Feeds:
Bài viết
Bình luận

..Buổi trưa nắng , con đường du hành ven biển Nha Trang tuyệt đẹp. Có những cung đường hệt như tranh

.Bình yên và đơn côi

. Đi ngang khu du lịch hoang phế của đại gia Nguyễn Đức Chi dưới chân đèo Rù Rì ,chợt ngẩm nghĩ về những ánh chớp của phù vân  .Mới đại gia ngày nào….giờ…nhất nhật tại tù.

.

Thoáng chốc trong miên man dòng nghĩ suy vụn, đã qua đèo Cổ Mã .

Đoàn ghé thư giãn cafe cà pháo ở Đại Lãnh lấy sức chuẩn bị  vượt đèo Cả .Cả một rừng cờ chuối phất phơ đón đoàn. Qủa thật mình cũng không hiểu nổi ý nghĩa của những lá cờ dị hợm này

. Phú Yên đây rồi

.Đảo Hòn Nưa một địa danh khá nổi tiếng, ranh giới trên biển giữa hai tỉnh Phú và Khánh

.Núi Đá Bia  và những huyền thoại thực thực hư hư về Lê Thánh Tôn đề thơ

Cảng Vũng Rô.  May quá chiến tranh đã lùi xa!

.Cầu Đà Rằng vắt qua Sông Ba

.Buổi chiều bến cá Tuy Hòa khá nhộn nhịp

.Mấy người học trò cũ đã chờ sẵn bên mâm rượu tẩy trần… Nhưng ngồi xe máy lạnh làm gì có bụi ?

Người đang rót bia là anh Phạm Ngọc Phi Tổng biên tập báo Phú Yên .Kế bên, anh Lê Văn Học và anh Nguyễn Văn Ngôn hai hiệu trưởng của hai trường trung học ở Tuy Hòa cũng là hai còm sĩ của xunau.org

.Tuy Hòa đượcxem như thủ phủ của cá ngừ đại dương . Do đó, các món nhậu chủ lực vẫn là cá ngừ mù tạt, cá ngừ hấp và mắt cá ngừ tiềm…Gía một kí cá ngừ ở Tuy Hòa khoảng 250.000. Gia công chế biến chút xíu,xuất qua Nhật những 80 USD

.Nhưng đối với Sáu ,đặc sản  “ngon” nhất của Tuy Hòa vẫn là Trần Huiền Ân. Đến Tuy Hòa mà không nhắm rượu với THA thì đã mất đi 50% thú ăn chơi. Trần Huiền Ân bảo ” rất bất ngờ và hạnh phúc khi đón đoàn”. Anh cũng mong bà con xunau.org thông cảm vì dạo này sức khỏe yêu yếu…nên chậm trể trong recom. Năm nay anh vừa tròn….76

. Những người bạn ở Tuy Hòa thiết tha mời đoàn nghỉ lại Phú Yên một đêm . Nhưng …cuộc vui nào cũng phải tàn. Về nhà thôi.!

 Sáu Nẫu

Hồ Ngạc Ngữ


Em cắn mùa Đông trong củ sắn
Đôi môi mềm theo rét nhớ thương
Quy Nhơn có những ngày tháng Chạp
Những nụ cười thơm những mùi hương

Có mùa Xuân đi vào Ghềnh Ráng
Qua đèo Son hái trái sim rừng
Anh muốn hái thật nhiều hoa dại
Ướp hương vào mái tóc người dưng

Em có thấy mùa Thu trên phố
Đang vàng rơm những chiếc lá bàng
Đêm em nằm nghe cơn sóng vỗ
Đâu biết một người nhặt lá lang thang

Quy Nhơn có những cành phượng đỏ
Cho yêu thương cháy suốt mùa Hè
Khi xa rồi, lòng ai cũng nhớ
Một khoảng trời xanh thẳm tiếng ve…

19.02.2012

Cá diếc sông Côn

Trong muôn vàn loài cá ẩn mình dưới dòng nước sông Côn, cá diếc là sản vật nổi tiếng của vùng miền.

