Feeds:
Bài viết
Bình luận

(Bài diễn từ có tên Ánh sáng và sợi chỉ [Light and Thread] của Han Kang phát biểu bằng tiếng Hàntại Viện Hàn lâm Thụy Điển ở thành phố Stockholm hôm 7/12).

Đỗ Hồng Nhung dịch từ bản tiếng Anh trên trang web của giải Nobel.

Hiếu Tân hiệu đính.

Tháng 1 năm ngoái, khi dọn kho để chuyển nhà, tôi tìm thấy một hộp giày cũ. Tôi mở hộp, tìm thấy vài cuốn nhật ký thời thơ ấu. Trong đống nhật ký, có một xấp giấy mỏng, trên ghi bằng bút chì Một tập thơ. Cuốn sách mỏng này gồm năm tờ giấy A5 gấp đôi và đóng bằng kim bấm. Tôi đã thêm hai đường ngoằn ngoèo dưới tiêu đề, một đường đi lên sáu bậc về bên trái, đường kia đi xuống bảy bậc hướng sang phải. Đó có phải là một kiểu minh họa bìa? Hay chỉ đơn giản là một hình vẽ nguệch ngoạc? Mặt sau xấp giấy ghi năm 1979 và tên tôi. Bên trong có tổng cộng tám bài thơ viết bằng nét bút chì gọn gàng giống như ở bìa trước và sau. Cuối mỗi bài thơ ghi một ngày khác nhau, theo thứ tự thời gian. Những dòng chữ của tôi khi lên tám rất ngây thơ và thiếu trau chuốt, nhưng một bài thơ viết vào tháng 4 đã thu hút sự chú ý của tôi. Nó mở đầu với những câu sau:

Tình yêu ở đâu?
Nó nằm trong lồng ngực đập thình thịch của tôi.
Tình yêu là gì?
Nó là sợi chỉ vàng kết nối trái tim của chúng ta

Trong chớp mắt, tôi quay ngược về bốn mươi năm trước, nhờ kỷ niệm về buổi chiều tôi loay hoay đóng cuốn sổ thơ. Cây bút chì ngắn của tôi đậy bằng nắp bút bi, bụi từ cục gôm, chiếc kẹp giấy lớn tôi lén lấy từ phòng của cha. Tôi nhớ là sau khi biết gia đình mình sắp chuyển đến Seoul, tôi có động lực thu thập những bài thơ viết rải rác trên những mẩu giấy nhỏ, hoặc bên lề sổ tay, vở bài tập và hoặc giữa các đoạn nhật ký, gom chúng lại thành một quyển duy nhất. Tôi cũng hồi tưởng lại cảm giác không muốn cho ai xem “tập thơ” của mình khi nó hoàn thành.

Trước khi đặt xấp nhật ký và tập thơ nhỏ trở về chỗ cũ và đóng nắp hộp lại, tôi đã chụp ảnh bài thơ đó bằng điện thoại. Bởi vì tôi cảm nhận được tính liên tục giữa những từ mà tôi đã viết vào thời thơ ấu với con người tôi hiện tại. Trong lồng ngực tôi, trong trái tim đập thình thịch của tôi. Giữa trái tim của chúng ta. Sợi chỉ vàng nối kết – một sợi chỉ phát sáng.

Han Kang ở buổi phát biểu nhận Nobel Văn học 2024. Ảnh: Anna Svanberg

***

14 năm sau, với việc xuất bản bài thơ và truyện ngắn đầu tiên, tôi trở thành nhà văn. Sau năm năm nữa, cuốn tiểu thuyết dài đầu tiên mà tôi viết trong ba năm được phát hành. Từ đó đến nay, quá trình làm thơ, viết truyện ngắn luôn cuốn hút tôi, nhưng viết tiểu thuyết luôn có hấp lực đặc biệt. Mỗi cuốn tiểu thuyết dài tiêu tốn của tôi từ một đến bảy năm để hoàn thành, chúng khiến tôi đánh đổi đáng kể cuộc sống cá nhân của mình. Đây cũng chính là điều thu hút tôi vào công việc này. Suy ngẫm về những câu hỏi mình cho là cần thiết và cấp bách, tôi đắm chìm sâu sắc đến nỗi chấp nhận sự đánh đổi.

Mỗi khi sáng tác tiểu thuyết, tôi chịu đựng những câu hỏi, tôi sống trong chúng. Lúc đi đến cùng những câu hỏi này không đồng nghĩa với đã tìm ra câu trả lời, mà là lúc tôi chạm đến điểm cuối của quá trình viết. Lúc ấy, tôi không còn là tôi khi bắt đầu, và từ trạng thái đã thay đổi đó, tôi tái khởi đầu. Những câu hỏi tiếp theo xuất hiện, như trong một chuỗi mắt xích, hoặc như những quân cờ domino, chồng chéo và nối tiếp nhau, thúc đẩy tôi tiếp tục viết điều gì mới.

Khi viết cuốn tiểu thuyết thứ ba Người ăn chay, từ năm 2003 đến 2005, tôi đã đối mặt với những câu hỏi đau đớn: Một người có thể hoàn toàn ngây thơ không? Chúng ta có thể từ chối bạo lực đến mức nào? Điều gì sẽ xảy ra với cá nhân từ chối thuộc về giống loài gọi là con người?

Cuốn Người ăn chay bản tiếng Việt, xuất bản năm 2011. Ảnh: Nhà xuất bản Trẻ

Lựa chọn không ăn thịt để từ chối bạo lực, và cuối cùng từ chối mọi đồ ăn, thức uống, ngoại trừ nước, với niềm tin rằng mình đã biến thành cây, Yeong-hye, nhân vật chính trong Người ăn chay, thấy mình ở trong tình huống mỉa mai: Càng muốn tự cứu mình thì càng nhanh chóng hướng đến cái chết. Yeong-hye và chị gái In-hye của cô, thực tế cả hai đều là nhân vật chính, gào thét vô thanh trong những cơn ác mộng và sự đổ vỡ, nhưng cuối cùng họ vẫn bên nhau. Tôi để cảnh cuối cùng diễn ra trong chiếc xe cứu thương, với hy vọng Yeong-hye vẫn còn sống trong thế giới của câu chuyện. Chiếc xe lao nhanh xuống con đường núi dưới những tán lá xanh rực rỡ, trong khi người chị đăm đăm nhìn ra ngoài cửa sổ. Có lẽ cô đang chờ đợi một phản ứng, hoặc cô đang phản kháng. Toàn bộ tiểu thuyết nằm trong trạng thái nghi vấn. Nhìn chằm chằm và thách thức. Chờ đợi một câu trả lời.

Mực và Máu (Ink and Blood), cuốn tiểu thuyết sau Người ăn chay, tiếp tục những câu hỏi này. Từ chối cuộc sống và thế giới này để từ chối bạo lực là sự bất khả thi. Rốt cuộc, chúng ta không thể biến thành những cái cây. Vậy chúng ta tiếp tục bằng cách nào? Trong cuốn tiểu thuyết thể loại kỳ bí này, những câu văn in thường và in nghiêng xô đẩy, xung đột nhau, khi nhân vật chính – người lâu nay vật lộn với bóng đen Thần Chết – mạo hiểm mạng sống của mình để chứng minh rằng cái chết đột ngột của bạn cô không thể là tự tử. Khi tôi viết cảnh kết thúc, mô tả cô ấy lê lết trên sàn để bò ra khỏi cái chết và sự hủy diệt, tôi đã tự hỏi những câu này: Lẽ nào chúng ta không được sống sót đến cùng sao? Lẽ nào đời ta không là minh chứng cho chân lý hay sao?

Với cuốn tiểu thuyết thứ năm, Những bài học Hy Lạp (Greek Lessons), tôi thậm chí còn đẩy xa hơn nữa. Nếu chúng ta phải sống trong thế giới này, những khoảnh khắc nào làm cho điều đó khả thi? Một phụ nữ mất tiếng nói và một người đàn ông mất dần thị giác đang đi trong lặng lẽ và bóng tối khi những ngả đường đơn độc của họ giao nhau. Tôi tập trung miêu tả những khoảnh khắc xúc giác trong câu chuyện này. Cuốn tiểu thuyết diễn tiến với tốc độ chậm của riêng nó, xuyên qua tĩnh lặng và bóng tối, cho đến khi bàn tay của người phụ nữ với tới và viết vài từ trên lòng bàn tay của người đàn ông. Trong giây phút rực sáng thành vĩnh hằng, hai nhân vật bộc lộ những khía cạnh ôn hòa của chính họ. Câu hỏi tôi muốn đặt ra ở đây là: Phải chăng bằng cách quan tâm đến những khía cạnh dịu dàng nhất của nhân loại, bằng cách vuốt ve sự ấm áp không thể chối cãi tồn tại ở đó, rốt cuộc chúng ta có thể tiếp tục sống trong thế giới hữu hạn và đầy bạo lực này?

