Feeds:
Bài viết
Bình luận

Cây Bằng lăng đẫm máu

Truyện ngắn của Nguyễn Trí

Giải nhất cuộc thi truyện ngắn của tổng cục Lâm nghiệp VN 2020

          Những ai đã từng tham quan rừng cấm X – và – từng được Vị, một kiểm lâm kiêm hướng dẫn viên du lịch làm nhiệm vụ dẫn đường sẽ, không bao giờ quên được anh. Và những ai thêm một lần quay lại X chắc chắn sẽ phone cho điều hành, yêu cầu Vị tiếp tục hành trình. Làm nghề mà được vậy thì quá tuyệt. Và để được vậy người làm nghề phải yêu cái mình đang làm như máu thịt. Hướng dẫn viên du lịch rất đặc thù. Ngoài trừ nói – mà – kiến trong lỗ phải bò ra hỏi ai kêu tui đó, còn phải am hiểu cái mình nói tận chân tơ kẻ tóc. Dân du lịch trước khi đến một miền đất nào đó tham khảo thiếu điều nát cả máy tính. Họ biết về nơi sẽ đến chả thua chi hướng dẫn viên. Chỉ cần không thông một điểm là người hướng dẫn mất linh trong mắt dân phượt liền. Những miền du lịch đã định hình, có bề dày lịch sử hướng dẫn viên phải nhão như cháo ăn liền. Muốn vậy phải đọc và phải đến. Khó, không khó nhưng tất nhiên là không dễ. Muốn khó thành dễ thì những ai chọn hướng dẫn du lịch làm nghề thì tốn không ít thời gian và tiền bạc. Bù lại, khi đã thành nghề anh chị sẽ được biết những kỳ vĩ, kỳ lạ, kỳ quái, kỳ khôi, thậm chí không hiểu làm sao người xưa đã làm được vậy.

        Nhưng rừng thì khác. Rừng xanh là của mẹ thiên nhiên. Rừng thâm trầm bí hiểm như lòng người vậy. Ca dao có câu “dò sông dò biển dễ dò…” Dễ dò, nhưng sông bể lòng người rừng xanh núi bạc là những thực thể không một ai hiểu được. Suốt đời ở rừng như Vị còn mơ hồ thì, khách du lịch chỉ thấy được cái đẹp hiện hữu chứ làm sao biết được sự kỳ bí trong lòng của hoang dã. Có câu chim kêu vượn hú. Nếu chỉ hú thôi là chưa đủ. Vượn còn hót nữa. Những ai từng đến sinh thái X chắc chắn biết. Sáng tinh mơ đang trong chăn nằm thưởng thức sự êm dịu của bình yên thì đột ngột tiếng của – chừng như – hàng trăm chú vượn vang lên lồng lộng. Dàn đồng ca ấy khiến con người ta bật dậy, kẻ mở cửa sổ, người tung cửa cái, tất cả đồng loạt ngước lên những tàng cổ thụ để xem loài sinh vật nào đang tạo ra những âm thanh như tiếng hát của thần thánh thế kia? Nhưng tinh mơ ở rừng sương mù lãng đãng ngay trên đầu du khách thì, trên cổ thụ cao những hai mươi mét ta nào thấy được gì. Du khách ở phố lần đầu nghe âm thanh ấy đã ngơ ngác hỏi và Vị trả lời:

–        Vượn đấy. Chúng hót để chào ngày mới.

     Chiếc Jin130 qua một đoạn đường rừng áng những mười lăm cây số. Du khách sẽ được Vị giới thiệu thế nào gọi là lán. Cũng dễ hiểu. Một đoạn cả vài trăm mét toàn một loại cây được gọi là lán. Lán Bằng lăng, lán Gõ đỏ. Đây là lán Bình linh. Cứ mỗi héc ta rừng nguyên sinh có mười một ngàn loài thực vật  – Vị bảo vậy – và du khách biết vậy. Biết để ngạc nhiên về sự kỳ bí của rừng chứ làm sao hiểu được. Và rừng như vậy được gọi là rừng giàu.

 Nghĩa là sao?

 Vị trả lời:

–        Một hécta cao su có thể thu bạc tỷ nhưng vẫn là rừng nghèo bởi chỉ một loại cây. Còn nguyên sinh giàu có bởi đa dạng thực vật. Thiên hạ có thể trồng một ngàn hecta cao su nhưng không thể trồng được một hécta nguyên sinh. Chỉ thiên nhiên làm được điều này và phải qua hàng ngàn năm mới được vậy. Vì thế, miễn cưỡng lắm người ta mới phá rừng để làm nương rẫy. Vô cớ mà phá là tội ác.

      Xe dừng lại ở một lán cây thẳng băng và đều như so đũa. Vị bảo rằng loại cây nầy có tên là Song Mây. Đứng trước lán rừng nầy du khách khó mà cưỡng lại sự tự sướng bằng cách chụp ảnh. Nắng xuyên qua rừng cây tạo nên những dòng sáng vàng tươi, lung linh như hào quang của điện quang trên đầu những pho tượng ở đền đài miếu mạo… Xe qua những con suối vắt trên đường. Ào… sóng nước tung lên… rất là tuyệt khi hình ảnh được ghi lại trong smart-phone đời mới.

      Xe dừng và, để đến được nơi cần đến phải đi bộ qua một đoạn đường rừng trên dưới năm cây số. Con đường chỉ tám mươi xăng ti mét chiều ngang, trước đây là đường của những người lấy rừng làm mạch sống. Khi X là du lịch sinh thái con đường được tu bổ bằng cách dùng đá núi và xi măng làm bằng để mời gọi du khách. Đường rừng nên cũng lên xuống xuống lên. Đang dẫn đầu Vị dừng lại và chỉ vào một bụi cây bên đường. Du khách ngạc nhiên khi thấy một con rắn lục màu xanh chỉ bằng chiếc đũa con đang ngủ. Đúng là mắt thần. Nhận ra sự khác lạ của màu xanh động vật lẫn trong màu xanh của thực vật không thần là chi? Tất cả tròn xoe mắt khi Vị cho họ mục kích một chiếc lá bằng ngón tay hay một cành khô nhỏ như cây tăm đang di chuyển trên chân của chúng… Có tiếng rú hốt hoảng của một cô gái vang lên. Cô ngồi xuống ôm chân. Ra là có hai con vắt đang đeo trên bắp chân trần. Vẻ hãi sợ hiện lên trong mắt cả tình lang của cô. Không sao đâu – Vị nói – Vắt đấy mà. Nói rồi anh ngồi xuống bắt hai chú vắt vo lại và ném vào bên trong con đường:

–        Có sao không anh? – Cô gái hỏi.

   Vị mở túi dết đưa cho các thành viên trong đoàn mỗi người một lọ “Dep”. Loại thuốc mỡ dùng để chống muỗi và vắt:

–        Không sao đâu. Cô yên tâm.

   Nơi đến cũng phải đến sau ngoài một tiếng băng rừng.  Nhìn cái gọi là bàu. Bàu Sấu. Một du khách kêu lên:

–        Đây là cái biển chứ bàu gì anh Vị.

–        Vâng… mùa nầy diện tích mặt nước từ một đến ba trăm héc ta. Mùa mưa thì những hai nghìn năm trăm hec lận đó anh.

      Các bạn phải – Vị tiếp tục – xuống phà ngang qua sông mới vào được khu sinh thái này. Dòng sông bắt nguồn từ cao nguyên Y, khi xuôi qua đây nó tiếp nhận thêm nước bàu Sấu đổ vào. Chính điều này đã giúp cho đất đai và cư dân sống ở hai bờ ở hạ lưu trù phú. Nếu không có sự cho đi và giữ lại của Bàu Sấu thì điều gì xảy ra? Các bạn hãy hình dung vào mùa mưa, nước của thượng nguồn và, từ những cụm rừng của khu du lịch sinh thái nầy tuôn xuống thì ngập lụt sẽ là điều không tránh khỏi. Và khi nắng hạn đến, nước đổ về chắc chắn không đủ để dòng sông luôn chảy nếu không có sự cho đi của Bàu Sấu:

–        Chắc có cá sấu nên gọi vậy phải không anh? – Một du khách hỏi.

–        Chắc chắn là vậy. Trước đây vài mươi năm, khi rừng còn ở tận quốc lộ thì khu vực nầy là nơi sinh sống của những tộc người thiểu số. Sau môt thời gian dài bị sự thiếu thốn của kinh tế vây hãm, dân cư các nơi đổ về tàn sát rừng để sống. Nếu không có sự cương quyết từ bên trên thì e rằng khu rừng nầy đã bê tông hóa. Bố tôi bảo rằng khi ông vào xứ này lập nghiệp thì cá sấu tự nhiên ở cái bàu này rất nhiều. Ngoài trừ cá sấu còn có những loài ngày nay đã vào sách đỏ như rùa vàng, cua đinh trắng…

–        Ngày nay thì sao anh?

–        Mọi thứ vẫn còn nhưng cá sấu tự nhiên thì hết rồi.

–        Sao vậy?

–        Một số lâm tặc xen vào dân nương rẫy đóng vai hiền tàn sát mọi thứ. Họ bắt cá sấu để làm lương ăn, lấy da để phục vụ cho cái gọi là đẹp và sang cả của con người nên cá sấu ở đây bị tận diệt.

–        Vậy ra bàu Sấu bây giờ chỉ còn là cái tên?

–        Không. Lãnh đạo của bảo tồn sinh thái đã mua và thả xuống đây một loại sấu khác. Cá sấu Xiêm, một trong những loài cá sấu nước ngọt đặc hữu của Đông Nam Á.

     Từ trên khu vực nhà khách của trạm kiểm lâm nhìn những chiếc xuồng con đang dập dềnh trên nước. Một cô gái kêu lên:

–        Eo ơi… có cá sấu mà người ta dám bơi xuồng trên bàu kìa.

–        Có sao đâu – Vị cười – Bơi xuồng tham quan là thường bởi cá sấu không tấn công người. Chúng nằm yên dưới đáy và chỉ nổi lên mặt hồ lúc hoàng hôn. Còn bây giờ có muốn thấy một ngoe để chụp tấm hình cũng khó.

Một khách tham quan hỏi:

–        Rừng ở đây còn nguyên vẹn hả anh?

–        Không anh ạ. Thấy vậy chứ bên trong cũng loang lỗ da beo lắm.  Kiểm lâm cũng như bảo vệ rừng làm việc cả ngày lẫn đêm mà bọn lâm tặc vẫn tác oai tác quái với đầy đủ thủ đoạn.

