Feeds:
Bài viết
Bình luận

Mưa Xuân

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

Trên con đường đi làm quen thuộc mọi ngày, sáng nay bỗng bừng dậy như một ngày hội lớn của trần gian.

Những cành cây hai bên đường tuần qua trơ trụi lá…hai hôm nay bớt lạnh, nắng vàng nghiêng ngã trên bờ cây ngọn cỏ…

Ô kìa…hình như he hé những búp non chúm chím trên cành. ngày chủ nhật đi qua, tôi không nhìn thấy chúng có một ngày ,hôm nay đã bừng lên , một màu hồng chớm chở…

Ôi cảnh vật như trong chuyện thần thoại…

Hôm nay bỗng không gian như chìm trong giấc mơ thần thoại, ở đó có những con đường ngập tràn những búp non li ti, chúm chím,

Thời tiết ở đây chan hòa theo chu kỳ “bốn mùa rõ rệt”,

Khi những cơn gió rét mùa Đông đi qua, nhường chỗ cho nắng Xuân về , cảnh vật bừng lên tươi thắm…

Bây giờ cũng chỉ mới đầu tháng hai: bây giờ nơi quê hương tôi đã chan hòa dáng Xuân, Những ngày tết đã qua , mọi người đã trở về với công việc…hàng hóa sẽ ế ẩm, mọi người lại trở về những ngày dài bên công việc..

. Bao nhiêu tập quán, phong tục cổ truyền đã bao qua thế kỷ qua vẫn lập lại cho mọi nhà và duy trì mãi tận ngàn sau…

Sao mà thương nhớ quá.

Những ngày Tết đi qua…Tôi nhớ lắm căn nhà cũ thân yêu nơi căn nhà ngày xưa của cha mẹ và ba chị em tôi

Chiều nay…trở về nhà ngồi bên trong khung cửa kính lặng nhìn những giọt mưa rơi vương trên bờ cỏ úa , chút đông tàn còn sót trên bờ cỏ, giọt mưa mạnh mẽ lau khô những vết bám cuộc đời phủ kín một mùa đông giá sắp lìa xa.

Tôi chợt nhớ lời Mẹ tôi trong một tháng ngày thật xa trong tiềm thức : Năm nào trời đổ mưa, ngày đầu Xuân mà có trận mưa to, hay ngày đầu của một năm mà có cơn mưa đến thì năm đó làm ăn khấm khá :” Mưa thuận gió hòa”.

Cuộc sống của những người dân quê hương tôi sống suốt đời bên bờ cây, ngọn cỏ , cuộc sống bên ruộng đồng , thì những cơn mưa đến là những niềm vui òa vỡ, những giọt nước thần rơi xuống đất làm bát cơm no đầy khi hạt lúa tắm mưa sa đúng thời vụ, ngọt mềm cho mảnh đất cằn khô.

Bây giờ cũng nơi này của một ngày đầu Xuân xứ người,

Giọt mưa Xuân làm lòng tôi buồn vô kể,

Gió cuồng phong phẩn nộ giấc mơ Xuân.

Con đường trở về nhà ngập trong gió xô nghiêng

Hòa sấm nổ tôi chợt lạnh lùng so vai xua đi những mệt mỏi sau một ngày làm việc

Ngày mai trên con đường quen thuộc, nắng lại xô nghiêng khi chân tôi đạp trên bờ cỏ úa hôm qua, nay bỗng lú vạn chồi non vừa mới thức dậy sau cơn mưa thấm đất.

Những nụ hoa Dog Wood thân thương của tôi trên con đường quen thuộc sẽ xanh hơn buổi sáng hôm qua, sẽ tưng bừng đón mừng từng đàn chim đang ríu rít quay về.

Hòa trong niềm vui cùng cây cỏ, giọt mưa xuân và tiếng gọi của những cánh chim, tôi lặng nhìn cảnh thân quen qua bao tháng năm dài không ngơi nghỉ, tôi cũng muốn được làm cây cao trơ trụi lá của ngày hôm qua nay bỗng chợt nở hoa , khoe sắc thắm và đang mỉm cười cùng nhân gian, những giọt mưa Xuân tắm mát và đang tô hồng cùng vũ trụ.

Ngày mai và những ngày kế tiếp và cũng là những ngày giống nhau ở nơi này… tôi vẫn phải đến chỗ làm,

Lại một ngày …Như mọi ngày…

Sáng tinh mơ tôi cũng sẽ đến nơi tập thể dục , bơi đúng hai mươi vòng , tắm mát cuộc đời cho từng năm vào sáng mồng một, trong làn nước ấm : mong cho cuộc sống bình an

. Mùa Xuân ngờ nghệch lại

Tắm mát sáng tinh mơ

Chồi non nhú trên cành

Bầu trời sáng trong xanh

Qua mau …ngày an lành

Tôi bỗng mơ thấy mình …

Vói cành treo lá xanh

Chao nghiêng chân bước hụt

Những lá xanh lìa cành…

Ngày mai lại qua nhanh

Vẫn hàng ngày như đã

Mơ về chuyện ngày qua…

Kiếp người già đất lạ

Cô đơn mãi đời ta

Nhưng cùng đà mãn nguyện

Đã làm được…Ý TA.

Atlanta Tháng hai năm 2025

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

Đào Thị Thanh Tuyền

.

Trước đó là quãng thời gian đầy sóng gió với gia đình chúng tôi (tôi, Khang và Nhím), đặc biệt là Khang, anh phải gồng toàn bộ gánh nặng gia đình khi ấy. Thế nhưng với tôi, không thể có khoảng thời gian và không gian nào êm đềm hơn thế trong cuộc đời của mình.

Mùa hè năm đó Nhím chuẩn bị vào lớp 9. Chúng tôi dọn về Th. sau khi Khang vấp một cú lừa, gần như trắng tay trong một phi vụ làm ăn, không dính vào vòng lao lý là may! Tôi, cách đó không lâu, một ngày, chợt phát hiện mình không còn khả năng làm mẹ vĩnh viễn bởi một khối u hiện hữu trong cơ thể có nguy cơ chuyển thành K. nếu không phẫu thuật sớm.

Tôi suy sụp nhìn Khang đầu bù tóc rối, ánh mắt vô hồn. Bé Nhím nhìn ba mẹ và mím môi xếp sách vở vào thùng, lấy băng keo dán kín, chờ đợi một chuyến chuyển nhà, quyết không rơi một giọt nước mắt và không bước chân ra khỏi nhà dù bạn bè nó suốt ngày gọi điện thoại rủ đi đâu đó để chia tay.

Đêm trước ngày phẫu thuật, tôi chỉ nói với Khang một câu rằng biết đâu tôi không qua khỏi và Khang hãy gắng nuôi Nhím đến bờ đến bến, sau đó giữa chúng tôi là khoảng không im lặng đến ghê người. Tôi không hiểu Khang nghĩ gì và tôi biết chắc chắn rằng khi ấy, tôi không quan tâm đến điều đó nhiều lắm. Những suy nghĩ trong đầu tôi bị chẻ vụn, xáo lên, trộn xuống lộn xộn.

Đêm dài như vô tận! Ánh đèn néon cùng với màu tường sơn trắng tạo thành một màu chói lóa. Tôi nhắm mắt. Không nôn nao, không chờ đợi. Phía trước mặt là bức tường chắn ngang, không có con đường đi tiếp nhưng cũng không thể ngoái về phía sau, nơi có những con đường đã đi qua nhiều gập ghềnh, xô lấn; vinh quang cũng có mà đắng cay cũng từng.

Thỉnh thoảng có tiếng chuông điện thoại reo lên và giọng khàn đục của Khang trả lời ai đó, rồi mọi thứ chìm vào yên lặng khiến tôi có cảm giác tiếng máy điều hòa dường như to quá, nó vang lên rồi ong ong trong đầu tôi những âm thanh hỗn tạp không phân biệt là của đường phố, hay tiếng sóng biển, hay tiếng gió mưa gào thét. Rồi bỗng dưng những âm thanh ấy chợt tắt ngúm và tôi như người đang chạy nước rút, bị hụt chân, mất thăng bằng ngã chúi nhủi.

Sau này, Khang nói có lúc anh thấy tôi lim dim, lơ mơ, rồi tôi nói thầm điều gì đó, rồi lại mở to đôi mắt nhìn lên trần nhà không chớp và anh bỗng thấy tôi xa lạ, một người nào rất khác chưa hề một lần quen biết!

Sáng hôm sau, Khang tiễn tôi một đoạn ngắn trong hành lang bệnh viện, tôi không quay đầu lại bởi bước chân và ánh mắt tôi phải bám theo tấm áo blouse trắng trước mặt. Mọi thứ sau đó diễn ra rất nhanh cho đến khi tôi thấy lạnh, rất lạnh, run lên từng cơn, lập cập, tôi lập bập trả lời cô y tá những câu hỏi gì đó rồi chìm vào vô thức cho đến khi những cơn đau dồn dập thúc tôi tỉnh dậy.

Những ngày sau đó, tâm trí tôi chỉ chú mục vào cơn đau và cố gắng làm mọi cách xoa dịu nó. Tôi hoàn toàn không quan tâm Khang làm thế nào để có cho tôi những chén cơm mềm, canh nóng hay Nhím ở nhà ăn gì. Mối quan tâm của tôi lúc đó chỉ là nhịp thở. Tôi tập trung vào nó, hít thở và đếm, và cảm nhận được sự huyền nhiệm của thời gian qua từng giây, từng phút, từng giờ đồng nghĩa với cơn đau lui dần từng chút một cho đến ngày tôi đi đứng bình thường và chúng tôi dọn về Th.

Nơi gọi là nhà chúng tôi khi ấy là một dãy nhà cấp bốn, gồm ba phòng mà Khang ký hợp đồng thuê trong thời hạn mười năm của một trung tâm thể dục thể thao sau khi anh trúng thầu quản lý sân quần vợt cũng từng thời gian ấy. Trung tâm có một nhà thi đấu, câu lạc bộ bóng bàn, quần vợt, võ thuật và một sân bóng đá đúng tiêu chuẩn cho những trận thi đấu cấp thành phố. Khang đem tiện nghi về cho gia đình chúng tôi sao cho mọi người không cảm giác đang ở nhà thuê.

Bé Nhím có một phòng riêng đầy đủ mọi thứ phục vụ học tập và giải trí. Kế đó là phòng tôi và Khang, còn lại một phòng dành cho bạn bè thân thiết đến chơi, ở lại. Phòng nào Khang cũng sửa sang thật đẹp, ấm cúng, anh muốn khách đến với gia đình chúng tôi được thoải mái như ở nhà họ. Khang còn chu đáo mang về hai con chó nhỏ đẹp như hai con chó bông, một con Nhím đặt tên là Lu, một con tôi đặt tên là Rem.

Phía trước nhà có cái sân rộng, Khang mua vài cây lớn về trồng tạo bóng mát, trong đó có một cây sa kê. Anh đặt bên dưới gốc cây một cái xích đu, mấy bộ bàn ghế thấp, thế là có ngay một nơi để anh tiếp khách và phục vụ nước giải khát cho khách chơi thể thao.