Khi chạm đến tận cùng câu hỏi này, tôi bắt đầu nghĩ về cuốn sách tiếp theo. Đó là vào mùa xuân năm 2012, không lâu sau khi Những bài học Hy Lạp xuất bản. Tôi tự nhủ sẽ viết một cuốn tiểu thuyết tiến thêm một bước nữa về phía ánh sáng và sự ấm áp. Ngập tràn tác phẩm này là cảm giác sáng choang, trong suốt. Tôi nhanh chóng tìm ra tên sách và viết được hai mươi trang bản thảo đầu tiên, rồi buộc phải dừng lại. Tôi nhận ra rằng có điều gì đó bên trong ngăn cản tôi viết cuốn tiểu thuyết này.

Cho đến lúc đó, tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc viết về Gwangju.

Tôi mới chín tuổi khi gia đình rời Gwangju vào tháng 1/1980, khoảng bốn tháng trước khi các cuộc thảm sát bắt đầu. Khi tôi tình cờ nhìn thấy gáy sách lộn ngược của Sách ảnh Gwangju trên kệ vài năm sau, và xem qua lúc không có người lớn nào xung quanh, tôi đã mười hai tuổi. Cuốn sách chứa những bức ảnh của thường dân, sinh viên Gwangju bị giết bằng gậy, lưỡi lê và súng khi chống lại lực lượng quân sự vừa thực hiện đảo chính. Được những người sống sót và gia đình người chết xuất bản, phân phối bí mật, cuốn sách làm chứng cho sự thật vào thời điểm mà sự thật còn bị bóp méo, xuyên tạc do truyền thông bị đàn áp khốc liệt. Là một đứa trẻ, tôi chưa hiểu hết ý nghĩa chính trị của những hình ảnh đó, nhưng những khuôn mặt dập nát trong sách đã in hằn trong tâm trí tôi câu hỏi cơ bản về con người: Đây có phải là hành động của một con người đối với con người hay không? Và sau đó, nhìn thấy một bức ảnh chụp hàng người vô tận chờ hiến máu bên ngoài bệnh viện đại học, tôi lại tự hỏi: Đây có phải là hành động của một con người đối với con người hay không? Hai câu hỏi này trông thì giống nhau, nhưng chúng xung khắc và dường như không thể hòa giải. Sự thiếu tương thích của chúng là một nút thắt mà tôi không thể tháo gỡ.

Vì vậy, vào một ngày xuân năm 2012, khi thử viết một cuốn tiểu thuyết tươi sáng, ngợi ca cuộc sống, tôi một lần nữa phải đối mặt với vấn đề chưa được giải quyết này. Tôi đã mất cảm giác tin tưởng sâu sắc vào con người từ lâu. Vậy làm sao tôi có thể vỗ về thế giới? Tôi nhận ra rằng mình phải đối mặt với câu đố không lời đáp này nếu muốn tiến về phía trước. Tôi hiểu rằng viết là cách duy nhất để vượt qua nó.

Tôi dùng phần lớn thời gian của năm đó để phác thảo tiểu thuyết, hình dung sự kiện tháng 5/1980 ở Gwangju sẽ tạo thành một lớp nghĩa trong cuốn sách. Vào tháng 12, tôi đến thăm nghĩa trang ở Mangwol-dong. Lúc đó đã quá trưa, một ngày sau trận tuyết lớn. Sau đó, khi ánh sáng mờ dần, tôi bước ra khỏi nghĩa trang băng giá với bàn tay đặt lên ngực, cạnh trái tim. Tôi tự nhủ rằng cuốn tiểu thuyết tiếp theo này sẽ nhìn trực diện vào Gwangju, thay vì dành cho nó một lớp nghĩa duy nhất. Tìm được một cuốn sách thu thập hơn 900 lời chứng, tôi dành chín giờ mỗi ngày trong suốt một tháng để đọc từng câu chuyện trong đó. Rồi tôi đọc ngấu nghiến không chỉ về Gwangju mà còn về các trường hợp bạo lực nhà nước khác. Nhìn xa hơn và quay ngược về quá khứ, tôi đọc về những cuộc thảm sát mà con người liên tục gây ra khắp thế giới trong suốt chiều dài lịch sử.

Trong quá trình nghiên cứu chuẩn bị cho cuốn tiểu thuyết, có hai câu hỏi thường xuyên hiện lên trong tâm trí tôi. Ở độ tuổi 20, tôi đã viết những dòng này lên trang đầu tiên của mỗi cuốn nhật ký mới:

Hiện tại có thể giúp quá khứ không?

Người sống có thể cứu người chết không?

Càng đọc, tôi càng nhận ra rằng đây là những câu hỏi không thể trả lời. Thông qua sự chạm trán dai dẳng với những khía cạnh đen tối nhất của nhân loại, tôi cảm thấy những tàn dư của niềm tin vào con người – vốn đã gãy đổ từ lâu trong tôi – nay vỡ vụn hoàn toàn. Tôi gần như từ bỏ cuốn tiểu thuyết. Rồi tôi đọc được những trang nhật ký của một giáo viên trẻ dạy trường buổi tối. Park Yong-jun, một thanh niên nhút nhát, trầm tính, đã tham gia vào “cộng đồng tuyệt đối” của những công dân tự trị hình thành ở Gwangju trong 10 ngày nổi dậy vào tháng 5/1980. Anh ấy bị bắn chết tại tòa nhà Hiệp hội Nữ Thanh niên Cơ đốc (Young Women’s Christian Association) gần trụ sở hành chính tỉnh. Anh đã chọn ở lại, dù biết rằng binh lính sẽ tấn công lần nữa vào sáng sớm. Trong đêm cuối cùng đó, anh viết vào nhật ký: “Chúa ơi, tại sao lương tâm con lại đau khổ và cắn rứt như vậy? Con muốn được sống”.

Khi đọc những câu này, tôi thấy ngay đường đi của cuốn tiểu thuyết, sáng rõ như ban ngày. Và hai câu hỏi của tôi phải đảo ngược.

Quá khứ có thể giúp hiện tại không?

Người chết có thể cứu người sống không?

Về sau, khi đang viết Bản chất của người (Human Acts), vào những khoảnh khắc nhất định, tôi nhận thấy rằng quá khứ thực sự đang giúp hiện tại, và người chết đang cứu người sống. Thỉnh thoảng tôi lại ghé thăm nghĩa trang ấy, chẳng hiểu sao lúc nào trời cũng trong xanh chứ không còn lạnh giá. Tôi sẽ nhắm mắt lại, để những tia nắng màu cam tràn vào mí mắt tôi. Tôi cảm thấy đó là ánh sáng của sự sống. Tôi cảm thấy ánh sáng và không khí bao bọc tôi trong ấm áp khôn tả.

Những câu hỏi còn đọng lại lâu trong tôi sau khi tôi nhìn thấy cuốn sách ảnh đó là: Con người sao lại bạo lực đến vậy? Và tại sao đồng thời, con người có thể chống lại bạo lực có sức mạnh áp đảo đến vậy? Thuộc về giống loài có tên là loài người có nghĩa là gì? Để băng qua “con đường không-thể-qua” nối khoảng không giữa hai vách đứng của nỗi sợ của con người và phẩm giá con người, tôi cần sự trợ giúp của người chết. Cũng như trong cuốn tiểu thuyết này, Bản chất của người, cậu bé Dong-ho kéo tay mẹ để thúc giục bà đi về hướng mặt trời.

Tất nhiên, tôi không thể đảo ngược những gì đã xảy ra với người chết, thân nhân họ hay người sống sót. Những gì tôi có thể làm là truyền cho họ cảm giác, cảm xúc, và sự sống đang đập trong cơ thể tôi. Mong muốn thắp nến ở đoạn đầu và cuối cuốn tiểu thuyết, tôi đã đặt cảnh thứ nhất trong nhà thi đấu địa phương, là nơi quàn những thi thể của người chết và nơi tiến hành tang lễ. Ở đó, chúng ta chứng kiến cậu bé mười lăm tuổi Dong-ho phủ những tấm vải trắng lên các thi thể và thắp nến. Cậu nhìn đăm đăm vào cái lõi xanh nhạt của từng ngọn lửa.