      Trong một quán cà phê nằm trên một bụi tre rừng. Để dựng được cái quán tạm gọi là độc nhất vô nhị nầy là một kỳ công. Bụi tre được đốn ngang thân và chủ nhân đã lót bên trên một lớp ván dày ba phân để làm nền, và trên cái nền ấy là một nếp nhà dựng bằng tre lợp lá Trung quân. Muốn lên du khách phải chân bước trên cầu tre tay vịn cũng bằng tre nhưng không lắt lẻo hay gập ghềnh gió đưa. Vị nói:

–        Để phát ngang búi tre nầy phải đơn từ và bản vẽ của nó phải do kiến trúc sư đề xuất. Phải đẹp và độc, thậm chí độc nhất mới được duyệt. Ván sàn của nó từ những nhà máy cưa ở phố đưa vào. Dân làm ăn ở đây tuyệt đối không được đụng vào dù chỉ một sợi dây leo…

–        Vậy mà lâm tặc vẫn phá được sao anh?

       Vâng – Vị nói – bọn lâm tặc nằm ở dạng đầu nậu trăm mưu nghìn kế để lấy cho bằng được những cái quý nhất trong rừng nguyên sinh. Chúng ở ngoài phố nhưng của nả vẫn được tập trung tận nhà. Những chiêu thức như dùng tiền mua rừng, mua bảo vệ thậm chí cả kiểm lâm viên hay trưởng trạm chỉ là chuyện nhỏ. Đã từng có vài anh trạm trưởng ra tòa lĩnh án vì thoái hóa bởi mảnh lực đồng tiền thì, kiểm lâm viên hay bảo vệ là khỏi nói. Án phạt nặng nhưng chỉ răn đe kẻ biết còn kẻ không biết là bó tay. Thậm chí đầu nậu còn lợi dụng cái không biết để tư lợi cho mình.

–        Nghĩa là sao? – Du khách hỏi – không biết và lợi dụng sự không biết là thế nào?

        Người sắc tộc thiểu số như Mạ, Chơ-ro… thì rừng là quê hương từ ngàn đời. Đưa họ về một chỗ để quản lý như người Kinh ở các vùng kinh tế mới là không thể. Lợi dụng sự thật thà, bọn đầu nậu đã vung tiền khi chất phát lâm thế ngặt để phục vụ cái họ muốn. Ở bàu Sấu thì rùa vàng hay cua đinh trắng. Thú rừng từ bò tót hay nai chồn cheo mển, cả gấu rừng chúng cũng không tha. Riêng tê giác xem như tận tuyệt. Quan trọng nhất là gỗ quý. Bọn đầu nậu chỉ lấy cái quý nhất của một thân gỗ vài trăm năm thậm chí cả nghìn năm tuổi. Đã có hơn mười vụ bị bắt tại chỗ nhưng phải thả vì – như đã nói – người thiểu số không biết chi kể cả người thuê mướn họ:

–        Sao lại không biết. Vô lý quá.

–        Người thiểu số bây giờ khôn ngoan lắm. Chính những đầu nậu lâm tặc đã dạy cho họ nhưng chiêu thức đối phó mà, giám đốc lâm trường cũng lắc đầu chào thua.

      Một anh thiểu số bị bắt đưa về ban chỉ huy lâm trường. Nhưng anh ta đóng phim không biết nói tiếng kinh thì tài tử xi nê cũng bái làm sư phụ. Ngôn ngữ không thông thì làm sao giải quyết? Một gã khác trọ trẹ tiếng kinh  xin gọi điện về báo cho người nhà đến nộp phạt. Người nhà có lên thiệt nhưng mà là, một cô vợ địu một cu con còn bú và hai tay dắt hai nhóc khác. Ở phòng quản lý ba đứa bé khóc phụ với mẹ xin thả cha về thì, làm sao chả biết phải làm sao. Tốt nhất là thả bởi, khi bị bắt hắn mới thò rựa vào để phát quang nơi muốn khai thác chứ đâu đã làm chi.  Mệt muốn đứt hơi khi là thành viên để bảo vệ một khu rừng mà diện tích những tám mươi nghìn hecta.

–        Anh nói cái quý nhất của một thân gỗ là cái gì?

–        Nu. Anh có biết thế nào gọi là Nu không?

–        Không. Tôi ở phố nên nào biết Nu là gì.

–        Để tôi đưa các bạn đi xem một cổ thụ Bằng lăng có Nu ở khu rừng bên kia bàu Sấu. Một thân gỗ đổ máu và máu cũng đã đổ trên thân gỗ ấy.

–        Dữ vậy à?

–        Vâng. Dữ dội và kỳ dị nhất mà trên ba mươi năm sống ở rừng nầy tôi chưa từng thấy một sự việc nào dữ hơn.

–        Qua bàu bằng xuồng đạp à? Ai chứ tôi thì không dám. – Một du khách nữ nói.

–        Không. Chúng ta có tám người nếu muốn thì thuê một ca nô cho an toàn.

                                                    ***

         Ca nô nổ máy và tài công đưa đoàn tham quan một vòng chu vi của bàu Sấu vĩ đại. Có lên non mới biết non cao, ra biển biết thế nào là xanh thẳm thì, có mặt trên lưng của một diện tích mặt nước ngoài trăm hecta, con người sẽ biết thế nào là xa mà gần gần mà xa. Ngoài trăm hecta thì đương nhiên là hơn cả mênh mông, nhưng cái mênh mông ấy bị chắn lại bởi sự vây hãm tứ phía của rừng xanh. Cảm giác xa gần gần xa khiến du khách có cảm giác hãi sợ và thích thú. Vị lại tiếp tục công việc của mình khi một du khách hỏi Nu là gì.

–        Các bạn có biết cái gù trên vai con bò đực không? – Vị hỏi.

–        Biết. Ở quê tôi gọi là gù.

–        Vâng. Có nơi gọi khối u đó là gù, nơi gọi là nu và thượng thú hạ cầm chỉ có hai con có cái gù nầy. Sa mạc thì Lạc đà, đất liền chỉ con bò đực dùng để kéo xe hay cày bừa. Trên rừng một số ít cây có khối u nầy vì sự biến hóa bất cập nào đó của tế bào thực vật. Khối u theo thời gian sẽ lớn dần trên thân của cổ thụ và được gọi là Nu. Nu ở gỗ nhóm A như Gõ Đỏ, Cẩm Lai, Hương, Giáng Hương… là cực kỳ quý giá. Nếu thân gỗ một khối là một cây vàng thì Nu phải gấp mười lần hơn. Nu nằm vắt vẻo trên một thân cổ thụ có khi cao cả mười, mười lăm mét. Muốn lấy khối u nầy thợ rừng phải hạ cổ thụ. Cổ thụ từ vài trăm đến nghìn năm tuổi thì chu vi những hai ba vòng ôm của người lớn thì chuyện hạ nó là không thể, bởi gỗ nhóm A là tài sản quốc gia. Khai thác mà không có giấy phép là vi phạm pháp luật. Đã có những quyền chức mất tất cả bởi sự tham lam vô độ. Họ cho người lén lút tàn sát để lấy gỗ. Lệnh cấm ban ra ngay cả một sợi mây cùng không ra được cửa rừng nhưng, họ vẫn cho người len lỏi vào và khai thác lúc đêm hôm khuya khoắt. Không ngã được cổ thụ thì họ bắt dàn giáo và lóc từng mảng thịt. Nu nằm cao cỡ nào nếu muốn, họ vẫn có thể cho lìa thân.

    Vị tiếp tục khi đoàn tham quan du lịch rời ca nô đi bộ đến cái nơi tại vị cây Bằng lăng mà Vị bảo là đã đổ máu và máu đã đổ:

–        Nu sỡ dĩ quý giá bởi vân gỗ của nó cực kỳ tuyệt đẹp. Khi xẻ ra ván thì vân của nó uốn lượn như rồng bay phụng múa, khi lại như mây bay giữa trời xanh. Nó thiên hình vạn trạng mà chắc chắn rằng không một họa sĩ nào có thể tưởng ra mà phóng bút. Nó mê hoặc đến đắm đuối cả nhưng kẻ vô cảm nhất. Bọn thợ líu lộng bảo đó là sự mê hoặc của nghìn năm thời gian trong từng thớ gỗ.

–        Líu lộng là gì hả anh Vị?

–        Là loại cưa xẻ bằng tay. Lưỡi của nó mảnh như cưa lộng của thợ mộc. Khi xẻ Nu, bề dày một tấm ván chỉ năm ly nên phải dùng líu lộng. Thợ sử dụng loại cưa nầy phải là tay thượng thừa. Phải chuẩn từng mi li mét một. Sai một chút là tấm ván cả cây vàng đi đứt. Có làm thợ líu lộng mới biết thế nào là “sai một li đi một… cây vàng”.

       Nhưng, Bằng lăng không nằm trong tốp gỗ nhóm A. Không A nhưng lại đặc biệt một cách kỳ lạ. Minh Tàn – một lâm tặc tầm cỡ của rừng X, từng ngồi tù về tội danh phá lâm – đã nói về cái đặc biệt của Bằng lăng như thế nầy:

–        Băng lăng cũng như bóng đá vậy. Một nghìn thằng mới được một. Cả trăm triệu dân mới moi được ba chục tầm cỡ để vào tuyển quốc gia. Nhưng để có một thiên tài thực thụ thì cả thế giới chỉ vài thằng. Sự cá biệt nào cũng rất đặc biệt. Bằng lăng là một loài thực vật như vậy.

       Có bốn loại bằng lăng là Thông, Cườm, Đá, và Ổi. Băng lăng Đá là loại gỗ không được trọng dụng.  Ngay cả cưa máy cũng sợ khi ra ván. Đã cứng thì chớ sớ gỗ của bằng lăng đá nằm ngang nên rất mau lụt cưa. Líu phải dũa bằng tay và mỗi lần dũa một lưỡi líu ít nhất là một tiếng đồng hồ nên, thợ rừng không ai dám đụng vào. Những tên gọi như thông, cườm, ổi thì cây có bề hoành một mét là hiếm. Và mười cây thì bộng ruột hay bù xòe đục lũng thân đã hết sáu, lại rất dễ nứt khi ngã. Nó có thể nứt làm bốn mảnh nếu thế ngã không chuẩn.

     Nhưng cá biệt lại có những cây to những ba người ôm. Đã có những bộ phản bằng lăng hai mét vuông dày hai mươi phân nhưng chỉ hai tấm – và – những bộ phản nầy là độc nhất vô nhị. Đã và đang có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn bộ phản như vậy của gỗ nhóm A nhưng Bằng lăng thì chỉ một. Đã và đang có hàng vạn mặt bàn, hông tủ hay mặt bàn thờ bằng Nu của gỗ nhóm A nhưng Bằng lăng thì tuyệt không. Xưa nay chả ai trên trần thế nầy nghe nói đến Nu Bằng lăng thì lấy gì để mục sở thị. Nhưng nói không có là không đúng đâu nghe.