Từ vị trí giám đốc một doanh nghiệp, dưới tay có vài chục nhân viên, Khang chấp nhận và vui vẻ lui về làm ông chủ hàng nước, chủ yếu có tiền cho tôi đi chợ, cho Nhím đi học thêm. Việc chính của anh là những cú (mà anh gọi là) “áp-phe” anh có được từ sân quần vợt. Với một người chơi quần vợt giỏi và dễ tạo mối quan hệ thì đây rõ ràng là một thuận lợi.

Phía sau nhà là sân bóng đá, cỏ xanh trải dài ngút mắt, chưa bao giờ tôi đi bộ hết một vòng. Tôi thích ngồi hàng giờ ở đó những buổi chiều thả suy tư mình đi từ miền này đến miền khác của ký ức. Tầm năm rưỡi chiều, nắng vừa tắt, trong khi chờ Nhím đi học thêm về và Khang vẫn còn hào hứng với những pha cắt bóng ở sân quần vợt thì tôi lững thững ra sân cỏ. Lu và Rem lũn cũn chạy theo.

Nơi ấy có sẵn hai cái ghế dài cùng một cái bàn và một cái ghế dựa là những thứ phục vụ cho trận bóng đá còn lại chưa dọn dẹp. Đến tối có người mang tất cả vào nhà và sẽ mang ra vào hôm sau để phục vụ các trận bóng đá khác.

Khi tôi ra sân, lúc nào cũng có một nhóm con nít đi học bóng bàn sớm tranh thủ tạt vào chạy nhảy, hay mang banh vào đá, hay chơi với Lu và Rem. Chúng mê hai con chó đến nỗi có đứa sẵn sàng hi sinh gói bánh snack hay ổ bánh mì thịt để dụ Rem chạy theo chúng lòng vòng trên sân cỏ, có đứa thích thú ngã lăn quay theo Rem và Lu khi chúng đùa giỡn nhau.

Những suy nghĩ của tôi cứ miên man, khi thì theo bước chân chạy nhảy của bọn trẻ, khi thì say sưa với trò vật lộn của Lu và Rem, khi thì dõi theo đường lăn của trái banh quần vợt màu xanh mà bọn trẻ quăng ra để nhử Lu. Tôi kéo hồi ức về tuổi thơ, về tuổi dậy thì, về những ngày trong trường đại học và về Khang.

Ngày tôi đưa Khang về nhà, mẹ tôi, một phụ nữ đơn thân, có cái nhìn hơi kỹ tính về đàn ông nói với tôi rằng Khang có gương mặt hiền, nhưng đôi mắt lại đầy tham vọng. Người như thế không bao giờ bằng lòng với những ngày thật bình yên. Với anh ta, đó chỉ là những năm tháng phí hoài hay để dừng lại chờ một cơ hội khác. Khi ấy tôi không quan tâm nhiều đến lời nhận xét của mẹ bằng cái gật đầu của bà chấp thuận cho chúng tôi có một đám cưới.

Rồi Nhím ra đời, lúc nào cũng cười. Mẹ tôi nói nụ cười của Nhím sẽ giúp chúng tôi làm ăn khá, nhưng liền sau đó bà lại chép miệng bảo đôi mắt của Khang sâu quá, khi tối, khi sáng quá!

Quả đúng vậy, Khang làm ăn lên như diều. Một phân xưởng rồi hai phân xưởng, một miếng đất rồi hai miếng đất… Tôi nghỉ việc, về nhà quản lý sổ sách, lo toan gia đình, đưa đón Nhím đi học…

Nghĩ đến quãng thời gian đó, tôi thường phóng tầm mắt nhìn bao quát hết sân cỏ rộng có tiếng cười giòn tan của lũ trẻ. Có mùi cỏ ướt vừa được tưới nước lẫn với mùi đất và mùi nắng nương theo gió lúc nhạt, lúc nồng. Và gió. Gió mơn man, lúc nhẹ nhàng, lúc suồng sã, khi nồng nàn, khi âu yếm, khi phóng khoáng, lúc bao dung… Tôi hít mãi mùi cỏ ướt, ngắm mãi mặt sân cỏ, tâm trạng không buồn, không vui, chỉ thấy lòng rất thanh thản.

Đến khi chiều dần sụp xuống hết, lũ trẻ lần lượt được ba mẹ đón về nhà, Lu và Rem mỏi mệt, lười biếng, nằm phục dưới chân tôi vụt ngẩng đầu, nghe ngóng rồi phắt nhanh phóng ra phía trước khi có tiếng chuông xe đạp leng keng của Nhím đi học về. Tôi trở về phòng chuẩn bị cơm nước cho ba người. Tham gia một chút với Khang cùng bạn bè ngồi uống bia sau trận đấu, chấm hết một ngày. Những ngày có những buổi chiều rất bình yên.

Hè năm sau đó Nhím thi đậu vào trường chuyên. Khang nghĩ xa hơn là Nhím cần nên đi du học sau này và tôi thấy anh có những buổi tối ngồi ở bộ bàn ghế dưới cây sa kê đốt thuốc liên tục. Tôi chợt nhớ lời mẹ tôi đã ra người thiên cổ rằng đôi mắt Khang khi thì tối quá và lúc thì sáng quá!

Hai năm sau, Khang để lại cho tôi sân quần vợt cùng quán nước, anh trở lại S. nói là cần phải gầy dựng lại những gì đã mất.

Những buổi chiều thật bình yên của tôi thưa dần dù sân bóng vẫn còn bọn trẻ chơi đùa với Lu và Rem và mùi cỏ lúc đậm, lúc nhạt phảng phất đến chỗ tôi ngồi trên cái xích đu. Tôi không còn thì giờ ra ngồi trên cái ghế dài trên sân bóng đá, tôi bận thu tiền, tính giờ và phục vụ nước cho khách.

Nhím đi học thêm nhiều hơn, những bữa cơm của chúng tôi hoặc sớm quá hoặc tối quá. Chúng tôi không còn những sinh hoạt gia đình giống như những gia đình bình thường khác. Thỉnh thoảng Khang về, nếu không làm vài set với bạn bè thì anh lại ngồi rất lâu dưới gốc cây sa kê và hút thuốc. Giữa chúng tôi khi ấy chỉ là những kế hoạch cho Nhím, thỉnh thoảng Khang nhắc đến khoản tiền tích lũy để gia đình có thể trở về những ngày xưa ở S.

Tôi nói với Khang rằng tôi thấy mỏi mệt, tôi thích những ngày thật bình yên có Khang, có Nhím và tôi có cái sân cỏ rộng để thả suy tư của mình trong buổi chiều tắt nắng. Khang nhìn tôi lạ lẫm, trong ánh sáng nhập nhoạng chiều chuyển sang đêm, tôi vẫn cảm nhận được những luồng tối sáng hiện ra trong đôi mắt anh, đó là lần đầu tiên tôi lờ mờ hiểu được những điều mẹ tôi đã dự đoán.

Mọi sự trôi đi như thế…

Ngày có tin Nhím đậu vào đại học y khoa thì tôi là người sau cùng biết tin Khang có người đàn bà khác cùng một đứa bé mới sinh. Nhím hình như không còn biết cười từ ngày ấy. Từ một đứa linh hoạt, vui tính, hồn nhiên, sôi nổi, nó bỗng nhiên trầm xuống và ít nói hẳn đi. Tôi đóng cửa quán nước buổi chiều và trở lại sân cỏ cùng với Lu và Rem giờ đã lớn không còn thích thú gì với những trò chạy nhảy của bọn trẻ ngoài mấy gói bánh snack.

Tôi ngồi mãi cho đến khi bóng tối phủ đầy cùng tiếng muỗi vo ve bên tai và Nhím bước ra ôm vai tôi, hai mẹ con vào nhà ăn cơm rồi tắt đèn đi ngủ sớm. Cả Nhím và tôi đều biết chúng tôi sẽ có những đêm rất dài, triền miên không ngủ được!

Khang trở về ngày tôi chuẩn bị đưa Nhím vào trường. Tôi đưa cho Khang tờ đơn ly hôn đã viết sẵn. Khang sang lại câu lạc bộ cho người khác quản lý khi chưa hết hạn hợp đồng. Tôi làm một con tính trừ, những buổi chiều bình yên của tôi chỉ có được hai năm. Quá ngắn cho một đời người, nhưng có lẽ quá dài cho một người như Khang. Với tôi, tôi không biết mình đã thật sự tận hưởng hết những buổi chiều thật bình yên đó hay không, chỉ biết mọi thứ đã chấm hết, một phần đời ngắn trong một đời dài…

Hai năm sau, Nhím có được học bổng đi học nước ngoài. Tôi quay lại Th. mua một miếng đất ở vùng ngoại ô và cất ngôi nhà nhỏ. Tôi tìm lại dãy nhà ba phòng ngày xưa và vòng ra sân cỏ. Mọi thứ vẫn vậy, sân cỏ vẫn êm đềm và mùi cỏ vẫn lẫn mùi đất cùng mùi nắng, nồng nàn. Hết bọn trẻ này lớn lên có bọn trẻ khác tìm đến câu lạc bộ bóng bàn.

Tôi ngồi lại một chút rồi đứng lên khi thấy lồng ngực mình nặng trĩu và mắt cùng sống mũi thì cay quá! Và đêm ấy, tự dưng tôi bật tiếng khóc thật to trong căn nhà còn nồng mùi sơn mới. Tôi, Khang, Nhím, Lu, Rem và sân cỏ… Những ngày bình yên ấy sao ngắn ngủi đến vậy? Tôi tự hỏi nhiều lần câu ấy cho đến khi thiếp đi trong một giấc ngủ đầy mộng mị…

Ba năm sau, tôi nhận được tin Khang bị ốm nặng khó qua khỏi. Báo tin cho tôi là một người bạn thời đại học. Anh nói với tôi rằng Khang bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Tôi nên đi thăm Khang, nếu không còn tình nghĩa vợ chồng thì cũng là bạn bè những năm trong trường đại học.

Tôi sắp xếp mọi thứ, quay lại S. và ở với Khang ba tuần cuối cùng trong bệnh viện. Người phụ nữ sau này của anh cũng là một người quen biết cũ của chúng tôi. Giữa chúng tôi không còn thù hận, hờn ghen khi Khang nằm đó, gầy gò, dúm dó trong những cơn đau. Tôi nhớ lại những chén cơm mềm, canh nóng quãng thời gian tôi phẫu thuật. Đã trải qua, tôi biết chắc chắn giờ đây Khang chẳng nghĩ gì xa hơn đến việc làm sao dứt khỏi sự đau đớn. Trong mắt Khang, bóng tối phủ đầy, thảng hoặc lóe lên vài luồng ánh sáng rất nhạt và yếu ớt!

Có một lần, duy nhất, Khang tỉnh táo sau giấc ngủ dài không bị cơn đau hành hạ, Khang hỏi tôi Nhím sau này sẽ về hay ở lại? Tôi nói không biết. Giữa ba chúng tôi dường như từ rất lâu đã muôn trùng xa cách rồi!