Tên tiếng Hàn của tiếu thuyết này là Sonyeon-i onda. Từ cuối cùng “onda” là thì hiện tại của động từ “oda”, có nghĩa là “đến”. Ngay khoảnh khắc thiếu niên sonyeon được gọi bằng ngôi thứ hai là “em”, dù thân mật hay không, cậu ấy lập tức tỉnh dậy trong ánh sáng mờ ảo và bước về phía hiện tại. Những bước chân của cậu ấy là của một linh hồn. Cậu ấy càng lúc càng đến gần và biến thành cái bây giờ. Khi thời gian và không gian trong đó cái ác của con người và phẩm giá con người tồn tại song song trong đối cực được gọi là Gwangju, thì cái tên đó không còn là danh từ riêng chỉ một thành phố duy nhất, mà trở thành một danh từ chung. Đó là điều tôi học được khi viết cuốn sách này. Nó xảy đến với chúng ta – hết lần này đến lần khác, xuyên qua thời gian, không gian – và luôn ở thì hiện tại. Thậm chí là bây giờ.

***

Khi cuốn sách hoàn thành và xuất bản vào mùa xuân năm 2014, nỗi đau mà nó gây ra nơi độc giả khiến tôi ngạc nhiên. Tôi phải dành thời gian suy nghĩ xem nỗi đau tôi cảm thấy trong quá trình sáng tác và những khổ sầu độc giả bày tỏ với tôi có liên quan với nhau thế nào. Có gì đằng sau nỗi thống khổ ấy? Phải chăng do chúng ta muốn đặt niềm tin vào nhân loại, và khi niềm tin ấy bị lung lay, ta cảm thấy như chính bản thân đang bị phá hủy? Phải chăng chúng ta muốn yêu nhân loại, và đây là nỗi đau mà chúng ta cảm thấy khi tình yêu ấy bị đập tan tành? Phải chăng Tình yêu sinh ra nỗi đau, và nỗi đau là bằng chứng của tình yêu?

Tháng 6 cùng năm, tôi mơ thấy mình đang đi qua một cánh đồng bao la trong tuyết rơi lác đác. Hàng nghìn hàng vạn gốc cây đen rải rác khắp cánh đồng, sau mỗi gốc cây là một gò mả. Có chỗ tôi bước xuống nước, và khi nhìn lại tôi thấy biển đang tràn vào từ rìa cánh đồng, mà trước đó tôi nhầm là đường chân trời. Tại sao lại có mộ ở một nơi như thế này? Tôi tự hỏi. Chẳng phải tất cả xương cốt trong những gò mả thấp gần biển đã bị cuốn trôi rồi sao? Ít nhất, tôi có nên di dời xương cốt lên các gò cao hơn, ngay bây giờ, trước khi quá muộn? Nhưng làm cách nào? Tôi thậm chí không có cái xẻng nào. Nước đã lên đến mắt cá chân tôi. Tôi tỉnh dậy, nhìn ra cửa sổ thấy vẫn còn tối, trực giác cho tôi biết rằng giấc mơ này đang nói với tôi điều gì đó quan trọng. Sau khi ghi lại giấc mơ, tôi nghĩ rằng đây có thể là khởi đầu cho cuốn tiểu thuyết tiếp theo của mình.

Tuy nhiên, tôi chưa có ý tưởng rõ ràng về hướng đi. Tôi bắt tay vào cuốn sách mới, loại bỏ dần những cách mở đầu của một số câu chuyện tiềm năng mà tôi tưởng tượng sau giấc mơ. Cuối cùng, vào tháng 12/2017, tôi thuê phòng trên đảo Jeju và dành khoảng hai năm tiếp theo đi về giữa Jeju và Seoul. Dạo bước trong rừng, dọc theo biển, trên con đường làng, cảm nhận thời tiết cực đoan của Jeju vào mỗi khoảnh khắc – gió, ánh sáng, tuyết và mưa – tôi dần hình dung rõ nét phác thảo của cuốn tiểu thuyết. Tương tự khi viết Bản chất của người, lần này tôi cũng đọc lời chứng của người sống sót sau những cuộc thảm sát, nghiền ngẫm tài liệu, rồi sau đó, với cách tiếp cận kiềm chế nhất có thể mà không quay lưng lại với những chi tiết tàn nhẫn gần như không thể diễn tả bằng lời, tôi đã viết nên Không lời từ biệt (We Do Not Part). Cuốn sách được xuất bản gần bảy năm sau giấc mơ về những gốc cây đen và nước biển tràn bờ.

Bìa Bản chất của người bản tiếng Việt, sách 350 trang. Ảnh: Nhã Nam

Trong cuốn sổ tay tôi dùng trong quá trình sáng tác ấy, tôi đã ghi chú thế này:

Cuộc sống tìm cách sống. Cuộc sống ấm áp.

Chết là trở nên lạnh lẽo. Có tuyết phủ lên mặt thay vì tan chảy.

Giết là làm lạnh.

Con người trong lịch sử và con người trong vũ trụ.

Gió và các dòng hải lưu. Dòng tuần hoàn của nước và không khí kết nối toàn thế giới. Chúng ta được kết nối. Tôi cầu nguyện cho chúng ta được kết nối.

Tiểu thuyết này chia thành ba phần. Nếu phần đầu là hành trình theo chiều ngang, theo chân người kể chuyện Kyungha từ Seoul đến nhà của người bạn Inseon ở vùng cao nguyên Jeju, xuyên qua tuyết rơi dày đặc để tìm đến chỗ chú chim nhỏ mà cô được giao nhiệm vụ cứu sống, thì phần thứ hai theo con đường thẳng đứng dẫn Kyungha và Inseon đến một trong những đêm đen tối nhất của nhân loại – vào mùa đông năm 1948, khi thường dân trên đảo Jeju bị thảm sát – và lặn sâu xuống đáy đại dương. Trong phần thứ ba, cũng là phần cuối, hai người cùng thắp lên ngọn nến dưới đáy biển.

Mặc dù diễn tiến tiểu thuyết xoay quanh hai người bạn, tương tự cách họ thay phiên nhau giữ ngọn nến, nhân vật chính thực sự, đồng thời là người liên hệ với cả Kyungha và Inseon, là Jeongsim – mẹ của Inseon. Bà sống sót sau chuỗi thảm sát trên đảo Jeju, đã chiến đấu để giành lại dù chỉ một mảnh xương của người thân yêu, để bà có thể làm một đám tang tử tế. Bà, người không chịu ngừng than khóc. Bà chịu đựng nỗi đau và đứng lên chống lại sự lãng quên. Bà, người không nói lời từ biệt. Khi viết về cuộc đời bà, người bao năm tháng luôn sục sôi, đẫm đầy cùng một nỗi đau và tình yêu, tôi nghĩ mình đặt ra những câu hỏi sau: Chúng ta có thể yêu đến mức nào? Đâu là giới hạn của chúng ta? Chúng ta phải yêu đến mức nào để duy trì được nhân tính đến tận cùng?

Nhà văn Han Kang trong buổi họp báo của Viện Hàn lâm Thụy Điển hôm 6/12. Ảnh: Reuters

***

Ba năm sau khi phát hành ấn bản tiếng Hàn của Không lời từ biệt, tôi vẫn chưa hoàn thành cuốn tiểu thuyết tiếp theo của mình. Còn cuốn sách tôi hình dung sẽ theo sau nó thì chờ đợi tôi mòn mỏi từ lâu. Đó là cuốn tiểu thuyết liên kết với Sách Trắng (The White Book), tác phẩm tôi viết ra từ mong muốn cho người chị ruột – đã qua đời hai giờ sau khi chào đời – mượn tạm cuộc sống của mình trong giây lát, và cũng để săm soi vào những thành tố làm nên chúng ta mà không gì phá hủy nổi, dù trời long đất lở. Như mọi khi, thật khó dự đoán khi nào sẽ hoàn thành tác phẩm, nhưng tôi vẫn miệt mài viết, dù chậm. Tôi sẽ vượt qua những cuốn sách đã viết để đi tiếp. Cho đến khi tôi ngoái lại nhìn và thấy chúng không còn trong tầm mắt mình nữa. Xa nhất có thể mà đời tôi cho phép.

Khi rời xa tôi, các tác phẩm tiếp tục đời sống độc lập và đi theo số phận riêng của chúng. Cũng như hai chị em ở cạnh nhau mãi mãi trong chiếc xe cứu thương, khi ngọn lửa xanh rực cháy bên ngoài cửa kính. Cũng như người phụ nữ sắp lấy lại giọng nói, dùng ngón tay mình viết vào lòng bàn tay của người đàn ông – trong tĩnh lặng, trong bóng tối. Cũng như chị ruột tôi, đã qua đời chỉ sau hai giờ đến với thế giới này, và người mẹ trẻ măng của tôi ôm con van cầu: “Đừng chết, xin đừng chết” cho đến phút cuối cùng. Những linh hồn đó sẽ đi xa đến đâu – những linh hồn tụ lại thành vầng sáng màu cam rực rỡ sau mí mắt nhắm của tôi, bao bọc tôi trong ánh sáng ấm áp khôn tả? Những ngọn nến sẽ rọi xa đến đâu – những ngọn nến được thắp lên tại hiện trường mỗi vụ giết chóc, trong thời gian và không gian bị tàn phá bởi bạo lực không thể tưởng tượng được, ngọn nến trên tay những con người thề không bao giờ nói lời từ biệt? Phải chăng chúng sẽ lướt đi từ sợi bấc này sang sợi bấc khác, từ trái tim này sang trái tim kia, trên một sợi chỉ vàng?