Món cá diếc nấu rau răm. Ảnh: Đ.T.Trực
Sông Côn là dòng sông lớn của tỉnh Bình Định, khởi nguồn từ Tây nguyên, chảy qua thị xã An Khê (tỉnh Gia Lai) rồi về các huyện An Lão, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, Vân Canh, An Nhơn và Tuy Phước của Bình Định. Một ngày giữa mùa xuân, chúng tôi tề tựu bên bờ sông Côn, ngồi bên dãy hàng quán dân dã nhâm nhi ly rượu ngắm bến My Lăng mơ màng huyền ảo. Cô chủ quán dọn lên bao nhiêu là món ngon được chế biến từ con cá diếc được những ngư dân đánh bắt từ dòng sông. Nào là cá diếc nướng, cá diếc chiên giòn nhưng đậm đà hơn hết là món cá diếc nấu rau răm.
Ôi, có gì đâu, chỉ một lò lửa, một xoong nước, một mớ cá và một rổ rau răm cùng với một chén gia vị, thế mà đậm đà, đậm tình và hào phóng hơn cả các thức ngon từng ăn đâu đó trong nhà hàng sang trọng.
Ăn cá diếc nấu rau răm, uống ngụm rượu Bàu Đá, ngồi tán chuyện đời, chuyện làm với anh em sau bao ngày gặp lại, phải nói như chưa bao giờ ta có được hôm nay. Theo cô chủ quán, cá diếc có khắp nơi nhưng cá diếc sông Côn thịt chắc hơn vì cá vận động nhiều trong dòng chảy nên ăn ngọt, xương mềm. Cá được người chài thả lưới đánh bắt giữa ban ngày rồi đem bỏ cho các quán, các quán bán lại cho du khách đến đây thưởng ngoạn chỉ đủ trong ngày, vì vậy con cá dọn cho khách bao giờ cũng rất tươi, chất lượng tuyệt vời.
Và quả đúng, khi chúng tôi ngồi ở quán, chốc chốc lại có ông lái đò nhẹ nhàng rẽ dòng nước chống thuyền vào bờ giao cá cho cô chủ quán. Những lúc đó, có một số khách bàn bên tùy thích đến mua nguyên phần cá còn sống trên tay ông lái đò rồi nhờ chế biến tại chỗ theo sở thích.
Đào Tấn Trực
Nguồn: TNO

 

 

Ta là của nhau

.
Tiếc chi chuyện xa xưa,
lời đâu nói cho vừa,
như tình trong sách sử,
cho người đời khen chê.
.
Ta bên nhau ngày đó,
bao men ấm tuyệt vời,
bao niềm riêng hạnh phúc,
đâu biết rồi xa xôi.
.

Giữ cho nhau một chút,
hương ái ân đầu đời,
dẫu ngày nay xa cách,
lòng vẫn không xa xôi.

.

Lá xanh nay đã úa,
anh bơ vơ đêm dài,
mơ chi đời mãi đẹp,
cho nặng oằn đôi vai.

.

Thì thôi em yêu hỡi,
nhớ anh nhớ lấy lời,
dẫu ta trong cách biệt,
mình mãi hoài của nhau

Khúc Dương Ca

Nguyễn Quy


                    

                               Tặng Ngô Đình Hải ( kèm những nụ cười)

 

.

Ai cũng làm thơ ca tụng đàn bà
Còn đàn ông thì ít thèm đếm xỉa
Tủi phận thân ta – sinh ra (là) giống đực
Dấu cộng là gì em có biết chưa ?
 .
Đàn ông là anh. Anh là dấu cộng
Trong giấc mộng của đàn bà hơi bị có … đàn ông
Thường thì đàn bà chỉ tạm yên lòng
Khi đàn ông không lông bông ngồi quán
 
Đàn ông nhậu hoài không hề biết chán
Buồn – vui gì cũng hò hét “dzô dzô”
Mặt đỏ – tay quơ – lưỡi líu – mắt đờ
Cơm nhà bỏ bửa, phở tái … mấy tô (!)
 .
Đàn ông đôi khi làm bộ ngây ngô
Trước mặt vợ nhà hiền khô như đất
Hì hục … làm ăn chẳng nói năng gì
Vợ vắng mặt rồi … hoạt bát tức thì !
 .
Kể tội đàn ông chưa công bằng lắm
Trung – hiếu hai vai, trụ cột trong nhà
Đàn ông luôn luôn cần có đàn bà
Nếu không đàn ông chỉ là … dấu cộng
 .
Dấu cộng là gì em có biết không ?
Dấu cộng là dương nằm cạnh … dấu âm
Dấu âm là trừ nằm gần … dấu cộng
Âm-em , Dương-anh – nghĩa vợ tình chồng …
 
Xuyên Mộc cuối tháng hai 2012

Bến Đỗ

Cuối cùng Nguyên Hạ_Lê NguyễnPhạm Quang Hải  đã cùng chung bến đỗ… khi hai con tàu chung một sân ga. Xứ Nẫu xin giới thiệu tản văn Bến Đỗ và một vài hình ảnh buổi ra mắt bạn bè tại nhà hàng Sông Trăng vào ngày 18/2 vừa qua


Nguyên Hạ_Lê Nguyễn

 
Hình ảnh một chiếc thuyền nhỏ trên bến sông luôn khắc ghi trong tâm tưởng tôi một âm hưởng não nùng và bất tận…Có lẽ tính tôi hay “mít ướt” và nỗi buồn vương vấn trong tâm hồn bé dại ngay từ tuổi lên sáu lên năm….

