hương thơm sực nức nhưng kiêu sa không hợp với một thằng bụi đời như Lê Văn Hưng. Ngọc Bích như đóa hoa luôn khép cánh, còn Thiên Phúc lúc nào cũng mãn khai, không còn gì gợi sự tò mò. Qua đêm tân hôn, Hưng đã nhìn thấy Thiên Phúc tận đáy. Thỏa thê chỉ mang lại cảm giác chán chê.

Về với Hưng, Thiên Phúc đã biến dinh đề đốc trở thành lộng lẫy với rèm che trướng phủ và đèn lồng xanh đỏ vào ban đêm. Vài đêm lại có một đêm ca Huế xôn xao kèn trống. Ngọc Bích đâu có biết đến ca Huế nàng chỉ thích hát bội, bài chòi. Những đêm có hội thường có hát bội là đêm vui của hai đứa. Ngồi nghe ca Huế, Hưng thấy mất hình ảnh Ngọc Bích. Có đêm Hưng rời bỏ cuộc vui nửa chừng, đi tìm bọn vạn đò uống rượu đến sáng mới bò về nhà.

Hưng rất ghét Lý thái giám. Đàn ông không ra đàn ông mà cũng chẳng phải đàn bà. Cặp môi mỏng lét chỉ chuyên nói lời nịnh nọt. Nhưng vài ba đêm, Thiên Phúc lại gặp thái giám. Hình như để xin xỏ gì gì đó cho bà con họ hàng. Thật khác xa với Ngọc Bích, sống khẳng khái ít khi bợ đỡ ai. Từ đó Hưng có cái nhìn khác với Thiên Phúc.

Trước đây trong giấc mộng Ngọc Bích lại hiện về. Bây giờ có Ngọc Bích mới, Hưng không còn thấy nàng nữa. Ngọc Bích ở cạnh Hưng hiện nay chỉ là thể xác là dung mạo. Một cái thể xác rỗng không. Linh hồn của Ngọc Bích không có mặt ở đây. Bây giờ Hưng mới thấy rõ: cái đẹp của thể xác chỉ là nhất thời còn cái đẹp ở linh hồn mới là vĩnh viễn. Phụ nữ đến tuổi già đâu còn nhan sắc, nhưng họ vẫn còn tính cách, linh hồn.

Những ngày trôi qua với Thiên Phúc là những ngày buồn bã. Càng ngày Hưng lại nhìn thấy những cảnh chướng tai gai mắt ở triều đình. Hưng uống rượu nhiều hơn, nhiều lúc say mèm, Hưng lại muốn nhìn Ngọc Bích trong giấc mộng. Nhưng Hưng không thấy gì cả. Hưng muốn trở lại Diên Khánh để tìm lại nàng như 13 năm trước đã gặp trong buổi cầu cơ. Làm võ tướng anh sốt ruột khi thấy bọn ăn không ngồi rồi, suốt ngày chia phe phái chém giết lẫn nhau. Trong khi ngoài mặt trận biết bao nhiêu chiến sĩ Tây Sơn đang đổ máu để bảo vệ cơ đồ.

Lê Văn Hưng đã lên xin thái sư được ra chiến trường. Bọn Lý Tựu, Trần Đại Thiên bàn với Bùi thái sư là không nên “nuôi hổ gầm giường”. Sáng hôm sau có chiếu chỉ của vua Cảnh Thịnh, cấp một vạn quân cho Lê Văn Hưng đi Diên Khánh hỗ trợ cho Trần Quang Diệu.

Lê Văn Hưng điểm binh và tức tốc lên đường. Thiên Phúc hay tin muộn, thảng thốt vì Hưng không một lời từ giã. Nàng xúi gia nhân đóng ngựa vào xe, đuổi theo. Nhưng tới đèo Hải Vân thì mất dấu.

Thiên Phúc dừng ngựa ở đỉnh đèo nhìn bốn bể núi đồi chập chùng, biển trải rộng mênh mông. Bên tai chỉ nghe tiếng chim kêu, tiếng vượn rú. Thiên Phúc bưng mặt, nghẹn ngào cất tiếng khóc.

Lê Xuân Tiến

Xuân

 Trần Bá Nghĩa
xuân đấy ư
ôi xuân xanh xao quá
cái gì đây sao mi rực thế kia
hồn ta đâu
hay tan biến cả rồi
thôi lùi lại
đừng đùa ta dai thế.
*
đã biết rồi ngàn năm không còn nữa
một lứa tình vừa mới chớm trong phôi
ta cũng biết muôn đời không trở lại
một lần tình quay gót bước sang sông
*
trái tim lặng ngắt biết còn không
từ lúc duyên yêu dậy lấy chồng
giữa dòng lạnh lẽo đời cô quạnh
mỗi tiếng cuốc côi khóc bên sông.