      Nào, xin mời quý vị theo chân Vị đến nơi tại vị một cây Bằng lăng ngoại hạng và vô giá. Nó to những bốn vòng ôm người lớn và, có những sáu cục Nu nằm hài hòa trái phải, phải trái như một chậu Mai Chiếu Thủy tạo hình mẹ bồng con trên thân cao áng chừng ba mươi mét. Sáu cục Nu nhưng chỉ còn năm bởi lâm tặc đã cắt mất một cục ở cao nhất. Và năm lâm tặc chết hết bốn. Một còn lại là đầu nậu Ba Phúc bị chung thân về tội danh cướp giết. Thêm một nữa là…

                                                                ***

          Con đường dẫn vào gốc Bằng lăng tuy nhỏ nhưng khá thoáng. Cả toán du khách cực ngỡ ngàng khi mục sở thị cổ thụ. Ở nguyên sinh thì những cổ thụ như gốc Bằng lăng nầy không phải hiếm nhưng họ ngỡ ngàng bởi những khối u to bằng cả cái bàn nhô ra trên thân cây. Khối u hay còn gọi là Nu nằm cách nhau rất đều đặn. Ba mét cách mặt đất là một khối. Khối thứ hai cách khối thứ nhất chừng bốn mét và nằm ở chiều ngược lại. Thiên nhiên đã tạo ra một kỳ vĩ mà con người không thể nào hiểu được. Vết cắt khối u trên cao cách mặt đất là hai mươi mét. Vị nói:

–        Bọn phá lâm đã dùng cây rừng và đinh để tạo một dàn giáo vững chải từ gốc lên tận cục nu cuối cùng và dùng cưa cá mập để cắt khối u. Nhưng xui xẻo cho bọn chúng là khi cục Nu rơi xuống đã vỡ ra làm bốn mảnh và đập sập giàn giáo làm cả bọn trọng thương.

      Để dựng được bộ giàn giáo vây chung quanh một thân cây có bề hoành những năm mét, cao hai mươi mét thì, chí ít cũng cả tháng. Làm cách nào mà chúng đã qua mặt được bảo vệ rừng và kiểm lâm đi tuần tra? Câu trả lời rất đơn giản. Với diện tích trên dưới tám chục ngàn hec-ta thì từ bảo vệ cho đến giám đốc các lâm trường trong khu bảo tồn, chả một ai dám nói mình tinh thông rừng cấm X. Thậm chí nếu không có tiếng kêu cứu của bọn lâm tặc bị tai nạn thì, chả một ai biết có một cây Bằng lăng cổ thụ có Nu đang hiện diện trên đời. Người giữ rừng không biết vậy làm sao lâm tặc biết mà ra tay trộm đạo?

–        Một ngươi tộc Mạ đã tình cờ phát hiện ra cây Bằng lăng nầy khi theo dấu một con nai lúc đi săn. Anh ta đem chuyện nói với đầu nậu Ba Phúc…

   Phúc theo anh người Mạ vào tận gốc và hắn biết cơ hội làm giàu của hắn đã đến. Nhưng dựng cho được giàn giáo để thu những khối u nầy thì phải có gộc lớn để chống lưng. Ba Phúc gặp tiểu khu trưởng cái tiểu khu nơi mà gốc Bằng lăng đang tại vị là Bảy Hoa. Phúc biết tiền mua được tất cả bởi ai đó đã nói cái gì không mua được bằng tiền thì mua được bằng nhiều tiền. Bảy Hoa đã lệnh cho dưới trướng tai không nghe mắt không thấy những gì ở cụm rừng ấy. Và thế là cái giàn giáo đã tại vị sau một tháng ra công.

       Máu của những kẻ lâm nạn tưới đầy gốc cây hòa với nhựa ròng ròng chảy từ vết thương của khối u. Bốn gã lâm tặc chết trên đường đi cấp cứu. Trước khi chết chúng còn kịp khai kẻ đầu têu là Ba Phúc.

       Bảy Hoa bỏ rừng X trốn biệt.

      Vị nói với khách tham quan rằng anh sinh ra và lớn lên ở miền rừng nầy. Rừng với anh là máu là thịt là niềm yêu là sự sống. Anh từng chứng kiến những điều rất dữ dội nhưng chưa lần nào kinh hoảng khi nhìn thấy máu đẫm đầy dưới gốc cổ thụ như lần ấy. Anh cũng không hiểu vì sao khung giàn giáo vững chải ngần ấy lại có thể bị đập sập bởi va chạm. Về điều nầy thì ngay cả một lâm tặc lừng danh là Minh Tàn cũng cho là kỳ lạ. Hắn nói:

          –  Tao đã từng cho gỗ lìa thân mà cây vẫn ung dung đứng. Từng hạ xuống đất những cục Nu còn to và cao hơn. Người ta phải ràng rịt khối u bằng dây dù bẹ ba to bằng ba ngón tay và từ từ cho xuống bằng ròng rọc. Lũ nầy cho rơi tự do là hết số.

    Riêng Vị cho rằng ở rừng có thần. Thần rừng sẽ không dung cho bất kỳ kẻ nào phá hoại. Minh Tàn cũng nghĩ vậy và vì nghĩ vậy nên hắn ta vất cưa vất búa vất rựa và bảo rằng:

–        Tao bỏ nghiệp.

                                                                                                    Nguyễn Trí

Kiệt Tấn

Tháng mười năm nay, 2024, người viết nhận được món quà quý giá và thân thiện đến từ Trương Văn Dân, tác giả tập truyện ngắn và tản văn “Gia đình – những nỗi đau ngọt ngào”. Sách dày hơn 370 trang, chia làm 29 tựa.

Tập truyện mà các bạn đang cầm trên tay có chủ đề về những mối quan hệ trong gia đình và tình nghĩa vợ chồng. Tác giả đã minh định như vậy ngay từ đầu, trong Lời ngỏ. Rồi viết tiếp:

“Gia đình là một tế bào rất quan trọng (…) Gia đình giống như một vũ trụ nhỏ, nơi chúng ta học cách trở thành thành viên của xã hội lớn”. “Cuộc sống gia đình có thể trở thành là thiên đường cũng có thể là địa ngục. Tấn kịch trong gia đình có lẽ là tấn kịch đáng sợ nhất trong kiếp sống của loài người”.

Người đọc đã được cảnh báo trước, phải cẩn thận thắt dây an toàn lên người, trước khi khởi sự đọc truyện viết đầu tiên của tác giả. Và quả nhiên, 29 câu chuyện của Trương Văn Dân đã diễn tiến y chang như trong Lời ngỏ. Bên cạnh những thương yêu đùm bọc ấm áp trong gia đình và giữa vợ chồng, còn có những màn vô cùng bỉ ổi vì tranh chấp quyền lợi, tiền bạc và nhứt là gia tài – dĩ nhiên. Rồi từ đó tác giả đưa ra những nhận định bao quát như những bài học để đời. Những bài học này có khi là những lời tạc dạ ghi ơn hoặc khen ngợi sự tận tâm và hy sinh cao cả của cha mẹ, anh em. Rất cảm kích! Nhưng cũng có khi là những lời cảnh cáo, đại loại “Các em nên lấy đó làm gương mà giữ mình” như trong sách Quốc văn giáo khoa thư.

Cái thiện ý của Trương Văn Dân rất rõ rệt, rất đáng được cổ võ. Và dường như tác giả viết truyện cũng chỉ nhằm có mỗi một mục đích đó. Những bài học để đời. Truyện kể chỉ là ẩn dụ, như một cái cớ để từ đó tác giả rút ra những bài học thâm thúy. Bài học là chính, văn chương là phụ. Rạch ròi, phân minh. Rất luân lý và thực tiễn. Đáng được tán thưởng.

Tuy nhiên, nếu viết chỉ nhằm đưa ra những suy gẫm (nát óc) của mình, thiết tưởng các thể loại như tùy bút, tiểu luận, phiếm luận,… có lẽ thích hợp hơn. Bởi lẽ đó là sân chơi của đủ loại ý tưởng. Nơi đó, tha hồ mà tuôn xả, mà lai láng, mà múa may, vặn vẹo, khóa tay bẻ chưn nhau. Còn người đọc thì cũng đã biết trước những gì đang chờ đợi mình để khỏi bị dị ứng.

Khi cầm bút lên để sáng tác, người viết nào cũng đã từng đặt cho mình câu hỏi then chốt: “Viết như thế nào đây?”. Nhân dịp được Quán Văn mời viết về chủ đề Elena  (Ôi! Hoàng hậu yêu dấu của lòng ta!), đấng lang quân chung tình đã hạ bút:

“Mình sẽ viết những gì…

…..

…không tuân theo một thứ tự thời gian”.

Hay lắm! Tốt lắm! Nhưng đó chỉ mới là bước đầu: Ý thức. Bước gay go kết tiếp là làm thế nào để thể hiện ý thức đó, khi cầm bút lên và viết thực sự. Khi viết, hầu hết các tác giả đều gầm đầu đưa đẩy ngòi bút tùy theo tâm tính và cách nhìn đời của mình. Mà những điều thuộc nội tâm này, không dễ gì mà chế ngự và hướng dẫn chúng hoàn toàn theo ý muốn của mình cho được. Bởi lẽ đó, những lúc hứng khởi, tác giả thường gầm đầu mà phóng bút theo cảm hứng của mình, không bỏ qua một chi tiết nào, thừa thắng xông lên, thao thao bất tuyệt, một mình múa gậy vườn hoang. Và người đọc đã bị bỏ quên! Rồi có thể đâm ra chán nản và bỏ cuộc luôn, vì không còn theo dõi được những gì mà tác giả đang viết. Người đọc cảm thấy mình không còn dính dáng gì với câu chuyện kể nữa hết. Nhưng nếu viết mà không còn người đọc thì sao? Bởi lẽ đó, khi sáng tác, thỉnh thoảng tác giả nên dừng lại. Rồi đặt mình vào địa vị người đọc mà đọc lại những trang mình vừa viết. Xong tự hỏi: “Liệu người đọc có theo dõi được và có thích thú chăng?”

Như vậy, phải viết như thế nào đây để cả hai bên, người viết lẫn người đọc, đều tìm được thú vị cho mình. Phần giải đáp câu hỏi éo le, thúc hối, nhức nhối cái đỉnh cao trí tuệ này, xin nhường lại cho người trong cuộc: Trương Văn Dân! Dựa theo ý thức của chính mình, Trương Văn Dân sẽ tự suy gẫm (tư duy tóe khói) và vạch lấy cho mình một phong cách riêng biệt để dựng truyện và một bút pháp thích hợp để diễn tả nó, sao cho độc giả của mình có thể theo dõi, tham dự và chia sẻ cùng tác giả. Điều này quan trọng hàng đầu. Được như vậy,  tùy theo truyện viết của mình, tác giả tha hồ mà tung ra những suy gẫm sâu xa (coi chừng hết biết đường ra!) và những bài học để đời (coi chừng u đầu!). Người đọc sẽ không cảm thấy mình bị thất lạc trong khu rừng văn chương đang trút lá ào ào từ bốn phía. Một điều hiển nhiên: Không có người đọc, sẽ không có tác phẩm. Cũng như một tuồng diễn mà không có người coi.