Ngày đó….là những ngày dài bên căn nhà rộng của nhà ngoại, đứa bé lên năm một mình từng chiều ngồi trước mấy bậc tam cấp trước cổng nhà ngoại, ngóng chờ những chuyến xe buýt đỏ trễ tràng chạy từ hướng Quy nhơn về Bình Định…Những làn bụi mù xộc vào mắt môi đứa bé làm cay sè đôi con mắt ướt…

Những chuyến xe từng chiều đi qua trong ngóng chờ vô vọng, những ngóng trông rồi cũng xuôi dòng thời gian, quên lãng và theo năm tháng vỡ òa khi niềm vui chợt đến khi mỗi lần chuyến xe dừng đỗ.

Niềm vui và sự mong chờ được đáp đền khi hình bóng thân yêu tội nghiệp của người mẹ trở về bên những đứa con thân yêu với tay xách nách mang…những món ăn đã được làm sẵn, những quà bánh rẻ tiền chắt góp sau một tháng dài thắt lưng buột bụng…đem về cho những đứa con thơ niềm vui to lớn sau bao ngày ngóng đợi mỏi mòn…Đó là lý do đứa bé ngày xưa luôn nhắc nhớ về người mẹ mà không nhớ thương cha…

Người cha trong cuộc đời bé thơ của tôi chỉ là những lời kể lại qua miệng mẹ, một hình bóng xa mờ không cho một ngóng đợi, không cho một nhớ nhung từng ngày qua bao tháng năm…

Từng ngày qua hết từng ngày…tôi vẫn từng chiếu …rồi lại từng chiều dõi con mắt ướt về cánh đồng trước mặt, nói cho có vẻ to tát về cánh đồng trong tuổi thơ tôi, thực ra chỉ là mấy đám ruộng trước nhà ngoại mà đã đi sâu vào ký ức bé nhỏ của tuổi thơ tôi xa mờ mà luôn gợi nhớ trong tôi vào những lúc trà dư tửu hậu.

Cánh đồng, con sông và chiếc thuyền nhỏ trên bến sông xưa…luôn trở về trong tâm trí tôi suốt bao tháng năm chìm nổi trong cuộc đời khi mỗi lần nhớ về quê xưa, nhớ về những ngày bé dại, nhớ về thân phận đơn côi của một đứa bé được dưỡng nuôi trên cánh đồng cỏ mọc ,bên dòng sông cạn nước …cát bồi vào mùa nắng hạn.

Hình ảnh người lái đò với khuôn mặt không cười và tấm thân nắng cháy…âm thầm rồi lại âm thầm …gát mái chèo vào mùa nước cạn, thuyền úp trên  bến sông… thơ thẩn đợi nước lên.

Nỗi niềm của đứa bé ngồi bên mấy bậc tam cấp ngóng chờ hình bóng người mẹ thân yêu trở về nhà sau bao ngày dầu dãi …cùng với hình ảnh người chèo đò ngồi đợi cơn mưa tới cho mực nước sông dâng cao, cho chiếc thuyền con lại từng ngày đưa khách sang sông…đã in một vết hằn trong nỗi nhớ suốt cuộc đời tôi…

Những năm tháng …trong cuộc đời đã đi qua…cuộc sống trong tôi vẫn lặng thầm…không chờ không đợi…đến và đi như những con tàu rời sân ga vắng …không khắc khoải chờ, không mộng tưởng chuyện hợp tan…những mạnh mẽ mà cuộc đời đã bồi đắp cho chính tâm tôi như một sự bình thường trước trăm nghìn sự bình thường đã và từng xảy ra trong tôi qua bao dặm mờ …trải dài qua bao năm tháng…không buồn lâu, không khắc cốt ghi tâm với những bãi bôi dâu bể.

Và bây giờ …gần đi hết một kiếp đời dâu bể, những oan khiên oằn vai đã trút bỏ cho thế gian, những hơn thua trang trãi, giành giật với nhân gian., tất cả đều phủi tay, trả về quá khứ, không quen, không nhớ.

Tất cả chỉ là đàng sau lưng và trước mặt chỉ là hư vô…

Tôi chợt biết…
Anh chợt hay….
Chúng ta cần một người đồng hành khi chân chồn , gối mỏi
Tôi chợt nhận ra anh…
Anh chợt nhận ra tôi…
Chúng ta đã cùng chung bến đỗ… khi hai con tàu chung một sân ga.