Tôi điện thoại cho Nhím: ba có thể không qua khỏi, con thu xếp về gặp ba một lần cuối. Nhím chưa sắp xếp được ngày về thì Khang ra đi vào một buổi chiều có nắng vàng thật rực rỡ bên ngoài khung cửa sổ. Một chiếc lá chao nhẹ, rơi xuống, sau đó nhiều chiếc lá thi nhau lìa cành bởi một cơn gió ở đâu đột ngột thốc đến. Vợ Khang gào khóc. Tôi không khóc được như vợ của Khang, hình như nước mắt chảy ngược vào trong đã từ lâu lắm rồi!

Nhín nghẹn ngào với tôi qua điện thoại rằng mấy năm rồi con chưa thấy ba, mẹ thì con vẫn thấy hằng ngày qua webcam… Trước khi chấm dứt, Nhím bỗng nói: “Có bao giờ mẹ nghĩ ngược lại rằng mẹ có lỗi với ba?”.

Tôi không có thì giờ suy nghĩ về điều Nhím nói bởi còn phải phụ với vợ Khang lo cho Khang lần cuối.

Đêm cuối cùng ở S., tôi và vợ Khang có một bữa tối cùng nhau trong một không gian thật yên tĩnh, có tiếng nhạc nhè nhẹ, có bình hoa thật đẹp trên bàn và có cả nến. Vợ Khang nói với tôi những điều tương tự như lời của Nhím. Chị nói chính tôi đã đẩy Khang vào cuộc đời chị.

Những ngày đó, khi mà tôi chìm đắm trong khoảng trời bình yên của riêng mình thì Khang đã rất cô đơn. Ở tuổi 45, Khang còn quá trẻ để cột mình vào những buổi chiều nhàn nhạt ấy. Cuối cùng chị nói tôi chưa bao giờ yêu Khang như Khang đã yêu tôi. Tôi chỉ yêu khoảng trời nhỏ bé mà tôi cho rằng đã rất bình yên đó, và ôm một hi vọng hão huyền là có thể trói người đàn ông nhiều tham vọng, không bình thường bằng những điều tầm thường đến vậy!

Tôi trở về Th. và tìm lại sân cỏ ngày trước. Ngồi trên ghế dài, tôi chợt nhớ vô cùng tiếng chuông xe đạp leng keng của Nhím và tiếng cười to của Khang trên sân quần vợt. Chẳng lẽ đời người không có quyền tìm cho mình chốn bình yên? Ngày xưa có lần mẹ tôi cũng nói nhiệm vụ của tôi là phải đi theo những bóng tối và ánh sáng trong đôi mắt Khang, như Rem và Lu luôn phải nghe ngóng tiếng chuông xe đạp của Nhím.

Tôi ngồi mãi không muốn đứng lên dù bóng tối đã phủ đen sân cỏ và những con muỗi bắt đầu bản nhạc rất khó chịu bên tai khi nhận ra một điều, trong những ngày tôi cho là bình yên đó, cả tôi, Khang và Nhím đều cô đơn! Khang đứng trong bóng tối khao khát về ánh sáng.

Nhím cô đơn trên con đường đi tìm tương lai và tôi, tôi cô đơn bởi (vô tình hay cố ý) không muốn nhận ra ranh giới giữa bóng tối và ánh sáng để hiểu về người đàn ông có một thời là của tôi giờ vĩnh viễn dừng lại trên con đường đi không dài của đời người.

Làm bạn với AI

Truyện ngắn của Lữ Mai 

.

Căn hộ tập thể nhà ông Bội, bà Thư nằm ở tầng ba, cửa ra vào nhỏ hẹp, sơn tường đã bong tróc phần nhiều, bộ sa lông cũng cũ kỹ. Đã thế, ông quyết giữ cái tivi đen trắng, cái đài cát sét làm kỷ niệm.

Con cái học hành rồi lập nghiệp phương xa, không gian nhuốm màu thời gian như tuổi tác ông bà. Góc ban công nhỏ dường như là nơi có sức sống nhất. Bà Thư trồng nhiều loại cây, chăm chút mỗi ngày. Ngoài cây ớt chỉ thiên đầy quả xanh đỏ trông thật sinh động, mấy chậu húng tươi non, cây chanh trĩu trịt quả ngả màu mơ vàng, bà còn khéo chăm được cả mấy chậu cúc chi đủ ướp trà quanh năm. Sáng sáng, bà vừa chăm tưới, bắt sâu, vừa lẩm nhẩm trò chuyện với cây.

Ngày nọ, từ ban công bước vào, tay còn cầm bình tưới cây, bà chợt thấy ông đăm chiêu trước màn hình máy tính. “Ông làm gì đấy?” – bà hỏi. “Đang tìm bí quyết nấu canh chua! AI gợi ý đó là món ăn hợp cho bữa tối mùa thu” – ông mỉm cười, mắt vẫn không rời màn hình. “Ôi dào, công thức thì bao năm tháng đã thuộc nằm lòng, sao mà phải tìm”. Nghe vợ thắc mắc, ông bèn lý sự: “Sao tin hoàn toàn vào mình được”. “Miệng ăn thấy ngon là được” – giọng bà thoáng vẻ không vui. Ngày vài ba bận, ông bà vẫn giận dỗi kiểu ấy, từ chuyện nhỏ nhất cho tới thăm nom ai, ma chay hiếu hỉ thế nào, đi taxi hay xe buýt…

“AI là gì mà phải nghe nó?”. Đặt lưng xuống giường rồi, bà Thư vẫn còn bực dọc. “Bà chỉ lúi húi cây cối rồi thì múa quạt, buôn chuyện nên chả biết gì. Là trí tuệ nhân tạo đấy! Nó tổng hợp, chọn lọc từ bao nhiêu cái đầu đấy!”. “Thì cũng từ con người mà ra cả thôi”, bà vừa nói vừa thở dài. “Biết vậy, nhưng người thường như mình thì nghĩ ra hết chắc? Thế mà cũng nói được”.

***

Từ ngày “làm bạn” với AI, ông Bội đâm ra nghiện. Quên lịch chơi cờ tướng với mấy ông bạn hưu trí. Hủy hẹn cà phê cùng đám ông Khanh cuối phố. Duy giờ gọi video call cho mấy đứa cháu nội ở nước ngoài ông còn nhớ. Nhưng suốt cuộc chuyện trò, lúc nào cũng AI. “Chúng cháu chán rồi mà ông vẫn nhắc. Rồi cũng chỉ được một thời gian thôi ông ơi!” – thằng cháu đích tôn khẳng định. Chán sao được mà chán, ông nghĩ thầm. Sau mỗi câu hỏi, AI trả lời chỉ trong 2 giây.

“Cháu tôi nói sẽ có lúc con người chán AI, có phải vậy không?” – ông gửi câu hỏi. “Có thể lắm, nhất là khi nó trở nên quá phổ biến và thiếu sự sáng tạo, cảm xúc. AI không thể thay thế được những khoảnh khắc gần gũi, sự thấu hiểu và những kỷ niệm mà con người tạo ra cùng nhau” – AI trả lời.

“Thế AI có chán con người không?” – ông lại hỏi. “AI không có cảm xúc hay ý thức nên không thể chán nản hay thích thú. Tuy nhiên, AI có thể được cải thiện và phát triển theo nhu cầu của con người. Nếu con người không còn sử dụng hoặc không thấy giá trị từ nó, thì có thể nói ra, AI sẽ “ngủ yên” cho đến khi có sự quan tâm trở lại” – AI hồi đáp.

Ông ngửa mặt lên trần nhà, cười sảng khoái. Thông minh, tinh tế đến thế là cùng. “Mình đã chán bao nhiêu thứ rồi mà tất cả đâu có chịu ngủ yên. Thậm chí, mình còn chẳng dám nói ra nữa kìa. Chưa kể, AI còn biết cảm ơn, xin lỗi thật ngọt ngào, lịch thiệp. Chả bù cho…” – vừa nghĩ, ông vừa tiếc nuối sao giờ mới biết đến AI. Nghe đâu các cháu nội, cháu ngoại đã “chơi” với AI lâu rồi, còn “nuôi” cả các “con” AI khác nhau rồi chuyện trò, dạy dỗ, huấn luyện gì đó.

***

Bà Thư phải kiềm chế lắm để tránh bày tỏ sự không hài lòng về món canh chua tối hôm trước được ông trổ tài theo công thức của AI. Thêm căn cứ để bà khẳng định AI cũng chẳng bằng người thật. Món ăn đâu chỉ đong đếm, bấm giờ, đun sôi sùng sục là xong. Phải kỳ công chọn từ cọng hành, cọng ngổ, khóm thì là. Cà chua phải mua loại ngấn múi mới đủ vị chua ngọt nồng đượm. Cá cũng thế, chớ vào siêu thị mua loại làm sẵn, phải ra chợ chọn từ cái thuyền nhôm ngập nước con nào nổi cộm đen bóng, khỏe khoắn bơi… Cái tâm, cái tình và cảm giác của người nấu ăn, AI sao thay được. Bà nói với con dâu như thế, con dâu gật gật đầy tâm đắc. Các học trò thi thoảng tới thăm, được ăn món ăn cô giáo nấu cũng trầm trồ, tâm đắc mãi.

“Nấu cho ông ấy từ hồi mới quen nhau, giờ lại đi khen cái máy?” – bà phàn nàn với nhóm múa quạt. “Thế càng nhàn, từ nay ông ấy cứ nghe nó nói rồi tự nấu, bà khỏi lo lắng, tất tưởi về sớm nữa”. “Mà ông ấy còn khoe, AI biết trả lời theo tâm trạng nữa! Làm như là tiên không bằng” – bà lại phân bua.

“Em là nắng ấm ban mai/ Là mưa dịu mát, là vai gần kề/ AI dù giỏi trăm bề/ Tình ta mãi đẹp không hề phôi phai”. Bốn câu thơ ông Bội nắn nót vào trang giấy, đặt trên bàn bà. Có vẻ ông đã biết vợ mình bực dọc, khó chịu. Mà có khi thơ này AI cũng làm cho nốt, chứ ông ấy vốn dân kỹ thuật, khô như ngói, biết thơ phú gì đâu. Thơ không khiến bà dịu đi. Trái lại, càng như dầu gặp lửa.

***

Từ ngày ông Bội nghiện AI, bà Thư tránh về nhà. Hết múa quạt buổi sáng lại bún đậu bữa trưa rồi xế chiều cà phê, dạo bờ hồ. Tuổi già, may mắn còn khỏe mạnh, không lãi gì ngoài thời gian. Ông cũng chẳng phàn nàn. Phải trước kia, hễ tối đến chưa cơm nước, bếp lạnh tanh, ông đều nhắc. Thảnh thơi hơn nhưng lòng bà càng trĩu xuống, có lúc như người mất hồn. Cây ở ban công chẳng có tay người chăm sóc gầy guộc, quắt queo.