Trong cuốn sổ nhỏ tôi tìm thấy ở hộp giày cũ vào tháng 1 năm ngoái, tôi của quá khứ, viết vào tháng 4/1979, đã tự hỏi mình:

Tình yêu ở đâu?

Tình yêu là gì?

Còn đến mùa thu năm 2021, khi Không lời từ biệt xuất bản, tôi xem hai vấn đề sau đây là cốt lõi:

Tại sao thế giới đầy bạo lực và đớn đau?

Mà vẫn có thể đẹp tươi đến vậy?

Suốt thời gian dài, tôi tin rằng cuộc đấu tranh bên trong căng thẳng giữa những câu này là lực đẩy đằng sau sự nghiệp viết lách của mình. Từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên đến cuốn mới nhất, những câu hỏi neo giữ trong tâm trí tiếp tục thay đổi và phát triển, nhưng chỉ có hai câu này là bất biến. Nhưng hai, ba năm trước, tôi bắt đầu nghi ngờ. Có thật sự là tôi chỉ bắt đầu tự hỏi mình về tình yêu – về nỗi đau kết nối chúng ta – sau khi Bản chất của người ra mắt bản tiếng Hàn vào mùa xuân năm 2014 không? Từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên đến cuốn mới nhất, chẳng phải lớp sâu nhất của các truy vấn của tôi đều luôn hướng về tình yêu hay sao? Phải chăng tình yêu thực sự là âm điệu cổ xưa và căn bản nhất trong cuộc đời tôi?

Tình yêu nằm ở một nơi riêng tư được gọi là “trái tim của tôi”, đứa trẻ đã viết vào tháng 4/1979. (Nó nằm trong lồng ngực đập thình thịch của tôi). Và về tình yêu làgì, đây là câutrả lời của cô bé. (Nó là sợi chỉ vàng kết nối trái tim của chúng ta).

Tôi huy động toàn bộ cơ thể mình khi viết. Tôi sử dụng tất cả giác quan để nhìn, nghe, ngửi, nếm, trải nghiệm sự dịu dàng, ấm áp, lạnh lẽo, đớn đau; để nhận thấy tim mình đập nhanh và cơ thể cần thức ăn nước uống; để đi và chạy; để cảm nhận gió, mưa, tuyết trên da; để nắm giữ những bàn tay. Tôi cố gắng truyền những cảm giác sống động mà tôi – một sinh vật phàm trần với dòng máu nóng chảy trong cơ thể – cảm nhận được, vào câu chữ của mình. Như thể truyền đi một luồng điện. Và khi biết luồng điện này đã được truyền đến độc giả, tôi kinh ngạc và xúc động. Trong những khoảnh khắc này, tôi lần nữa trải nghiệm sợi chỉ ngôn ngữ kết nối chúng ta, mối liên quan giữa những câu hỏi của tôi với của độc giả, thông qua luồng điện sống động ấy. Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những ai đã kết nối với tôi qua sợi chỉ đó, cũng như những ai sẽ đến tham gia kết nối trong tương lai.

Nguồn Vanviet

Thì thầm với mình trong đêm

Truyện ngắn Trần Minh Nguyệt.