Chúng ta cùng viết chung câu thơ:

BẾN ĐỖ

Bến cũ thuyền xưa cập bến bồi
Hoàng hôn tắt nắng gió ngàn khơi
Bến sông mòn mỏi -Trăng chờ Nguyệt
Mỏi chân khua_cỡi sóng cõi xa
Hai viên sỏi -biển đời sóng cả
Cuộc thăng trầm -khép lại đôi tay
Xoay vòng quả đất ta lại gặp
Chung bóng từ nay _chia tháng ngày.

.Rời Phan Rí Cửa khi mặt trời chưa quá con sào. Qua thị xã Liên Hương đã nhìn thấy những trụ phong điện sừng sửng trong cái nắng của vùng hoang mạc

.

Cam Ranh với những đồi cát chạy dài theo con đường du hành mới mở ven biển. Thảng hoặc những đìa nuôi tôm hiện ra làm cho quãng đường dài bớt trống vắng

.

.Nha Trang quả thật là thiên đường biển đảo

.Cả bọn tấp vào quán cafe Bốn Mùa,một địa danh du lịch khá nổi tiếng

.

Rồi quay về ăn trưa ở nhà anh Từ Sâm một cây bút nổi tiếng của Khánh Hòa

.

.

Đã qua tết khá lâu nhưng hương vị tết vẫn còn quanh mâm cổ dọn vội .Có dưa hành.củ kiệu ,giò thủ ,dưa món và cả bánh chưng xanh, .

.Lại một chầu chén chú chén anh,nhưng đành phải lên đường. Còn những 220km mới đến Quy Nhơn

Ngồi trên xe mở máy tính xách tay thấy những lời còm của bạn bè theo dõi chuyến đi chợt thấy ấm áp vô cùng. Xin trích một bài thơ mì ăn liền của Nị.

NỊ

5 ông đệ tử lưu linh
Đi đâu cũng nhậu linh đình dzui gơ !
Sáng chiều say xỉn lờ đờ
Mới vài ngày đã …cà ngơ …quên đường
5 ông nhìn thấy thiệt ….thương
ĐI qua một chặng là tường trình ngay
Bạn bè tình cảm tràn đầy
Nhậu mà chưa đủ ngất ngây ….chưa dzìa…….

Chúc 5 chàng Xứ Nẫu tiếp tục ….dzui dzui ….dzô …dzô ….

 

 

Bình loạn :Sáu Nẫu

Ảnh: Hạ Uyên

 

 

 

 

Thơ Tặng Hiền Thê

Văn Công Mỹ

 

Bên sông gõ đàn ta hát

Chiều xưa sóng vỗ mạn thuyền

Quê hương nửa đời được mất

Bóng người sợi tóc bay nghiêng

.

Đôi ta chìm sâu bóng núi

Mắt buồn ,em giấu chân chim

Ngọn lửa như đêm hôn phối

Hương xưa em vẫn dịu hiền

.

Anh hát những lời thơ cũ

Em đàn nhịp phách chơi vơi

Tình tang đóa quỳnh mới nở

Í a thục nữ gọi mời

.

Già cuộc phù sinh mộng tưởng

Lòng sen đột ngột tinh khôi

Cõi người mênh mang vô lượng

“Hành Phương Nam” vẫn đủ đôi!

 

 

Gần đây trên các trang thông tin điện tử rộ lên vấn đề “nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn” đạo văn. Để rộng đường dư luận chúng tôi xin giới thiệu hai bài viết của Minh Tâm và Võ Ngọc Thọ xung quanh vấn đề này

Xunau.org


ĐÂU LÀ SỰ THẬT VỀ VỤ “Âm mưu giật giải nhờ… đạo văn người đã khuất”

Võ Ngọc Thọ

Hội VHNT Bình Định

 .

Vừa qua trên báo Tiền Phong ngày 19/2/2012 có đăng bài “Âm mưu giật giải nhờ… đạo văn người đã khuất” của tác giả Minh Tâm (MT). Bài viết dựng nên nhiều chi tiết không đúng sự thật, đánh lừa người đọc, nhằm xuyên tạc bôi nhọ cá nhân nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn xung quanh tác phẩm Đào Tấn Thơ và Từ (NXB Sân Khấu 2003).

Tác giả Minh Tâm cho rằng nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đạo văn của các nhà thơ Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông, và các nhà nghiên cứu Tống Phước Phổ, Mạc Như Tòng…”

Sự thật cuả vấn đề như thế nào?