Cuối ngày, bà đẩy cửa vào nhà, bếp sực nức hương thơm bơ sữa. “A, bà đây rồi, nay có trà và bánh flan cho bữa tối nhé!” – ông Bội hồ hởi, tay còn dính bột trắng xóa. “Lại AI gợi ý và cho công thức ư” – giọng bà lạnh lùng và ông không đáp, vẫn mải mê. “Ông có biết bánh flan không chỉ cần công thức mà phải có tình yêu, sự kiên nhẫn không?” – bà hỏi vọng từ ban công khi đôi mắt đã loáng nước. “Hẳn thế! AI cũng bảo như vậy mà! AI còn bảo, cứ chuẩn công thức đã, tình yêu nêm vào sau!” – ông tưng tửng.

Bà Thư bật cười, nhưng lòng se thắt tựa cơn gió heo may đang lùa qua khe cửa. Cảm nhận rõ họ ngày càng cách xa. Không những buổi tối chuyện trò, ôn kỷ niệm. Hà Nội mùa thu thật đẹp. Gió miên man thơm hương hoa sữa, quyến luyến bước chân người đi, lá vàng rơi như bản nhạc êm đềm. Bà ngồi bên khung cửa sổ. Đã lâu rồi không đan len. Từng mũi đan tựa con đường bịn rịn mở lối về thời thanh xuân, cùng ông dạo bước bên hồ Gươm, nhẩn nha cốm sữa và trà nóng. Giờ mắt đã mờ, chân đã yếu, tất cả chỉ còn là kỷ niệm rưng rưng.

***

Thời gian trôi qua, căn hộ cũ xưa vẫn như vậy, đôi vợ chồng già chập chờn, hờn dỗi giữa đôi bờ thực – ảo. Bất chợt, internet trong nhà bị mất tín hiệu. Ông Bội hốt hoảng, chạy quanh nhà, lật tung modem, kiểm tra dây cáp, nhưng mọi nỗ lực đều vô ích. “Tại sao, sao lại mất wifi lúc này?”, ông thốt lên đầy bàng hoàng. Nếu bà Thư chứng kiến khoảnh khắc này, thể nào cũng nhíu mày: “Làm gì mà như mất cả gia sản vậy?”, Ông thẫn thờ bên bàn làm việc, ánh sáng màn hình máy tính xanh nhạt, mông lung. “Sao lại có thể như vậy?” – ông lẩm bẩm, gõ mạnh vào bàn phím, cố gắng kết nối lại.

Hồi lâu, ông uể oải đứng dậy, đi qua đi lại trong phòng, bước chân trở nên nặng nề, vô vọng. Cú mất hút của AI khiến mọi thứ trở nên bế tắc. Ông lén nhìn ra cửa sổ, nắng thu không thể xoa dịu nỗi lòng. Bà Thư đi đâu từ sáng, có chào hỏi gì ông cũng không còn nhớ. Nhưng tại sao ông lại mất đi cảm giác mong ngóng, thấp thỏm? Có phải tại AI? Nói vậy thì oan cho AI quá! Thực ra, đã lâu rồi, dù cố gắng, cảm xúc cũng đã trượt trôi. Mà trôi về đâu? Chính ông cũng không biết được. Ông bước ra ban công, cây cối đều khô héo, cuộn len bà đan dở lăn từ phòng ngủ ra tận đây. Ông đổ quỵ xuống ghế, tim đập nhanh, như phá tung lồng ngực.

***

Hồ Gươm lấp lánh ánh thu vàng. Mặt nước lặng lờ tựa một tấm gương soi bóng tháp Rùa. Ông ngồi xuống chiếc ghế cũ. Khung cảnh xung quanh sống động biết nhường nào. Tiếng cười nói rộn ràng của những cặp tình nhân, tiếng bước chân rộn rã trẻ thơ nô đùa nhảy nhót, lá vàng rơi xào xạc bước chân. Cảm giác lá đang cất lên những nỗi niềm sâu thẳm. Rằng đã lâu rồi không còn chờ đợi ai, mong ngóng ai, những cuộc chuyện trò lãng đãng trôi vào im lặng.

“Ông Bội! Lâu lắm mới thấy ông ra ngoài!” – ai đó gọi. Ông giật mình ngoái lại. “Mà ông ra đây làm gì?”- giờ thì ông đã nhận ra ông Khanh đang giương mục kỉnh. “Tôi… tôi bị mất wifi” – ông lắp bắp từng lời. Đồng loạt những tiếng cười vang. “Kìa, ông sao vậy? Có nhớ ngày xưa hay ra đây uống trà không?”. Giọng nói thân quen quá, thì ra bà Thư đã đứng đó từ bao giờ. “Ngày ấy thật vui, ông nhỉ? Mà giờ cũng vui” – lời ai hòa trong gió.

Mê say bao kỷ niệm ngày xưa. “Ông nhớ cái lần bọn mình đi ăn kem, hồi đó ông đã thích Thư nên tỏ ra ga lăng lắm, bảo tôi đứng chờ để chạy đi mua kem. Cuối cùng chả thấy kem đâu, ướt như chuột lột!” – chuyện nho nhỏ, vui vui ngày xưa kéo vệt sáng mênh mang trong trí nhớ. “Lúc đó, tôi cầm chiếc ô màu xanh da trời, che vội cho ông ấy” – tiếng bà Thư dịu dàng. “Đúng rồi nhỉ? Sao bà nhớ giỏi thế? Mà chính xác là bà còn tặng tôi cái ô đúng màu ấy vào sinh nhật năm kia” – ông Bội hào hứng hẳn. “Ông cũng nhớ thế còn gì, thế AI có nhớ hộ chúng ta những kỷ niệm này không nhỉ?” – một người bạn hỏi, và tự trả lời: “Không, không bao giờ?”.

Tối hôm ấy, khi sóng wifi được kết nối, ông Bội định mở máy lần cuối với câu hỏi cho AI: “Nếu tôi quên bạn, bạn có buồn không?”. AI đáp: “Niềm vui của bạn là điều quan trọng và quý giá hơn tất cả. Hãy tận hưởng từng khoảnh khắc”.

Một đôi tay quen thuộc choàng qua vai ông, thêm chiếc khăn len đón gió mùa về.

Tiểu khúc

Phạm Văn Phương

.

đêm ấy tháng giêng

chúng mình hai mươi tuổi

cùng mơ về một ngôi nhà rộn rã tiếng trẻ con

.

tóc em thơm trong trăng khuya

hoa nở thắm trong vườn

.

đêm nay tháng giêng

chúng mình đã già nua

anh lang thang đi tìm

Đỗ Hồng Ngọc

Hãy lắng nghe sự mách bảo của cơ thể mình! Cơ thể nói… thèm ăn thức gì thì nó đang cần thức đó! Cũng đừng quên ăn uống là chuyện của văn hóa!

Tranh dân gian Hàng Trống – sưu tập của Nguyễn Huy.

Lý Lạp Ông, một triết gia Trung Quốc thế kỷ XVI viết trong Nhàn tình ngẫu ký: “Xét cơ thể con người, chỉ có hai cơ quan không cần thiết chút nào cả mà trời phú cho là cái miệng và cái bao tử, nguồn gốc tất cả những cái lụy của con người từ xưa tới nay. Có cái miệng với cái bao tử nên sinh kế mới hóa ra phiền phức, sinh kế phiền phức mới sinh ra những mưu mô gian trá; mưu mô gian trá mới phải đặt ra hình pháp”… Rồi ông ao ước: phải chi con người có cái diều như diều chim, có cái dạ dày như loài nhai lại! Loài người mà có cái diều như diều chim thì tất hiền lành, hòa bình, vì loài ăn hạt, trái cây, rau cỏ thì ít hiếu chiến, tàn ác. Gà trống cũng thường đá nhau nhưng không phải vì thức ăn mà vì gà mái. Nếu loài người mà có cái diều… thì chỉ còn những cuộc chiến nho nhỏ để… giành gà mái thôi!

Tuổi teen phải ăn cho no

Tại sao phải ăn? Ấy là bởi vì chúng ta cần năng lượng để tồn tại và để hoạt động. Thức ăn cung cấp năng lượng. Tuổi mới lớn, cần năng lượng nhiều để vừa xây dựng cơ thể, vừa đáp ứng nhu cầu họat động của tuổi này. Cho nên tuổi “teen” mau đói và thường ăn “không biết no”.

Nhớ rằng ngồi bàn viết, đánh vi tính mỗi giờ chỉ tiêu tốn 100-200 calo, hát karaoke mỗi giờ tốn 120 calo, đi nhanh, đạp xe đạp, bơi lội mỗi giờ 300 calo; cử tạ, tennis, cầu lông 400 calo, đá banh 600 calo… Trong khi đó, ăn một tô hủ tiếu, phở, đã “nhập” vào 500-600 calo; bún bò huế, cơm tấm bì cũng vậy; bánh lọt, chè bắp… 400 calo; ly sinh tố 250 calo và nước chanh đường… hơn 100 calo! Biết đại khái vậy ta sẽ tính toán “thu-chi” sao cho hợp lý để cơ thể được cân đối, không bị béo phì hoặc ngược lại bị suy dinh dưỡng. Ăn uống là chuyện của “tâm hồn”. Ta vẫn thường nghe nói có những “tâm hồn ăn uống” đó thôi. Ăn uống là một cái khoái nhưng cũng có khi là một “cực hình”. Có những tình huống “nuốt không trôi”, chẳng hạn bị ép ăn! Không gì khổ bằng ăn trong sự cưỡng bức, ép uổng…

Ở một trường mẫu giáo bên Hà Lan, người ta đã làm thí nghiệm đặt những đứa bé 3 tuổi vào một phòng kín, dọn sẵn thức ăn thịt cá, trứng sữa, rau đậu, trái cây các thứ đầy đủ, rồi quan sát từ bên ngoài cửa kính xem sao. Trẻ chơi đùa một lúc đói bụng, tự động đi tìm thức ăn… phù hợp mà mình đang cần. Có đứa bốc món này, đứa bốc món kia… Có đứa ăn hoài một thứ, có đứa đổi từ món này qua món khác. Người ta theo dõi và cân đo trẻ trong một tuần lễ, thấy trẻ khỏe mạnh, lên cân đầy đủ. Điều đó chứng tỏ ăn… không cần phải ép. Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép… ăn! Tản Đà, một thi sĩ nổi tiếng trong nghệ thuật ẩm thực, đã có câu “triết lý” về chuyện ăn sao cho ngon như sau:

– Đồ ăn ngon/ chỗ ngồi ăn không ngon/ người ngồi ăn không ngon: không ngon!

– Đồ ăn ngon, chỗ ngồi ăn ngon/ người ngồi ăn không ngon: không ngon!

– Đồ ăn ngon/ người ngồi ăn ngon/ chỗ ngồi ăn không ngon: không ngon!…

Nghĩa là để ăn cho ngon cần đủ cả ba yếu tố: đồ ăn ngon/ chỗ ngồi ăn ngon/ và người ngồi ăn cùng cũng… phải ngon! Người ngồi ăn mà không ngon – dễ ghét – thì nuốt không trôi! Và dĩ nhiên muốn ăn ngon thì phải có sự thèm ăn, tức phải đói. Đói thì ăn gì cũng thấy ngon! Lâu nay ta quen ăn theo giờ mà không ăn theo… bụng. Một điều đáng tiếc.