Trời đã vào thu, khí trời se lạnh, tôi cuộn mình trong chiếc chăn mỏng và cảm thấy thật dể chịu. Ánh trăng rằm tháng bảy chiếu qua khe cửa sáng vằng vặc. Mùi hương của cây hoa Nguyệt Quế thoảng đưa hòa cùng tiếng côn trùng râm ran đây đó trong vườn tạo nên một bản nhạc đồng quê tuyệt diệu. Dòng đời vẫn trôi một cách vô tình và lặng lẽ. Mới ngày nào tôi vẫn còn là một cô bé con ngơ ngác mà giờ đây đã hơn nửa cuộc đời rồi. Những kỉ niệm vui buồn ùa về trong tâm trí tôi- chúng dẫn dắt, lôi cuốn  tôi vào những giấc mơ có lúc thật êm đềm, đôi khi khắc khoải buồn vương … Mẹ sinh ra tôi cũng vào một đêm cuối thu- một đứa trẻ sơ sinh lẽ ra bú no là ngủ, nhưng không hiểu sao tôi lại rất ít ngủ mà khóc ngoằn ngoặc suốt ngày đêm. Bà mụ đỡ sốt ruột vì tiếng khóc của tôi làm cho những đứa trẻ khác giật mình khóc theo và không để cho ai được ngủ yên . Vì vậy, tôi khóc ròng rã hai ngày- đến ngày thứ 3- khi tắm cho tôi xong, bà lén cho tôi uống thuốc an thần nhẹ ( sau này có người phát hiện nên mẹ tôi mới biết). Và tôi “ bị ” cho uống thuốc an thần liên tục trong bảy ngày khi mẹ tôi còn nằm lại nhà hộ sinh. Có lẽ trí não non nớt của tôi không chịu nổi sự tác động quá lớn của loại thuốc kích thích này nên tôi đã phát triển không bình thường như những đứa trẻ khác. Mọi người trong làng khi nhìn tôi,ai cũng xót xa cho cha, mẹ tôi .Họ không nói ra nhưng ai cũng nghĩ là tôi bị “ không bình thường”.  Người lớn nhìn tôi thương hại, trẻ con thì không thèm chơi với tôi, và thậm chí chúng không dám để tôi đến gần. Hàng ngày tôi chỉ có một việc là đứng ngắm mình trước gương, lặng lẽ -bất động… Tới tuổi đi học- tôi không học được chữ nào cả,dù mẹ tôi có kiên nhẫn cố gắng chỉ dạy cho tôi học như thế nào đi nữa. Không ai biết thuốc an thần trong đầu tôi dần dần giảm đi tác dụng như thế nào ( hay đã có tác dụng gì?) chỉ biết có một ngày bỗng dưng tôi đọc được sách, làm được toán. Tôi không học từng chữ-từng câu như bọn trẻ-nhưng tôi đọc được sách, báo. Tôi chỉ đứng nhìn thầy cô giáo dạy toán ( lớp 3) chơi thôi-nhưng sau đó, tôi làm được những bài toán lớp ba, thuộc loại khó. Vậy là tôi phải cắp sách đi học như bao đứa trẻ khác chứ không còn được đứng hằng giờ soi mình trước gương nữa. Trí óc tôi phát triển bất ngờ, nhưng tính tình tôi vẫn “quái dị “, vẫn  thuộc dạng không bình thường, không giống ai cả. Tôi học rất giỏi –cả lớp không theo kịp – tôi chỉ nghe thầy cô giảng, hay chỉ đọc qua-là nhớ, là thuộc lòng, không cần về nhà học nữa -nhưng khi đi ra đường là  bị những đứa trẻ khác lại ném đá vào tôi, trêu chọc tôi- vì có lẽ, lúc đó chúng trông tôi rất ngớ ngẩn, khác lạ?. Lâu dần, tôi có cảm giác, mình giống như một con thú hoang bị chạy lạc xuống đồng bằng xa lạ vậy!. Ngày đầu tiên vào lớp 10- thầy giáo chủ nhiệm chọn lớp trưởng, thầy đọc tên tôi đầu tiên vì trong kỳ  thi chuyển cấp tôi đạt  điểm số khá cao. Nhưng khi tôi đứng dậy, ông nhìn tôi một lúc với ánh mắt nghi ngờ- ông trầm giọng- nói :” Em chắc không thích hợp để làm lớp trưởng đâu”. Ánh mắt của học sinh trong lớp đổ dồn về phía tôi- một cô bé lôi thôi, lếch thếch với vẻ mặt ngờ nghệch vậy mà  sao có điểm  đậu cao vậy?. Sau phút ngạc nhiên, họ phá lên cười như nắc nẻ làm thầy giáo chủ nhiệm cũng cười theo. Tôi cảm thấy xấu hổ không biết trốn vào đâu nữa. Và sau hôm đó tôi sống lặng lẽ, cô độc hơn. Tôi không tìm nổi được cho mình một người bạn nào cả. Tôi càng lặng lẽ bao nhiêu, thì bạn cùng lớp lại để ý đến tôi nhiều hơn. Có thời gian rảnh là họ lại tìm kiếm đủ mọi cách để chọc phá tôi, để lấy tôi làm trò tiêu khiển! Họ “cặp đôi” tôi với người này người khác, họ kéo tóc tôi và làm đủ mọi thứ mà họ thấy vui là được. Họ chỉ tha cho tôi khi giáo viên vào lớp hoặc tôi ôm mặt khóc. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ lại rất rõ những cành tượng đau lòng , tồi tệ đó của bọn họ.-  có lúc tôi nghĩ, mọi chuyện ác tâm kia  như chỉ vừa mới xảy ra hôm qua đây thôi.Thầy Thanh dạy sử – hôm nào vào lớp cũng gọi tôi lên kiểm tra bài cũ, nhưng thầy không hỏi những gì liên quan đến bài học mà hỏi những câu hỏi lạ kì – chưa  có một lớp học nào trên thế giới học sinh “ bị”  hỏi như vậy. Thầy hỏi tôi :” Sao em biết mùa thu?”. Sau một lúc ngỡ ngàng tôi vẫn trả lời thầy” Thưa Thầy,! mùa thu có lá vàng rơi”. Hôm khác thầy lại hỏi ” Dấu hiệu nào báo hiệu mùa xuân?”. Tôi ngờ nghệch trả lời” Dạ! Mùa xuân có chim én bay”. Và sau những lần như vậy , cả thầy và học sinh trong lớp  đều cười nghiêng ngã. Tôi thộn mặt ra không biết mình làm sai chuyện gì nữa? Chuyện này vẫn tiếp diễn cho đến khi bài kiểm tra một tiết và 15 phút được phát ra- tôi được một số điểm cao nhất nhì lớp. Lúc đó thầy Thanh không còn gọi tôi lên kiểm tra bài cũ theo kiểu quái ác như vậy nữa. Một hôm, lớp tôi có buổi lao động tập trung, dọn vệ sinh sân trường. Đang làm việc thì trời đổ mưa. Tôi và các bạn nép vào hành lang để tránh cơn mưa lớn. Tôi mê mãi ngồi nhìn mưa rơi trên mái tole nhà để xe- tôi nhìn say sưa đến nỗi khi thầy Nam dạy Lý ngạc nhiên đập mạnh vào vai tôi- tôi mới giật mình tỉnh giấc – trở về với thực tại. Lúc đó trời đã sẩm tối , các bạn trong lớp đã ra về từ lâu rồi. Vậy là ngay hôm sau, ngoài biệt danh ” ngớ ngẫn” ra, tôi còn có thêm biệt danh mới là ” ma nhập”  nữa! Một trò đùa tinh quái nữa đã làm tổn thương tôi, nhưng tôi chỉ biết im lặng! Thời phổ thông- cái thời đẹp nhất của cuộc đời đi học của tôi đã trôi qua lặng lẽ và tẻ nhạt như vậy đó. Có nhiều chuyện không vui, lạ lùng-đau lòng khác mà  tôi không dám  bảy tỏ- đành chôn nó vào trong sâu thẳm trong tâm hồn mình. Gợi nhớ làm gi khi quá khứ chỉ là một chuỗi những bất hạnh không thể chia sẻ? Năm năm đại học, tôi học xa nhà, bắt đầu cuộc sống mới thật lạ lẫm .Tôi ở tập thể, ở chung với tám người bạn gái khác từ nhiều miền của đất nước. Ai cũng vui, và đối xử với tôi thật dịu dàng. Nhưng bản tính “quái dị” lạnh lùng của tôi như một bức tường vô hình ngăn cách tôi với mọi người. Nỗi ám ảnh của tuổi thơ  bị  “phân biệt”, không được thấu hiểu-an ủi,  đã làm tổn thương tâm hồn tôi quá nhiều chăng? Trang giấy trắng tâm hồn tôi đã bị bôi đen  bởi bao vết bẩn của bạn bè và thầy giáo vô tâm chăng?  Ngoài một buổi học ở giảng đường,  tôi  đắm chìm vào những quyển sách- đó là thế giới riêng, thế giới trong mơ của tôi. Rồi lần lượt những đứa bạn cùng phòng của tôi có đôi có cặp- vào ngày nghỉ lễ, vào ngày cuối tuần họ rủ rê nhau đi chơi- khu nhà trọ còn lại một mình tôi- tĩnh lặng lạ thường. . Tôi cũng đã tìm được cho mình một người để thương yêu- nhưng đó là một hình ảnh – một ảo ảnh-chỉ sống trong trí tưởng  của tôi mà thôi!. Tôi thường mơ nghĩ đến hình ảnh thân yêu ấy: Anh ấy hiền từ, thánh thiện và yêu thương tôi thật nhiều. Và nhờ vậy- anh ấy đã giúp tôi bớt cô đơn trong cuộc sống. Từ ngày ra trường đến nay, tôi xin được một nơi làm ổn định, một công việc tôi yêu thích. Ngày ngày tôi được gặp gỡ nhiều người, tính tình tôi bớt nhút nhát hơn. Bạn bè, đồng nghiệp vào ngày nghỉ rủ tôi đi uống cà phê, nói chuyện phiếm. Dần dần tôi vui vẻ và hòa nhập với cuộc sống hơn. Nhưng trời vốn vô tình, khi tôi vui và hạnh phúc lên một chút thì sức khỏe của tôi ngày càng sút kém đi. Máu  ở mũi tôi tự dưng chảy nhiều, cơ thể tôi mỏi mệt, không ăn uống gì được Tôi phải uống thuốc giảm đau đều đặn mỗi ngày.và làm xong việc là tôi hầu như nằm bẹp dí trên giường. Người thân, bạn bè tôi, ai cũng xót xa cho tôi nhưng cũng chỉ an ủi tôi đôi câu… Những lúc phải  cam chịu những nối khổ đau thân xác ( và cả tâm hồn) – tôi chỉ muốn tự giải thoát lấy cuộc đời của mình. Tôi muốn chấm dứt mọi khổ đau, mọi nỗi vui buồn trong cuộc sống. Tôi không muốn bị những cơn đau đớn hành hạ nữa. Tôi không tìm được niềm  an vui trong cuộc sống,  thì đành phải rời bỏ nó đi vậy. Sống để làm gì khi không có một mục đích, một con đường nào tươi sáng để bước tới ? Đã có lúc tôi nghĩ và muốn làm như vậy … Giờ đây-những áng mây mờ như dần tan đi -tôi sống vui hơn cho dù sức khỏe vẫn còn yếu lắm!  Vẫn buồn  vu vơ như trước- nhưng trong lòng tôi đang xanh mầm  tin yêu- niềm tin yêu đến với tôi  tình cờ như một cơn gió mát dìu dặt đêm trăng..  Tôi sẽ yêu cuộc sống của chính mình, sẽ mãi  an vui với hiện tại là sẽ có ngày mai.  Tôi luôn hi vọng-sau “ cơn mưa,  trời sẽ sáng”- bởi vì không có ai mãi mãi phải  chịu khổ đau khi họ luôn tin yêu cuộc sống và vươn tới bằng chính trí tuệ và tâm hồn trong sáng của mình! Tôi nhớ lại lời một người thân dặn tôi mỗi buổi sáng trước khi tôi đi làm:- Phải yêu lấy bản thân mình, trước khi yêu những gì khác- đừng để ai cũng lo lắng cho mình.- Phải sống vui ở hiện tai,  thì tương lai sẽ tốt đẹp!- Chạy xe nhớ cẩn thận giùm. Tôi mỉm cười- lòng cứ mong sao cho trời mau sáng, để được nghe những lời yêu thương kia thì thầm. Một ngày mới lại bắt đầu trong tình thương yêu trời biển…./.

Đôi mắt Tuệ Sỹ

Tâm Nhiên
.
Như Long Tượng mắt mở trừng sáng rực

Một hôm gầm sấm dậy khắp nhân gian

Làm chấn động cả sơn hà đại địa

Rền ngân vang tận rú thẳm non ngàn



Đôi mắt ấy cháy ngời xanh ánh lửa

Thiêu rụi tàn ngàn bóng tối u minh

Vô lượng quang sáng bừng lên trí tuệ

Đại bi tâm hàm dung chứa bao tình

.

Đôi mắt đó trầm sâu màu đáy biển

Hòa chan nhau máu lệ nỗi đau đời

Từ nhãn thị chúng sinh đầy thương cảm

Mà đọa đày trong cuộc lữ chao ơi !

.

Ôi đôi mắt lặng nhìn xuyên tam thế

Cõi tồn lưu huyễn mộng khói sương lồng

Lòng trăng hiện giữa đêm dài sinh tử

Thõng tay vào phố chợ bước dung thông

Khúc tình ca Đà Lạt

Từ Hoài Tấn

.