 Trong “Lời đầu sách” tập Đào Tấn Thơ và Từ (2003), ông Vũ Ngọc Liễn có viết:

“Nếu tính từ Hội nghị khoa học nghiên cứu Đào Tấn lần thư 1 (12/1977) thì 26 năm qua, nhằm đáp ứng yêu cầu công trình nghiên cứu này chúng tôi đã sưu tầm , tập hợp được một khối lượng lớn các mặt tư liệu, tài liệu về Đào Tấn từ lâu nằm rải rác khắp ba miền đất nước.

Một phần trong khối lượng tài liệu ấy đã công bố qua các sách:

–         Thư mục và tư liệu về Đào Tấn của nhóm tác giả: Bùi Lợi, Ngô Quang Hiển, Mạc Côn do Vũ Ngọc Liễn chủ biên, ấn hành năm 1985.

–         Tuồng Đào Tấn tập I và II, do Vũ Ngọc Liễn biên khảo, Phạm Phú Tiết chú giải, NXB Sân khấu và Sở VHTT Nghĩa Bình ấn hành năm 1987.

–         Thơ và từ của nhóm biên soạn: Vũ Ngọc Liễn, Nguyễn Thanh Hiện, Tống Phước Phổ, Mạc Như Tòng do Vũ Ngọc Liễn chủ biên, NXB Văn học ấn hành năm 1987.

Còn đọng lại gần một nửa khối lượng tài liệu đã tập hợp lúc đó và sau này chưa có điều kiện công bố.

Lần này, tiến hành biên khảo công trình Đào Tấn chúng tôi gộp các mặt tài liệu đã in và chưa in chia thành 3 tập:

Tập I:     Đào Tấn thơ và từ

Tập II:   Đào tấn tuồng hát bội

Tập III:  Đào tấn qua thư tịch

Riêng tập I – Đào Tấn Thơ và Từ in lần này tổng cọng 204 bài (141 bài thơ chữ Hán, 60 bài từ chữ Hán và 3 bài thơ nôm), như vậy so với bản in thơ và từ trước đây chúng tôi bổ sung đến 94 bài cả Thơ lẫn Từ lâu nay chưa công bố…”

Đọc “Lời đầu sách” trên đây và  xem kỹ tập Đào Tấn Thơ và Từ (2003), chúng tôi thấy bài viết của Minh Tâm có nhiều cái sai:

Thứ nhất, sách Thơ và Từ Đào Tấn (1987) chỉ có 4 tác giả (chứ không phải 7): Vũ Ngọc Liễn, Nguyễn Thanh Hiện, Mạc Như Tòng và Tống Phước Phổ, do Vũ Ngọc Liễn chủ biên (tác giả chính). Người viết lời giới thiệu, lời bạt, hiệu đính không thể gọi là tác giả.

Thứ hai, trong 4 tác giả này, ông Nguyễn Thanh Hiện còn sống và đang sáng tác ở Qui Nhơn chứ không phải đã chết (như MT “giả mù sa mưa” nhằm khai tử ông ta). Việc tạo “hiện trường” giả về số lượng tác giả (7 người) và số lượng người chết (6 người) MT có dụng ý nhằm kích thích người đọc.

Thứ ba, trong Lời đầu sách (đã dẫn), Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn ghi rõ ông tập hợp từ nhiều nguồn để hoàn thiện công trình nghiên cứu về Danh nhân Đào Tấn, trong đó có quyển Thơ và Từ Đào Tấn (1987) của ông (tác giả chính) và 3 người khác. Việc tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau (kể cả những tài liệu rải rác trong cả nước), ghi rõ xuất xứ và tên tác giả dưới mỗi bài thơ dịch, không thể gọi là “đạo văn”.

Thứ tư, việc tập hợp nguồn từ  tác phẩm do mình chủ biên (tập cũ từ 1987)), bổ sung thêm những 94 bài mới và 201 bài Thơ và Từ nguyên văn chữ Hán, Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn không phải “cướp công người khác” (như MT đã xuyên tạc) mà ngược lại đã ghi nhận công lao đóng góp của các tác giả đối với việc vinh danh Danh nhân Đào Tấn.