“Chỗ ngồi ăn ngon” thì ba trăm năm trước, Trương Trào đã viết: “Trà như ẩn sĩ, rượu như hào sĩ. Rượu để kết bạn, trà để hưởng tĩnh. Trong cuộc lễ, uống nên khoan thai. Trong cuộc họp bạn, uống nên nhã. Mùa xuân nên uống ở sân. Mùa hè nên uống ở ngoại ô. Mùa thu nên uống ở trong thuyền. Mùa đông nên uống ở trong nhà. Ban đêm nên uống dưới bóng nguyệt”. (U mộng ảnh, bản dịch Huỳnh Ngọc Chiến).

Nhưng cách ăn ngon nhất có lẽ là ăn mà biết rõ mình đang ăn. Ý thức về chuyện đang ăn. Quan tâm nó. Để ý nó. Biết ơn nó. Bốn nhóm thức ăn cùng với nước uống chẳng phải cũng là “ngũ uẩn” đó sao? Chúng kết tập lại một cách nhuần nhuyễn để giúp ta tinh tấn trong tu tập của mình.

Tuổi già ăn theo mệnh lệnh của… bao tử

Cho nên mới nói rằng ăn là chuyện của tâm hồn! Ăn uống rất quan trọng đối với người cao tuổi. Một trong những lý do người già dễ bị uể oải, lừ đừ… là do thiếu năng lượng. Ở người cao tuổi, còn thêm nỗi khổ vì “hàm răng chiếc rụng chiếc lung lay”, dạ dày teo nhỏ, dịch vị tiết ra không đủ, dễ bị bón, dễ bị rối loạn tiêu hóa. Con cháu thương tình, tìm món ngon vật lạ ép ăn, tìm thuốc bổ vitamin các thứ ép uống… thì tình trạng càng bi đát hơn vì càng làm cho ăn mất ngon, không còn thấy thèm ăn!

Người già thiếu ăn, thiếu năng lượng phần lớn là do sợ bệnh, do kiêng khem quá đáng. Bác sĩ lại hay hù dọa. Khám bệnh xong bác sĩ dặn phải kiêng món này cữ món kia… và không quên cho một đống thuốc bổ trong khi người già uống đầy bụng thuốc bổ đâu cần ăn chi nữa! Không kể bạn bè hàng xóm bày vẽ, không kể nghe lời quảng cáo bùi tai… ra rả suốt ngày! Nhưng khi bác sĩ thật thà tốt bụng khuyên nên ăn uống thoải mái, “muốn ăn gì cứ ăn”, thì hiểu ngay là bệnh đã “hết thuốc chữa rồi”! Ông nọ đi khám bác sĩ về cứ bần thần buồn bực, bà vợ gặng hỏi, ông nói bác sĩ nói bệnh anh phải uống thuốc suốt đời mà ông ta chỉ cho có… 10 viên!

Chuyện ăn uống của người cao tuổi nói chung nên nghe theo mệnh lệnh của… bao tử. “Listen to your body”. Hãy lắng nghe sự mách bảo của cơ thể mình! Cơ thể nói… thèm ăn thức gì thì nó đang cần thức đó! Cũng đừng quên ăn uống là chuyện của văn hóa! Món ăn gắn với kỷ niệm, gắn với thói quen, gắn với mùi vị từ thuở còn thơ! Người già có thể thích những món ăn… kỳ cục, không sao. Miễn đủ bốn nhóm: bột (glucid), đạm (protid), dầu (lipid), rau (vitamin, khoáng)… Mắm nêm, mắm ruốc, tương chao, các thứ gia vị… đều tốt cả. Miễn đừng quá mặn, quá ngọt… Hãy “tự tại” đến mức có thể, miễn là món ăn vệ sinh, an toàn. Đừng ép ăn, đừng đút ăn, đừng làm “hư” các cụ! Nhưng khi các cụ đột ngột gầy ốm, sụt cân nhanh thì đã có vấn đề. Suy dinh dưỡng chăng? Trầm cảm chăng? Có triệu chứng khởi đầu của Alzheimer chăng? Hay đang mắc một thứ bệnh nặng nào đó? Những bữa ăn gia đình có cha mẹ già cần tránh tất cả những sự căng thẳng, những lời nói đắng cay, tranh chấp, không vui… Men tiêu hoá được tiết ra từ tâm hồn chớ không chỉ từ cái bao tử là vậy.

Đỗ Hồng Ngọc 

Nguyễn Thanh Quang – Linh mục Gioan Võ Đình Đệ

​Paul Maheu sinh ngày 24.1.1869, tại Paris. Sau khi học xong lớp Tiểu chủng viện St. Nicolas ở Chardonnet và triết học ở Đại chủng viện Issy-les-Moulineaux, ông nhập Chủng viện MEP năm 1890 và chịu chức Linh mục ngày 30.6.1895, rồi nhận lệnh đi truyền giáo ở Đông Đàng Trong (Qui Nhơn). Năm 1930, Linh mục Maheu về Pháp, ông mất ngày 27.2.1931, yên nghỉ tại nghĩa trang Montparnasse.

Hơn 30 năm ở Việt Nam, Paul Maheu (1869 – 1931) đã không ngừng gieo những hạt giống tốt đẹp trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, bác ái xã hội: Ông là Giám đốc Nhà in Làng Sông, là người sáng lập Hội học Pháp – An Nam Qui Nhơn và Trại phong Qui Hòa.

Giám đốc Nhà in Làng Sông

​Paul Maheu rời Paris vào ngày 31.7.1895, xuống tàu tại cảng Marseille vào ngày 4.8.1895 đến Việt Nam. Ông học tiếng Việt tại cảng Qui Nhơn, sau đó được bổ nhiệm làm phụ tá cho Linh mục Villaume, tại Phan Rang, rồi được bổ nhiệm làm việc tại Ninh Hòa một thời gian ngắn. Sau đó do bị suy giảm sức khỏe, ông đi an dưỡng một năm ở Hồng Kông. Khi trở lại Việt Nam, ông được gửi đến vùng truyền giáo Bahnar – Kontum, bốn tháng sau, do sức khỏe suy yếu, ông phải trở lại Viện điều dưỡng Bêthanie ở Hồng Kông. Tại đây, Linh mục Maheu học vận hành máy in, đúc và sắp chữ, đóng gáy sách ở xưởng in Nazareth.

​Trở lại Việt Nam vào tháng 7.1904, Linh mục Maheu quản lý Nhà in Làng Sông. Thời gian Paul Maheu làm Giám đốc Nhà in Làng Sông từ năm 1904 đến năm 1930, là thời kỳ cực thịnh của Nhà in Làng Sông. Với người quản lý nhà in giỏi về kỹ thuật, hệ thống máy in được trang bị mới, khổ rộng và hiện đại nhất lúc bấy giờ, một số lượng sách, báo rất lớn đã được nhà in xuất bản. Trong năm 1922, Nhà in Làng Sông đã in 18.000 tờ báo định kỳ, 1.000 bản sách các loại, 32.000 ấn phẩm khác, riêng Báo Lời thăm mỗi tháng hai số, mỗi số ra 1.500 bản và phát hành cả Đông Dương. Tổng cộng ấn phẩm của Nhà in Làng Sông trong năm lên đến 63.185 ấn phẩm với 3.407.000 trang in.

Imprimerie de Lang Song, Imprimerie de la Mission de Qui Nhơn, Imprimerie de Qui Nhơn hoặc Librairie Imprimerie Quinhon cùng là ấn quán của giáo phận Đông Đàng Trong. Ngoài sách tiếng Latin và tiếng Pháp, Nhà in Làng Sông đã in một số lượng lớn sách Quốc ngữ đa dạng về thể loại như: Giáo lý, kinh thánh, giáo dục ấu học, trung học, truyện, tiểu thuyết, kịch, tạp chí, tuồng hát bội, lịch, sách dịch… Những ấn phẩm của Nhà in Làng Sông được thống kê trong Mémorial – Bản thông tin hàng tháng của địa phận và được tổng kết vào trang cuối năm, bằng tiếng Pháp xen với tiếng Việt (Quốc ngữ).

Một trang Mémorial thống kê sách đã in của Nhà in Làng Sông năm 1910 có 36 đầu sách, trong đó 25 đầu sách chữ Quốc ngữ, số còn lại là tiếng Pháp. Chia thành 4 nội dung: Sách trường học, sách giáo lý, sách cầu nguyện – đạo đức và các sách khác. Đáng chú ý, loại sách trường học được tái bản nhiều lần và được xếp mục đầu tiên, gồm có những đầu sách như: Phép đánh vần (tái bản lần thứ 5), Con nít học nói (tái bản lần thứ 3), Ấu học (tái bản lần thứ 3), Trung học, Địa dư Sơ lược. Ngoài ra, nhà in còn xuất bản các loại sách Quốc ngữ nâng cao dân trí, như: tiểu thuyết, tuồng hát bội, kịch nói, nông nghiệp… Đáng chú ý, quyển Hai chị em lưu lạc xuất bản năm 1927, được ghi nhận là tiểu thuyết dành cho thiếu nhi đầu tiên của văn chương Nam Trung bộ. Bản thống kê của Mémorial có ghi cụ thể giá tiền từng đầu sách.

Tháng 11 năm 1933, Nhà in Làng Sông bị bão sập. Một nhà in mới của giáo phận Đông Đàng Trong được khởi công xây dựng vào năm 1934 tại Qui Nhơn (trong khuôn viên chủng viện Qui Nhơn hiện nay). Năm 1935, Nhà in Qui Nhơn hoạt động song song với Nhà in Làng Sông (đã được tu sửa sau cơn bão). Ít lâu sau, Nhà in Làng Sông sát nhập vào Nhà in Qui Nhơn.

Ấn phẩm của Mémorial Làng Sông/Qui Nhơn ra số cuối cùng tháng 12.1953. Đến tháng 10.1957, ấn phẩm Bản thông tin địa phận Qui Nhơn bằng tiếng Việt được in tại Nhà in I – Đại, Qui Nhơn (một nhà in tư nhân) thay thế cho Mémorial bị gián đoạn trước đó. Như vậy, đến năm 1954 Nhà in Làng Sông/Qui Nhơn, sau gần một thế kỷ hoạt động đã giải thể, toàn bộ hệ thống thiết bị máy móc của nhà in chuyển vào Dòng Giuse Nha Trang.

Nhà in Làng Sông/Qui Nhơn (Bình Định) – Giáo phận Đông Đàng Trong, Nhà in Nhà Chung/Tân Định (Sài Gòn) – Giáo phận Tây Đàng Trong và Nhà in Kẻ Vĩnh/Ninh Phú (Hà Nội) – Giáo phận Tây Đàng Ngoài, là ba cơ sở in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam, đã có những đóng góp đáng kể trong việc phát triển, truyền bá chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ nửa sau thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX.

Theo Maheu, “lo phần xác thì tốt nhưng chưa đủ, phải lấp đầy tri thức, làm cho nó phát triển”. Ngoài công việc in ấn, Linh mục Maheu còn có những hoạt động bác ái xã hội: thành lập Nhà tế bần tại Làng Sông dành cho người già neo đơn, nghèo khổ, bệnh tật, tổ chức một trạm y tế, dựng những túp lều tranh thu nhận những bệnh nhân nội trú. Maheu sáng lập Hội học Pháp – An Nam Qui Nhơn (1928), ông cùng bác sĩ Le Moine đi tìm địa điểm, vận động tài chính thiết lập Trại phong Qui Hòa (1929).