Phải nhìn nhận Trương Văn Dân là người tha thiết và đam mê văn chương tột bực – đam mê hơn nữa là chết liền! Và chính điều này mới quả thiệt là đáng quý, trong cái thời buổi kỹ thuật số, internet và thông minh nhân tạo này. Ngày đêm, ai nấy đều mê mệt dán mắt trên đủ loại màn ảnh lớn nhỏ, vĩ đại, tí teo. Đọc sách? “Còn khuya! Bà tưởng tui cù lần hả?” Thế còn viết? “Đâu có hưỡn!” Bàn tay năm ngón xanh xao cứ lăng xăng khều chết bỏ trên cái smart-phone của mình, kiểu mới nhứt! Cũng may là cái smart-phone không dẫy tê tê mà cười ha hả “Nhột quá! Nhột quá” Có lẽ sợ bị nhốt vô nhà thương điên.

Trước cảnh chợ chiều rã đám buồn thiu, hoàng hôn phủ kín mít chân trời tím, người cầm bút năm xưa bèn ngửa cổ lên trời khóc ba tiếng, cười ba tiếng mà than rằng: “Ôi thôi! Văn chương phú tục chẳng hay/ Trở về làng cũ học cày cho xong” Khóc xong bèn rút khăn kleenex ra mà lau lệ.

Nghe theo lời khuyến dụ của người xưa, Trương Văn Dân, tay cầm bút bi mạ vàng le lói, vai đeo ba lô trĩu nặng tư tưởng, hồ hởi quay gót trở về làng cũ le lói của mình miệt Bình Định. Không phải để học cày. Mà là để học võ Bình Định. Và múa bút Sài Gòn: “Hãy xê ra cho người ta cứu nước!” Rồi kể từ đó, các sáng tác đầy ắp những suy gẫm về cuộc đời của Trương Văn Dân theo nhau ra mắt độc giả đều đều…

Cuộc chơi văn chương mài miệt đó của Trương Văn Dân, giới điệu nghệ gọi là:

“Chơi xả láng!”

Kiệt Tấn

Paris, tháng 12.2024

Ghi chú: Vào thời điểm mà đám nhân loại khốn khổ này sắp kéo nhau hết xuống địa ngục để … ỉa, bằng cái “đỉnh cứt trí tuệ” của con người. Trong viễn ảnh thế chiến thứ ba hạch nhân, do lòng sân hận của lũ người gây ra: “Trời tru, đất diệt!”.

Thủ bút Kiệt Tấn :

Em, này em tháng chạp

Trần Thiên Thị

.

ơi em mùa áo trắng

lạc vào phố tôi xưa

đang đông trời hững nắng

ấm dần ngón tay thưa

.

tôi nay chiều gối tím

rượu còn mấy giọt thừa

chờ nhau mà chưa uống

môi đầm mấy cơn mưa

.

ngày ơi ngày chầm chậm

nặng lòng giấc trể trưa

ngựa còn bôn tháng chạp

lòng con đi chưa về

.

nhắn giùm ta tháng chạp

nắng mật ngoài chân đê

phơi giùm ta chiếc áo

ủ rất đầy cơn mê

.

ơi em mùa áo trắng

xin một lần lắng nghe

tay ta mùa phiêu bạt

thêm một lần chở che

.

môi ta còn sót lại

dăm ba lời rủ rê

em

này em tháng chạp

nay mai xuân lại về

.

trần thiên thị

Hái…

Nguyễn Thái Dương

.

Cây đứng nhói lòng trong góc khuất

Trước bao chen chúc nối nhau trèo

Người người tranh… lộc, vô tình thật

Nào biết vòm xanh khản tiếng kêu

.

Riêng một người đi ngoài phố tối

Trong cuộc hành hương… kiếm một người

Gặp nhau, họ nắm tay mừng tuổi

Lộc thắp hồng theo mấy đóa môi

.

Đầu năm may mắn theo đời họ

Không từ nhánh lá hái non đâu

Hình như giữa phút giây thiêng đó

Họ vừa hái được trái tim nhau

Phạm Đương

.

Tôi tin rằng

những cánh rừng Quảng Nam

từng bị bom napan làm rụi cháy

vẫn còn tiếp tục cháy trong anh

.

tôi vẫn tin rằng

dòng sông Trà nơi anh từng lội qua

những năm bom đạn

vẫn còn tiếp tục chảy trong anh

.

tôi cũng tin rằng

tiếng cuốc năm canh

và những người mẹ đào hầm

vẫn còn vọng trong anh

.

nhưng

cánh rừng ấy

dòng sông ấy

tiếng cuốc ấy

đang vọng về bằng một âm thanh khác

.

xưa đi bộ dọc Trường Sơn

ròng rã bốn tháng trời

mới thấy được Mỹ

nay chỉ 18 giờ bay

nước Mỹ trong tầm mắt anh rồi

.

xưa lên đường đi chống Mỹ

hừng hực lòng căm giận

nay cũng lên đường

sang tận nước Mỹ

nhưng chẳng biết chống ai!

.

câu hỏi về hạnh phúc mà anh từng hỏi

nay đã có câu trả lời?

nước Mỹ thật xa xôi

nhưng nước Mỹ cũng gần gũi quá

.

ở tuổi 85

anh bắt đầu xuất phát

liệu có kịp không giữa tứ bề cao ốc

hay lại lạc giữa rừng như thuở Trường Sơn?

1/9/2024

Có thể là hình ảnh về 1 người và sáo

Ly cà phê chiều nay

Trần Hà Yên

.

Ly cà phê chiều đắng

Ta uống cạn trời mây

Nụ cười và ánh mắt

Chếch choáng như rượu say

.

Ta buồn người có hay

Nỗi đau riêng ta biết

Dẫu trái tim tha thiết

Cũng chẳng được gần nhau

.

Thời gian sẽ qua mau

Yêu thương như ngọn gió

Và mùa đông bỏ ngỏ

Hương ân tình lãng du

.

Cà phê đắng thiên thu

Uống cạn chiều vẫn khát

Nụ cười và ánh mắt

Mơ màng áng mây trôi…

Ngày xuân nõn

Trần Mai Hường

.

Gom hết mịn thơm vào một ngày xuân nõn

Ngập trời hoa líu ríu bước chân em

Nắng trổ bông mềm lót vàng lối thắm

Anh thầm thì cấy thương nhớ dày thêm

.

Em nhuộm tình em vào mây tím

Chuốt sợi mê đan thảm nhớ chúng mình

Tinh khôi lắm hoa cúi đầu ấp úng

Phút sương cười em nhòa thẫm trong anh

.

Đêm cứ ước được dài như cổ tích

Bao rưng rưng nhoè thắt phía trăng chờ

Anh nồng ấm như nước hồ run vỡ

Cửa thiên đường bờ môi hạ bừng mơ

.

Em dị bản mình một ngày xuân thắm

Một ngày thôi trăng buổi ấy phơi rằm

Trút kiêu hãnh em trần mai hư thực

Giọt đàn bà thơm thảo dỗ tròn anh.

Hãy về phía mùa Xuân

 Nguyễn Thị Mây

.

Ngôi nhà đứng chơ vơ, trầm mặc bên sườn đồi. Sương mù bảng lảng, phủ mờ mái ngói rêu phong xám xịt. Hàng cây lạnh lùng xòe nhánh lá rậm dầy, nối tiếp nhau một dãy. Trời thưa nắng, lối đi u tịch lạ lùng. Lá vàng xao xác dưới chân. Tôi chợt quặn lòng nhớ em và mùa đông năm cũ.

          Ngày đó, cũng trên đường này, tôi gặp em. Cô gái có khuôn mặt bầu bĩnh, thơ ngây. Đôi bím tóc dài buộc nơ màu tím. Tay cắp chiếc giỏ mây đáy tròn, em vừa đi vừa hát. Giọng lảnh lót, trong veo, vui nhộn. Tôi mơ hồ thấy một dòng suối từ thượng nguồn đang rì rầm qua khe núi, tràn xuống sườn đồi. Nước reo cùng tiếng gió, tiếng chim chìa vôi buổi sáng. Trời bỗng dưng xanh. Cây lá bỗng dưng  tươi  tắn và tôi bỗng dưng vui.

          Tiếng hát chợt ngừng bặt. Không gian chùng xuống, lặng đi. Tôi ngỡ ngàng nhìn cô gái đang dùng chân hất tung những chiếc lá khô. Hai cánh môi mím chặt, mắt long lanh ngấn nước.

          Tôi buột miệng:

          – Cô bé làm sao thế?

          Giật mình, em quay phắt lại. Nét mặt ủ dột thoáng sợ sệt:

          – Ơ, ông là ai? Tới đây làm gì?

          – Nhà tôi trọ dưới chân núi kia. Tôi đi dạo…

          Hình như em không để ý đến câu trả lời của tôi. Em mãi nhìn xuống những mái nhà lô xô thấp thoáng theo triền dốc  và những bóng người li ti di động không ngừng

Tôi giải thích:

– Họ đang họp chợ ở đó.

Em nhìn tôi, hỏi như nói một mình:

– Chẳng lẽ  mùa đông tới rồi sao?

Tôi ngạc nhiên nhìn cô gái. Em quên ý niệm về thời gian hay là không muốn nhớ? Em còn quá trẻ. Điều gì đã ẩn nấp trong lòng em, nhuộm xám ánh mắt nai tơ như thế .Tôi xác nhận:

– Mùa đông đã về.

Như bừng tỉnh, em kêu lên:

– Tôi thù ghét mùa đông!

Em bỏ chạy, đôi bím tóc đong đưa. Chiếc bóng nhỏ khuất sau ô cửa mở.

Những ngày kế tiếp tôi không gặp em. Hôm nào tôi cũng thơ thẩn lên đồi, men theo con dốc cũ, tìm đến tảng đá, ngồi ngóng về phía nhà em và chờ đợi. Chẳng biết để làm gì. Tôi cảm thấy bồn chồn, ray rứt không yên nếu không đến đó một lần trong ngày . Quyển sách mang theo, tôi chẳng đọc được chữ nào. Tôi nhìn đăm đăm vào trang giấy và không thấy gì hết. Bực bội, nhắm mắt, tôi lại thấy rất rõ, không phải chữ mà là em, cô gái tóc vấn bím, mang hài thêu màu đỏ. Bàn chân nhỏ hất tung những chiếc lá vàng.