Thứ năm, trong tập Đào Tấn Thơ và Từ (2003) gồm 204 bài: 201 bài Thơ và Từ chữ Hán, 3 bài thơ chữ nôm và 201 bài thơ nguyên văn chữ Hán. Ngoài ra có 3 bài viết: “Đọc thơ và Từ của Đào Tấn” của Xuân Diệu, “Cõi Phật trong thơ Đào Tấn” của Thanh Thảo và “Lời Bạt” của Hoàng Trung Thông. Dưới 201 bài Thơ và Từ chữ Hán đều có bài dịch nghĩa (Vũ Ngọc Liễn: 200 bài, Đỗ Văn Hỷ: 1 bài); Trong 201 bài, có 171 bài có dịch thơ và dịch Từ . Hai người dịch nhiều nhất là Vũ Ngọc Liễn: 95 bài (dịch riêng: 62; chung: 33), Xuân Diệu: 52 bài (dịch riêng: 48; chung: 4), kế đến là Huỳnh Chương Hưng, Hà Giao và những người sau đây có từ 1 đến 4 bài: Yến Lan, Mạc Như Tòng, Tống Phước Phổ, Đỗ văn Hỷ, Giang Tân, Nguyễn Thanh Hiện, Văn Trọng Hùng, Nguyễn Hoài Văn, Mịch Quang, Phan Ngọc. Ngoài ra Vũ Ngọc Liễn là người biên khảo, hiệu đính, ghi chú để người đọc hiểu rõ hơn Thơ và Từ của Đào Tấn. Vậy mà MT lại cho rằng Vũ Ngọc Liễn “đạo văn” của Xuân Diệu , Hoàng Trung Thông (?). Đọc bài “Đọc thơ và từ của Đào Tấn” của Xuân Diệu, ta càng trân trọng tâm huyết của ông đối với việc vinh danh Danh nhân Đào Tấn qua các kỳ Hội nghị về Đào Tấn tổ chức ở TP Quy Nhơn và sự tài hoa qua các bài thơ dịch của ông.

Thứ sáu, với một công trình nghiên cứu nghiêm túc và công phu như vậy mà MT cho rằng Đào Tấn Thơ và Từ (2003) chỉ là một tác phẩm “ở lĩnh vực sưu tầm nghiên cứu văn bản học” thì thật khôi hài nhằm làm lu mờ công lao và dấu ấn sáng tạo của tác giả.

Tóm lại những điều nêu ra trong bài viết “Âm mưu giật giải nhờ… đạo văn người đã khuất” của Minh Tâm là hoàn toàn bịa đặt, lập lờ đánh tráo khái niệm gây sự hiểu lầm nơi người đọc. Một bài viết như vậy chỉ càng bộc lộ “tiểu tâm” của người viết.  Chỉ tiếc là Báo Tiền Phong đã không nhận rõ “ác tâm” của Minh Tâm, không kiểm chứng kỹ càng, đã đăng một bài viết sai sự thật, làm giảm uy tín của tờ báo đối với bạn đọc.

 ________________________

Minh Tâm

Âm mưu giật giải nhờ… đạo văn người đã khuất

TP – Độ nửa năm trở lại đây, bỗng dư luận rộ lên vấn đề “nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn” đạo văn của các nhà thơ Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông, và các nhà nghiên cứu Tống Phước Phổ, Mạc Như Tòng…

Thật khó tin. Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông, nổi tiếng lừng lững như thế, ai nỡ và dám ăn cắp!? Nhưng tìm hiểu mới thấy là có cơ sở.

Đến Thư viện quốc gia Hà Nội lùng cuốn Đào Tấn Thơ và Từ (bị cho là đạo văn từ cuốn Thơ và Từ Đào Tấn) nhưng không có. Tra mục lục, chỉ tìm ra cuốn Thơ và Từ Đào Tấn.

Đây là cuốn sách được Nhà Xuất bản Văn học ấn hành năm 1987 với một nhóm các nhà biên soạn gồm 7 tác giả: Vũ Ngọc Liễn (chủ biên), Xuân Diệu (giới thiệu), Hoàng Trung Thông (lời bạt), Nguyễn Thanh Hiện, Tống Phước Phổ, Mạc Như Tòng, Đỗ Văn Hỉ (hiệu đính).

Sau tôi cũng tìm được cuốn Đào Tấn-Thơ và Từ (Nhà Xuất bản Sân khấu, năm 2003) do một người bạn làm ở Nhà Xuất bản này gửi tặng. Đối sánh cuốn Thơ và Từ Đào Tấn của Nhà Xuất bản Văn học 1987 với cuốn này, tôi tá hỏa: Hầu như toàn bộ nội dung cuốn Thơ và Từ Đào Tấn đã được “kính chuyển” sang cuốn Đào Tấn Thơ và Từ sau khi Thơ và Từ Đào Tấn đã ra mắt bạn đọc được 16 năm.