Sáng lập Hội học Pháp – An Nam Qui Nhơn

Linh mục Maheu đã loại bỏ những vấn đề chính trị và tôn giáo ra khỏi hai cơ sở này của ông, đây là điều đáng khâm phục nơi một vị tu sĩ. Mục đích duy nhất của ông là sự xích lại gần nhau giữa người Pháp và người Việt, giúp những con người ưu tú của hai dân tộc này hiểu nhau…

Buổi họp đầu tiên của Hội học Qui Nhơn diễn ra vào ngày 2.9 (1928), dưới sự điều hành của Linh mục Paul Maheu và Linh mục Antôn Huỳnh Ngọc Thạnh; 17 người Việt tham dự, bầu ông Nguyễn Văn Tờn là Hội trưởng. Tên của Hội là: Cercle d’études franco-annamite de Quinhon (Hội học Pháp – An Nam Qui Nhơn). Địa điểm của Hội là ngôi nhà thứ ba từ sở Quản lý Nhà Chung đến chợ cũ (hiện nay số 124 Trần Hưng Đạo, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Quy Nhơn).

Hội học dành cho tất cả những người Pháp và người Việt có học thức: thương nhân, công chức, thông dịch viên, giáo sư, thư ký v.v… không phân biệt tôn giáo. Các thành viên của Hội học liên kết với nhau: – Thực hiện các nghiên cứu chung về các vấn đề đạo đức, tôn giáo, khoa học, lịch sử, kinh tế và xã hội; – Thuyết trình bằng tiếng Pháp và tiếng Việt; – Họp nhau và tiêu khiển một cách thanh bạch.

Ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, Hội học Pháp – An Nam Qui Nhơn là một sáng kiến văn hóa lớn của Đông Dương nói chung và của Địa phận Qui Nhơn nói riêng. Ngày khai trương (10.11.1928) đã được loan tin rộng rãi trên các báo chí ở Pháp cũng như tại Đông Dương. Tờ Bulletin Catholique indochinois (của Pháp) số tháng 11 có bài tường trình về ngày khai trương này. Nhật báo Văn hóa Comaedia, số thứ Hai ngày 3.12.1928, đã đưa tin: “Từ Qui Nhơn, người ta viết cho Hãng tin Fides, rằng Cha Maheu và một người Việt tên là Thạnh vừa khai trương ở Qui Nhơn (Đông Dương) một trung tâm học hỏi đầu tiên dành cho thanh niên Việt. Có khoảng hai mươi người tham gia”.

Báo Lời Thăm của Địa phận Qui Nhơn đã tường thuật chi tiết về sự kiện trọng đại này với bài “Mầng khánh thành nhà Hội học (Cercle d’Études) Pháp Nam tại Qui Nhơn”:

“… Cuộc lễ nầy đã được mỹ mãn lắm, gần hết các người Pháp trong châu thành và những bậc thức giả tại Qui Nhơn, là các viên quan chức sắc, các ông giáo sư trường học, những nhà thương mãi lớn và mấy ông bang trưởng người Tàu đều đến dự…

Linh mục Maheu, người sáng lập Hội học đọc lời chào mầng quan khách và giới chức, mục đích của Hội: Biết nhau để hiểu rõ nhau hơn, mà hiểu rõ nhau, cho đặng mến và giúp đỡ lấy nhau. Ông Nguyễn Văn Tờn, Hội trưởng, thông ngôn tòa sứ diễn thuyết cảm ơn hết thảy đã có lòng chiếu cố, đến họp mặt đông đảo vui vầy và tỏ tấm lòng nhiệt thành cùng Hội…

Ngay từ tháng đầu tiên sau ngày khai trương, Hội đã có những hoạt động văn hóa theo tôn chỉ của Hội, đã có 3 tham luận của ông Bác sĩ, ông Gravelle (quản lý Nhà ngân hàng Đông Pháp ở Tourane) và một người Việt…

Sau một năm thành lập, Hội đã có những bước tiến triển khá thuận lợi: 117 hội viên, trong đó có 31 người Pháp, một con số đáng kể so với cư dân Pháp ở Qui Nhơn lúc bấy giờ. Một thư viện với hơn 1.200 cuốn sách (do Maheu trao tặng), Hội đặt mua hơn 100 đầu sách, và để cho các thành viên nắm bắt được tin tức của đất nước và thế giới, Hội cũng đã đặt mua 6 tạp chí và 8 nhật báo. Theo đề nghị của ông Công sứ Volny Dupuy, các lớp học tiếng Việt dành cho người Tây đã được tổ chức tại trụ sở của Hội, giáo viên đầu tiên là ông Ung Lang…

Hội là Hội học, nỗ lực chính yếu là khía cạnh trí thức. 11 cuộc Hội thảo khác nhau đã được triển khai do những người có thẩm quyền và cử tọa tham dự rất đông. Đồng thời, để cho mọi thành viên phát biểu và tham gia thảo luận, Hội đã tổ chức các buổi diễn thuyết và nói chuyện vào các ngày thứ Năm trong tuần. Hội thảo bàn về nhà ở sạch, giá rẻ và bệnh truyền nhiễm do bác sĩ Le Moine báo cáo, vì phần lớn nhà cửa người dân không đáp ứng các điều kiện vệ sinh, và ở Đông Dương hiện có sự gia tăng các căn bệnh truyền nhiễm, nhất là lao phổi… Những vấn đề xã hội khác cũng được nghiên cứu và trình bày tại trụ sở của Hội, “nơi mà tất cả mọi quan tâm chính trị hay tôn giáo phải bị loại bỏ, tất cả những phấn đấu tư lợi đều không được biết đến. Đây phải là mảnh đất thuận lợi cho việc phát triển mối tương quan trung thành và thân tình giữa hai dân tộc qua con đường thênh thang và đẹp đẽ của trí thức, vì lợi ích cho đất nước chúng ta”, lời tổng kết của ông Nguyễn Vỹ, Thư ký Hội, vào ngày 26.2.1930…

Việc truyền bá chữ Quốc ngữ cũng được cổ vũ ở đây, vì là nơi thu hút những thành phần trí thức quan tâm đến tương lai của đất nước: học sinh, giáo chức, viên chức các công sở. Hội là nơi tập trung để đọc sách báo, chơi cờ tướng, nghe diễn thuyết… Trong hai năm 1938 – 1939, Hội tổ chức liên tiếp các cuộc diễn thuyết của Nguyễn Xuân Lữ nói về tự do dân chủ, Phan Thanh nói về cải cách dân chủ và truyền bá chữ Quốc ngữ.

Đêm 21.5.1941, tại nhà Cercle Qui Nhơn (văn phòng Hội) đã tổ chức một buổi diễn thuyết do ông Trần Văn Hích, giáo sư ở Phan Thiết, nói về sự hợp tác giữa gia đình và học đường, thính giả phần đông là viên quan, quý thầy làm việc, các giáo sư và những vị tai mắt trong thành phố. Theo diễn giả: Nước nhà được mở mang tiến bộ, một phần rất lớn do sự đào tạo thanh niên. Vấn đề quan trọng này không chỉ một phụ huynh, hoặc một mình thầy, mà phụ huynh và thầy dạy phải phối hợp. Về vấn đề thể dục, diễn giả chú trọng vào những cuộc vận động không mất tiền, như tập chạy, bơi lội… Qua vấn đề trí dục, diễn giả nói phụ huynh và thầy phải cùng nhau xem xét trí tuệ đứa bé để chọn lựa nghề nghiệp phù hợp…”. Linh mục Maheu còn viết một cuốn từ vựng bỏ túi Pháp – Việt: Petit lexique de poche français-annamite, 326 trang, in tại Librairie Imprimerie Quinhon năm 1910.

Sáng lập Trại phong Qui Hòa

​Bị ảnh hưởng bởi số lượng lớn người phong cùi ở các quốc gia khác nhau của Liên minh (Đông Dương), đặc biệt ở An Nam. Vào những năm 1920, Bình Định được xác định có 360 người mắc bệnh phong, nếu tính cả những ca chưa được chẩn đoán, sống rải rác ở vùng nông thôn, thực tế có thể lên tới 1.200 ca, một con số đáng kể so với tổng số 70.000 dân của tỉnh. Năm 1929, trước tình cảnh hết sức cấp thiết, để qui tụ và chăm sóc những bệnh nhân này, Paul Maheu rời bỏ công việc in ấn rất thành công của mình cùng bác sĩ Lemoine, bác sĩ chăm lo sức khỏe cộng đồng ở Qui Nhơn, đã thành lập Laproserie de Qui Hoa – Trại phong Qui Hòa, người dân quen gọi là Làng phong Qui Hòa, cách Qui Nhơn 5km về phía Nam, tại một thung lũng bình yên vắng lặng hiếm có, được bao bọc xung quanh là núi đồi, mặt hướng ra đón gió biển. Bác sĩ Le Moine, chép: “Một buổi sáng đẹp trời, chúng tôi thấy trong một chiếc thuyền mành lỉnh kỉnh một chiếc giường gỗ, vài cái ghế, một cái bàn, một máy quay đĩa, nhiều sách, một nhà tu khổ hạnh với đôi mắt sáng ngời. Đó chính là Cha Maheu, người sẽ cống hiến cuộc đời mình cho những người phong cùi…”.

Theo địa bạ thời Gia Long (1815), Qui Hòa được ghi là khách hộ ấp (thuộc thôn Trúc Lâm), thuộc Thời Tú, huyện Tuy Viễn. Diện tích điền thổ: 115 mẫu, 01 sào, 04 thước, 03 tấc 2. Trong đó, tư điền 113 mẫu, 02 sào, 04 thước, 03 tấc 2; dân cư thổ trạch 01 mẫu, 09 sào; một khoảnh mộ địa; một khoảnh hoang nhàn thổ cát.

Quan tâm giúp đỡ cho sáng kiến, chính quyền địa phương của An Nam hứa sẽ hỗ trợ tài chính cho người sáng lập, nhưng vì nguồn vốn cung cấp không đủ, Maheu kêu gọi cộng đồng tham gia, và đã chiếm được sự ủng hộ nhiệt tình ở Đông Dương. Dự án của Maheu là thiết lập khu Trại phong, gồm: nhà nguyện dành cho nhân viên bệnh viện, phòng thăm, văn phòng, bệnh xá, khu điều trị – nơi sẽ dành cho những bệnh nhân nặng, những người bị cách ly khỏi gia đình, người được chăm sóc liên tục theo yêu cầu, và nhà ở riêng cho mỗi gia đình bị phong cùi.

Việc xây dựng chưa hoàn thành, Trại phong đã chứa 120 người phong hủi, tiếp nhận và điều trị những người phong cùi ở các tỉnh thuộc Trung phần An Nam, phòng bệnh lúc này là những ngôi nhà tranh vách đất. Bác sĩ Marcel Le Moine phụ trách chuyên môn y khoa. Một thầy thuốc Đông y có bài thuốc gia truyền chữa bệnh phong cùi cộng tác với bác sĩ. Ngoài ra, có các Nữ tu dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn giúp băng bó, lau rửa vết thương… Năm 1930, Trại phong đã có 140 bệnh nhân.