Tháng mười chúng tôi đi dưới những hàng cây ven hồ 

Vì sao đêm ngời sáng trong mắt nàng 

Dáng nghiêng người ngọc 

Nàng vẫn là cô gái mười sáu tuổi của tôi 

Với tình yêu đầu trong vắt như dòng sông quê nhà 

Mỗi ngày đi học tôi gặp nàng 

Qua ánh mắt 

Nhưng tình yêu chúng tôi nồng nàn không gì so sánh được 

Tình yêu đã trải dài qua hơn năm mươi năm 

Một ngày phục sinh nơi đất khách 

Chúng tôi đã vượt qua 

Những sông những núi những đồi 

Đà Lạt ngày trở về 

Nối dài cuộc tình ta

Không bao giờ dứt 

Tháng mười ở ngoài kia 

Những hàng thông trên đồi reo khúc 

Bài hát ngàn năm 

Những giọt sương ban mai đem một chút hơi mùa đông 

Cho tay trong bàn tay ấm áp 

Những con đường dốc xanh 

Như đường tình ngút mắt 

Của nỗi lòng yêu vô tận 

Tôi và em

Đã bước qua cửa thiên đường 

Cõi không gian muôn sắc 

Có ngày xưa ấy có hôm nay 

Tình không bờ bến 

Có em ngày đó có hôm nay 

Tình say ngất non cao 

Đà Lạt của ai hay Đà Lạt của tôi 

Không biết Đà Lạt ngày xưa hay Đà Lạt hôm nay 

Không biết thời gian còn có nghĩa gì không 

Của một cuộc tình vô hạn 

Đà Lạt, tình yêu tôi 

Đả Lạt, cuộc đời tôi 

Đường học Đường đời

Huỳnh Ngọc Nga

(Thương kính tặng thầy Nguyễn hữu Khánh

Kính thầy,

Khóa A2 chỉ còn hơn tuần nữa là chấm dứt, như lời đã nói hôm nào, Nga trao thầy quyển vỡ nầy để thầy ghi lại những gì đáng nhớ của hai khóa học đã qua.

Đời người có những đoạn đường ta đi hoài không hết, và đường học vấn có lẻ là một trong những đoạn dài bất tận đó. Bỏ ghế nhà trường hơn mười năm, Nga cứ tưởng mình mất rồi cái vô tư của tuổi học trò. Thế nhưng dung rủi cuộc đời đẩy đưa Nga tiếp tục con đường đã bỏ, Nga hân hạnh gặp ở Pháp văn một cô Thoại Anh hiền lành dễ mến, và ở Anh văn có thầy, một người tận tụy nhiệt tâm. Nga kính trọng thầy trong nghĩa thầy trò và khâm phục những kiến thức nơi thầy mà Nga đã biết. Cô học trò của thầy học dốt nhưng thích nghe và tìm hiểu, Nga mong sẽ được học hỏi thêm những điều hay lạ mà thầy sẽ ghi lại nơi đây.

Một ngày nào đó thôi không còn trở lại ghế học trò, nhìn lại trang vở nầy như nhìn thấy một đoạn đường Nga đã bước.

“ No one knows what will happen “

Giờ thì Nga ngừng đây, và như trong lớp học :”Thank you and good bye teacher”.

Huỳnh Ngọc Nga

Saigon, 20.03.1982

Gửi chị Ngọc Nga,

Hai khóa học đã qua. Cái đáng nhớ nổi bật có lẽ là sự làm việc hết sức, hết lòng ở cả hai phía, người nói, người nghe. Kỹ niệm cũng còn là đây đó một nụ cười, một câu nói, một dáng vẻ biểu lộ, một quyển sách, một dòng chữ nhắc nhở…….

“Có những con đường ta đi hoài không hết, và đường học vấn có lẻ là một..”. Đi học là đi trên đường làm người và ta làm người trên con đường học vấn. Thường thì cuộc đời chấm dứt mà con đường vẫn vô cùng. Chỉ có cái ý thức về sự vô cùng, cái ý thức ấy có thể giúp ta nhìn ra, để từ đó có an nhiên tự tại……

Và, trên con đường học vấn, học hành ấy, cái hiểu được, nghe được có khi ẩn, khi hiện. Tất cả còn tùy ở một tấm lòng, một tâm hồn. Ta có thể hạnh ngộ với người, với ta. Sự gặp gỡ ấy soi sáng, làm rực rỡ con đường ta đi.

“The only thing that is permanent is change.

And, the kingdom of happiness “is within you“.

28.03.1982

*

* *

Tôi xếp quyễn Lưu Bút lại, nhìn tờ lịch trên tường rồi ngó mông lung qua khung cửa. Torino bây giờ đang mùa lá đổ, bên quê nhà ắt hẳn đang vào độ mưa dầm. Hai mươi năm chẳn đã trôi qua, bao lần rồi tôi đã đi tìm kỹ niệm một thời trong quyễn vỡ bé nhỏ nầy, những kỹ niệm có bạn bè thân thương, có thầy, cô kính mến, tất cả đã được gói trọn bằng những giòng chữ đơn sơ, chân thật. Nếu những bài viết của bạn bè là những vui đùa nghịch ngợm, thì những bài viết của thầy cô là những nhắn nhủ dạy khuyên. Tôi thường dừng lại trên trang giấy có bài viết của thầy để nhớ lại những chiều tan sở, đạp xe đến trường. Đại Học Tổng Hợp học thêm những khóa sinh ngữ cần thiết, dành làm hành trang cho một chuyến đi xa mà lòng tôi thực tình không mong mỏi.

Ngay từ khóa Anh văn đầu tiên, tôi đã may mắn được học lớp do thầy hướng dẫn. Thầy là giáo sư Việt văn của trường nữ Trung học Lê văn Duyệt cũ, dạy thêm ngoại ngữ có thể để nâng cao thu nhập gia đình hoặc để choán lấp khoản trống thời gian trong ngày còn lại. Thầy hiền lành, tận tụy với đám học viên đủ mọi hạng tuổi, mọi trình độ. Tôi vẫn thường say sưa theo dõi những bài ngoài chương trình của thầy về sử, địa, tin tức thời sự quốc tế, kiến thức thầy rộng lớn quá đối với đầu óc thiển cận của chúng tôi.

Khóa học thứ hai tôi và các bạn cùng lớp hài lòng khi được học lại với thầy lần nữa. Thời gian đã khiến thầy trò thân nhau hơn, thầy thường đến sớm hơn và hay nán lại năm, mười phút khi tan lớp để chuyện vãn với chúng tôi. Tính hòa đồng cộng thêm sự nhiệt thành tận tâm của thầy đã khiến lớp học của chúng tôi vui nhộn, linh hoạt hơn các lớp khác. Nhưng đó cũng là khoảng thời gian tôi sửa soạn rời xa quê hương. Ngày mãn khóa, chúng tôi tổ chức liên hoan tưng bừng khác hẳn những khóa học thường, trong tiếng cười nói tươi vui của bè bạn chung quanh, tôi bỗng nghe lòng chùn xuống khi nghĩ đến ngày mai tôi không còn dịp để trở lại chốn nầy. Đây, những người bạn sau cùng của tháng ngày đến lớp. Đó, vị thầy khả kính cuối cùng tôi có được trước lúc ra đi. Tôi đi tìm gì ở xứ người khi thân tình nơi đất mẹ vẫn đậm nồng tha thiết?

Hai mươi lần bốn mùa luân chuyển đổi thay để tôi biết đã hai mươi năm tôi sống đời viễn xứ. Thời gian như con sông trôi dần về phía trước trong lúc tâm tư tôi trôi nhẹ ngược giòng, ngày lễ Nhà Giáo sắp đến, tôi chợt dưng nghe thèm viết một cái gì gởi về quê hương với ước mong thầy và các bạn tôi sẽ đọc đuợc để cùng nhau nhớ lại một thời thân ái.

Tôi bước trên đường đời với nợ áo cơm chưa trọn mà khoảng cách với điểm tận cùng đang bị thâu ngắn bởi thời gian, tôi cũng đã dừng chân tách bước trên con đường học dù chưa tắm gội nhuần nhuyển bao tinh hoa của biển học mênh mông. Nhưng tôi đã tìm được niềm vui, hạnh phúc ngày hôm nay bằng cách sống an nhiên tự tại giữa cuộc sống với bao thăng trầm biến chuyển như lời thầy nhắn nhủ, và lời cảm tạ nầy xin được gởi đến thầy với tấm lòng kính mến của cô học trò cũ năm xưa, mong thầy nhận để biết rằng giữa đường học và đường đời có một lần nào đó thầy trò ta đã hạnh ngộ cùng nhau.

HUYNH NGOC NGA

Qua cầu

.Nguyễn Thái Dương

.