Đúng lúc tôi quá nãn thì em xuất hiện. Không phải từ trong nhà đi ra. Em khệ nệ vác một bó cây khô ngược dốc. Hai bím tóc quấn quanh đầu như vương miện. lưng áo màu tím đẫm mồ hôi. Đôi gò má ửng hồng nhưng ánh mắt vẫn buồn, ngơ ngác.

Em không trông thấy tôi. Ném bó củi xuống, em ngồi bệt dưới tàn cây đại thọ. Đưa tay quệt mồ hôi trán, em lẩm bẩm:”Mệt quá! “

Tôi bật dậy, đứng như trời trồng mất mấy giây mới định tỉnh. Tôi hỏi một câu ngớ ngẩn:

– Cô bé …làm gì đó?

Em giật mình, đứng lên rồi lại ngồi xuống,  thở phào:

– Cũng là ông! Làm người ta hết hồn!

Tôi cười, đưa tay sờ càm:

-Cô bé cũng làm tôi giật mình.

– Tôi!

– Tiếng ông là đại từ chỉ người già. Lẽ nào tôi hóa lão sớm thế?

Cô bé trừng mắt;

– Còn tiếng “cô bé” chỉ hợp với những đứa bé gái hỉ mũi chưa sạch.

– Vậy là mình gọi nhau không đúng cách rồi. Tôi phải sửa lại thế nào, cô bé?

– Không cần thiết vì tôi chẳng muốn làm quen với ông.

– Nhưng tôi muốn.

Em lại trừng mắt với tôi, trông rất dễ thương.

Em buột miệng;

– Vô duyên!

Không nói gì nữa, em đến bên bó củi, nhấc lên, quay đi. Tôi vội đuổi theo:

– Giận sao, cô bé?

Em tránh sang bên, lầm lũi đi. Tôi đứng lặng giây lâu. Em dần xa. Tôi bàng hoàng như sắp đánh mất một cái gì rất quí. Tôi hớt hải đuổi theo. Chẳng biết lớ ngớ thế nào lại giẫm phải đá, trợt chân, lăn mấy vòng. Tôi kinh hoàng kêu lên:

– Ôi, chết tôi rồi!

Em nghe thấy, liệng bó củi xuống đất, chạy trở lại bên tôi;

– Trời, ông có sao không?

Tôi sượng sùng, nén đau, lắc đầu;

– Không, không sao!

Tôi gượng đứng lên nhưng   chân phải đau nhói. Hình như đã bị bong gân rồi. Tôi bóp nhẹ vào đó. Em bảo:

– Đâu, để tôi xem!

Nhưng rồi em chẳng biết làm gì hơn là đưa một ngón trỏ khều nhè nhẹ vào chân tôi. Nghĩ ngợi một hồi, em bảo:

– Phải rồi! Ông ngồi đây chờ nghe, tôi về nhà nhờ mẹ tới giúp ông.

Em chạy đi, lát sau, trở lại cùng với mẹ. hai người dìu tôi về nhà.

Đó là một ngôi nhà cũ kĩ và bé nhỏ giữa núi đồi hùng vĩ. Nó đứng trơ trọi cách xa làng bản như muốn được yên tĩnh, hòa nhập vào thiên nhiên hiền dịu. Tường nứt nẻ. những vết rạn nứt như nét vẽ đường chấp nối của những tảng đá núi chồng chất lên nhau. Mấy ô cửa đã ố màu, lỏng lẻo, mối mọt. sự tàn lụi thấp thoáng quanh đây, gợi buồn se sắt.

Gian nhà trước hai bên trưng bày trái ngược, hỗn độn. mỗi bên một hình thể khác nhau. Bên trái, trên tường treo những bức tranh  rất đẹp. Cạnh  cửa sổ là chiếc bàn mặt vuông, cẩn đá hoa bóng loáng. Ngoài lọ đựng bút, còn có một bình hoa bất tử.  Liền đó, chiếc tủ kiếng khá lớn chứa đầy sách và tranh vẽ.

Bên phải không rộng rãi, tao nhã như chỗ đối diện nó. Chỗ này tạp nhạp đủ loại vật dụng. Một chiếc bàn tròn và sáu cái ghế. Trên đó, bình tích, ly tách, gạt tàn thuốc, rỗ may…Không còn chỗ trống, bụi phủ mờ mờ. Trong góc nhà, tủ quần áo đặt cạnh tủ chén, giữa những chồng bát là tô, đĩa , muỗng, đũa ngà. Ngăn dưới, con búp bê tóc vàng hoe bị mớ vải thêu phủ quanh. Nó như ngạt thở tìm cách nhô đầu lên một chút.

Mẹ em  có tính cách rất khác em. Bà hay nói, nói liên tục, âm sắc, nhanh, Chốc chốc, bà cất giọng líu ríu. Tạo nên một luồn âm thanh nhào lộn, cuộn xoắn lấy khoảng không gian chật hẹp trong nhà. Tôi mệt mỏi lau mồ hôi trán. Em đưa mắt nìn tôi rồi thẩn thờ quay đi. Thỉnh thoảng, em gắt lên ”Mẹ à!”. Bà không hiểu ý em lại nói.

Qua lời bà, tôi biết được gia cảnh nhà em. Ba em đã bỏ đi khi gió chướng tràn về, bứt lìa những chiếc lá vàng khỏi nhành cây, ném tả tơi trên triền dốc vắng. Mẹ em nghi ngờ chồng say mê một người đàn bà khác dưới thị trấn. Bà cho rằng đó là một con yêu tinh đã đưa móng vuốt ra chộp lấy người đàn ông tài hoa, lãng mạn và yếu đuối. Ba em là một họa sĩ chuyên vẽ tranh tàu. Những bức tranh thủy mạc của ông được người vùng nầy ưa thích lắm. Mẹ em mang ra cho tôi xem mấy bức họa của ông. Tranh sơn thủy, chim, hoa và người. toàn bộ cảnh sắc được ghi chép lên giấy hoặc khung lụa với hai màu đen trắng. Chúng gây ấn tượng mạnh mẽ nơi tôi. Mỗi bức mang một phong cách khác nhau. Ba em đã dùng đường nét để tả tình, dùng màu sắc đậm nhạt để để gợi tình cảm nơi người nhìn ngắm. những bức vẽ cảnh núi đồi rất độc đáo. Chỉ với khuôn khổ nhỏ bé mà ông thể hiện cả một dãy núi rừng trùng điệp. Khi vẽ nó, có lẽ ông đã ngắm nhìn thiên nhiên với nhiều góc độ khác nhau. Từ xa đến gần, từ gần ra xa. Từ trên nhìn xuống rồi từ dưới nhìn lên. “Luật xa gần” trong hội họa dường như không có chút ảnh hưởng gì đối với ông. Người họa sĩ qua nét cọ đã thu xếp lại thiên nhiên lên khung vải. Lạ nhưng không sai. Khác thường nhưng không tách rời hiện thực. Dưới mỗi tấm tranh đều có đề thơ và đóng dấu. Tôi lâng lâng trong niềm cảm phục người nghệ sĩ tài hoa và buồn buồn bởi những trắc trở tình duyên, hoàn cảnh sống của ông. Tôi hiểu vì sao ông rời bỏ nơi nầy. Tôi biết lý do ông vẽ tranh tả người đều là người lạ. Không có khuôn mặt trong tranh nào là của mẹ em. Ở bà, ông chỉ nhìn thấy có một nửa điều mình cần thiết. Tiền và tài tề gia, nội trợ. Một nửa phần còn lại nằm trong dáng dấp người trong tranh. Nàng đẹp, tinh khiết như nắng mai. Lặng lẽ như rừng thông vắng gió.

Người họa sĩ ấy đã ra đi, tìm kiếm mẫu người như ý. Chẳng biết ông có bắt gặp hạnh phúc hay là chỉ làm rối rắm thêm đời mình trong buổi xế tà? Và, tạo thêm nỗi đau day dứt, không nguôi trong lòng em từ thuở bình minh của cuộc đời.

Tôi yêu em. Người con gái mang hài bằng vải thêu màu đỏ. Tôi muốn lửa tim  mình sưởi ấm lòng em, làm tan biến lạnh lùng quanh em. Để em yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống với bao điều tươi đẹp, thú vị bất ngờ.

Tôi  mơ tưởng. Tôi khát khao. Tôi phác họa  một mái ấm có em hồn nhiên, yêu đời, yêu tôi. Tôi vẽ trong trí dáng em thong dong áo trắng, hài vải hoa tung tăng  bên tôi trên lối mòn đầy xác lá thu. Em nhón chân, bước sẽ. sợ lá vàng nhầu nát, đớn đau.  Và, em hát rộn  vui như tiếng chim chìa vôi hót chào buổi sáng.

Tất cả những điều đó, bây giờ ẩn kín trong kí ức tôi, để mỗi độ

Đông về lại chổi dậy , gợi buồn se sắc. Tôi chưa kịp tỏ tình, em đã bỏ đi sau ngày mẹ mất. Em nhường ngôi nhà cho cha và người đàn bà lạ. Em theo người dì đi về phía phố đông. Có người bắt gặp em ra vào ở một trường Đại học. Tôi định đi tìm em. Nhưng cuộc sống tất bật, đầy lo toan cứ lôi tuột tôi xa dần kỷ niệm ngọt ngào.

Thôi, tạm biệt em. Em hãy vui sống đời đáng sống! Ngôi nhà cũ , con dốc ngập lá vàng rơi, em và tôi hãy xem như một bức tranh xưa. Bức tranh nhen nhóm chút nhớ tiếc giữa những tháng ngày đối mặt, vượt qua thách thức cuộc đời. Em hãy về phía mùa Xuân rực rỡ em nhé!

NGUYỄN THỊ MÂY

.

Đinh Lê Vũ

.

Chỉ cần chúng ta còn đứng bên cạnh nhau

Còn nắm tay nhau

Còn nhìn thấy ánh mặt trời rực rỡ ngoài kia

Thì cuộc đời nhẹ tênh

Những muộn phiền trôi đi hết.

.

Chỉ cần chúng ta còn đứng bên cạnh nhau

Nhìn vào mắt nhau

Thì mây trên cao vẫn là mây trắng

Thì nắng ngoài kia vẫn cứ nắng vàng

Thì em bên đời vẫn mãi có anh.

.

Chỉ cần chúng ta còn đứng bên cạnh nhau

Còn nhìn thấy nhau

Những cơn gió mùa đông buốt lạnh sẽ không

còn nữa

Tàn tro của tháng ngày khốn khó xưa

sẽ không còn nữa

Mùa xuân tinh khôi quay về ghé qua ô cửa

Gọi mời.

.

Chỉ cần chúng ta còn đứng bên cạnh nhau

Còn yêu thương nhau…

Kho báu

Đặng Chương Ngạn.

.