Giữa hai cuốn chỉ có mấy điều khác biệt. Một là, cuốn Thơ và Từ Đào Tấn (1987) in 24 bài Từ của Đào Tấn, còn cuốn Đào Tấn Thơ và Từ (2003) in 60 bài. Hai là, ngoài những nội dung bê gần như nguyên bản, cuốn Đào Tấn Thơ và Từ còn có thêm lời bạt của Thanh Thảo.

Và quan trọng khác biệt thứ 3, là cuốn Thơ và Từ Đào Tấn (1987) bao gồm 7 tác giả, thì khi sang cuốn Đào Tấn Thơ và Từ (2003) chỉ còn lại duy nhất một cái tên – đó là Vũ Ngọc Liễn.

Và ông cũng là người còn sống duy nhất tính từ thời điểm ấy. Người còn sống này đã xóa tên 6 người đã khuất, biến công trình tập thể thành công trình cá nhân.

Và hiện công trình bị nhiều người gán cho cái tên là “cướp công người chết” này không hiểu bằng cách nào đã lọt vào tới vòng chung khảo của Giải thưởng Nhà nước năm 2011. Nếu họa may mà nó nhận được giải, thì sự kiện cáo tiếp theo và những phiền lụy ắt là điều khó tránh.

Một vấn đề đáng chú ý, là quy chế Giải thưởng Nhà nước không có điều khoản nào dành cho người sưu tầm. Chỉ có giải dành cho người và tác phẩm ở lĩnh vực sưu tầm và nghiên cứu văn nghệ dân gian.

Song, cuốn Đào Tấn Thơ và Từ (2003) lại không thuộc lĩnh vực văn nghệ dân gian mà ở lĩnh vực sưu tầm nghiên cứu văn bản học.

Chúng tôi liên lạc với nhà nghiên cứu phê bình Ngô Thảo, cựu Giám đốc – Tổng biên tập Nhà Xuất bản Sân khấu, làm việc trong thời kỳ xuất bản cuốn Đào Tấn Thơ và Từ (năm 2003). Ông Ngô Thảo cho biết, đây là lần đầu tiên ông nghe nói Vũ Ngọc Liễn đạo văn.

Cuốn Đào Tấn Thơ và Từ do Nhà Xuất bản Sân khấu ấn hành 2003 theo đơn đặt hàng của Nhà nước, sách dày 635 trang in, khổ 14,4 X 20,5cm, không có giá bìa.

Tình yêu vẫn song hành

 Lan Hương

Tôi rất ghét tiếng cười hí hí như ngựa của hắn. Tiếng cười vừa đầy kiêu hãnh vừa không nghiêm túc khiến tên gã Thổ Phỉ đã được tôi xếp vào sổ bìa đen được gạch dưới cẩn thận cùng những lời chú thích đầy ác ý.

Tôi gặp hắn qua Vân, một người bạn rất thân. Hắn vui tính lại thích đọc những bài thơ tình rât hay nên chinh phục được rất nhiều người. Tôi và Vân yêu văn học nghệ thuật nên cũng không ngoại lệ. Nhưng rồi không lâu sau tôi cũng linh cảm được ánh mắt và những bài thơ nồng nàn kia được dành cho ai. Thương bạn và vốn không cảm tình với tiếng cười ngựa hí của hắn, và càng không ưa tính thích chinh phục của gã Thổ Phỉ nên tôi liền cảnh giác ngay người bạn gái của mình:

– Hắn là người hai mặt, đừng nên tin tưởng con người này.

Dường như biết được ý đồ của hai cô bé, lần đầu tiên tên Cô-dắc nghiêm sắc mặt nhìn tôi:

– Anh không làm gì sai cả. Anh chỉ làm những gì con tim mình sai khiến mà thôi.

Vậy đó, tình bạn của chúng tôi vẫn song hành cho đến một ngày khi tiễn Vân lên đường sang nước ngoài, cũng là lúc tôi nghe tin hắn tình nguyện vào quân ngũ. Đến tiễn hắn tôi thật sự bất ngờ trước hành động ngông cuồng này, vì anh đã quá tuổi nghĩa vụ quân sự, lại đang sở hữu một công việc “vàng” tại một cơ quan mà bất cứ ai cũng phải mơ ước.