(lời một cô giáo gửi mẹ

khi về nhận nhiệm sở Cần Giờ)

Má không tưởng tượng được rằng

Cây cầu khỉ, chửa một lần con qua

Gập ghềnh như những câu ca

Má ru thuở nhỏ thiết tha nhịp nhàng

.

Bàn chân con cứ run khan

Giá mà có má dắt sang bấy giờ

Thì cây cầu hẳn nên thơ

Như trăm câu hát đời xưa của mình

.

Học trò con đứa vô tình

Đứa hồn nhiên đứng ngó nhìn dáng con

Đứa thì chạy vội tới ôm

Hai cô trò đến là thương: ngã nhào

.

Nhưng mà má có ngờ đâu

Cái lần đầu ấy, lần đầu con tin

Rằng con sẽ thẳng người lên

Sau giây phút bước chênh vênh qua cầu…

Viết Cho Các Học Trò Cũ Của Tôi

.

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

.

Các em thân mến,

Còn mấy ngày nữa là đến ngày 20 tháng 11 , cô lật mở lại những trang viết mà các em đã ghi lại những lời nói với cô trong đêm ngày 5 tháng 5 năm 2010, ngày cô về thăm nhà và do sự sắp xếp của trò Lê sa Long mà cô trò mình được gặp nhau…

Cô thật vô cùng xúc động và không ngờ cô trò mình lại có được cái diễm phúc ấy, đó cũng là nhờ công khó của các em, LSl và Hiền lớp trưởng đã bỏ bao nhiêu công sức để tập họp các em từ mọi nơi trở về họp mặt trong đêm ấy…

Bây giờ ngồi nghĩ lại, lật xem lại những chữ viết của các em trong cuốn sổ Lưu niệm mà Long đã đem theo cho chúng ta ghi những cảm nghĩ cho cô ở đó…Nhìn lại những tấm hình chúng ta chụp với nhau …Từng khuôn mặt các em của ngày xưa, những đứa trẻ mới bước chân vào trường Trung học, những khuôn mặt bé thơ dễ thương trong những tấm thân gầy gò, những cuộc đời cơ cực như nhau…

Và cũng những con người ấy…hôm nay chững chạc biết bao, cò các em nữ thì xinh đẹp và em nào cũng đã có một gia đình hạnh phúc…có em còn làm bà nội bà ngoại của con nít…thật vui sao.

Mỗi lần nghĩ về các em, những khuôn mặt cô còn nhớ như in: Trương Trọng Hiền, lớp trưởng với khuôn mặt trắng hồng và giọng nói “cà lăm”, Bích Tiên và Tuyết Hồng, Hiếu Hòa, Ngọc Hồng…bốn bông hoa xinh xắn và cũng học khá giỏi với môn Anh Văn mà cô giảng dạy cho các em một ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ…Cô cũng đã cố gắng truyền đạt cho các em một cách chính xác trong sự hiểu biết của mình…Cô còn nhớ ngày ấy thỉnh thoảng thiếu giáo viên cô còn dạy thêm những giờ toán cho lớp các em nữa…

Trong số các em hôm gặp lại, cô nhớ mãi em Nguyễn đình Hoàng và em Lê Sa Long là ngày xưa rất giỏi toán, còn các em nữ thì giỏi Anh Văn…sau những tiết học cô vẫn thường cho các em hát với nhau, lúc ấy em Trần Duy Việt là hay hát cho chúng ta nghe nhất, bây giờ Việt cũng đã là một Giảng Viên âm nhạc và cũng là một ca sĩ nổi danh , em đã hát những bài hát cho chúng ta nghe quá hay, quá truyền cảm, cô không nghĩ rằng em Việt của lớp chúng ta lại có ngày hát hay như vậy.

Thường trong một lớp học thì chỉ những em cá biệt thì các thầy cô giáo mới nhớ mãi nhưng không biết vì đâu …mà sau hơn ba mươi năm gặp lại các em, những khuôn mặt rất bình thường như em Nguyễn Khánh Toàn, Trần Văn Yên Ngày xưa em bé xíu giống như em Trang Kim yến, Thái đình Hùng , Minh Thuyền, Nguyên Thị Vân, Tuyết Nga, Văn sang,Nguyễn thị Lan, đỗ Thanh, Nam Hà…

alt

Khi gặp lại các em, cô vẫn nhớ như in từng khuôn mặt bé xíu ngây thơ của ngày xưa…Bây giờ các em cũng đã ngoài bốn mươi, xấp xỉ tuổi năm mươi và cô cũng đã chập choạng trước ngưỡng cửa sáu mươi…Thời gian trôi nhanh quá phải không các em?

Gặp lại các em, trong niềm vui bất tận, cô trò mình có ít thời gian thăm hỏi nhau về cuộc sống về công việc…cô chỉ mong biết các em có thành đạt với xã hội và trào lưu tiến hóa của cuộc sống…để mừng vui hoan hỉ vì các trò xưa của mình nay cũng góp mặt rạng rỡ với đời…

Bây giờ trò Lê Sa Long ốm yếu của ngày xưa …bây giờ đã là một họa sĩ tài ba, một giảng viên đại học, đem tài năng sẵn có ra giúp đời và em chính là gạch nối thâm tình cho bè bạn…

Nguyễn Khánh Toàn cũng là một Bác sĩ, làm việc tại quê nhà, ngày xưa em không mấy nổi trội nhưng khi ra góp mặt với đời em lại là thành công trên bước đường sự nghiệp và giúp đời.

Các em nữ cũng thành công không kém như Ngọc Hồng, Tuyết Hồng, các em cũng là những nàng tiên áo trắng, đem đôi đũa nhiệm mầu giúp đỡ tha nhân…

đó cũng chỉ là một số ít các em mà cô đã gặp trong một lần hội ngộ…còn bao nhiêu em khác , những học trò cũ thân thương của cô ngày nào đã tung bay khắp mọi miền trên đất nước và cả trên khắp cùng thế giới…Các em đã thay cô trên bục giảng…các em đã thay cô lật tiếp những trang sách mới…Những bước khởi đầu là chúng ta đã gặp nhau giữa những ngày đất nước đang thu về một mối…

Những khổ đau, nghèo đói , túng cực mà cô trò mình đã nhận chịu trong thời gian ấy, hãy cho chúng đi vào dĩ vãng của thế kỷ 20…bây giờ những tháng ngày rộng mở của một thế kỷ mới cũng có những đổi thay…các em vẫn còn tuổi trẻ để làm nên một trang sử mới cho cuộc đời mình, cô mong ước các em sẽ tạo cho mình một trang sử sáng sủa hơn thế hệ của cô các em nhé.

Các em thân mến,

altXã hội cũng gồm nhiều thành phần con người mới tạo nên xã hội, công việc nào cũng tốt, nếu ta đem hết con tim và khối óc ra làm việc cọng với sự kiên nhẫn…Cô tin rằng các em cũng sẽ thành công …Và hãy nuôi dạy tốt những đứa con ngoan…đó lới chính là tình yêu và hạnh phúc của mọi người và niềm kỳ vọng của cô muốn nhắn gởi cho những học trò thân yêu của cô nơi thành phố Qui Nhơn ngày nào

Cô vẫn biết các em đã rất cố gắng trên bước đường vào đời, lấy học vấn làm bước tiến, nhưng vì trong hoàn cảnh và đúng thời điểm… đất nước chúng ta đang giữa hai bờ ranh của hai chế độ, một số đông các em sinh ra trong gia đình của xã hội miền Nam, những năm tháng bao cấp của chế độ mới… đã không cho phép các em bước vào con đường thăng tiến, các em không thể bước chân vào các trường đại học thời bây giờ, các em đã phải xếp bút trở về nhà sống những tháng ngày “tiếc nuối chuyện công danh”..

.Cô hiểu, biết và thương cho các em lắm, những học trò của cô trong cảnh ngộ này.Những oan khiên ấy các em đã phải nhận chịu…lịch sử của dân tộc sẽ còn ghi khắc muôn đời…và trong trái tim của người giảng dạy…Những giọt nước mắt gởi tặng các học trò tôi…khi mỗi lần nhắc lại.

Nhìn lại những học trò giỏi giang của cô ngày xưa như em Trọng Hiền, N.đ Hoàng , Bích Tiên, là những em ưu tú và ham học , nhưng vì hai chữ “lý lịch”… mà các em phải dừng lại bước đường sự nghiệp, công danh cho cả cuộc đời…Tội cho các em dường bao.

Nhưng hôm nay được nhìn thấy các em vẫn tạo dựng một gia đình hạnh phúc với những đứa con ngoan.. bằng đôi tay của những người lao động…mà các em vẫn thành công…Cô

thật vui mừng và muốn chia sẻ nỗi niềm riêng cùng các em, cùng sự sẻ chia và lòng ngưỡng mộ…các em thật giỏi giang khi bước xuống cuộc đời.