“Gió gì như gió Pha Xang Gió xô, gió đập, gió phang vào người!” “Đừng ngu mà đến Pha Xang Sểnh tay mất vợ, chàng ràng mất con”

Lão Vâu đã nghe những câu ca dao như vậy khi lão đi qua các thị trấn, thị xã, thành phố, làng quê… quanh Pha Xang. “Đến Pha Xang, gặp tang thương”, “ Ngáo ngơ đến đất Pha Xang, Thân bại, danh liệt, tan hoang cửa nhà”- những câu bài răn dạy như vậy có thể nghe từ miệng những đứa trẻ nhỏ ở bất cứ đâu ngoài cao nguyên. Đó là những bài học từ xa xửa, xa xưa, cha ông họ để lại cho con cháu. Chớ qua Pha Xang, chớ qua vùng gió. Ở đó, không phải gió, mà là bão, là dông quanh năm. Không ở đâu gió dữ dội, triền miên như Pha Xang, ngày gió, đêm gió, gió như một con ngựa hoang đốc chứng phi mãi không nghỉ. Nó chạy nước đại, nhảy chồm chồm, lồng lộn điên dại. Cơn gió Pha Xang ấy, như ma, nó bắt người, cuốn người qua luôn thế giới bên kia. Trong con mắt của mọi người sống bên kia cao nguyên thì Pha Xang là vùng đất chết, vùng đất địa ngục, hầu như họ không lai vãng tới. Mà muốn đến Pha Xang cũng quá bất tiện: ô tô, xe máy không có đường đi, tất cả chỉ bằng ngựa, và đôi chân lội bộ. Hiếm hoi, đôi khi, có những nhà thám hiểm, nhà sưu tầm cổ vật, nhà nghiên cứu sinh vật…mới liều mạng đặt chân tới.

Nhiều người trong số họ, qua đất Pha Xang đã biến mất không còn tăm tích…

Kho báu. Truyện ngắn dự thi của Đặng Chương Ngạn
Hình ảnh minh họa. Nguồn pinterest

Hầu hết, những người sinh ra ở Pha Xang cũng đã rời mảnh đất đó ra đi…

Khi bà Ing mù, câm, điếc chết thì cả vùng Pha Xang chỉ còn lại mình lão Vâu. Những người bình thường đều đã bỏ Pha Xang từ lâu. Có điên mà bám lấy Pha Xang, sống ở Pha Xang. Ngày trước, những hậu duệ của ông tổ Pha Xang còn nhẫn nhục, cam chịu…lầm lũi bám lấy mảnh đất này vì không biết gì ngoài Pha Xang và vẫn luôn nghĩ ở bên kia núi phía Tây, phía Nam, Bắc đều là những vùng gió như cao nguyên Pha Xang mà thôi…

Bà Ing mù, câm, điếc ở lại Pha Xang vì không có con cái, không ai đưa bà đi qua bên núi và với một người phụ nữ già mù, điếc, câm, lẩn thẩn thì sống ở Pha Xang không hẳn là thảm hoạ.

Lão Vâu ở lại vì đau đớn, vì tủi hổ sau vụ khai quật mỏ dưới lòng đất tổ tiên thất bại, ở lại vì không muốn qua bên kia núi để chạm mặt đồng hương tha hương ở đấy, ở lại vì sâu thẳm trong tim, lão vẫn tin cha ông đã chọn nơi này để sinh sống chắc phải có nguyên cớ lý lẽ của nó. “Lý lẽ gì – mấy đứa cháu vặc lại lão – cha ông chúng ta bị lưu đày thôi! Chắc chắn bị lưu đày, còn không có ai điên đi chọn Pha Xang!” – “ Chắc ông tổ chúng ta là một tội phạm!” – “Ai lưu đày ông tổ chúng ta”- “Thì nhà vua, triều đình chứ ai!”- “Nhưng có ai canh giữ đâu mà cứ phải sống ở đây?”- “Bây giờ thì thế, chứ ngày xưa là bị canh giữ đấy, bốn mặt núi lính canh nhung nhúc, lăm lăm vũ khí trong tay, những kẻ bị lưu đày muốn trốn cũng không được!”-“Chúng ta bây giờ đâu phải kẻ tội phạm mà chấp nhận lưu đày ở chốn khốn nạn này!”

Lão cũng đã đi qua núi bên kia, đã để một phần đời bên kia núi học hỏi, kiếm tiền, nhưng lão ra đi với dự định sẽ quay về. Lần đầu qua bên kia núi, lão bị luôn mấy ngày chếnh choáng, bước đi chệnh choạng đôi lúc ngã oạch xuống đường. Sau này, lão mới biết có một bọn người cũng chếnh choáng như dân Pha Xang, đó là bọn thuỷ thủ đi biển nhiều năm khi bước lên bờ. Quen bước đi trên con tàu chòng chành lại bị say với đất liền bằng phẳng… Còn dân Pha Xang thì luôn nghiêng ngả vì gió. Rồi lão cũng quen với các đô thị, làng mạc không có gió như Pha Xang. Bên kia núi, thiên nhiên đẹp rực rỡ, tươi xanh, êm đềm quanh năm…Lão gần như hoà nhập với bất cứ cư dân nơi đâu lão đến. Khó nhất với lão là tiếng nói cứ âm vang như tiếng cồng… Dần dần, lão cũng tập được cách hạ giọng để nhỏ lại, nhỏ đến mức thỏ thẻ nhẹ nhàng. Nhưng, nhiều khi lão cũng không tránh được cái nhìn kỳ thị của người bên kia núi vì cái đầu nhọn nhọn của dân Pha Xang mà không giấu vào đâu được: “Lại một ông đầu nhọn! Ê đầu nhọn, mày có nhận việc này không? Thằng đầu nhọn mày bán hàng gian đấy hả? Ê thằng đầu nhọn mày làm gì như mèo mửa vậy?”

*

Tại sao người Pha Xang đầu lại nhọn, có lẽ là do gió… Đi lại trong vùng gió để khỏi bị đẩy ngã chỉ có cách cúi thấp người xuống, nghiêng người theo chiều gió, hướng đầu về phía ngọn gió. Đứa bé Pha Xang ngay từ bé, lần đầu tiên ra khỏi nhà đã học được cách di chuyển như vậy. Cả cơ thể thu lại gọn nhất, tay xếp dọc thân, bàn chân dạng ra tư thế chống đỡ, phần đầu thân thành một khối nhọn để giảm tối đa lực cản gió. Cái đầu của người Pha Xang có lẽ do gió mài mãi, mài mãi qua nhiều thế hệ mà thành nhọn hoắt. Chắc phải mấy trăm năm, gió mới đủ thời gian để biến một cái đầu người tròn như quả bóng, thành hình nhọn như đầu trái đu đủ, mà trái bóng, trái đu đủ …người Pha Xang cũng chỉ biết đến khi đi qua dãy núi phía Tây, phía Đông sang vùng dân bên ngoài. Ở Pha Xang không ai biết đến những trái cây như vậy vì chẳng có cây trái nào tồn tại trên mặt đất với gió Pha Xang. Ừ, cái đầu người Pha Xang, đúng giống luôn quả đu đủ vì nó nhọn ở đỉnh rồi được vuốt theo hình chỏm, đó có lẽ là dạng hình học phù hợp với chuyển động của gió nhất. Không chỉ đầu, cả cái vai người cũng xuôi xuống, khi hai tay nép vào sát thân, người Pha Xang trông không khác gì cái chuông nhà chùa. Đúng kiểu khí động học…

Lên sáu tuổi, lão chứng kiến một người đàn ông mất vợ trong đám cưới ở Pha Xang. Lỗi tại người chồng mang từ bên kia núi về một chiếc váy cưới theo mode may chân quá rộng, khi cả hai đang đi từ nhà gái qua nhà trai thì gió cuốn luôn cô dâu, chiếc váy rộng không khác gì chiếc dù đưa cô dâu lên cao chục mét trong sự bất lực ngơ ngác của nhà trai, nhà gái. Rồi ném cô dâu xuống chân đồi bên cạnh. Chôn cất cô dâu xong, chú rể lao đầu xuống vực tự tử vì đau buồn…

Cha ông Pha Xang vẫn luôn dặn con cháu: “Có qua eo Khế ban trưa – Buộc dây mà giữ chẳng đùa được đâu”. Cái eo Khế, cha ông vẫn truyền lại, cứ vào buổi trưa, gió xoáy tại đó mạnh gấp 10 nơi khác. Hễ đi qua đấy phải đi ít nhất hai người và nhớ buộc dây níu vào nhau, trì thêm một cục đá để khỏi bị gió nhấc xuống hồ nước ngay đấy.

Lâu lắm rồi, có một ông bố sểnh tay, con bị cuốn xuống hồ, ba ngày sau vẫn chưa thấy nổi lên…Ông bố cứ ngồi bất động bên hồ nước, hai thay chắp trước ngực cầu xin trời đất. Khi dân làng thấy ông ấy cứ quỳ như vậy ngày này, qua ngày khác, ra gọi, thì ông đã chết cứng từ lúc nào. Chết vì đau đớn, vì oán hận gió Pha Xang. Hồi nhỏ, có lần, lão Vâu hỏi cha về câu thành ngữ: “Gặp gió Pha Xang, hổ vàng vội biến”. Cha lão ậm ừ nói rằng vào đời ông tổ thứ tám, có một con hổ vàng xuất hiện ở Pha Xang. Nó săn người, săn heo, gà nuôi dưới hầm… Trai tráng rủ nhau săn nó, bị nó săn lại, chết mất nhiều mạng. Nhưng ít lâu sau thì con hổ biến mất, các cụ cho rằng nó không chịu được gió Pha Xang. Nó biến… Người ta còn đồn, gió Pha Xang thích bắt người, nhất là vào tháng ba, gió cuốn kiểu vòi rồng, ẩn hiện như ma tháng bảy: “Gió tháng ba, ma tháng bảy”. Nhiều người, đêm tháng ba ra đường, bị gió đưa đi mất, đôi người được tìm thấy thì như bị ám mất hồn, tự chui vào hang đá mà không chui ra được.