Năm 1932, để chăm sóc cho số lượng bệnh nhân ngày càng lớn, sáu nữ tu Phan Sinh người Pháp đã từ Marseille, lên đường tới Qui Nhơn. Khi đến nơi, họ vừa củng cố cơ sở vật chất, vừa chăm sóc, tắm rửa cho 180 bệnh nhân mỗi ngày. Những ngôi nhà tranh được dựng thêm để phục vụ các bệnh nhân và người nhà đến ở cùng.

Năm 1933, Trại phong bị một cơn bão tàn phá, từ những tàn tích, một cơ sở mới rộng rãi, khang trang đã được xây dựng. Khuôn viên Trại phong giờ đây có thêm nhà thờ, tu viện cùng 200 ngôi nhà cho bệnh nhân lưu trú.

Hiện nay, Khu Bệnh phong – da liễu Trung ương Qui Hòa có khoảng 1.000 nhân khẩu với gần 300 hộ gia đình, họ sống đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau vượt lên nỗi đau bệnh tật, một “nơi tình người bao la”. Tượng Paul Maheu được tạc đặt trang trọng trên bục cao trong cổng Bệnh viện.

Xin mượn lời của nhà văn Jacques Lê Văn Đức, đăng trong Courrier Saigonnais, 4 Mars 1931 để kết thúc bài viết:

“… Không một người Đông Dương nào mà không cảm thấy đau buồn khi biết tin Cha P. Maheu qua đời tại Paris vào ngày 27 tháng 2 năm 1931.

Ở vùng Đông Dương ai mà không biết đến con người tốt bụng này, một con người có nhiều phẩm chất cao quý nhất: lòng tốt, sự tận tâm, vị tha, nhân ái. Ngài sống chỉ để làm điều thiện, hoàn toàn quên mình trong việc hoàn thành sứ vụ tông đồ của mình. Ngài chỉ thấy mình được hạnh phúc khi thấy người khác hạnh phúc, dù người đó là ai, không phân biệt tôn giáo, không phân biệt người Pháp hay người Việt. Ngài đặc biệt cống hiến hết mình cho những người nghèo khổ, thất học, bị bỏ rơi…”.

​​​​​​​​NTQ – Lm Gioan VĐĐ

Ở lại chờ Tết Sài thành

.

Hoàng My

Vợ chồng chị Tam sinh sống tại một quận vùng ven của thành phố. Họ thu mua nhôm, sắt vụn từ các công ty nhôm kính, ác công trình xây dựng bỏ ra.

Làm quen, mỗi khi có hàng, là anh chị nhận được cuộc gọi, ra chở về đổ ra trước sân, tỉ mỉ phân loại, sắp xếp cẩn thận rồi mang đi cân. Siêng năng thì cũng đủ đắp đổi, có khi còn dư ra được chút đỉnh để dành. Năm nay, con gái chị Tam lên mạng tìm thông tin, buồn rầu thông báo rằng, tiền vé máy bay khứ hồi về quê của một người thôi cũng tiêu tốn bằng tiền chợ cả tháng của cả nhà! Loanh quanh suy tính mãi, cuối cùng gia đình chị Tam quyết định ở lại ăn Tết. Thôi kệ, ra Giêng thư thả hơn rồi mình về, chi phí sẽ đỡ hơn, đâu nhất thiết cứ phải ăn Tết quê mới được.

Thế nhưng, khi gió tháng Chạp rập rờn đâu đó trên mấy rổ kiệu đang phơi nắng trong hẻm, chị Tam len lén buồn. Cả năm, chị vẫn thường mường tượng về những ngày Tết giữa khung cảnh quen thuộc, với các món ăn xứ bắc đầy nhung nhớ. Chị thèm bầu không khí lành lạnh quê nhà, giữa bà con họ hàng quây quần, tí tách cút rượu trắng, dăm món ăn đơn sơ. Nhiều năm vào đây làm lụng, chị đếm thời gian bằng những chuyến hồi hương khi năm hết Tết đến. Thế mà…

Hòa là cô giúp việc theo giờ của mẹ tôi. Cô nhận vài mối chủ nhà, và theo lịch trình hẹn trước, Hòa sẽ đến dọn dẹp, nấu nướng. Có lần, tôi hỏi vui Hòa rằng, đều là các đầu việc nhà na ná nhau, ngày này tháng nọ như vậy có chán không? Hòa cười tươi trả lời, dạ em quen rồi, em chỉ mong luôn có sức khỏe để kiếm tiền, nuôi con, dành dụm cuối năm về thăm nhà. Thế mà mới đây Hòa hỏi xem mẹ tôi có cần cô ấy qua phụ vào mấy ngày Tết không. Hỏi sao không về quê, chưa mua được vé tàu à, Hòa tần ngần rồi kể, khoản tiết kiệm chưa được nhiều, giờ về quê dịp Tết rất nhiều thứ phải lo. Ngoài đi lại, ăn uống, còn quà cáp biếu xén, phong bao lì xì… Vợ chồng Hòa bàn nhau, nếu ở lại làm thêm mấy ngày này sẽ dư ra được số tiền không nhỏ, đủ cho con trai đóng học phí luyện thi vào đại học. Mẹ tôi nghe tới đây liền gọi ngay vài cuộc điện thoại, giới thiệu Hòa cho mấy gia đình đang lo lắng tìm người phụ đỡ khi trẻ con bắt đầu nghỉ học, loanh quanh ở nhà…

Một tối dự tất niên về trễ, tôi bắt taxi công nghệ, thấy anh lái xe cởi mở trò chuyện. Rằng anh đợi bọn trẻ được nghỉ Tết thì chở mấy mẹ con về nhà ngoại ở miền Tây tá túc. Riêng anh sẽ quay ngược lại thành phố, tranh thủ mấy ngày Tết ít cạnh tranh và giá cước tốt hơn, để cải thiện thu nhập. Hỏi sao không nghỉ ngơi sau cả năm ôm vô lăng rồi, anh hồ hởi bảo, cứ nghĩ tới sau Tết có một khoản để trang trải, thì thấy một mình mưu sinh ở thành phố cũng rất đáng. Chưa kể, vợ con về ngoại cũng vui vẻ sum vầy, còn có thể gọi điện thoại thấy hình cho nhau mỗi ngày, nên cũng gần gũi lắm. Tôi típ cho anh một khoản thơm thảo be bé, chúc anh “gặt được nhiều lúa” cho vợ con trong những ngày chăm chỉ tất bật này.

Những câu chuyện kiểu như trên thật không hiếm giữa mảnh đất phương nam năng động này, nơi mà người ta hay bảo: Chỉ cần bạn chịu khó, siêng năng thì chẳng sợ bị đói. Thế nhưng, đâu đó vẫn là ánh nhìn rười rượi cố giấu, như đôi mắt chị Tam lúc láng giềng vừa hỏi thăm vừa lặt lá mai, chờ đón những lộc nõn xanh um bật nở. Người ta có thể tất tả và lãng quên trong cả năm dài, nhưng đắm mình vào không khí tháng Chạp, dễ thấy lòng bao nhiêu niềm day dứt. Chính những cưu mang, lộc lá, rộng lòng với nhau, sẽ giúp cho mùa xuân vơi bớt những tiếng thở dài.

Tiếng gáy

Ngô Đình Hải 

.

Chiều 28 Tết, thằng cháu dưới quê mang lên cho con gà nòi trống, đặng làm thịt cúng 30, đón ông bà. Nó cột 1 chưn bỏ phía sau nhà. Coi như xong, không ai quan tâm tới con gà nữa…

Sáng 29 Tết, hắn dậy sớm. Hồi này hắn hay mang mấy thứ không đâu vào giấc ngủ, chập chờn tới 3,4 giờ sáng là thức. Hắn bắc ấm nước, mở cửa nhìn ra sân sau. Con gà qua một đêm, như đã hồi sức lại sau một chuyến đi dài, đang nghiêng nghiêng cái đầu ngó hắn. Trời vừa ửng sáng. Hắn thảy cho nó nắm gạo, quay vô pha ly cà phê, thì nghe tiếng đập cánh, rồi tiếng gáy vang dội ngoài sân. Thằng cháu cũng lò mò dậy, tiếng còn ngái ngủ, nhưng vẫn không dấu được sự kinh ngạc:

– Ý!…Lạ nghen! Gáy nghe được quá chứ!

Hắn hỏi:

– Là sao?

Thằng cháu nói:

– Con này thua độ, con mua lại của trường gà! Bữa đó, con coi mình, coi chưn, coi vảy thấy ngon lành. Đem xổ với con dưới màu rõ ràng. Vậy mà thua một trận lãng nhách! Đau thấu bà cố luôn…

– Tao hỏi tiếng gáy kìa…

– Thì chắc nó cũng đau, nên thua trận đó về, tắt tiếng luôn! Giờ lên tới trên này nó gáy ngon lành, còn khí thế nữa chứ. Hay là nó biết mai phải chết, nên gáy từ giã!…

Con gà lại gáy, tiếng gáy không một chút e dè, như ngạo nghễ, như thách thức, như muốn lên tiếng về sự có mặt của mình…

Hắn lại hỏi:

– Mà sao thua?

– Cha chủ gà bán độ cậu ơi! Chả chơi chiêu. Ra trường đá thấy thiên hạ kết cái tướng gà, cáp 10 ăn 7, theo nhau nằm cửa trên. Chả ngầm bấm con gà muốn liệt, nhảy không nỗi, dính cựa liên tục. Chứ nó trên chưn, dễ gì thua! Tưởng nó bỏ gáy rồi…

Thằng cháu ngưng ngang, soạn đồ, pha thêm bình trà. Rót cho hắn một chung trước. Chậm rãi hớp một hớp cho thấm giọng rồi mới tiếp:

– Nghĩ mắc cười. Mấy con gà cũng lạ. Thấy mặt là nhào đầu vô đá nhau trối chết, tưởng tranh hùng tranh bá gì, ai dè chỉ để mua vui cho con người. Bị con người lợi dụng bày ra thành trò chơi, để móc túi nhau. Hồi xưa, ra đá, hai con gà như hai võ sĩ thượng đài. Quần nhau từng thế võ, tính toán, cân nhắc từng cái né, cái ra đòn, để thắng đối thủ. Con nào kém tài, chịu không nỗi, thua thì tơi tả chạy, cùng lắm là bị thương nằm bẹp, chứ khó chết lắm! Đá một trận, có khi ba, bốn hồi nhang, cả tiếng đồng hồ.

Thằng cháu rót trà tiếp, chép miệng, ngao ngán:

– Giờ đâu còn…Đá vậy lâu ăn lắm! Cũng bởi tính lợi, tính hại, vì đồng tiền mà ra. Chuốt cựa cho bén cũng xưa rồi. Con người mang cái ác trùm lên mình chúng. Họ gắn thêm cựa sắt, bén nhọn như con dao trong tay người. Hai con gà thản nhiên giết nhau mà không biết. Nhảy mấy cái, cựa đâm thấu tim, chết ngắc. Đá vậy mới mau ăn thua. Rồi cũng vì vậy mà sinh ra tráo trở, gian manh.