(ĐVO) Ngoài đại bác, quân Tây Sơn còn được trang bị một loại vũ khí đặc biệt là Hỏa hổ – súng tung lửa, biến địch thành cây đuốc sống.

Theo sử sách, Hỏa hổ của quân Tây Sơn là một loại vũ khí hình ống, được mô tả: “Hỏa đồng còn có tên là hỏa hổ, có bầu lớn dài chừng một thước, khi lâm trận phun lửa, trong ống tống nhựa thông ra, trúng phải đâu, lập tức bốc cháy…”.

Loại vũ khí đặc biệt này được trang bị cho tất cả binh chủng lục quân, thủy quân của Tây Sơn.

Vua Quang Trung có tiếng nói như chuông, mắt lập lòe như ánh điện; là người thông minh, giỏi chiến đấu.

Sách Hổ trướng khu cơ ghi: Hỏa hổ chính là hỏa tiễn (vì lửa cháy dữ dội, nên gọi là hỏa hổ). Sử sách thời Nguyễn thường gọi Hỏa hổ là hỏa phún đồng. So sánh cách chế tạo, thì thấy loại vũ khí này được cải tiến từ các hỏa đồng (ống lửa) hạng nhỏ thời Lê sơ. Trong tay nghĩa quân Tây Sơn, nó được dùng một cách tập trung, ồ ạt, tạo thành hỏa lực giáp chiến hết sức lợi hại. Song, điều đáng nói là vua Quang Trung đã chế tạo ra hỏa hổ bằng những ống tre, trở thành một khí cá nhân có tính sát thương lớn. Nếu đem so với những khẩu súng hỏa đồng của quân nhà Trịnh hay súng pháo lớn cần hàng chục người vận chuyển của nhà Minh, nhà Thanh thì sáng tạo này của Quang Trung đã tiến xa cả về công nghệ, lẫn ý nghĩa thực tiễn trong chiến đấu.

Theo sách Những khám phá về hoàng đế Quang Trung, vào năm 1786, khi quân Tây Sơn ra Thăng Long chặn đuổi bọn quan lại nhà Lê, lính Bắc Hà đã tận mắt chứng kiến sức mạnh của Hỏa hổ Tây Sơn: “Các đội quân Trịnh thấy mũi giáo Tây Sơn quá sắc liệu không chống nổi, cố sức lấy súng lớn bắn ra, quân Tây Sơn đều cúi đầu tránh đạn mà nhảy vào. Chúa Trịnh mặc nhung phục, đứng trên voi phất cờ hồng thúc các quân. Quân Tây Sơn lấy ông Hỏa hổ tung ra, quân Trịnh đều tan vỡ, vứt gươm, bỏ giáo, xô nhau chạy trốn thể như núi đổ…”

Quân Thanh nghe tiếng Hoả hổ của Tây Sơn cũng khiếp sợ, nên trong 8 điều quân luật, có điều thứ 5 để chống lại Hoả hổ như sau: “Quân Nam không có sở trường gì khác, toàn dùng ống phun lửa làm lợi khí, gọi là hoả hổ. Khi hai quân giáp nhau, trước hết họ dùng thứ đó để đốt cháy quần áo người ta, buộc người ta phải rút lui. Nhưng tài nghệ của họ cũng chỉ có thế thôi, so với súng ống của ta thì họ kém rất ra… Hiện nay, ta chế sẵn vài trăm lá chắn da trâu sống. Nếu gặp Hoả hổ của người Nam phun lửa, thì quân tay cầm lá chắn ấy đỡ lửa một tay cầm dao chém bừa chắc rằng chúng bỏ chạy tan tác”.

Hoa hổ của quân Tây Sơn có thể biến địch thành cây đuốc sống.

Một số tài liệu cũng cho biết, trong lục chiến, vua Quang Trung thường dùng tượng binh phá kỵ binh, dùng hỏa hổ gây rối loạn bộ binh, rồi xông lên xáp la cà. Còn trong thủy chiến, nhà vua rất hay dùng lối đánh áp sát để hạn chế sức sát thương của đại bác địch, rồi triển khai hỏa công để đốt tàu địch, tức dạng Hỏa hổ có tên gọi Rồng cỏ – thực chất là một loại bãi cháy dùng đánh hoả công để vây đốt binh thuyền của địch, mà điển hình và ngoạn mục nhất là trận đánh hoả công do Nguyễn Huệ chỉ huy, đã đốt cháy tàu chiến của Manuel ở chiến trường Gia Định vào năm 1782.

Khi đó, Nguyễn Ánh thông qua Bá Đa Lộc nhận được viện trợ quân sự của Pháp – Bồ Đào Nha, tập hợp được một lực lượng gần 3 vạn thủy quân đi trên gần 500 chiến thuyền trong đó có 2 tàu chiến kiểu châu Âu và 3 tàu Bồ Đào Nha: mỗi tàu có 10 đại bác và được bọc đồng. Đội tàu châu Âu do một sĩ quan Pháp là Manuel chỉ huy.

Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Nguyễn Huệ, lợi dụng chiều gió, quân Tây Sơn ào ạt áp sát chiến thuyền quân Nguyễn – Pháp, dùng Rồng cỏ lợi hại tấn công, khiến chiến thuyền của Manuel bị vây trong vòng vây và bị đốt chìm. Manuel tử trận, thủy quân của Nguyễn Ánh bị đánh tan tác, chỉ còn một số ít chạy dạt xuống Phú Quốc.

Như vậy, rõ là trong nghệ thuật quân sự thời xưa, việc dùng lửa tiêu diệt quân địch là một chiến thuật kinh điển, cho phép sử dụng tối thiểu sức người, hạn chế thương vong nhưng vẫn đạt uy lực tiêu diệt địch một cách tối đa.

1. Trong lịch sử Việt Nam có duy nhất hai vị tướng bách chiến bách thắng, cả đời cầm quân chưa thua trận nào, đó là Phạm Ngũ Lão và vua Quang Trung.Nguyễn Huệ (1753-1792) sinh năm 1753, còn có tên Nguyễn Quang Bình; là em út trong gia đình có ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Tổ của Nguyễn Huệ họ Hồ, nhưng khi khởi nghĩa ở Quy Nhơn, lấy họ mẹ (Nguyễn).Sách Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện chép, Nguyễn Văn Huệ có tiếng nói như chuông, mắt lập lòe như ánh điện; là người thông minh, giỏi chiến đấu. Ông cầm quân từ năm 17 tuổi, đánh đông dẹp bắc toàn đều toàn thắng nhờ vào phương châm chiến thuật: bí mật và thần tốc, lấy chính binh làm chủ, kỳ binh làm phụ. Đỉnh cao nhất là trận phá quân Xiêm – Nguyễn ở Rạch Gầm – Xoài Mút và chiến dịch đại phá 20 vạn quân Thanh.

Vua Quang Trung mất ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16 tháng 9 năm 1792), vào khoảng 11-12hđêm, ở ngôi 4 năm, thọ 40 tuổi, miếu hiệu là Thái Tổ Vũ hoàng đế. Hiện nay, có đền thờ tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

2. Theo Binh thư yếu lược, bài thuốc súng và cách chế Hỏa hổ rất giống nhau: dùng một cái ống (bằng sắt hoặc bằng tre, gỗ) dài khoảng 25cm, nạp thuốc thành nhiều nấc.

Nấc đầu tiên là liều thuốc bắn, giã nén chặt dày khoảng 4cm, sau đó tiếp nấc thứ hai là liều thuốc phun, giã nén chặt, dày khoảng 12cm. Sau đó, nạp đạn ghém gồm các vật liệu sát thương, dày khoảng 4cm. Phần ống còn lại nạp dầy thuốc phun.

Gặp địch, người dùng hỏa hổ châm ngòi, cầm cán tre chĩa vào, thuốc phun và đạn sẽ phóng ra đốt cháy sát thương đối phương. Dùng xong lại có thể lấy ống đó nạp liều thuốc khác.

Lặng lẽ với Quy Nhơn

Phạm Văn Phương

Khi tôi biết yêu, Người đã ở đó rồi

Một thành phố nhỏ nhoi và bình lặng

Thành phố không dèn mầu và âm âm tiếng sóng

Bạn bè đông vui

 

Rồi chúng tôi chia tay, mối đứa một góc trời

Thi thoảng gặp nhau thường nhắc

Ly rượu ấm trong chiều gió bấc

Nụ cười giêng hai

 

Đi hết thanh xuân, ngừoi vẫn mong ngừơi

Thương nhớ quá mà không tìm nhau được

Thành phố đồi thay nhiều, ai cũng khác

Bạn bè dần vơi

 

( Lòng vẫn yêu hoài một thành phố nhỏ nhoi

Thành phố không đèn mầu, và em bình lặng

Sóng cứ vỗ mênh mang vào xa vắng…)

 

Tôi lại về trong buâng khuâng đêm

Năm tháng như mây trời phiêu dạt

Sợi tóc trắng cầm tay soi dưới nguyệt

Trăng không mầu, em trong chiêm bao

 

Những con còng se cát đã về đâu?