Khi lão sinh ra, dân Pha Xang còn bám trụ lại cao nguyên chỉ còn mấy nhúm người. Họ đều sống chui nhủi trong những căn nhà khoét sâu xuống mặt đất của tổ tiên, đúng ra phải gọi là những căn nhà hầm để tránh gió. Lão chỉ được ngoi lên khỏi mặt đất trong một vài sự kiện quan trọng để di chuyển đến ngôi nhà hầm khác: ngày giỗ tổ, ngày đầu năm mới, nhưng đều được cha mẹ bồng trên tay hay dắt đi. Lần đầu tiên, khi bốn tuổi, nhân lúc cha mẹ đi vắng, lão tự rời nhà một mình. Gió đã cuốn bay cái thân thể đứa bé chưa đến 10 kg của lão nhẹ nhàng như lăn một cuộn rơm khô. May lão rơi xuống hõm đất gần nhà và được giữ lại, nếu không sẽ bị cuốn đến rặng núi phía Tây cao nguyên. Khi cha mẹ lão cùng người làng tìm được, lão đã tím tái. Một đứa trẻ ở Pha Xang muốn một mình di chuyển trên mặt đất, phải được dạy cách đi, phải học, phải tập… như dân ở bên kia núi học chạy xe đạp, xe máy vậy. Phải biết cách trụ chân trên nền đất, di chuyển từng bước, cách thu mình lại để giảm lực đẩy của gió, và cách xác định hướng gió khi muốn rời nhà, không được đi theo hướng gió, sẽ bị đẩy ngã sấp mặt, không được đi ngược chiều gió vì sẽ không bước chân lên nổi, phải đi nghiêng, đường đi cắt chéo qua ngọn gió.

Không có gì trên mặt đất tồn tại với gió Pha Xang, không có cây cối nào sống nổi với gió Pha Xang. Gió dữ dội, gió triền miên, gió thổi không ngừng không nghỉ suốt ngày đêm, xé nát tua lá cây, tuốt sạch lá cây, và làm thui bất cứ chồi nào nhú ra cũng như mầm cây mới ngoi lên. Người cao nguyên không thể trồng trọt, nuôi bất cứ cây con nào trên mặt đất.

Chỉ những người Pha Xang chưa bao giờ rời quê hương đi xa, suốt đời chỉ quanh quẩn gần nhà, mới sống gắn bó với Pha Xang đến trọn đời. Còn ai ở cao nguyên đã qua bên kia núi, chứng kiến cuộc sống nhẹ nhàng tươi vui của những vùng đất khác thì trước sau hầu như đều rời bỏ Pha Xang. Nếu họ có trở về Pha Xang thì cũng chỉ sống một thời gian ngắn để tìm cơ hội đưa con, cháu, người nhà ra đi. Gia đình nào khó khăn cũng cố gắng cho một đứa con qua núi: “Phải rời Pha Xang mới có tương lai!”, “Ở bên kia núi có thể làm một năm đủ sống mấy năm”. -“ Ở Pha Xang vắt mũi không đủ nuôi miệng”.

Lão được gửi qua bên núi khi mới lên 10 tuổi. Một người bà con nhận nuôi, cho lão đi học, hơi muộn hơn trẻ con bên núi nhưng rồi lão đã vượt kịp. Lão học xong trường nghề, đi làm và kiếm được tiền…

*

Lão đã đi loanh quanh gần hết thế giới. Lão nhận ra nhiều người Pha Xang sống rải rác ở khắp nơi. Rất dễ nhận ra dân Pha Xang trong cộng đồng người: nhận ra bởi tiếng nói to như dân đi biển, bởi cái chân to bè, ngón chân cắm xuống đất, nhận ra bởi cái dáng đi nghiêng và phần thân cúi xuống, nhận ra bởi cái đầu nhọn. Nhiều người Pha Xang, sống nhiều năm ở bên ngoài hay là đời con, đời cháu giọng nói đã nhẹ đi, dáng đi không nghiêng nữa, nhưng vẫn nhận ra bởi cái đầu nhọn. Cái đầu nhọn chắc phải qua hàng chục đời mới hi vọng che giấu được… Mỗi khi gặp đồng hương lão lại tìm cách bắt chuyện: “Có nhớ Pha Xang không?”- “Không. Nhớ gì vùng đất khốn khổ ấy! À, đôi khi nhớ người thân”- “Đó đâu phải quê hương, đấy là nơi đày ải!”-“Trời, sao có một vùng đất khủng khiếp thế”-“Vẫn nhớ gió Pha Xang. Gió gì như điên, như dại!”. Đôi khi lão lại hỏi: “Có quay về Pha Xang không?”, hầu như tất cả lắc đầu: “Tổ tiên là tù nhân. Tôi đâu có phải là tù nhân!”-“Không lẽ tự đưa mình về lại vùng đất chết”-“Về nơi lưu đày ư?”

Lão Vâu trở lại Pha Xang đưa tang mẹ khi còn trai trẻ. Lão ở Pha Xang mấy tháng trời đi từ nhà này qua nhà khác thăm thú họ hàng và cứ nghĩ mãi về câu hỏi: Tại sao tổ tiên lại chọn mảnh đất này? Chọn vì cảnh đẹp ư? Pha Xang chẳng có cảnh vật nào. Chọn vì đất đai ư? Thiếu gì đất để sinh tồn trên thế giới, mấy trăm năm trước quanh Pha Xang còn bao chỗ hoang vu. Chọn vì?… Cuối cùng lão nghĩ đến những tài nguyên dưới lòng đất. Dưới lòng đất Pha Xang phải có mỏ dầu, mỏ vàng, mỏ titan, mỏ kim cương… Thì cha ông của những người Ả Rập đã chọn cả một vùng đất sa mạc cháy khô đó sao? Phải có bao nhiêu vùng đất màu mỡ lại đến mưu sinh trên sa mạc khô cằn, chỉ cát là cát, kiếm miếng nước uống đã quá khổ. Ai hay, dưới sa mạc là những mỏ vàng đen. Con cháu họ nay khui lên bán trở thành tỷ phú, họ thành những quốc gia giàu có trên thế giới! Chắc chắn dưới lòng đất Pha Xang là những mỏ tài nguyên!

Có nhiều người Pha Xang có ý nghĩ giống lão. Đôi khi gặp an ủi nhau, nghĩ về đều đó để có chút gì ấm áp với quê hương. Rồi lão kêu gọi họ họp lại bàn với nhau việc sẽ khảo sát tìm các mỏ khoáng sản ở Pha Xang. Cùng vận động, gom góp tiền bạc, để thuê thiết bị… Khi đầu lão bắt đầu có đôi sợi tóc bạc, Hội đồng hương quyết định kéo nhau về Pha Xang, khai quật tài sản cha ông dưới lòng đất tổ tiên. Họ đi đến từng nhà, hào hứng về một tương lai giàu có: Biết tại sao cha ông chọn đất Pha Xang không? Vàng đấy, dưới đất chúng ta là vàng, mỏ vàng.

Mắt người dân Pha Xang sáng rỡ lên: “Thật thế à?”

*

Cuộc đời lão và cả cao nguyên chết, tan lụi sau vụ khai quật …

Lão sống cho giấc mơ ấy, niềm tin ấy. Lão cố làm bất cứ việc gì để có tiền, lão nhẩm tính số tiền để có thể thuê máy khoan, chi phí cho việc khoan từng ngày khi lưu lạc, kiếm sống. Những người Pha Xang khác trong hội cũng vậy. Phải hơn chục năm, gom góp được khá nhiều tiền, lão mới dám hô hào mọi người cùng về quê.

Hội đồng hương ký hợp đồng thuê máy, thuê thợ khoan, chấp nhận giá thuê cao gấp ba, gấp năm vì chẳng ai muốn đến cái vùng gió chết tiệt. Mà không cẩn trọng gió xô đổ cả giàn khoan, không đùa. Cả vùng Pha Xang háo hức, nín thở chờ kết quả vụ khoan thăm dò. Đêm ngày, có hàng ngàn con mắt dán vào những chiếc cần khoan đang hối hả quay. Mũi khoan đầu tiên: chỉ có đất và cát. Mũi khoan thứ hai: vẫn chỉ cát và đất. Mũi khoan thứ ba: đất, đá, cát, sét nâu, sét vàng… Sau nửa năm, với hàng trăm mũi khoan, không có một mảy vàng, than hay dầu dính vào mũi khoan, cần khoan, hội đồng hương sạch bách kinh phí. Mọi người chán nản rời đi. Lão vẫn không cam chịu thất bại, lão đổ hết vào đấy tất cả tài sản người cha để lại, cả những thứ đồ gia bảo mà lão không bao giờ dám đụng đến để khoan tiếp mấy chục mũi tìm kiếm nữa, vẫn chỉ moi lên đất, cát, bùn đen tanh tanh mùi cây cỏ phân huỷ… Lão trắng tay.

Lão liều kêu gọi những người dân Pha Xang còn ở lại quê bỏ tiền. Lão lấy tính mạng, danh dự ra thề thốt. Những người Pha Xang đang đói ăn, nhưng tin về một tương lai tươi sáng theo lời lão đã chắt bóp góp tiền để khai quật thêm mấy chục vị trí mà lão cam kết phần đất ấy chắc chắn có mỏ tài nguyên… Nhưng ruốt cuộc chỉ là bùn, cát, đá, bùn, cát, đá…

Người dân Pha Xang đói rạc vì đã dốc hết chút tài sản cuối cùng gom góp cho dự án khai quật. Nhưng đói chưa phải là đều khủng khiếp, điều khủng khiếp nhất là chút niềm tin, chút hi vọng vẫn ấp ủ về đống của cải của cha ông dưới mặt đất không còn… Họ chết vì thất vọng.

Họ chết vì tin chắc rằng cha ông xưa đã bị lưu đày đến vùng gió khốn này này

Lão cũng lăn ra ốm, tưởng chết, và đã buông xuôi để chết. Nhưng rồi vẫn sống…

*

Những người Pha Xang không chết vì đói, vì thất vọng, đã lũ lượt kéo nhau rời bỏ quê hương sau cuộc khai quật.

Với họ cao nguyên không có gì ngoài những cơn gió man dại thổi suốt ngày đêm đến héo cả người. Rời khỏi vùng đất lưu đày chết tiệt của tổ tiên để tìm đường sống cho mình, cho con, cho cháu…

Chỉ còn lão Vâu, bà Ing mù, câm, điếc, cụ Thõng và mấy người già gần đất xa trời ở lại. Những đám thanh niên kéo nhau thành tốp, khi rời Pha Xang thường vẫn ghé qua chỗ lão: “Đi thôi cụ Vâu, đi cùng bọn cháu. Quê hương không phải là nơi chúng ta sinh ra mà nơi nuôi ta sống. Bên kia núi là quê hương cụ ạ!”, “ Ai không gắn bó với nơi chôn rau, cắt rốn hả cụ, nhưng Pha Xang có gì để chúng ta có thể sống, có gì để chúng ta hi vọng!”- “Một vùng đất không có một bông hoa, một cánh chim, và dưới lòng đất không có một gram quặng…”

Cụ Thõng ở lại vì đã gần trăm tuổi. Cụ muốn được chết ngay trên mảnh đất đã sinh ra: nếu đây là mảnh đất lưu đày thì cụ cũng đã bị lưu đày gần hết cuộc đời rồi, thêm ít năm lưu đày cũng không sao. Đã sinh ra bất hạnh, chết luôn nơi bất hạnh, qua đó nằm trong nghĩa trang của những người hạnh phúc cũng cô đơn lắm.