Các em thân yêu của cô,

Bây giờ ngồi ôn lai nhưng kỷ niêm đã qua, cô nhớ mãi những năm vào ngày 20 tháng 11, là ngày Hiến Chương của các nhà giáo, nhà trường hướng dẫn cho hoc sinh đem hoa tăng cho các thầy cô giáo…ở thời của cô chỉ đi Tết Thầy vào ngày mồng ba Tết mỗi năm mà thôi. sau này khi các giáo viên miền Bắc đưa phong trào này vào với chúng ta…Cũng là một truyền thống hay cho chúng ta xích lại gần nhau hơn phải không các em thân yêu???

Những năm đầu tiên tiếp nhân những hiểu biết mới, cô cũng không dám nói nhiều , vì sợ sự khốn khó của gia đình các em khi phải mang thêm một phần chi trả cho con trẻ, nhưng các em cũng mua hoa đem tăng cô nhiều lắm, cô còn nhớ mãi…

Những bó bông điêp bông Trang bày bán ở chơ khu 6, mỗi em mua cho cô môt bó, hôm ấy khi ra về cô chở đầy môt giỏ xe đap…về nhà cô lấy môt châu nước lớn thả hết vào để ngắm nhìn trong thõa thích vì đó cũng chính là lần đầu tiên cô đươc tăng hoa…

Và lần thứ hai là ngày Hôi Ngô sau 30 năm xa cách, cô trò mình lai găp nhau và cô lai nhân từ những hoc trò cũ của cô những lẳng hoa hồng đủ màu khoe sắc…Niềm vui và nỗi xúc đông dâng tràn khi chúng ta quây quần bên nhau trên quán cà phê đêm ấy …cô trò mình đã kể cho nhau nghe những biến cố xảy ra trong cuôc đời mỗi người, cô đã chan hòa niềm vui và hạnh phúc trong tình cảm ấm nồng hòa niềm vui sướng biết bao.

Chúng ta chia tay nhau và hen nhau hai năm sẽ hôi ngô tai Qui nhơn môt lần…bây giờ đã gần đến hạn kỳ mà cô vẫn chưa biết có giữ tròn lời hứa cùng các em không???Xin các em hãy tha lỗi cho cô nếu cô lỗi hẹn.

Mỗi lần nghĩ đến Bích Tiên phải ngồi gần môt ngày xe để về Buôn Mê Thuôt, Duy Viêt phải nghỉ day mấy ngày , trở về lai thành phố núi xa xôi, Lê Sa long phải đi hơn bảy trăm cây số với bao nhiêu chuẩn bi cho môt lần hôi ngộ và Hoàng và Hiền phải bỏ công việc để theo cô về quê để cô trò mình lại được hàn huyên bên nhau vài giờ phù du cho thõa lòng mong đợi..Cô thât xót lòng, ngâm ngùi thương cảm và không cầm đươc nước mắt.

Các em thân mến,

Ngày 20 tháng 11, cũng chỉ là một ngày kỷ niệm, nhắc chúng ta nhớ về nhau, thăm hỏi nhau giữa tình nghĩa của người học trò cho người thầy của mình và chỉ xảy ra ở xứ mình, ở các nước Tây Phương …chân tình ấy mấy khi có được.

Thường trong ngày này thì các thầy cô giáo nhân nhũng lời cám ơn , những bông hoa của các hoc trò trao tăng …Nhưng với riêng cô, cô xin gởi tất cả những ân cần, những yêu thương chân thành trong trái tim cô, xin trao về tất cả các em, những học trò cũ của cô, có em cô

quên, có em cô nhớ đươc..

.Các em chính là những bông hoa đẹp nhất mà cô hái được, các em chính là niềm tự hào trong trái tim cô…Cho dù ngày xưa cô cũng chỉ day các em môt vài niên khóa..

.Nhưng nhưng ân tình sâu đâm mà mình còn dành mãi cho nhau khi mỗi lần nhớ về người cô giáo cũ…mà các em còn thấy thương mến, kính trọng…đó chính là niềm vui to lớn nhất của người thầy giáo, các em chính là những bông hoa ngát hương mà cô đã có được, xin cám ơn thượng đế đã cho cô có cái duyên được có những tháng ngáy cầm phấn, những tháng ngày thần tiên bên đám trò nhỏ thân yêu của trường cấp 2 Ngô mây ngày nào …của thế kỷ trước…

Xin cám ơn nhưng học trò của tôi

Xin cám ơn tất cả những luyến thương mà các học trò cũ đã dành cho cô

Cô xin ghi tất cả vào trái tim cho đến phút lìa xa cõi nhân gian.

Bao năm ly xứ-thân dầu dãi

Gót mòn, chân mỏi, cánh tay buông

Mong ngày trở lại ngôi trường cũ

Gặp lại trò xưa-Tóc điểm sương

Atlanta 18th november 11

Nguyên Hạ_Lê Nguyễn

Xin để nguyên như thế

Mai Văn Hoan.

.

Xin để nguyên, xin để nguyên như thế!

Đừng đụng vào chiếc lá sẽ rơi

Xin để nguyên, xin để nguyên như thế!

Đừng chạm vào ảo ảnh sẽ tan thôi.

Minh họa: H.T

Xin để nguyên căn phòng em từng ở

Mưa đầu mùa buồn lắm phải không em?

Có điều chi làm em trăn trở

Hình như em cố giấu nỗi niềm riêng?

Xin để nguyên những đền đài, lăng tẩm

Bậc đá này em đã bước lên?

.

Tôi chạm vào như vẫn còn hơi ấm

Như vẫn còn hơi ấm dấu chân em.

Xin để nguyên những buổi chiều vắng vẻ

Phút bâng khuâng em từng đứng nơi này

Cồn Hến thả làn khói mờ, lặng lẽ

Cơn gió lùa, khóm trúc khẽ khàng lay.

.

Xin để nguyên, xin để nguyên tất cả

Xin để nguyên như thế đến nghìn năm

Thiên Mụ ơi, hãy tạc vào bia đá

Có một lần nàng đã đến đây thăm!

Gió mùa thổi mãi sang đông

Vũ Lệ Hương

Ai còn nhắc về cơn gió sớm nay

Thơm ngọt ngào qua năm qua tháng

Ai còn còn nhớ một nhành hoa cúc trắng

Đẹp dịu dàng sưởi ấm phía hoàng hôn.

Tôi muốn quay về gió xô dạt xa hơn

Hoa sữa mùa thu cứ mơ hồ tha thiết

Hơi thở nhẹ êm vắng xa biền biệt

Thơm nồng nàn rơi xuống cỏ lặng im.

Những chùm hoa kết lại hình trái tim

Bản nhạc cuối nhắc ta điều chưa nói

Giọt mưa thu vô tình rơi rất vội

Lối ta về nỗi nhớ lại dài thêm.

Tiếng chuông ngân khuất lẫn vào đêm

Thành phố vào đêm say nồng sương khói

Ánh đèn đêm chạm miền nhức nhối

Gió nói gì gấp vội với đêm sâu.

Nếu chúng mình chạm mặt kiếp sau

Và nơi ấy nồng nàn hương sữa

Sang đông rồi gió dập dồn bên cửa

Nhắc một chiều buốt lạnh vẫn thơm hương.

4 giờ nữa mặt trời mới rớt

Chim Hải

.

ngày tuổi trẻ bị hất tung

thơ trơ lòng ngó

tôi ướt tôi khô và bốc nhiệt

đớn đau. cuồng nộ. mê sảng. thảng thốt đôi bờ thực / ảo

đánh vật nỗi chết níu nuối một tôi hoang vu mịch lặng cõi người

tôi mắt ráo nhìn tôi lùi mấy mùa thơ rớt

vắt cạn đam mê đuối / đắm cõi tôi

cào xước hòm đời

ngược giấc trượt vào chiêm bao kẻ lạ

khuôn mặt sói đêm

ngày đã bạc

lật ngửa trang trắng và lời bật

chim hải

hoả táng câu thơ hốt tàn tro bón chữ

dị lời / chổng âm / biệt ngữ / nghĩa

bản thể lỏng lẻo tự thân trắc trở rớt rời

ngọn đam mê bùng cháy

tràn đêm thơ thức

chim hải

một bó sướng khoái

ngoi giữa hồn từng thanh huyễn tưởng

khúc khuỷu đường tim

câu thơ phiền chạm bi ai

bươi oằn con chữ

tuổi đã bạc

bước theo bóng đổ và đời tắt

thời gian ngã chúi

một tôi đếm một vàng phai

chiều

rụng

bên kia

4 giờ nữa mặt trời mới rớt