Tôi bàng hoàng nhìn tên Cô-dắc:

– Anh bỏ tất cả thật sao? Sự nghiệp của anh đang rộng thênh thang …

Đáp lại ánh mắt tròn xoe của cô gái, tên Cô-dắc nheo nheo mắt đọc tặng tôi những vần thơ trước khi lên đường:

Chỉ cần ngón tay đưa lên môi – Ngàn năm nhan sắc ở em rồi – Ngàn năm  trời đất thành thơ nhạc – Cây cỏ chào nhau kể lứa đôi – Chỉ cần chiếc muỗng em trong ly – Là tim anh chết rất nhu mì – Là chàng thi sĩ bay đâu mất – Một chút tình anh lẻn trốn đi…

Nhưng chỉ thời gian ngắn sau đó, một người bạn cũ báo tin hắn đã bị loại khỏi quân ngũ, tước quân tịch và bị đuổi về địa phương. Gặp lại nhau anh vẫn như thuở nào, vẫn vóc dáng cao ngạo, ngông nghênh , nhưng bụi đời hơn với mái tóc dài lãng tử. Vác ba lô trên vai anh tiếp tục nheo nheo mắt bỡn cợt ngắm tôi từ xa, không ngăn nổi sự giận dỗi, tôi “lên lớp” tên Cô-dắc ngay tức khắc:

– Anh lúc nào cũng vậy, thích quậy phá và đạp đổ mọi nguyên tắc, luật lệ. Nếu con người sống không theo quy tắc và kỷ luật, thì thế giới sẽ ra sao?

Ánh mắt hắn nhăn lại, nhưng rồi gã Thổ Phỉ cũng dịu dàng nói với cô thiếu nữ:

– Hãy là một cô bé đáng yêu như tuổi của em cho anh nhớ, một chút nào cho anh buốt tim hơn là trở thành một bà già 70 dạy dỗ đời anh. Hãy là một thiên thần chứ đừng trở thành Luxiphe em nhé.

Và hắn đọc:

Em xuất hiện như mặt trời- Xua đi những cơn u ám – Anh đang buồn thiu một hoàng hôn xám – Bỗng đổi màu thành xanh – Từ đó một ngày có ba buổi bình minh – Nắng buổi nào cũng thơm tho mùi mật – Từ đó không còn giới hạn của ngày và đêm – Em đã xoay chiều trái đất – Thì anh chính là một hành tinh buồn bã nhất – Lần đầu tiên biết giá trị nụ cười…

Vậy đó, những bài thơ dành cho ai đó ngày càng nhiều hơn nhưng vốn tính bướng bĩnh lại sẵn có ác cảm với “gã” vì người bạn gái, nên tôi chỉ đáp lại hắn từ xa bằng những nụ cười mỉm chi cùng với những ý tứ tế nhị mà chắc anh có thể hiểu.

Thời gian cứ êm đềm qua đi, cho đến một ngày bạn của hắn thông báo rằng anh vào bộ đội bất ngờ thì khi rời khỏi bộ đội cũng bất ngờ không kém. Cũng chỉ vì bản tính cương trực và sống vì đồng đội , mà anh dám tấn công viên chỉ huy để cứu những người bạn cùng đơn vị, thoát khỏi sự trù dập độc ác của vị sĩ quan cấp trên mình. Hậu quả của hành động liều lĩnh đó là anh bị biệt giam ba tháng ở quân lao, bị tước quân tịch, và may mắn còn được trở lại đời thường để trở thành một nhà thơ bất đắc chí, lang bạt làm thơ cho dân nghèo để chống bất công xã hội.

Một lần nữa gặp lại, tôi ngậm ngùi trước gã Thổ Phỉ ngày nào. Hành trang lên đường với anh giờ chỉ là chiếc ba lô cũ kỹ và chiếc áo đã sờn vai.

Vẫn với dáng đứng ngông nghênh, anh nheo nheo mắt nghịch ngợm “dạy đời” cô em gái:

– Anh chỉ làm những gì lương tâm cho phép. Đến bây giờ anh vẫn không hổ thẹn về những hành động đã qua.

“Gã” phấn khích đọc to:

…Trời sinh anh yêu em – Mà không sinh hộ khẩu – Con chim có chỗ đậu – Con chó có nơi nằm – Anh và em lưu vong – Như người không quốc tịch – Đất nước giàu diện tích – Cho châu chấu cào cào – Nỡ đâu nghèo lý lịch – Với những người yêu nhau

Nhìn anh xốc ba lô lên vai, đôi mắt buồn như nghiêng theo cuộc đời sóng gió in dấu trên gương mặt phong trần, tôi chợt rưng rưng nước mắt:

– Em thật có lỗi với anh.

Tôi chìa ra cuốn sổ bìa đen với cái tên có biệt danh gã Thổ Phỉ, cùng ba dấu gạch đỏ phía dưới nằm chễm chệ ngay trên trang đầu kèm theo những lời chú thích thiếu thiện cảm. Anh liếc qua, cười phá lên, và ghé sát vào tai tôi thì thầm:

– Anh yêu sự khờ dại của em !