Cụ Thõng và những người già ra đi. Lão chuyển bà Ing đến ở cùng để chăm sóc. Đôi khi lão cố trao đổi với người đàn bà điếc, mù… bằng thứ ngôn ngữ giao tiếp đặc biệt lão học được sau nhiều tháng sống chung:

– “Bà có biết gì về vùng đất bên kia núi không?”

– “Nó như thế nào?”

– “Không có gió. À, gió nhẹ nhàng. Gió mơn man trên tóc, da người. Có thể xây nhà trên mặt đất”.

– “Lạ nhỉ? Không ở nhà dưới mặt đất”.

– “Có thể bước đi nhẹ nhàng trên mặt đất”.

– “Thế à. Không phải giữ mọi thứ khỏi bị gió cướp”.

– “Không. Ở đấy gió không cướp. Có thể để các đồ vật đâu đó trên mặt đất”.

– “Lạ hé. Không bị gió cướp”.

– “Có thể trồng cây trên mặt đất”.

– “Heo, gà, vịt…thì sao”.

– “Chúng bay nhảy trên mặt đất, tự đi tìm thức ăn, gió chỉ đùa vui mà không cuốn chúng đi”.

– “Vậy há?”

– “À, ở đó mùa xuân hoa nở thơm ngát, chim hót trên cành cây, có bươm bướm bay”.

– “May cho tôi bị mù điếc để không cảm thấy những thứ ấy không có ở Pha Xang”.

– “Phải. Bà đã hạnh phúc khi mù, điếc…!”

Bà Ing mất sau nhiều ngày hấp hối. Khi chết, đôi môi khô héo của người đàn bà tàn tật nở một nụ cười. Nụ cười hiếm hoi ở Pha Xang. Nụ cười duy nhất của người Pha Xang khi đi về cõi bên kia. Khó khăn lắm, một mình lão cũng lo được cho bà Ing nơi an nghỉ cuối cùng.

Pha Xang, giờ chỉ còn mình lão. Cao nguyên mênh mông của cha ông xem như lão cai quản. Mà lão đúng là chủ của vùng đất này vì ai rời đi sang bên kia núi cũng bảo: cho cụ đất nhà tôi đấy. Cụ muốn làm gì thì làm…

*

Hai khối hộp chữ nhật lão nhìn thấy gần eo Gió vào một buổi sáng.

Có lẽ nó đã xuất hiện ở đấy nhiều ngày vì hơn một tuần qua bị cảm sốt, lão không thể ngoi lên khỏi mặt đất. Hai khối nhà sơn xám, sáng đèn. Lão biết đó là hai cái container văn phòng (lão đã thấy ở các công trường xây dựng bên kia núi).

Gần như lão đã bò trên mặt đất để có thể đến vị trí container nhanh nhất. Lão phải dùng cả cùi chỏ nện vào cửa mới có người ra mở. Mấy thanh niên trẻ đang châu đầu vào cái bảng cảm biến lằng nhằng công thức, giật mình khi thấy lão: “Chào cụ. Cụ ở đây?”- “Ờ hờ…”- lão hắng giọng vì kinh ngạc cho cuộc gặp bất ngờ. “Chúng cháu xin lỗi vì đã tìm quanh đây để xin phép nhưng không thấy ai. Đây là đất của cụ”- “Ờ hờ…”. Mấy thanh niên trẻ mời lão ngồi xuống ghế, rót từ bình ra thứ nước trong veo mời lão. Rồi họ gọi điện qua container bên cạnh. Lúc sau, một người thanh niên đội nón bảo hộ, đeo kính mắt lồi bước qua: “Cháu phụ trách ở đây. Chúng cháu thuộc một Viện khoa học”- “Sao các anh lại đến đây?”-“Chính cháu là người đề nghị Viện khoa học được đến đây. Cháu đề nghị vì hồi nhỏ cháu có đọc mấy dòng trong nhật ký của người cố viết về một vùng đất mà ông cố gọi là “vùng gió”.-“Vậy, ông cố đã đến đây?”-“Cụ không đến, mà hơn trăm năm trước, cụ cố đã sống ở đây. Cụ rất muốn thế giới biết về “vùng gió”, “những người đầu nhọn” và cụ muốn nghiên cứu về điều đó, nhưng cụ cố đã không hoàn tất dự định vì đã mất trong một tại nạn leo núi”- “ Cụ cố là người Pha Xang?”- “ Vâng, và cháu là một người trong huyết quản mình có máu của người Pha Xang. Cháu tên là Khai ạ!”. Người thanh niên đeo kính bỏ nón bảo hộ xuống. Lão Vâu nhận ra cái đầu của người thanh niên vẫn có một chút xuôi xuôi ở đỉnh. Lão Vâu cảm động rơi nước mắt, chồm qua bàn ôm chầm lấy Khai và siết chặt.

Chấm chấm nước mắt, người thanh niên cười: “Cháu là người Pha Xang. Nhưng đã là người Pha Xang lưu lạc. Vẫn còn ký ức Pha Xang nhưng không còn quyền sở hữu đất đai của tổ tiên ở Pha Xang. Máy bay trực thăng đã hạ phòng nghiên cứu chúng cháu xuống đây 10 ngày, giờ cháu mới may mắn được gặp chủ đất. Chúng cháu đã đo đạc, thu nhập số liệu, nghiên cứu hơn một tuần.”- Khai chỉ ra ngoài cửa sổ văn phòng, lão nhìn theo: bên đó có nhiều thiết bị lạ hoắc cái nằm, cái đứng, cái dựng cao chục mét: “Ông ạ, Pha Xang đang nắm giữ một mỏ vàng to lớn nhất hành tinh này đấy!”- Lão phát một câu: “Làm đếch gì có vàng, chúng tôi đã khoan nát đất cao nguyên này, chỉ có đá, đất, bùn!…” -“Có vàng. Thực ra, còn quý hơn vàng, vàng Pha Xang là mỏ gió. Mỏ gió!”. Lão há hốc mồm: “Mỏ gió!”-“Thứ đó có người mua, bán được à?”-“Bán được, đắt giá, sẽ có nhiều người mua”. Lão hỏi đi hỏi lại hàng chục lần. Lão nắm chặt hai bàn tay của Khai. Rồi lão khóc nức nở: “Cháu ơi, ta đã tìm gần hết đời, lật tung cả đất đai tổ tiên lên vẫn không biết cha ông để lại gì cho con cháu. Đã tận cùng thất vọng. Không ngờ, nay cháu đã tìm thấy!”

Hôm đó, lão ở lại ăn tối với mấy thanh niên trẻ. Lão uống whitky, ăn thịt hộp, mấy thứ này lão chẳng lạ gì hồi còn qua bên kia núi học hành, kinh doanh. Nhưng cũng đã rất lâu lão không mó tới… Lão về đến cái nhà hầm đã quá nửa đêm.

Lời của đứa cháu Khai, mà đám thanh niên gọi là giáo sư, cứ ong ong trong tai lão: Thời năng lượng vàng đen than đá đã qua từ lâu, thời năng lượng dầu mỏ cũng sắp qua rồi, năng lượng thuỷ điện cũng sắp hết thời. Than, dầu gây ô nhiễm cho trái đất. Sẽ bị cấm sử dụng. Nhưng không cấm thì con người cũng đã khai thác gần như cạn kiệt. Số dầu mỏ còn trữ lượng sử dụng chỉ tính bằng năm. Thuỷ điện con người phải giá quá cao cho việc ngăn chặn các dòng chảy tự nhiên của các con sông, các nhà môi trường đã đấu tranh bắt ngưng hoạt động nhiều nhà máy thuỷ điện… Năng lượng thiên niên kỷ tới của con người là gió… Con người đã khai thác năng lượng gió từ nhiều năm trước, nhưng kể từ đây với những phát kiến mới về cách thu nạp, sử dụng gió, con người mới thực sự bước qua kỷ nguyên năng lượng gió ….

Gió Pha Xang trên vùng đất cao nguyên này có những chỉ số tuyệt vời về tốc độ, độ ổn định mà trên thế giới không nơi nào có. Thật tuyệt vời cha ông từ ngàn năm trước đã đặt chân đến cao nguyên này và chiếm giữ nó cho con cháu… Cha ông ta đã chọn Pha Xang cho con cháu trước cả ngàn năm!… Đêm ấy, Lão Vâu lại khóc thút thít như một đứa trẻ: lão cùng bà con đã đào nát đất Pha Xang, khoan xuống đất sâu trăm mét, không ngờ thứ tổ tiên để lại cho con cháu là thứ ở trên trời, ngay trước mắt, lão vẫn chạm vào nó hàng ngày…

Trong lần gặp sau, Khai cho lão biết rằng: thời gian tới sẽ có rất nhiều tập đoàn năng lượng “nhảy” vào Pha Xang sau khi Viện nghiên cứu công bố tài liệu nghiên cứu. Lão sẽ phải có chiến lược, sách lược để hợp tác với họ sao cho có lợi nhất cho Pha Xang. Sẽ phải đấu giá, tập đoàn nào mua gió Pha Xang cao nhất mới chấp nhận cho đầu tư. Đất Pha Xang người Pha Xang nên giữ quyền sở hữu, chỉ cho họ thuê theo hạn định, gió bán từng gói theo thời gian…

Lão nghe ù cả tai. Nhưng lão biết rằng điều đó không khó gì với con cháu Pha Xang đang lang thang kiếm sống khắp hành tinh này, không khó gì khi có những hậu duệ Pha Xang như Khai. Lão cần gọi họ về cùng với Khai, họ sẽ bàn nhau, họ sẽ tự định đoạt tương lai lâu dài nguồn tài nguyên của tổ tiên.

*

Lão lại đi qua bên kia núi.

Lão vẫn nghĩ sẽ không bao giờ đi qua bên kia núi, vậy mà cuối đời một lần nữa lại đi.

Lão lại tìm gặp từng người đầu nhọn như hồi lão kêu gọi thăm dò, khai quật lòng đất. Nhưng lần này, dễ dàng hơn nhiều, với tập tài liệu của Viện nghiên cứu trong tay, lão chỉ photo và phát cho đám dân đầu nhọn khi lão gặp ở bất cứ đâu. Lão biết thông tin này sẽ loang ra khắp thế giới theo hiệu ứng domino…

Sau ít phút giây ngỡ ngàng, họ đều bật ngửa ra về nguồn tài nguyên cha ông để lại.

Cũng có những đứa đầu nhọn mất nết bảo lão: “Lại như vụ khai quật mỏ ấy à?”- Lão đáp lại: “Tổ tiên nào cũng để cho con cháu gia sản. Gia sản gì thì phải đi tìm. Có tìm mới thấy!”

Người đầu nhọn kéo nhau trở về Pha Xang…