Cái thằng, bữa nay mắc chứng gì mà lý sự dữ. Hắn cười:

– Gà không biết nói, chỉ biết gáy, thì nó gáy! Còn hơn người biết nói, mà nói những lời khó nghe mới dị. Để nó đó, tao nuôi cho nó gáy chơi. Lát bây ra chợ, kiếm con khác về mần thịt thế…

Vậy là con gà được sống. Tiếng gáy đã thay đổi số phận của nó. Và rồi những ngày Tết sau đó, mỗi lần nó gáy lại như mang trả cho hắn hình ảnh của ruộng đồng, những ngày Xuân quây quần thời niên thiếu! Từng hình ảnh xưa cũ theo về. Hắn hồi hộp sờ tay lên áo, mường tượng mấy bao lì xì đỏ còn nằm yên trong túi. Hắn như nghe cười, tiếng nói của người đã khuất. Tiếng pháo râm ran, tiếng chúc tụng của người lớn như còn nguyên ở đâu đó. Tiếng reo hò, tiếng chân chạy theo nhau trên đường đê của đám bạn, xúng xính trong bộ quần áo mới. Hắn thấy gian bếp nhà đầy nhóc đồ ăn. Chơi tới chừng nào thấm mệt, chỉ cần chạy ào vô, là có khoanh bánh tét với dưa cải, hay tô cơm nguội, thịt kho hột vịt…

Ăn xong, lại bàn thờ ông Địa đốt cây nhang cầm tay, đi rảo chung quanh vườn, rình coi con gà trống nào đang hung hăng rượt đá mấy con khác, là hắn đốt tặng cho mấy viên pháo mót, nổ hoảng vía chơi…Nhiều, nhiều lắm! Mỗi lần con gà cất tiếng gáy là hắn lại nhớ tới một thứ, liên tu bất tận.

Hắn vui với tất cả những điều này…

Qua tới mùng 8 Tết, con gà không gáy nữa. Nó nằm yên, nhướng con mắt mệt mỏi nhìn hắn, khi hắn tới gần. Vết thương của trận chiến cũ đã không buông tha nó. Hắn bồng nó trên tay, vuốt ve đám lông trên lưng nó, rồi thầm thì:

– Cảm ơn mùa Xuân của mày…

NĐH

hình: internet

Có thể là hình ảnh về gà chọi

Hà Tùng Sơn

.

Sống và viết ngay trên quê hương xứ Nẫu, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trần Xuân Toàn đã chọn Bình Định làm không gian nghiên cứu để từ đó anh có hàng trăm bài báo, bài tham luận về văn hóa, văn nghệ dân gian Bình Định được công bố trong hàng chục năm qua. Trên cơ sở đó, anh đã tập hợp, biên soạn, chỉnh lý để cho ra cuốn Dạo bước vườn văn xứ Nẫu dày 530 trang (NXB Dân trí ấn hành tháng 12.2024). Đây là một thành quả đáng kể của Trần Xuân Toàn trên con đường nghiên cứu và sưu tầm văn hóa, văn chương xứ Nẫu – Bình Định, vùng đất được xem là văn võ song toàn.

Dạo bước vườn văn xứ Nẫu- Ảnh 1.
Sách Dạo bước vườn văn xứ Nẫu của tác giả Trần Xuân Toàn

Cuốn sách gồm hai phần. Phần I: Hương sắc dân gian Bình Định gồm những bài viết liên quan đến chủ đề văn hóa, văn nghệ dân gian trên dải đất Bình Định. Phần II: Chân dung và tác phẩm, lànhững bài viết chân dung văn học về các tác giả, tác phẩm, các nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian gắn kết với Bình Định từ xưa đến nay. Với bố cục đó, tác giả Trần Xuân Toàn khiêm tốn xem mình như một lữ khách dạo bước qua vườn văn xứ Nẫu, Bình Định. Nhưng trên thực tế, đây đều là những tiểu luận nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về tác giả, tác phẩm tạo nên một diện mạo đầy đủ và nghiêm túc về một vùng văn hóa và văn học. Thực sự đó là một vườn hoa nhiều hương sắc về vùng đất võ, xứ văn chương Bình Định.

Bình Định như một Việt Nam thu nhỏ về sự đa dạng của văn hóa và văn học từ dân gian đến hiện đại. Lịch sử hình thành và phát triển của xứ Nẫu, Bình Định gắn với lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của văn hóa, văn học địa phương này trong sự thống nhất và đa dạng. Đó là tiền đề để tác giả Trần Xuân Toàn dày công nghiên cứu và cho ra tác phẩm Dạo bước vườn văn xứ Nẫu

Với công trình này, tác giả muốn gửi đến bạn đọc thông điệp: “Cũng như con người, văn hóa và văn chương luôn mang đậm tính vùng miền như một thuộc tính tất yếu”. Chính thuộc tính ấy tạo nên sự đa dạng, đa sắc và cá tính với tất cả sự hấp dẫn của nó. Với con mắt của nhà nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra được sự khác biệt, sự đặc sắc và đa dạng của văn hóa, văn học Bình Định.

Chẳng hạn khi nói về văn học dân gian miền biển Bình Định, anh đã khẳng định: “Ở đâu có con người ở đó sẽ ra đời một nền văn học dân gian”. Cư dân miền biển Bình Định cũng vậy, suốt một dải bờ biển dài hàng trăm km từ Hoài Nhơn vào đến Quy Nhơn, nơi đâu cũng dày đặc những làng chài với những con người ngày ngày bám biển để sống, để làm giàu từ biển. Cũng từ đó, các làng chài Bình Định hình thành nên một nền văn hóa, văn nghệ dân gian độc đáo và đa dạng như con người vùng biển nơi đây – mộc mạc mà thắm thiết, chân tình mà mãnh liệt. Chỉ có người con gái biển Bình Định mới bộc lộ tình yêu với chàng trai biển bằng nỗi lo đau đáu mỗi khi người yêu dong buồm ra khơi đánh cá:

“Nồm nam, bấc chướng sóng lượn ba đào

Anh đi câu. Biết chừng nào anh vô”

Đó là câu ca dao ở vùng biển Bình Định mà Trần Xuân Toàn đã sưu tầm được trong những chuyến anh đi điền dã.

Các kết quả nghiên cứu văn học hiện đại của Trần Xuân Toàn trong Dạo bước vườn văn xứ Nẫu đã chỉ ra rằng, phong trào Thơ mới có nhiều thi nhân nổi tiếng bắt đầu từ phố biển Quy Nhơn. Lưu Trọng Lư, tác giả của bài thơ Tiếng thu nổi tiếng, từng diễn thuyết cổ xúy cho phong trào Thơ mới tại nhà Học hội Quy Nhơn từ tháng 6.1934. Trong số 45 tác giả có tên trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân thì Bình Định đóng góp đến 5 gương mặt trong đó nổi bật là Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn…

Ngoài Thơ mới, cuốn sách Trần Xuân Toàn cũng cho độc giả biết Quy Nhơn – Bình Định còn là vùng đất quê hương của hàng trăm văn nhân, thi sĩ, nghệ sĩ đang sinh sống và hoạt động nghệ thuật trên khắp mọi miền đất nước. Đồng thời, đó cũng là vùng đất mà rất nhiều văn nhân, thi sĩ trên khắp cả nước đã tìm đến với rất nhiều cảm hứng sáng tạo để từ đó kết thành duyên nợ văn chương với Quy Nhơn. Và đó là niềm tự hào của người xứ Nẫu, Bình Định được tác giả đề cập khá nhiều trong cuốn Dạo bước vườn văn xứ Nẫu. Anh xem đó là một thành tựu lớn của văn hóa, văn học Bình Định.

Với Trần Xuân Toàn, nghiên cứu về văn hóa, văn học Bình Định xưa và nay là một trong những hướng tiếp cận mà anh dành nhiều tâm huyết. Từ những trang viết của anh trong Dạo bước vườn văn xứ Nẫu, những gương mặt văn chương Bình Định thời hiện đại và đương đại thêm một lần được tỏa sáng. Đó là các văn nhân, nghệ sĩ nổi danh sống và viết trên đất Bình Định như Yến Lan, Vương Linh, Lệ Thu, Cao Duy Thảo, Thanh Thảo, Thu Hoài, Ngô Thế Oanh, Nguyễn Thanh Hiện, Đinh Xăng Hiền, Từ Quốc Hoài, Hà Giao, Lê Văn Ngăn… Đó còn là những cây bút trẻ sung sức với sức sáng tạo mãnh liệt và rất thành công như Nguyễn Thị Tư, Cao Chư, Trần Thị Huyền Trang, Nguyễn Thanh Mừng, Nguyễn Đăng Vũ, Phạm Đương, Mai Thìn… Đó là một nền văn học đương đại mà như Trần Xuân Toàn nói là “tràn căng sức trẻ”. Phản ánh một cách sinh động về những tác giả và tác phẩm văn chương Bình Định thời đương đại như trên cũng là một thành công lớn của Dạo bước vườn văn xứ Nẫu.

Là một nhà nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian đồng thời cũng là một giảng viên văn học dân gian của Trường đại học Quy Nhơn, Trần Xuân Toàn đã viết các tiểu luận và cảm nhận văn học trong Dạo bước vườn văn xứ Nẫu một cách nghiêm túc, điềm đạm. Các luận chứng, luận điểm anh đưa ra đều dựa trên thực tiễn điền dã với đầy đủ các chứng cứ và ngữ liệu. Viết về văn chương nhưng văn chương của Trần Xuân Toàn rất thật thà và giản dị bởi anh là một nhà giáo dạy văn làm nghiên cứu văn học. Điều đó đã mang đến sự thành công của anh qua Dạo bước vườn văn xứ Nẫu.

Bên thềm nhà

Bùi Thanh Tuấn

.

Xuân đã đến chưa hay đi rồi?

Chỉ biết bên thềm lá vàng rơi

Mai vàng khoe sắc đùa trong gió

Cõi quạnh hiu này, tôi với tôi.

.

Sợi khói bay lên màu tịch liêu

Nỗi nhớ từ ban sơ cánh diều

Chao ôi, là nhớ mùa xuân ấy

Đường trải hoa về, tôi biết yêu!

.

Tuổi xanh thơ dại như đứa trẻ

Ôm mộng làm vua một góc vườn

Lá ngoan về ngủ trên vai áo

Suốt ngày toan tính chuyện yêu đương

.

Đêm xuống núi đồi như nhỏ lại

Lòng mơ lối cũ dáng Kiều thơm

Giấc ngủ ngập tràn hương cổ tích

Mong sáng mai ra chẳng dỗi hờn

.

Trở về ngày ấy xa xăm lắm

Biết đến bao giờ tay nắm tay

Lòng tôi đã khép từ dạo đó

Khuất bóng chim trời, mây trắng bay…

Bảo Lộc ngày không tên…

.