 

Bí mật làng bí đao khổng lồ

Ít ai biết vì sao bí đao ở Chánh Trạch (xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định) lại to nặng đến 30, 40kg, thậm chí 80kg. Chỉ biết là vì những trái bí đó, ngôi làng nhỏ này đang được nhiều người kéo tới tham quan.Một trái bí đao nặng 25 – 35kg: chuyện nhỏ!
Đó là khẳng định của bạn Công Tình (lớp 9A7 trường THCS Mỹ Thọ). “Vụ vừa rồi, nhà mình trồng được hơn 50 trái bí đao. Trái to nhất trên 40kg, trung bình là khoảng 25 – 35kg, “bét” nhất một trái cũng khoảng 20kg”, Tình cung cấp số liệu “khổng lồ” và minh chứng bằng việc chỉ vào đám tre dài xếp trong góc vườn bảo: “Nhà mình phải dùng những cây tre lớn như vậy làm giàn mới chịu nổi đó!”.

Người dân Chánh Trạch không rõ giống bí này từ đâu ra, ngay cả lão nông Tư Thắng, 62 tuổi, người có “thâm niên” trồng bí khổng lồ cũng chỉ biết “do ông bà mình để lại”. Ông Tư Thắng kể: “Hồi đó, có những trái cao tới 1,4m, bốn người rinh không xuể. Còn chuyện bí đao 50 – 60 kg là chuyện thường, có trái nặng đến 80 kg lu ´n!”.



Bí đao Chánh Trạch không chỉ nổi tiếng vì “khổng lồ” mà còn nổi tiếng thơm, ngọt. Đặc biệt, thời gian lưu giữ lên đến 5 – 6 tháng nên ngoài việc xẻ bí đem ra chợ bán, một số người còn trữ bí đợi gần Tết bán cho những lò làm mứt. Chưa hết, sau khi thu hoạch trái xong, dây bí đao là một “đặc sản”, mỗi dây có thể cho đến 2 – 3 lít nước mát, cực kì tốt để giải nhiệt, lợi ích cho sức khỏe.

Mùa bí khổng lồ bội thu

Khổng lồ cũng có cái khó của khổng lồ, bởi vì cho dù nấu canh, xào, luộc… gì đi nữa thì cả nhà cũng không ăn hết một trái trong vài ngày. Nên trước đây loại bí này khó bán, 1 kg chỉ bán chừng 800 đến 1.000 đồng, xẻ một trái bán một ngày không hết khiến mọi người ngại trồng. Nhưng bây giờ đã khác, bí khổng lồ Chánh Trạch đã có danh có tiếng, nhiều công ti chế biến thực phẩm sẵn sàng đưa xe đến tận các giàn bí của Chánh Trạch, ngôi làng nhỏ ven biển Bình Định, để mua được những quả bí to mà rất thơm ngọt. Thời điểm này năm trước, nhà nào cũng có bí trữ bán Tết, bây giờ bí đã bán sạch. Và người dân Chánh Trạch đang xôn xao chuẩn bị cho mùa vụ mới…

Không chỉ có bí đao khổng lồ

Không chỉ bí đao mới khổng lồ mà dưa leo (dưa chuột) cũng khổng lồ. Dưa leo nặng khoảng 1 đến 1,5 kg là chuyện thường ngày ở…. Chánh Trạch. Cá biệt có trái nặng đến 2 kg. Lạ là dù trái lớn như vậy nhưng vẫn giòn và ngọt, thậm chí ngon hơn cả dưa nhỏ loại ngon khác.

Người dân Chánh Trạch còn tự hào về loại nếp ba tháng nổi tiếng về độ dẻo và thơm. Nếp thơm lạ lùng, đến mùa nếp chín mà đi ngang đồng nếp nghe mùi thơm của nó thôi là “thương” lắm rồi.. Cũng như bí đao, dưa chuột, nếp ba tháng được làng Chánh Trạch “ưu ái” nhất trong mùa Tết.. Bởi các loại bánh dân gian ngày Tết như bánh chưng, bánh tét, bánh in… được chế biến từ nếp ba tháng được bà con ở đây gọi là “ngon nhất xứ”.

Và bạn có muốn biết bí mật của làng bí khổng lồ?

Điều lạ là có đem hạt giống tốt nhất ở Chánh Trạch đi trồng ở xứ khác thì bí đao, dưa leo và nếp cũng không thể nào to, ngon như ở Chánh Trạch. Theo các cụ lớn tuổi thì Chánh Trạch đất pha cát, bên dưới có lớp nước ngầm chảy sâu từ 15 – 20m có thể là yếu tố tạo nên sự “kì diệu” đó.
Lão nông Tư Thắng trải lòng: “Điều kiện thời tiết thuận lợi là căn bản. Nhưng nếu không chăm sóc hết lòng thì không có những trái khổng lồ đâu!”. Nhìn đôi bàn tay chai sạn, nhìn cách chăm chút từng đường rãnh, nâng niu từng hạt giống của ông, mới hiểu rằng sự cần cù, chịu thương chịu khó của nông dân Chánh Trạch mới chính là “phép lạ” tạo nên “thế giới khổng lồ” tại ngôi làng nhỏ bé Chánh Trạch.

Đoàn Anh Nhơn sưu tầm